GÃ HỀ MA QUÁI

Lượt đọc: 10377 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13
trận ném đá định mệnh
1

Bill đến đầu tiên. Anh ngồi trên chiếc ghế bành ngay bên trong cửa Phòng Đọc nhìn Mike giải quyết những vị khách cuối cùng của thư viện buổi tối hôm ấy – một cụ bà cầm theo chồng sách văn học Gothic, một người đàn ông cầm cuốn sách khổng lồ về Lịch sử Nội chiến cùng một cậu con trai gầy gò xếp hàng đợi mượn cuốn tiểu thuyết có dán mác cho mượn bảy ngày bên góc trên cùng của bìa nhựa. Bill nhìn mà chẳng có chút ngạc nhiên hay thần kỳ nào khi nhận ra đó chính là cuốn tiểu thuyết mới nhất của mình. Anh cảm thấy bất ngờ nằm ngoài tầm với của anh, còn thần kỳ là một thực tế mà ta tự huyễn hoặc để rồi nhận ra nó chỉ là giấc mộng.

Một cô gái xinh xắn, mặc váy ca rô giữ cố định bằng một kim băng vàng rất to (Chúa ơi, mấy năm rồi mình mới thấy kim băng, Bill thầm nghĩ, chúng thành xu hướng trở lại rồi sao?) đang bỏ giấy vào máy in Xerox và sao lại phiên bản bổ sung của cuốn sách, mắt dẫn theo dõi nhất cử nhất động của chiếc đồng hồ quả lắc đồ sộ đằng sau quầy mượn trả sách. Tiếng động nhẹ nhàng, dễ chịu điển hình của thư viện: tiếng gót giày, tiếng giày cao gót khẽ lóc cóc trên sàn nhà lót vải dầu họa tiết đen đỏ; tiếng đồng hồ đều đặn tích tắc điểm từng phút từng giây, tiếng máy in nghe như tiếng mèo gầm gừ.

Cậu thiếu niên cầm cuốn tiểu thuyết của William Denbrough đến chỗ cô gái đứng ở máy phô-tô lúc cô vừa làm xong và bắt đầu sắp xếp các trang giấy sao cho vuông vức.

“Cháu cứ để bản in bổ sung trên bàn nhé, Mary,” Mike nói. “Để chú cất cho.”

Cô gái nở nụ cười biết ơn. “Cảm ơn chú Hanlon.”

“Chúc cháu ngủ ngon. Cháu cũng ngủ ngon nhé, Billy. Hai đứa về nhà ngay đi.”

“Kẻo ông ba bị bắt cóc bây giờ… liệu… hồn!” Billy, cậu nhóc gầy gò ngân nga, đoạn vòng tay qua cái eo con kiến của cô bé.

“Chà, chú đoán ông ấy chẳng cần cặp đôi thấy mà ghê như hai đứa đâu,” Mike đùa, “nhưng cẩn tắc vô áy náy.”

“Bọn cháu sẽ về ngay, chú Hanlon,” Mary nghiêm nghị đáp, đoạn cô đấm yêu lên vai cậu bạn trai của mình. “Đi nào, thấy mà ghê,” cô nói rồi cười khúc khích. Khi cô bé làm thế, cô biến từ một cô nữ sinh trung học xinh xắn, với vài anh chàng trồng cây si thành cô bé Beverly Marsh mười một tuổi tràn đầy năng lượng, có chút vụng về ngày xưa… và khi hai đứa trẻ đi ngang qua, Bill thoáng rùng mình trước vẻ đẹp của cô bé… đồng thời, anh thấy sợ hãi; anh những muốn đến chỗ cậu thiếu niên chân thành kia khuyên cậu phải đi về nhà bằng con đường đèn đuốc sáng trưng, dù có ai bắt chuyện cũng không được ngó quanh quất.

Trượt ván sao mà cẩn thận được ạ, giọng nói ma mị vang lên trong đầu anh, để rồi Bill nở nụ cười của một người lớn phiền muộn.

Anh nhìn cậu mở cửa cho người yêu. Hai đứa trẻ cùng bước ra tiền sảnh, nhích lại gần nhau hơn, và Bill dám đem phí bản quyền của cuốn sách mà cậu nhóc tên Bill ấy đang cắp dưới nách rằng cậu vừa lén hôn cô bé trước khi mở cửa cho cô. Nếu không làm được thì cháu là đồ vứt đi, Billy ạ, anh thầm nhủ. Giờ thì đưa cô bé về nhà an toàn. Vì Chúa, hãy đưa bạn của mình về nhà an toàn cháu nhé!

Mike gọi anh, “Tớ vào với cậu ngay đây, Bill To Bự! Đợi tớ xếp xong hồ sơ đã nhé.” Bill gật đầu và bắt tréo chân. Túi giấy trong lòng anh khẽ loạt soạt. Bên trong để chai bourbon, và anh nhận ra cả đời anh chưa bao giờ muốn nhấp một ly như hiện tại. Mike có thể cho anh thêm chút nước, đá thì càng tốt – và theo như những gì anh cảm nhận hiện tại, châm một chút nước là đủ rồi.

Anh nghĩ về Ánh Bạc, chiếc xe đang tựa vào tường ga-ra của Mike ở ngõ Palmer. Từ đó, dòng suy nghĩ của anh trôi miên man về cái ngày họ gặp nhau ở Vùng Đất Cằn – chỉ thiếu mỗi Mike – mỗi người lại kể về câu chuyện mà mình gặp phải: gã hủi dưới hiên nhà; xác ướp bước trên băng, máu phọt ra từ lỗ thoát nước, những cậu bé chết trong Standpipe; bức hình chuyển động và Người sói đuổi theo bọn họ xuống con đường vắng.

Giờ thì anh đã nhớ ra, ngày hôm ấy, trước ngày 4 tháng 7 một ngày, họ đã đi sâu hơn vào Vùng Đất Cằn. Trong thị trấn rất oi bức, nhưng trong những bóng râm um tùm bên bờ phía Đông của con sông Kenduskeag thì vô cùng mát mẻ. Anh nhớ cách đó không xa là ống trụ bê tông, ầm ì kêu như chiếc máy Xerox lúc cô bé kia thao tác. Bill đã nhớ ra rồi, nhớ cả chi tiết sau khi mọi người kể hết mọi chuyện, họ quay sang nhìn anh ra sao.

Mọi người muốn anh nói cho họ biết họ nên làm gì tiếp theo, họ nên hành xử thế nào, nhưng anh nào có hay. Vì không biết mà lòng anh cảm thấy rối như tơ vò.

Nhìn bóng của Mike đổ xuống, to lớn trên bức tường kẻ ô tối màu trong phòng tham khảo, bất chợt một cảm giác chắc chắn ập đến: ngày ấy anh không biết là vì khi đối mặt với buổi chiều ngày 3 tháng 7, họ vẫn chưa hoàn thiện. Phải đến sau đó, sự hoàn thiện mới gõ cửa, ở bãi đá dăm bị bỏ hoang phía bên kia bãi rác, nơi ta có thể dễ dàng trèo ra khỏi Vùng Đất Cằn từ hai hướng: hướng đường Kansas hoặc đường Merit. Hiện tại, nó chính là vị trí của cầu vượt Liên tiểu bang. Bãi đá dăm không có tên; nó đã cũ lắm rồi, rìa bãi đá vụn bở, lác đác cỏ dại và bụi cây. Được cái, ở đó có thừa đạn dược - dư sức cho trận ném đá một mất một còn.

Nhưng trước đó, trên bờ sông Kenduskeag, cậu bé Bill chẳng biết nói gì – chúng bạn muốn cậu nói gì mới được? Còn bản thân cậu muốn nói gì? Anh nhớ mình đã đưa mắt nhìn từng khuôn mặt: Ben; Bev, Eddie; Stan; Richie. Và anh nhớ một bản nhạc. Richard Nhỏ Bé. “Whomp-bomp-a-lomp-bomp…” Âm nhạc. Ì ầm. Những tia sáng lóe lên trong mắt. Anh nhớ những tia sáng ấy là vì…

2

Richie treo đài xách tay lên cành thấp nhất của cái cây mà cậu đang tựa vào. Cả bọn đang ngồi trong bóng râm, nhưng mặt trời vẫn phản chiếu từ mặt sông Kenduskeag vào lớp vỏ crôm bọc đài, hay háy vào mắt Bill.

“B-Bỏ cái th-thứ đó x-x-xuống đi, R-R-Richie,” Bill nói. “Kẻo tớ m-mù b-b-bây giờ.”

“Được thôi, Bill To Bự,” Richie liền đáp, không láu táu chen thêm bất cứ lời nào và tháo đài khỏi cành cây. Cậu cũng tắt nó đi, nhưng Bill ước gì bạn mình không làm thế, bởi nó khiến sự tĩnh mịch, chỉ bị gián đoạn bởi tiếng nước róc rách và tiếng máy bơm nước thải ầm ì khe khẽ, trở nên thật to. Bọn họ đưa mắt dõi theo cậu, và cậu những muốn bảo họ nhìn qua chỗ khác, họ nghĩ cậu là gì, đồ quái dị chắc ?

Song tất nhiên, cậu không thể làm thế, bởi tất cả những gì nhóm bạn đang làm là đợi cậu nói cho họ biết hành động nên làm lúc này là gì. Họ đã phát hiện ra những điều khủng khiếp, và họ cần cậu cho họ định hướng. Tại sao lại là tớ? Cậu chỉ muốn hét vào mặt cả bọn, nhưng tất nhiên, cậu thừa hiểu lý do. Là vì dù thích hay không thích, cậu vẫn là người được lựa chọn cho vị trí ấy. Vì cậu là người đưa ra ý tưởng, vì cậu là người mất em trai mình vào tay thứ đó, nhưng phần nhiều là bởi cậu đã trở thành Bill To Bự, bằng những cách kỳ lạ mà bản thân cậu cũng chẳng tài nào hiểu hết.

Liếc nhìn Beverly, cậu vội quay đi trước sự tin cẩn đầy an tâm trong đôi mắt cô. Chẳng hiểu sao, cứ nhìn Beverly là cậu cảm thấy bụng mình chộn rộn, rung rinh không yên.

“Chúng ta kh-không thể đến gặp c-c-cảnh sát,” cuối cùng, cậu lên tiếng. Bản thân cậu nghe mà còn thấy giọng mình đanh lại, quá vang vọng. “Chúng ta cũng kh-kh-không thể nh-nhờ b-b-bố mẹ. Ngoại trừ…” Cậu nhìn Richie với nét mặt đầy hy vọng. “Còn b-b-bố m-mẹ cậu th-thì sao, bốn mắt? Hai bác c-có vẻ kh-khá b-b-bình thường.”

“Thưa quý thân hữu,” Richie bắt chước giọng Quản gia Toodles, “rõ ràng anh không hiểu gì về hai đấng phụ mẫu của tôi. Họ…”

“Nói tiếng Mỹ đi, Richie,” Eddie lên tiếng từ chỗ ngồi bên cạnh Ben. Cậu ngồi cạnh Ben đơn giản là vì Ben tạo bóng râm đủ lớn cho Eddie hưởng sái. Mặt cậu trông thỏ thó, quắt lại đầy âu lo - gương mặt của một ông già. Tay phải của cậu nắm chặt ống thở.

“Bố mẹ tớ sẽ đưa tớ vào Đồi Juniper thì có,” Richie nói. Hôm nay, cậu đeo cặp kính cũ. Hôm trước, một thằng bạn của Henry Bowers mang tên Card Jagermeyer đã rình Richie lúc cậu vừa rời khỏi Quầy kem Derry với que kem ốc quế vị hồ trăn trên tay. “Bắt được mày rồi nhé!” Jagermeyer, đô con hơn Richie gần hai mươi cân, hét toáng lên, hai tay khuỳnh lại, tông đánh rầm vào lưng Richie. Cậu bay thẳng xuống mương, đi tong cặp kính và que kem ốc quế. Tròng kính bên trái bể vụn khiến mẹ cậu nổi trận lôi đình, chẳng buồn đếm xỉa đến lời giải thích của Richie.

“Con đùa giỡn quá trớn rồi đấy,” bà nghiêm giọng. “Đến bó tay với con, Richie ạ, con tưởng kính mọc trên cây, hễ khi nào con làm bể thì mình chỉ việc tới đấy hái cặp kính mới hả?”

“Nhưng mẹ ơi, tại cậu ta đẩy con mà, nó rình sau lưng con, đã vậy còn to con nữa…” Đến lúc này, nước mắt Richie đã lưng tròng. Không giải thích cho mẹ hiểu được còn tổn thương hơn việc bị Card Jagermeyer, cái thằng đầu óc ngu si đến độ nhà trường chẳng buồn bắt nó học hè, xô xuống cống gấp vạn lần.

“Mẹ không muốn nghe con lý do lý trấu nữa,” bà Maggie Tozier thẳng thừng. “Nhưng lần tới, khi con thấy bố về, mệt nhoài sau ba đêm liên tục làm khuya, con hãy biết nghĩ một chút đi, Richie. Liệu mà biết nghĩ.”

“Nhưng mẹ..”

“Thôi ngay. Mẹ nói rồi mà.” Giọng bà cộc lốc, và còn tệ hơn nữa, bà chực khóc. Đoạn mẹ cậu rời khỏi phòng, tiếng ti vi oang oang điếc cả tai. Richie bị bỏ lại một mình, bơ vơ ngồi ở bàn bếp.

Ký ức ấy khiến Richie lắc đầu nguầy nguậy. “Bố mẹ tớ bình thường, nhưng còn khuya họ mới tin những chuyện như vậy.”

“C-Còn nh-những người khác th-thì sao?”

Nhiều năm sau, Bill nhớ lại cảnh cả đám nhìn quanh như thể tìm một người vắng mặt lúc ấy.

“Ai kia?” Stan nghi ngờ hỏi. “Tớ chẳng nghĩ ra ai mình có thể tin cả.”

“Tớ c-c-cũng vậy…” Bill nói đầy trầm tư, và sự im lặng bao trùm cả bọn trong lúc Bill nghĩ xem nên nói gì tiếp theo.

3

Nếu được hỏi, Ben Hanscom sẽ nói Henry Bowers ghét cậu hơn bất cứ thành viên nào trong Hội Cùi Bắp vì chuyện xảy ra vào cái ngày cậu và Henry chơi trò trượt máng xuống thẳng Vùng Đất Cằn từ đường Kansas, vì chuyện xảy ra vào cái ngày cậu, Richie và Beverly trốn khỏi tay bọn chúng ở rạp Aladdin, nhưng lý do lớn nhất là vì cậu không chịu để Henry quay cóp bài khiến hắn ta bị bắt đi học phụ đạo hè và chịu trận lôi đình của ông bố Butch Bowers nổi tiếng điên khùng.

Nếu được hỏi, Richie Tozier sẽ đáp Henry ghét cậu hơn bất cứ ai trong nhóm, nguyên nhân là vì cái ngày cậu lừa Henry cùng hai thằng lính ngự lâm kia ở Freese’s.

Stan Uris sẽ nói Henry ghét cậu nhất trong số mọi người vì cậu là người Do Thái (khi Stan học lớp Ba và Henry học lớp Năm, có lần Henry từng lấy tuyết chà lên mặt Stan cho đến khi chảy máu, cậu hoảng loạn la hét vì đau và sợ hãi).

Bill Denbrough lại cho rằng Henry ghét cậu nhất vì cậu ốm nhom, vì cậu nói lắp và vì lúc nào cậu cũng ăn mặc chỉnh tề (“Nh-Nh-Nhìn c-c-cái th-thằng đ-đồng bóng ch-chết t-t-t-toi kìa!” Vào tháng Tư, trường Derry tổ chức Ngày việc làm, Henry đã ré lên như thế khi thấy Bill đeo cà vạt tham gia; ngày hôm ấy chưa kết thúc thì cà vạt đã bị giật khỏi cổ cậu và treo lủng lẳng trên cái cây lưng chừng đường Charter).

Đúng là hắn ta ghét cả bốn người bọn họ, nhưng đối tượng số một trong danh sách căm ghét của Henry ở Derry chưa tham gia Hội Cùi Bắp vào ngày mùng 3 tháng 7, đó chính là cậu bé da đen tên là Michael Hanlon, sống cách nông trại nhà Bowers khoảng bốn trăm mét.

Bố của Henry, điên rồ đúng như bàn dân thiên hạ đồn đại, tên đầy đủ là Oscar “Butch” Bowers. Butch Bowers quy sự xuống dốc về mặt tài chính, sức khỏe và tinh thần của mình cho nhà Hanlon nói chung và cho bố của Mike nói riêng. Hắn suốt ngày rền rĩ với nhóm bằng hữu ít ỏi và cậu con trai của mình rằng Will Hanlon đã khiến hắn bị tống vào nhà tù hạt khi đàn gà của nhà Hanlon chết. “Để nó ăn được tiền bảo hiểm chứ gì nữa,” Butch nói, đưa mắt nhìn cử tọa của mình với ánh nhìn gây hấn đầy nanh nọc thử-nhảy-vào-mồm-tao-xem của Thuyền trưởng Billy Jones trong Đô đốc Benbow . “Nó có vài người bạn hùa vào bịa chuyện, đó là lý do tao phải bán con xe Mercury.”

“Ai đã bịa chuyện vậy bố?” Henry hỏi câu này lúc lên tám tuổi, lòng sôi sùng sục trước sự bất công mà bố mình phải chịu đựng. Hắn tự nhủ khi nào lớn lên, hắn sẽ tìm cho ra những kẻ bịa chuyện, phết mật ong đầy người bọn chúng rồi trói bọn chúng trên đồi kiến như trong mấy bộ phim phương Tây người ta chiếu ở rạp Bijou vào chiều thứ Bảy.

Có thằng con trai lắng nghe như nuốt từng lời vàng ý ngọc (dù nếu được hỏi, Butch sẽ cho rằng đó là điều dĩ nhiên), Bowers bố rót đầy tai con mình những tràng căm ghét và xui rủi. Hắn giải thích với con rằng dân mọi đen rặt một lũ ngu si, nhiều kẻ còn ranh mãnh như cáo – trong thâm tâm, bọn chúng căm ghét dân da trắng và chỉ muốn cày nát đám đàn bà da trắng. Butch bảo có khi không chỉ dừng lại ở tiền bảo hiểm, có khi Hanlon quyết định đổ vấy việc đàn gà chết ngoéo vào đầu hắn vì Butch sắp sửa thu hoạch nông sản đem bán ở sạp hàng dưới đường. Mà dù gì thì thằng mọi đen cũng đã chơi Butch một vố, đó là điều chắc chắn như cứt bám trên chăn. Hắn gắp lửa bỏ tay người, bắt một đám mọi da trắng rứt gan rứt ruột phản trắc thị trấn này, hùa theo hắn bịa chuyện và đe dọa tống Butch vào nhà tù bang nếu hắn không chịu xì tiền cho thằng mọi đen. “Mà tại sao không?” Butch hỏi thằng con cổ đầy ghét và đang tròn xoe mắt nhìn mình. “Tại sao không? Tao chỉ là một gã chống Nhật cho đất nước này. Có khối người như bố mày, nhưng hắn là gã da đen duy nhất trong hạt.”

Họa vô đơn chí, sau vụ gà qué lại đến chuỗi tai nạn xui xẻo khác – chiếc xe tải Deere của hắn bị gãy thanh truyền; cái bừa xịn của gã bị hỏng ở cánh đồng phía Bắc, bản thân hắn bị nhọt ngay cổ, nó bị nhiễm trùng nên phải chọc vỡ, rồi lại bị nhiễm trùng lần nữa và lần này phải phẫu thuật để lấy ra; thằng mọi đen bắt đầu dùng số tiền ăn chặn từ hắn để bán phá giá so với giá của Butch, báo hại hắn mất khách.

Ra rả vào tai Henry là những tràng rủa xả: thằng mọi đen, thằng mọi đen, thằng mọi đen. Tất cả là lỗi của thằng mọi đen. Thằng mọi đen có căn nhà sơn trắng xinh xắn, một lầu, có cả lò sưởi bằng dầu trong khi vợ chồng Butch cùng con trai phải sống trong một nơi xập xệ chẳng khác gì lều tranh vách đất. Khi Butch không kiếm đủ tiền từ công việc làm nông và phải vào rừng làm việc suốt thời gian dài, đó là lỗi của thằng mọi đen. Năm 1956, giếng nhà hắn cạn khô, ấy cũng là lỗi của thằng mọi đen.

Cuối năm đó, Henry, khi ấy mười tuổi, bắt đầu cho Mr Chips của Mike xí quách và khoai tây chiên. Dần dà, Mr Chips sẽ vẫy đuôi chạy đến mỗi khi Henry gọi. Thấy con chó đã quen với mình và đồ ăn mình cho, một ngày nọ, Henry cho chú chó ăn nửa ký thịt xay trộn thuốc diệt côn trùng. Hắn tìm được lọ thuốc diệt côn trùng trong nhà kho sau nhà; còn thịt xay được hắn mua ở Costello’s bằng tiền tiết kiệm ba tuần của hắn.

Mr Chips ăn được một nửa phần thịt tẩm độc thì ngưng. “Tiếp đi, ăn nốt đi nào, Chó mọi đen” Henry nói. Mr Chips vẫy đuôi. Ngay từ ban đầu, Henry gọi chú chó với cái tên này và cứ đinh ninh ấy là tên của nó. Khi chú chó bắt đầu quằn quại, Henry lấy dây phơi quần áo cột nó vào cây cáng lò để chú chó không thể chạy về nhà. Đoạn hắn ngồi trên tảng đá bằng phẳng, ấm áp do được mặt trời sưởi nắng, chống cằm lên hai lòng bàn tay và nhìn chú chó ngắc ngoải. Mất một khoảng thời gian rất lâu nhưng Henry thấy khoảng thời gian ấy vô cùng đáng giá. Cuối cùng, Mr Chips bắt đầu co giật và bọt màu xanh sùi ra từ giữa hai hàm răng của nó.

“Mày thấy sao, Chó mọi đen?” Henry hỏi chú chó, nó ngước đôi mắt đang thoi thóp về phía giọng nói của hắn và cố gắng vẫy đuôi. “Mày có thích bữa trưa của mày không, con chó chết giẫm kia?”

Khi chú chó đã chết, Henry tháo dây, về nhà rồi kể với bố điều mình vừa làm. Lúc ấy, Oscar Bowers đã hoàn toàn phát điên; một năm sau, vợ hắn bỏ của chạy lấy người sau khi bị hắn đánh cho thừa sống thiếu chết. Henry cũng sợ bố một phép, thỉnh thoảng còn ghét ông ta tận xương tủy, nhưng đồng thời, hắn cũng thương bố mình. Và chiều hôm ấy, sau khi kể lại chiến tích, hắn cảm thấy cuối cùng mình đã tìm ra chìa khóa dẫn vào tình thương của bố, vì bố đã vỗ rất mạnh vào lưng hắn (mạnh đến độ Henry suýt chút nữa ngã lăn), đưa hắn vào phòng khách uống bia. Đó là chai bia đầu tiên Henry uống trong đời, và kể từ đó, hắn gắn liền hương vị ấy với cảm xúc tích cực: chiến thắng và yêu thương.

“Chúc mừng chiến tích quá sức tuyệt vời, ông bố điên khùng của Henry nói. Bọn chúng cụng hai chai bia nâu rồi tu ừng ực. Theo như Henry biết, nhà mọi đen không tìm ra thủ phạm giết con chó, nhưng hắn đoán chúng có nghi ngờ trong đầu. Hắn mong chúng nghi ngờ cho bõ ghét.

Các thành viên khác trong Hội Cùi Bắp đều đã biết mặt Mike - trong thị trấn có mỗi mình cậu là người da đen thì không biết mới lạ - nhưng chỉ có thế, vì Mike không đi học ở trường Tiểu học Derry. Mẹ cậu là tín hữu Baptist mộ đạo nên Mike được gửi vào trường Nhà thờ đường Neibolt. Đan xen với các môn Địa lý, Ngữ văn và số học có các giờ học về Kinh Thánh, bài học về các chủ đề như Ý nghĩa của Mười điều răn trong Thế giới Vô thần, thảo luận nhóm về cách hành xử trước các vấn đề đạo đức hằng ngày (ví dụ, nếu thấy bạn ăn cắp vặt hay nghe thấy giáo viên báng bổ Chúa).

Mike thấy trường Nhà thờ cũng ổn. Thỉnh thoảng, cậu ngờ ngợ không biết mình có đang bỏ lỡ mất thứ gì hay không - tỉ dụ như giao lưu với những bạn bè đồng trang lứa chẳng hạn – nhưng cậu sẵn lòng đợi lên trung học cho những điều này xảy ra. Viễn cảnh tương lại khiến cậu hơi lo vì cậu có làn da nâu, nhưng Mike cảm thấy cả bố lẫn mẹ mình đều được người trong thị trấn đối xử rất tốt, thành thử cậu tin mình cũng sẽ được đối xử tốt nếu sống tốt với mọi người.

Tất nhiên, ngoại lệ của quy tắc này chính là Henry Bowers.

Dù cố gắng khỏa lấp được chừng nào hay chừng đó, Mike vẫn rất sợ Henry. Vào năm 1958, Mike có tướng người mảnh khảnh và cao ráo, cao hơn Stan Uris nhưng không cao bằng Bill Denbrough. Nhờ nhanh nhẹn và lanh lợi mà không ít lần, cậu thoát khỏi tay của Henry. Chưa kể, cậu học khác trường. Vì điều này và vì khoảng cách tuổi tác, con đường của hai người ít khi chạm nhau. Mike trầy vi tróc vảy mới giữ được tình thế ấy. Tóm lại, trớ trêu ở chỗ dù Henry ghét Mike Hanlon hơn bất cứ đứa trẻ nào ở Derry, Mike lại là người ít bị tẩn nhất.

Ồ, nhưng cậu cũng từng lên bờ xuống ruộng. Mùa xuân sau khi giết chú chó nhà Mike, một ngày nọ, Henry nhào ra từ bụi cây khi Mike đang trên đường đến thư viện. Lúc ấy đang là cuối tháng Ba, tiết trời đủ ấm để đạp xe, nhưng vào thời điểm ấy, đường Witcham từ đoạn nhà Bowers mới chỉ là đường đất, vô cùng sình lầy nên đạp xe không ăn thua.

“Xin chào, mọi đen,” Henry nói, lù lù hiện ra từ bụi rậm với nụ cười trên môi.

Mike lùi lại, mắt lia lịa đảo trái đảo phải để tìm cơ hội tẩu thoát. Cậu biết nếu vòng qua người Henry thành công, cậu có thể trốn khỏi hẳn. Henry to con và mạnh bạo nhưng chậm chạp.

“Tao phải làm một bù nhìn bằng hắc ín mới được.” Henry nói và lầm lừ tiến lại cậu bé nhỏ con. “Tao thấy mày chưa đen lắm, để tạo sửa cho.”

Mike đánh mắt sang trái, xoay người về hướng ấy. Henry mắc bẫy và vùng chạy về phía này - quá nhanh và quá trớn nên không kéo lại kịp. Đảo chiều rất ngọt và nhanh như cắt, Mike chạy về phía bên phải (lên trung học được hai năm, cậu tham gia đội bóng đại diện trường ở vị trí hậu vệ, và suýt chút nữa đã phá vỡ kỷ lục ghi điểm của trường, tiếc là vào mùa giải năm lớp Mười hai, cậu bị gãy chân). Nếu không trượt chân khi chạy qua vũng bùn thì cậu đã dễ dàng vượt qua Henry. Bùn trơn làm Mike vấp ngã. Trước khi cậu kịp đứng dậy thì Henry đã trờ tới.

“Mọi đen mọi đen mọi đen!” Henry ré lên một cách sung sướng lúc lật người Mike lại. Bùn dính từ lưng áo Mike xuống đũng quần. Cậu có thể cảm thấy bùn nhoe nhoét trong giày. Nhưng cậu cố kìm nước mắt cho đến khi Henry bôi bùn lên mặt và bít kín lỗ mũi cậu.

“Giờ thì mày đen rồi đây này!” Henry vừa hí hửng hét vừa trét bùn lên tóc Mike. “Giờ mày đen ơi là đen rồi!” Hắn xé áo khoác và áo thun Mike mặc bên dưới rồi ném một nắm bùn to tướng vào lỗ rốn cậu. “Giờ mày đen như nửa đêm trong GIẾNG MỎ nhé!” Henry thét lên thắng lợi, sau đó nhét bùn vào tai Mike. Đoạn hắn lùi lại, bàn tay nhoe nhoét bùn móc vào thắt lưng, ông ổng: Tao đã giết con chó của mày đó, thằng mọi đen! Nhưng Mike không nghe thấy điều này vì bùn kẹt trong tai và vì tiếng khóc sợ hãi của chính cậu át đi.

Henry đá thêm một đống bùn nhầy nhụa lên người Mike rồi quay lưng cất bước về nhà, không thèm nhìn lại. Lát sau, Mike cũng đứng dậy đi về, khóc thút thít.

Tất nhiên, mẹ của cậu vô cùng bất bình; bà muốn Will Hanlon gọi cho Cảnh sát trưởng Borton và yêu cầu ông ta đến nói chuyện với nhà Bowers trước khi mặt trời xế bóng.”Trước nó đã đuổi đánh Mikey nhiều lần rồi,” Mike nghe mẹ nói. Cậu đang ngồi trong bồn tắm, còn bố mẹ ở nhà bếp. Đây là lượt nước thứ hai của cậu, lượt nước đầu tiên đen ngòm ngay khi cậu vừa bước vào bồn và ngồi xuống. Trong cơn giận dữ, mẹ cậu tuôn ra một tràng tiếng Texas đặc nghẹt mà Mike chẳng hiểu chút nào. “Anh phải cho chúng biết luật pháp chứ, Will Hanlon! Hết con chó rồi tới con trai! Anh đem luật ra với chúng đi, anh nghe em nói không?”

Will nghe thấy lời vợ mình nói nhưng không làm như bà yêu cầu. Cuối cùng, khi bà đã nguôi ngoai (lúc ấy là tối khuya và Mike đã ngủ từ hai tiếng trước), ông nhắc cho vợ nhớ sự đời lắm lúc tréo ngoe. Cảnh sát trưởng Borton không như Cảnh sát trưởng Sullivan. Nếu Borton là cảnh sát trưởng lúc vụ đàn gà bị đầu độc xảy ra, Will còn lâu mới nhận được hai trăm đô-la và sẽ phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Trên đời có những người sẽ kề vai sát cánh với ta, có người lại không: Borton là loại thứ hai. Nói đúng hơn, ông ta là loại gan sứa.

“Đúng là Mike từng gặp rắc rối với thằng bé ấy,” ông nói với Jessica. “Nhưng con nhà mình vẫn chưa bị nặng vì nó rất cẩn thận tránh mặt Henry Bowers. Sau vụ này, nó sẽ biết đường cẩn thận hơn.”

“Ý anh là anh sẽ bỏ qua à?”

“Anh đoán Bowers đã kể với cậu con trai của hắn những lần đụng độ với anh,” Will nói, “và thằng bé ghét ba người chúng ta vì những xích mích ấy, và vì bố nó còn chỉ dạy cho nó đàn ông là phải ghét người da đen. Chuyện chỉ có thế thôi. Anh không thể thay đổi việc con trai mình là người da đen, giống như anh không thể ngồi đây và bảo em Henry Bowers sẽ là người cuối cùng giở trò với con trai mình vì da nó màu nâu. Con mình sẽ phải chiến đấu với điều này cả đời, giống như anh và em. Ngay cả trong ngôi trường Thiên Chúa mà em bắt con mình theo học, tại sao giáo viên lại dạy học sinh rằng dân da đen không tốt bằng dân da trắng, vì Ham, con trai của Noah, đã nhìn thấy bố mình say xỉn và lõa lồ, còn hai người con trai kia đánh mắt đi để không thấy cảnh tượng ấy. Cô giáo bảo đó là lý do con trai của Ham đời đời làm kiếp đốn củi kéo nước. Và Mikey nói cô giáo cứ nhìn thằng bé trong lúc kể câu chuyện này cho cả lớp.”

Lời nguyền của Ham là một câu chuyện trong Sáng Thế ký, có người cho rằng câu chuyện này được dùng để biện minh cho chế độ nô lệ.

Jessica nhìn chồng, câm lặng và khổ sở. Hai dòng lệ tuôn dài trên khuôn mặt bà. “Chẳng lẽ không còn cách nào để thoát khỏi chuyện này sao?”

Câu trả lời của ông hiền từ nhưng dứt khoát; thời ấy, vợ răm rắp theo lời chồng và Jessica chẳng có lý do gì nghi ngờ Will.

“Không. Chẳng có cách nào để thoát khỏi hai từ da đen đâu, hiện giờ thì không, trong thế giới vợ chồng mình hiện sống thì không. Những ai là mọi đen từ Maine thì vẫn là mọi đen. Nhiều lần anh đã nghĩ, anh trở về Derry là bởi không nơi nào tốt hơn nơi này để anh ghi nhớ điều đó. Nhưng anh sẽ nói chuyện với con.”

Ngày hôm sau, ông gọi Mike ra nông trại. Will ngồi trên ách bừa và vỗ vào vị trí bên cạnh để gọi Mike ngồi xuống.

“Con hãy tìm cách tránh mặt thằng bé Henry Bowers đó,” ông dặn dò.

Mike gật đầu.

“Bố nó bị điên.”

Mike tiếp tục gật đầu. Cậu nghe cả thị trấn này rỉ tai nhau như thế. Vài lần trông thấy ông này càng củng cố lời đồn ấy.

“Không phải chỉ có chút điên rồ đâu,” Will nói thêm, thắp điếu thuốc lá Bugler tự cuộn và đưa mắt nhìn con. “Ông ta chỉ thiếu điều bị tống vào nhà thương điên thôi. Sau khi trở về từ chiến trường, ông ta đã vậy rồi.”

“Con thấy Henry cũng bị điên,” Mike nói. Giọng cậu trầm thấp nhưng chắc nịch, điều đó càng khiến cõi lòng Will vững vàng hơn… dù đã trải qua lắm cuộc bể dâu, trong đó suýt có lần bị thiêu cháy trong quán rượu cây nhà lá vườn mang tên Điểm Đen, ông vẫn không thể nào tin nổi một cậu bé như Henry lại bị điên.

“Chà, cậu bé ấy nghe bố mình nhiều quá, nhưng đó là lẽ tự nhiên thôi.” Will nói. Song lần này, con trai ông được tận mục sở thị. Chẳng rõ vì liên tục tiếp nhận tư tưởng từ bố mình hay vì lý do gì– lý do nội tại gì – mà Henry Bowers đang dần trở nên điên loạn.

“Bố không muốn con trốn chui trốn nhủi cả đời,” bố cậu nói, “nhưng vì con là một người da đen, không ít lần, con sẽ phải chịu thiệt. Con có hiểu ý bố không?”

“Dạ có,” Mike đáp, trong đầu cậu nghĩ về cậu bạn Bob Gautier trường, cậu này cố gắng giải thích với Mike rằng từ mọi đen không phải là từ xấu, vì bố cậu ta dùng suốt ngày. Thậm chí, Bob còn chân thành bảo Mike rằng từ này mang nghĩa tích cực. Khi một võ sĩ trên chương trình Đấm bốc tối thứ Sáu lãnh đòn bầm dập nhưng vẫn kiên cường trụ lại, bố cậu ta bảo “Đầu hắn cứng như đầu mọi đen ấy nhỉ?”, khi ai đó hoàn thành công việc một cách xuất sắc (với ông bố Gautier thì đó là Thịt bò thượng hạng), bố cậu nhận xét: “Hắn ta làm như mọi đen ấy nhỉ?”. “Mà bố tớ cũng là dân Thiên chúa giáo giống bố cậu đấy,” Bob chốt hạ. Mike vẫn nhớ khi ấy, cậu đã nhìn thẳng vào khuôn mặt trắng nhợt, thật thà, trùm chiếc mũ lông xơ xác của Bob Gautier, cậu không giận mà thấy buồn tủi đến phát khóc. Cậu nhìn thấy sự chân thành và nhã ý hiện lên trên khuôn mặt của Bob, nhưng cậu chỉ cảm thấy cô đơn, xa cách và nhận thức rõ mồn một khoảng trống heo hút giữa cậu với cậu bé ấy.

“Bố thấy con hiểu ý bố rồi,” Will nói và xoa đầu con trai. “Vấn đề quan trọng nhất là phải biết khi nào cương, khi nào nhu. Con phải hỏi bản thân con xem liệu Henry Bowers có đáng để con vướng vào không. Có không nào?”

“Dạ không” Mike đáp. “Không hề ạ.” Một thời gian sau, cậu mới thay đổi suy nghĩ, cụ thể là vào ngày 3 tháng 7 năm 1958.

4

Trong lúc Henry Bowers, Victor Criss, Huggins Ợ Hơi, Peter Gordon và một cậu nhóc trung học tương đối trì độn mang tên Steve Sadler (biệt danh là Moose, lấy từ tên nhân vật trong truyện tranh Archie) đuổi theo cậu bé Mike Hanlon đang thở hồng hộc qua sân ga về phía Vùng Đất Cằn cách đó chừng tám trăm mét, Bill cùng mọi người trong Hội Cùi Bắp vẫn đang ngồi trên bờ sông Kenduskeag, trầm ngâm nghĩ về cơn ác mộng mình gặp.

“Tớ nghĩ tớ b-biết n-n-nó ở đâu,” cuối cùng, Bill lên tiếng, phá vỡ sự im lặng.

“Cống thoát nước,” Stan nói, và cả bọn giật mình trước một tiếng rột rột bất thình lình vang lên. Eddie mỉm cười ngại ngần, bỏ ống thở vào lòng.

Bill gật đầu. “M-Mấy đ-đ-đêm trước, tớ c-c-có h-hỏi b-bố tớ về c-cống thoát n-nước.”

”Vốn dĩ toàn bộ khu vực này là đầm lầy,” Zack trả lời cậu con trai, “và những cư dân đầu tiên đã tìm cách xây dựng trung tâm thị trấn ở phần tồi tệ nhất. Đoạn Kênh Đào chạy bên dưới đường Trung Tâm và đường Chính rồi đi ra ở công viên Bassey chẳng là gì ngoài cống thoát để giữ sống Kenduskeag. Phần lớn thời gian trong năm, cống ở trong tình trạng khô cạn, nhưng chúng đóng vai trò quan trọng khi lũ mùa xuân chảy xuống hay ngập lụt xảy ra…” Nói đến đây, ông dừng lại, có lẽ ông nghĩ về trận lụt mùa thu năm ngoái, ông đã mất đứa con út. “…nhờ máy bơm” ông nói nốt.

“Máy b-b-bơm ạ?” Bill hỏi, khẽ nghiêng đầu trong vvô thức. Khi cậu nói lắp ở những âm bật thế này, nước bọt bắn ra từ môi.

“Máy bơm nước thải,” bố cậu giải thích. “Chúng nằm ở Vùng Đất Cằn, là những ống bê tông cao chừng một mét từ mặt đất…”

“B-B-Ben H-H-H-Hanscom gọi chúng là h-hố M-Morlock bố ạ,” Bill nói và toét miệng cười.

Zack cũng cười đáp lại… nhưng đó chỉ là cái bóng của nụ cười ngày xưa. Lúc đó, hai bố con ở trong xưởng của Zack, ông đang hờ hững vặn chốt ghế. “Chúng chỉ là máy bơm nước thải thôi, con ạ,” ông nói. “Chúng nằm trong những trụ sâu chừng ba mét, bơm nước thải và nước lũ khi triền đồi thoải xuống hay dốc lên. Máy móc cũ kỹ rồi, và lý ra thị trấn nên lắp máy bơm mới, nhưng Hội đồng lúc nào cũng than nghèo kể khổ khi thiết bị này xuất hiện trong danh mục vào các buổi họp ngân sách. Giá mà bố được hai mươi lăm xu cho mỗi lần phải lội xuống dưới đó, rác rến ngập đến đầu gối, nối lại mấy cái mô tơ thì… nhưng thôi, con nghe mấy chuyện này làm gì, Bill. Sao con không đi xem ti vi đi? Hình như tối nay trên ti vi chiếu Sugarfoot thì phải.”

“Con m-m-muốn ngh-nghe mà,” Bill nói, và lý do không phải chỉ vì cậu đã rút ra kết luận dưới lòng Derry có một điều gì đó khủng khiếp.

“Tại sao con lại muốn nghe về mấy cái máy bơm nước thải kia chứ?” Zack thắc mắc.

“B-Báo cáo tr-trên tru-tru-trường ạ,” Bill nói đại.

“Hết học kỳ rồi mà.”

“N-N-Năm s-sau ạ.”

“Chà, chủ đề chán phết nhỉ,” Zack nói. “Khéo thầy lại cho con điểm F vì ru ngủ thầy ấy chứ. Con nhìn nhé, đây là sông Kenduskeag” – ông kẻ một đường thẳng trên mặt bàn phủ lớp mùn cưa mỏng, chỗ ông gắn cưa tay - “còn đây là Vùng Đất Cằn. Vì trung tâm thị trấn thấp hơn khu vực dân cư –như đường Kansas hay Mũi Đất Cũ hoặc Tây Broadway chẳng hạn - phần lớn lượng nước thải của trung tâm thị trấn phải được bơm ra sông. Còn nước thải từ các hộ gia đình tự chảy xuống Vùng Đất Cằn. Con hiểu không?”

“D-D-Dạ,” Bill đáp, cậu nhích lại gần bố hơn một chút để nhìn rõ đường kẻ, đủ gần để vai cậu đụng vào tay ông.

“Rồi một ngày nào đó, họ sẽ không bơm nước thải thô trực tiếp vào sông và cái ngành này xem như chấm hết. Nhưng hiện tại, chúng ta có máy bơm ở trong… cậu bạn con gọi chúng là gì nhỉ?”

“Hố Morlock ạ,” Bill trả lời, không chút lắp bắp, tiếc là cả cậu và bố cậu đều không để ý.

“Ừ. Đó là vai trò của các máy bơm trong hố Morlock hiện tại, nhìn chung chúng hoạt động khá hiệu quả, trừ khi có quá nhiều mưa và sông suối bị tràn. Vì mặc dù cống tiêu nước trọng lực và cống thoát nước dùng bơm vốn là các hệ thống tách biệt, thật ra chúng đan xen ở rất nhiều nơi. Con thấy không?” Ông vẽ một chuỗi chữ X tỏa ra từ đường kẻ đại diện cho con sông Kenduskeag, Bill gật đầu. “Chà, điều duy nhất con cần biết về hệ thống thoát nước là nơi nào chảy được, nó sẽ chảy. Khi nước dâng cao, nó sẽ tràn vào cống thoát nước cũng như cống nước thải. Khi nước trong cống dâng cao đến máy bơm, máy bơm bị chập mạch. Rất phiền cho bố, vì bố phải sửa chúng.”

“Bố ơi, c-cống thoát nước và cống nước thải to c-cỡ nào ạ?”

“Ý con là kích thước ấy à?”

Bill gật đầu.

“Đường kính cống thoát nước chính chừng một mét tám. Các cống phụ từ khu vực dân cư theo bố ước lượng tầm một mét đến một mét hai. Một số cống có thể to hơn chút đỉnh. Nhưng hãy nghe lời bố dặn đây, Billy, và con có thể nói cho cả bạn bè của mình: đừng bao giờ bước chân vào ống cống, dù là chơi đùa hay thách đố nhau hay vì bất cứ lý do gì.”

“Sao vậy ạ?”

“Hơn chục đời chính quyền thị trấn đã thay nhau phát triển công trình này từ năm 1885, hết đời này đến đời khác. Trong quãng thời gian Đại khủng hoảng, Đội Quản lý Dự án công trình xây dựng một hệ thống thoát nước thứ hai và một hệ thống nước thải thứ ba, ngày xưa, ngân sách rót vào dự án công rất đậm. Nhưng người chủ quản lý các dự án này thiệt mạng trong Thế chiến thứ hai, và khoảng năm năm sau đó, Cục Nước phát hiện bản thiết kế hệ thống cống hầu hết đã bị thất lạc. Nói chính xác hơn, khoảng bốn cân hồ sơ thiết kế hệ thống cống đã biến mất trong khoảng thời gian 1937 và 1950. Điều bố muốn nói là không ai biết mấy cái ống cống ấy dẫn đi đâu và cơ chế ra sao cả.

Khi chúng hoạt động thì không ai quan tâm. Khi chúng trục trặc thì lại có ba bốn tên từ Cục Nước Derry phải giơ đầu chịu báng mà đi kiểm tra xem máy bơm nào bị lỗi hoặc chỗ nào bị tắc nghẽn. Và khi nào xuống dưới đó, họ cũng phải mang theo đồ ăn trưa. Bên dưới vừa tối tăm vừa hôi thối, lại đầy chuột. Chừng đó là đủ lý do để không mò xuống rồi, nhưng lý do lớn nhất là ta có thể bị lạc. Chuyện đó từng xảy ra trước đây.”

Bị lạc dưới lòng Derry. Bị lạc trong cống thoát nước. Bị lạc trong đêm tối. Viễn cảnh ấy kinh khủng và u ám đến độ Bill á khẩu trong chốc lát. Đoạn cậu lên tiếng, “Nhưng chẳng phải họ có cử người x-x xuống để làm bản đồ…”

“Bố phải sửa nốt mấy cái chốt đã,” Zack chợt cắt ngang, quay lưng và lùi khỏi cậu. “Con vào nhà xem ti vi đi.”

“Nh-Nh-Nhưng b-b-bố…”

“Vào nhà đi Bill,” Zack nói, và Bill lại cảm nhận được thái độ lạnh nhạt của ông. Cái lạnh nhạt ấy khiến bữa tối chẳng khác nào tra tấn, khi bố cậu chăm chăm lật tờ tạp chí ngành điện (ông đang mong được thăng chức trong năm sau), còn mẹ cậu chúi mũi đọc một trong số vô vàn cuốn tiểu thuyết bí ẩn của Anh: Marsh, Sayers, Innes, Allingham. Trệu trạo ăn trong khung cảnh lạnh lẽo ấy khiến thức ăn nhạt thếch trong miệng, tựa hồ cậu đang nhai những món đông lạnh mà chưa được hâm lại bằng lò vi sóng. Thỉnh thoảng sau bữa ăn, cậu đi lên phòng, nằm trên giường, ôm bụng đang quặn lên và thầm nhủ câu văn: Anh đấm tay vào cột nhà, la oai oái rằng mình gặp ma. Từ lúc Georgie qua đời, cậu rất hay thầm nhủ trong đầu câu nói ấy, dù mẹ chỉ cho cậu câu này từ hai năm trước. Trong tâm trí cậu, câu nói ấy như một lời chú: rồi một ngày, cậu có thể bước đến chỗ mẹ, nói trôi chảy nguyên câu mà không vấp, không nói lắp, vừa nói vừa nhìn thẳng vào mắt mẹ, bao lạnh nhạt rồi sẽ tan biến, đôi mắt bà sẽ sáng bừng lên, bà sẽ ôm cậu và khen, “Tuyệt vời, Billy! Con của mẹ giỏi quá! Con của mẹ giỏi quá!”

Tất nhiên, cậu chưa bao giờ kể với ai ước mong thầm kín này. Dù voi giày ngựa xé cũng đừng hòng cậu từ bỏ vọng tưởng ấy, dù có bị ngũ mã phanh thây, cậu cũng sẽ khư khư giữ lấy mong ước bí mật ấy, niềm mong mỏi nằm sâu trong con tim cậu. Nếu cậu có thể nói trôi chảy câu văn mà mẹ đã dạy cậu vào một buổi sáng thứ Bảy khi cậu và Georgie ngồi xem Guy Madison cùng Andy Devine trong bộ phim Những cuộc phiêu lưu của Bill Hickok hoang dại , nó sẽ như nụ hôn đánh thức Nàng công chúa ngủ trong rừng khỏi giấc mơ lạnh lẽo, đưa nàng trở lại với thế giới ấm áp, nơi có tình yêu của chàng hoàng tử cổ tích.

Anh đấm tay vào cột nhà, la oai oái rằng mình gặp ma.

Vào ngày mùng 3 tháng 7 định mệnh ấy, cậu cũng không kể với bạn bè mình, nhưng cậu kể những gì bố nói với cậu về hệ thống cống thoát nước và cống nước thải của Derry. Cậu vẫn còn là một cậu bé với trí tưởng tượng phong phú (nhiều khi còn dễ hơn nói sự thật), và khung cảnh cậu vẽ ra cho các bạn tương đối khác so với khung cảnh thật sự mà hai bố con trao đổi: cậu và bố cùng ngồi xem ti vi, nhâm nhi tách cà phê.

“Bố cậu cho cậu uống cà phê à?” Eddie hỏi.

“C-C-Có chứ.” Bill đáp.

“Ôi,” Eddie thốt lên. “Mẹ tớ còn khuya mới cho tớ uống cà phê. Mẹ tớ bảo cà-phê-in trong cà phê nguy hiểm.” Cậu ngưng lại. “Thế mà mẹ tớ uống nhiều lắm.”

“Bố tớ cho tớ uống cà phê nếu tớ muốn.” Beverly kể, “nhưng ông sẽ cho tớ đi đời nếu biết tớ hút thuốc.”

“Sao cậu lại chắc chắn nó nằm trong cống thoát nước vậy?” Richie hỏi, hết nhìn từ Bill sang Stan Uris rồi lại nhìn Bill.

“M-M-Mọi thứ đ-đều b-bắt ng-nguồn t-từ đ-đ-đó,” Bill nói. “Gi Giọng nói B-B-Beverly nghe thấy v-vang lên t-từ d-dưới c-c-cống. Cả m-máu nữa. Khi g-g-gã hề đ-đuổi theo bọn m-mình, những cái n-n-nút c-cam ở g-gần c-cống. Và G-G-George…”

“Nó không phải hề, Bill To Bự ơi,” Richie cắt ngang. “Tớ đã bảo cậu rồi mà. Tớ biết nghe rất điên rồ, nhưng nó là Người sói.” Cậu nhìn mọi người trong nhóm với ánh mắt phòng thủ. “Tớ thề với Chúa, tớ trông thấy mà.”

Bill ôn tồn: “Với c-c-cậu thì nó là Người sói.”

“Hả?”

Bill bèn giải thích, “C-Cậu kh-không th-th-thấy à? Với c-c-cậu thì nó là Người sói vì c-cậu xem b-bộ phim ng-ngớ ngẩn ấy ở A-A-A Aladdin.”

“Tớ không hiểu.”

“Hình như tớ hiểu rồi.” Ben trầm ngâm.

“Tớ đã đ-đến th-th-thư viện và tr-trac-c-cứu rồi,” Bill nói. “Tớ nghĩ Nó là g-g” – cậu ngừng lại, nghẹn họng và nói bật ra – “là glamour .”

“Gà-la-mờ?” Eddie ngờ vực.

“G-G-Glamour,” Bill nói và đánh vần cho mọi người. Cậu kể cho cả bọn về đoạn văn liên quan tới chủ đề này trong bách khoa toàn thư cùng chương cậu đọc trong cuốn sách mang tên Sự thật đêm khuya . Cậu giải thích Glamour là tên trong tiếng Gaelic chỉ thứ sinh vật đang ám Derry; tùy từng thời điểm, các chủng tộc khác nhau và các nền văn hóa khác nhau lại có những cái tên riêng cho nó, nhưng tất cả đều mang cùng một nghĩa. Thổ dân da đỏ gọi nó là manitou , thỉnh thoảng nó mang hình dạng sư tử núi hoặc nai sừng tấm hoặc đại bàng. Tộc người da đỏ cho rằng linh hồn của manitou có thể nhập vào người họ, và vào những thời điểm này, họ có thể biến hình dạng của mây thành biểu tượng các loài động vật mà họ đặt tên cho nhà mình. Người Himalaya gọi nó là tallus hoặc taelus , nghĩa là sinh vật ma quỷ có khả năng đọc tâm trí của con người rồi mang hình dạng của thứ mà ta sợ nhất. Ở Trung Âu, nó được gọi là eylak , anh em của vurderlak , tức ma cà rồng. Ở Pháp, nó mang tên le loup-garou , tức thay da đổi thịt, một khái niệm được dịch tương đối thành Người sói, nhưng Bill cũng bảo với họ rằng le loup-garou (cậu phát âm là “lờ-lúp-ga-ru”) có thể là bất cứ thứ gì: sói, diều hâu, cừu, thậm chí con bọ.

“Có bài nghiên cứu nào chỉ cho cậu cách đánh bại glamour không?” Beverly hỏi.

Bill gật đầu nhưng mặt cậu không vui cho lắm. “Người H-H-Himalaya có một ngh-ngh-nghi thức đ-ể l-loại b-b-bỏ n-ó, nhưng n-nó t-tởm l-l-l-lợm lắm.”

Cả bọn nhìn cậu, tuy không ai muốn nghe nhưng đó là điều cần làm.

“N-N-Nó được g-gọi là Ngh-Nghi thức Chüh-Chüd,” Bill nói và tiếp tục giải thích cụ thể. “Giả sử mình là một thánh nhân người Himalaya, mình sẽ truy tìm taelus . Khi taelus thè lưỡi ra, mình cũng thè lưỡi. Hai bên áp lưỡi rồi cắn lưỡi nhau sao cho trong cả hai như áp dính, bốn mắt nhìn nhau.”

“Ôi, chắc tớ nên đến nơi mất,” Beverly nói và quay người ra đất. Ben vỗ lưng cô đầy quan tâm, đoạn nhìn quanh xem có ai để ý cậu không. Chẳng ai cả, mọi người đều đang trân trân nhìn Bill.

“Tiếp theo thế nào?” Eddie hỏi.

“Ch-Ch-Chà” Bill nói, “nghe có vẻ đ-đ-điên khùng, nh–nhưng cuốn s-sách bảo s-sau đó, m-mình sẽ kể ch-chuyện cười và hỏi đ-đố.”

“Hả?” Stan hỏi.

Bill gật đầu, mặt cậu như mặt một thông tấn viên muốn ta biết cậu không phải người tạo ra tin mà chỉ truyền đạt nó – dù không nói thẳng ra miệng như vậy. “Th-Thật. Đ-Đầu tiên quái vật t-taelus sẽ kể m-m-một chuyện, sau đó tới lượt m-m-mình k-kể, c-cứ thế th-th-thay phiên nh-nhau…”

Beverly ngồi dậy, đầu gối áp vào ngực, tay ôm quanh cổ chân. “Tớ chưa hiểu làm thế nào ta có thể nói chuyện trong khi lưỡi đang dính vào nhau như thế.”

Richie liền thè lưỡi ra, lấy tay chụp lưỡi rồi í éo: “Bố tớ làm việc ở bãi phân!” Cả bọn phá lên cười một lúc dù câu chuyện cười này rõ là trẻ con.

“C-Có thể nó l-là thần gi-giao c-cách cảm gì đó,” Bill nói. “T-Tóm lại, n-nếu c-c-con người cười tr-tr-trước dù đ-đang bị đ-đ-đ…”

“Đau?” Stan hỏi.

Bill gật đầu. “…thì taelus s-sẽ gi-gi-giết và ăn th-th-th-thịt con người. Tớ nghĩ là linh hồn người đó. Nh-Nhưng n-nếu con ng-người c-c-có thể khiến t-taelus c-cười tr-tr-trước, nó phải bỏ đi trong m-m-một trăm n-năm.”

“Cuốn sách có giải thích thứ đó khởi nguồn từ đâu không?” Ben hỏi.

Bill lắc đầu.

“Cậu có tin vào mấy điều đó không?” Stan hỏi, như thể cậu muốn mỉa mai nhưng chẳng bới đâu ra sức mạnh tinh thần hay đạo đức để làm thế.

Bill nhún vai đáp, “Tớ g-g-gần t-tin rồi.” Cậu toan nói gì đó nhưng chỉ im lặng lắc đầu.

“Nó giải thích rất nhiều thứ, Eddie chậm rãi. “Gã hề, gã hủi, Người sói…” Cậu nhìn qua Stan. “Xác mấy cậu bé kia nữa.”

“Xem ra Richard Tozier có đất dụng võ rồi đây,” Richie lên tiếng bằng giọng Phát thanh viên Thời sự MovieTone. “Người đàn ông một nghìn truyện cười, sáu nghìn câu đố.”

“Nếu bọn tớ cử cậu đi chắc cả lũ bị giết mất,” Ben thủng thỉnh. “Từ từ. Đầy đau đớn.” Mọi người lại phá lên cười.

“Vậy chúng ta biết làm gì đây?” Stan hỏi, một lần nữa, Bill chỉ biết lắc đầu… và mơ hồ cảm giác hình như cậu sắp sửa biết. Stan đứng dậy. “Mình đi chỗ khác đi,” cậu nói. “Tớ ê hết cả mông rồi.”

“Tớ thấy ngồi đây hay mà.” Beverly lên tiếng. “Vừa có bóng râm vừa dễ chịu.” Cô liếc nhìn Stan. “Hay cậu muốn làm mấy trò trẻ con như đi xuống bãi rác rồi dùng đá đập bể chai.”

“Tớ thích lấy đá đập bể chai đấy,” Richie nói và đứng cạnh Stan. “Chất chơi j.d. trong người tớ đó nha.” Cậu dựng cổ áo lên và bắt chước điệu bộ đi lòng vòng của James Dean trong Nổi loạn vô cớ . “Chúng làm tớ tổn thương,” cậu nói với vẻ mặt tâm trạng, tay cào ngực. “Cậu biết đấy, đời nhiễu nhương quá. Nào bố mẹ. Trường học. Xã hội. Mọi người. Áp lực lắm, bạn ơi. Nó…”

“Nó rõ cứt đái,” Beverly nói và thở dài.

“Tớ có pháo đây,” Stan nói, và cả bọn quên hết những điều về glamour , manitou cùng phiên bản nhái James Dean dở tệ của Richie khi Stan lôi từ trong túi bọc pháo Black Cat. Đến Bill còn mắt tròn mắt dẹt.

“Ch-Chúa ơi, S-S-Stan, c-cậu k-k-kiếm đ-được ở đ-đâu thế?”

“Từ thằng nhóc mập tớ hay đi giáo đường chung,” Stan nói. “Tớ đổi một chồng truyện tranh Siêu nhân và Lulu Bé nhỏ để lấy nó đấy.”

“Bắn pháo thôi anh em!” Richie la to, hăng tiết vì vui sướng. “Đi bắn thôi mọi người ơi, Stanny, tớ thề tớ hứa tớ đảm bảo rằng sẽ không nói cậu và bố cậu giết Chúa nữa, cậu thấy sao? Tớ sẽ bảo mũi cậu nhỏ xí , nhé Stanny! Tớ sẽ bảo cậu không cắt bao quy đầu!”

Nghe đến đây, Beverly ré lên cười nắc nẻ, bò lăn bò càng, hai tay đưa lên che mặt. Bill cũng cười, Eddie cười theo, và ngay sau đó, Stan cũng cười ha hả. Tiếng cười của cả bọn vang vọng qua lòng sông Kenduskeag rộng mà nông vào cái ngày trước ngày mùng 4 tháng 7 năm ấy, tiếng cười của mùa hạ, sáng bừng như những tia nắng phản chiếu trên mặt nước, và không ai trong số đám trẻ trông thấy đôi mắt màu cam đang chằm chằm dán vào cả bọn từ một bụi gai và bụi mâm xôi cằn cỗi phía bên trái. Khóm cây tua tủa chạy dọc bờ sông cả chục mét, ở giữa là hố Morlock của Ben. Ở đây mọc lên ống bê tông, từ trong đó, hai con mắt cách nhau sáu mươi xen-ti lom lom nhìn.

5

Lý do Mike đụng độ với Henry Bowers và bè lũ không mấy vui tươi của hắn vào cùng hôm đó là bởi ngày hôm sau là Mùng Bốn Vinh Quang. Trường Nhà thờ có một ban nhạc trong đó Mike chơi kèm trombone. Vào ngày mùng 4, ban nhạc sẽ tham gia diễu hành mừng lễ hàng năm, chơi “Bài Thánh chiến ca Cộng hoà”, “Tinh binh Giê-su tiến lên”, “Nước Mỹ tươi đẹp”. Mike đã mong đợi dịp này suốt hơn một tháng nay. Cậu phải đi bộ đến buổi tổng duyệt cuối cùng vì xe đạp bị hỏng xích. Buổi tổng duyệt được xếp lịch vào lúc 2 giờ 30 phút, nhưng cậu đi từ 1 giờ vì cậu muốn đánh bóng kèn trombone, vốn được cất trong phòng nhạc của trường, cho đến khi nó sáng bóng mới thôi. Mặc dù kỹ năng chơi kèn trombone của cậu cũng chẳng khá khẩm hơn Giọng nói của Richie là mấy, nhưng cậu rất thích nhạc cụ này và cứ khi nào tâm trạng chùng xuống, chỉ cần nửa tiếng đắm chìm trong những bài ca diễu hành Sousa hùng tráng, thánh ca hay những lời ca ái quốc đã đủ khiến cậu phấn chấn hơn. Cậu nhét một chai đánh bóng đồng thau hãng Saddler vào trong túi áo ka ki và hai, ba miếng giẻ vào trong túi quần jean. Trong đầu cậu chẳng mảy may nghĩ đến Henry Bowers. Chỉ cần liếc ra đằng sau khi tiến lại đường Neibolt và trường Nhà thờ, cậu sẽ thay đổi suy nghĩ trong chớp mắt vì Henry, Victor, Ợ Hơi, Peter Gordon và Moose Sadler đang dàn hàng ngang trên con đường đằng sau cậu. Nếu bọn chúng rời khỏi nhà Bowers trễ hơn năm phút thì có lẽ Mike đã khuất mắt bọn chúng ở tít đỉnh ngọn đồi bên kia; trận ném đá định mệnh và bao hệ quả sau đó sẽ xảy ra theo hướng khác, hoặc có khi là không xảy ra.

Nhưng nhiều năm sau, chính Mike là người khơi gợi ý kiến cho rằng không ai trong số họ hoàn toàn chiếm thế chủ động trong những sự kiện mùa hè năm ấy; rằng nếu vận may và ý chí tự do vẫn dự phần thì hẳn vai trò của chúng chẳng mấy đáng kể. Trong bữa ăn trưa hội ngộ, anh sẽ chỉ ra rất nhiều sự tình cờ hết sức hữu ý xảy ra với mọi người, nhưng có ít nhất một điều anh không hề hay biết. Buổi họp ở Vùng Đất Cằn ngày hôm ấy dừng lại khi Stan Uris lấy ra bọc pháo Black Cat và cả Hội Cùi Bắp chạy đến bãi rác để bắn pháo. Victor, Ợ Hơi và đám còn lại đến nông trại nhà Bowers vì Henry có pháo, pháo hình cầu và M-80 (vài năm sau đó, sở hữu những thứ này trở thành tội nặng). Đám du côn to lớn toàn đi xuống mỏ than sân ga để khiến kho tàng của Henry phát nổ.

Bình thường, có cho vàng bọn chúng cũng chẳng mò xuống nông trại nhà Bowers, ngay cả Ợ Hơi – nguyên nhân chủ yếu là ông bố điên khùng của Henry nhưng còn vì lúc nào cả bọn cũng phải lăn vào phụ giúp Henry công việc đồng áng: nào là nhổ cỏ dại, thu nhặt đá, đốn củi, lấy nước, gom rơm, thu hoạch bất cứ thứ gì tới mùa vụ – lê, dưa leo, cà chua, khoai tây. Không hẳn là mấy thằng bé ấy ghét làm việc, nhưng ở nhà mình, chúng đã có đủ thứ phải è cổ ra làm rồi, chứ nói gì đến việc đổ mồ hôi sôi nước mắt cho ông bố dị thường của Henry, cái lão cứ thượng cẳng chân, hạ cẳng tay bất chấp là ai (lão từng chọi một thanh gỗ nhóm lò vào Victor Criss khi cậu này đánh rơi rổ cà chua trên đường mang ra sạp bán ngoài đường). Bị thanh gỗ chọi vào người tưởng chừng đã đủ tệ hại rồi, nào ngờ còn tệ hơn khi Butch Bowers lải nhà lải nhải “Tao sẽ giết tất bọn Nhựt Bổn! Tao sẽ giết tất bọn Nhựt Bổn chết toi!”

Dù đầu to mà óc như trái nho, Huggins Ợ Hơi đã xuất khẩu một câu chí lý: “Tao không giỡn mặt với mấy kẻ điên,” hắn nói với Victor câu này hai năm trước. Victor phá lên cười, gật gù đồng ý.

Nhưng những thỏi pháo tựa như tiếng hát du dương của người cá, bọn chúng như đám thủy thủ không cưỡng lại được sức mạnh ấy.

“Tao bảo này, Henry,” Victor nói khi Henry gọi hắn vào lúc 9 giờ sáng hôm ấy và rủ đi chơi. “Bọn mình gặp nhau ở mỏ than tầm 1 giờ, mày thấy sao?”

“Ờ, vậy mày đến mỏ than lúc khoảng 1 giờ đi, tao không có mặt đó đâu,” Henry đáp. “Tao có nhiều việc lắm. Nếu mày đến mỏ than tầm 3 giờ thì được, tao sẽ ở đó. Và cây pháo M-80 đầu tiên sẽ cắm thẳng vào cửa hậu của mày đấy nhé, Vic.”

Vic ngần ngừ rồi đồng ý qua phụ Henry việc đồng áng.

Những đứa khác cũng tới, tổng cộng là năm cậu con trai, ai nấy đều to cao lực lưỡng, hùng hục làm việc ở nhà Bowers, và đến chiều thì mọi công việc đã được hoàn thành. Khi Henry hỏi bố liệu hắn đi chơi được chưa, ông Bowers già chỉ chậm chạp phẩy tay với cậu con trai. Butch khoan khoái tận hưởng buổi chiều hôm ấy trên hiên sau nhà cùng chai sữa một lít đựng rượu táo loại cực mạnh, đài cầm tay Philco trên thành hiên (chốc sau buổi chiều hôm ấy, đội Red Sox sẽ đấu với đội Washington Senators, trận đấu với viễn cảnh đủ để một kẻ không điên nổi cả da gà). Đặt trong lòng Butch là thanh kiếm Nhật đã rút khỏi bao, quà kỷ niệm chiến tranh mà theo như lời Butch khoác lác là hắn rút từ xác một thằng Nhựt Bổn trên hòn đảo Tarawa (thật ra hắn phải đổi sáu chai Budweiser và ba cần điều khiển máy bay mới lấy được thanh kiếm đó ở Honolulu). Gần đây, cứ khi nào uống rượu là Butch lại lôi thanh kiếm ra. Và đám trẻ, kể cả Henry, đều đinh ninh trong lòng rằng chẳng chóng thì chày, lão sẽ xiên ai đó, nên tránh voi chẳng xấu mặt nào, tốt nhất không nên xớ rớ khi thanh kiếm xuất hiện trong lòng Butch.

Đám bọn chúng vừa bước ra đường thì Henry nhìn thấy Mike Hanlon đi ở phía trước. “Thằng mọi đen kìa!” Hắn reo lên, mắt sáng bừng như mắt đứa trẻ nhỏ mường tượng về cảnh ông già Noel sắp tới vào Đêm Giáng sinh.

“Thằng mọi đen?” Huggins Ợ Hơi có vẻ bối rối – hắn rất hiếm khi đụng mặt gia đình nhà Hanlon - và rồi đôi mắt đờ đẫn của hắn sáng lên. “Ồ chuẩn! Thằng mọi đen! Tóm cổ nó đi, Henry!”

Ợ Hơi ba chân bốn cẳng rầm rập lao đi. Đám còn lại chạy theo sau khi Henry chộp cổ Ợ Hơi và kéo tên đồng đảng lại. Henry có nhiều kinh nghiệm rượt đuổi Mike Hanlon hơn những đứa còn lại, và hắn biết bắt thằng mọi đen này tưởng dễ nhưng rất khó. Thằng da đen đó nhanh như cắt.

“Nó không thấy bọn mình. Mình cứ đi thật nhanh cho đến khi nó thấy. Rút ngắn khoảng cách.”

Chúng đồng tình. Một người qua đường quan sát hẳn sẽ lấy làm kỳ thú khi năm người bọn chúng hùng hục như thể đang cố gắng tham dự cuộc đấu đi bộ của giải Olympic. Cái bụng rõ phệ của Moose Sadler nảy lên nảy xuống dưới lớp áo thun trường Trung học Derry. Mồ hôi nhễ nhại trên khuôn mặt càng lúc càng đỏ bừng của Ợ Hơi. Nhưng khoảng cách giữa chúng và Mike đã ngắn lại – một trăm tám mươi mét, rồi một trăm bốn mươi, rồi chín mươi – và đến tận lúc ấy, Thằng oắt Da đen vẫn chưa hề quay đầu lại. Bọn chúng có thể nghe thấy tiếng cậu ta huýt sáo.

“Mày tính làm gì với nó hả Henry?” Victor Criss thì thầm hỏi. Trông hắn có vẻ hứng thú, nhưng thật ra hắn đang rất lo lắng. Gần đây, Henry bắt đầu khiến hắn như ngồi trên đống lửa. Nếu Henry chỉ muốn cả bọn hội đồng thằng nhóc Hanlon, có khi xé rách áo và quăng quần dài cũng như quần lót lên cây thì chẳng nói làm gì, nhưng hắn không chắc Henry chỉ muốn dừng lại ở đó. Năm ấy, bọn hắn đã có nhiều cuộc đụng độ không mấy dễ chịu với đám trẻ trường Tiểu học Derry mà Henry hay gọi là “đám oắt chó đẻ”. Trước đây, Henry đã quen với việc thống trị và hù đám cắt chó đẻ ấy mất mật, thế mà từ tháng Ba đến giờ, bọn chúng làm càn hết lần này đến lần khác. Henry cùng bè lũ đã đuổi đánh một thằng trong số đó, thằng nhóc Tozier bốn mắt trong Freese’s và mất dấu đúng lúc tưởng sắp hộp cổ được nó. Chưa hết, vào ngày cuối của học kỳ, thằng Hanscom…

Nhưng Victor không thích nghĩ về chuyện đó.

Điều khiến hắn lo lắng đơn giản là: Henry có thể đi QUÁ XA. Chính cái yếu tố QUÁ XA ấy là thứ Victor luôn né tránh không nghĩ tới… nhưng sự chộn rộn trong lòng hắn dấy lên câu hỏi.

“Mình sẽ thộp cổ nó và lôi nó xuống mỏ than kia,” Henry đầu têu. “Tao nghĩ mình sẽ nhét pháo vào giày nó xem nó nhảy nhót thế nào.”

“Nhưng không phải viên M-80 đúng không Henry?”

Nếu Henry định làm những trò như thế thì Victor xin kiếu. Nhét M-80 vào giày thì chắc chắn chân thằng mọi đen sẽ đi đời nhà ma, và như thế là QUÁ XA.

“Tao chỉ có bốn viên đó thôi.” Henry nói, mắt vẫn không rời khỏi bóng lưng của Mike Hanlon. Chúng đã thu hẹp khoảng cách chỉ còn gần bảy mươi mét nên hắn vẫn thì thầm nói. “Mày nghĩ tao sẽ phí hai viên vào thằng đen như quạ chết toi ấy à?”

“Không, Henry. Tất nhiên là không rồi.”

“Bọn mình chỉ bỏ vài viên pháo Black Cat vào giày nó thôi.” Henry nói, “sau đó lột trần nó và ném đồ nó xuống Vùng Đất Cằn. Có khi nó sẽ quệt phải thường xuân độc lúc đi nhặt đồ ấy chứ.”

“Mình phải lăn nó vào than nữa,” Ợ Hơi nói, đôi mắt lờ đờ sáng bừng lên. “Thấy sao, Henry? Nghe ngầu không?”

“Ngầu như trái bầu,” Henry nói một cách bỗ bã mà Victor thấy rõ ngứa tai. “Bọn mình sẽ lăn nó vào than, như lần trước tao lăn nó trong bùn. Với cả…” Henry toe toét cười, để lộ hàm răng chưa gì đã bắt đầu hỏng ở độ tuổi mười hai. “Với cả tao có điều phải nói với nó. Tao nghĩ lần trước tao nói nó chưa nghe.”

“Điều gì thế, Henry?” Peter hỏi. Peter Gordon chỉ cảm thấy tò mò và lấy làm thích thú. Hắn xuất thân từ những “gia đình khá giả” của Derry, thằng bé sống ở Tây Broadway và hai năm tới, hắn sẽ được gửi đi học ở trường dự bị đại học trên Groton – hoặc chí ít vào ngày mùng 3 tháng 7 năm ấy, hắn nghĩ như vậy. Hắn sáng sủa hơn Vic Criss, nhưng hắn chưa tham gia hội này đủ lâu để hiểu nhân cách của Henry mục ruỗng đến mức nào.

“Rồi mày sẽ biết thôi,” Henry nói. “Giờ thì cầm hết đi. Mình tới gần nó rồi đấy.”

Chúng chỉ còn cách Mike một khoảng hơn hai mươi mét, ngay lúc Henry chuẩn bị mở miệng ra hiệu lệnh thì Moose Sadler bắn quả pháo đầu tiên. Đêm hôm trước, Moose ăn ba đĩa đậu hầm và cú đánh rắm của hắn to chẳng khác nào phát súng nổ.

Mike nhìn quanh. Henry trông thấy mắt cậu mở to. “Bắt lấy nó!” Henry rống lên.

Mike cứng người trong giây lát, đoạn cậu co giò chạy bán sống bán chết.

6

Hội Cùi Bắp mò mẫm đi qua khu rừng tre trong Vùng Đất Cằn theo thứ tự như sau: Bill; Richie; Beverly đằng sau Richie, mảnh mai và xinh xẻo trong chiếc quần jean xanh cùng áo cộc tay màu trắng, chân mang dép rơm; tiếp theo là Ben, cố gắng không thở hồng hộc (dù thời tiết hôm ấy là 27 độ C và cậu đang mặc áo nỉ có túi); Stan; Eddie đi cuối hàng, vòi ống thở thò ra khỏi túi quần trước bên phải. Bill thả hồn tưởng tượng mình đang phiêu lưu trong chốn rừng thiêng nước độc, trò chơi mà cậu hay thực hiện lúc đi qua khu vực này của Vùng Đất Cằn. Rừng tre vừa cao vừa trắng, khiến cả bọn khó nhìn được con đường mà họ đã đến tận đây. Mặt đất đen đúa, lầy lội, với nhiều vũng sình phải tránh hoặc nhảy qua nếu không muốn dính bùn vào giày. Những vũng nước đọng óng ánh màu cầu vồng thật kỳ dị. Không khí có thứ mùi hôi hám nửa như mùi bãi rác, nửa như mùi rau củ thối.

Bill khựng lại ở sông Kenduskeag và quay lại nhìn Richie. “Có h-h-hổ phía trước, T-T-Tozier.”

Richie gật đầu và quay lại Beverly. “Có hổ,” cậu thở hắt ra.

“Có hổ,” cô nói Ben.

“Hổ ăn thịt người à?” Ben hỏi, nín thở để không hít lên hồng hộc.

“Cả người nó be bét máu,” Beverly nói.

“Hổ ăn thịt người,” Ben thì thầm với Stan và cậu lại truyền tin cho Eddie, khiến khuôn mặt gầy gò của cậu sáng bừng vì thích thú.

Cả bọn lùi vào rừng tre, bỏ lại con đường đất đen đúa vòng vèo qua rừng. Con hổ đi qua trước mặt cả bọn và gần như ai cũng thấy nó: nặng đến gần hai tạ, từng thớ thịt chuyển động thật uyển chuyển và đầy uy lực bên dưới lớp lông vằn vện. Đám trẻ gần như thấy đôi mắt xanh lá cây, những vết máu lấm tấm quanh mõm của nó từ miếng thịt cuối cùng của chiến binh bé nhỏ đã bị nó ăn tươi nuốt sống.

Rừng tre xào xạc khe khẽ, thứ âm thanh vừa du dương vừa ma mị, và rồi lại tĩnh lặng. Có thể ấy chỉ là cơn gió mùa hè thoáng qua… hoặc có thể đó chính là con hổ châu Phi đang trên đường tiến về khu vực ven Mũi Đất Cũ của Vùng Đất Cằn.

“Nó đi rồi,” Bill nói. Cậu thở phào đầy nhẹ nhõm rồi trở lại lối đi. Mọi người theo sau.

Richie là thành viên duy nhất trang bị vũ khí: cậu lôi khẩu súng đồ chơi với phần tay cầm được dán băng keo đen của mình ra. “Nếu cậu né ra là tớ đã cho nó vào tầm ngắm được rồi, Bill To Bự” cậu nói lạnh tanh. Đoạn cậu lấy họng súng đẩy cặp kính đã cũ lên mũi.

“Quanh đ-đ-đây có bò W-W-Watusi đấy,” Bill nói, “Bắn s-s súng ng-nguy hiểm l-l-lắm. C-Cậu m-muốn chúng l-l-lao đến b-bọn mình không?”

“Ờ ha,” Richie gật gù.

Bill lấy tay ra hiệu cho mọi người đi tiếp và cả bọn trở lại lối đi đang dần thắt cổ chai ở cuối rừng tre. Mọi người bước ra bờ sông Kenduskeag, nơi có một dàn đá dẫn qua sông. Ben đã chỉ nhóm bạn cách xếp đá sao cho chuẩn. Đầu tiên ta quăng một tảng đá lớn xuống nước, đoạn đặt chân lên tảng đá thứ nhất và quăng xuống nước tảng đá thứ hai, tiếp tục bước qua tảng đá thứ hai và quặng tảng đá thứ ba xuống nước, cứ thế cho đến khi ta đi qua hết sông (vào thời điểm này trong năm, mực nước ở đây chỉ chưa tới ba mươi phân và lộ ra cả bãi cạn màu nâu) mà chân vẫn khô cong. Cách thức ấy đơn giản đến độ nó chẳng khác gì trò con nít, nhưng không ai trong số họ nghĩ tới cho đến khi Ben chỉ cho cả đám. Cậu vốn có khiếu ở lĩnh vực này, nhưng hay ở chỗ, khi chỉ dẫn cho người khác, cậu không khiến họ cảm thấy mình là kẻ ngu đần.

Cả bọn đi thành hàng xuống bờ sông và bước qua các tảng đá được sắp xếp từ trước.

“Bill!” Beverly vội thét lên.

Cậu lập tức khựng lại, hai tay chìa ra. Nước róc rách, chảy không ngừng quanh cậu. “Gì thế?”

“Dưới sông có cá piranha! Hai ngày trước tớ đã thấy chúng ăn thịt một con bò đấy. Mới phút trước con bò rơi xuống, phút sau nó đã bị rỉa đến tận xương. Coi chừng ngã nhé!”

“Được,” Bill nói. “Mọi người cẩn trọng.”

Cả bọn rón rén đi qua những phiến đá. Bất chợt, một con tàu chở hàng vùn vụt lao qua ở đường để cho xe lửa lúc Eddie Kaspbrak gần qua đến giữa sông, tiếng còi hụ bất ngờ khiến cậu loạng choạng trên mép đá do mất thăng bằng. Cậu nhìn thẳng xuống mặt nước óng ánh và trong một khắc, khi những tia nắng loang loáng phản chiếu vào mắt, cậu thực sự trông thấy những con cá piranha đang bơi lội. Chúng không còn là sản phẩm của trò tưởng tượng rừng thiêng nước độc mà Bill bày ra nữa, cậu dám chắc như thế. Những con cá cậu trông thấy như cá vàng khổng lồ với hàm răng gớm ghiếc to tướng của cá da trơn và cá mú. Hàm răng lởm chởm như răng cưa thò ra từ cái miệng dày cui và có màu cam như cá vàng. Ấy là màu cam của những núm bông thỉnh thoảng ta lại thấy trên trang phục của chú hề ở rạp xiếc.

Vừa bơi lòng vòng trong làn nước nông, chúng vừa nghiến răng.

Hai tay của Eddie chới với. Mình ngã mất, cậu thầm nhủ. Mình ngã mất, chúng nó sẽ rỉa thịt mình cho xem…

Ngay lúc ấy, Stanley Uris chụp lấy cổ tay cậu và kéo cậu trở lại vị thế cân bằng.

“Suýt chết nhé,” Stan nói. “Cậu mà ngã vào đấy, mẹ cậu thể nào cũng nổi trận lôi đình cho mà xem.”

Lần đầu tiên trong đời, tâm trí Eddie không mảy may suy nghĩ về mẹ. Lúc này, các thành viên khác trong nhóm đi đến bờ bên kia và đang đếm số toa của tàu chở hàng. Eddie ngây người nhìn chằm chằm vào mắt Stan, đoạn cậu lại nhìn vào nước. Cậu trông thấy một túi khoai tây chiên lãng đãng trôi qua, nhưng chỉ có thế. Cậu ngước nhìn Stan.

“Stan, tớ thấy…”

“Thấy gì?”

Eddie lắc đầu. “Chắc không có gì,” cậu nói. “Tớ chỉ hơi…

(nhưng chúng có ở đó mà chắc chắn là có và suýt chút nữa chúng đã ăn thịt mình)

”… hết hồn thôi. Chắc do con hổ. Mình đi tiếp nào.”

Bờ phía tây của con sông Kenduskeag - bên phía Mũi Đất Cũ – là một đầm lầy đầy bùn vào mùa mưa và mùa lũ đầu xuân, nhưng hơn hai tuần gần đây, Derry không có trận mưa lớn nào, bờ sông khô rang nứt nẻ như ở hành tinh khác, tua tủa mọc lên những cọc trụ xi măng đổ bóng đầy u ám. Đi xuống chừng hai mươi mét là cống xi măng thò ra trên sông Kenduskeag, ri rỉ xả dòng nước màu nâu gớm ghiếc xuống sông.

Ben khẽ lên tiếng, “Ở đây đáng sợ quá,” và cả bọn gật đầu.

Bill dẫn mọi người bước lên bờ sông khô ráo, tiến vào bụi cây um tùm, nơi côn trùng kêu râm ran và reng réc không ngừng. Thỉnh thoảng lại có tiếng đập cánh vù vù khi chim bay lên. Bất chợt, một con sóc chạy ngang qua đường họ đang đi, và chừng năm phút sau, khi cả bọn đang tiến đến rãnh đất lô nhô bọc phía sau bãi rác thị trấn, con chuột to tướng với giấy bóng kính vướng trên râu ì ạch bước qua trước mặt Bill, tiết lộ cho mọi người đường chạy bí mật qua miền hoang dại thu nhỏ của nó.

Giờ thì mùi của bãi rác càng lúc càng nồng nặc hơn; cột khói đen ngòm hướng thẳng lên bầu trời. Trừ lối mòn nhỏ hẹp mà cả bọn men theo, mặt đất um tùm cỏ dại, lác đác rác rến. Bill gọi vui đây là “gàu của bãi rác”, cụm từ mà Richie khoái vô cùng, cậu đã cười đến độ chảy cả nước mắt. “Cậu phải ghi lại cụm từ này nhé, Bill To Bự,” cậu nói. “Nghe chuẩn không cần chỉnh.”

Giấy rác vướng trên cành cây phần phật đung đưa như cờ đuôi nheo quảng cáo hàng hạ giá, đằng này óng ánh sắc bạc khi tia nắng phản chiếu vào đống vỏ lon thiếc nằm bên dưới hố màu xanh um tùm, đằng kia, nắng lại chói lòa hơn khi phả xuống chai bia bể. Beverly nhác thấy một con búp bê với lớp da nhựa hồng rực chẳng khác nào tôm luộc. Cô nhặt nó lên nhưng ngay lập tức thả xuống và hét lên khe khẽ khi trông thấy những con bọ màu xám trắng nhung nhúc bò từ cái váy mốc meo xuống đôi chân mục ruỗng của nó. Đoạn cô chà tay mình lên quần jean.

Cả nhóm trèo lên đỉnh đồi và nhìn xuống bãi rác.

“Ôi thôi xong,” Bill thốt lên và đút tay vào túi quần khi các bạn túm tụm lại quanh cậu.

Hôm nay là ngày đốt rác ở góc phía bắc của bãi rác, nhưng ở đầu này, nhân viên trông coi bãi rác (là Armando Fazio, hay còn được bạn bè gọi với cái tên Mandy, và là ông anh ở vậy của ông bảo vệ trường Tiểu học Derry) đang mày mò sửa chiếc xe ủi D-9 Thế chiến thứ hai mà ông hay dùng để gom rác thành động mới đốt. Ông cởi trần, đang ngồi trong xe ủi, dưới mái che bằng vải dù để cái đài cầm tay rất to đang phát chương trình ăn mừng trước trận đấu giữa đội Red Sox và Senators.

“Không xuống dưới đó được,” Ben đồng tình. Mandy Fazio không phải người xấu, nhưng khi trông thấy con nít lang thang trong bãi rác là y như rằng ông đuổi – vì dưới này đầy chuột, vì ông thường xuyên rải thuốc độc để không cho lũ chuột sinh sôi nảy nở, vì chúng có thể đứt chân đứt tay, ngã, phỏng… nhưng chủ yếu là vì ông cho rằng bãi rác tuyệt đối không phải nơi cho trẻ con mò đến. “Chúng mày mất dạy hay sao?” Ông hay hét ầm lên với những đứa trẻ mà ông phát hiện mò đến bãi rác với khẩu súng cỡ 22 trên tay để bắn bùm bụp vào chai lọ (hoặc chuột, hoặc mòng biển) hoặc đến vì ham thích “bới rác”: biết đâu rủi may, chúng lại nhặt được một món đồ chơi còn hoạt động, một cái ghế có thể sửa để trưng dụng trong hội, hoặc ti vi đồng nát mà đèn hình còn nguyên vẹn – nếu ném đá vào ti vi, ta sẽ thu được tiếng nổ rất kêu. “Chúng mày mất dạy hay sao hả?” Mandy gầm lên (ông gầm lên không phải vì ông tức giận mà là vì ông bị điếc nhưng không mang máy trợ thính). “Bố mẹ chúng mày không dạy con à? Trẻ ngoan không ai chơi ở bãi rác cả! Đi ra công viên ngay! Ra thư viện ngay! Xuống Nhà Cộng đồng chơi khúc côn cầu trong hộp đi! Liệu mà cư xử đi!”

“Không được rồi,” Richie nói. “Chắc bỏ bãi rác đi thôi.”

Cả bọn ngồi xuống một lát, nhìn Mandy sửa chữa chiếc xe ủi, hy vọng ông bỏ cuộc và đi mất nhưng xem chừng hy vọng ấy khá mong manh: chiếc đài đặt ở kia cho thấy Mandy dự tính sẽ ở đây cả buổi chiều. Lâu đến độ thánh hiền còn sốt hết cả ruột, Bill nghĩ. Chẳng có nơi nào phù hợp chơi đốt pháo hơn bãi rác. Ta có thể nhét chúng bên dưới hộp thiếc rồi nhìn hộp bay lên không trung khi pháo phóng vụt lên, hoặc ta có thể đốt cầu chì, thả chúng vào chai và co giò chạy biến. Không phải lúc nào chai cũng bị bể, nhưng hầu như là thế.

“Phải chi mình có mấy viên M-80 nhỉ?” Richie thở dài, không hề hay biết chỉ chốc lát nữa thôi, cậu sẽ bị quăng vào đầu một viên.

“Mẹ tớ bảo làm người phải biết thế nào là bằng lòng với thứ mình có,” Eddie nghiêm nghị nói, làm cả bọn cười vang.

Khi tiếng cười vãn bớt, cả nhóm lại quay sang nhìn Bill.

Bill ngẫm nghĩ rồi nói, “Tớ b-biết một n-nơi. Có b-b-bãi đá dăm cũ ở cuối V-Vùng Đất C-Cằn, gần s-s-sân ga…”

“Đúng rồi!” Stan reo lên và đứng bật dậy. “Tớ biết chỗ đó! Cậu đúng là thiên tài, Bill ạ!”

“Ở đó tiếng động vang lắm nha,” Beverly đồng ý. “Được, mình đi thôi,” Richie nói.

Sáu người bọn họ, thiếu mất một đơn vị để tạo thành con số ma thuật, men theo đỉnh đồi bao quanh bãi rác. Mandy Fazio có ngước lên một lần và trông thấy bọn trẻ in bóng trên nền trời xanh trong, tựa hồ những người da đỏ đang lên đường tấn công kẻ thù. Ông toan hét lên mắng chúng - Vùng Đất Cằn không phải nơi cho trẻ con – nhưng rồi ông lại tiếp tục công việc của mình. Chí ít chúng không xớ rớ xuống bãi rác của ông.

7

Mike Hanlon chạy một mạch ngang qua trường Nhà thờ mà không dám dừng lại, cắm đầu thục mạng lên đường Neibolt về phía sân ga Derry. Ở trường Nhà thờ đường Neibolt có một ông bảo vệ tên là Gendron, nhưng ông còn già và điếc đặc hơn cả ông Mandy Fazio. Ngoài ra, vào những ngày hè, ông hay mơ màng ngủ dưới tầng hầm cạnh lò hơi im lìm, thong thả nằm ườn trên chiếc ghế thư giãn cũ mèm tả tơi với tờ Derry News trong lòng. Có khi trong lúc Mike còn đứng ngoài đập cửa thình thịch, hét ỏm tỏi để ông bảo vệ cho vào thì Henry Bowers đã đến đằng sau và xé xác cậu.

Thế nên Mike chạy tiếp.

Nhưng cậu không chạy một cách vvô thức mà cố giữ tốc độ ổn định, có kiểm soát hơi thở chứ chưa tung hết sức. Henry, Ợ Hơi và Moose Sadler không phải vấn đề đáng lo, mới chạy chưa được bao lâu mà chúng đã hổn hển như đàn trâu bị thương. Tuy nhiên, Victor Criss và Peter Gordon lại nhanh chân hơn nhiều. Lúc Mike chạy ngang qua căn nhà mà Bill và Richie từng trông thấy gã hề – hoặc Người sói – cậu liếc nhìn đằng sau thì hốt hoảng trông thấy Peter Gordon đã thu hẹp khoảng cách kha khá. Peter đang toét miệng cười đầy vui sướng - nụ cười toe toét của gã vận động viên chạy vượt rào, nụ cười của một tay chơi polo, nụ cười đần thối của đám trưởng giả học làm sang, và rồi Mike nghĩ: Nếu nó biết chuyện gì sẽ xảy ra khi bọn chúng bắt được mình, liệu nó có cười như thế không… Hay nó nghĩ bọn chúng sẽ chỉ hô lên ‘Đến lượt cậu bị nhé’ rồi chạy đi nhỉ?

Khi cổng sân ga hiện ra với tấm biển đề ĐẤT TƯ NHÂN CẤM VÀO VI PHẠM SẼ BỊ TRUY TỐ, Mike buộc phải guồng chân chạy hết tốc lực. Cậu chưa cảm thấy đau – hơi thở cậu nhanh hơn nhưng vẫn trong tầm kiểm soát – song cậu biết nếu duy trì tốc độ này quá lâu, chẳng mấy chốc cơn đau sẽ xuất hiện. Cổng đang hé mở. Cậu liếc thật nhanh ra phía sau và trông thấy cậu đã bỏ Peter một khoảng khá xa. Victor tuột sau Peter khoảng chục bước chân, và đám còn lại cách đó chừng ba mươi, bốn mươi mét. Dù chỉ nhìn thoáng qua, Mike cũng có thể trông thấy mặt Henry tối sầm vì tức giận.

Vọt qua cổng, cậu xoay người, đóng sầm cánh cổng lại. Cậu nghe thấy tiếng chốt cổng đánh cạch. Giây sau, Peter Gordon tông sầm vào rào chắn, sau đó Victor Criss chạy đến. Nụ cười tắt ngúm trên mặt Peter; thay vào đó là một vẻ mặt sưng sỉa, cau có. Hắn chộp lấy chốt cổng, nhưng tất nhiên chẳng chộp được gì: chốt nằm phía trong.

Với vẻ mặt kinh ngạc, hắn lên tiếng: “Thôi nào, nhóc, mở cổng đi mày. Ăn gian quá.”

“Thế là nào ăn gian?” Mike hỏi, thở phù phù. “Năm đánh một hả?”

“Đồ ăn gian,” Peter lặp lại, như thể hắn không nghe thấy lời Mike vừa nói.

Mike nhìn Victor và trông thấy mắt hắn ánh lên bối rối. Hắn toan nói gì đó, nhưng lúc ấy, những kẻ còn lại đã chạy đến cổng.

“Mở cổng ra, thằng mọi đen!” Henry lồng lộn. Hắn lắc lấy lắc để hàng rào lưới, mạnh bạo đến độ Peter ngây ra nhìn, bàng hoàng. “Mở cổng ra! Mở ra ngay lập tức!

“Tao không mở,” Mike khẽ nói.

“Mở ra!” Ợ Hơi la lên. “Mở ra ngay, thằng da đen chết toi!”

Mike lùi lại khỏi cổng, trống ngực nện thình thịch trong lồng ngực. Cậu không nhớ có lần nào mình đã từng sợ hãi, từng căm tức đến thế này chưa. Chúng dàn hàng ngay trước cổng, mắng chửi cậu bằng những từ chỉ người da đen mà cậu nghe lùng bùng lỗ tai-nào là đen như quạ, mọi cà răng căng tai, mọi rợ, dâu đen, thỏ rừng và ti tỉ cái tên khác. Cậu không để ý Henry đang lấy thứ gì đó ra từ trong túi, lấy ngón trỏ quẹt que diêm - và rồi một thứ tròn tròn đỏ đỏ bay qua rào. Khi quả pháo hình cầu phát nổ phía bên trái làm bụi tung mù mịt, cậu lùi lại theo phản xạ.

Tiếng nổ khiến mọi thứ im lặng trong phút chốc – Mike bàng hoàng nhìn bè lũ bọn chúng phía bên kia hàng rào, bọn chúng cũng trừng mắt nhìn lại. Vẻ mặt Peter Gordon đầy sững sờ, ngay cả Ợ Hơi cũng choáng váng.

Bọn chúng phát sợ hắn rồi, Mike chợt nghĩ, và chợt một giọng nói mới vang lên trong đầu cậu, lần đầu tiên xuất hiện, một giọng nói trải đời đến rùng rợn. Chúng phát sợ nhưng không vì thế mà chúng dừng tay đâu. Mày phải chạy đi, Mikey, không thì to chuyện đấy. Có lẽ không phải ai trong bọn chúng cũng muốn gây chuyện – ví dụ như Victor và Peter Gordon – nhưng rồi nó sẽ xảy ra vì Henry sẽ khiến nó xảy ra. Nên hãy đi đi. Mau đi đi.

Cậu lùi lại thêm hai ba bước thì Henry Bowers cất tiếng: “Tao là người giết con chó của mày đó, thằng mọi đen.”

Mike sững người, cảm thấy như có một quả bóng bowling vừa thụi vào bụng mình. Cậu nhìn chằm chằm vào mắt Henry Bowers và hiểu Henry đang nói sự thật: hắn là thủ phạm giết Mr Chips.

Với Mike, khoảnh khắc nhận ra điều đó dài tựa thiên thu – nhìn thẳng vào đôi mắt điên cuồng hoen mồ hôi và khuôn mặt tím bầm vì tức tối của hắn, chợt cậu vỡ lẽ rất nhiều điều, và việc Henry điên rồ hơn hẳn Mike tưởng chỉ là sự thật cỏn con trong số đó. Cậu đau đớn trước tin sét đánh kia, nhưng trên tất cả, cậu nhận ra thế giới này không hề nhân từ, cái khắc nghiệt ấy khiến cậu thét lên: “Thằng cầm thú hèn hạ!”

Henry lồng lộn lao vào hàng rào, bò lên với nguồn sức mạnh khủng khiếp. Mike dừng lại một chút, đợi xem giọng nói trưởng thành vang lên trong đầu mình ban nãy có nói đúng hay không, và phải, giọng nói ấy đã đúng: chẳng chút chần chừ, đám còn lại bắt đầu leo lên hàng rào.

Mike quay đầu chạy, băng qua sân ga, bóng đổ dưới chân. Tàu chở hàng mà Hội Cùi Bắp trông thấy ở Vùng Đất Cằn ban nãy đã đi xa, và chẳng có âm thanh nào ngoài tiếng thở của Mike vang lên trong tai cùng tiếng loảng xoảng của hàng rào khi Henry cùng lũ du côn trèo qua.

Mike chạy ngang qua ba đường ray, đôi giày thể thao đá tung xỉ than. Cậu bị vấp lúc băng qua đường ray thứ hai, cảm thấy đau nhói ở mắt cá chân của mình. Rồi cậu lại bật dậy chạy tiếp. Cậu nghe thấy tiếng thịch vang lên khi Henry nhảy xuống từ hàng rào sau lưng. “Tao đến tóm cổ mày đây, thằng mọi đen!” Henry gầm lên.

Bao nhiêu lý trí trong đầu cậu đi đến quyết định Vùng Đất Cằn là cơ hội duy nhất để cậu thoát thân. Nếu chạy xuống đó, cậu có thể nấp trong những bụi cây um tùm, trong rừng tre… hoặc nếu tình hình quá cấp bách, cậu sẽ chui vào trong ống cống và án binh bất động.

Đúng là cậu có thể làm thế… nhưng trong lồng ngực cậu bừng bừng lửa giận, một sự căm phẫn tách biệt hoàn toàn với lý trí. Cậu có thể hiểu lý do Henry đuổi đánh cậu bất cứ khi nào kiếm được cơ hội, nhưng Mr Chips ư? … Giết Mr Chips ư? CHÚ CHÓ của tao có phải mọi đen đâu, đồ cầm thú khốn kiếp kia, vừa chạy, Mike vừa nghĩ, và phẫn nộ trong lòng cậu lại càng như ngọn lửa bùng lên.

Và rồi cậu nghe thấy một tiếng nói khác, lần này là giọng của bố cậu, bố không muốn con trốn chui trốn nhủi cả đời… và vấn đề quan trọng nhất là phải biết khi nào cương, khi nào nhu. Con phải hỏi bản thân con liệu Henry Bowers có đáng để con vướng vào không.

Nãy giờ, Mike đang chạy như tên bắn, phi thẳng qua sân ga đến nhà kho mái tôn. Đằng sau là hàng rào lưới ngăn cách sân ga và Vùng Đất Cằn. Cậu đã tính đến chuyện trèo rào và nhảy qua phía bên kia. Tuy nhiên, cậu lại rẽ phải, chạy về phía bãi đá dăm.

Bãi đá dăm này được sử dụng để khai thác than đến khoảng năm 1935 - nó từng là điểm tiếp nhiên liệu của những con tàu chạy ngang qua sân ga Derry. Nhưng rồi diesel bước vào cuộc chơi, tiếp theo là điện. Suốt nhiều năm sau khi than đã bị khai thác hết (hầu hết phần còn lại bị những người sử dụng lò sưởi than chôm chỉa), một nhà thầu địa phương đã tiến hành đào đá dăm, nhưng ông ta tán gia bại sản vào năm 1955 và kể từ đó, bãi đá bị bỏ hoang. Vẫn còn một đường tàu phụ quanh co chạy về phía bãi đá rồi vòng ngược xuống sân ga, nhưng đường ray ở đây đã gỉ sét hết cả, cỏ dại mọc tua tủa giữa những thanh tà vẹt mục. Trong bãi đá cũng có loại cỏ dại này, tranh không gian với cúc hoàng anh và hướng dương gật gù. Chen chúc giữa cây cỏ vẫn còn rất nhiều xỉ than – thứ mà người ta từng gọi là “đá bọt”.

Khi Mike chạy đến địa điểm này, cậu cởi áo ra. Đến cuối đường, cậu quay đầu nhìn lại. Henry đang băng qua đường ray, bè lũ của hắn bu xung quanh. Thế này chắc ổn.

Di chuyển nhanh nhất có thể, Mike dùng áo của mình làm tay nải gom hơn chục vốc xỉ than cứng. Đoạn cậu chạy về phía hàng rào, quàng tay nải qua vai. Thay vì trèo qua rào, cậu quay lưng lại, tì người vào rào. Cậu đổ than ra khỏi áo, khom chân nhặt vài cục.

Henry không trông thấy than mà chỉ thấy mình đã dồn được thằng mọi đen vào đường cùng. Vừa chạy về phía cậu, hắn vừa gào rống.

“Đây là phần trả thù cho chú chó nhà tao, thằng khốn!” Mike thét lên, không hề hay biết nước mắt mình đã nghẹn ngào. Cậu quăng một vốc xỉ than. Nó bay theo đường thẳng tắp, đập thẳng vào trán của Henry, vang lên tiếng cốp! rõ to rồi bật lại vào không trung. Henry loạng choạng khuyu gối. Hắn bưng tay ôm đầu. Ngay lập tức, máu rỉ qua kẽ ngón tay như màn hô biến của ảo thuật gia.

Những đứa khác dừng phắt lại, mặt kẻ nào kẻ nấy ngây ra thất kinh. Henry thét gào đầy đau đớn rồi đứng dậy, tay vẫn ôm đầu. Mike ném thêm xỉ than nhưng Henry né được. Hắn bắt đầu bước đến chỗ Mike và khi Mike ném vắc xỉ than thứ ba, Henry bỏ một tay khỏi vùng trán be bét máu và nhẹ nhàng đánh bật vốc than sang bên. Hắn nở nụ cười.

“Ối chà, để tao cho mày biết thế nào là bất ngờ nhé,” hắn hằm hè. “Bất ng… ÔI CHÚA ƠI!” Henry toan nói tiếp nhưng phát ra từ miệng hắn chỉ có những tiếng ằng ặc vô nghĩa.

Mike đã ném thêm một vốc than, nó đập thẳng vào họng Henry. Hắn lại khuỵu xuống lần nữa. Peter Gordon há hốc. Moose Sadler chau mày, như thể đang phải giải một bài toán khó.

“Tụi mày đợi cái gì nữa?” Henry khó nhọc nói. Máu tứa qua kẽ ngón tay hắn. Giọng hắn khàn đục và kỳ cục. “Bắt nó cho tao! Bắt thằng chết tiệt đó cho tao!”

Mike không đợi xem chúng có làm theo hắn hay không. Cậu thả tay nải xuống rồi nhảy phắt lên hàng rào. Cậu thoăn thoắt vít người trèo lên, đoạn cậu cảm thấy những bàn tay thô ráp chộp lấy chân mình. Nhìn xuống, cậu trông thấy khuôn mặt biến dạng của Henry Bowers, nhoe nhoét máu và than. Mike giằng chân lên. Chiếc giày của cậu tuột ra, rơi vào tay Henry. Cậu đạp thẳng bàn chân không vào mặt Henry và nghe thấy tiếng rắc vang lên. Henry thét lên inh ởi và lảo đảo lùi lại, bưng mũi đang chảy máu ồ ạt.

Một bàn tay khác- lần này là của Huggins Ợ Hơi – kéo gấu quần jean của Mike, nhưng cậu vẫn giật ra được. Vừa lẳng một chân qua hàng rào thì có thứ gì đó đập mạnh vào mặt cậu. Chất lỏng nóng ấm rỉ xuống má. Lại có thứ gì đó đập vào hông, vào cẳng tay, vào đùi cậu. Chúng đang ném đống xỉ than cậu gom vào người Mike.

Cậu giữ tay được một chút thì buông thõng, lộn nhào hai vòng. Mặt đất phủ cây cỏ, thoai thoải đổ dốc, và có lẽ nhờ vậy mà cứu được thị giác của Mike Hanlon hoặc thậm chí mạng sống của cậu; Henry tiến đến hàng rào, quăng một trong bốn viên M-80 qua rào. Quả pháo nổ ĐÙNG! vang vọng và thổi bay một vạt cỏ.

Tai ong lên, Mike lăn vòng vòng và lảo đảo đứng dậy. Cậu đang ở phần rìa của Vùng Đất Cằn, với cỏ mọc cao lô nhô. Quệt tay xuống má phải, cậu nhìn thấy tay mình bê bết máu. Nhưng thật ra cậu cũng chẳng lấy làm lo lắng khi thấy máu chảy, cậu không nghĩ mình có thể thoát khỏi tình thế này mà không xây xát miếng nào.

Henry ném một quả pháo cầu, song Mike trông thấy nên đã tránh đi dễ dàng.

“Bắt lấy nó!” Henry rống lên và bắt đầu trèo lên rào.

“Trời ơi, Henry, tao không biết nữa…” Với Peter Gordon, một kẻ chưa bao giờ rơi vào tình hình bung bét đến nhường này, mọi chuyện đã đi quá xa. Chơi thì chơi, vui thì vui, nhưng tốt nhất không nên có cảnh máu chảy - chí ít là với những thành viên trong phe mình.

“Mày liệu mà biết đi,” Henry gầm gừ, liếc mắt nhìn xuống Peter từ giữa hàng rào. Hắn treo người lơ lửng như một con nhện trương phình đầy nọc độc mang hình người. Đôi mắt sòng sọc đe dọa trân trân chĩa vào Peter; máu vằn vện ở khóe mắt. Cú đạp của Mike đã làm gãy mũi hắn, dù lúc này Henry chưa ý thức được điều đó. “Mày liệu mà biết đi, không thì coi chừng tao làm gỏi mày đấy, đồ khốn kiếp.”

Nghe đến đây, bọn chúng bèn vội vàng trèo lên, Peter và Victor có phần lưỡng lự, Ợ Hơi và Moose vẫn hăng hái một cách ngơ ngẩn như ban đầu.

Mike không đợi thêm nữa. Cậu quay người, cắm đầu chạy vào bụi cây. Henry lồng lên phía sau: “Tao sẽ tìm ra mày, thằng mọi đen! Tao sẽ tìm cho bằng được!”

8

Hội Cùi Bắp đi đến cuối bãi đá dăm, giờ chỉ còn là một vết rỗ khổng lồ đầy cỏ dại trên mặt đất, ba năm sau khi lô đá dăm cuối cùng được vận chuyển ra khỏi bãi. Cả nhóm đang tụ tập xung quanh Stan, háo hức nhìn bọc pháo Black Cat của cậu khi tiếng nổ đầu tiên vang lên. Eddie nhảy dựng - cậu vẫn chưa hết thẫn thờ sau vụ cá piranha cậu tưởng nhầm rằng mình đã trông thấy cậu không chắc cá piranha thực sự trông ra sao, nhưng cậu khá chắc nhìn chúng không giống cá vàng ngoại cỡ có răng).

“Bình tĩnh nào, Eddie huynh,” Richie nói bằng giọng Anh Cu li Trung Hoa. “Mấy đứa trẻ khác bắn pháo thôi ấy mà.”

“D-D-Dở trời s-s-sợ luôn đó, R-R-Richie,” Bill nhận xét. Cả đám phá lên cười.

“Em vẫn đang cố đây, Bill To Bự,” Richie nói. “Em có cảm giác nếu em đủ giỏi, em sẽ chiếm được tình yêu của chàng.” Cậu làm điệu bộ hôn gió thật kêu. Bill đưa tay ngắm bắn cậu. Ben và Eddie đứng cạnh nhau cười ngặt nghẽo.

“Ôi, em quá trẻ còn chàng quá già,” Stan Uris chợt cất tiếng, bắt chước gần như giống hết giọng Paul Anka, “người yêu hỡi, họ bảo em như thế…”

“Nghe ngài ấy nói kìa!” Richie ré lên bằng Giọng Nhóc da đen. “Lạy Chúa lòng lành, cậu công tử đây nói hay chưa kìa!” Và rồi, cậu chuyển qua giọng nói của Phát thanh viên thời sự MovieTone: “Tôi muốn cậu ký vào đây, trên đường kẻ chấm này.” Richie quàng tay quanh vai Stan và nở nụ cười rộng đến mang tai. “Chúng ta sẽ nuôi cho tóc cậu dài, cho cậu cây đàn ghi-ta. Và rồi…”

Bill búng vào tay Richie hai lần, nhanh và nhẹ. Ai nấy đều háo hức trước việc bắn pháo.

“Mở ra đi, Stan,” Beverly nói. “Tớ có diêm này.”

Cả bọn quây quần xung quanh trong lúc Stan cẩn trọng mở túi pháo. Trên nhãn hiệu màu đen để những chữ tiếng Trung xa lạ, ngoài ra có một câu bằng tiếng Anh khiến Richie khúc khích cười. “Không nắm trong tay sau khi châm ngòi nổ,” dòng cảnh báo ghi.

“May mà họ nhắc tớ,” Richie nói. “Lúc nào tớ cũng cầm nó sau khi châm lửa hết. Tớ cứ tưởng đó là cách để hết bị xước măng rô chứ.”

Chậm rãi, gần như hết sức nghiêm trang, Stan gỡ lớp bóng kính màu đỏ và xếp những ống giấy xanh đỏ ra lòng bàn tay mình. Ngòi nổ được tết đuôi sam vào nhau.

“Tớ sẽ tháo…” Stan vừa cất tiếng thì một tiếng nổ to hơn hẳn váng lên. Tiếng vọng đi đúng vang khắp Vùng Đất Cằn. Một đám mòng biển cất cánh bay lên từ phía đông bãi rác, thất thanh cất tiếng kêu. Cả nhóm nhảy dựng. Stan đánh rơi pháo và phải cúi xuống nhặt.

“Là thuốc nổ đúng không?” Beverly lo lắng hỏi. Cô nhìn Bill, lúc này đang ngẩng đầu nghe ngóng, mắt mở to. Cô thầm nhủ sao trông cậu lại khôi ngô tuấn tú đến thế – nhưng có gì đó rất cảnh giác và căng thẳng trong dáng điệu nghiêng đầu ấy. Nhìn cậu như con nai đánh hơi mùi lửa trong không khí.

“Tớ đoán đó là pháo M-80,” Ben dè dặt. “Mùng 4 tháng 7 năm ngoái, tớ chơi trong công viên và trông thấy mấy người cấp ba có hai viên pháo trong tay. Bọn chúng để một viên trong thùng rác bằng sắt, nó phát ra tiếng động y như vậy.”

“Nó có làm lủng thùng rác không, Haystack?” Richie hỏi.

“Không, nhưng nó làm cái thùng phình to. Trông như thể có người tí hon bên trong vừa đấm nó một phát vậy. Sau đó bọn chúng chạy đi.”

“Tiếng to ở gần chúng ta hơn,” Eddie nói, cậu cũng đưa mắt nhìn Bill.

“Thế giờ các cậu có muốn bắn pháo hay không đây?” Stan hỏi. Cậu đã gỡ được khoảng chục quả pháo và xếp gọn những quả còn lại trên lớp giấy bôi sáp để lát nữa dùng.

“Có chứ,” Richie nói.

“C-C-Cất chúng đ-đ-đi.”

Cả bọn nhìn Bill đầy thắc mắc, có chút sợ hãi – do tông giọng cộc lốc của cậu chứ không phải lời cậu nói.

“C-C-C-Cất chúng đ-đ-đi mau,” Bill lặp lại, mặt méo xệch vì chật vật mãi mới nói thành lời. Nước bọt bắn ra từ môi cậu. “S-S Sắp x-x-xảy ra ch-ch-chuyện rồi.”

Eddie liếm môi, Richie dùng ngón cái nâng gọng kính lên trên sống mũi rịn mồ hôi, Ben dịch lại gần Beverly hơn trong vvô thức.

Stan mở miệng toan nói gì đó nhưng có một tiếng nổ nhỏ hơn vang lên, là pháo hình cầu.

“Đ-Đá,” Bill lắp bắp.

“Cái gì hả Bill?” Stan hỏi.

“Đ-Đ-Đá. G-G-Gom đ-đạn mau,” Bill bắt đầu nhặt nhạnh đá và nhét chúng vào túi cho đến khi túi phình lên. Mọi người nhìn cậu chằm chằm như thể cậu đã phát khùng… và rồi Eddie nhận thấy mồ hôi rịn ra trên trán. Chợt cậu hiểu thế nào là lên cơn sốt rét. Đây là cảm giác mà cậu có vào cái ngày cậu và Bill gặp Ben (như mọi người, Eddie dần dà quen với biệt danh Haystack dành cho Ben), cũng như cái ngày Henry Bowers đập cậu chảy máu mũi – nhưng lần này linh tính mách bảo cậu tệ hơn nhiều. Cậu có cảm giác vùng Đất Cằn sắp sửa tanh bành như Hiroshima.

Ben bắt tay vào gom đá, tiếp đến là Richie, thoăn thoắt, không nói tiếng nào. Kính của cậu trượt xuống và rơi đánh cạch xuống mặt đá dăm. Cậu mơ hồ gập kính, cất vào trong túi áo.

“Cậu làm thế chi vậy, Richie?” Beverly hỏi. Giọng cô mỏng tang, căng như dây đàn.

“Tớ chịu,” Richie nói và tiếp tục nhặt đá.

“Beverly, có khi cậu nên, ừm, tạm lánh về phía bãi rác đi,” Ben đề nghị. Tay cậu gom đầy đá.

“Vớ va vớ vẩn,” cô nói. “Cậu liên thiên cái gì thế hả, Ben Hanscom?” Đoạn cô cúi xuống, bắt tay vào nhặt đá.

Stan trầm ngâm nhìn mọi người trong lúc cả bọn nhặt nhạnh đá như những nông dân thần kinh. Đoạn cậu cũng cúi nhặt đá, môi mím chặt thành đường chỉ.

Eddie cảm thấy cảm giác nghèn nghẹt quen thuộc khi họng mình thít lại như lỗ kim.

Không phải lúc này, khốn kiếp, cậu chợt nghĩ. Lúc này bạn bè đang cần mình. Bev nói chuẩn, vớ va vớ vẩn.

Và rồi cậu cũng lia lịa nhặt đá.

9

Henry Bowers vốn quá to lớn và nhanh nhảu, thành thử trong những trường hợp thông thường, hắn khó có thể linh hoạt hoặc lẹ làng, nhưng trường hợp hiện tại không có chút gì là thông thường cả. Hắn đau như hoạn, cuồng nộ, và những cảm xúc ấy biến hắn trở thành thiên tài thể chất bộc phát hành động theo bản năng. Bao suy nghĩ lý trí đã biến mất, đầu óc hắn như ngọn lửa bừng bừng trên bãi cỏ cuối hè khi hoàng hôn buông xuống, đỏ rực và xám khói. Hắn đuổi theo Mike Hanlon như con bò đuổi theo lá cờ màu đỏ. Mike đang chạy dọc con đường rậm rạp men theo bãi đá rộng, con đường này dẫn tới bãi rác, nhưng trong tình trạng hiện giờ, Henry chẳng buồn quan tâm đường sá ra sao; hắn chạy xuyên qua cây cỏ, bụi gai theo đường thẳng, không cảm thấy gai của những vết cắt li ti cũng như cành thông quất vào mặt, vào cổ và tay. Điều quan trọng duy nhất hiện tại là cái đầu của thằng mọi đen chết bằm chết vằm ấy đang gần lại. Tay phải Henry cầm một viên pháo M-80, tay trái cầm que diêm. Khi thộp cổ được thằng mọi đen, hắn sẽ đánh lửa, châm ngòi nổ và nhét cái thứ chết toi này vào quần nó.

Mike biết Henry đang tăng tốc và những kẻ còn lại bám sát phía sau. Cậu cố thúc bản thân chạy nhanh hơn. Sợ hãi tột độ, cậu phải gồng hết sức mới có thể giữ cho mình không hoảng loạn. Lúc bằng qua đường ray, cậu làm trật mắt cá chân nặng hơn cậu tưởng và giờ chỉ còn sức chạy cà nhắc. Cây cối răng rắc trên đường Henry chạy, cách hắn bất chấp tất cả như thế khơi gợi trong lòng cậu những hình ảnh chẳng mấy dễ chịu rằng cậu đang bị một con chó điên hoặc một con gấu hung dữ đuổi theo.

Con đường mở rộng phía trước, và Mike nhào vào bãi đá dăm. Cậu lăn xuống đáy, đứng dậy, băng qua bãi đá được nửa đường thì nhận ra có một nhóm trẻ ở đó, tổng cộng là sáu người. Họ dàn thành một hàng, nét mặt có gì đó thật buồn cười. Mãi về sau, khi có cơ hội thong thả ngẫm nghĩ lại mọi chuyện, cậu mới ngộ ra lý do cậu thấy nét mặt của họ lạ thường: tựa hồ họ đã sẵn sàng tâm thế đợi cậu đến.

“Cứu với.” Mike thốt lên khi tập tễnh tiến lại phía họ. Theo bản năng, cậu nói chuyện với cậu con trai cao ráo có mái tóc màu đỏ. “Đám du côn… Đám du côn to lớn ấy…”

Đúng lúc đó, Henry lao vào bãi đá dăm. Trông thấy sáu người bọn họ, hắn phanh kít lại. Trong thoáng chốc, khuôn mặt của hắn lộ vẻ băn khoăn, và hắn nhìn ra sau lưng. Hắn thấy binh đoàn của mình, và khi nhìn lại các thành viên Hội Cùi Bắp (lúc này, Mike đang đứng bên cạnh và lùi về sau Bill Denbrough một chút, thở hồng hộc), Henry nở nụ cười.

“Tao biết mày, thằng kia,” hắn nói với Bill. Đoạn hắn liếc nhìn Richie: “Tao biết cả mày nữa. Kính mày đâu rồi, thằng bốn mắt?” Richie chưa kịp trả lời thì Henry đã nhìn thấy Ben. “Ối chà, thằng khốn kiếp! Cả thằng Do Thái và thằng béo cũng có mặt ở đây à? Con ghệ mày đó hả béo?”

Ben khẽ nhảy dựng lên như vừa bị ai bóp mông.

Henry vừa dứt lời thì Peter Gordon chạy đến bên Henry. Victor cũng đã đến nơi và đứng sang phía Henry. Ợ Hơi và Moose Sadler đến cuối cùng, rồi hai nhóm đối lập xếp thành hai hàng, gần như mặt đối mặt hết sức thẳng thớm.

Vừa thở hồng hộc như một con bò đội lốt người, Henry vừa lên tiếng. “Tao còn nhiều ân oán chưa giải quyết với bọn mày lắm, nhưng hôm nay, tao sẽ cho qua. Tao muốn thằng mọi đen kia. Nên chúng mày lặn đi cho nước trong.”

“Chuẩn,” Ợ Hơi ra vẻ thông thái.

“Hắn đã giết chó của tớ,” Mike thốt lên, giọng run rẩy và vỡ vụn. “Chính miệng hắn nói!”

“Mày mò qua đây ngay cho tao,” Henry gầm gừ, “có khi tao sẽ nể tình không cho mày về chầu trời.”

Mike run bần bật song cố thủ, không nhúc nhích.

Nhẹ nhàng nhưng rõ ràng, Bill cất tiếng: “V-Vùng Đất Cằn là của bọn tao. Ch-Ch-Chúng mày biến kh-khỏi đây mau.”

Henry trợn mắt như thể vừa lãnh cú tát trời giáng.

“Đứa nào bắt tao đi?” Hắn hỏi. “Mày ấy hả, thằng ngựa?”

“B-B-Bọn tao,” Bill nói. “Bọn tao nh-nh-nhịn mày hết nổi rồi, B-B-Bowers. Biến đ-đ-đi.”

“Thằng cà lăm chết tiệt,” Henry chửi rủa. Hắn cúi đầu nhào tới.

Bill nắm một đống đá trong tay, nói chính xác hơn, tất cả mọi người đều cầm một đống đá trên tay, chỉ trừ Mike và Beverly mỗi người cầm một cục. Bill bắt đầu ném vào Henry, ném từ từ, dồn lực mạnh và canh tương đối chuẩn xác. Hòn đá đầu tiên trật mục tiêu: nhưng hòn thứ hai trúng vào vai Henry. Nếu hòn đá thứ ba bị trật, có lẽ Henry đã kịp nhào tới Bill và vật cậu xuống đất, nhưng nó trúng đích: hòn đá đập vào đầu Heny.

Henry thét lên đau đớn, kinh ngạc, đoạn hắn nhìn lên… và ăn tiếp bốn hòn đá nữa vào người: một cục billet-doux từ Richie Tozier vào ngực, một cục từ Eddie bật vào vai, một cục do Stan Uris quăng trúng cằm và một cục Beverly chọi thẳng vào bụng.

Thư tình (tiếng Pháp).

Hắn trân trối nhìn bọn họ với vẻ ngạc nhiên, và bỗng dưng, một loạt hỏa tiễn phòng vùn vụt qua không trung. Henry ngã ra sau, vẻ mặt vẫn còn nguyên nét biểu cảm kinh ngạc và đau đớn ấy. “Nào, tụi mày!” Hắn hét lên. “Cứu tao coi!”

“N-N-Ném chúng” Bill thấp giọng nói, và không đợi để thấy họ có xông lên hay không, cậu chạy tới trước.

Mọi người lao lên cùng cậu, không chỉ ném đá vào Henry mà vào tất cả bọn chúng. Đám côn đồ mò mẫm dưới đất nhặt nhạnh đá làm vũ khí nhưng chúng chưa kịp gom bao nhiêu thì đã ăn đạn tơi bời. Peter Gordon hét lên khi một hòn đá do Ben ném vượt qua má làm hắn chảy máu. Hắn lùi vài bước, đứng khựng lại, ném hú họa một hai viên… rồi co giò chạy. Với hắn, thế này đã là giọt nước tràn ly rồi; ở Tây Broadway, hắn không phải đối mặt với những tình huống như vậy.

Henry hối hả quơ quang vơ một nắm đá. May mắn thay cho Hội Cùi Bắp, đa số đá hắn nhặt được chỉ là sỏi. Hắn chọn viên kích thước tương đối lớn ném vào Beverly và cứa rách tay cô. Cô thét lên.

Ben gầm lên, lao về phía Henry Bowers, hắn chỉ kịp ngước nhìn thấy cậu nhào đến chứ không kịp tránh. Henry mất thăng bằng, cũng phải thôi, Ben nặng bảy mươi ký, có khi còn hơn; nên kết quả chẳng có gì ngạc nhiên. Henry không chỉ ngã dúi dụi mà còn bay thẳng ra sau. Hắn đập lưng xuống đất và trượt một đoạn. Ben chạy đến chỗ hắn, chỉ lờ mờ để ý một bên tại mình đang nóng ran, lùng bùng vì đau do Huggins Ợ Hơi ném hòn đá to cỡ quả bóng gôn vào cậu.

Henry còn đang lảo đảo khuỵu gối thì Ben đã đến nơi và cho hắn một cước thật mạnh, chân cậu thúc thẳng vào hông trái của Henry. Hắn để đánh rầm xuống đất, hai mắt long lên sòng sọc nhìn Ben.

“Mày là thể loại khốn khiếp gì mà đi ném đá vào con gái hả?” Ben hét lên. Cả đời mình, chưa lần nào cậu cảm thấy phẫn nộ đến thế. “Ai cho phép mày…”

Đoạn cậu trông thấy ánh lửa bừng lên trong tay Henry khi hắn đánh diêm. Hắn đưa đầu diêm vào ngòi nổ dày cui của viên pháo M-80 rồi quăng thẳng vào mặt Ben. Không kịp nghĩ ngợi gì, Ben dùng lòng bàn tay đập vào thỏi pháo, lắng nó như cách người ta lấy vợt đỡ cầu lông. Viên M-80 lại lao xuống đất. Trông thấy nó nhào đến mình, mắt Henry trợn tròn và hắn vội lăn đi, thét gào ầm ĩ. Trong chớp mắt, thỏi pháo nổ tung, khiến lưng áo Henry đen ngòm và rách lỗ chỗ.

Giây sau, Ben bị Moose Sadler tấn công và khuỵu xuống. Răng cậu bập vào lưỡi chảy máu. Cậu chớp mắt nhìn quanh, choáng váng. Moose chạy về phía cậu, nhưng hắn chưa kịp đến chỗ Ben đang quỳ gối thì Bill đã nhào lên từ đằng sau và ném đá lia lịa vào gã to con. Moose xoay người, la ỏm tỏi.

“Mày ném đá sau lưng tao, đồ nhát cáy!” Moose hét. “Đồ chơi bẩn!”

Hắn toan lồng lên nhưng Richie đã tham gia cùng Bill ném đá vào Moose. Richie chẳng lấy làm ấn tượng trước lối nói vừa ăn cắp vừa la làng của Moose về định nghĩa nhát cáy, cậu từng chứng kiến cảnh năm người bọn chúng đuổi đánh một đứa trẻ sợ mất mật, và cậu nghĩ chúng không đủ tư cách để xem mình ngang hàng với Vua Arthur hay Kỵ sĩ Bàn tròn. Hỏa tiễn do Richie bắn cứa rách phần da bên trên lông mày trái của Moose làm hắn gào lên.

Eddie và Stan Uris tiến tới tham gia cùng Bill và Richie. Beverly bước cùng các bạn, tay cô chảy máu nhưng mắt cô sáng rực. Đá bay tới tấp. Huggins Ợ Hơi hét lên khi một hòn đá đập vào xương khuỷu tay của hắn. Hắn nhảy lên như con choi choi, xoa khuỷu tay mình tới tấp. Henry lảo đảo đứng dậy, lưng áo rách như tổ đỉa, lớp da bên dưới may sao còn lành lặn. Trước khi hắn xoay người, Ben Hanscom đã ném đá vào gáy khiến hắn lại khuỵu xuống.

Victor Criss là kẻ khiến Hội Cùi Bắp chật vật nhất ngày hôm ấy, phần vì hắn là một kẻ phát bóng tương đối khá, nhưng nguyên nhân chủ yếu – dù có vẻ nghịch lý – là bởi hắn chẳng thiết tha gì chuyện này. Càng lúc, hắn càng không muốn có mặt ở đây. Chọi đá kiểu này có thể dẫn tới khả năng bị thương rất nặng; một đứa trẻ có thể bị nứt sọ, gãy hết răng, thậm chí chột mắt ấy chứ. Nhưng vì hắn đã lỡ đâm lao nên đành phải theo lao thôi. Hắn chẳng dại gì mà vớ vào rắc rối.

Sự bình thản ấy cho hắn có thêm ba mươi giây lượm lặt đá với kích cỡ tương đối. Hắn ném một hòn vào Eddie lúc Hội Cùi Bắp chỉnh đốn lại hàng ngũ, và Eddie lãnh trọn vào cằm. Cậu ngã xuống, la oai oái, máu bắt đầu tứa ra. Ben quay sang bạn nhưng Eddie đã gượng dậy, máu đỏ thẫm trên làn da nhợt nhạt, mắt nheo lại.

Victor ném Richie và hòn đá đập vào ngực cậu. Richie ném trả, song Victor né được dễ dàng và nhắm vào Bill Denbrough. Bill ngả đầu ra sau, nhưng không kịp; hòn đá cứa toác má của cậu.

Bill quay sang nhìn Victor. Bốn mắt nhìn nhau, và Victor thấy trong tia nhìn của thằng nhóc cà lăm kia ẩn chứa thứ gì đó khiến hắn sợ đến mất hồn mất vía. Thật lố bịch nhưng môi hắn run run chực nói Tao xin rút lại! … song vấn đề ở chỗ, đó là câu tối kị nói với đứa khác. Trừ khi mày muốn đám bạn của mày coi mày không bằng con chó.

Đoạn Bill cất bước tiến lại chỗ Victor, Victor cũng đi đến chỗ Bill. Cùng lúc, tựa hồ thần giao cách cảm, cả hai bắt đầu lấy đá chọi nhau, và vẫn tiếp tục giảm khoảng cách. Trận chiến xung quanh họ tạm lắng bởi mọi người đều quay sang nhìn; đến cả Henry còn quay đầu nhìn.

Victor hết né lại tránh, nhưng Bill chẳng buồn làm thế. Đá Victor ném đập vào ngực, vào vai và bụng cậu. Một viên sượt qua tai, Nhưng tất cả không khiến Bill lung lạc, cậu ném hết viên này đến viên khác với sức mạnh chết người. Hòn đá thứ ba đập vào đầu gối Victor vang lên tiếng cốp khô khốc khiến hắn rên lên nghèn nghẹn. Hắn đã hết đạn trong khi Bill vẫn còn sót lại một viên. Viên đá nhẵn nhụi màu trắng, lấp lánh thạch anh, có hình dáng và kích cỡ bằng quả trứng vịt. Victor Ciss thấy nó có vẻ cứng. Bill cách hắn chưa tới một mét rưỡi.

“M-M-Mày b-biến ngay kh-khỏi đ-đ-đây,” cậu nói, “không thì tao s-sẽ n-ném b-b-bể đ-đầu mày. Tao kh-không đ-đ-đùa đâu.”

Nhìn thẳng vào mắt đối phương, Victor biết cậu nói thật. Không nói thêm lời nào, hắn quay lưng và bỏ về hướng mà Peter Gordon đã rút lui.

Ợ Hơi và Moose Sadler nhìn quanh với vẻ đắn đo. Máu chảy từ khóe miệng của Sadler và cũng đang tứa ra từ vết thương trên mặt Ợ Hơi.

Miệng Henry mấp máy nhưng chẳng thốt ra được lời nào. Bill quay sang Henry. “B-B-Biến đi” cậu nói.

“Tao không biến thì sao?” Henry ra vẻ nói cứng nhưng Bill trông thấy ánh mắt đối thủ đã đổi khác. Hắn đang sợ và rồi hắn sẽ đi mà thôi. Đáng lý ra Bill phải cảm thấy sung sướng - thậm chí là đắc chí – song cậu chỉ cảm thấy mệt mỏi.

“N-Nếu mày kh-không đi,” Bill nói, “b-b-bọn tao s-sẽ t-tấn c-c công m-mày. Tao thấy s-s-sáu ng-người bọn t-tao có thể ch-cho mày vào v-v-viện đấy.”

“Bảy người,” Mike Hanlon lên tiếng và đứng vào hàng ngũ. Mỗi tay cậu cầm hòn đá to cỡ quả bóng mềm. “Mày thách tao, Bowers. Tao sẽ cho mày thấy.”

“Thằng MỌI ĐEN khốn kiếp!” Giọng Henry vỡ ra, run rẩy chực trào nước mắt. Giọng nói ấy rút cạn bao ý chí chiến đấu nơi Ợ Hơi và Moose; chúng lùi lại, thả hết đá khỏi tay. Ợ Hơi nhìn quanh như thể tự hỏi rốt cuộc mình đang ở đâu.

“Biến khỏi chỗ của bọn tao,” Beverly lên tiếng.

“Im đi, con khốn,” Henry nói. “Đồ…” Bốn hòn đá bay cùng một lúc, đập vào bốn bộ phận trên người Henry. Hắn thét lên và loạng choạng lùi lại trên mặt đất đầy cỏ dại, áo rách tả tơi lật phật quanh người. Hắn nhìn những khuôn mặt sa sầm, không sợ trời, không sợ đất của đối thủ rồi đưa mắt nhìn khuôn mặt hoảng hốt của Ợ Hơi và Moose. Bất lực rồi, bất lực thật rồi. Moose quay mặt đi, xấu hổ.

Henry đứng dậy, khóc sụt sịt qua cái mũi gãy. “Tao sẽ giết hết bọn mày,” hắn nói và co giò chạy biến. Phút sau, hắn đã khuất dạng.

“Đ-Đ-Đi ngay,” Bill nói với Ợ Hơi. “Biến đ-đi. Và đ-đ-đừng x-x xuống đ-đây nữa. V-V-Vùng Đất Cằn là c-c-của bọn tao.”

“Mày sẽ hối hận khi chọc giận Henry đấy, thằng oắt con,” Ợ Hơi dọa. “Đi thôi, Moose.”

Chúng lục tục bỏ đi, đầu cúi gằm, không buồn nhìn lại.

Bảy người bọn họ đứng rải rác thành hình bán nguyệt, ai cũng chảy máu. Trận chọi đá định mệnh ấy kéo dài chưa tới bốn phút, vậy mà Bill có cảm giác cậu đã trải qua cả hai phần bộ phim về Thế chiến thứ hai mà không có lấy một khoảng nghỉ.

Không gian yên tĩnh bị phá vỡ bởi những tiếng hít thở khó nhọc, hớp lấy hớp để không khí. Ben tiến lại chỗ bạn, cảm nhận ba cái bánh Twinkie và bốn cái bánh Ding-Dong cậu ăn trên đường đến Vùng Đất Cằn bắt đầu làm giặc trong bụng, cậu đành chạy ngang qua Eddie về phía bụi rậm, nơi cậu bón chè cho đất một cách riêng tư và nhỏ nhẹ nhất có thể.

Richie và Bev tiến lại chỗ Eddie. Beverly vòng một tay qua eo cậu bạn gầy nhom của mình trong lúc Richie rút ống thở từ trong túi ra. “Ngậm vào đi, Eddie,” cậu nói và Eddie hồng hộc hít lúc Richie bóp cò.

“Cảm ơn cậu,” mãi lúc sau Eddie mới khó nhọc lên tiếng.

Ben bước ra khỏi bụi cây, mặt bừng bừng, đưa tay chùi miệng. Beverly bước đến chỗ cậu rồi khẩn khoản đưa hai tay cầm hai tay cậu.

“Cảm ơn cậu đã đứng lên vì tớ,” cậu nói.

Ben gật đầu, mắt nhìn xuống đôi giày bẩn trên chân của mình. “Bất cứ lúc nào, bạn hiền,” cậu nói.

Lần lượt, mỗi người bọn họ quay sang nhìn Mike, cậu bé với làn da sậm màu. Cả nhóm quan sát cậu một cách cẩn trọng, e dè, trầm tư. Trước đây, Mike cũng từng cảm nhận ánh nhìn tò mò ấy – hay nói đúng hơn, đó là chuyện thường ngày ở huyện với cậu – và cậu cương nghị nhìn mọi người.

Bill nhìn từ Mike sang Richie. Richie quay sang, bốn mắt nhìn nhau. Và Bill có cảm tưởng dường như cậu nghe thấy tiếng cạch - bộ phận cuối cùng đã khớp một cách hoàn hảo vào cỗ máy chẳng rõ phục vụ mục đích gì. Cậu thấy lưng mình như bị ướp đá lạnh. Chúng ta đã tề tựu đông đủ, cậu nghĩ, ý tưởng ấy quá đỗi mạnh mẽ, quá đỗi đúng đắn, đến độ trong thoáng chốc, suýt chút nữa cậu đã thốt lên thành lời. Nhưng tất nhiên, cậu không cần nói ra miệng; cậu có thể thấy điều đó trong mắt Richie, Ben, Eddie, Beverly và Stan.

Chúng ta đã tề tựu đông đủ, cậu lại nghĩ. Ôi, cầu Chúa cứu giúp. Giờ mọi thứ thực sự bắt đầu rồi. Cầu Chúa giúp chúng con.

“Tên cậu là gì?” Beverly hỏi.

“Tớ là Mike Hanlon.”

“Cậu muốn bắn vài quả pháo không?” Stan hỏi, và nụ cười của Mike đã thay cho câu trả lời.

« Lùi
Tiến »