Richie Tozier bước ra khỏi tắc-xi ở ngã giao giữa ba con đường: đường Kansas, đường Trung Tâm và đường Chính; còn Ben xuống xe ở đỉnh đồi Dặm Trên. Tài xế chính là “anh bạn mộ đạo” của Bill, nhưng cả Richie và Ben đều không biết lần này, Dave trầm tư trong sự im lặng ngột ngạt. Ben thầm nghĩ mình có thể xuống chung với Richie, nhưng chẳng hiểu sao anh lại cảm thấy họ tự đi riêng một mình là hay nhất.
Anh đứng ở góc đường Kansas và Daltrey Close, nhìn chiếc tắc-xi hòa mình vào dòng xe cộ tấp nập, hai tay đút sâu vào túi quần, cố xua đi cái kết hãi hùng của bữa trưa ra khỏi đầu. Song anh bất lực, hình ảnh con ruồi xám đen bò ra từ chiếc bánh quy may mắn trên đĩa của Bill, cặp cánh với đường vân quập ra sau cứ trở đi trở lại trong suy nghĩ của anh. Anh cố sức đánh lạc hướng tâm trí mình khỏi hình ảnh gớm ghiếc ấy, nhưng anh cứ tưởng mình đã thành công thì năm phút sau lại phát hiện ra tâm trí anh vẫn nghĩ về nó.
Dường như mình đang cố chứng minh nó, anh thầm nhủ, nhưng không phải chứng minh theo góc nhìn đúng sai mà là chứng minh theo toán học. Nhà cửa được xây dựng bằng cách tuân theo một số quy luật tự nhiên; quy luật tự nhiên có thể được trình bày bằng phương trình; mà phương trình thì phải được chứng minh. Vậy biết chứng minh thế nào những điều vừa mới xảy ra chưa đầy ba mươi phút trước đây?
Mặc kệ nó đi, anh tự nhủ, chẳng biết anh đã nhắc nhở bản thân mặc kệ nó lần thứ bao nhiêu nữa. Mày không chứng minh được đâu, nên kệ nó đi.
Lời khuyên chí lý đấy; vấn đề là anh không thể chấp nhận nó. Anh nhớ một ngày sau khi anh trông thấy xác ướp trên Kênh Đào đóng băng, cuộc sống của anh vẫn trôi đi như thường lệ. Lúc ấy, cậu bé Ben hiểu rõ bất kể nó là gì, suýt chút nữa nó đã bắt được cậu, thế nhưng nhịp sống của cậu không dừng lại: cậu vẫn đi học, vẫn làm bài kiểm tra số học, vẫn đến thư viện sau giờ học và vẫn ăn lấy ăn để như bình thường. Chỉ đơn giản là cậu đưa thứ mình trông thấy trên Kênh Đào trở thành một phần cuộc sống của mình, và ngay cả khi suýt chút nữa nó đã kết liễu cậu… thì đành chịu thôi, con nít mất mạng suốt mà. Chúng bổ nhào qua đường mà không thèm nhìn, chúng đùa giỡn trên hồ rồi nhận ra mình đã chèo thuyền cao su đi quá xa nên cuống cuồng chèo ngược lại, chúng đu lên xà rồi ngã dập mông hoặc trèo cây rồi ngã cắm đầu.
Lúc này đây, đứng trong cơn mưa lâm thâm trước Cửa hàng Phần cứng Đáng tin cậy mà vào năm 1958 nơi đây là tiệm cầm đồ (Ben nhớ nó có tên là Anh em nhà Frati, cửa sổ đôi lúc nào cũng trưng đầy súng lục, súng trường, dao cạo lưỡi rời và đàn ghi-ta dựng thẳng đứng như những sinh vật kỳ thú), anh chợt ngộ ra trẻ con dễ chết hơn người lớn, mà trẻ con cũng giỏi hợp nhất những điều vô phương lý giải vào cuộc sống của mình. Tuy không nói ra, chúng tin rằng có tồn tại một thế giới vô hình. Ở phải rồi, tất nhiên chúng cũng tin cả những điều kỳ diệu, dù trong sáng hay ngoài tối, nhưng những điều đó không bao giờ khiến thế giới ngừng quay. Một vẻ đẹp trời long đất lở hay nỗi kinh hoàng bất chợt xuất hiện lúc 10 giờ chẳng thể nào cản trở cậu ăn thêm một, hai chiếc bánh kẹp xúc xích phô mai vào bữa trưa.
Song, khi ta lớn lên, mọi thứ chợt đổi khác. Ta không còn trắn trọc nằm trên giường, nơm nớp lo sợ có thứ gì đó đang nấp trong tủ quần áo hoặc cào vào cửa sổ… nhưng khi thứ đó thật sự xảy đến, một thứ nằm ngoài cách lý giải thông thường, mạch thần kinh của ta trở nên quá tải. Sợi trục và sợi nhánh thần kinh nóng lên. Ta bắt đầu nhấp nhổm như ngồi trên đống lửa, ta bắt đầu như đỉa phải vôi, trí tưởng tượng của ta bắt đầu như lên đồng và nhảy chẳng khác nào con gà trong đầu. Ta không thể gắn kết điều vừa xảy ra với cuộc sống của mình. Ta không tiêu hóa nổi. Tâm trí ta cứ trở đi trở lại hình ảnh ấy, mân mê như chú mèo con nghịch cuộn len tròn… cho đến khi cuối cùng, ta phát điện hoặc bị đẩy đến bước đường cùng khiến ta không hoạt động bình thường được nữa.
Nếu điều đó xảy ra, Ben thầm nghĩ, thì Nó bắt được mình rồi. Tất cả bọn mình. Không chút thương xót.
Anh bắt đầu bước lên đường Kansas, vô định chưa biết đi đâu. Và bất chợt, một suy nghĩ hiện lên trong đầu anh: Cả đám đã làm gì với đồng bạc vậy nhỉ?
Anh vẫn chưa nhớ ra.
Đồng bạc, Ben… Beverly đã cứu mạng mình bằng đồng bạc ấy. Mạng mình… hoặc có khi là mạng của tất cả mọi người… đặc biệt là Bill. Suýt chút nữa Nó đã moi ruột mình ra trước khi Beverly kịp… gì nhỉ? Cô ấy đã làm gì? Và nó hoạt động ra sao? Cô ấy đẩy lùi nó với sự hiệp lực của bọn mình. Nhưng bằng cách nào nhỉ?
Bỗng dưng một từ ngữ hiện lên trong đầu anh, một từ vô nghĩa nhưng khiến da thịt anh bủn rủn hết cả: Chüd .
Cúi nhìn vỉa hè, trong khoảnh khắc, anh trông thấy hình con rùa vẽ bằng phấn, và thế gian như trôi tuột trước mắt anh. Anh nhắm nghiệm mắt, rồi khi mở ra, anh thấy nó không phải con rùa mà chỉ là ô lò cò nhòe đi dưới cơn mưa phùn.
Chüd
Nó có nghĩa là gì nhỉ?
“Chịu thôi,” anh nói to, và khi vội vàng nhìn quanh để xem có ai bắt gặp cảnh tượng anh đang nói chuyện một mình không, anh nhận thấy mình vừa rời khỏi đường Kansas và rẽ vào Đại lộ Costello. Hồi trưa, anh nói với mọi người rằng Vùng Đất Cằn là nơi duy nhất mang lại cho anh niềm vui thuở bé… nhưng nói như vậy chưa chuẩn lắm thì phải? Còn một nơi nữa. Và chẳng biết vô tình hay hữu ý, anh đã rảo bước đến nơi ấy: Thư viện công cộng Derry.
Anh đứng trước cửa chừng một hai phút, tay vẫn đút túi quần. Thư viện bao năm vẫn thế, giờ đây, tuy đã trưởng thành, anh vẫn ngưỡng mộ những đường nét của công trình ấy như xưa. Như rất nhiều công trình kiến trúc xây bằng đá được thiết kế xuất sắc, nó khiến bất cứ con mắt nào chiêm ngưỡng cũng phải bối rối với những điểm tương phản: sự vững chãi của đá được cân bằng bởi đường nét thanh thoát của mái vòm và cột nhỏ; tòa kiến trúc trông vừa chắc chắn như ngân khố lại vừa gọn vừa tươm tất (chà, công trình trong đô thị thì gọn là đúng rồi, đặc biệt là những công trình được xây dựng vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, cửa sổ bo tròn với những thanh sắt mỏng bắt chéo rất duyên dáng). Những điểm tương phản ấy khiến tòa nhà không hề thô kệch, và anh chẳng lấy làm ngạc nhiên khi trong lòng anh dâng lên tình yêu thương đối với nơi này.
Đại lộ Costello vẫn chẳng thay đổi là mấy. Nhìn dọc theo đại lộ, anh có thể thấy Nhà Cộng đồng Derry, lòng bất giác tự hỏi liệu Chợ Đại lộ Costello còn nằm ở chỗ đại lộ hình bán nguyệt, giao với đường Kansas hay không.
Anh bước qua bãi cỏ của thư viện, chẳng buồn để tâm đôi bốt của mình đang bị ướt, để ngắm nhìn hành lang bằng kính nối giữa thư viện người lớn và thư viện trẻ em. Nơi đây vẫn như xưa, và từ vị trí hiện tại, ngay bên ngoài những nhánh cây liễu rủ, anh có thể trông thấy mọi người rảo bước qua lại. Lòng anh bừng lên niềm vui thích xưa cũ, và lần đầu tiên, anh gần như quên bẵng chuyện vừa xảy ra vào cuối bữa ăn trưa ban nãy. Anh nhớ như in ngày bé, cứ mỗi độ đông về, anh lại đến đúng chỗ này, lội qua đống tuyết cao gần đến hông rồi đứng lặng, lắm lúc đến cả mười lăm phút. Anh nhớ mình sẽ đến đây lúc hoàng hôn buông xuống, những điểm tương phản như hút hồn cậu bé Ben và giữ cậu ở đó, mặc kệ đầu ngón tay tê cóng, mặc kệ tuyết tan chảy trong đôi bốt cao su màu xanh. Bên ngoài, nơi cậu đứng, trời nhập nhoạng tối, cả thế gian dần nhuốm màu tím, tù mù mùa đông, đằng đông, bầu trời xám xịt màu tro, ngả màu đỏ cam ở phía tây. Nơi cậu đứng lạnh cóng, âm đến 10 độ, thậm chí còn rét hơn nếu có gió thổi vào từ Vùng Đất Cằn băng giá, vốn là một điều khá thường trực.
Nhưng đằng kia, cách nơi cậu đứng chưa tới ba mươi lăm mét, người ta đi đi lại lại, chỉ mặc áo sơ-mi ngắn tay. Đằng kia, cách nơi cậu đứng chưa tới ba mươi lăm mét, là một con đường ánh sáng rực rỡ nhờ những ngọn đèn huỳnh quang trên đầu. Đám trẻ nhỏ vui đùa cười khúc khích, các cặp thiếu niên nắm tay nhau tình tứ (nếu thủ thư trông thấy, thể nào bà cũng bắt chúng buông tay nhau cho mà xem). Trong mắt cậu bé, khung cảnh này thật kỳ diệu xiết bao, và may thay, ngày ấy, trí óc non nớt của cậu không tìm cách giải thích điều kỳ diệu này bằng những điều hết sức tẻ nhạt như điện hay dầu đốt nóng. Kỳ diệu nằm ở hành lang hình trụ sáng trưng của ánh sáng, của sự sống, kết nối hai tòa nhà tối đen như huyết mạch; kỳ diệu là khi cậu đứng ngoài tuyết, đưa mắt ngắm nhìn mọi người qua lại trong hành lang ấy, chẳng mảy may bị ảnh hưởng bởi màn đêm và cái lạnh. Nó khiến họ đáng yêu và thần thánh quá đỗi.
Sau hồi lâu, cậu bé Ben sẽ quay đi (như anh lúc này) và bước vòng đến cửa chính (như anh lúc này), nhưng rồi y như rằng, cậu sẽ dừng chân, ngoái lại nhìn lần nữa (như anh lúc này) trước khi bức tường đá to bè của thư viện dành cho người lớn chắn tầm nhìn đến cái rốn thanh nhã ấy.
Hoài niệm quay quắt trong lòng khiến tâm trạng buồn vui lẫn lộn, Ben bước lên bậc thang dẫn đến thư viện dành cho người lớn, khẽ dừng chân trên hàng hiên hẹp bên trong các cột trụ, lúc nào cũng cao và mát mẻ, bất kể thời tiết nóng nực ra sao. Đoạn anh kéo mở cánh cửa bọc sắt gắn lỗ thả sách rồi bước vào không gian tĩnh mịch.
Khi đặt chân vào ánh sáng dịu nhẹ của những ngọn đèn thủy tinh hình cầu treo lơ lửng trên trần nhà, ký ức như thác lũ ùa về khiến anh chếnh choáng trong thoáng chốc. Thác lũ ấy không phải về mặt vật lý - như phát súng vào hàm hay một cái tát. Nó giống cảm giác kỳ lạ khi thời gian chợt lặp lại mà người ta đặt cho cái tên hay hớm là déjà vu . Ben từng trải qua cảm giác này, nhưng chưa lần nào nó bạo liệt đến mức choáng váng như thế, bước vào cửa một lúc rồi mà anh tưởng chừng lạc trong dòng thời gian, chẳng rõ mình bao nhiêu tuổi. Anh ba mươi tám hay mười một tuổi nhỉ?
Vẫn là sự tĩnh lặng rì rầm ngày xưa, thỉnh thoảng bị phá vỡ bởi giọng ai đó thì thầm, tiếng thủ thư xếp sách hoặc giấy báo quá hạn mượn sách, tiếng sách báo lật giở lạo xạo. Ngày xưa anh rất thích ánh sáng nơi đây, và bây giờ vẫn thế. Nó chiếu xuyên qua khung cửa sổ trên cao, xám xịt như cánh chim bồ câu trong chiều mưa, thứ ánh sáng đượm màu ủ ê và chán chường.
Anh bước qua căn phòng rộng lót vải dầu họa tiết đen đỏ gần như đã bạc thếch, và như hồi còn bé, anh cố gắng để bước chân mình không phát ra tiếng động - thư viện người lớn có mái vòm ở chính giữa, thành thử mọi âm thanh đều bị khuếch đại lên.
Anh nhận thấy các cầu thang xoắn bằng thép dẫn lên kệ sách vẫn còn, ở mỗi đầu bàn chính hình móng ngựa lại có một cái, nhưng anh cũng phát hiện có một thang máy nhỏ đã được lắp thêm vào lúc nào đó trong hai mươi lăm năm kể từ ngày anh và mẹ chuyển đi. Nó giúp anh nhẹ nhõm phần nào – bởi nó thọc mũi dao vào cảm giác déjà vu bức bối tâm can.
Anh cảm thấy mình như kẻ không mời đang bước qua căn phòng rộng, như một điệp viên từ đất nước khác. Anh thầm mong thủ thư ngồi ở bàn ngẩng đầu lên, chăm chú nhìn anh rồi thách thức anh bằng giọng nói chói tai, gằn từng tiếng, khiến mọi ánh mắt ở đây đều phải đổ dồn về phía anh: Anh kia! Phải, là anh đấy! Anh làm gì ở đâu? Anh không có nghĩa vụ gì ở đâu cả! Anh là kẻ Bên Ngoài! Anh là kẻ Ngày Xưa! Anh ở đâu thì trở về đấy đi! Đi ngay lập tức, kéo tôi gọi cảnh sát bây giờ!
Và quả thật, thủ thư có ngẩng đầu lên, ấy là một cô gái trẻ xinh xắn, và trong một khoảnh khắc điên rồ, Ben tưởng chừng tưởng tượng của mình sắp trở thành hiện thực, tim anh suýt chút nữa thì chặn ngang họng khi đôi mắt xanh nhạt của cô nhìn thẳng vào mắt anh. Rồi bốn mắt lãnh đạm lướt qua nhau, Ben lấy lại sức để bước tiếp. Giả như anh là điệp viên thì anh vẫn chưa bị phát hiện.
Trên đường đến hành lang nối qua thư viện trẻ em, đi dưới một trong những cầu thang thép rèn hẹp và dốc đứng, anh không khỏi thích thú nhận ra (sau khi sự đã rồi) rằng anh vừa vvô thức hành động y như xưa. Anh vừa ngẩng đầu ngước lên trên, cầu mong như cậu bé Ben năm nào từng mong, sẽ thấy một cô bé mặc váy bước xuống cầu thang. Anh còn nhớ (lúc này, ký ức đã trở về lần nọ, hồi anh tám hay chín tuổi gì đó, anh tình cờ ngước mắt lên thì nhìn thấy ngay trước mắt mình là chiếc váy ka ki của một nữ sinh trung học xinh xắn và nhìn được cả chiếc quần con màu hồng sạch sẽ bên trong. Nếu ánh mặt trời bất ngờ lấp lánh trên lắc chân của Beverly Marsh đã bắn vào tim cậu mũi tên của một thứ cảm xúc chân phương hơn tình yêu và si mê vào ngày cuối học kỳ năm 1958 thì hình ảnh chiếc quần con của nữ sinh trung học cũng có sức ảnh hưởng tương đương; anh vẫn nhớ lúc ấy, anh đã ngồi ngây ra ở bàn trong Thư viện Trẻ em, ngẫm nghĩ về cảnh tượng bất ngờ kia suốt hai mươi phút, hai má và trán nóng bừng, cuốn sách về lịch sử tàu hỏa mở ra trước mặt nhưng chẳng vào đầu chữ nào, cậu bé chĩa thẳng như nhánh cây trong quần, cắm rễ sâu lên tít bụng của Ben. Cậu thả hồn mơ mộng đến viễn cảnh hai người bọn họ kết hôn, sống trong một căn nhà nhỏ ở ngoại ô thị trấn, đắm chìm trong khoái lạc mà cậu chưa đủ sức hiểu hết.
Cảm giác ấy đến rồi đi đột ngột như cơn gió, nhưng kể từ đó, Ben không bao giờ bước qua bên dưới cầu thang mà không ngẩng đầu nhìn. Dù chưa một lần bắt gặp cảnh tượng nào thú vị hoặc cảm xúc (lần nọ, có một bà mập lặc lè bước xuống cầu thang, nhưng cậu vội vàng quay mặt đi khỏi cảnh tượng ấy, cảm thấy xấu hổ như thể mình là kẻ phá rối), song thói quen ấy chẳng bỏ được - và giờ đây, tuy đã là một người đàn ông trưởng thành, anh lại bất giác hành động giống như xưa.
Anh chậm rãi bước qua hành lang bằng kính, để ý một số đổi thay: đề can màu vàng với dòng chữ OPEC RẤT VUI KHI BẠN PHUNG PHÍ NĂNG LƯỢNG, NÊN HÃY TIẾT KIỆM TỪNG OÁT! được dán trên bảng công tắc điện. Khi anh bước vào thế giới thu nhỏ, nơi những bộ bàn ghế bằng gỗ sắc vàng đều có kích thước nhỏ hơn, nơi vòi uống nước chỉ cao một mét hai, bức hình đóng khung trên tường đằng xa không phải hình của Dwight Eisenhower và Richard Nixon mà là hình của Ronald Reagan cùng George Bush - nếu Ben không lầm thì năm anh tốt nghiệp lớp Năm, Reagan vẫn còn dẫn chương trình Rạp hát GE , còn George Bush chưa đến ba mươi tuổi.
Nhưng…
Cảm giác déjà vu lại ập đến. Anh chỉ biết bất lực trước nó, và lần này, anh cảm thấy nỗi hoảng sợ đến tê dại của một người ngỡ ngàng nhận ra sau nửa tiếng đồng hồ chới với trong nước, rằng bờ biển sao quá xa xôi, còn mình thì sắp chết đuối.
Lúc này đang là giờ kể chuyện, và ở góc phòng, một nhóm khoảng mười cô cậu bé chỉnh tề ngôi thành vòng bán nguyệt trên những chiếc ghế con chăm chú lắng nghe. “Ai đang bước qua cầu của ta đấy?” Thủ thư trầm giọng gầm gừ, giả làm con quỷ trong câu chuyện, và Ben nghĩ thầm nghĩ: Khi cô ấy ngẩng đầu lên, mình sẽ nhận ra ấy là cô Davies, phải, cô Davies, và trông cô ấy sẽ chẳng già đi chút nào…
Nhưng khi nữ thủ thư ấy ngẩng đầu lên, người anh trông thấy là một phụ nữ trẻ hơn cả cô Davies năm xưa.
Vài đứa trẻ che miệng, khúc khích cười, nhưng những đứa trẻ còn lại chỉ chăm chú nhìn cô, ánh mắt lấp lánh về câu chuyện cổ tích kỳ thú, trường tồn cùng năm tháng: Liệu con quỷ có bị đánh bại… hay nó sẽ ăn thịt đàn dê?
“Là ta, Dê Billy Gruff đang đi trên cầu của ngươi đây,” nữ thủ thư tiếp tục kể, và Ben bước ngang qua, mặt tái mét.
Làm thế nào mà vẫn là câu chuyện năm xưa kia chứ? Đúng y câu chuyện năm ấy? Mình có thể tin đây chỉ là ngẫu nhiên không? Vì khốn thật… mình không nghĩ là vậy, mình không tài nào nghĩ vậy!
Anh cúi người xuống vòi uống nước, cúi khoằm người đến độ anh cảm thấy mình giống như Richie lúc làm hành động quỳ rạp lạy lục.
Mình phải trao đổi với ai đó, anh hoảng sợ nghĩ. Mike… hoặc Bill… hay ai cũng được. Phải chăng có thứ đang dập quá khứ và hiện tại vào nhau, hay mình chỉ đang tưởng tượng thôi? Vì nếu đây không phải là tưởng tượng thì mình không chắc sức mình kham nổi. Mình…
Anh ngước nhìn bàn kiểm kê sách, và dường như trong khoảnh khắc, tim anh ngừng đập một nhịp rồi đập thình thịch với tốc độ gấp đôi. Tấm áp phích đơn giản, rõ ràng… và quá đỗi quen thuộc ghi vỏn vẹn:
HÃY GHI NHỚ GIỜ GIỚI NGHIÊM
7 GIỜ TỐI
SỞ CẢNH SÁT DERRY
Trong phút chốc, anh chợt thấm thía – tựa như ánh sáng lóe lên trong đầu, anh nhận ra việc họ bỏ phiếu chẳng phải một trò đùa. Quay đầu không còn là bờ, hay đúng hơn, ngay từ đầu đã chẳng có bờ. Họ đang đi trên lối đi đã được định sẵn, giống lối mòn của ký ức đã khiến anh bất giác ngước lên khi đi bên dưới cầu thang dẫn lên kệ sách. Ở Derry này có một tiếng vọng, thứ tiếng vọng chết người, và tất cả những gì họ có thể hy vọng là tiếng vọng ấy sẽ thay đổi theo hướng thuận lợi để họ toàn mạng trốn thoát.
“Chúa ơi,” anh lầm bầm, đưa một tay lên chà xát má.
“Cháu có thể giúp gì cho chú không?” Một giọng nói cất lên phía sau cánh tay anh khiến anh giật nảy mình. Một thiếu nữ áng chừng mười bảy tuổi, mái tóc vàng sậm được kẹp ra sau, nổi bật khuôn mặt xinh xắn. Trợ lý thư viện, tất nhiên rồi, hồi năm 1958 cũng có, những nữ sinh, nam sinh trung học xếp sách, chỉ cho trẻ em cách sử dụng thẻ ghi thông tin sách, thảo luận về các bài báo cáo sách và bài tập trên trường, chuẩn bị ghi chú và thư mục phụ giúp các học giả rối trí. Tiền lương chẳng đáng là bao, nhưng luôn có những đứa trẻ sẵn sàng thực hiện. Bởi công việc này tương đối dễ chịu.
Thời điểm ấy, quan sát kỹ hơn vẻ mặt ôn hòa nhưng có phần thắc mắc của cô gái, anh nhận ra mình không còn thuộc về nơi này - anh như người khổng lồ trong vùng đất người tí hon. Kẻ không mời mà đến. Trong thư viện người lớn, anh cảm thấy khó chịu trước việc có thể bị săm soi, bị bắt chuyện, nhưng ở đây, nó cho anh chút nhẹ nhõm. Chí ít, nó minh chứng rằng anh vẫn là người lớn, và việc rõ ràng cô gái kia không mặc áo ngực bên dưới lớp áo mỏng theo phong cách phương Tây cũng khiến anh nhẹ nhõm nhiều hơn là bị kích thích: nếu cần bằng chứng chứng minh đây là năm 1985 chứ không phải 1958 thì hai nhũ hoa nhô lên bên dưới lần áo sợi bông của cô chính là bằng chứng rõ ràng nhất.
“Không đâu, cảm ơn cháu,” anh đáp, và rồi vì lý do nào đó mà ngay bản thân còn chẳng hiểu nổi, anh bất giác đế thêm: “Chú đang đi tìm con trai chú.”
“Ô? Cậu bé tên là gì ạ? Biết đâu cháu có thấy em ấy.” Cô mỉm cười. “Cháu biết hầu hết các bạn nhỏ ở đây.”
“Tên con chú là Ben Hanscom,” anh nói. “Nhưng chú không thấy nó ở đây.”
“Chú tả cháu nghe vẻ ngoài của con trai chú đi, nếu chú cần nhắn gì thì cháu sẽ chuyển lời.”
“Chà,” Ben nói, cảm thấy hơi không thoải mái, lòng thầm ước ao giá như mình không khơi ra chuyện này, “con chú hơi mũm mĩm một chút, trông hao hao chú. Nhưng không sao đâu. Nếu thấy thằng bé, cháu nhắn giùm chú là bố sẽ ghé qua trên đường về nhà nhé.”
“Dạ vâng,” cô nói và mỉm cười, nhưng nụ cười không hiện lên trong mắt cô, để rồi Ben chợt nhận ra cô không cất công đến tận nơi bắt chuyện với anh vì phép lịch sự đơn thuần và nhiệt tình giúp đỡ. Cô là trợ lý thủ thư của thư viện trẻ em ở một thị trấn đã có chín đứa trẻ bị sát hại trong vòng tám tháng. Trông thấy một người đàn ông lạ mặt trong thế giới thu nhỏ này, nơi người lớn họa hoằn lắm mới xuất hiện trừ những lúc đón đưa con trẻ, bảo sao cô không nhìn anh với ánh mắt nghi ngờ.
“Cảm ơn cháu,” anh nói, nở nụ cười mà anh mong sẽ trấn an cô phần nào rồi rút khỏi đó ngay lập tức.
Anh bước qua hành lang dẫn đến thư viện người lớn, đi đến bàn trong cơn bốc đồng không thể lý giải… nhưng thắc mắc làm chi, chẳng phải chiều nay họ phải làm theo những gì lòng mình thôi thúc sao? Cứ đi theo thôi thúc trong lòng xem nó dẫn đến đâu.
Bảng tên trên bàn đổi trả sách cho anh biết cô thủ thư xinh xắn trẻ trung tên là Carole Banner. Đằng sau cô, Ben có thể trông thấy một cánh cửa bọc kính mờ, bên trên để dòng chữ MICHAEL HANLON THỦ THƯ TRƯỞNG.
“Tôi có thể giúp gì cho anh không?” cô Banner hỏi.
“Vâng, có.” Ben đáp. “Tôi mong là có. Tôi muốn làm thẻ thư viện.”
“Hay quá,” cô nói và rút ra một tờ đơn. “Anh có phải cư dân của Derry không?”
“Hiện thời thì không.”
“Vậy cho tôi xin địa chỉ nhà.”
“Rural Star Đường số 2, Hemingford Home, Nebraska.” Anh thoáng dừng lại, có phần vui thích khi cô nhìn anh chằm chằm, đoạn nói nốt mã bưu điện: “59341.”
“Anh đang đùa tôi đấy à, thưa anh Hanscom?”
“Không hề.”
“Vậy anh dự tính chuyển đến Derry sao?”
“Không, tôi không có dự tính như vậy.”
“Đi mượn sách mà anh phải cất công lặn lội xa đến vậy ư? Chẳng lẽ họ không có thư viện ở Nebraska sao?”
“Tôi làm thế xuất phát từ lý do tình cảm,” Ben đáp. Tưởng đâu kể chuyện này với một người lạ thì muối mặt quá, nhưng hóa ra anh không cảm thấy thế. “Tôi lớn lên ở Derry. Đây là lần đầu tiên tôi trở về thăm cố hương từ lúc tôi chuyển đi hồi còn bé. Từ nãy đến giờ, tôi dạo lòng vòng, xem thứ gì đổi thay, thứ gì nguyên vẹn. Và bất chợt, tôi bỗng nhận ra dù tôi sống ở đây suốt mười năm đời mình, từ năm ba tuổi đến mười ba tuổi, thế mà tôi chẳng có bất cứ điều gì để nhớ về những năm tháng dĩ vãng đó. Đến cả một tấm bưu thiếp cũng không. Tôi có mấy đồng bạc, nhưng tôi đánh mất một đồng, còn bao nhiêu tôi lại đem cho những người bạn của mình hết. Có lẽ thứ tôi muốn là kỷ niệm về tuổi ấu thơ. Giờ đã trễ, nhưng chẳng phải người ta bảo trễ còn hơn không đấy sao?”
Carole Banner mỉm cười, và nụ cười khiến dung mạo xinh xắn của cô trở nên rực rỡ vô cùng. “Tôi thấy như vậy rất lãng mạn,” cô đáp. “Mời anh thong thả xem sách trong vòng mươi, mười lăm phút, tôi sẽ chuẩn bị xong thẻ thư viện cho anh lúc anh quay trở lại bàn.”
Ben khẽ mỉm chi. “Chắc sẽ mất phí phải không,” anh hỏi. “Tôi không phải dân của thị trấn này mà.”
“Chắc anh có thẻ thư viện lúc anh còn bé?”
“Có chứ.” Ben mỉm cười. “Ngoài bạn bè, tôi nghĩ thẻ thư viện là thứ quan trọng nhất…”
“Ben ơi, lên đây được không?” Bỗng dưng một giọng nói ré lên, xẻ ngang qua thư viện như con dao mổ.
Anh quay lại, giật mình đầy tội lỗi, giống người ta hay làm lúc ai đó la hét trong thư viện. Anh không thấy ai quen… và một khắc sau, anh chợt nhận ra không có người nào ngước lên hay tỏ vẻ ngạc nhiên hoặc bực bội. Những cụ ông vẫn chăm chú đọc tờ Derry News , Boston Global , National Geographic , Time , Newsweek , U.S News & World Report . Tại bàn trong Phòng Tham khảo, hai cô nữ sinh vẫn đang chụm đầu bên chồng báo cáo và xấp tài liệu. Một vài khách tha thẩn xem những cuốn sách trên dãy kệ để VĂN HỌC HIỆN TẠI - MƯỢN TRONG 7 NGÀY. Một cụ ông đội chiếc mũ phớt trông đến là buồn cười, trên miệng ngậm điếu tẩu lạnh lẽo, chăm chú lật qua những bức tranh của Luis de Vargas.
Anh quay lại nhìn cô gái trẻ đang quan sát anh bằng ánh mắt bối rối.
“Có chuyện gì sao?”
“Không,” Ben nói, miệng mỉm cười. “Tôi tưởng mình nghe thấy tiếng gì đó. Chắc đi đường xa, tôi mệt hơn mình nghĩ. Ban nãy cô nói gì vậy?”
“À, thật ra nãy giờ anh mới là người nói. Nhưng tôi định nói thêm nếu anh có thẻ thư viện khi còn là cư dân ở đây, tên của anh vẫn sẽ lưu trong hồ sơ,” cô giải thích. “Hiện giờ, chúng tôi lưu giữ mọi giấy tờ bằng vi phiếu. Tôi đoán đây là chút thay đổi so với lúc anh còn là con nít nhỉ?”
“Phải,” anh đáp. “Derry đổi thay nhiều quá… nhưng cũng có rất nhiều thứ vẹn nguyên như thuở ban đầu.”
“Vậy để tôi tìm tên anh và làm mới thẻ cho anh là được. Như vậy không mất phí.”
“Tuyệt quá,” Ben nói, và trước khi anh kịp nói lời cảm ơn, giọng nói ban nãy lại cắt qua không gian tĩnh mịch đầy tôn nghiêm của thư viện, có điều lần này nó to hơn, vui vẻ đầy ám muội: “Lên đây nào, Ben ơi! Lên đây, thằng mập chó đẻ! Cuộc sống của ngươi đây, Ben Hanscom!”
Ben đằng hắng. “Tôi rất trân trọng điều đó,” anh nói.
“Anh đừng khách khí.” cô nghiêng đầu nhìn anh. “Ngoài trời ấm lên rồi à?”
“Một chút,” anh đáp. “Sao cô hỏi vậy?”
“Vì anh…”
“Ben Hanscom là thủ phạm!” Giọng nói rít lên. Nó vang lên bên trên – từ dãy kệ sách. “Ben Hanscom là kẻ giết đám trẻ! Bắt hắn đi! Gô cổ hắn lại!”
”… chảy mồ hôi,” cô nói.
“Thế sao? Anh ngu ngơ hỏi lại.
“Để tôi làm thẻ ngay,” cô nhanh nhảu.
“Cảm ơn cô.”
Cô bước đến góc bàn nơi đặt máy đánh chữ Royal đã cũ.
Ben chậm rãi quay lưng đi, trống ngực đập thình thịch trong lồng ngực. Phải, anh đang đổ mồ hôi, anh có thể cảm thấy mồ hôi chảy xuống trán, xuống nách, làm lông trên ngực anh bết lại. Anh ngước lên, và anh trông thấy gã hề Pennywise đang đứng trên cùng cầu thang bên tay trái nhìn xuống anh. Mặt hắn bôi phấn trắng bệch. Miệng hắn thoa son thành nụ cười của kẻ sát nhân. Chỗ lý ra phải có hai con mắt lại là hai hốc trống hoác. Một tay, hắn cầm chùm bóng bay, tay còn lại cầm cuốn sách.
Không phải là người, Ben thầm nhủ, mà là Nó. Mình đang đứng giữa Thư viện công cộng Derry vào một chiều cuối xuân năm 1985, mình đã là người trưởng thành, và mình đang mặt đối mặt với cơn ác mộng khủng khiếp nhất thuở bé. Mình đang mặt đối mặt với Nó.
“Lên đây đi, Ben,” Pennywise nói vọng xuống. “Ta không làm hại ngươi đâu. Ta có sách cho ngươi đây! Sách… và bóng bay! Lên đây nào!”
Ben mở miệng, toan đáp lại. Nếu mày nghĩ là tao sẽ lên trên đấy thì mày điên rồi, nhưng rồi anh chợt nhận ra nếu anh làm thế, mọi người đây sẽ chĩa ánh mắt về phía anh và nghĩ, Gã điên này là ai vậy?
“Ối chà, ta biết ngươi không thể trả lời mà,” Pennywise lảnh lót, cười khúc khích. “Suýt chút nữa thì ta cho người ăn cú lừa nhỉ? 'Xin lỗi, bác có Hoàng tử Albert đóng trong hộp không ạ? ... Có à? ... Bác thả ông ta đi kẻo tội nghiệp' ‘Xin chào, cô ơi, tủ lạnh của cô có chạy không ạ? … Có à? …Ơ thế cô không đuổi theo nó sao?’“
Đây là một trò đùa của trẻ con ngày xưa, xuất phát từ tên của dòng thuốc lá Hoàng tử Albert (Prince Albert). Sản phẩm được bán trong hộp thiếc đỏ. Trẻ con thường gọi đến cửa tiệm và hỏi mua “Hoàng tử Albert đóng trong hộp”, nếu người bán nói có thì trẻ con sẽ đáp bằng câu đùa “Hãy thả ông ta ra đi”.
Gã hề đứng trên cầu thang ngửa cổ ra sau, ré lên cười ha hả. Tiếng cười vang vọng khắp mái vòm thư viện như một đám dơi đen đúa, Ben phải vận hết sức bình sinh mới có thể không đưa tay lên bịt tai.
“Lên đây đi, Ben” Pennywise nói vọng xuống. “Rồi từ từ ta nói chuyện. Cho ra ngô ra khoai. Ngươi thấy sao?”
Còn lâu ta mới lên trên đó, Ben nghĩ. Khi ta đến chỗ ngươi, ta nghĩ ngươi sẽ không muốn gặp ta đâu. Bọn ta sẽ kết liễu ngươi.
Gã hề lại tiếp tục ré lên cười. “Kết liễu ta? Kết liễu ta ấy à?” Và bất thình lình, kinh khủng làm sao, giọng của gã biến thành giọng của Richie Tozier, nói chính xác thì không phải là giọng của cậu ấy nhưng là giọng của Richie Tozier khi anh giả Giọng Nhóc Da đen. “Đừng giết con, ông ơi, con sẽ ngoan mà, đừng giết cậu bé da đen tội nghiệp, ông Haystack ơi!” Rồi nó lại sang sảng cười rít lên.
Run như cầy sấy, mặt trắng bệch, Ben bước qua trung tâm gian phòng vang vọng của thư viện người lớn. Anh cảm thấy mình như sắp nôn ra đến nơi. Đứng trước kệ sách, anh giơ bàn tay run lẩy bẩy của mình lên lấy đại một cuốn. Những ngón tay lạnh ngắt lướt qua trang sách.
“Cơ hội ngàn năm có một cho ngươi đấy,Haystack!” Giọng nói vang lên đằng sau và trên đầu anh. “Rời khỏi thị trấn này đi. Rời khỏi đây đêm nay, trước khi trời tối. Tối nay ta sẽ tới rình ngươi… ngươi và cả đám bạn kia của ngươi. Già như ngươi còn khuya mới cản được ta, Ben ạ. Đám các ngươi già cả rồi. Già như thế thì làm được trò trống gì, chỉ có nước chết thôi. Biến đi, Ben. Hay tối nay ngươi muốn chứng kiến cảnh đó?”
Anh từ từ quay người lại, đôi tay lạnh như băng vẫn cầm cuốn sách. Anh không muốn nhìn, nhưng tựa hồ có bàn tay vô hình dưới cằm, kéo mặt anh ngước lên.
Gã hề đã biến mất. Thay vào đó là Dracula đứng trên đỉnh cầu thang phía bên tay trái, nhưng Dracula này không phải nhân vật trong phim, không phải Bela Lugosi hay Christopher Lee hay Frank Langella hay Francis Lederer hay Reggie Nalder thủ vai. Đứng đó là một nhân hình cổ xưa với diện mạo như rễ cây cong vẹo. Khuôn mặt nó mang màu trắng chết chóc, mắt nó đỏ tím, thứ màu của máu tụ. Miệng nó há to, để lộ hàm răng là những lưỡi dao lam Gillette xiên xẹo cắm vào nướu; chẳng khác nào nhìn vào mê cung dao lam chết người mà chỉ cần chệch một nước, ta sẽ bị xắt làm đôi.
“KÉC KÉC!” Nó hét lên rồi ngậm hàm lại. Máu tứa ra từ miệng nó thành dòng màu đen đỏ. Môi nó bị cứa đứt, rơi thành từng mảng xuống chiếc áo sơ-mi trắng bằng lụa sáng rồi trượt xuống, để lại những vết máu như sên bò.
“Stan Uris đã thấy gì trước khi chết?” Ma cà rồng đứng trên đầu cầu thang thét xuống với anh, cất tiếng cười ha hả từ cái miệng trũng máu.”Trông thấy Hoàng tử Albert trong hộp à? Hay thấy Davy Crockett, Chúa tể Biên giới Hoang dã? Hắn ta thấy gì hả Ben? Ngươi muốn thấy luôn không? Hắn ta thấy gì? Hắn ta thấy gì?” Và rồi tiếng cười kia lại rít lên, Ben biết mình sắp sửa thét lên đến nơi, phải, không có cách nào ngừng tiếng thét ấy, đó là chuyện chẳng đặng đừng. Máu lộp độp chảy từ trên cầu thang thành dòng gớm guốc. Một giọt máu rơi lên bàn tay sưng do viêm khớp của cụ già đang đọc tờ Wall Street. Nó chảy xuống giữa những đốt tay của ông, nhưng đương sự không hề nhìn thấy hay cảm nhận.
Nhân vật chính trong sê-ri phim phiêu lưu cùng tên của Mỹ.
Ben thở hồng hộc, anh dám chắc mình sắp sửa thét gào, một điều không tưởng nổi trong bầu không khí tĩnh lặng vào buổi chiều lác đác mưa xuân này, một điều kinh thiên động địa chẳng khác nào nhát dao chém xuống… hoặc một cái miệng đầy lưỡi dao.
Nhưng không, thay vì tiếng thét, lời phát ra run rẩy, to nhỏ thất thường, lầm bầm như lời cầu nguyện là đây: “Tất nhiên, bọn ta đã dùng nó để làm ra viên đạn. Bọn ta dùng xu bạc tạo ra đạn bạc.”
Người đàn ông đội mũ phớt nãy giờ chăm chú nhìn những bức họa của de Vargas ngước nhìn anh với ánh mắt sắc lẹm. “Vớ vẩn,” ông ta nói. Và giờ thì mọi người bắt đầu ngẩng lên; ai đó khó chịu ra hiệu “Suỵt!” cho ông cụ.
“Tôi xin lỗi.” Ben nói, giọng run rẩy, trầm thấp. Anh mơ hồ ý thức mồ hôi đang nhễ nhại trên mặt mình, và áo anh đang bết vào người. “Tôi nghĩ mà phát ra tiếng…”
“Vớ vẩn,” ông cụ lại lên tiếng, lần này giọng to hơn. “Không thể tạo ra viên đạn bạc đúng chuẩn bằng xu bạc được đâu. Ai cũng nhận thức sai. Tiểu thuyết ba xu. Vấn đề ở chỗ với trọng lực nhất định…”
Chợt một phụ nữ xuất hiện, là cô Danner. “Ông Brookhill, xin ông im lặng giùm cháu,” cô hiền hậu. “Mọi người đang đọc…”
“Anh ta ốm rồi,” ông Brookhill đột ngột cắt ngang rồi nhìn xuống cuốn sách của mình. “Cô cho anh ta viên aspirin đi, Carole.”
Carole Danner nhìn Ben, mặt tỏ rõ vẻ lo âu. “Anh bị ốm sao, anh Hanscom? Tôi biết nói vậy thì quả bất nhã, nhưng trông anh kinh khủng quá.”
“Tôi… Tôi mới ăn đồ Trung Hoa lúc trưa. Chắc nó không hợp với tôi rồi,” Ben đáp.
“Nếu anh muốn nằm nghỉ thì trong văn phòng của anh Hanlon có giường xếp đấy. Anh có thể…”
“Thôi. Cảm ơn cô, không cần đâu.” Điều anh muốn làm bây giờ không phải nằm xuống mà là cao chạy xa bay khỏi Thư viện công cộng Derry. Anh ngước nhìn đầu cầu thang. Gã hề đã biến mất. Ma cà rồng cũng mất tăm mất dạng. Nhưng cột bên dưới bóng thép rèn của tay vịn bọc quanh đầu cầu thang là một quả bóng bay. Bên trên bề mặt căng phồng là dòng chữ: NGÀY MỚI TỐT LÀNH! TỐI NAY NGƯƠI SẼ CHẾT!
“Tôi làm xong thẻ thư viện cho anh rồi,” cô nói, ngập ngừng chạm lên cánh tay anh. “Anh còn muốn lấy không?”
“Vâng, cảm ơn cô,” Ben đáp. Anh hít một hơi thật sâu, run rẩy. “Tôi rất lấy làm xin lỗi.”
“Tôi chỉ mong anh không bị ngộ độc,” cô nói.
“Vô hiệu thôi,” ông Brookhill lên tiếng mà chẳng buồn ngẩng đầu khỏi cuốn sách de Vargas hay bỏ tẩu thuốc đã tắt khỏi khóe miệng.”Tiểu thuyết ba xu mới viết thế. Viên đạn sẽ chệch cho xem.”
Và bất giác, không hề định thân mình lại lên tiếng trả lời, Ben đáp: “Viên đạn bi chứ không phải viên đạn đúng nghĩa. Khi đó, chúng cháu nhận ra mình không thể tạo ra viên đạn đúng chuẩn. Lúc ấy chúng cháu mới chỉ là con nít. Nên cháu đã đề ra ý tưởng…”
“Suỵt!” Ai đó lại lên tiếng.
Ông Brookhill nhìn Ben với ánh mắt thoáng giật mình, dường như tính nói gì đó nhưng ông lại chúi đầu vào sách.
Ở bàn đổi trả sách, Carole Danner đưa cho anh một tấm thẻ nhỏ màu cam dập nổi THƯ VIỆN CÔNG CỘNG DERRY bên trên. Ben bối rối, nhận ra đây là thẻ thư viện dành cho người lớn đầu tiên anh có từ trước đến giờ. Thẻ của anh lúc bé có màu vàng của chim hoàng yến.
“Anh có chắc anh không muốn nằm nghỉ không, anh Hanscom?”
“Tôi thấy khỏe hơn rồi, cảm ơn cô.”
“Anh chắc chứ?”
Anh cố nặn nụ cười. “Ừ, tôi chắc mà.”
“Trông anh có vẻ khỏe hơn rồi đấy,” cô nói, nhưng giọng đầy nghi ngờ, tựa hồ đây là điều nên nói chứ cô chẳng tin cho lắm.
Và rồi cô đưa cuốn sách xuống dưới máy quét vi phim hiện nay người ta dùng để lưu trữ thông tin mượn sách, và Ben cảm thấy thấy gần như hoảng hồn. Là cuốn sách mình lấy đại trên kệ lúc gã hề nhái Giọng Nhóc da đen, anh thầm nghĩ. Cô ấy tưởng mình muốn mượn. Mình vừa mượn cuốn sách đầu tiên từ Thư viện công cộng Derry sau hai mươi lăm năm trở lại mà thậm chí còn chẳng biết cuốn sách viết về nội dung gì. Mà kệ đi. Cho mình ra khỏi nơi này là đủ. Thế là quá đủ rồi.
“Cảm ơn cô,” anh nói, kẹp cuốn sách dưới nách.
“Không có gì, anh Hanscom. Anh có chắc anh không muốn uống một viên aspirin chứ?”
“Tôi chắc mà,” anh đáp, đoạn ngần ngừ. “Cô có tình cờ biết tình hình của bà Starrett không? Bà Barbara Starrett? Ngày xưa, bà ấy là thủ thư trưởng của thư viện trẻ em.”
“Bà ấy mất rồi.” Carole Danner nói. “Ba năm trước anh ạ. Theo tôi biết thì bà ấy bị đột quỵ. Quả là đáng tiếc. Bà ra đi lúc chưa già… tôi đoán chừng năm tám, năm chín là cùng. Vào ngày bà ấy mất, anh Hanlon đóng cửa thư viện một hôm.”
“Ồ,” Ben nói, cảm thấy trong lòng trống rỗng. Đó là điều xảy ra khi ta trở về với bản thân ta năm xưa, như lời bài hát nào đó. Lớp đường phủ trên chiếc bánh thì ngọt, nhưng phần bánh bên dưới lại đắng ngắt. Người ta quên anh, hoặc ra đi trước anh, hoặc rụng tóc, rụng răng. Nhiều trường hợp, anh ngỡ ngàng nhận ra người ta phát rồ. Ôi, sống trên đời thật tuyệt làm sao. Ôi chu choa.
“Tôi rất tiếc,” cô nói. “Chắc ngày xưa anh quý bà ấy lắm phải không?”
“Đám con nít ai cũng quý cô Starrett cả,” Ben trầm ngâm, hoảng hốt nhận ra nước mắt sắp lưng tròng.
“Anh có…”
Nếu cô ấy hỏi mình có ổn không thêm một lần nữa, chắc chắn mình sẽ rơi nước mắt mất. Hoặc sẽ thét lên. Hoặc làm gì đó.
Anh liếc nhìn đồng hồ rồi nói, “Tôi phải đi rồi. Cảm ơn cô, cô nhiệt tình quá.”
“Chúc anh một ngày tốt lành, anh Hanscom.”
Hẳn rồi. Vì tối nay tôi sẽ chết.
Anh khẽ vẫy ngón tay về phía cô rồi bước qua gian phòng. Ông Brockhill ngước lên nhìn anh, ánh mắt sắc lẹm, ngờ vực.
Anh nhìn lên phía trên cùng cầu thang bên trái. Quả bóng bay vẫn còn đó, cột bằng dây vào bông thép rèn uốn cong. Nhưng dòng chữ trên quả bóng đã thay đổi:
TA ĐÃ GIẾT CHẾT BARBARA STARRETT!
- CHÚ HỀ PENNYWISE
Anh quay đi, cảm thấy mạch đập thình thịch trong cổ họng mình. Bước ra ngoài, anh giật mình trước ánh mặt trời - đám mây trên đầu đã tản đi, vầng dương cuối tháng Năm ấm áp tỏa xuống, khiến bãi cỏ nhìn xanh và mơn mởn hơn. Ben cảm thấy như có thứ gì đó trút khỏi cõi lòng mình. Dường như anh vừa để lại một gánh nặng vô phương chịu đựng trong thư viện ấy… và khi nhìn xuống cuốn sách vô tình mượn, hàm răng anh chợt mạnh bạo nghiến vào nhau đau nhói. Là cuốn Xe ủi của Stephen W. Meader, một trong ba cuốn sách anh mượn trong thư viện vào cái ngày anh trốn vào Vùng Đất Cằn để thoát khỏi vòng vây của Henry Bowers và bè lũ.
Vết giày của Henry vẫn còn in trên bìa cuốn sách.
Tay anh run bần bật, vụng về lật trang sách rồi giở đằng sau ra. Anh thấy thư viện đã chuyển sang chế độ lưu trên vi phiếu khi mượn sách. Nhưng vẫn còn một túi nhỏ gắn phía sau sách với tấm thẻ kẹp bên trong. Mỗi dòng trên tấm thẻ lại ghi một cái tên và được thủ thư đóng dấu ngày tháng trả sách. Ben thấy thẻ ghi như sau:

Và, dòng cuối cùng trên tấm thẻ chính là chữ của anh ngày bé, với nét bút chì đậm rõ:
Benjamin Hanscom Ngày 8 tháng 6 năm 1958
Đóng dấu trên tấm thẻ, dọc trên trang đầu tiên của cuốn sách, trên bề dày các trang, đóng ngang đóng dọc bằng thứ mực đỏ nhoe nhoét như máu là chữ HỦY BỎ.
“Ôi, lạy Chúa tôi,” Ben thều thào. Anh không biết nói gì hơn; chỉ một lời ấy đã đủ để gói gọn toàn bộ tình hình. “Ôi lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi.”
Tần ngần đứng dưới ánh nắng, anh chợt tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với những người khác.
2
EDDIE KASPBRAK CHỤP BÓNG
Eddie xuống xe buýt ở góc đường Kansas giao với ngõ Kossuth. Kossuth là một con đường chạy xuống đồi, kéo dài khoảng bốn trăm mét trước khi đột ngột dừng lại ở phần đất đổ nát xuôi theo triền dốc chạy vào Vùng Đất Cằn. Anh hoàn toàn không rõ lý do tại sao mình lại chọn xuống xe ở đây; ngõ Kossuth không có ý nghĩa gì với anh, mà anh cũng chẳng quen ai sống ở khu này của đường Kansas. Song dường như đây là nơi anh phải đến. Anh chỉ biết có vậy, nhưng lúc này, như thế là đủ rồi. Beverly khẽ loạng choạng bước xuống xe buýt ở một trạm dừng trên đường Chính Phố Dưới. Còn Mike thì lái xe trở về thư viện.
Lúc này đây, nhìn chiếc xe buýt Mercedes nhỏ bé và có phần kỳ cục xa dần, anh tự hỏi rốt cuộc thì mình đang làm gì nơi đây, đứng ở góc đường ám muội trong một thị trấn ám muội, cách Myra, người phụ nữ hẳn đang khóc lên khóc xuống vì lo cho anh, gần tám trăm ki-lô-mét. Trong khoảnh khắc, cảm thấy choáng đến đau đớn, anh đưa tay chạm vào túi áo và nhớ ra mình đã để Dramamine cùng bao thuốc thang ở Nhà nghỉ Thị trấn. Nhưng anh còn aspirin. Anh không bao giờ ra ngoài mà thiếu aspirin, giống như việc anh không bao giờ ra ngoài mà không mặc quần vậy. Anh nuốt khan hai viên rồi sải bước dọc theo đường Kansas, mơ màng nghĩ có khi mình sẽ đến Thư viện công cộng Derry hoặc băng qua Đại lộ Costello. Trời đã sáng sủa hơn, và anh nghĩ khéo có khi anh sẽ đi bộ đến Tây Broadway, chiêm ngưỡng những căn nhà cổ xây theo lối Victoria dọc hai dãy dân cư bắt mắt duy nhất ở Derry. Hồi còn bé, thỉnh thoảng anh lại làm thế – tản bộ dọc theo Tây Broadway, thong dong như thể đang trên đường đến đâu đó. Gần góc đường Witcham và Tây Broadway là nhà của gia đình Mueller, một căn nhà đỏ với ngọn tháp hai bên cùng bờ giậu phía trước. Nhà Mueller có một người thợ làm vườn lúc nào cũng nhìn Eddie với cặp mắt dò xét cho đến tận lúc cậu đi ngang qua.
Thuốc trị buồn nôn, chóng mặt.
Tiếp đến là nhà Bowie, cách nhà Mueller bốn căn trên cùng phía, anh đoán đó là một trong những lý do Greta Bowie và Sally Mueller chơi thân với nhau từ thời tiểu học. Căn nhà lợp ngói xanh và cũng có ngọn tháp… nhưng nếu tháp nhà Mueller vuông vắn thì tháp nhà Bowie lại có chóp nhọn thấp lùn nhìn rõ là buồn cười, và trong mắt Eddie, chúng giống như mũ giấy hình nón mà học sinh hư phải đội. Vào mùa hè, họ luôn bày biện trên bãi cỏ bên rìa nhà chiếc bàn với cây dù vàng che nắng loè loẹt, ghế liễu gai, võng dây thừng cột vào hai cái cây. Đằng sau nhà luôn bày sẵn trò croquet. Eddie biết điều đó dù chưa bao giờ được mời đến nhà Greta chơi bóng. Khi đủng đỉnh bước ngang qua (như thể đang trên đường đi đến đâu đó), thỉnh thoảng Eddie lại nghe thấy tiếng bóng lịch kịch, tiếng cười đùa, tiếng cằn nhằn khi bóng bị “văng đi”. Lần nọ, cậu trông thấy Greta một tay cầm cốc nước chanh, một tay cầm gậy chơi bóng, tướng mạo thon thả và xinh xắn mà không thi sĩ nào đủ lời tán tụng (ngay cả bờ vai cháy nắng của cô cũng như ngọc như ngà trong mắt cậu bé Eddie Kaspbrak chín tuổi ngày ấy), chạy theo quả bóng bị “văng đi”; nó đập vào một cái cây rồi nảy lại, đưa Greta vào tầm nhìn của Eddie.
Ngày hôm ấy, cậu cảm thấy lòng mình khẽ rung rinh trước cô – mái tóc vàng óng ả buông xuống đôi vai trong chiếc quần giả váy ống rộng màu xanh dương mát mắt. Cô gái nhìn quanh và trong một khắc, cậu tưởng cô nhìn thấy mình, nhưng hóa ra không phải, bởi khi cậu khẽ khọt đưa tay chào, cô không giơ tay chào đáp lại mà chỉ đập bóng về lại khu vườn bên hông và chạy theo quả bóng. Cậu tiếp tục bước đi, chẳng chút cay cú vì mình chào mà không được đáp lại (cậu thật lòng cho rằng cô không nhìn thấy) hay vì chẳng bao giờ được rủ đến nhà cô tham gia bất kỳ trận croquet nào vào chiều thứ Bảy: đời nào một mỹ nhân như Greta Bowie lại muốn mời thằng nhóc như cậu kia chứ? Cậu vừa ốm o, hen suyễn, mặt lại trông như chuột chết chìm.
Phải rồi, anh thầm nghĩ, chân bước vô định trở ngược lại đường Kansas, lý ra mình nên đến Tây Broadway và ngắm nhìn những ngôi nhà năm xưa… nhà Mueller, nhà Bowie, nhà bác sĩ Hole, Trạm Xe tải của…
Suy nghĩ của anh đột nhiên dừng lại trước cái tên ấy, vì sao mà thiêng quá, vừa nhắc thì anh đã đến ngay trước Trạm Xe tải của Anh em Tracker rồi đây.
“Vẫn ở đây,” Eddie nói to rồi phá lên cười. “Đánh chết vẫn còn!”
Căn nhà ở Tây Broadway thuộc về Phil và Tony Tracker, hai anh em nhà này ở vậy cả đời, có lẽ là căn nhà xinh xắn nhất trong số những căn nhà nguy nga bề thế trên con đường ấy, căn nhà trắng thanh thoát, xây theo lối kiến trúc giữa thời Victoria với bãi cỏ xanh cùng những luống hoa lớn luôn khoe sắc (tất nhiên là một cách trật tự, đẹp mắt) suốt mùa xuân và mùa hạ. Năm nào cũng vậy, vào mùa thu, đường dẫn vào nhà họ lại được trải nhựa mới để giữ cho bề mặt luôn đen bóng như gương, ngói bằng đá phiến xếp trên mái nhà nghiêng nghiêng lúc nào cũng tươi mát một màu xanh bạc hà hoàn hảo, gần như tiệp màu với khu vườn, và thỉnh thoảng, người ta lại dừng chân để chụp hình những song cửa sổ cổ xưa, đầy ấn tượng.
“Đàn ông đàn ang giữ cho nhà đẹp như thế thì chỉ có đám đồng bóng,” mẹ của Eddie từng làu bàu như thế nhưng lúc ấy cậu không dám hỏi thêm cho rõ.
Trạm Xe tải ở Tây Broadway lại một trời một vực so với căn nhà của anh em Tracker. Trạm xây bằng gạch khá thấp, nhiều chỗ gạch cũ nên vỡ cả ra, thứ màu cam dơ dáy chuyển sang màu bồ hóng đen đúa ở chân tòa nhà. Dãy cửa sổ cái nào cái nấy đều bẩn tàn tệ, trừ một khung cửa sổ tầm thấp ở khu văn phòng nhân viên điều độ được lau thành vòng tròn sạch sẽ. Khung cửa này được giữ sạch bong bởi những đứa trẻ trước thời Eddie và các bạn, vì tay nhân viên điều độ treo bộ lịch Playboy sau bàn. Những cậu nhóc đến chơi bóng chày ở khu đất đằng sau cũng sẽ dừng lại, lấy găng bóng chày chùi lên kính để xem tháng này là hình cô nàng nóng bỏng nào.
Bao quanh ba mặt của trạm xe tải là bãi đá sỏi. Tất cả những chiếc xe tải đường dài – hãng Jimmy-Pete, Kenworth, Rio – đều được sơn dòng chữ ANH EM TRACKER, DERRY NEWTON PROVIDENCE HARTFORD NEW YORK, lắm lúc để bừa bãi vô trật tự. Thỉnh thoảng, xe được lắp ráp nguyên vẹn nhưng có khi chỉ có đầu xe hoặc thân xe im lìm đứng trên bánh sau và thanh chống.
Hai anh em nhà này chất xe tải ngoài khu đất đằng sau tòa nhà nhiều nhất có thể, vì cả hai hâm mộ bóng chày cuồng nhiệt và rất thích đám trẻ đến chơi. Phil Tracker trực tiếp lái xe chở hàng nên các cậu bé chẳng mấy khi gặp ông, còn Tony Tracker, một người đàn ông vai u thịt bắp, đảm nhận nhiệm vụ sổ sách kế toán, và Eddie (cậu chẳng bao giờ chơi bóng chày - mẹ cậu sẽ cắt tiết cậu nếu biết cậu xớ rớ chơi, chạy lòng vòng rồi hít bụi vào buồng phổi mỏng manh của mình, rủi may gãy chân, chấn động, và có Chúa mới biết còn ti tỉ nguy cơ gì) không lạ gì gương mặt ông. Ông như một phần bất biến của mùa hè, với Richie, ngày ấy, giọng ông là một phần của trận bóng, giống như sau này, nhắc tới chương trình thể thao là nhắc tới giọng phát thanh của Mel Allen: Tony Tracker, to lớn nhưng có gì đó ma mị, chiếc áo thun trắng ánh lên khi tà dương mùa hạ buông xuống và đom đóm bắt đầu lập lòe trong không trung, giọng vang vang: “Chúi xuống dưới cả bóng rồi hẵng chụp, Tóc Đỏ! … Sao lại rời mắt khỏi cả bóng hả, Nửa Panh! Không nhìn thì đánh bóng bằng niềm tin à! … Trượt đi, Chân Ngựa! Đạp thắng gót đôi Keds vào mặt chốt gôn hai đi, có vậy nó mới không loại cậu được!”
Eddie nhớ ông chẳng bao giờ gọi đám trẻ bằng tên mà suốt ngày ê Tóc Đỏ, ê Tóc Vàng, ê Bốn Mắt, ê Nửa Panh. Ông không gọi quả bóng mà phát âm cả bóng. Ông không gọi gậy đánh bóng mà đặt cái tên cán tần bì, ví dụ “Cầm cán tần bì cao lên thì mới đập được cả banh ấy, Chân Ngựa”.
Miệng nhoẻn cười, Eddie tiến lại… nhưng rồi nụ cười tắt ngúm. Trước đây, tòa nhà bằng gạch dài này là nơi đơn hàng được giải quyết, xe tải được sửa chữa, hàng hóa được lưu trữ tạm thời, song hiện tại, nó im lìm và tối tăm. Cỏ dại len lỏi qua mặt sỏi, và ở hai bên sân không có chiếc xe tải nào… chỉ có một thùng xe gỉ sét và xỉn màu.
Bước lại gần hơn, anh trông thấy tấm biển BÁN NHÀ của công ty nhà đất trên cửa sổ.
Nhà Tracker dẹp tiệm rồi, anh thầm nghĩ, bất ngờ trước nỗi buồn ập đến cùng suy nghĩ kia… tựa hồ ai đó vừa ra đi. Giờ anh mới thấy mừng là mình đã không đi bộ đến Tây Broadway. Nếu Anh em Tracker mà còn sa cơ lỡ vận – Anh em Tracker, những người tưởng chừng sẽ trường tồn cùng năm tháng - vậy điều gì sẽ xảy ra với con phố ngày xưa anh từng thích dạo bộ? Anh khó chịu nhận ra mình chẳng muốn biết điều đó chút nào. Anh không muốn nhìn thấy tóc Greta Bowie lấm tấm bạc, hông và chân cô to bè do ngồi nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, khuất mắt trông coi thì tốt hơn – an toàn hơn.
Đó là điều lý ra chúng ta nên làm, lý ra ta phải tránh xa. Ta chẳng có việc gì ở đây. Trở về nơi ta lớn lên chẳng khác nào làm một động tác yoga điên rồ, nhét chân vào miệng của mình rồi tự nuốt bản thân cho đến khi chẳng còn gì sót lại, đó là điều bất khả, và bất cứ người nào đầu óc bình thường nên lấy làm vui mừng vì nó bất khả… nhưng suy cho cùng, chẳng biết chuyện gì đã xảy ra với Tony và Phil Tracker?
Khéo có khi Tony bị trụy tim; ngày xưa người ông phải dôi ba mươi lăm kí lô là ít. Ta phải chú ý xem tim phổi thế nào. Thi sĩ có thể dạt dào những áng thơ về trái tim tan vỡ, Barry Manilow có thể ngân vang về chủ đề ấy, và Eddie chẳng có gì phàn nàn (anh và Myra có tất cả mọi album Barry Manilow thu âm), nhưng bản thân anh mong muốn điện tâm đồ hằng năm của mình giữ ở mức ổn định. Hẳn trái tim của Tony cố quá, để rồi kết cục là quá cố. Còn Phil thì sao nhỉ? Có khi ông gặp vận hạn trên đường cao tốc cũng nên. Eddie cũng lái xe kiếm sống (hay nói đúng hơn ngày xưa là thế, hiện thời, anh chỉ đưa đón người nổi tiếng, còn bao nhiêu thời gian thì lèo lái bàn giấy) nên anh hiểu thế nào là xui rủi trên đường đi. Có khi xe tải mà ông Phil già lái bị trượt khiến rơ moóc bung ra đâu đó ở New Hampshire hoặc ở rừng Hainesville phía Bắc Maine, nơi đường đóng băng, hoặc có khi ông mất phanh khi đang đi lên một ngọn đồi dài phía Nam Derry, chạy về hướng Haven trong cơn mưa xuân. Có thể là thế, hoặc có thể nguyên nhân là những điều ta nghe trong mấy bài hát đồng quê nhảm nhí về tài xế xe tải đội mũ Stetson và nghĩ tới việc ăn chả ăn nem trong đầu. Lắm lúc điều hành bàn giấy là một công việc cô đơn, nhưng bản thân Eddie đã ngồi sau tay lái nhiều lần, ống thở đồng hành cùng anh trên bảng đồng hồ xe, cò ống phản chiếu mờ ảo trên kính chắn gió (và một xô thuốc trong ngăn đựng găng tay), anh biết cô đơn thực sự mang màu nhoe nhoét đỏ: màu đèn kính hậu chiếc xe phía trước phản chiếu trên mặt đường nhựa ướt mưa.
“Ôi khốn thật, thời gian chẳng chừa một ai,” Eddie Kaspbrak thở dài thì thầm, anh thậm chí còn chẳng để ý mình vừa thốt nên lời.
Lòng vừa lặng sóng lại vừa không vui – một cảm giác quá đỗi quen thuộc đến độ anh còn thấy khó tin – Eddie đi vòng qua tòa nhà, đôi giày hiệu Gucci lạo xạo trên mặt sỏi, để nhìn khu đất hay tổ chức chơi bóng chày thời anh còn bé – thời mà dường như chín mươi phần trăm dân số thế giới đều là trẻ con.
Khu đất chẳng thay đổi là bao, nhưng dáng vẻ của nó đủ để anh biết chẳng còn ai chơi bóng chày ở đây nữa – truyền thống ấy đơn giản là đã mai một theo dòng thời gian vì lý do này hay lý do khác.
Năm 1958, hình dạng kim cương của sân cỏ không được vẽ bằng các đường vôi mà in hằn dấu chân bọn trẻ chạy. Những cậu bé chơi bóng chày ở đây (tất cả đều lớn tuổi hơn Hội Cùi Bắp, dù Eddie nhớ ngày đó thỉnh thoảng Stan Uris cũng nhập hội; cậu đập bóng ở mức bình thường nhưng ở sân ngoài, cậu chạy nhanh như bay và phản xạ nhạy như cắt) cũng chẳng có chốt gôn thật, chỉ có bốn miếng bạt dơ dáy lúc nào cũng nhét dưới khu nhập hàng hóa đằng sau tòa nhà dài, khi nào con nít tụ tập ở khu đất phía sau để chơi bóng đủ đông, chúng lại được trịnh trọng lôi ra, rồi được trịnh trọng cất đi khi màn đêm buông xuống dày đến nỗi bọn trẻ không thể tiếp tục trò chơi được nữa.
Đứng đây lúc này, Eddie không còn thấy dấu vết nào của sân bóng. Cỏ dại lác đác mọc thành cụm qua bãi đất trải sỏi. Vỏ chai sô-đa và chai bia vỡ rải rác đây đó; ngày xưa, những mảnh chai bể như vậy được đám trẻ bọn chúng dẹp đi vô cùng cẩn thận. Thứ duy nhất còn nguyên như trước là hàng rào bằng lưới ở cuối khu đất, cao ba mét rưỡi và gỉ sét như máu khô. Chúng lồng bầu trời vào những cái khung hình kim cương.
Kia là khu vực home-run, Eddie thầm nghĩ, bối rối đưa hai tay thọc vào túi quần, ngẩn người đứng ở vị trí từng là gôn nhà cách đây hai mươi bảy năm. Bên kia hàng rào, đi xuống một chút là Vùng Đất Cằn. Trước đây, họ hay gọi nó là Tự động. Anh phá lên cười ha hả rồi lo ngại nhìn xung quanh, như thể người vừa cất tiếng cười là ma chứ không phải một người đàn ông mang chiếc quần trị giá sáu mươi đô-la, một người vững như… chà, vững như… như…
Bớt mơ tưởng đi, giọng của Richie như thì thầm. Cậu mà vững chãi cái gì, và suốt mấy năm vừa rồi cậu chẳng mấy khi kiếm được tràng hay ho nào phải không?
“Ừ phải,” Eddie nói giọng trầm trầm, đưa chân đá dăm ba viên đá lạch cạch.
Ngẫm lại, anh mới chỉ nhìn thấy quả bóng bay qua hàng rào của mảnh đất phía sau Trạm Xe tải của Anh em Tracker đúng hai lần, cả hai lần đều là sản phẩm của một người: Huggins Ợ Hơi. Tướng Ợ Hơi to lớn đến là buồn cười, mới mười hai tuổi mà cậu ta đã cao một mét tám, nặng hơn bảy mươi lăm kí lô. Cậu ta có biệt danh Ợ Hơi vì cậu này có khả năng tạo ra những cú ợ dài và to đến lạ kỳ - ở đỉnh cao, tiếng ợ của cậu ta như lai giữa tiếng ễnh ương và tiếng ve sầu. Thỉnh thoảng, cậu ta sẽ vội đưa tay bịt miệng lúc ợ, tạo ra một âm thanh như tiếng gầm khàn đục của người da đỏ.
Theo như Eddie nhớ, Ợ Hơi to con nhưng không quá mập, song dường như Chúa không bao giờ có chủ đích cho một cậu bé mười hai tuổi đạt mức cao lớn như vậy, nếu mùa hè năm ấy, cậu ta không mất mạng thì khéo cậu ta phải nhổ giò cao hai mét hoặc hơn, có khi dần dà, cậu ta sẽ học được cách xoay xở cơ thể quá cỡ của mình trong một thế giới ai cũng nhỏ nhắn. Eddie thầm nghĩ khéo cậu ta còn biết cách ôn hòa hơn. Tuy nhiên, ở cái tuổi mười hai của mình, cậu ta vừa hậu đậu, vừa quá quắt, tuy không thiểu năng nhưng nhìn chẳng khác nào kẻ chậm trí, vì mọi hành động của cậu ta đều có vẻ vô duyên và gai mắt đến lạ lùng. Ợ Hơi không có nét nhịp nhàng, dẻo dai như Stanley, cảm tưởng như cơ thể cậu ta không giao tiếp với não mà tồn tại trong một vũ trụ riêng, nơi sấm sét chậm chạp đì đùng. Eddie còn nhớ cái đêm một quả bóng vàng theo đường dài và chậm, bay thẳng đến vị trí của Ợ Hơi ở sân ngoài – cậu ta còn chẳng kịp nhúc nhích. Cậu ta ngẩn người ra ngước nhìn, giơ găng lên như một cú đấm vô nghĩa, nhưng thay vì rơi vào găng quả bóng lại đập thẳng lên đỉnh đầu cậu ta đánh cốp! rõ to. Như thể quả bóng vừa rơi từ tòa nhà ba tầng xuống nóc một chiếc xe sedan Ford. Nó nảy cao một mét hai rồi đáp gọn vào găng tay của Ợ Hơi. Một đứa nhóc số xui tên là Owen Phillips phá lên cười khi nghe thấy tiếng cốp ấy. Ợ Hơi bèn đi thẳng đến chỗ cậu ta và đá thật mạnh vào bàn tọa khiến Phillips gào thét chạy về nhà với lỗ thủng trên đũng quần. Còn lại, không ai cười… chí ít ngoài mặt là thế. Eddie đoán nếu Richie Tozier có mặt ở đó, thể nào cậu ta cũng để cái miệng chạy trước cho mà xem, và không khéo Ợ Hơi sẽ cho cậu ta vào viện luôn ấy chứ. Đứng ở gôn, Ợ Hơi cũng như rùa bò. Loại cậu ta là chuyện dễ ợt, và nếu cậu ta đập bóng rồi chạy về gôn thì ngay cả cầu thủ sân trong vụng về nhất cũng có thể loại cậu ta ngay. Nhưng khi thiên thời địa lợi nhân hòa thì quả bóng đi ngút chỉ. Hai quả bóng mà Eddie thấy Ợ Hơi đánh bay qua hàng rào đều vô cùng mỹ mãn. Quả bóng thứ nhất không tìm lại được, dù hơn mười cậu nhóc đã lùng sục lên lùng sục xuống triền dốc dẫn thẳng vào Vùng Đất Cằn mà vẫn không thấy.
Còn quả bóng thứ hai thì tìm lại được. Chủ nhân của quả bóng là một cậu học lớp Sáu (Eddie không nhớ tên thật của cậu ta là gì, chỉ nhớ đám trẻ gọi cậu ta là Sụt sịt vì cậu này suốt ngày bị cảm), quả bóng đã được sử dụng từ cuối xuân đến đầu mùa hè năm 1958. Do vậy, chẳng có gì lạ khi nó không còn giữ được hình cầu tròn trịa làm từ da ngựa trắng và khâu chỉ đỏ như lúc mới khui từ trong hộp; thay vào đó, nó vừa mòn vừa đầy vết cỏ, trầy nhiều chỗ sau hàng trăm hành trình này lên nảy xuống mặt đất trải sỏi ở sân ngoài. Trên quả bóng đã có chỗ bắt đầu bục chỉ, và đến một cậu nhóc thỉnh thoảng lại đi nhặt bóng lỗi khi cơn hen không quá tệ (và tận hưởng câu Cảm ơn nha nhóc! khi cậu ném bóng vào sân chơi) như Eddie còn biết chẳng chóng thì chầy, ai đó sẽ dùng cuộn băng keo Mèo Đen quấn nó để cố tận dụng thêm một tuần nữa.
Nhưng ngày hôm đó chưa kịp đến thì ngày nọ, cậu học sinh lớp Bảy với cái tên chẳng giống ai là Stringer Dedham ném một đường bóng “thay đổi tốc độ” (theo lời đương sự) về phía Huggins Ợ Hơi. Ợ Hơi canh thật chuẩn (nói ra thì có chút quá đáng nhưng thực sự, tốc độ của cậu ta chỉ bắt được những quả bóng chậm) rồi đập mạnh quả bóng cũ nát hiệu Spalding của Sụt sịt, đến độ lớp vỏ bị rơi ra và lất phất như một con bướm ma màu trắng, rơi xuống cách chốt gôn hai chừng một mét. Bản thân quả bóng tiếp tục bay lên bầu trời hoàng hôn rực rỡ, càng bay cao, chỉ càng bục, đám trẻ ngẩn ngơ nhìn theo đường bóng với vẻ khâm phục; quả bóng vượt qua hàng rào, rồi tiếp tục lao lên, Eddie nhớ Stringer Dedham đã khe khẽ cảm thán “Ôi bố tiên sư!” khi quả bóng vẽ thành một đường trên bầu trời, tất cả đều trông thấy chỉ trong lõi banh tung ra, và trước khi quả bóng đập xuống đất, sáu cậu nhóc đã kịp leo lên hàng rào. Eddie còn nhớ Tony Tracker đã phá lên cười như điên như dại rồi ré lên: “Quả đấy xứng tầm sân vận động Yankee chứ đùa! Mấy đứa nghe không? Quả đấy xứng tầm sân vận động Yankee kìa, mẹ kiếp !”
Peter Gordon là người tìm ra quả bóng, ở vị trí cách không xa dòng suối mà chưa đầy ba tuần sau, Hội Cùi Bắp xây đập. Quả banh teo tóp còn chưa tới bảy xen-ti-mét đường kính; thần kỳ thế nào mà lõi chưa bị bể.
Không nói nhưng ai nấy đều đồng thuận mang quả banh của Sụt Sịt về cho Tony Tracker, ông chẳng nói chẳng rằng săm soi thật kỹ, đám nhóc vây quanh cũng nhất tề im lặng. Nhìn từ đằng xa, cảnh tượng các cậu bé quây quần quanh một người đàn ông to cao với cái bụng bia có gì đó gần như tôn nghiêm – họ kính cẩn trước thánh vật linh thiêng. Huggins Ợ Hơi thậm chí còn chưa chạy quanh các chốt gôn. Cậu ta chỉ ngây ra đứng đó cùng mọi người, như cậu nhóc chẳng hay biết mình đang ở đâu. Thứ Tony Tracker trao lại cho cậu hôm ấy còn bé hơn quả bóng tennis.
Đắm chìm trong ký ức, Eddie bước đến chỗ từng là gôn nhà, ngang qua bục ném (có điều nó còn chẳng tươm tất như cái bục, vị trí này lõm xuống do sỏi đã được đẩy ra hết) rồi tiến lại khu vực của cầu thủ trung tâm. Anh thoáng dừng lại, lặng người trước không gian im phăng phắc, đoạn rảo bước đến hàng rào lưới. Hàng rào cũ gỉ hơn hẳn năm xưa, tua tủa một thứ dây leo xấu xí, nhưng chí ít nó còn đó. Nhìn qua rào, anh có thể trông thấy đất xuôi xuống dốc và rậm rì màu xanh.
Vùng Đất Cằn càng lúc càng sum suê như rừng cây, và lần đầu tiên, anh bất giác tự hỏi tại sao một vùng đất um tùm cây lá như vậy lại có cái tên Vùng Đất Cằn: vùng đất này mà cằn cỗi mới lạ. Tại sao họ không gọi nó là Vùng hoang dã hay Rừng sâu nhỉ?
Vùng Đất Cằn.
Cái tên nghe thật ám muội, gần như hiểm ác, nhưng hình ảnh nó gợi lên trong đầu ta không phải những bụi cây và tán lá dày đặc đến độ phải tranh nhau ánh sáng mặt trời mà là những đụn cát không ngừng di chuyển, hoặc những tầng đất cát hoặc sa mạc xám xịt lộ thiên. Cằn cỗi. Ban nãy Mike có nói, tất cả bọn họ đều như Vùng Đất Cằn, và có lẽ quả đúng như thế. Nhóm bảy người bọn họ chẳng ai có nổi một mụn con. Ngay cả vào thời đại lên kế hoạch sinh con kỹ càng như hiện giờ, điều đó vẫn quá đỗi khó tưởng.
Anh nhìn qua mắt lưới hình kim cương gỉ sét, lắng nghe tiếng xe trên đường Kansas vọng lại, tiếng nước róc rách đằng xa và ào ào chảy qua bên dưới. Anh có thể thấy làn nước lấp lánh trong ánh mặt trời mùa xuân, tựa hồ thủy tinh lóng lánh. Bụi tre vẫn còn dưới kia, trắng đến lạ kỳ, trông chẳng khác nào nấm mọc giữa màu xanh cây cối. Đằng xa, trong những nẻo đất lầy lội quanh con sông Kenduskeag nghe đâu có cả bùn lún.
Mình đã trải qua những tháng năm tuổi thơ đẹp nhất dưới vùng đất hoang tàn ấy, anh nghĩ mà rùng mình.
Anh toan quay đi thì nhác thấy thứ gì đó: một trụ xi măng với nắp bằng thép phía trên. Hố Morlock. Ngày xưa Ben gọi chúng như vậy, miệng anh nhoẻn cười nhưng mắt thì không. Nếu đến gần trụ, ta sẽ thấy trụ cao ngang hông (nếu là con nít) và dòng chữ BỘ PHẬN DỊCH VỤ CÔNG CỘNG DERRY được dập nổi theo hình bán nguyệt. Ta có thể nghe thấy tiếng ù ù phát ra từ sâu bên trong, tựa hồ máy móc gì đó.
Hố Morlock.
Bọn mình đã đi đến đó vào tháng Tám. Lúc cuối cùng. Bọn mình đã chui vào hố Morlock của Ben, bước vào cống thoát nước, nhưng sau một hồi, chúng không còn là cống rãnh nữa mà biến thành… biến thành gì nhỉ?
Patrick Hockstetter có mặt dưới đó. Trước khi Nó bắt cậu ta, Beverly đã trông thấy cậu ta làm trò gì đó rất khủng khiếp. Cảnh tượng ấy khiến cô phá lên cười nhưng bản thân cô biết nó rất tệ hại. Hành động ấy có dính tới cả Henry Bowers thì phải? Hình như là thế. Và…
Anh chợt quay người lại rồi dợm bước về trạm xe bị bỏ hoang, bởi anh không thích nhìn xuống Vùng Đất Cằn nữa, cũng không thích những suy tư nơi ấy khởi lên trong lòng mình. Anh muốn về nhà với Myra. Anh không muốn ở đây. Anh....
“Bắt lấy, nhóc!”
Quay về phía giọng nói vừa phát ra, anh trông thấy một thứ hồ như quả bóng bay ngang qua hàng rào về phía mình. Nó đập xuống đất rồi nảy lên. Eddie chìa tay ra bắt. Tuy chỉ hành động theo phản xạ, cú bắt của anh rất gọn, gần như thanh thoát.
Anh nhìn xuống thứ nằm trong tay mình thì cơ thể chợt lạnh đi, bủn rủn. Nó từng là quả bóng chày, nhưng giờ chỉ còn là một lõi quấn dây, vì lớp da bọc bên ngoài đã bị đánh bật. Anh có thể thấy sợi dây xổ ra. Dây vướng qua bên kia hàng rào như mạng nhện và biến mất vào Vùng Đất Cằn.
Ôi Chúa ơi, anh nghĩ. Ôi Chúa ơi, Nó đến rồi, Nó đến chỗ mình LÚC NÀY rồi…
“Xuống đây chơi nào, Eddie,” giọng nói phía bên kia hàng rào cất lên, và Eddie hãi hùng thiếu điều ngất xỉu nhận ra đó là giọng của Huggins Ợ Hơi, cậu thiếu niên bị giết trong đường hầm dưới lòng đất Derry vào tháng Tám năm 1958. Và giờ, Ợ Hơi đang có mặt đây, chật vật trèo lên bờ sông phía bên kia hàng rào.
Cậu ta mặc đồng phục bóng chày đội New York Yankees sọc mảnh, vương mấy mẩu lá úa và dây màu cỏ xanh. Cậu ta vừa là Ợ Hơi vừa là gã hủi, thứ sinh vật gớm guốc đội mồ ướt át sống dậy sau bao năm tháng. Da thịt trên khuôn mặt nặng nề của hắn thối rữa thành từng thớ, từng sợi. Một hốc mắt trống hoác. Trong mớ tóc nhung nhúc thứ gì đó. Một tay hắn đeo găng bóng chày nhớt nhúa rêu. Hắn chọc những ngón tay phải rữa nát qua lỗ hàng rào lưới, và khi hắn gập tay lại, Eddie nghe thấy âm thanh lẹp nhẹp rợn gáy khiến anh tưởng chừng phát rồ.
“Quả đấy xứng tầm sân vận động Yankee chứ đùa,” Ợ Hơi nói rồi toác miệng cười. Một con cóc trắng đầy độc tố ngoe nguẩy bò ra, nhảy khỏi miệng hắn rồi vọt xuống đất. “Mày nghe thấy tao nói không? Quả đấy xứng tầm sân vận động Yankee kìa, mẹ kiếp! Và nhân tiện, Eddie ơi, mày muốn tao sóc lọ cho mày không? Tao chỉ tính mười xu thôi. Mẹ kiếp, thôi tao làm miễn phí cho nhé.”
Khuôn mặt của Ợ Hơi biến dạng. Phần đầu mũi bèo nhèo sụp xuống, để lộ hai lỗ mũi đỏ tươi mà Eddie từng nằm mơ thấy. Tóc hắn cứng quèo, vuốt ra sau thái dương, trắng như tơ nhện. Lớp da thối rữa trên trán hắn toác ra, toang hoác phần xương trắng nhởn bọc một lớp chất nhầy như kính mờ của đèn rọi. Ợ Hơi đã biến mất; thứ xuất hiện dưới hiên căn nhà số 29 đường Neibolt đăng đàn.
“Bobby thổi kèn cho tao với giá mười xu,” nó ngân nga và bắt đầu bò qua hàng rào. Những mẩu thịt bé tí vướng trên mắt lưới hình kim cương do dây thép quấn lại mà thành. Hàng rào xung xoảng, lạch xạch dưới sức nặng. Dây leo bị thứ sinh vật này chạm vào đều úa đen. “Nó làm bất kể thời gian. Thêm giờ thì mười lăm xu.”
Eddie cố gắng thét lên nhưng chẳng phát ra âm thanh gì ngoài tiếng ré thều thào khô khốc. Có cảm giác phổi anh như hai cây kèn ocarina cổ nhất thế giới. Anh nhìn xuống quả bóng trong tay thì bỗng dưng máu me bắt đầu rỉ ra từ cuộn dây. Nó lộp độp rơi xuống sỏi và bắn lên đôi giày anh đang mang.
Anh hốt hoảng vứt nó đi, đoạn loạng choạng lùi lại hai bước, đôi mắt trợn trừng lôi ra khỏi mặt, chà lấy chà để tay lên áo thun. Gã hủi đã leo lên đỉnh hàng rào. Đầu nó lắc lư mờ mờ ảo ảo trên nền trời, chẳng khác nào ác mộng hiện hình, như đèn lồng bí đỏ Halloween trương phồng. Lưỡi nó thè lè dài cả một mét hai, có khi đến mét tám, ngoe nguẩy từ cái miệng toe toét cười của gã hủi, trườn xuống hàng rào như con rắn.
Giây trước nó mới ở đó… vậy mà giây sau, nó đã biến mất.
Nó không từ từ mờ đi như ma quỷ trong phim mà mất dạng trong nháy mắt. Nhưng Eddie nghe thấy tiếng động xác nhận sự hữu hình của thứ sinh vật ấy: tiếng póc! như nút chai sâm panh bật ra. Đó là âm thanh không khí tràn đến lấp đầy không gian mà bạn nãy gã hủi vừa hiện diện.
Anh quay lưng, co giò chạy, nhưng chạy chưa được ba mét thì bốn hình dạng thô cứng chợt bay ra từ bóng tối bên dưới khu nhập hàng hóa của trạm xe tải bỏ hoang. Ban đầu, anh tưởng chúng là dơi, bèn thét lên và lấy tay che đầu… Nhưng rồi anh nhận ra chúng là những miếng vải bạt vuông vức – những miếng vải từng được trưng dụng làm chốt gôn khi đám trẻ lớn tuổi hơn chơi bóng.
Chúng bay lượn, chao nghiêng trong không trung tĩnh lặng, anh phải chúi người xuống để né một miếng. Chúng đồng loạt đáp xuống vị trí năm xưa, khiến bụi đất tung lên: gôn nhà, gôn một, gôn hai, gôn ba.
Hồng hộc hớp lấy hớp để không khí, Eddie chạy qua gôn nhà, môi méo xệch, mặt trắng như miếng phô mai tươi.
BỐP! Tiếng gậy đập vào một quả bóng ma. Và rồi…
Eddie khựng lại, chân bủn rủn như cọng bún, tiếng rên vang lên từ môi anh. Mặt đất bỗng phồng lên thành một đường thẳng nối từ gôn nhà đến gôn một, như thể một con chuột chũi khổng lồ đang đào hang với tốc độ chóng mặt bên dưới lòng đất. Cát sỏi dạt sang hai bên. Thứ bên dưới mặt đất chạy đến gôn, khiến miếng vải bạt tung lên không trung. Nó bay phụt lên, mạnh và nhanh đến độ kêu đánh póc - giống âm thanh cậu bé đánh giày tạo ra bằng giẻ khi tâm trạng vui. Mặt đất bắt đầu trồi lên thành đường từ gôn một đến gôn hai, càng lúc càng nhanh. Gôn hai bật lên không trung với tiếng póc tương tự ban nãy, và khi nó chưa kịp rơi xuống đất thì thứ dưới mặt đất đã chạm đến gôn ba và lao đến gôn nhà.
Gôn nhà cũng bay lên, nhưng trước khi nó đáp xuống, thứ bên dưới trồi lên khỏi mặt đất như một món quà gớm ghiếc, lộ diện hình hài của Tony Tracker, với khuôn mặt chỉ còn là hộp sọ dính vài miếng thịt đen xỉn, áo sơ-mi trắng chỉ còn là mớ vải rách nát. Hắn ta ngoi lên ở ngay gôn nhà, từ phần hông trở lên, lắc qua lắc lại như con giun đáng tởm.
“Mày có cầm tới cầm lui cái cán tần bì ấy cũng vô ích thôi,” Tony Tracker gằn giọng, khô khốc nói. Hàm răng phô ra dưới nụ cười tỏ vẻ thân thiện một cách rồ dại. “Vô ích thôi, Khò Khè. Bọn tao sẽ bắt được mày. Mày và đám bạn mày. Bọn tao sẽ đoạt được CẢ BANH!”
Eddie ré lên và loạng choạng chạy đi. Một bàn tay chộp lấy vai anh nhưng anh vội rụt lại. Bàn tay siết lấy anh trong chốc lát rồi buông lơi. Anh quay lại. Là Greta Bowie. Cô ta đã chết. Một nửa gương mặt của cô ta đã biến mất; khối thịt đỏ bầy hầy còn sót lại nhung nhúc giòi bọ. Một tay cô ta cầm quả bóng bay màu xanh.
“Tông xe,” phần miệng chưa biến dạng lên tiếng và toét cười. Nụ cười khiến da thịt toạc ra thành một âm thanh khôn tả, Eddie có thể nhìn thấy gân giật giật như những sợi đai gớm guốc. “Năm ấy tôi mười tám tuổi, Eddie ạ. Xỉn quắc cần câu, nốc quá nhiều quỷ đỏ. Bạn cậu đến rồi kìa, Eddie.”
Secobarbital sodium, tên thương hiệu là Seconal, là một loại thuốc an thần hay bị lạm dụng và gây nghiện. Tiếng lóng gọi là “quỷ đỏ” hoặc “đỏ” do thuốc chứa trong viên nhộng màu đỏ.
Eddie giật lùi, hai tay đưa lên che mặt. Cô ta tiến đến chỗ anh. Máu chảy xuống thành dòng trên cẳng chân cô ta rồi khô lại. Cô mang đôi giày lười trên chân.
Và rồi, đằng sau cô ta, anh trông thấy nỗi kinh hoàng chấn động nhất: Patrick Hockstetter lê bước về phía anh ở sân ngoài. Hắn ta cũng đang mặc đồng phục của đội New York Yankees.
Eddie vùng chạy. Greta chộp lấy anh, xé rách áo và bắn thứ dịch nhầy nhụa lên phía sau cổ áo anh. Tony Tracker đang ngọ nguậy phần thân dưới ra khỏi cái lỗ chuột chũi hắn vừa đào. Patrick Hockstetter loạng choạng, nghiêng ngả. Eddie cắm đầu chạy, chẳng biết mình lấy đâu ra hơi thở mà chạy nhưng bằng cách nào đó, anh vẫn khua chân. Vừa chạy, anh vừa trông thấy dòng chữ bay trước mặt, dòng chữ ban nãy được in trên quả bóng xanh mà Greta Bowie cầm trên tay:
THUỐC HEN SUYỄN GÂY UNG THƯ PHỔI!
LỜI TÁN DƯƠNG CỦA NHÀ THUỐC ĐƯỜNG TRUNG TÂM
Eddie cứ thế cắm đầu cắm cổ chạy. Anh chạy mãi chạy mãi cho đến khi ngã khuỵu gối bất tỉnh ở gần công viên McCarron để rồi một đám trẻ trông thấy anh nhưng vội né xa vì nhìn anh như kẻ say túy lúy mắc bệnh gì đó hoặc không chừng anh lại là kẻ sát nhân và chúng bàn đến chuyện báo cảnh sát song lại thôi.
3
BEV ROGAN GỌI CỬA
Beverly rảo bước xuôi theo đường Chính như người mộng du sau khi rời khỏi Nhà nghỉ Thị trấn Derry, cô vừa về để thay quần jean xanh và áo cánh xếp nhún màu vàng tươi. Cô không nghĩ về việc mình sẽ đi đâu, thay vào đó cô nghĩ:
Tóc nàng như ngọn lửa mùa đông
Than hồng đỏ rực tháng Giêng
Tim tôi bừng nơi đó.
Hồi còn bé, cô đã giấu tấm bưu thiếp đó trong ngăn kéo dưới cùng, bên dưới lớp quần con. Có thể mẹ đã trông thấy, nhưng không sao. Quan trọng là ngăn kéo ấy không bao giờ bị bố cô lục lọi. Nếu trông thấy, thể nào lão ta cũng chĩa vào cô ánh mắt sáng quắc, gần như thân thiện nhưng thừa sức khiến cô cứng đờ, và hỏi bằng cái giọng gần như thân thiện: “Con lại làm chuyện không nên làm rồi hả, Bev? Con qua lại với một thằng nhóc nào đó sao?” Và dù cô nói có hay không thì một cú tát giáng trời sẽ vụt xuống, nhanh và mạnh đến độ ban đầu nó chẳng đau tí nào - phải mấy giây sau chân không mới tản đi, cơn đau mới trám vào chỗ chân không hiện diện ban nãy. Rồi giọng lão ta lại vang lên, gần như thân thiện: “Bố lo cho con lắm, Beverly. Bố lo đến mất ăn mất ngủ. Con phải lớn lên đi chứ?”
Có khi bố cô vẫn còn sống ở Derry. Lần cuối cô nghe tin lão thì tình hình là thế, nhưng chuyện đó là từ… bao giờ ấy nhỉ? Mười năm trước ư? Nói chung là trước khi cô cưới Tom một khoảng thời gian dài. Cô từng nhận được một tấm bưu thiếp của lão, không phải tấm bưu thiếp giản dị như tấm ghi bài thơ mà là tấm chụp bức tượng Paul Bunyan bằng nhựa xấu ma chê quỷ hờn trước trung tâm thị trấn. Bức tượng được xây dựng đâu đó trong thập niên 50, từng là một trong những địa điểm gợi nhớ tuổi thơ cô, nhưng tấm bưu thiếp bố gửi không khởi lên trong lòng cô bất cứ hoài niệm hay ký ức nào; trong mắt cô, nó cũng chẳng khác gì tấm bưu thiếp chụp Gateway Arch ở Saint Louis hoặc cầu Cổng Vàng ở San Francisco.
“Mong con sống vui và khỏe mạnh,” tấm thiệp ghi. “Mong con gửi cho bố một ít nếu có thể, vì bố chẳng còn là bao. Thương con, Bevvie. Bố.”
Đúng là ngày trước ông từng thương cô, và bằng cách này hay cách khác, cô đoán nó là nguyên nhân chính của việc cô trao trọn tình cảm của mình cho Bill Denbrough vào mùa hạ dài đằng đẵng năm 1958 – vì trong số các cậu trai, Bill là người duy nhất tỏa ra cảm giác uy quyền khiến cô nghĩ đến bố mình… nhưng uy quyền của cậu lại là một dạng rất khác – thứ uy quyền ấy biết lắng nghe. Từ ánh mắt cũng như hành động của cậu, cô biết cậu không cho rằng lý do duy nhất quyền uy tồn tại là vì lo lắng như bố cô… như thể người ta là thú cưng, vừa phải được nuông chiều vừa phải rèn vào khuôn phép.
Bất kể lý do là gì, đến cuối buổi họp đầu tiên mà cả nhóm tề tựu đông đủ vào tháng Bảy năm ấy, buổi họp mà Bill lèo lái hoàn toàn và điêu luyện, cô đã si mê cậu như điếu đổ. Bảo tình cảm ấy chỉ là chút cảm nắng của cô nữ sinh chẳng khác nào nói xe Rolls-Royce chỉ là một chiếc xe bốn bánh, chẳng khác gì xe chở rơm. Cô không khúc khích cười như điên và đỏ bừng mặt khi nhìn thấy cậu, cũng không lấy phấn nguệch ngoạc tên cậu lên cây hoặc viết lên tường cây cầu Hôn Nhau. Đơn giản là từng phút từng giây cô sống luôn ấp ủ bóng hình cậu trong tim, nỗi đau ấy tuy nhức nhối nhưng ngọt ngào. Cô sẵn sàng bỏ mạng vì cậu.
Vậy nên, cũng là lẽ dĩ nhiên khi cô ước ao Bill là người gửi bài thơ tình… dù cô không mù quáng đến độ tự huyễn hoặc bản thân như thế. Không hề, cô biết ai là người viết nó. Về sau – một thời điểm nào đó – chẳng phải tác giả đã thú nhận đấy sao? Phải, Ben đã nói với cô (dù hiện giờ, dẫu có vắt óc cô cũng chẳng nhớ nổi cậu đã nói thành lời khi nào hay trong trường hợp nào), và dù tình cảm cậu dành cho cô cũng được giữ kín như bưng, ngang ngửa mối tình cô dành cho Bill
(nhưng mày đã tỏ tình với cậu ấy Bevvie đúng vậy mày đã bảo mày yêu)
ai tinh ý một chút (và tốt bụng) đều sẽ phát hiện ra – nó thể hiện trong cách cậu luôn cẩn thận giữ khoảng cách giữa hai đứa, trong cách cậu nín thở lúc cô chạm vào tay cậu, trong cách cậu chỉnh trang quần áo khi cậu biết sẽ gặp cô. Cậu Ben mập mạp chân chất, đáng yêu.
Mối quan hệ tay ba đầy trăn trở của tuổi mới lớn ấy rồi cũng kết thúc, nhưng nó kết thúc như thế nào thì cô chịu, mãi mà chẳng nhớ ra. Cô tưởng Ben đã thú nhận với cô rằng cậu chính là tác giả của bức thư tình. Cô tưởng cô đã nói với Bill rằng cô yêu cậu, rằng cô sẽ yêu cậu trọn đời. Và bằng cách nào đó, hai lời thú nhận ấy đã góp phần cứu mạng tất cả bọn họ… có đúng không nhỉ? Cô không tài nào nhớ được. Những ký ức ấy (hoặc ký ức của ký ức: nói như thế gần với bản chất của chúng hơn) tựa hồ những hòn đảo hóa ra không phải đảo mà chỉ là những chòm san hô vô tình ló lên khỏi mặt nước, không riêng rẽ mà là một rặng duy nhất. Nhưng khi cô tìm cách lặn xuống để nhìn thấy phần còn lại, một hình ảnh điên người lại thọc gậy bánh xe: đàn chim sáo đá cứ mỗi độ xuân đến lại quay về New England, chen chúc đậu trên đường dây điện thoại, cây cối, nóc nhà, xô đẩy nhau giành chỗ và khỏa lấp không gian tuyết tan cuối tháng Ba bằng tiếng hót khàn đục. Hình ảnh ấy cứ hiện lên hết lần này đến lần khác, lạ lẫm, xáo động, như chùm tia ra-đi-ô có năng lượng lớn chắn mất tín hiệu ta muốn bắt được.
Chợt cô bàng hoàng nhận ra mình đang đứng bên ngoài tiệm giặt ủi Kleen-Kloze, nơi cô, Stan Uris, Ben và Eddie mang giẻ đến giặt vào ngày cuối cùng của tháng Sáu – những miếng giẻ dính đầy máu mà chỉ bọn họ mới thấy. Cửa sổ mờ đục do bôi xà phòng, trên cửa dán tấm biển viết tay BÁN NHÀ CHÍNH CHỦ. Nhìn qua lớp bọt xà phòng, cô trông thấy gian phòng trống không với những khoang chữ nhật nhạt màu trên nền tường vàng vọt dơ dáy nơi ngày trước từng để máy giặt.
Mình đang trên đường về nhà, cô u sầu nghĩ nhưng chân vẫn không dừng bước.
Khu dân cư chẳng thay da đổi thịt là bao. Nhiều cây đã mất đi, có thể đó là những cây du bị đốn do bệnh tật. Nhà cửa nhìn xập xệ hơn; cửa sổ vỡ kính có vẻ phổ biến hơn so với lúc cô còn bé. Vài khung cửa vỡ được che chắn bằng thùng giấy, còn nhiều chỗ cứ để tênh hênh.
Và rồi cô đứng trước căn chung cư số 127 đường Chính Phố Dưới. Nó vẫn còn đây. Phơi gió sương qua bao năm tháng, lớp tường màu trắng bong tróc trong ký ức của cô đã biến thành lớp tường màu nâu bong tróc, nhưng không nhầm lẫn đi đâu được. Đằng kia là cửa sổ soi vào nhà bếp của họ, đằng đó là cửa sổ phòng ngủ của cô.
(Jim Dogon, bước ra khỏi đường ngay cho mẹ! Bước lên đây ngay, con muốn xe tông chết hay sao?)
Cô rùng mình, bắt chéo tay ngang ngực, lòng bàn tay ôm lấy khuỷu tay.
Có khi bố cô vẫn sống ở đây; ồ, có thể lắm. Trừ khi bắt buộc, không thì ông ấy sẽ chẳng chuyển đi đâu. Bước lên đây xem, Beverly. Nhìn vào hộp thư là biết mà. Ba hộp thư cho ba nhà, như ngày xưa thôi. Và nếu có hộp thư đề tên MARSH, mày cứ bấm chuông, và chốc sau sẽ có tiếng dép loẹt quẹt bước xuống hành lang, cánh cửa sẽ mở ra, rồi mà sẽ thấy ông ta, người đã phóng ra tinh trùng khiến tóc mày màu đỏ, khiến mày thuận tay trái và cho màu khiếu vẽ vời… mày có nhớ ngày xưa bố mày cũng hay vẽ không? Ông ấy thừa sức vẽ bất cứ thứ gì mình muốn. Tất nhiên phải khi nào có hứng ông ta mới vẽ. Mà thường thì ông chẳng có hứng. Chắc ông có quá nhiều thứ phải lo. Nhưng khi nào ông nổi hứng, mày sẽ có thể ngồi hàng giờ ngắm ông vẽ chó, mèo, ngựa, bò với tiếng ỤM BÒ trong bong bóng phát ra từ miệng chúng. Mày cười vang, bố cũng cười vang, và rồi ông bảo Đến lượt con đấy, Bevvie, và khi mày nhấc bút, ông ấy sẽ cầm tay chỉ cho mày, rồi mày sẽ thấy con bò, con mèo, hay một người dân thành hình dưới những ngón tay của mày, mũi mày hít hà mùi nước cân bằng da Mennen, tay mày cảm nhận làn da ấm áp của ông. Bước lên đi, Beverly. Bấm chuông đi. Bố sẽ bước ra, bộ dạng già nua, những nếp nhăn in hằn trên mặt, hàm răng rụng gần hết, chỉ còn dăm ba cái răng vàng khè, ông sẽ nhìn mày rồi nói Ôi chao, Bevvie đây mà, Bevvie đã về thăm ông bố già, nào Bevvie, vào nhà đi con, gặp con bố vui quá, bố vui vì bố lo cho con nhiều lắm, Bevvie, bố lo LẮM.
Cô chậm rãi bước lên lối đi, cỏ dại mọc giữa những khe nứt trên mặt bê tông loẹt quẹt vào gấu quần jean của cô. Cô quan sát cửa sổ tầng một nhưng rèm buông kín mít. Cô đưa mắt nhìn hộp thư. Tầng ba, STARK-WEATHER. Tầng hai, BURKE. Tầng một – cô nín thở – MARSH.
Nhưng mình sẽ không bấm chuông. Mình không muốn gặp ông ấy. Mình sẽ không bấm chuông.
Cô kiên quyết trong lòng như thế! Quyết định ấy sẽ là cánh cổng mở ra một cuộc đời đầy những quyết định chắc chắn và hữu dụng! Cô quay ngược xuống lối đi! Trở về trung tâm thị trấn! Quay lại Nhà nghỉ Thị trấn Derry! Đóng đồ! Gọi tắc-xi! Lên máy bay! Bảo Tom cuốn xéo! Sống thật thành công! Ra đi thật hạnh phúc!
Song cô bấm chuông.
Cô nghe thấy tiếng chuông thân thuộc vang lên trong phòng khách – lúc nào cô cũng thấy tiếng chuông nghe như tên người Trung Quốc: Chinh Chong! Im lặng. Không ai đáp lại. Cô nhấp nhổm hai chân trên bậc thềm, chợt cảm thấy buồn đi vệ sinh.
Không có ai ở nhà, cô nghĩ, nhẹ nhõm như trút được tảng đá khỏi mình. Mình có thể đi rồi.
Nhưng rồi cô lại bấm chuông: Chinh Chong! Vẫn không có ai hồi đáp. Cô nghĩ về bài thơ ngắn đáng yêu của Ben, cố nhớ lại chính xác cậu thú nhận với cô rằng cậu là tác giả vào lúc nào, ra sao, và trong một khoảnh khắc thoáng qua, chẳng rõ vì lý do gì mà nó lại gợi lên trong cô mối dây liên kết với lần kinh nguyệt đầu tiên của cô. Cô bắt đầu có kinh từ năm mười một tuổi ư? Không thể nào, dù ngực cô bắt đầu nhoi nhói nhú lên từ giữa mùa đông. Vậy thì vì lẽ gì…? Đoạn tâm trí cô bị chen ngang bởi hình ảnh hàng ngàn con chim sáo đá đậu trên đường dây điện thoại và mái nhà, ríu rít dưới bầu trời xuân trắng trong.
Về thôi. Mình đã bấm chuông hai lần, thế là đủ rồi.
Nhưng cô lại bấm chuông lần nữa.
Chinh Chong!
Và giờ thì cô nghe thấy có ai đó bước lại, thứ tiếng động đúng như cô vừa tưởng tượng: tiếng dép mòn vẹt loẹt quẹt đầy mệt mỏi. Cô vội vàng nhìn quanh, suýt chút nữa, chỉ còn một chút nữa thôi, cô đã co giò chạy. Liệu cô có thể kịp lao xuống lối đi bằng xi măng, vòng qua khúc quanh, để bố cô tưởng chỉ là đám trẻ ranh bấm chuông phá phách không? Bác ơi, bác có Hoàng tử Albert trong hộp không…?
Cô chợt thở hắt ra thật mạnh và phải gồng họng lên, vì thứ muốn vang lên từ miệng cô là tiếng cười nhẹ nhõm. Người bước ra không phải là bố cô. Đứng trong hành lang và ngó ra nhìn cô là một bà cụ dong dỏng cao ở độ tuổi thất thập. Bà có mái tóc dài rất đẹp, bạc trắng, điểm xuyết vài lọn tóc vàng óng. Đằng sau cặp kính không gọng của bà là đôi mắt xanh biếc như nước trong vịnh hẹp mà có thể tổ tiên bà ngày xưa từng đi lấy nước. Bà bận chiếc váy màu tím làm bằng lụa vân. Bộ váy đã cũ nhưng tươm tất. Khuôn mặt nhăn nheo của bà rất hiền từ.
“Có chuyện gì thế cô gái?”
“Cháu xin lỗi,” Beverly nói. Cơn cười đã biến mất nhanh như khi nó gợn lên. Cô để ý bà cụ đeo một món đồ trang sức chạm khắc quanh cổ. Món trang sức làm bằng ngà voi thật mạ lớp vàng mảnh đến độ gần như vô hình. “Chắc cháu bấm chuông nhầm nhà.” Hoặc cố tình bấm nhầm chuông, tâm trí cô thì thầm. “Cháu định bấm chuông nhà ông Marsh.”
“Marsh à?” Trán bà cụ khẽ nhăn lại.
“Vâng, bà thấy đấy…”
“Ở đây không có ai tên là Marsh cả,” bà cụ nói. “Nhưng…”
“Trừ khi… cháu đang tìm ông Alvin Marsh à?”
“Vâng!” Beverly reo lên. “Ông ấy là bố cháu!”
Bà cụ đưa tay chạm vào món đồ trang sức trên cổ mình. Bà quan sát Beverly kỹ hơn, khiến cô cảm thấy mình như trẻ lại, như thể trong tay cô lý ra phải mang theo hộp bánh quy của Đội Hướng đạo nữ hoặc những tấm thẻ in hình ủng hộ đội Những Chú hổ Trung học Derry. Đoạn bà cụ mỉm cười… nụ cười hiền từ nhưng thật sầu thương.
“Cháu bôn ba ở đâu mà lại mất liên lạc thế, cháu gái. Ta không muốn một người lạ như ta lại là người báo tin cho cháu, nhưng bố cháu đã qua đời năm năm rồi.”
“Nhưng… trên chuông cửa…” cô nhìn lại và khẽ ú ớ đầy ngạc nhiên, chẳng giống tiếng cười chút nào. Trong cơn bối rối, tâm trí cô cứ chắc nịch như đinh đóng cột rằng ông bố già của cô vẫn còn ở đây, cô đã đọc nhầm KERSH thành MARSH.
“Bà là bà Kersh ạ?” Cô hỏi. Cô kinh ngạc trước tin bố mất, nhưng cô cũng thấy mình thật ngu ngốc khi nhầm lẫn thế này – bà cụ đây hẳn sẽ nghĩ cô là hạng đầu óc bã đậu.
“Ừ, ta là bà Kersh,” bà đáp.
“Bà… Bà có biết bố cháu không ạ?”
“Ta biết ít lắm,” bà Kersh kể. Giọng bà nghe hao hao giọng Yoda trong Đế chế Phản công , khiến Beverly lại cảm thấy buồn cười. Từ khi nào mà cảm xúc của cô lại lên xuống thất thường thế này? Sự thật là cô chẳng nhớ gì về năm xưa… nhưng cô buồn rầu bởi chẳng chóng thì chầy, cô sẽ nhớ ra tất cả. “Ông ấy thuê chung cư dưới tầng trệt trước ta. Hai ta có gặp nhau sơ sơ trong vài ngày, ta đến, ông ấy rời đi. Ông ấy chuyển xuống ngõ Roward. Cháu có biết chỗ đó không?”
“Dạ có,” Beverly đáp. Ngõ Roward tách ra từ đường Chính Phố Dưới cách đây bốn dãy nhà, chung cư ở đó còn chật hẹp và tàn tệ hơn nơi đây.
“Thỉnh thoảng ta bắt gặp ông ấy ở chợ Đại lộ Costello,” bà Kersh kể, “ở cả tiệm giặt ủi, trước khi họ dẹp tiệm. Đôi lúc chúng ta chào nhau dăm ba câu. Chúng ta… cháu ơi, mặt cháu trắng bệch kìa. Ta xin lỗi. Cháu vào nhà đi, ta sẽ pha cho cháu chút trà.”
“Dạ thôi, không cần đâu ạ,” Beverly yếu ớt đáp lời, nhưng thật sự cô thấy mình bợt bạt, như thủy tinh mờ ta có thể nhìn xuyên thấu. Cô muốn uống chút trà, ngồi xuống ghế.
“Được mà, cháu cứ vào đây,” bà Kersh trìu mến. “Chí ít ta có thể làm thế sau khi báo hung tin như vậy cho cháu.”
Trước khi kịp từ chối thì Beverly đã được bà cụ dẫn lên hành lang tối tăm, bước vào căn chung cư năm nào, nhưng giờ cô thấy nó nhỏ hơn nhiều, nhưng được cái an toàn hơn – cô đoán nó an toàn là vì mọi thứ đều khác xưa. Bàn Formica màu hồng với ba cái ghế được thay thế bằng chiếc bàn tròn con con, không to hơn bàn đầu giường là bao với bình cắm hoa kết bằng lụa. Tủ lạnh Kelvinator cũ với cái trống tròn trên cùng (bố cô suốt ngày sửa tới sửa lui để nó duy trì hoạt động) được thay thế bởi tủ lạnh Frigidaire màu đồng. Lò nướng nhỏ nhưng nhìn rất tiện lợi. Bên trên là lò vi sóng hiệu Amana Radar Range. Rèm màu xanh dương sáng sủa buông trên cửa sổ, và cô có thể trông thấy chậu hoa đặt bên ngoài. Ngày cô còn bé, sàn nhà bọc vải sơn dầu thì bây giờ, sàn nguyên vẹn lớp gỗ. Do được lau chùi bằng dầu nên mặt sàn sáng loáng.
Bà Kersh nhìn quanh, bắt đầu từ cái lò, chỗ bà đang để ấm trà. “Cháu lớn lên ở đây sao?”
“Vâng ạ,” Beverly đáp. “Nhưng căn nhà bây giờ khác quá… vừa gọn gàng lại ngăn nắp… thật tuyệt vời!”
“Cháu tốt bụng quá,” bà Kersh nói, nụ cười khiến bà trẻ hơn. Nụ cười như tỏa nắng. “Cháu thấy đấy, ta cũng chẳng dư dả gì. Không nhiều, nhưng với khoản trợ cấp xã hội, ta cũng đủ sống. Ngày xưa, ta sinh ra ở Thụy Điển. Ta đến đất nước này vào năm 1920, một cô bé mười bốn tuổi không xu dính túi – nhưng đó là cách tốt nhất để học về giá trị đồng tiền, cháu có đồng ý không?”
“Vâng” Bev đáp.
“Ở bệnh viện nơi ta làm việc,” bà Kersh nói. “Rất nhiều năm – ta làm ở đó từ năm 1925. Ta lên đến chức tổng quản. Ta giữ mọi loại chìa khóa. Chồng ta đầu tư tiền khá tốt. Giờ ta cập vào bến cảng nhỏ này đây. Cháu cứ thoải mái tham quan trong lúc chờ nước sôi nhé!”
“Không, cháu không thể…”
“Có gì đâu… ta vẫn thấy ngại ngần. Cháu cứ xem đi, đừng ngại!”
Thế là cô đi thăm thú. Phòng ngủ của bố mẹ cô giờ là phòng ngủ của bà Kersh, và chúng khác nhau một trời một vực. Căn phòng hiện giờ sáng sủa hơn, thông thoáng hơn. Tủ tuyết tùng lớn khảm hai chữ viết tắt RG, phả hương thơm dịu nhẹ vào không gian. Một tấm chăn khổng lồ với nhiều bức hình xinh xắn được trải trên giường. Cô có thể thấy hình những phụ nữ lấy nước, các cậu bé lùa gia súc, đàn ông đóng rơm khô thành từng đống. Một chiếc chăn đẹp tuyệt vời.
Phòng ngủ của cô trước đây giờ trở thành phòng may. Máy may Singer màu đen đặt trên chiếc bàn sắt rèn dưới hai cây đèn Tensor sáng trưng. Trên hai bức tường treo hình chúa Giê-su và hình của John F. Kennedy. Một chiếc tủ xinh xắn đặt bên dưới bức hình của J.FK- tủ chứa đầy sách chứ không đựng đồ sành sứ, nhưng không vì thế mà bớt phần trang nhã.
Cuối cùng, cô bước vào nhà vệ sinh.
Phòng đã được sơn sửa lại màu hồng sắc trầm ưa mắt nên không hề lòe loẹt. Tất cả các vật dụng đều mới, nhưng khi cô tiến đến bồn rửa mặt, cơn ác mộng năm nào lại một lần nữa siết chặt lấy cô, cô sẽ nhìn xuống con mắt đen ngòm, không nắp đậy ấy, tiếng thì thầm sẽ vang lên, và rồi máu sẽ…
Cô chúi người trên bồn rửa mặt, thoáng trông thấy khuôn mặt bợt bạt và hai mắt thâm quầng của mình phản chiếu trong tấm gương treo trên bồn rửa, và rồi cô nhìn vào con mắt ấy, chờ đợi tiếng nói, tiếng cười, tiếng than rên vang lên, máu túa ra.
Cô chẳng rõ cô đã sững người đứng bao lâu ở bồn rửa mặt, chờ đợi cảnh tượng và âm thanh hai mươi bảy năm về trước tái hiện; phải đến khi giọng bà Kersh vang lên, cô mới chợt sực tỉnh: “Trà được rồi, cô gái!”
Cô giật mình, phá vỡ cơn mê rồi rời khỏi nhà vệ sinh. Nếu bên dưới lỗ thoát nước ấy là thuật ma quỷ, thì giờ đây nó đã biến mất… hoặc chí ít đang say ngủ.
“Ôi, bà không cần làm thế đâu ạ!”
Bà Kersh ngước lên nhìn cô, mắt sáng bừng, khẽ nhoẻn cười. “Ôi cô gái ơi, nếu cháu biết ta chẳng mấy khi có ai bầu bạn thì cháu sẽ không nói vậy đâu. Chừng này có là gì, có lần cậu nhân viên Bangor Hydro đến đọc đồng hồ, ta còn làm nhiều hơn nữa kia! Ta vỗ béo cho cậu ấy!”
Bộ chén đĩa tinh xảo được bày trên bàn tròn trắng phau với viền màu xanh lam. Có một đĩa đựng bánh nhỏ và bánh quy. Bên cạnh là ấm trà bằng thiếc phả hơi nước và mùi thơm dễ chịu. Ngạc nhiên, Bev nghĩ thứ duy nhất còn thiếu là những chiếc bánh bánh mì kẹp nhỏ xíu đã cắt bỏ phần rìa bánh: cô đặt cho chúng cái tên bánh-mì-kẹp-của-dì, một cụm từ như thế. Có ba loại bánh-mì-kẹp-của-dì – phô mai kem và ô liu, cải xoong, và salad trứng.
“Ngồi đi,” bà Kersh nói. “Ngồi đi, cô gái, để ta rót trà.”
“Cháu hết còn là con gái rồi ạ,” Beverly nói và giơ tay trái lên để lộ chiếc nhẫn trên ngón áp út.
Bà Kersh mỉm cười, phẩy tay trong không trung đánh phừ! . “Ta gọi mọi cô gái trẻ xinh xắn như vậy,” bà nói. “Thói quen ấy mà. Cháu đừng thấy khó chịu nhé.”
“Không ạ,” Beverly nói. “Không hề.” Nhưng vì lý do nào đó, lòng cô manh nha cảm giác khó chịu nhẹ như tơ: nụ cười của cụ bà này có gì đó… sao nhỉ? Kỳ dị? Giả tạo? Đi guốc trong bụng mình? Nhưng điều đó chẳng phải thật nực cười sao?
“Cháu rất thích cách bà trang trí căn nhà.”
“Thế à?” Bà Kersh nói và rót trà. Nước trà đen đúa, đục ngầu. Beverly lừng khừng không muốn uống… và bỗng dưng cô còn không chắc mình muốn có mặt ở nơi này.
Rõ ràng tấm biển bên dưới chuông cửa để tên Marsh mà, tâm trí cô đột nhiên thì thầm khiến cô phát hoảng.
Bà Kersh đưa cô tách trà.
“Cảm ơn bà,” Beverly đáp. Nước trà có vẻ đục nhưng mùi thơm thì vẫn ngọt ngào. Cô nếm thử. Trà khá ngon. Đừng thần hồn nát thần tính nữa, cô tự nhủ. “Đặc biệt là tủ tuyết tùng, trông rất nhã nhặn ạ.”
“Đồ cổ đấy cháu ạ!” Bà Kersh nói và ré lên cười. Beverly để ý vẻ đẹp của bà cụ chỉ có một khiếm khuyết, nhưng điều đó cũng rất phổ biến ở vùng phương Bắc này. Răng bà lởm chởm – trông chắc chắn nhưng rất xấu xí.
Hàm răng vàng khè, hai chiếc răng cửa xô lệch vào nhau. Răng khểnh rất dài, trông chẳng khác nào răng nanh.
Ban nãy chúng màu trắng… khi bà ấy tiến ra cửa và mỉm cười, mày đã tự nhủ rằng bà sao trắng sáng thế kia mà.
Chợt cô không chỉ hơi sợ nữa. Chợt cô muốn - hay nói đúng hơn, cô cần phải thoát khỏi nơi đây.
“Cổ lắm rồi kìa!” Bà Kersh cảm thán, uống cạn ly trà trong một ngụm duy nhất, phát ra tiếng ực đầy choáng ngợp và bất ngờ. Bà mỉm cười với Beverly – hay nói đúng hơn là toét miệng cười – và Beverly phát hiện mắt bà cũng đã biến dạng. Giác mạc giờ vàng khè, cổ xưa, lấm tấm những tia đỏ. Mái tóc bà thưa hơn, xơ xác, không còn màu bạc với những lọn vàng tươi mà chỉ còn là một màu xám xịt.
“Cổ lắm rồi,” bà Kersh trầm ngâm ngắm nhìn chiếc tách rỗng của mình, ngước nhìn Beverly với đôi mắt vàng khè ma mãnh. Hàm răng lởm chởm lộ ra dưới nụ cười đáng sợ, gần như lăm le. “Ta mang nó từ nhà đến đây. Cháu có để ý hai chữ RG được khảm vào không?”
“Vâng.” Giọng cô nghe thật xa xăm, và một phần tâm trí cô lải nhải: Nếu bà ta không biết mày vừa nhìn thấy sự thay đổi, có khi mày sẽ không sao đâu, nếu bà ta không biết, không thấy…
“Bố của ta,” bà lên tiếng, phát âm nghe có phần méo mó, và Beverly phát hiện váy của bà cũng đã thay đổi. Nó ngả màu đen thui, sần sùi, bong tróc. Món đồ trang sức là một cái sọ, hàm há hốc đầy bệnh hoạn. “Tên ông ấy là Robert Gray, người ta hay gọi là Bob Gray, hoặc Pennywise Chú hề Nhảy múa. Mặc dù đó cũng chẳng phải tên của ông. Nhưng bố ta ấy mà, ông thích chọc cười lắm.”
Bà cụ lại phá lên cười. Vài cái răng đã biến thành màu đen đúa như bộ váy. Nếp nhăn trên da bà ta hằn sâu hơn. Làn da màu hồng sữa của bà giờ hóa vàng vọt. Những ngón tay của bà ta là móng vuốt. Bà nhe răng cười với Beverly. “Ăn gì đi cháu.” Giọng bà nâng lên nửa quãng tám, nhưng quãng tám này lại the thé vang lên trong quãng âm, và giọng bà ta chẳng khác nào âm thanh của cánh cửa hầm mộ đu đưa qua lại trên bản lề kẹt đầy đất đen đúa.
“Thôi ạ, cảm ơn bà,” Beverly nghe thấy miệng mình đang cất giọng cao vút như con nít lúc viện cớ ôi-cháu-phải-đi-đây. Dường như từ ngữ không xuất phát từ não của cô mà đi ra từ miệng cô rồi trở ngược vào tai, lúc ấy cô mới ý thức được mình vừa nói gì.
“Không ư?” Mụ phù thủy nói và nhe răng cười. Móng vuốt của mụ quơ quàng trên đĩa, mụ lấy cả hai tay vơ lấy vơ để những chiếc bánh mật đường mỏng và những miếng bánh phủ kem cầu kỳ. Hàm răng khủng khiếp của mụ cạp lấy cạp để móng tay của mụ vừa dài vừa bẩn thỉu bấu vào bánh; vụn bánh vương vãi rơi xuống cái cằm xương xẩu. Hơi thở của mụ nồng nặc như mùi xác chết lâu ngày, vỡ toác do ủ khí thối rữa. Nụ cười của mụ nghe rất rẻ trong tai. Tóc mụ mỏng tang. Da đầu bong tróc thành từng mảng.
“Ôi, bố của ta rất thích kể chuyện cười, bố ta ấy mà! Nếu cháu thích thì để ta kể cho nghe chuyện cười ấy: bố ta đẻ ra ta chứ không phải mẹ ta! Ông ấy tọt ta ra từ lỗ đít! He! He! He!”
“Cháu phải đi đây,” Beverly nghe thấy mình cất tiếng, giọng cao vút, đầy tổn thương - giọng của một cô bé vừa bị người khác làm cho bẽ mặt ở bữa tiệc đầu tiên tham dự. Nhưng chân cô bủn rủn không chút sức lực. Cô mơ hồ nhận ra thứ trong tách của cô không phải trà mà là phân, phân lỏng, món quà bất ngờ từ rãnh thoát nước dưới lòng thị trấn. Cô đã uống một chút, không nhiều, chỉ một ngụm mà thôi, ôi Chúa ơi, ôi Chúa ơi, ôi lạy Chúa tôi, làm ơn, làm ơn…
Bà cụ dần rúm ró nhỏ lại trước mắt cô, héo hon; giờ bà ta là một bà già với khuôn mặt quắt lại như quả táo khô cong, ngồi đối diện cô, khúc khích ré lên cười với giọng the thé, lắc lư từ trước ra sau.
“Ồ, bố ta và ta là một đấy,” mụ ta lên tiếng, “tuy hai mà một, và cháu ơi, nếu cháu khôn ngoan thì liệu thần hồn mà chạy đi, chạy về nơi cháu đến, chạy cho nhanh vào, vì nếu ở lại thì chỉ có nước chết thôi. Mà ở Derry, chết không có nghĩa nhắm mắt xuôi tay đâu. Ngày xưa, cháu biết rõ điều này; giờ thì tin đi.”
Một cách chậm chạp, Beverly dồn sức vào hai chân mình. Tựa hồ cô đang nhìn từ bên ngoài và trông thấy bản thân mình đứng dậy, lùi khỏi bàn, lùi khỏi mụ phù thủy, đau đớn vì sợ hãi và bàng hoàng, bàng hoàng vì đến lúc này cô mới nhận ra chiếc bàn ăn nhỏ bé gọn gàng kia không phải bằng gỗ sồi đen mà là kẹo mềm. Trước ánh nhìn của cô, mụ phù thủy cười hắc hắc, ranh ma liếc đôi mắt vàng vọt vào góc phòng, bẻ một góc bàn rồi vội nhét vào cái bẫy đen đúa mà chẳng là gì khác ngoài miệng của mụ.
Cô trông thấy tách trà là vỏ cây màu trắng được tô một lớp kem màu xanh. Bức hình chúa Giê-su và John Kennedy được làm bằng kẹo bông gòn gần như trong suốt, và khi cô nhìn bức hình, cô thấy chúa Giê-su thè lưỡi ra, còn Kennedy nháy mắt đến rợn người.
“Bọn ta đang chờ ngươi đây!” Mụ phù thủy thét lên, móng tay cào lên bề mặt chiếc bàn bằng kem, để lại những vết hằn sâu hoắm trên mặt bàn bóng loáng. “Ồ phải! Ồ phải!”
Ngọn đèn phía trên là những quả cầu làm bằng kẹo cứng. Ván ốp tường làm bằng kẹo bơ caramel. Nhìn xuống đất, cô phát hiện giày của mình để lại vết trên mặt sàn, bởi mặt sàn không lát ván mà là những miếng sô-cô-la. Mùi kẹo ngọt đến ngây người.
Ôi Chúa ơi, là Hansel và Gretel, mụ phù thủy mà mình sợ nhất vì mụ ta ăn thịt con nít…
“Mày và bạn của mày!” Mụ phù thủy hét lên và cười the thé. “Mày và bạn của mày! Ta nhốt trong cũi! Nhốt trong cũi cho đến khi lò nóng lên!” Mụ ta ré lên cười, bay vòng vòng trên đầu mụ là một đàn dơi. Beverly thét lên. Hành lang sực nức mùi đường, mùi kẹo, mùi kẹo bơ cứng, mùi dâu bằng đường hóa học ngọt ngấy. Tay nắm cửa ban nãy giả pha lê thì giờ đây lại là một viên kim cương khổng lồ làm bằng đường.
“Bố lo cho con quá, Bevvie… Bố lo LẮM!”
Cô quay lại, những lọn tóc đỏ lòa xòa trên khuôn mặt, trông thấy bố loạng choạng bước dọc hành lang về phía cô, trên người là bộ váy đen đúa của mụ phù thủy và đầu lâu đen quanh cổ; mặt ông vữa nát, thịt chảy xệ, hai mắt ông đen thẳm như đá, tay hết nắm vào lại buông ra, miệng nở nụ cười đầy quyến luyến.
Cô thét lên, nắm lấy tay nắm cửa dinh dính rồi lao ra hiên nhà trang trí bằng kẹo hạt dẻ và lót một lớp kem. Xa xa, mờ mờ ảo ảo trong tầm mắt cô là bóng những chiếc xe ngang dọc qua lại, một người phụ nữ đang đẩy xe chở đầy nhu yếu phẩm từ chợ Đại lộ Costello.
Mình phải ra khỏi đây, cô nghĩ, đầu óc mụ đi. Ngoài kia là thực tế, mình chỉ cần ra đến vỉa hè…
“Có chạy cũng vô ích thôi, Bevvie,” bố cô
(bố của ta)
nói và cười ha hả. “Bọn ta đã đợi thời khắc này bao lâu rồi. Sẽ vui lắm đây. Sẽ NGON QUÁ XÁ trong BỤNG tao cho xem.”
Nhìn lại lần nữa, cô trông thấy người bố đã chết của mình không còn mặc chiếc váy đen đúa của mụ phù thủy nữa mà là trang phục gã hề với hàng nút màu cam rất to. Trên đầu nó đội mũ gấu mèo phong cách năm 1958, kiểu mũ nổi tiếng nhờ diễn viên Fess Parker trong bộ phim Disney về Davy Crockett. Một tay nó cầm chùm bóng bay. Tay kia cầm cẳng một đứa trẻ như cái đùi gà. Trên mỗi quả bóng là dòng chữ NÓ ĐẾN TỪ NGOÀI KHÔNG GIAN.
“Nói với đám bạn của ngươi rằng ta là kẻ cuối cùng của giống loài diệt vong,” nó nói, vừa nở nụ cười khả ố vừa loạng choạng bước xuống bậc thềm đằng sau cô. “Kẻ duy nhất sống sót của một hành tinh chết. Ta đến để cướp hết đám đàn bà… hiếp hết đám đàn ông… và học điệu nhảy Peppermint Twist!”
Nó bắt đầu điên cuồng nhảy múa, một tay cầm bóng bay, tay kia cầm cẳng chân máu me đầm đìa. Trang phục hề của nó uốn éo, lật phật nhưng Beverly cảm thấy chẳng có chút gió nào. Hai chân cô quýnh quáng vào nhau, cô nhào ra vỉa hè, duỗi tay để đỡ lấy chấn động, khiến cả hai vai cô rung lên. Người phụ nữ đẩy xe dừng lại, e ngại nhìn cô rồi vội vã bước tiếp.
Gã hề tiếp tục tiến về phía cô, lê cái chân gãy theo cùng. Nó đáp lên bãi cỏ với một tiếng thịch không ngôn từ nào diễn tả nổi. Beverly chỉ nằm sõng soài trên vỉa hè trong thoáng chốc, đâu đó trong thâm tâm, cô tự nhủ mình phải tỉnh dậy, đây không thể nào là thật, đây chỉ là cơn mơ…
Cô nhận ra suy nghĩ ấy sai bét trước lúc những ngón tay cong quèo, nanh vuốt của gã hề chạm vào cô. Nó là thật, nó có thể giết cô. Như cách nó đã giết những đứa trẻ.
“Đàn sáo đá biết tên thật của ngươi!” Bất thình lình, cô thét lên với nó. Nó rụt lại, và trong một khắc, dường như nụ cười trên đôi môi sơn nhoe nhoét lấn ra cả mặt, đỏ lòe loẹt, biến thành cái nhăn mặt vì căm ghét và đau đớn… thậm chí cả sợ hãi. Có khi đó chỉ là tưởng tượng của cô, và cô cũng không biết tại sao mình lại thốt lên câu nói quái dị kia, nhưng chí ít, điều này câu cho cô thêm chút thời gian.
Cô bật dậy, co giò chạy. Chợt tiếng phanh xe kin kít vang lên, và một giọng nói khàn đục, vừa tức giận vừa giật mình, la lên: “Đi mà không biết nhìn đường à, đồ ngu!” cô lờ mờ nhận ra suýt chút nữa chiếc xe bán bánh ngọt đã tông vào người cô lúc cô lao ra đường như đứa trẻ đuổi theo quả bóng cao su, và rồi cô đứng trên vỉa hè bên kia đường, thở hồng hộc, bên trái người cô nhói lên. Chiếc xe bán bánh tiếp tục chạy xuống đường Chính Phố Dưới.
Gã hề đã biến mất. Cái chân cũng đã biến mất. Căn nhà vẫn còn đó, nhưng giờ cô trông thấy nó xập xệ, hoang tàn, cửa sổ chắn bằng ván, những bậc thang dẫn lên hiên nứt vỡ.
Mình thật sự bước vào đấy, hay chỉ là mình nằm mơ thôi?
Nhưng quần jean của cô bẩn thỉu, còn chiếc áo cánh màu vàng dính đầy bụi.
Và trên ngón tay cô dính sô-cô-la.
Cô chùi tay vào ống quần rồi bước đi thật nhanh, mặt nóng bừng, lưng lạnh như băng, mắt giật lấy giật để theo nhịp trống ngực.
Chúng ta không thể đánh bại Nó đâu. Dù Nó có là gì đi nữa, ta cũng không thể đánh bại Nó. Thậm chí Nó còn muốn chúng ta thử – đơn giản là gì Nó muốn tính sổ chuyện cũ. Có lẽ Nó không chấp nhận chuyện hòa. Bọn mình phải ra khỏi đây… phải rời đi thôi.
Có thứ gì đó cọ vào chân cô, nhẹ bẫng như con mèo làm nũng.
Cô giật mình, khẽ hét lên và lùi lại. Nhìn xuống, cô rùng mình, một tay đưa lên che miệng.
Trước mắt cô là quả bóng bay, màu vàng y như chiếc áo cô đang mặc. Trên bề mặt quả bóng là một dòng chữ được viết bằng mực xanh đến chói mắt CHUẨN RỒI, THỎ CON ƠI.
Và rồi cô đưa mắt nhìn theo quả bóng khẽ nảy trên mặt đường dưới cơn gió dìu dịu cuối xuân.
4
RICHIE TOZIER CHẠY ĐI
Chà, cái ngày Henry và bè lũ cậu ta đuổi theo mình – trước khi kết thúc năm học, đó là…
Richie rảo bước dọc theo đường Kênh Đào Phố Ngoài, ngang qua công viên Bassey. Chợt anh dừng chân, hai tay đút túi quần, mắt hướng về cầu Hôn Nhau nhưng chỉ nhìn bâng quơ.
Mình thoát khỏi bọn chúng trong khu đồ chơi của Freese’s…
Sau khi bữa trưa hội ngộ kết thúc đầy điên rồ, anh cứ thế bước đi trong vô định, cố gắng chấp nhận những thứ khủng khiếp bên trong bánh may mắn… hay có thể nói, những thứ dường như ở bên trong bánh. Anh nghĩ khả năng cao nhất là thật ra chẳng có gì bò ra khỏi mấy cái bánh hết. Cả bọn gặp ảo giác bởi trước đó họ thảo luận về những chủ đề rùng rợn mà thôi. Bằng chứng rõ ràng nhất cho giả thuyết này nằm ở chỗ Rose không thấy bất cứ thứ gì. Tất nhiên, bố mẹ Beverly cũng không thấy máu me bắn ra từ lỗ thoát nước trong nhà vệ sinh nhưng hai chuyện này không giống nhau.
Không ư? Tại sao?
“Vì bây giờ bọn mình là người lớn cả rồi,” anh lẩm bẩm, và chợt nhận ra suy nghĩ ấy hoàn toàn chẳng có sức mạnh hay logic nào cả, chẳng khác nào câu hát vô nghĩa trong một bài ca mà đám trẻ hát khi nhảy dây.
Anh tiếp tục cất bước.
Mình đi đến trung tâm thị trấn, ngồi một lát trên băng ghế trong công viên và hình như mình thấy…
Anh lại dừng chân, nhíu mày.
Thấy gì ấy nhỉ?
… nhưng đó chỉ là mình nằm mơ thấy thôi.
Liệu có phải thế không? Thật sự có phải thế không?
Nhìn sang trái, anh trông thấy tòa nhà bê tông cốt thép rất to với dàn cửa kính trông rất hiện đại vào cuối thập kỷ 50 nhưng giờ đây thật cũ kỹ và rẻ tiền.
Đấy, mình lại đến đây rồi, anh thầm nghĩ. Về lại trung tâm thị trấn chết tiệt. Khung cảnh của ảo giác ấy. Hoặc giấc mơ ấy. Hoặc bất kể nó là gì.
Mọi người xem anh như Tên hề của lớp, hoặc Mua vui của lớp, và giờ anh lại một lần nữa đo ni đóng giày cho cái vai ấy. Ôi, tất cả chúng ta đều trở về với vai trò năm xưa, mày không để ý sao? Nhưng thế thì có gì bất thường đâu kia chứ? Anh nghĩ dù là buổi họp lớp cấp ba sau mười hay hai mươi năm nữa cũng thế mà thôi, mọi thứ vẫn y như cũ - cây hài của lớp dù tìm được niềm đam mê làm linh mục vào thời đại học, sau hai chai, anh ta sẽ tự động quay lại làm anh chàng ăn to nói lớn năm xưa; Biết tuốt Văn học dù sau này làm nghề buôn bán xe tải GM cũng sẽ tràng giang đại hải ba hoa về John Irving hoặc John Cheever; cậu chàng ngày xưa từng biểu diễn với ban nhạc rock Moondogs vào những đêm thứ Bảy nhưng dòng đời đưa đẩy thành giáo sư Toán ở Cornell sẽ xuất hiện trên sân khấu cùng một ban nhạc, chiếc đàn ghi-ta Fender quàng qua vai, thét gào bài hát Gloria hoặc Surfin’ Bird với giọng ca lè nhè nhưng mãnh liệt. Springteen từng có câu gì ấy nhỉ? Không nao núng, em ơi, không đầu hàng… nhưng sau khi chén chú chén anh một hồi hoặc sau khi hút vài điều cần Panama Đỏ, ta dễ tin vào những bài hát ngày xưa trên máy phát hơn.
Các nhà văn Mỹ nổi tiếng
Nhưng Richie tin rằng chính việc trở về với vai trò cũ mới là ảo giác chứ không phải cuộc sống hiện tại. Có thể đứa trẻ là bố của một người đàn ông, nhưng bố con thường có những sở thích khác nhau và chỉ giống nhau chút xíu. Họ…
Nhưng mày nói người lớn, mà cái từ ấy nghe thật ngớ ngẩn xiết bao; chẳng khác nào nói nhảm. Tại sao vậy, Richie? Tại sao vậy?
Vì Derry là một nơi kỳ dị, trước giờ vẫn thế. Sao chúng ta không mặc kệ cho nhẹ người?
Lý do là vì mọi chuyện không đơn giản như thế.
Thuở bé, anh từng là một cậu nhóc hay làm trò, thỉnh thoảng nói chuyện tục tĩu, đôi khi lại có những câu chuyện cười hay ho, vì đó là cách duy nhất để anh sống qua ngày đoạn tháng mà không bị những đứa như Henry Bowers cho đo đất hoặc nổi khùng vì quá chán và cô đơn. Giờ đây, anh nhận ra rất nhiều vấn đề anh chuốc lấy đều xuất phát từ tâm trí của anh, cái tâm trí thường hoạt động với tốc độ gấp mười hoặc hai mươi lần so với các bạn cùng lớp. Chứng kiến những trò bát nháo chi khươn của anh, người ta thấy anh kỳ lạ, quái dị, hoặc thậm chí liều mạng, nhưng có thể đó chỉ đơn giản là do não anh quá tải mà thôi – mà não anh thì khi nào cũng quá tải.
Nói tóm lại, sau một thời gian, anh tìm được cách kiểm soát nó – một là anh kiểm soát nó, hai là anh tìm nơi để giải tỏa nó, qua những vai như Va li Lạc thú hay Buford Kissdrivel chẳng hạn. Richie phát hiện ra điều này trong những tháng sau cái ngày nổi hứng lang thang vào đài phát thanh trường đại học, ngay từ tuần đầu tiên, anh tìm được mọi thứ mình muốn đằng sau chiếc micrô. Ban đầu, anh chẳng giỏi lắm, anh hăng máu quá nên nói dở tệ. Nhưng anh nhận ra tiềm năng của mình không chỉ dừng lại ở mức giỏi công việc này mà còn có thể đạt đến mức xuất sắc, và nội điều ấy thôi cũng đủ để anh sung sướng như trên chín tầng mây, lên cả cung trăng. Cùng lúc, anh bắt đầu hiểu ra nguyên lý to lớn làm chủ vũ trụ này, chí ít phần vũ trụ xoay quanh đường công danh hoạn lộ: ta tìm cho ra kẻ điên rồ chạy lòng vòng bên trong ta, chọc ngoáy cuộc đời ta. Ta dồn hắn vào chân tường rồi bắt lấy hắn. Nhưng ta không giết hắn. Ồ không. Giết thì quá dễ dàng cho cái ngữ như hắn. Ta vòng dây cương qua đầu hắn rồi bắt hắn cày bừa. Một khi ta ép được gã vào guồng rồi, gã điên ấy sẽ làm hùng hục như trâu. Và thỉnh thoảng, gã cho ta vài tràng cười. Chỉ có thế mà thôi. Và thế là đủ.
Anh vốn hài hước, đúng rồi, một phút một tràng cười, nhưng cuối cùng, anh đã thoát khỏi những cơn ác mộng ở mặt tối của những tràng cười ấy. Hoặc anh tưởng là thế. Ấy là cho đến ngày hôm nay, khi anh nghe mà chẳng hiểu cái từ người lớn có nghĩa là gì. Và giờ lại có thứ để anh vật lộn, hoặc chí ít là suy ngẫm; đằng kia, trước trung tâm thị trấn là bức tượng Paul Bunyan khổng lồ, ngớ ngẩn hết chỗ nói.
Hẳn tớ là trường hợp cá biệt đi ngược dòng, Bill To Bự ạ.
Cậu có chắc là chẳng có gì không, Richie? Hoàn toàn không có gì sao?
Ở trung tâm thị trấn… hình như tớ trông thấy…
Lần thứ hai trong ngày, bỗng dưng mắt anh nhói lên như có kim châm, anh đưa tay lên giữ rịt lấy mắt, giật mình rên rỉ. Và rồi cơn đau lại biến mất, chớp nhoáng như lúc nó xuất hiện. Song hình như anh ngửi thấy mùi gì đó thì phải? Mùi một thứ không hiện diện ở đây, nhưng từng ở đây, nó gợi cho anh nhớ đến
(tớ ở ngay đây với cậu Richie nắm lấy tay tớ cậu với được không nắm đi)
Mike Hanlon. Thứ khiến mắt anh cay sè và chảy nước mắt là khói. Hai mươi bảy năm trước, họ đã hít vào thứ khói ấy, cuối cùng, chỉ còn Mike và anh ở lại, để rồi họ trông thấy…
Nhưng rồi nó biến mất.
Anh tiến một bước đến bức tượng Paul Bunyan bằng nhựa, nếu ngày bé anh từng choáng ngợp trước bức tượng to lớn ấy thì giờ đây, anh hết sức lấy làm thú vị trước sự thô kệch của nó. Bức tượng Paul trong truyện cổ tích cao sáu mét, đôn thêm một mét tám nhờ cái bục. Anh sừng sững đứng ở rìa khu vườn của trung tâm thị trấn, mỉm cười với xe cộ xuôi ngược và dòng người đi bộ bên dưới, trên đường Kênh Đào Phố Ngoài. Trung tâm thị trấn vốn được xây dựng vào năm 1954 đến năm 1955 cho đội bóng rổ thi đấu các giải đấu địa phương, song đội tuyển này chỉ dừng lại trên giấy. Một năm sau, vào năm 1956, Hội đồng thị trấn Derry bỏ phiếu chi tiền xây dựng bức tượng. Chuyện này trở thành chủ đề bàn tán sôi nổi trong các buổi họp dân của hội đồng và trong mục Ý kiến bạn đọc trên tờ Derry News . Một bên cho rằng bức tượng ấy sẽ vô cùng đẹp mắt , chắc chắn sẽ trở thành danh lam thắng cảnh nổi bật. Song không ít người đánh giá bức tượng Paul Bunyan bằng nhựa rõ là một ý tưởng tệ hại, lòe loẹt và xấu ma chê quỷ hờn. Richie nhớ giáo viên môn Mỹ thuật của trường Trung học Derry đã viết một lá thư cho tờ News tuyên bố nếu công trình thảm họa ấy được xây lên ở Derry, bà sẽ làm nó nổ tung. Richie vừa cười vừa tự hỏi không biết cô giáo ăn to nói lớn nọ có được gia hạn hợp đồng hay không.
Cuộc tranh cãi - giờ nhìn lại, Richie thấy nó đúng là trường hợp “chuyện bé xé ra to” điển hình của một thị-trấn-to/ thành-phố-nhỏ - kéo dài suốt sáu tháng, và tất nhiên, có lời qua tiếng lại cũng chẳng được tích sự gì, suy cho cùng, tượng thì đã mua rồi, và giả sử nếu Hội đồng thị trấn đánh trống bỏ dùi (nhất là với dân New England), quyết định không sử dụng thứ mà mình đã vung tiền mua, thì câu hỏi đặt ra là: phải cất của nợ ấy ở đâu? Vậy nên bức tượng thậm chí còn chẳng được điêu khắc mà chỉ đúc từ khuôn trong một nhà máy nhựa ở Ohio ấy rốt cuộc cũng được dựng lên, vẫn phủ lớp bạt to tướng dư sức làm cánh thuyền buồm. Bạt được hạ xuống vào ngày 13 tháng 5 năm 1957, ngày kỷ niệm 150 năm thành lập và phát triển của thị trấn. Đến hẹn lại lên, một phe được dịp phỉ báng không thương tiếc, phe còn lại cũng chẳng kém cạnh, tán tụng đến tận mây xanh.
Khi Paul lộ diện, chàng ta khoác trên mình quần yếm và áo sơ-mi ca rô đỏ trắng. Bộ râu quai nón của chàng đen thui, rậm rì, đúng chuẩn chàng thợ đốn gỗ. Trên vai anh là cái rìu nhựa to đến độ thuộc hàng đại ca của rìu nhựa chứ chẳng chơi, môi anh nở nụ cười bền bỉ hướng về trời Bắc, và tình cờ thế nào mà vào ngày hạ bạt, trời xanh văn vắt như màu da người bạn nổi tiếng của Paul (chú bò Babe không xuất hiện lúc khai trương, chi phí ước tính nếu muốn thêm chú bò xanh dương này vào hoạt cảnh cao đến chóng mặt).
Đám trẻ tham dự buổi lễ (phải đến hàng trăm đứa là ít, và cậu bé Richie Tozier mười tuổi cũng tham gia với sự đồng hành của bố) hết sức hào hứng trước bức tượng bằng nhựa khổng lồ kia. Bố mẹ công kênh con cái lên bục vuông chỗ Paul đứng, chụp hình, rồi quan sát – vừa lo lắng vừa hứng thú – các con mình leo trèo, bò toài, cười khanh khách, trên đôi ủng khổng lồ màu đen của Paul (đính chính: đôi ủng bằng nhựa khổng lồ màu đen).
Tháng Ba một năm sau đó, vừa kiệt sức vừa hồn xiêu phách tán, Richie ngồi trên băng ghế trước bức tượng khi thoát khỏi các quý ông Bowers, Criss và Huggins trong gang tấc sau cuộc rượt đuổi từ trường Tiểu học Derry qua gần hết khu vực trung tâm. Mãi cậu mới cắt đuôi được bọn chúng trong khu đồ chơi của Trung tâm thương mại Freese’s.
Chi nhánh Freese’s ở Derry chẳng là cái đinh gỉ so với trung tâm thương mại hoành tráng ở ngay giữa Bangor, nhưng Richie chẳng còn bụng dạ để quan tâm đến những điều đó – lúc ấy cậu như người chết đuối, vớ được cọc nào hay cọc nấy. Henry Bowers đang đuổi theo sát nút, còn Richie đã sức cùng lực kiệt lắm rồi. Túng quá làm càn, cậu nhào vào cửa xoay của trung tâm thương mại. Henry không hay biết cơ chế của cánh cửa này nên suýt chút nữa thì bị đứt mấy đầu ngón tay lúc tìm cách bắt bằng được Richie khi cậu vòng qua cửa vào trong trung tâm thương mại.
Vắt chân lên cổ chạy xuống tầng, áo bay lật phật về sau, Richie nghe thấy tiếng cửa xoay bíp bíp lên tiếng cảnh báo to như tiếng súng trên ti vi và nhận ra Larry, Moe cùng Curly vẫn đang ở phía sau. Vừa chạy xuống cầu thang tầng hầm, cậu vừa cười ha hả nhưng đó chỉ là co giật vì lo lắng mà thôi, cậu vẫn đang sợ hãi chẳng kém gì chú thỏ bị vướng vào thòng lọng. Lần này chúng sẽ cho cậu một trận tơi bời hoa lá (cậu không hề hay biết trong mười tuần tới, cậu sẽ nhận ra ba người bọn chúng, nhất là Henry, là thể loại người sẵn sàng giết chết kẻ khác, và hẳn mặt cậu sẽ không còn giọt máu vì bàng hoàng nếu cậu biết đến trận chiến ném đá một mất một còn vào tháng Bảy, dù sự kiện cuối cùng ấy rồi cũng biến mất khỏi tâm trí cậu). Mọi chuyện bắt đầu bằng lý do củ chuối không tả nổi.
Bộ ba danh hài của Mỹ. Ở đây ý chỉ hội Bowers.
Lúc ấy, Richie và vài đứa bạn cùng lớp Năm đang di chuyển theo hàng vào phòng thể chất. Lớp Sáu bước ra, với Henry khệnh khạng giữa trông như con bò cày giữa đàn bò sữa. Dù vẫn còn học lớp Năm, Henry đã tập chung phòng thể chất với các anh lớn hơn. Ống nước trên đầu lại tong tỏng nhỏ nước, song ông Fazio chưa kịp dựng tấm biển CẨN THẬN! SÀN ƯỚT! lên cái khung con con. Hậu quả là Henry trượt chân ở ngay vũng nước và hạ cánh bằng đường mông.
Trước khi Richie kịp chặn lại thì cái mỏ của cậu đã oang oang như bố làng: “Đáng đời chưa, cái đồ trượt vỏ chuối!”
Một tràng cười rộ lên từ lớp của Henry và lớp của Richie, nhưng không có chút vui cười nào trên khuôn mặt Henry khi hắn ta tự đứng dậy - chỉ có một màu đỏ lựng của gạch mới nung.
“Mày nhớ mặt tao, thằng bốn mắt,” hắn ta nói rồi bước tiếp.
Tiếng cười tắt ngóm. Đám con trai trên hành lang nhìn Richie như thể cậu đã lên đoạn đầu đài. Henry không buồn dừng lại để xem phản ứng của đối phương mà đi thẳng, đầu cúi gằm, khuỷu tay đỏ tấy do đập xuống đất lúc ngã, đũng quần ướt sũng một vùng rõ to. Nhìn cái đũng quần ướt ấy, Richie cảm thấy cái mồm chỉ biết hại cái thân của mình lại mở ra… nhưng lần này, cậu bắt nó im bặt, nhanh đến độ suýt chút nữa cậu đã cắn đứt đầu lưỡi bằng hàm răng khép xuống như cổng đóng.
Chậc, rồi hắn sẽ quên thôi, cậu lo lắng tự trấn an bản thân trong lúc thay đồ để vào phòng thể chất. Chắc chắn là thế. Hank già chẳng có mấy dây thần kinh ký ức trong đầu đâu. Mỗi lần đi nặng, chắc hắn ta phải nhìn theo hướng dẫn trong sổ tay mới đi được, ha ha.
Ha ha.
“Chết cậu rồi, Tía Lia,” Vince Taliendo “Gỉ Mũi” nói với cậu, đưa tay kéo quần lên của quý có hình dạng và kích cỡ như hạt đậu phộng xanh xao. Cậu ta còn bày đặt bi thương mà nói: “Đừng lo. Tớ sẽ mang hoa cúng đến.”
“Cắt tai cậu rồi mang bông súp lơ đến đi,” Richie bật lại đầy thông minh, mọi người cười ồ, ngay cả Taliendo “Gỉ Mũi” cũng cười, vì với họ cười có mất mát gì đâu. Sao, việc gì tớ phải lo chứ? Những cậu bạn này sẽ ngôi nhà xem Jimmy Dodd và Chuột Lính Ngự Lâm trên chương trình Câu lạc bộ Chuột Mickey hoặc nghe Frankie Lymon hát “Tôi không phải trẻ vị thành niên phạm tội” trên Bục trình diễn Mỹ trong lúc Richie ba chân bốn cẳng lao qua khu nội y phụ nữ và đồ gia dụng trên đường đến khu đồ chơi, mồ hôi chảy đầm đìa xuống khe mông, hai hòn bi vì sợ hãi mà dựng đứng thiếu điều cao ngang lỗ rốn. Phải rồi, họ cứ việc cười thôi.
Hóa ra Henry vẫn ghim trong bụng. Richie đã thận trọng ra bằng cửa sau của tòa nhà, ở phía cuối trường mầm non, nhưng Henry cũng thận trọng cài Huggins Ợ Hơi ở đó.
Richie trông thấy Ợ Hơi trước và lý ra màn chạy đua đã không xảy ra. Lúc ấy, Ợ Hơi đang nhìn về phía công viên Derry, một tay cầm điếu thuốc chưa châm, tay còn lại mơ màng bứt chỉ trên đăng quần. Trống ngực đập thình thịch, Richie rón rén bước qua sân chơi xuống gần hết đường Charter thì bất thình lình, Ợ Hơi quay đầu lại và trông thấy cậu. Hắn ta bèn hô hoán gọi Henry và Victor, báo hiệu mở màn cho cuộc rượt đuổi.
Khi Richie đến khu đồ chơi, cậu phát hiện nó vắng tanh vắng ngắt. Thậm chí chẳng có nhân viên bán hàng nào trực xung quanh – không có lấy một người lớn đứng canh để kịp chặn đứng những trò nghịch phá trước khi chuyện vượt ngoài tầm kiểm soát. Cậu có thể nghe thấy tiếng ba con khủng long đem đến diệt vong ấy ở phía sau. Nhưng đơn giản là cậu không chạy nổi nữa. Từng hơi thở khiến thân trên trái của cậu đau nhói.
Mắt cậu dán vào cánh cửa đề CHỈ DÀNH CHO THOÁT HIỂM! CHUÔNG BÁO ĐỘNG SẼ KÊU! Hy vọng nhen nhóm trong lòng cậu.
Richie chạy xuống dãy hàng đầy những chiếc hộp bật ra Vịt Donald, xe tăng Quân đội Hoa Kỳ sản xuất ở Nhật Bản, súng đồ chơi Kỵ sĩ cô độc, rô-bốt vặn dây cót. Cậu chạy đến cửa rồi tông thật mạnh vào thanh đẩy. Cánh cửa bật mở, bầu không khí mát mẻ giữa tháng Ba ùa vào. Chuông báo động kêu lên đinh tai nhức óc. Ngay lập tức, Richie lùi lại, quỳ mọp xuống, bò bằng đầu gối và hai tay đến dãy hàng bên cạnh. Cậu kịp thụp xuống trước khi cánh cửa đóng lại.
Henry, Ợ Hơi và Victor rầm rập ùa xuống khu đồ chơi đúng lúc cánh cửa vừa khép lại, chuông báo động tắt ngóm. Chúng chạy đến cửa, Henry đi đầu, khuôn mặt đanh thép.
Rốt cuộc, một nhân viên bán hàng hối hả xuống hiện trường. Anh ta mặc áo choàng bằng vải nylon màu xanh dương bên ngoài áo vest kẻ ô xấu ma chê quỷ hờn. Gọng kính của anh ta có màu hồng như mắt thỏ trắng. Richie thầm nghĩ nhìn anh này giống Wally Cox khi đóng vai Ông Peepers, và cậu phải vùi cái miệng phản chủ của mình vào cẳng tay để không phá lên cười nắc nẻ.
Nhân vật trong bộ phim hài cùng tên của Mỹ.
“Mấy cậu kia!” Ông Peepers la lớn. “Không được đi ra bằng đường đó! Đó là lối thoát hiểm! Mấy cậu kia! Này! Mấy cậu kia! “
Victor liếc nhìn anh ta với vẻ lo lắng, nhưng Henry và Ợ Hơi vẫn phăm phăm chạy nên Victor cũng chạy theo. Tiếng chuông đinh tai lại vang lên, lần này lâu hơn trong lúc cả ba đứa đi ra ngõ. Trước khi cửa đóng lại, Richie đứng dậy và cà nhắc bước đến quầy nội y nữ.
“Các cậu sẽ bị cấm không cho vào tiệm!” Tay nhân viên la lên ở phía sau.
Liếc nhìn qua vai, Richie ré lên bằng giọng Bà ngoại Cáu bẳn, “Có ai từng nói với anh là anh trông giống y Ông Peepers chưa, chàng trai?”
Cậu đã trốn thoát như thế đấy. Đoạn cậu chạy khỏi Freese’s chừng một cây rưỡi, đứng trước trung tâm thị trấn, thành tâm mong cầu mình sẽ không gặp nguy nan nữa. Chí ít hiện tại là thế. Mệt bã người, cậu ngồi xuống băng ghế phía bên trái bức tượng Paul Bunyan tìm chút bình yên để lấy lại tinh thần. Lát nữa cậu sẽ đứng dậy đi về nhà, nhưng lúc này đây, ngồi dưới ánh mặt trời buổi chiều quả rất dễ chịu. Khởi đầu hôm ấy vừa âm u mưa phùn vừa lạnh lẽo, nhưng giờ đây, ta có thể tin mùa xuân đang chạm ngõ.
Xa xa trên bãi cỏ, cậu thấy rạp bằng vải của trung tâm thị trấn, bên trên là dòng chữ màu xanh trong suốt rất to:
CÁC EM ƠI!
HÃY ĐẾN VÀO NGÀY 28 THÁNG 3!
__BUỔI BIỂU DIỄN ROCK & ROLL CỦA ARNIE “WOO-WOO” GINSBERG!_
JERRY LEE LEWIS
NHÓM THE PENGUINS
FRANKIE LYMON VÀ NHÓM THE TEENAGERS
GENE VINCENT VÀ NHÓM THE BLUE CAPS
FREDDY "BOOM-BOOM" CANNON
MỘT BUỔI TỐI GIẢI TRÍ TỪ ĐẦU CHÍ CUỐI!!
Tất cả là các ca sĩ và nhóm nhạc rock & roll.
Richie thật sự rất mong được tham dự buổi trình diễn này, nhưng cậu biết có nằm mơ cũng chẳng được. Trong mắt mẹ cậu, giải trí từ đầu chí cuối không bao gồm việc Jerry Lee Lewis bảo thanh thiếu niên Mỹ rằng chúng ta có gà trong nông trại, nông trại nhà ai, nông trại gì, nông trại nhà tôi. Hoặc cũng không có Freddy Cannon, với em gái Tallahassee có chiếc xe kéo rất gợi tình. Mẹ cậu kể cái thời còn là thiếu nữ cuồng âm nhạc, bà cũng la hét hết mình vì Frank Sinatra (giờ bà gọi ông ấy là Frankie Bảnh Chọe), nhưng cũng giống như mẹ của Bill Denbrough, bà phản đối kịch liệt nhạc rock and roll. Chuck Berry làm bà kinh hãi, bà còn nói Richard Penniman, được bầu đoàn các thanh thiếu niên hâm mộ đặt biệt danh là Richard Nhỏ Bé, khiến bà muốn “nôn như con gà”.
Lời bài hát nổi tiếng Whole Lotta Shakin’ Goin’ On do ca sĩ này trình bày.
Bài hát Tallahassee Lassie do Freddy Cannon sáng tác.
Richie không bao giờ yêu cầu mẹ dịch nghĩa cụm từ trên.
Bố cậu giữ góc nhìn trung lập với chủ đề rock and roll, thậm chí có khi ông còn dễ bị lung lay nữa kìa, song Richie biết trong chủ đề này, tiếng nói của mẹ cậu mới là thiết quân luật – chí ít là cho đến khi cậu mười sáu, mười bảy tuổi – và đến lúc ấy, mẹ cậu dám chắc cơn cuồng nhạc rock and roll của đất nước này sẽ qua đi.
Richie nghĩ nhóm nhạc Danny and the Juniors có nhận định đúng đắn hơn mẹ cậu về chủ đề này – rock & roll sẽ không bao giờ chết. Cậu yêu dòng nhạc này, mặc dù nguồn tiếp cận của cậu chỉ giới hạn trong hai chương trình – Bục trình diễn Mỹ trên Kênh 7 vào buổi chiều, đài phát thanh WMEX từ Boston vào ban đêm, khi không khí loãng hơn và chất giọng khàn khàn đầy đam mê của Arnie Ginsberg văng vẳng như tiếng ma vang lên trong buổi gọi hồn. Giai điệu không chỉ khiến cậu cảm thấy vui vẻ, mà còn làm cho cậu thấy mình to lớn hơn, mạnh mẽ hơn và hiện diện hơn. Khi Frankie Ford hát “Chuyến biển” hoặc Eddie Cochran hát “Điệu Blue mùa hè”, lòng của Richie đong đầy vui sướng. Trong âm nhạc ấy có năng lượng, thứ năng lượng dành tặng tất cả những đứa trẻ ốm o, béo tròn, xấu xí, nhút nhát – hay nói cách khác, những đứa trẻ cùi bắp của xã hội. Nghe nó, cậu cảm nhận được một điện áp điên rồ, buồn cười, thừa sức giết chết ta, nâng đỡ ta trong cuộc đời này. Cậu thần tượng Domino Béo (so với anh, Ben Hanscom còn gọn gàng chán), Buddy Holly - anh này cũng mang kính giống Richie, Jay Hawkins Gào Thét – anh này có cái trò bật dậy từ quan tài trong buổi diễn của mình (Richie nghe kể như thế) cùng nhóm Dovells, nhảy mượt y như các anh da đen.
Chậc, tám lạng nửa cân .
Rồi một ngày nào đó, cậu sẽ được thoải mái nghe rock & roll nếu muốn - cậu dám chắc dòng nhạc ấy vẫn còn tồn tại khi mẹ cậu chịu thua và cho cậu làm theo ý mình – nhưng điều đó chưa xảy ra vào ngày 28 tháng 3 năm 1958… hoặc năm 1959… hoặc…
Cậu rời mắt khỏi rạp vải và rồi… chà… chắc hẳn cậu đã thiếp đi. Đó là lời giải thích duy nhất có nghĩa lý. Bởi những gì xảy ra sau đó chỉ có thể là nằm mơ.
Trở về hiện tại, anh lại là một Richie Tozier muốn bao nhiêu nhạc rock & roll trên đời này cũng được… và anh vui sướng nhận ra rằng như thế vẫn chưa đủ. Mắt anh liếc lại rạp vải phía trước trung tâm thị trấn và trông thấy, một cách tình cờ đầy ma quái, dòng chữ màu xanh năm nào:
NGÀY 14 THÁNG 6
HỠI NHỮNG AI CUỒNG HEAVY METAL!
JUDAS PRIEST
IRON MAIDEN
MUA VÉ Ở ĐÂY HOẶC TRÊN BẤT CỨ HỆ THỐNG TICKETRON NÀO
Sao họ lại bỏ mất dòng về giải trí từ đầu chí cuối rồi, Richie thầm nhủ, nhưng mình thấy đó là khác biệt duy nhất.
Và rồi anh nghe thấy giọng hát của Danny and the Juniors, mờ ảo, xa xăm, như phát ra từ chiếc ra-đi-ô rẻ tiền ở cuối hành lang: Rock & roll sẽ trường tồn, tôi sẽ theo nó đến cuối cùng… Nó sẽ đi vào lịch sử, cứ nhìn mà xem, bạn tôi ơi…
Richie quay lại nhìn Paul Bunyan, vị thánh bảo trợ của Derry – Derry, theo như những câu chuyện xưa, thị trấn được sinh ra vì đây là nơi gỗ được trục vớt sau khi trôi xuống hạ nguồn. Ngày xưa, từng có lúc vào mùa xuân, toàn bộ hai con sông Penobscot và Kenduskeag đều đầy tràn những khúc gỗ từ bờ bên này sang bờ bên kia, thân gỗ đen kịt chắn hết mặt sông lấp lánh dưới vầng dương mùa xuân. Một anh chàng nhanh chân có thể đi từ Wallys Spa ở Nửa mẫu Địa ngục đến Ramper’s ở Brewster (Ramper’s là một quán rượu nổi tiếng dở tệ, đến độ người dân toàn gọi nó là Xô máu) mà không bị ướt quá ba nấc dây giày bằng da thắt trên đôi bốt. Hoặc chí ít đó là những gì người ta hay kể thời Richie còn bé, và anh đoán trong những câu chuyện ấy có chút ít thành tố hư cấu như chuyện về Paul Bunyan.
Paul già ơi, anh nghĩ thầm trong bụng, ngước mắt nhìn bức tượng bằng nhựa. Từ lúc tôi rời đi, anh đã làm những gì? Anh có đào thêm được lòng sông nào không, có về nhà mệt lử, kéo lê chiếc rìu sau lưng không? Anh có đào thêm cái hồ nào mới vì anh muốn một bồn tắm thật to để ngâm mình trong làn nước ngập đến cổ không? Anh có họ được thêm đứa nhóc nào như ngày xưa anh hù tôi phát khiếp không?
Ôi, bao ký ức chợt ùa về với anh, giống như cách ta thỉnh thoảng chợt nhớ một từ mà nặn óc nghĩ mãi không ra.
Ngày ấy, khi cậu bé Richie đang ngồi dưới ánh mặt trời tháng Ba dịu ngọt, mơ màng ngủ, nghĩ tới việc về nhà và vớt vát được ba mươi phút cuối chương trình Bục trình diễn , thì bỗng dưng có một làn hơi ấm nóng phà vào mặt. Nó thổi ngược tóc mái của cậu ra sau. Cậu ngước lên thì trông thấy khuôn mặt khổng lồ bằng nhựa của Paul Bunyan ở ngay trước mặt, to hơn cả khuôn mặt trên màn ảnh, choán hết cả không gian. Không khí chuyển động là do Paul cúi xuống… dù trông hắn ta chẳng còn giống Paul chút nào. Trán dô ra, những túm lông như sợi dây thò ra từ lỗ mũi đỏ lòm như mũi của những kẻ say rượu lâu năm; mắt hắn đỏ quạch, một bên còn bị lác nhẹ.
Chiếc rìu không còn nằm trên vai hắn nữa. Paul đang tựa vào cán rìu, phần đầu còn của lưỡi rìu làm toác một rãnh sâu trên mặt bê tông của vỉa hè. Thứ đó vẫn đang cười, nhưng nụ cười chẳng có gì vui tươi. Từ hàm răng vàng khè to tướng của nó tỏa ra thứ mùi hôi thối như động vật nhỏ thối rữa giữa cây tầng thấp nóng nực.
“Tao sẽ ăn tươi nuốt sống mày,” gã khổng lồ nói, giọng ồm ồm, tựa hồ tiếng những tảng đá cọ vào nhau trong trận động đất. “Trừ khi mày trả lại cho tao con gà mái, đàn hạc và túi vàng, còn không đừng trách tao ăn thịt mày ngay và luôn!”
Từng lời nó nói ra khiến áo của Richie bay phần phật như cánh buồm trong cơn lốc. Cậu rúm ró trên băng ghế, mắt lồi ra, tóc tai dựng đứng như lông nhím, bao bọc xung quanh là thứ mùi xú uế tựa xác chết thối.
Gã khổng lồ bắt đầu phá lên cười. Nó đặt hai tay lên cán rìu giống như Ted Williams đặt tay lên chiếc gậy bóng chày ưa thích (hoặc nếu muốn thì ta gọi nó là cán tần bì), đoạn kéo nó khỏi cái hố do rìu tạo thành trên vỉa hè. Chiếc rìu vung lên không trung, tạo ra tiếng vùn vụt trầm thấp chết người. Richie chợt ngộ ra gã khổng lồ này muốn chặt mình làm đôi.
Nhưng cậu cảm thấy người mình cứng đờ như tượng, cảm giác thờ ơ, hờ hững bao trùm lấy cậu. Chuyện này có nghĩa lý gì đâu? Cậu chỉ đang ngủ và nằm mơ thôi. Chốc nữa thôi, một tay tài xế sẽ bóp còi inh ỏi vì có đứa trẻ chạy ngang qua đường, khi ấy, cậu sẽ tỉnh giấc ngay ấy mà.
“Phải rồi,” gã khổng lồ rống lên, “mày sẽ tỉnh dậy ở địa ngục!” Khoảnh khắc cuối cùng, khi chiếc rìu khựng lại lúc giơ lên đỉnh rồi cân bằng ở đấy, Richie nhận ra đây không phải là mơ… mà nếu có là giấc mơ thật đi chăng nữa thì giấc mơ này có thể giết chết cậu.
Cố hét lên nhưng không bật ra được tiếng nào, cậu lăn từ băng ghế xuống khoảnh đất trải sỏi bị cày lên xung quanh chỗ bức tượng đứng trước đó, giờ chỉ còn chỏng chơ cái bục với hai bu lông bằng thép khổng lồ thò lên chỗ hai cẳng chân. Âm thanh chiếc rìu vụt xuống choán ngợp không gian bằng tiếng thì thầm vun vút, nụ cười của gã khổng lồ biến thành bản mặt sát nhân cau có. Môi của nó kéo xệch lên, để lộ răng lẫn phần nướu nhựa đỏ rực, đỏ đến dị hợm, lấp loáng.
Lưỡi rìu chém xuống băng ghế, ngay chỗ Richie vừa ngồi ngay trước đó. Lưỡi rìu bén đến độ không phát ra tiếng động nào, nhưng băng ghế bị chặt làm đôi ngay lập tức. Hai nửa băng ghế nghiêng sang hai bên, phần gỗ bên trong lớp sơn xanh sáng và trắng đến rợn người.
Richie nằm trên đất. Vẫn cố hét lên mà bất lực, cậu tìm cách đứng dậy. Sỏi rơi xuống cổ áo và đũng quần cậu. Và rồi Paul lù lù ở đó, sừng sững bên trên, nhìn xuống cậu bằng hai con mắt to tướng như nắp cống, Paul khổng lồ đang nhìn xuống cậu bé nhỏ nhất có rúm trên nền sỏi.
Gã khổng lồ tiến một bước về phía cậu. Richie cảm thấy mặt đất rung lên khi chiếc ủng màu đen dộng xuống. Bụi tung mù mịt từ mặt đất trải sỏi.
Richie lăn người, áp bụng xuống đất và loạng choạng đứng dậy. Chân cậu líu ríu chạy trước khi cơ thể thăng bằng, kết cục là cậu lại đo đất một lần nữa. Cậu nghe thấy tiếng gió phụt ra khỏi phổi. Tóc lòa xòa vào mắt. Cậu có thể thấy tiếng xe cộ qua lại trên đường Kênh Đào và đường Chính như thường nhật, tựa hồ chẳng có gì bất thường đang xảy ra, tựa hồ không một ai trong những chiếc xe kia trông thấy hoặc quan tâm Paul Bunyan vừa sống dậy, bước khởi bục để giết người bằng cây rìu to cỡ nhà xe di động hạng cao cấp.
Mặt trời bị chắn. Richie nằm trong bóng râm có hình người.
Cậu luýnh quýnh bò dậy, suýt chút nữa thì ngã vật ra, nhưng rồi cậu đứng lên được và chạy bán sống bán chết – cậu chạy mà đầu gối nâng lên gần đến ngực, tay đánh liên tục. Đằng sau, cậu có thể nghe thấy tiếng rìu vung lên, một âm thanh tưởng chừng chẳng phải âm thanh mà là sức ép lên da cũng như màng nhĩ: Vụt!…
Mặt đất rung chuyển. Hai hàm răng của Richie va vào nhau cành cạch như đĩa sứ trong cơn động đất. Không cần nhìn cậu cũng biết chiếc rìu của Paul đã cắm phập sâu quá nửa vào vỉa hè, chỉ cách chân cậu chừng chục phân.
Quay cuồng, cậu nghe thấy văng vẳng trong tâm trí mình bài hát của Dovells: Ôi đám trẻ ở Bristol sắc sảo như súng pistol khi chúng nhảy gõ chân kiểu Bristol…
Vượt khỏi bóng của gã khổng lồ ra ngoài ánh nắng, cậu lại phá lên cười – cũng nụ cười mệt mỏi như khi cậu lao xuống cầu thang trong trung tâm thương mại Freese’s. Hơi thở hồng hộc, hông nhói đau, mãi cậu mới gom đủ can đảm liếc ra sau lưng.
Và kìa, bức tượng của Paul Bunyan lại sừng sững trên cái bệ quen thuộc, rìu vác trên vai, đầu ngước nhìn bầu trời trên cao, người anh hùng cổ tích nở nụ cười bừng bừng lạc quan. Còn băng ghế bị xẻ làm đôi ấy à, nó nguyên vẹn, không chút sứt mẻ, xin chân thành cảm ơn. Mặt đất trải sỏi nơi anh Paul Cao To ( Anh là tất cả của tôi , Annette Funicello gào rống trong đầu Richie) từng giậm đôi giày cỡ khủng phẳng phiu và y nguyên, trừ phần sỏi bị xê xích chỗ Richie ngã lúc cậu còn đang
“Anh là tất cả của tôi” là một câu hát trong bài Tall Paul của nữ ca sĩ Annette Funicello.
(cố thoát khỏi tay khổng lồ)
nằm mơ. Không có dấu chân, cũng chẳng có vết rìu trên mặt bê tông. Không có bất cứ thứ gì ở đây ngoài một thằng nhóc bị đám côn đồ cậy lớn hiếp nhỏ rượt đuổi, và vì thế cậu nằm mơ thấy một giấc mơ nho nhỏ (nhưng thật đến từng chi tiết) về gã khổng lồ giết người… hay ta có thể gọi ấy là Henry Bowers Cỡ Bự.
“Khốn thật,” Richie khe khẽ nói, giọng run run, rồi gượng cười.
Cậu đứng đó thêm hồi lâu, đợi xem bức tượng có chuyển động lần nữa hay không-biết đâu đấy nó lại nháy mắt, đảo rìu từ vai này sang vai kia, nhảy xuống và đuổi theo cậu thì sao. Nhưng tất nhiên là không có gì xảy ra.
Đó là chuyện dĩ nhiên.
Gì, tôi mà lo sao? Ha ha ha ha ha.
Gà gật. Nằm mơ. Chỉ thế mà thôi.
Nhưng, như Abraham Lincoln hoặc Socrates hay người nào đó từng chiêm nghiệm, đủ là đủ. Đã đến lúc về nhà thư giãn, ra vẻ như Kookie trong chương trình 77 Sunset Strip và nằm ườn ra.
Và dù nếu băng ngang qua khu đất của trung tâm thị trấn sẽ nhanh hơn, nhưng cậu quyết định không đi như vậy. Cậu không muốn lại gần bức tượng lần nữa. Vì thế, cậu đi đường vòng, để rồi đến tối hôm ấy, cậu gần như đã quên bẵng sự việc.
Cho đến lúc này.
Một người đàn ông đang ngồi đây, anh thầm nghĩ, một người đàn ông khoác chiếc áo màu xanh rêu mua ở một trong những cửa hàng xịn nhất đại lộ Rodeo Drive; một người đàn ông mang giày Bass Weejuns và dùng quần lót Calvin Klein để che mông, một người đàn ông đeo loại kính áp tròng mềm, dễ dàng đưa vào mắt; một người đàn ông nhớ lại giấc mơ của cậu bé năm xưa, cái cậu bé cho rằng áo sơ-mi Ivy League với vòng vải sau lưng và đôi giày Snap Jack là đỉnh cao của thời trang, một người đàn ông đã trưởng thành đưa mắt nhìn bức tượng ngày trước, và này, Paul ơi, anh Paul Cao To ơi, tôi đến để nói với anh rằng bao năm qua anh vẫn thế, anh không già đi lấy một ngày.
Trong đầu anh vẫn tâm niệm cách giải thích cũ: ấy chỉ là một giấc mơ.
Anh là người nếu cần sẽ sẵn lòng tin quái vật tồn tại, quái vật chỉ là chuyện nhỏ, chẳng có gì to tát. Chẳng phải hềt lần này đến lần khác, anh đã ngồi trong phòng thu đọc tin tức về những kẻ như Idi Amin Dada, Jim Jones hay thủ phạm đã đánh bom giết sạch người trong một cửa hàng Mc Donald’s ở dưới phố đấy sao? Bất ngờ chưa hỡi đồng bào ơi, quái vật chỉ là chíp hôi mà thôi! Ai thèm bỏ năm đồng ra mua vé xem phim trong khi ta có thể đọc về lũ giết người không gớm tay ấy trên báo chí chỉ với ba mươi lăm xu hoặc nghe tin trên ra-đi-ô miễn phí? Và anh thấy nếu anh tin trên đời này có một giống loài như Jim Jones thì trong ít lâu, anh có thể tin vào câu chuyện Mike Hanlon kể; Nó thậm chí còn có gì đó hay ho, bởi Nó đến từ bên ngoài và chẳng có ai phải chịu trách nhiệm cho Nó. Anh có thể tin tưởng trên đời này tồn tại một con quái vật nhiều mặt chẳng kém gì số mặt nạ cao su trong cửa hàng bán đồ lưu niệm (anh thấy đã bỏ công ra mua thì mua một cái làm gì, mua luôn một túi cho rồi, cả tá sẽ rẻ hơn mà, đúng không quý vị?), chí ít nếu cuộc tranh luận ấy cần… nhưng chuyện bức tượng bằng nhựa cao chín mét bước xuống bục rồi tìm cách lấy rìu chém ta làm đôi? Nghe không tài nào tin nổi. Như Abraham Lincoln hoặc Socrates hay ai đó cũng từng nói, tôi ăn cá và tôi ăn thịt, nhưng có những thứ cứt đái đừng hòng mong tôi ăn. Đơn giản là…
Mắt lại đau nhói như thể có kim đâm, anh buột miệng rên lên bàng hoàng. Nhưng chưa dừng lại ở đó, cơn đau càng nhói hơn, càng dài hơn, khiến anh sợ mất mật. Anh lấy tay vỗ vào mắt, rồi theo phản xạ, anh lấy ngón trỏ lần mò đến mí mắt dưới để tháo kính áp tròng. Chắc mình bị nhiễm trùng gì đấy rồi, anh lờ mờ suy đoán. Nhưng Chúa ơi, đau quá!
Anh kéo mí mắt xuống, chuẩn bị nháy mắt một cái để kính áp tròng rơi ra (sau đó sẽ tốn mười lăm phút mò mẫm, dò dẫm tìm kính dưới mặt đất trải sỏi bao quanh băng ghế nhưng lạy Chúa tôi, ai mà quan tâm kia chứ, giờ anh có cảm giác như có đinh trong mắt đây này), thì bỗng dưng, cơn đau biến mất. Nó không nguôi ngoai mà đơn giản là biến mất hoàn toàn. Phút trước còn đó mà phút sau đã mất dạng. Mắt anh hoen lệ một chút rồi ngưng hẳn.
Anh từ từ hạ tay xuống, tim đập thình thịch trong lồng ngực, sẵn sàng nháy mắt cho kính rơi ra ngay khi cơn đau tái phát. Nhưng không có cơn đau nào xuất hiện thêm nữa. Và chợt trong đầu anh xuất hiện hình ảnh bộ phim kinh dị duy nhất từng làm anh sợ mất mật hồi còn bé, có thể là vì ngày ấy, anh quá để tâm đến cặp kính và suốt ngày ngồi nghĩ đến hai cửa sổ tâm hồn của mình. Bộ phim mang tên Con mắt Biết bò với sự tham gia của Forrest Tucker. Không hay lắm. Những đứa trẻ khác cười như được mùa, nhưng Richie cười không nổi. Bởi lúc đó, Richie cóng hết cả người, mặt mũi xanh như tàu lá và nghệch hẳn ra, ấy là lần hiếm hoi cậu không rặn được Giọng nói nào để chiếm lại thế thượng phong khi con mắt bầy hầy đầy xúc tu bước ra từ làn sương nhân tạo trong bộ phim Anh Quốc, ngúc ngoắc những xúc tu đầy thớ. Hình ảnh con mắt ấy thật quá đỗi khủng khiếp, nó như hiện thân của hàng trăm nỗi sợ hãi cũng như bất an mà cậu bé Richie không nhận ra. Không lâu sau đó, vào một đêm nọ, cậu nằm mơ thấy cậu nhìn vào bóng của mình trong gương, cậu lấy một cái đinh ghim thật to rồi từ từ đâm vào tròng đen của mắt và nhận thấy cảm giác đàn hồi tê tê, mọng nước khi đáy mắt ngập trong máu. Anh nhớ - giờ thì anh đã nhớ ra rồi - đêm đó, cậu bé con năm xưa tỉnh giấc và phát hiện mình tè dầm. Chỉ báo tốt nhất cho biết giấc mơ khủng khiếp nhường nào là cảm xúc đầu tiên của cậu lúc tỉnh dậy: không phải là nỗi xấu hổ trước sự hớ hênh vào ban đêm của bản thân, mà là sự nhẹ nhõm, mừng rỡ khi thấy người mình ấm và ướt nhẹp, biết ơn khi mắt mình vẫn còn nhìn thấy.
“Khốn kiếp,” Richie Tozier thầm thì, giọng run run, đoạn đứng dậy.
Anh sẽ quay lại Nhà nghỉ Thị trấn Derry và chợp mắt một lúc. Nếu đây là Làn đường Ký ức thì anh thà lao ào ào trên Xa lộ L.A. vào giờ cao điểm còn hơn. Cơn đau trong mắt anh có lẽ chỉ là tín hiệu cho biết anh mệt mỏi và kiệt sức sau chuyến đi dài, cộng thêm áp lực từ việc dồn dập đối mặt với quá khứ trong một buổi chiều. Choáng váng thế là đủ; khám phá thế là đủ. Anh không thích tâm trí anh cứ nháo nhào từ chủ đề này sang chủ đề khác. Giai điệu của Peter Gabriel là bài gì ấy nhỉ? “Cho Khỉ sốc chơi.” Chậc, con khỉ này sốc đủ rồi đây. Đã đến lúc ngủ nghỉ một chút để đầu óc minh mẫn trở lại.
Khi đứng dậy, mắt anh vô tình liếc sang rạp vải dựng phía trước trung tâm thị trấn. Bất thình lình, chân anh không còn chút sức lực, anh lại ngồi thụp xuống. Đánh phịch.
RICHIE TOZIER NGƯỜI ĐÀN ÔNG NGHÌN GIỌNG
TRỞ LẠI DERRY, VÙNG ĐẤT NGHÌN ĐIỆU NHẢY
ĐỂ TỎ LÒNG TRÂN TRỌNG TÍA LIA TRỞ VỀ, TRUNG TÂM THỊ TRẤN
XIN GIỚI THIỆU BUỔI BIỂU DIỄN NHẠC ROCK RICHIE TOZIER
“CHẾT SẠCH SÀNH SANH”
BUDDY HOLLY
RICHIE VALENS
THE BIGBOPPER
FRANKIE LYMON
GENE VINCENT
MARVIN GAYE
BAN NHẠC
JIMI HENDRIX - GHI-TA CHÍNH
JOHN LENNON - GHI-TA ĐỆM
PHIL LINOTT - GHI-TA BASS
KEITH MOON - TRỐNG
KHÁCH MỜI ĐẶC BIỆT - JIM MORRISON
Trong danh sách này là tên của rất nhiều nghệ sĩ quá cố (vào thời điểm năm 1985).
CHÀO MỪNG TRỞ VỀ NHÀ, RICHIE!
RỒI MÀY CŨNG CHẾT THÔI!
Anh có cảm giác như thể ai đó vừa rút hết hơi thở ra khỏi người mình… và rồi anh lại nghe thấy âm thanh ấy, nửa tiếng động nửa sức ép lên da và màng nhĩ, âm thanh rất khẽ đầy chết chóc - Vụt! Anh lăn từ băng ghế xuống đất, trong đầu thầm nhủ À hóa ra déjà vu là thế này đây, giờ thì biết rồi nhé, không cần phải hỏi ai nữa…
Vai đập vào nền sỏi, anh lăn người và ngước nhìn bức tượng Paul Bunyan – chỉ có điều nó không còn là Paul Bunyan nữa. Sừng sững đứng đó là gã hề, sặc sỡ và rõ mồn một, chói lóa trong chất liệu nhựa, sáu mét rực rỡ màu dạ quang Day-Glo, khuôn mặt sơn phát hiện ra bên trên lớp cổ áo xếp nếp lố bịch cỡ khủng. Những nút bông xù màu cam đúc bằng nhựa, cục nào cục nấy to như quả bóng chuyền, chạy dọc phía trước bộ đồ màu bạc. Thay vì vác rìu, nó cầm một chùm bóng bay nhựa khổng lồ. Khắc trên mỗi quả là hai dòng chữ: ROCK & ROLL VẪN CHẤT NHẤT QUẢ ĐẤT và BUỔI BIỂU DIỆN ROCK “CHẾT SẠCH SÀNH SANH” CỦA RICHIE TOZIER.
Anh lồm cồm dùng đầu gối và lòng bàn tay bò về phía sau. Sỏi rơi xuống đũng quần anh. Anh nghe thấy tiếng đường may bục ra dưới nách chiếc áo mà anh mua ở Rodeo Drive. Anh lăn người, đứng lên, loạng choạng nhìn về phía sau. Gã hề nhìn xuống anh. Mắt nó đảo lia lịa trong hốc mắt.
“Ta có làm cho ngươi hết hồn không, bạn hiền?” Nó gầm gừ.
Richie nghe thấy miệng mình tự cất tiếng nói, độc lập với bộ não đang đông cứng: “Chơi tê tê sau lưng con xe thôi, Bozo ơi. Dăm ba chuyện muỗi.”
Câu gốc là “Cheap thrills in the back of my car”, đây là một câu hát trong bài Cheap Thrills của Frank Zappa.
Gã hề mỉm cười và gật đầu như thể nó chẳng kỳ vọng gì hơn. Đôi môi son đỏ nhoe nhoét của nó há ra, để lộ hàm răng nhọn hoắt, cái nào cái nấy bén ngọt như dao cạo. “Ta có thể bắt nhà ngươi ngay bây giờ nếu ta muốn” nó nói. “Nhưng thế này sẽ vui hơn nhiều.”
“Ta cũng thấy vui,” Richie nghe miệng mình ba hoa. “Vui nhất là lúc bọn ta chặt phăng thủ cấp ngươi đấy, cục cưng.”
Nụ cười của gã hề càng lúc càng mở rộng. Nó đưa một tay đeo găng trắng lên, và Richie cảm nhận được gió phần phật hất ngược tóc mái anh về sau, y như cái ngày hai mươi bảy năm về trước. Ngón trỏ của gã hề chĩa thẳng vào anh, to chẳng kém gì xà nhà.
To như cái xà …, Richie nghĩ, và rồi cơn đau lại ập đến. Nó thọc những cây cọc gỉ sét vào phần mắt mềm như thạch. Anh hét lên và ôm lấy mặt mình.
"Trước khi lấy rác ra khỏi mắt người hàng xóm láng giềng của mình, người phải lo cho cây đà trong mắt mình đi đã," gã hề ngân nga, lời nó phát ra trầm đục, âm vang, và Richie lại một lần nữa được bao bọc trong thứ mùi ngai ngái của xác động vật chết.
Pennywise đang nhái câu trong Kinh Thánh: “Hỡi kẻ giả hình! Trước hết phải lấy cây đà khỏi mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em mình được.” (Matthew 7:5)
Anh ngước lên, vội lùi lại chừng năm, sáu bước. Gã hề cúi xuống, hai tay đeo găng đặt lên đầu gối mang quần sặc sỡ.
“Muốn chơi thêm không, Richie? Hay để ta chĩa ngón tay vào của quý nhà người và cho ngươi ung thư tiền liệt tuyến nhỉ? Hay ta chỉ tay lên đầu người và cho ngươi u não luôn - dù ta chắc nhiều người sẽ nói cục u ấy chỉ là đóng góp thêm cho thứ đã có mà thôi. Ta có thể chỉ vào mồm người và cái lưỡi bép xép tép nhảy nhà ngươi sẽ biến thành đống mủ chảy nhoe nhoét. Ta làm được đấy, Richie. Muốn thấy không?”
Mắt nó trợn lên, to thật to, và trong con ngươi đen kịt to như quả bóng mềm ấy, Richie trông thấy thứ bóng tối điên khùng hẳn chỉ tồn tại ở ngoài rìa vũ trụ; anh trông thấy cảm giác sung sướng khốn kiếp, đủ sức khiến anh phát điên. Trong khoảnh khắc ấy, anh chợt hiểu Nó có thể làm những điều trên và thậm chí còn hơn cả thế.
Nhưng rồi anh lại nghe thấy miệng mình cất tiếng, có điều lần này không phải giọng anh hay bất cứ Giọng nói nào anh từng sáng tạo, cả trong quá khứ lẫn hiện tại, mà là một giọng nói anh chưa nghe thấy bao giờ. Về sau, anh tần ngần kể lại với nhóm bạn rằng đó là giọng Ông da đen Ham vui, âm vang đầy tự hào, vừa làm lố vừa the thé. “Để tao yên xem nào, tiên sư bố cái thằng hề da trắng to con kia! Đừng có giỡn mặt với tao, nghe chưa! Tao lão làng rồi, tao biết gân lên mà cãi lý! Tao có thừa thời gian, muốn gì được nấy, tao là dạng người đâu ra đấy, và dỏng tai lên mà nghe đây này, nếu mày không biến đi thì tao sẽ cho mày biết tay! Mày nghe thủng chưa, thằng lỗ hậu mặt trắng kia?”
Richie có cảm tưởng rằng gã hề đã rụt lại, nhưng anh không nán lại lâu để xác nhận điều này. Anh co giò chạy, khuỷu tay gập tới gập lui, áo bay phần phật ra sau, chẳng thèm quan tâm một ông bố vừa dừng chân để đứa con nhỏ được chiêm ngưỡng bức tượng Paul vừa chĩa ánh nhìn ái ngại về phía anh, như thể anh vừa phát điên. Mà đúng là thế thật, thưa bà con cô bác, Richie thầm nghĩ, tôi thấy tôi phát điên rồi đây. Ôi Chúa, hay là như vậy nhỉ? Và hẳn đó là cú bắt chước Grandmaster Flash chói lọi nhất trong lịch sử, nhưng chí ít nó vẫn có tác dụng, run rủi thế nào đấy…
DJ và rapper nổi tiếng người Mỹ.
Và rồi giọng nói của gã hề rống lên phía sau anh. Mặc dù bố cậu bé không nghe thấy, song khuôn mặt đứa trẻ bỗng dưng cau lại xanh xám, rồi nó la lên khóc ầm ĩ. Ông bố bế đứa con mình lên, bối rối ôm vào lòng. Dù hãi hùng nhưng Richie vẫn thấy rõ cảnh ấy. Giọng của gã hề véo von vui tươi xen lẫn tức tối, hoặc có khi chỉ tức tối: “Bọn ta có một con mắt dưới này đấy, Richie… ngươi nghe không? Con mắt Biết bò. Nếu ngươi không muốn bay, ngươi không muốn nói lời tạm biệt, ngươi xuống dưới lòng đất thị trấn này và chào một tiếng thật to với con mắt khổng lồ đi nào! Xuống đây mà xem, khi nào cũng được. Bất cứ lúc nào ngươi muốn. Nghe thấy không, Richie? Đem cả yo-yo xuống đây. Bắt Beverly mặc cái váy thật to cùng bốn, năm lớp ván lót phía dưới. Bắt cô ta đeo nhẫn của chồng quanh cổ đi! Bắt Eddie mang đôi giày da chắp ấy đi! Chúng ta sẽ chơi chút nhạc, Richie! Chúng ta sẽ chơi TẤT TẦN TẬT NHỮNG BÀI NỔI NHẤT!”
Ra đến vỉa hè, Richie đánh liều quay đầu lại nhìn qua vai, và cảnh tượng anh trông thấy chẳng dễ chịu chút nào. Paul Bunyan không có ở đó, tên hề cũng đã biến mất. Chỗ bọn chúng đứng ban nãy được thế bởi bức tượng Buddy Holly bằng nhựa cao sáu mét. Bức tượng khoác một chiếc áo kẻ ô, trên ve áo có nút đề dòng chữ: BUỔI BIỂU DIỄN NHẠC ROCK “CHẾT SẠCH SÀNH SANH” CỦA RICHIE TOZIER.
Một bên gọng kính mà Buddy đeo được quấn băng keo.
Cậu bé kia vẫn hoảng loạn khóc ré lên; ông bố vội vã bước về phía trung tâm với cậu con bù lu bù loa trên tay. Anh ta né Richie như tránh tà.
Richie rảo bước
(chân ơi đừng làm ta thất vọng)
cố gắng không nghĩ đến
(chúng ta sẽ chơi TẤT TẦN TẬT NHỮNG BÀI NỔI NHẤT!)
những điều vừa xảy ra. Tất cả những gì anh muốn nghĩ đến là một ly Scotch thật mạnh mà chốc nữa anh sẽ uống ở quầy bar Nhà nghỉ Thị trấn Derry trước khi lên phòng đánh một giấc.
Nghĩ đến ly rượu – chỉ là thứ đồ uống hết sức bình thường - khiến anh cảm thấy khá hơn đôi chút. Nhìn qua vai lần nữa, trông thấy Paul Bunyan trở lại, nở nụ cười với bầu trời, rìu nhựa vác trên vai, anh cảm thấy khá hơn một chút. Richie bắt đầu bước nhanh hơn, hối hả đi càng xa bức tượng ấy càng tốt. Anh vừa manh nha nghĩ về khả năng mình bị ảo giác thì cơn đau lại nhói lên trong mắt anh, buốt và quằn quại, khiến anh phải rên lên khô khốc. Một cô gái trẻ xinh xắn đi phía trước, mơ màng nhìn mây bay, quay đầu nhìn anh, lừng khừng rồi vội tiến lại.
“Chú gì ơi, chú có sao không?”
“Kính của tôi,” anh nói, giọng lạc đi. “Kính áp tròng chết tiệt… Chúa ơi, đau quá! “
Lần này, anh đưa ngón trỏ lên nhanh đến độ suýt chút nữa chọc thẳng vào mắt mình. Anh kéo mí dưới xuống, nghĩ thầm trong đầu, Mình nháy mắt mà nó rơi ra mới lạ, thể nào cũng như vậy cho mà xem, mình sẽ không thể nháy mắt cho nó ra, và nó sẽ cứ đau như hoạn, đau điếng người, đau cùng cực cho đến khi mình mù mắt mù mắt mù m… Nhưng chỉ cần chớp một cái, kính đã rơi ra như bao lần vẫn thế. Thế giới sắc nét, sống động từng chi tiết, nơi màu sắc gọn đanh, nơi những khuôn mặt rõ mồn một, chợt biến mất. Thay vào đó là những dải mờ mịt. Mặc dù anh và cô bé nữ sinh trung học nhiệt tình hay lo mò mẫm trên vỉa hè gần mười lăm phút, họ vẫn không tìm ra được chiếc kính áp tròng nào.
Đằng sau, dường như Richie nghe thấy tiếng gã hề cười ré lên.
5
BILL DENBROUGH GẶP MA
Chiều hôm ấy, Bill không chạm trán với Pennywise nhưng anh thấy ma. Một con ma thực sự. Bill tin là thế, và không có sự kiện nào sau đó có thể khiến anh thay đổi suy nghĩ này.
Anh bước lên đường Witcham và dừng lại một lúc ở cống thoát nước nơi George từ giã cõi đời vào một ngày mưa tháng Mười năm 1957. Anh ngồi xổm, nhìn xuống cái cống cắt thẳng vào lề đường lát đá. Tim đập rộn trong lồng ngực nhưng anh vẫn nhìn.
“Ra đi, ngươi ra đây đi,” anh nói, giọng trầm trầm, và chẳng hiểu sao, anh có một ý tưởng không-điên-lắm rằng tiếng nói của anh đang trôi dọc theo đường cống đen đúa, ướt át, không dần mất đi mà cứ tiếp tục vang vọng, vang vọng, tự âm vang rồi tự đắp bồi, cứ thể bật lên những bức tường đá phủ rêu và máy móc chết từ lâu. Anh cảm thấy nó trôi trên dòng nước tĩnh lặng, tù đọng, khe khẽ chảy từ hàng trăm cái cống khác nhau từ nhiều vùng trong thị trấn cùng lúc.
“Ra khỏi đó đi, nếu không bọn ta sẽ vào trong và l-lôi ngươi ra.”
Anh căng thẳng đợi lời đáp, ngồi xổm với hai cánh tay kẹp giữa đùi như cầu thủ bắt bóng ngồi đợi đến hiệp ném. Chẳng có lời nào đáp lại.
Anh đang dợm đứng lên thì một bóng người đổ lên anh.
Bill ngước nhìn, thần kinh căng lên, tập trung hết sức, lên tinh thần cho mọi sự… nhưng hóa ra đó chỉ là một đứa trẻ, chừng mười, mười một tuổi. Cậu bé mặc quần lửng của Hướng đạo sinh, để lộ hai đầu gối xây xát. Một tay cậu nhóc cầm kem ống, tay kia vác theo ván trượt Fiberglass nhìn cũng tả tơi chẳng thua kém gì đầu gối cậu. Kem ống có màu cam dạ quang. Còn ván trượt có màu xanh lá cây dạ quang.
“Lúc nào chú cũng nói chuyện vào cống nước thải ạ?” Cậu bé lên tiếng.
“Chỉ ở Derry mà thôi,” Bill đáp.
Họ nghiêm nghị nhìn nhau trong một thoáng rồi cùng nhau phá lên cười.
“Chú muốn hỏi cháu một c-câu hỏi ngớ ngẩn” Bill nói.
“Dạ” cậu bé đồng ý.
“Cháu có bao giờ ngh-nghe thấy tiếng gì dưới cống chưa?”
Cậu bé nhìn Bill như thể anh là đồ dở hơi.
“Đ-Được rồi,” Bill gạt đi. “Cứ quên câu chú vừa h-hỏi đi nhé.”
Anh vừa quay lưng đi, bước được khoảng chừng hơn chục bước chân – hướng lên đồi, mơ hồ nghĩ có khi mình sẽ thăm lại căn nhà năm xưa – thì cậu bé cất tiếng gọi, “Chú ơi?”
Bill quay lại. Anh móc chiếc áo vest vào ngón tay, choàng qua vai. Cổ áo đã được cởi nút, cà vạt nới lỏng. Cậu bé quan sát anh với vẻ dè chừng, như thể chưa gì mà cậu đã hối hận khi đánh liều nói nhiều hơn. Đoạn cậu nhún vai như muốn nói Ôi kệ phứt cho rồi .
“Dạ có.”
“Có ư?”
“Dạ phải.”
“Nó nói gì?”
“Cháu không biết. Nó nói thứ tiếng lạ lắm. Cháu nghe thấy tiếng động phát ra từ một trạm bơm dưới Vùng Đất Cằn. Một trong những trạm bơm trông như ống nước vươn ra từ lòng đất…”
“Chú hiểu ý cháu rồi. Cháu nghe thấy giọng trẻ con à?”
“Ban đầu là giọng trẻ con, nhưng rồi nghe như giọng người lớn.” Cậu bé dừng lại. “Cháu sợ lắm. Cháu chạy về nhà, kể với bố. Bố cháu bảo đó có thể là tiếng vọng hay gì đó thôi, vẳng lại từ đường ống nhà dân.”
“Cháu có tin là thế không?”
Cậu bé cười duyên dáng. “Cháu đọc trong cuốn sách Chuyện khó tin của Ripley về một người phát nhạc từ hàm răng kia mà. Nhạc ra-đi-ô ấy ạ. Bên trong người này như thể chứa đầy những chiếc ra-đi-ô nhỏ. Cháu nghĩ cháu tin được chuyện đó thì chuyện gì cháu cũng có thể tin.”
“À-À há” Bill nói. “Nhưng cháu có tin không?” Cậu bé lưỡng lự lắc đầu.
“Cháu có nghe thấy những tiếng nói đó thêm lần nào nữa không?”
“Có một lần lúc cháu đang tắm,” cậu bé kể. “Tiếng của một bạn gái, chỉ khóc chứ không nói gì. Lúc tắm xong, cháu sợ không dám giật nút xả nước vì cháu nghĩ, chú biết đấy, nhỡ đâu cháu làm bạn ấy chết đuối.”
Bill lại gật đầu.
Cậu bé nhìn Bill cởi mở hơn, ánh mắt lấp lánh đầy hứng thú. “Chú biết về những giọng nói ấy ạ?”
“Chú từng nghe thấy rồi,” Bill đáp. “Cách đây rất, rất lâu rồi. Cháu có quen đ-đứa trẻ nào từng bị giết ở đây không, cậu bé?”
Ánh sáng lấp lánh trong mắt cậu bé tắt ngúm, thay vào đó là sự dè chừng và âu lo. “Bố cháu dặn không được nói chuyện với người lạ. Bố cháu nói kẻ sát nhân có thể là bất cứ ai.” Cậu bé lùi lại thêm một bước, bước vào trong bóng râm lấm tấm hoa nắng của cây du mà hai mươi bảy năm về trước, Bill từng tông thẳng xe đạp vào. Cậu ngã chổng vó, còn tay nắm thì cong quèo.
“Không phải chú đâu, cậu bé,” anh ôn tồn. “Chú ở Anh suốt bốn tháng vừa rồi. Chú mới về lại Derry hôm qua thôi.”
“Dù thế, cháu vẫn không việc gì phải nói chuyện với chú,” cậu bé đáp.
“Đúng vậy,” Bill đồng tình. “Đất nước này t-t-tự do mà.”
Cậu bé tần ngần rồi nói tiếp, “Cháu từng chơi với Johnny Feury. Cậu ấy tốt lắm. Cháu khóc quá trời,” cậu bé kể một cách ngắn gọn rồi liếm nốt cây kem ống của mình. Ngẫm nghĩ một lát, cậu bé thè chiếc lưỡi đang tạm hóa thành màu cam tươi của mình ra rồi liếm lên tay.
“Đừng lại gần cống rãnh và cống thoát nước,” Bill nhẹ nhàng nói. “Đừng lại gần những nơi trống trải hay bị bỏ hoang. Cũng né xa sân ga ra cháu nhé. Nhưng trên tất cả, quan trọng nhất là đừng lại gần cống rãnh và cống thoát nước.”
Tia sáng lại lấp lánh trong mắt cậu bé, suốt một lúc lâu, cậu chẳng nói lời nào. Đoạn: “Chú ơi, chú muốn nghe một câu chuyện buồn cười không ạ?”
“Ừ, cháu kể chú nghe xem nào.”
“Chú có biết bộ phim mà có con cá mập ăn thịt tất cả mọi người không ạ?”
“Có chứ, phim đó ai cũng biết cả. Là phim H-H-Hàm cá mập.”
Tên tiếng Việt của bộ phim kinh dị Mỹ Jaws.
“Chà, chú biết không, cháu có một người bạn. Tên cậu ấy là Tommy Vicananza, cậu ấy không sáng dạ cho lắm. Cậu ấy tích đồ chơi trên tầng áp mái đấy, chú hiểu ý cháu không?”
Ý nói cậu bé Tommy hơi khùng, không bình thường.
“Ừ.”
“Cậu ấy nghĩ cậu ấy trông thấy cá mập trong Kênh Đào chú ạ. Vài tuần trước, cậu ấy đến công viên Bassey một mình vào buổi tối và cậu ấy kể mình trông thấy vây cá mập. Cậu ấy nói nó cao đến hai mét rưỡi, ba mét. Vây cá thôi mà đã cao đến mức đó rồi, chú thấy kinh khủng không? Cậu ấy nói, ‘Đó là thứ đã giết chết Johnny và những đứa trẻ khác. Thủ phạm là Hàm cá mập, tớ biết vì tớ đã thấy tận mắt mà.’ Thế là cháu bèn đáp, ‘Kênh Đào ấy ô nhiễm đến độ chẳng có gì sống nổi trong đó đâu, cả cá tuế cũng thế. Vậy mà cậu nói cậu thấy Hàm cá mập trong đó. Cậu là loại tích đồ chơi trên tầng áp mái, Tommy.’ Tommy nói nó nhào lên khỏi mặt nước như khúc cuối phim rồi cố đớp lấy cậu ấy, may sao cậu ấy lùi lại kịp. Chú thấy có buồn cười không?”
“Buồn cười thật,” Bill gật gù.
“Đúng là loại tích đồ chơi trên tầng áp mái, chú nhỉ?”
Bill ngần ngừ. “Cháu hãy tránh xa Kênh Đào ra nhé. Cháu có nghe không?”
“Ý chú là chú tin chuyện này ạ?”
Bill lừng khừng. Anh toan nhún vai nhưng lại gật đầu.
Cậu bé trút ra một hơi thở khe khẽ, phì phì. Cậu cúi đầu như lấy làm xấu hổ. “Vâng. Thỉnh thoảng cháu cứ nghĩ chắc cháu cũng là loại tích đồ chơi trên tầng áp mái.”
“Chú hiểu ý của cháu.” Bill bước đến chỗ đứa trẻ, cậu bé ngước nhìn anh với ánh mắt nghiêm nghị, nhưng lần này cậu không lùi ra xa. “Cháu trượt ván thế nào mà đầu gối trầy trụa cả rồi kìa.”
Cậu bé liếc nhìn đầu gối xây xát của mình rồi toét miệng cười. “Dạ, cháu cũng thấy thế. Thỉnh thoảng cháu lại vồ ếch.”
“Chú thử được không?” Bill chợt hỏi.
Cậu bé nhìn anh, đầu tiên, miệng cậu há hốc, đoạn cậu cười toe. “Chắc sẽ vui lắm,” cậu nói. “Cháu chưa thấy người lớn nào trượt ván cả.”
“Chú sẽ cho cháu hai mươi lăm xu,” Bill nói.
“Bố cháu dặn…”
“Không bao giờ nhận tiền hay k-kẹo của người lạ. Lời khuyên đúng đắn đấy. Nhưng chú vẫn sẽ cho cháu hai mươi lăm xu. Cháu thấy sao? Đến góc đường J-Jackson thôi.”
“Bỏ qua hai mươi lăm xu đi ạ,” cậu bé nói. Cậu lại phá lên cười – tiếng cười giòn giã, chân phương. Một âm thanh thật trong trẻo. “Cháu không cần hai mươi lăm xu của chú đầu. Cháu có hai đồng rồi. Tính ra cháu cũng giàu chứ bộ. Nhưng cháu phải nhìn cảnh này. Có điều, nếu chú gãy cái gì cũng không được đổ cho cháu đâu đấy.”
“Đừng lo,” Bill nói. “Chú có bảo hiểm rồi.”
Anh lấy tay quay quay một bánh xe trầy xước, ưng ý trước độ trơn tru của nó – bánh xe phát ra tiếng như thể có cả triệu vòng bi bên trong. Âm thanh rất chắc. Nó gợi trong lòng Bill cảm giác thật xưa cũ. Một sự hào hứng ấm áp như ước ao, dễ thương như tình yêu. Anh mỉm cười.
“Chú thấy thế nào ạ?” Cậu bé hỏi.
“Chú nghĩ chắc chú v-về chầu ông bà mất,” Bill nói, và cậu bé cười ha hả.
Bill đặt ván trượt lên vỉa hè và đặt một chân lên. Anh thử đẩy nó tới lui. Cậu bé say sưa nhìn. Trong tâm trí, Bill thấy mình đang trượt ván xuống đường Witcham, thắng vào đường Jackson trên cái ván trượt màu xanh bơ, ve áo anh căng phồng như bóng bay ra sau, cái đầu hói chói chang dưới vầng dương, đầu gối gập xuống một cách rủi ro như những cô gái gập đầu gối vào ngày đầu tiên trượt tuyết trên sườn đồi. Chỉ nhìn cái tướng ấy thôi là đủ biết trong đầu, chưa gì họ đã mường tượng cảnh mình bị ngã. Anh dám cá cậu bé kia không trượt ván theo kiểu đó. Anh dám cá cậu bé trượt ván
(để đánh bại quỷ dữ)
như thể chẳng có ngày mai.
Cảm giác phơi phới lụi tàn trong lồng ngực anh. Anh hình dung, rõ từng chi tiết, tấm ván trượt khỏi chân anh, lao như tên bắn dọc theo con đường, một thứ màu xanh dạ quang tưởng chừng vô thực, một thứ màu mà chỉ trẻ con mới thích mê đến thế. Anh trông thấy mình sẽ ngã dập mông xuống đất, hoặc có khi đập nguyên cả bản lưng. Cảnh tượng ấy mờ dần và chuyển sang cảnh phòng riêng Bệnh viện Derry, như căn phòng ngày xưa họ từng đến thăm Eddie sau khi cậu bị gãy tay. Bill Denbrough sẽ bó bột từ đầu đến chân, một chân được treo lên bằng ròng rọc và dây. Bác sĩ bước vào, nhìn biểu đồ, nhìn anh, rồi phát biểu: “Anh gây ra hai lỗi chính, anh Denbrough. Một là không sử dụng ván trượt đúng cách. Hai là anh quên mất mình sắp chạm đến tuổi tứ tuần.”
Anh cúi xuống, nhặt ván trượt lên và đưa nó lại cho cậu bé. “Thôi, chắc chú không trượt nữa,” anh nói.
“Chú gà quá,” cậu bé nói vô tư lự.
Bill kẹp ngón cái vào nách rồi đập khuỷu tay. “Ò ó o o,” anh nói.
Cậu bé cười. “Chú ơi, cháu phải về nhà đây.”
“Trượt ván cẩn thận đấy nhé,” Bill dặn.
“Trượt ván sao mà cẩn thận được ạ,” cậu bé đáp, nhìn Bill như thể anh là loại người tích đồ chơi trên tầng áp mái.
“Cũng đúng” Bill nói. “Được rồi. Trong ngành điện ảnh, bọn chú hay nói tôi nghe anh rồi. Nhưng nhớ tránh xa cống rãnh thoát nước đấy. Và luôn đi cùng bạn bè cháu nhé.”
Cậu bé gật đầu. “Cháu chơi ngay sát nhà ấy mà.”
Em trai chú cũng thế, Bill thầm nhủ.
“Dù gì mọi chuyện cũng sẽ sớm qua,” Bill bảo cậu bé.
“Vậy hả chú?” Cậu hỏi.
“Chú nghĩ thế.” Bill gọn lỏn.
“Dạ. Gặp chú sau nhé… chú gà!”
Cậu bé đặt một chân lên ván trượt rồi dùng chân còn lại đẩy người đi. Khi đã có đà, cậu bé đặt nốt chân còn lại lên tấm ván rồi lao như tên bắn xuống con đường với tốc độ mà Bill thấy chẳng khác nào tự sát. Nhưng cậu bé lướt đi đúng như những gì Bill mường tượng: vừa thong dong, lại có chút gì đó bất cần. Bill thấy dậy trong lòng mình tình thương dành cho cậu bé, và hồ hởi, và khát khao được là cậu bé ấy, cùng nỗi sợ hãi gần như ngạt thở. Cậu bé trượt ván như thể trên đời này chẳng có chết chóc, cũng chẳng có già đi. Cậu bé tựa hồ một hình hài vĩnh hằng, bất khả chiến bại trong chiếc quần lửng Hướng đạo sinh bằng ka ki và đôi giày xước xát, chân không mang vớ, lấm bẩn, mái tóc bay ngược ra sau.
Cẩn thận, nhóc ơi, coi chừng tông ở khúc quanh kia bây giờ! Bill nghĩ trong đầu, hơi hoảng hốt, nhưng cậu bé nhún hông sang phải như một nghệ sĩ biểu diễn break dance, chân xoay trên tấm ván trượt Fiberclass, vòng qua con dốc một cách dễ dàng rồi chạy thẳng vào đường Jackson, tựa như cậu đinh ninh chẳng có ai bất ngờ cắt ngang đường của cậu. Nhóc à, Bill thầm nhủ, không phải khi nào cũng như vậy được đâu.
Anh bước đến căn nhà cũ của gia đình mình năm xưa nhưng không dừng lại, anh chỉ hạ tốc độ xuống như một người đang đúng đỉnh tản bộ. Trong sân đang có người – một bà mẹ ngồi trên chiếc ghế xếp, tay bồng đứa con đang say ngủ, mắt dõi theo hai con lớn, đứa mười tuổi và đứa tám tuổi, chơi đánh cầu trong bãi cỏ vẫn còn ướt do trận mưa ban nãy. Đứa nhỏ hơn, một bé trai, đánh cầu bay vèo qua lưới và được mẹ khen: “Đánh hay lắm, Sean!”
Căn nhà vẫn giữ nguyên màu sơn xanh lá cây đậm như năm xưa, vẫn có khung cửa sổ hình bán nguyệt phía trên cửa ra vào, nhưng những luống hoa của mẹ anh đã không còn nữa. Từ những gì anh thấy, giàn leo trèo mà bố anh dựng từ những cái ống gom góp được ở sân sau cũng đã thuộc về thời quá vãng. Anh nhớ cái ngày Georgie rơi từ trên đỉnh giàn leo xuống, mẻ cả răng. Lúc ấy, em trai anh đã la hét điếc cả lỗ tai!
Nhìn khung cảnh ấy (thứ còn, thứ mất), anh chợt nảy ra ý tưởng bước đến chỗ người phụ nữ đang bế đứa trẻ trong tay. Anh nghĩ đến chuyện lên tiếng Chào cô, tên của tôi là Bill Denbrough. Ngày xưa tôi sống ở đây. Và người phụ nữ sẽ đáp, Thế thì hay quá. Còn gì nữa không nhỉ? Hay anh hỏi cô liệu khuôn mặt anh từng tỉ mẩn khắc lên thanh đà ở tầng áp mái – khuôn mặt mà nhiều khi anh và Georgie lại lấy làm đích để phóng phi tiêu – có còn hay không? Hay anh hỏi cô liệu thỉnh thoảng những đứa con của cô có ra hiên sau mà ngủ vào những đêm hè oi bức khó chịu, thì thầm trò chuyện với nhau trong lúc ngắm nhìn sét nhiệt nhảy múa ở chân trời hay không? Anh đoán anh có thể hỏi một số câu như thế, nhưng anh cũng có cảm giác anh sẽ lắp ba lắp bắp nếu mình cố tỏ ra lịch lãm… mà thật sự, anh có ham hố muốn biết câu trả lời cho những câu hỏi ấy không? Sau khi Georgie chết, căn nhà đó đã hóa thành chốn lạnh lẽo, và dù anh có trở về Derry thì đây cũng không phải lý do.
Vì thế, anh đi đến góc đường và rẽ phải mà không buồn nhìn lại.
Chốc sau, anh ra đến đường Kansas, hướng trở lại trung tâm thị trấn. Anh dừng chân một lát ở hàng rào bao quanh vỉa hè, nhìn thẳng xuống Vùng Đất Cằn. Hàng rào vẫn như năm xưa, dựng bằng gỗ xập xệ, lớp vôi trắng bạc màu, Vùng Đất Cằn cũng thế… có chăng thì chỉ là trông nó rậm rì hơn mà thôi. Khác biệt duy nhất mà anh trông thấy là phần khói bụi bẩn thỉu đánh dấu vị trí bãi rác thị trấn đã không còn (bãi rác được thay thế bằng một nhà máy xử lý rác thải hiện đại) và một cây cầu vượt rất dài băng qua khu vực um tùm cây cỏ - phần xa lộ nối dài. Những thứ khác quá đỗi quen thuộc, tựa hồ lần cuối anh trông thấy mới là mùa hè năm ngoái thôi: vẫn là cỏ dại và cây bụi men theo triền dốc chạy thẳng xuống vùng bùn lầy bằng phẳng phía bên trái, còn bên phải là những bụi cây khô cằn. Anh có thể thấy những rặng cây mà bọn họ từng gọi là khóm tre, thân cây trắng bạc, cao ba mét rưỡi đến bốn mét. Anh nhớ có lần Richie còn thử hít loài cây này, cậu bảo nó giống thứ các nghệ sĩ nhạc jazz hay hít, hít vào sẽ rất phê. Nhưng phê đâu chẳng thấy, chỉ thấy Richie đổ bệnh.
Bill có thể nghe thấy tiếng nước róc rách trong những con suối nhỏ, nhìn thấy mặt trời loang loáng trên phần sông Kenduskeag rộng rãi. Thứ mùi vẫn như xưa, dù bãi rác không còn. Mùi hương nồng của vạn vật sinh sôi nảy nở vào giữa độ xuân cũng không thể át đi mùi rác rến và xú uế của con người. Tuy nhạt nhưng không thể nhầm đi đâu được. Đó là thứ mùi thối rữa, thứ mùi xộc lên từ đáy.
Đó là nơi ngày trước mọi chuyện từng kết thúc, và lần này, đó cũng sẽ là nơi mọi thứ đi đến hồi kết, Bill rùng mình nghĩ. Ở kia… bên dưới thị trấn.
Anh ngây người hồi lâu, dám chắc mình sẽ trông thấy thứ gì đó – sự hiện hình – của ma quỷ mà anh quay về Derry để chiến đấu. Nhưng chẳng có gì cả. Anh nghe thấy tiếng nước chảy, một âm thanh thấm đượm mùa xuân và sức sống, gợi cho anh nhớ lại con đập ngày xưa họ từng xây. Anh có thể hình dung cảnh cây cỏ xào xạc trong cơn gió mơn man. Không có gì khác. Không một tín hiệu. Anh bước tiếp, vừa đi vừa phủi lớp vôi bám vào tay.
Anh tiếp tục đi xuống phố, nửa nhớ về chuyện xưa nửa mơ màng, và trông thấy một đứa trẻ – lần này là một cô bé chừng mười tuổi mặc quần nhung kẻ cạp cao và áo cánh màu đỏ bạc màu. Cô bé một tay đập quả bóng lên xuống, tay kia nắm mái tóc vàng của con búp bê.
“Chào cháu!” Bill lên tiếng.
Cô bé ngước lên. “Sao ạ?”
“Cửa tiệm nào hay nhất ở Derry nhỉ?”
Cô bé ngẫm nghĩ. “Với cháu hay với mọi người ạ?”
“Với cháu,” Bill nói.
“Hoa hồng Si, Quần áo Si,” cô bé nói không chút lưỡng lự.
“Cháu vui lòng nhắc lại được không?” Bill hỏi.
“Vui lòng là sao ạ?”
“Ý chú hỏi, đó là tên của cửa tiệm sao?”
“Dạ phải,” cô bé đáp, nhìn Bill như thể anh là một kẻ ngớ ngẩn, “ Hoa hồng Si, Quần áo Si . Mẹ cháu nói nó như tiệm bán rác rến nhưng cháu rất thích. Họ bán những món đồ cũ. Ví dụ như những đĩa hát lạ hoắc lạ huơ. Hay bưu thiếp chẳng hạn. Tiệm có mùi như tầng áp mái. Mà cháu phải về nhà đây. Chào chú.”
Cô bé đi tiếp, không buồn nhìn lại, nảy nảy quả bóng và nắm tóc con búp bê.
“Này!” Anh gọi với theo cô bé.
Cô bé quay lại đầy khó chịu. “Chú vui lòng nói đi ạ?”
“Cửa tiệm! Nó ở đâu thế?”
Cô bé nhìn qua vai và đáp, “Chú đi đúng hướng rồi đấy. Nó ở cuối đồi Dặm Trên.”
Bill cảm thấy quá khứ như đang vồ vập, ồ ạt ùa vào anh. Anh không chủ định hỏi cô bé bất cứ điều gì, câu hỏi cứ thế tự bật ra từ miệng anh như nút bần bật từ chai sâm panh.
Anh đi xuống đổi Dặm Trên, về phía trung tâm thị trấn. Kho hàng và nhà máy đóng gói từng nằm trong ký ức anh thuở bé – những tòa nhà bằng gạch u ám với khung cửa sổ bẩn thỉu phả ra mùi thịt tươi nồng nặc - đã mất gần hết, dù nhà máy Armour và nhà máy Star Beef vẫn còn đó. Nhà máy Hemphill không còn, thế chỗ nhà máy Eagle Beef và Kosher Meats là một ngân hàng cùng một tiệm bánh. Và kia, nơi ngày trước Xưởng phụ của Anh em Tracker từng tọa lạc là một tấm biển sơn theo kiểu cổ đề HOA HỒNG SI, QUẦN ÁO SI, đúng như cô bé cầm búp bê kia vừa nói. Gạch đỏ đã được sơn lại màu vàng, có thể mười hay mười hai năm trước từng rất sặc sỡ, nhưng giờ đã xỉn màu – một thứ màu mà Audra hay gọi là màu vàng nước tiểu.
Bill chậm rãi tiến đến cửa tiệm, cảm nhận cảm giác déjà vu ập đến. Về sau, anh kể với mọi người rằng anh đã linh cảm mình sẽ thấy ma trước khi tận mắt trông thấy.
Cửa kính trưng bày của Hoa hồng Si, Quần áo Si không chỉ xỉn màu mà còn dơ dáy. Chẳng hề tươm tất như một cửa tiệm đồ cổ vùng Đông Bắc này, với giường cổ, tủ Hoosier và những bộ muỗng đĩa thủy tinh thời Đại khủng hoảng ánh lên dưới ngọn đèn âm tường, đây là một cửa tiệm mà mẹ anh khinh bỉ ra mặt đặt cho cái tên “tiệm cầm đồ Yankee”. Các món đồ để lộn xộn, ngổn ngang, mỗi góc một thứ, bừa bộn khắp nơi. Váy vóc chồng chất trên móc. Đàn ghi-ta treo như tội phạm bị hành quyết. Có một chiếc hộp đựng đĩa bốn mươi lăm vòng một phút – tấm biển đề 10 XU MỘT ĐĨA. 12 ĐĨA MỘT ĐÔ, ANDREWS SISTERS, PERRY COMO, JIMMY ROGERS, VÂN VÂN. Quần áo trẻ em và những đôi giày trông phát gớm được bày bán với tấm bìa các-tông phía trước để HÀNG SI NHƯNG KHÔNG TỆ! 1 ĐÔ MỘT BỘ. Có hai chiếc ti vi tắt ngúm. Chiếc ti vi thứ ba chiều những hình ảnh mờ căm của chương trình Bữa xế nhà Brady ra ngoài đường. Một hộp đựng sách cũ, đa phần đã long hết bìa (2 CUỐN 25 XU, 10 CUỐN GIÁ 1 ĐÔ, BÊN TRONG VẪN CÒN, NHIỀU CUỐN RẤT “HOT”) đặt trên chiếc ra-đi-ô lớn với lớp vỏ nhựa trắng bẩn thỉu và núm xoay to như đồng hồ báo thức. Một đống hoa giả bằng nhựa cắm trong những bình bông dơ dáy trên chiếc bàn ăn gỉ sét, sứt mẻ, lỗ chỗ.
Tất cả những món đồ tả pín lù kia như làm nền cho thứ mà hai mắt Bill ngay lập tức dán chặt vào. Anh đứng ngây ra nhìn chằm chằm, trợn trừng, không thể tin vào mắt mình. Da gà da vịt nổi lên khắp người anh. Trán anh nóng bừng, tay anh lạnh ngắt, và trong một khắc, tưởng chừng mọi cánh cửa bên trong anh sẽ bật mở, để rồi anh sẽ nhớ lại tất cả.
Ánh Bạc ở ngay cửa sổ bên phải.
Nó vẫn mất chân chống như xưa, thanh chắn trước và sau đã gỉ sét, nhưng cái còi toe toe vẫn gắn trên tay nắm, bóng chuỗi cao su đã nứt nẻ và xuống cấp. Cái còi ngày xưa Bill lúc nào cũng chà sáng bóng giờ đây xỉn màu và trầy xước. Giá chở hàng thẳng thớm mà Richie hay ngồi vẫn còn đó, nhưng giờ nó cong vẹo, chỉ còn được giữ bằng một cái bu lông. Ai đó đã bọc yên xe với họa tiết da hổ, nhưng giờ lớp bọc đã mòn và sờn đến độ vằn vện gần như nhạt nhòa hết cả.
Ánh Bạc.
Bill đưa tay lên gạt đi những giọt lệ chầm chậm chảy xuống hai má. Sau khi lấy khăn mùi xoa lau cho sạch, anh bước vào trong.
Không gian cửa tiệm Hoa hồng Si, Quần áo Si ẩm thấp thứ mùi năm tháng. Giống cô bé nói ban nãy, đây là mùi của tầng áp mái - nhưng thứ mùi ấy không dễ chịu như một số nơi hay có. Nó không có mùi dầu lanh chà lên mặt bàn cũ hay mùi nhung lông ngày xưa. Ở đây phảng phất thứ mùi gáy sách mục nát, nệm vải nylon dơ dáy, bạc màu dưới ánh nắng hè nóng như thiêu, mùi bụi và phân chuột.
Từ chiếc ti vi trưng bày ở cửa sổ, chương trình Bữa xế nhà Brady phát ra tiếng cười nói rộn ràng. Không chịu lép vế, đâu đó phía sau vang lên tiếng ra-đi-ô của một phát thanh viên tự giới thiệu mình là “anh bạn Bobby Russell chí cốt của bạn” hứa hẹn sẽ tặng album mới của Prince cho thính giả có thể nói đúng tên diễn viên đóng vai Wally trong bộ phim Cứ để Beaver lo . Bill biết câu trả lời – là một diễn viên nhí mang tên Tony Dow – nhưng anh chẳng ham album mới của Prince. Chiếc ra-đi-ô được đặt trên kệ cao giữa những bức chân dung từ thế kỷ 19. Ngồi ngay bên dưới kệ là chủ tiệm, một người đàn ông trạc tứ tuần mặc quần jean thiết kế và áo lưới. Tóc vuốt ngược ra sau, thân thể anh ta ốm o gầy mòn như con cò ma. Chân anh này gác lên chiếc bàn chồng chất sổ và bành trướng bởi một máy tính tiền dạng cuộn xưa như Trái Đất. Anh ta đang đọc một cuốn tiểu thuyết mà Bill đoán hẳn chưa bao giờ được đề cử giải Pulitzer có tên là Khung công trường xây dựng . Trên sàn, trước bàn là một cây cột ba màu của tiệm cắt tóc, các sọc xoay đều, xoay đều tới vô hạn. Dây điện sờn rách ngoằn ngoèo trên sàn, nối đến ổ cắm trên tường như con rắn mệt mỏi. Phía trước trưng tấm bảng đề HIẾM CÓ KHÓ TÌM! $250.
Khi chuông treo trên cửa rung lên, người chủ ngồi sau bàn gập bìa đánh dấu vào sách rồi ngước lên. “Anh cần gì?”
“Vâng,” Bill nói, mở miệng toan hỏi về chiếc xe đạp bày trong cửa sổ. Nhưng trước khi anh kịp lên tiếng, bỗng dưng tâm trí anh tràn ngập một câu văn ám ảnh, với những ngôn từ gạt đi mọi suy nghĩ khác:
Anh đấm tay vào cột nhà, la oai oái rằng mình gặp ma.
Nhân danh Chúa, cái gì đây ta?
(thịch)
“Anh có gì muốn tìm không?” Người chủ hỏi lại. Giọng tuy lịch thiệp nhưng anh ta nhìn Bill chằm chằm.
Anh ta đang nhìn mình, Bill nghĩ, lấy làm hứng thú dù hết sức căng thẳng, như thể anh ta biết mình đã hít một chút thứ khiến các nghệ sĩ nhạc jazz phê.
“Phải, tôi đang qu-qu-quan t-tâm đến…”
(đấm tay vào cột nhà)
”… đến c-cái h-h-h…”
“Ý anh là cột tiệm cắt tóc?” Đôi mắt của người chủ xuất hiện thứ mà ngay cả trong tình trạng rối bời hiện tại, Bill vẫn nhớ và vẫn ghét từ lúc còn bé: sự sốt ruột của một người, bất kể nam hay nữ, khi phải lắng nghe người cà lăm lắp bắp, sự nôn nóng muốn nhảy vào nói nốt suy nghĩ của đối phương và cho cái tên đáng tội nghiệp kia im ồm. Nhưng tôi không có cà lăm! Tôi đã đánh bại được nó! TÔI KHÔNG CÀ LÀM! TÔI…
(la oai oái)
Những câu chữ rõ mồn một trong đầu anh, tưởng chừng có ai đang nói chuyện trong đó, tưởng chừng anh như gã đàn ông bị quỷ ám từ thời Kinh Thánh - một kẻ bị thế lực Bên ngoài chiếm mất linh hồn. Nhưng anh vẫn nhận ra giọng nói ấy và biết đó là giọng của bản thân mình. Anh cảm thấy mồ hôi nóng hổi rịn trên mặt.
“Tôi có thể bán rẻ
(mình gặp ma)
cái cột ấy cho anh,” người chủ lên tiếng. “Nói thật với anh nhé, để 250 đô chẳng ai mua. Tôi sẽ bán cho anh với giá 175, anh thấy sao? Đó là món đồ cổ chất lượng nhất ở đây đấy.”
(cột nhà)
“CÁI CỘT,” Bill nói, gần như hét lên, làm ông chủ tiệm khẽ rúm lại. “Thứ tôi quan tâm không phải là cái cột .”
“Anh ổn không?” Anh ta hỏi. Giọng nói đầy quan tâm của anh này che giấu sự mệt mỏi trong mắt, và Bill trông thấy tay trái của đối phương rụt khỏi bàn. Không phải linh tính mách bảo mà là chút lanh lợi trong suy đoán cho anh biết khuất dưới tầm nhìn của anh là một ngăn kéo đang mở, và người chủ tiệm hẳn đã đặt tay lên khẩu súng. Có lẽ anh ta lo về trộm cướp, hoặc đơn giản, chỉ là lo mà thôi. Suy cho cùng, rõ ràng anh ta là dân đồng tính, mà đây lại là thị trấn với đám du côn từng cho Adrian Mellon lần tắm cuối cùng trước khi chết.
(anh đấm tay vào cột nhà, la oai oái rằng mình gặp ma)
Nó gạt đi mọi suy nghĩ, anh có cảm giác mình như phát điên. Nó đến từ đâu vậy nhỉ?
(anh đấm tay)
Nó lặp đi lặp lại không dứt.
Bất thình lình dồn hết sức bình sinh, Bill chống lại nó. Anh làm điều này bằng cách buộc đầu óc mình phải chuyển cái câu ngoại lai kia qua tiếng Pháp. Đó cũng là cách anh từng sử dụng để trị cái tật nói lắp lúc ở tuổi thiếu niên. Khi những con chữ kia diễu hành qua suy nghĩ, anh khoác cho chúng tấm áo mới… và bất ngờ, anh cảm thấy gọng kìm của tật nói lắp đã nới lỏng.
Anh nhận ra từ nãy đến giờ, chủ tiệm có nói gì đó.
“A-A-Anh nói gì cơ?”
“Tôi bảo nếu anh lên cơn thì ra ngoài đường mà làm. Tôi không muốn chuốc nợ vào thân ở đây.”
Bill hít một hơi thật sâu.
“Ta bắt đầu l-lại nhé,” anh đề nghị. “Hãy giả vờ tôi m-mới vào.”
“Được thôi,” anh ta đáp, xuôi xị. “Anh mới bước vào. Rồi giờ sao?”
“Chiếc x-xe đạp ở cửa,” Bill nói. “Anh muốn lấy giá bao nhiêu?
“Tôi lấy 29 đô.” Trông anh ta có vẻ dễ chịu hơn, nhưng tay trái anh ta vẫn chưa trở lại tầm nhìn. “Tôi nghĩ ngày trước nó là xe của hãng Schwinn, nhưng giờ nó thành hàng tạp chủng rồi.” Ánh mắt anh thăm dò Bill. “Xe rất to. Cỡ anh vẫn đi được.”
Nghĩ tới ván trượt xanh của cậu bé ban nãy, Bill nói, “Tôi nghĩ mình qu-qu-qua cái thời đạp xe rồi.”
Ông chủ tiệm nhún vai. Tay trái của anh ta cuối cùng cũng giơ lên. “Anh có con trai à?”
“V-Vâng.”
“Cậu bé bao nhiêu tuổi?”
“M-M-Mười một tuổi.”
“Chiếc này hơi to so với tuổi mười một đấy.”
“Anh có nhận séc du lịch không?”
“Chỉ cần không quá mười đô trên phần hàng mua là được.”
“Tôi có thể đưa anh hai mươi đô,” Bill nói. “Anh có phiền tôi gọi điện thoại không?”
“Nếu gọi trong vùng thì được.”
“Vâng.”
“Thế thì cứ tự nhiên.”
Bill gọi đến thư viện công cộng. Mike đang ở đó. “Cậu đang ở đâu vậy Bill?” Anh hỏi, đoạn lập tức hỏi thêm. “Cậu có ổn không?”
“Tớ ổn. Cậu gặp mọi người chưa?”
“Chưa. Chúng ta sẽ gặp nhau tối nay.” Đầu dây bên kia ngưng một lúc. “Đó là điều tớ mong. Tớ có thể giúp gì cho cậu, Bill To Bự?”
“Tớ đang mua một chiếc xe đạp,” Bill bình tĩnh nói. “Liệu tớ có thể đạp xe đến gửi nhà cậu không nhỉ? Cậu có ga-ra hay không gian để tớ gửi nhờ không?”
Đáp lại anh là im lặng. “Mike? Cậu có…”
“Tớ đây,” Mike lên tiếng. “Là Ánh Bạc phải không?”
Bill liếc nhìn người chủ tiệm. Anh ta đang tiếp tục đọc sách… hoặc ra vẻ chúi mũi vào sách nhưng vẫn vểnh tai lên nghe từng câu từng chữ anh nói.
“Ừ,” anh nói. “Cậu đang ở đâu vậy?”
“Tớ đang ở tiệm Hoa hồng Si, Quần áo Si.”
“Được rồi,” Mike nói. “Địa chỉ nhà tớ là 61 ngõ Palmer. Cậu cứ đi thẳng lên đường Chính…”
“Tớ tìm được.”
“Được rồi, vậy tớ gặp cậu ở nhà. Cậu muốn ăn lót dạ không?”
“Thế thì tốt quá. Cậu rời chỗ làm được không?”
“Không thành vấn đề. Carole sẽ trực thay tớ.” Mike lại ngần ngừ. “Cô ấy kể trước khi tớ về tầm một tiếng, có một người đàn ông bước vào. Sau đó anh ta đi ra mà mặt tái mét như vừa gặp ma. Tớ bảo cô ấy mô tả người đó, hóa ra là Ben”
“Cậu chắc chứ?”
“Ừ. Còn chiếc xe, nó là một phần luôn, phải không?”
“Tớ cũng nghĩ vậy,” Bill nói, mắt liếc người chủ tiệm vẫn đang ra vẻ say sưa đọc sách.
“Gặp cậu ở nhà tớ nhé,” Mike nói. “Số nhà 61. Đừng quên đấy.”
“Tớ nhớ rồi. Cảm ơn cậu nhé, Mike.”
“Chúa phù hộ cho cậu, Bill To Bự.”
Bill cúp máy. Chủ tiệm bèn gập cuốn sách lại. “Anh có chỗ chứa không, anh bạn?”
“Có.” Bill lấy séc du lịch ra ký hai mươi đô-la. Đối phương săm soi kiểm tra hai chữ ký đến độ nếu trong những tình cảnh tâm lý ít bị phân tán hơn, thể nào Bill cũng thấy hành động ấy khá lỗ mãng.
Rốt cuộc, người chủ tiệm cũng nguệch ngoạc hóa đơn bán hàng và thả tấm séc du lịch vào khay đựng tiền cũ. Anh ta đứng dậy, đặt hai tay ra sau xương cụt rồi vươn vai, đoạn bước đến trước cửa tiệm. Anh ta thoăn thoắt len lỏi giữa đống đồng nát và những món đồ sắp sửa thành đồng nát với một sự khoan thai mà Bill không khỏi ngưỡng mộ.
Anh ta nâng chiếc xe đạp, xoay xe rồi dắt nó ra ngoài không gian trưng bày. Bill giữ tay nắm để giúp anh ta, lúc ấy, bỗng dưng một cơn rùng mình quật qua người anh. Ánh Bạc. Lại tương phùng rồi. Ánh Bạc đang nằm trong tay anh và
(anh đấm tay vào cột nhà, la oai oái rằng mình gặp ma)
anh phải gạt suy nghĩ kia đi vì nó khiến anh cảm thấy nhẹ bẫng, kỳ cục.
“Bánh sau hơi mềm,” chủ tiệm nói (thành thật mà nói, nó phẳng lỳ như cái bánh dẹt). Bánh trước vẫn còn căng hơi, nhưng nó mòn đến độ nhiều chỗ lộ cả dây bên trong.
“Không vấn đề gì” Bill đáp.
“Giờ anh tự lo được chứ?”
(Ngày xưa, tôi lại nó rất lụa, nhưng giờ thì tôi không biết)
“Chắc vậy,” Bill nói. “Cảm ơn anh nhé.”
“Có gì đâu. Nếu anh muốn bàn về cây cột tiệm cắt tóc kia thì cứ quay lại đây.”
Chủ tiệm giữ cửa cho anh. Bill dắt chiếc xe ra ngoài, rẽ trái, đoạn bắt đầu đi lên đường Chính. Người qua đường trố mắt nhìn anh với vẻ tò mò và thích thú trước cảnh tượng một người đàn ông hói đầu đẩy chiếc xe quá khổ với bánh sau xẹp lép, chiếc kèn toe toe thò ra trên giỏ xe gỉ sét, nhưng Bill chẳng buồn quan tâm. Anh đang ngạc nhiên trước việc đôi tay khi đã trưởng thành của anh vẫn nắm vừa vặn tay nắm cao su, hồi tưởng lại ngày còn bé, anh cứ dự tính cột những dải dây bằng nhựa đủ màu vào phần lõm của tay cầm để chúng phất phơ trong gió. Nhưng chưa lần nào anh hiện thực hóa mong ước ấy.
Anh dừng ở góc đường Trung Tâm và đường Chính, bên ngoài tiệm Ông Bìa Mềm. Anh dựng xe dọc bức tường để cởi áo khoác. Đẩy chiếc xe xẹp lốp khoai lắm chứ chẳng chơi, đã vậy, chiều nay lại oi bức. Anh ném áo vào giỏ xe rồi tiếp tục đẩy.
Dây xích gỉ sét quá, anh nghĩ. Người nào ngày trước dùng xe mà chẳng biết giữ
(cậu nhóc này)
nó gì cả.
Anh khựng lại, cố nặn óc nhớ điều đã xảy ra với Ánh Bạc. Anh đã bán nó ư? Hay cho ai đó? Hoặc đánh mất chẳng hạn? Song anh chẳng nhớ ra. Thay vào đó, câu văn ngu ngốc
(anh đấm tay vào cột nhà, la oai oái rằng mình gặp ma)
lại nổi lên, lạ kỳ, lạc quẻ như một chiếc ghế tựa trong chiến trường, một máy chơi nhạc trong lò sưởi, một hàng bút chì chọc lên từ vỉa hè xi măng.
Bill lắc đầu. Câu văn kia vỡ ra rồi tản mát như khói sương. Anh đẩy Ánh Bạc đến nhà của Mike.
6
MIKE HANLON LIÊN KẾT
Nhưng trước hết, anh chuẩn bị bữa tối – anh làm bánh mì kẹp thịt với nấm xào hành và salad rau cải bó xôi. Trước đó, hai người hì hụi sửa chữa Ánh Bạc và giờ họ đói ngấu.
Căn nhà nhỏ gọn gàng được xây theo lối kiến trúc Cape Cod, sơn trắng với viền xanh. Lúc Bill đẩy Ánh Bạc tới ngõ Palmer thì Mike cũng mới về nhà. Anh ngồi sau bánh lái chiếc Ford cũ với thanh ba bô lê gỉ sét và cửa sổ sau bị nứt, để rồi Bill chợt nhớ điều mà Mike âm thầm chỉ ra: sáu thành viên của Hội Cùi Bắp rời khỏi Derry không còn là những kẻ cùi bắp nữa. Mike ở lại, và rớt lại đằng sau.
Bill đẩy Ánh Bạc vào ga-ra nhà Mike, một không gian sàn đất đổ dầu, chỗ nào chỗ nấy gọn gàng, ngăn nắp như phong thái căn nhà. Dụng cụ treo trên móc, đèn bọc bằng chụp thiếc trông như những ngọn đèn treo trên bàn bi da. Bill dựng xe đạp cạnh tường. Hai người bọn họ đút tay vào túi, lặng nhìn chiếc xe mà chẳng nói gì.
“Là Ánh Bạc, đúng rồi,” mãi lúc sau Mike mới lên tiếng. “Tớ cứ tưởng cậu nhầm. Nhưng đúng là chiếc xe ngày xưa rồi. Cậu định làm gì với nó?”
“Tớ mà biết thì tớ đâm đầu xuống đất. Cậu có bơm xe đạp không?”
“Có. Hình như tớ có cả bộ vá xe nữa kìa. Đây là lốp không săm à?”
“Trước là vậy.” Bill cúi xuống nhìn chiếc lốp xẹp lép. “Ừ. Lốp không săm.”
“Cậu chuẩn bị cưỡi nó trở lại à?”
“Tất nh-nhiên là không.” Bill dứt khoát. “Đơn giản là tớ không thích nhìn nó d-d-dựng ở đây mà xẹp lốp thế này.”
”Cậu nói gì cũng được, Bill To Bự. Cậu là trưởng nhóm mà.”
Bill đanh mặt quay lại nhìn, nhưng Mike đã đi ra bức tường phía sau ga-ra để lấy bơm xe. Anh lấy từ trong tủ một bộ vá xe bằng thiếc rồi đưa cho Bill trước ánh nhìn hăm hở của cậu bạn. Bộ vá xe vẫn giống y như ký ức anh thuở bé: hộp thiếc nhỏ với kích thước và hình dáng giống với chiếc hộp mà những người tự quấn thuốc lá hay thủ bên mình, ngoại trừ phần đầu sáng màu và sần sùi – ta dùng phần này để mài lớp cao su quanh chỗ thủng trước khi đặt miếng vá lên. Hộp nhìn mới tinh, bên trên dán mác giá Woolco đề 7,23 đô. Nếu anh nhớ không lầm, hồi anh còn bé, một bộ vá xe có giá chừng một đô hai mươi lăm xu.
“Không phải cậu có sẵn bộ đồ nghề này ở nhà nhỉ,” Bill nói, nhưng đó không phải câu hỏi.
“Đúng rồi,” Mike đồng tình. “Tớ mới mua tuần trước. Tớ đến cửa hàng mua ấy mà.”
“Cậu có xe đạp ư?”
“Không” Mike đáp, nhìn thẳng vào mắt anh.
“Cậu tình cờ muốn mua bộ vá xe này à?”
“Tự dưng tớ nổi hứng lên,” Mike gật gù, mắt anh vẫn dán vào mắt Bill. “Tớ thức giấc và nghĩ có khi nó lại cần thiết. Suy nghĩ ấy bám theo tớ cả ngày trời. Thế là… tớ mua thôi. Và giờ thì cậu sử dụng nó.”
“Và giờ thì tớ ở đây sử dụng nó,” Bill đồng tình. “Nhưng như người ta nói trong mấy bộ phim, tất cả có nghĩa là gì, hỡi cậu?”
“Hỏi mọi người xem sao,” Mike đáp. “Tối nay nhé.”
“Không biết tất cả có mặt không nhỉ, cậu nghĩ sao?”
“Tớ chịu, Bill To Bự.” Anh tư lự rồi nói thêm: “Tớ nghĩ vẫn có khả năng chúng ta sẽ không đến đông đủ. Có thể một hay hai người bọn họ quyết định rời khỏi thị trấn. Hoặc là…” Anh nhún vai.
“Nếu như vậy thì chúng ta làm sao?”
“Tớ không biết.” Mike chỉ vào bộ đồ nghề vá xe. “Tớ chi bảy đồng để mua đấy. Thế cậu có tính bắt tay vào dùng không hay chỉ đứng nhìn cho vui?”
Bill lấy áo khoác ra khỏi giỏ xe và cẩn thận treo nó lên đỉnh móc còn trống. Đoạn anh lật ngược Ánh Bạc để có thể ngồi tại chỗ và cẩn thận quay quay bánh sau. Anh không thích tiếng ken két trục xe phát ra do gỉ sét, và anh nhớ lại vòng bi của chiếc ván trượt mà cậu bé kia sở hữu chuyển động trơn tru gần như không phát ra tiếng động. Tra chút dầu ba trong một là gạo xay ra cám ngay, anh nghĩ.
Chắc cũng phải tra dầu vào dây xích. Nó gỉ sét quá… Cả mấy tấm thẻ nữa. Phải gắn mấy tấm thẻ lên nan hoa. Mike thể nào cũng có cho mà xem, những tấm thẻ loại tốt. Những tấm thẻ xe đạp, với lớp bọc celluloid làm chúng cứng cáp và trơn đến độ lần đầu tiên xào bài là y như rằng chúng sẽ vung vãi đầy sàn. Thẻ bài, đúng rồi, cả kẹp để cố định nữa…
Anh khựng lại, lạnh người.
Nhân danh Chúa, mày đang nghĩ cái quái gì vậy?
“Có chuyện gì à, Bill?” Mike nhẹ nhàng hỏi.
“Không có gì.” Những ngón tay của anh chạm vào một vật nhỏ, tròn và cứng. Anh dùng móng tay cầm bên dưới và giật ra. Đinh mũ nhỏ được lôi ra khỏi lốp. “Th-Th-Thủ phạm là đây,” anh nói, và câu văn kia lại không mời mà ngoi lên trong đầu anh, kỳ lạ, đầy sức mạnh: Anh đấm tay vào cột nhà, la oai oái rằng mình gặp ma. Nhưng lần này, giọng nói ấy, giọng của chính anh, lại được tiếp nối bằng giọng của mẹ anh: Thử lại xem, Billy. Lần đó, suýt chút nữa con làm được mà. Và Andy Devine trong vai Jingles bạn tri kỷ của Guy Madison, Này, Bill Hoang Dại ơi, đợi tôi với!
Anh rùng mình.
(cột nhà)
Anh lắc đầu. Giờ thì mình thậm chí không thể nói điều đó mà không lắp ba lắp bắp, anh thầm nghĩ, và trong một khắc, anh cảm thấy mình sắp sửa hiểu ra tất cả.
Và rồi nó lại biến mất.
Anh mở hộp đồ nghề và bắt tay vào công việc. Mất kha khá thời gian mới làm được đâu ra đấy. Mike dựa người vào tường trong ánh tà dương, tay áo xắn lên, cà vạt kéo thấp, khe khẽ huýt sáo giai điệu mà phải nghe một lúc Bill mới nhận ra đó là bài Nàng đem hóa học ra lòe tôi .
Trong lúc đợi miếng xi măng dán lốp khô lại, Bill tra dầu vào xích, nhông sên và trục xe của Ánh Bạc - anh tự nhủ mình chỉ làm cho đỡ buồn tay chân. Thế mà chiếc xe đạp trông cũng chẳng tươm tất hơn chút nào, nhưng khi quay bánh xe, anh thấy tiếng ken két đã biến mất, và như thế đã đủ khiến anh hài lòng. Suy cho cùng, Ánh Bạc cũng chẳng có cửa thắng cuộc thi sắc đẹp nào. Ưu điểm duy nhất của nó là có thể phi nhanh như chớp.
Đến lúc ấy, tức 5 giờ 30 phút chiều, anh gần như quên bẵng Mike có mặt ở đó mà toàn tâm toàn ý tập trung vào công cuộc bảo dưỡng tuy vụn vặt nhưng khiến bản thân hết sức mãn nguyện. Anh vặn đầu bơm vào van bánh sau và nhìn lốp xe phình lên, tự áng mức áp suất phù hợp. Anh hài lòng khi nhìn thấy miếng vá rất chắc chắn.
Khi đoán đã bơm đủ, anh tháo ống bơm, toan lật Ánh Bạc lại thì nghe thấy tiếng thẻ bài lạch phạch vang lên sau lưng. Anh xoay người, suýt chút nữa hất đổ chiếc xe.
Mike đang đứng đó với một bộ bài Bicycle có mặt sau màu xanh trên tay. “Cậu cần không?”
Bill trút một tiếng thở dài, run rẩy. “Chắc cậu có cả kẹp phải không?”
Mike lấy từ túi áo khoác bốn cái kẹp rồi chìa ra cho Bill thấy.
“Ch-Chắc cậu cũng tình cờ có kẹp ở đây à?”
“Ừ, đại loại là thế,” Mike đáp.
Bill nhận những tấm thẻ bài và tìm cách xóc chúng lên. Tay anh lẩy bẩy, khiến thẻ bài văng khỏi tay, vương vãi khắp nơi… nhưng chỉ có hai tấm lật ngửa. Bill nhìn chúng rồi lại nhìn sang Mike. Ánh nhìn của Mike đông cứng dán chặt vào hai tấm thẻ trên sàn. Môi anh méo xệch.
Hai tấm thẻ lật ngửa là hai quân át bích.
“Đó là điều không thể” Mike nói. “Tớ vừa mới mở bộ bài ra mà. Cậu nhìn xem.” Anh chỉ vào thùng rác bên trong cửa ga-ra, từ đó Bill trông thấy vỏ giấy bóng kính. “Làm thế nào mà một bộ bài lại có hai quân át bích được?”
Bill cúi xuống nhặt chúng lên. “Làm thế nào mà cậu đánh rơi bộ bài xuống sàn nhưng chỉ có hai lá lật ngửa được?” Anh nói. “Câu hỏi ấy còn…”
Anh lật hai quần át bích lên nhìn rồi đưa cho Mike xem. Một lá có mặt sau màu xanh, một lá màu đỏ.
“Lạy Chúa lòng lành, Mikey, cậu kéo cả bọn vào mớ gì vậy?”
“Cậu tính làm gì với chúng?” Mike hỏi, giọng tê dại.
“Thì gắn lên xe chứ sao,” Bill đáp rồi bỗng dưng phá lên cười. “Đó là điều mà tớ phải làm, chẳng phải thế sao? Nếu có những điều kiện tiên quyết để dùng ma thuật thì những điều kiện tiên quyết ấy sẽ tự sắp xếp sao cho ăn khớp. Đúng không?”
Mike không đáp lời. Anh nhìn Bill đi đến bánh sau của Ánh Bạc và gắn thẻ bài lên đó. Tay vẫn run lẩy bẩy nên mất một lúc tỉ mẩn anh mới làm xong. Hít một hơi thật sâu, anh nín thở và xoay bánh. Những chiếc thẻ bài quất vào nan hoa, lạch phạch kêu to trong không gian ga-ra tĩnh mịch.
“Đi nào,” Mike nhẹ nhàng nói. “Lên nhà đi, Bill To Bự. Tớ sẽ làm cho bọn mình chút gì đó bỏ bụng.”
Hai người ngấu nghiến chiếc bánh mì kẹp thịt rồi sau đó ngồi hút thuốc, ngắm nhìn hoàng hôn buông xuống đằng sau sân nhà Mike. Bill lấy ví ra, nhìn thấy danh thiếp của ai đó, anh bèn viết lên đó câu văn đã bám theo anh kể từ lúc anh nhìn thấy Ánh Bạc trưng bày trong cửa sổ của tiệm Hoa hồng Si, Quần áo Si. Anh đưa cho Mike xem, và Mike chăm chú đọc, môi mím chặt.
“Nó có gọi cho cậu điều gì không?” Bill hỏi.
“Anh đấm tay vào cột nhà, la oai oái rằng mình gặp ma” anh gật đầu. “Có, tớ biết nó là gì.”
“Vậy hãy nói cho tớ đi. Hay cậu lại định chơi tr-tr-trò để tớ tự tìm hiểu đấy hả?”
“Không đâu,” Mike nói. “Trong trường hợp này, tớ nghĩ tớ có nói với cậu cũng chẳng sao. Câu văn từ thời đại Anh, là một câu lắt léo được dùng làm bài tập cho những người mắc chứng nói ngọng hoặc nói lắp. Hè năm đó, mẹ cậu bắt cậu nói câu này liên tục. Mùa hè năm 1958 ấy. Đi đâu cậu cũng lẩm bẩm câu này mà.”
“Vậy sao?” Bill nói, và rồi anh chậm rãi trả lời câu hỏi của chính mình. “Đúng vậy thật.”
“Hẳn lúc đó, cậu rất muốn làm mẹ cậu vui.”
Chợt cảm thấy sống mũi cay cay, Bill lặng thinh gật đầu. Anh không nghĩ mình đủ bình tĩnh để lên tiếng.
“Nhưng cậu không thành công” Mike kể. “Tớ vẫn nhớ. Cậu cố hết sức nhưng lưỡi của cậu cứ ríu vào nhau.”
“Tớ nói được mà,” Bill phản đối. “Ít nhất là một lần.”
“Khi nào vậy?”
Bill đấm nắm tay xuống chiếc bàn đau điếng. “Tớ không nhớ!” Anh hét lên. Và anh bần thần lặp lại, “Chỉ là là tớ không nhớ thôi.”