GÃ HỀ MA QUÁI

Lượt đọc: 10379 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14
cuốn album
1

Hóa ra, Bill không phải người duy nhất đem rượu đến ai nấy cũng đều làm vậy.

Bill nang bourbon, Beverly mang vodka và hộp nước cam, Richie mang một lốc bia, Ben Hanscom mang một chai Wild Turkey. Mike để sẵn lốc sáu lon bia trong tủ lạnh dưới phòng nghỉ cho nhân viên.

Eddie Kaspbrak đến sau cùng, trên tay cầm chiếc túi nhỏ màu nâu.

“Cậu mang theo gì thế, Eddie?” Richie hỏi. “Za-Rex hay Kool-Aid?”

Mỉm cười đầy căng thẳng, Eddie lấy ra rượu gin và chai nước mận.

Trong sự im lặng ngột ngạt bao phủ không gian sau đó, Richie khẽ lên tiếng: “Ai đó gọi mấy tay mặc áo blouse trắng hộ cái. Eddie Kaspbrak quyết chơi banh nóc chuyến này rồi đây.”

“Rượu gin pha nước mận thật ra rất tốt cho sức khỏe đấy,” Eddie cự lại… và rồi tất cả mọi người cười rộ lên, tiếng cười giòn giã vang vọng trong thư viện tĩnh lặng, truyền qua cả hành lang bằng kính nối giữa thư viện người lớn và thư viện trẻ em.

“Cậu cứ tự nhiên,” Ben nói, đưa tay chùi nước mắt sau tràng cười. “Cậu cứ tự nhiên nhé, Eddie. Tớ đoán nó cũng giúp nhuận tràng lắm.”

Vừa cười, Eddie vừa đổ nước mận đầy ba phần tư ly giấy rồi từ tốn đổ thêm hai nắp rượu gin.

“Ôi, Eddie, tớ thương cậu quá,” Beverly nói, và Eddie ngước lên, có phần bất ngờ nhưng vẫn giữ nụ cười trên môi. Cô hết nhìn lên lại nhìn xuống bàn. “Tớ thương tất cả các cậu”.

Bill nói, “B-Bọn tớ cũng rất thương cậu, B-Bev ạ.”

“Phải,” Ben nói. “Cả bọn đều thương cậu.” Mắt anh mở to thêm một chút, và rồi anh phá lên cười. “Tớ nghĩ chúng ta vẫn rất thương nhau đấy… Các cậu có biết điều này hiếm hoi lắm không?”

Mọi người rơi vào một khoảng lặng, và rồi Mike không lấy làm ngạc nhiên cho lắm khi thấy Richie đang đeo kính.

“Kính áp tròng của tớ đeo vào rát quá nên tớ phải tháo ra,” Richie giải thích sơ khi Mike hỏi. “Bọn mình vào thẳng vấn đề thôi nhỉ?”

Cả bọn quay sang nhìn Bill như năm xưa, lúc ở bãi đá dăm, và Mike thầm nhủ: Mọi người nhìn Bill khi cần một người đứng mũi chịu sào, nhìn Eddie khi cần định hướng. Cái gì mà vào thẳng vấn đề kia chứ, mình dùng từ kiểu quái gì vậy. Chẳng lẽ mình bảo họ thi thể của những đứa trẻ được phát hiện trước giờ không hề có dấu hiệu bị xâm phạm tình dục, thậm chí cũng không bị cắt xẻo mà là bị ăn thịt một phần? Chẳng lẽ mình bảo họ rằng mình đã chuẩn bị sẵn bảy cái mũ bảo hiểm của thợ mỏ, loại có gắn đèn công suất mạnh ở phía trước, cất đằng sau nhà, một cái cho cậu bạn mang tên Stan Uris không dám chơi lớn, như ngày trước cả bọn hay nói? Hay mình chỉ cần bảo họ về nhà, ngủ thật ngon là đủ rồi, vì đến mai hoặc tối mai, mọi thứ sẽ đến hồi kết – cho Nó hoặc cho chúng ta?

Có lẽ chẳng cần phải nói câu nào, và lý do không cần nói nhiều đã được trình bày rõ họ vẫn thương yêu nhau. Hai mươi bảy năm qua, nhân gian vật đổi sao dời, nhưng kỳ diệu làm sao, tình cảm ấy vẫn không hề thay đổi. Theo Mike nghĩ, đó là hy vọng duy nhất của họ.

Việc duy nhất còn lại là phải giải quyết cho xong, hoàn thành công đoạn hỏi thăm nắm bắt thông tin, kết nối quá khứ vào hiện tại sao cho những đoạn trải nghiệm đứt quãng hình thành một guồng bánh nửa mùa nào đó. Phải, Mike nghĩ, đúng vậy. Tối nay, nhiệm vụ của chúng ta là tạo ra guồng quay, ngày mai, chúng ta sẽ nhìn nó chuyển động… như nó từng chuyển động lúc chúng ta đuổi đám du côn kia ra khỏi bãi đá dăm và ra khỏi Vùng Đất Cằn.

“Cậu nhớ ra những chuyện còn lại chưa?” Mike hỏi Richie.

Richie ừng ực vài ngụm bia và lắc đầu. “Tớ nhớ cậu có nói với cả nhóm về con chim… và về ống khói.” Nụ cười vỡ ra trên gương mặt Richie. “Tối nay, trên đường đến đây cùng Bevvie và Ben, tớ nhớ ra được chừng đó. Khốn kiếp, chẳng thua gì phim kinh dị ấy nhỉ…”

“Bíp bíp, Richie,” Beverly nói, nhoẻn cười.

“Chà, cậu biết đấy,” anh nói, vẫn giữ nụ cười trên môi và đẩy kính lên trên mũi bằng cử chỉ giống cậu bé Richie ngày xưa đến rợn người. Anh nháy mắt với Mike. “Tớ với cậu. Mikey nhỉ?”

Mike phì cười, gật đầu.

“Quý cô Xì-cô-lét! Quý cô Xì-cô-lét ơi!” Richie ré lên bằng giọng Nhóc da đen. “Trong nhà xông khói ấm lên rồi kìa, thưa quý cô Xì-cô-lét!”

Cười giòn giã, Bill lên tiếng, “Lại một thành tựu về kỹ thuật và kiến trúc của Ben Hanscom.”

Beverly gật đầu. “Cả bọn đang đào bới phòng sinh hoạt nhóm thì cậu đem cuốn album của bố cậu đến Vùng Đất Cằn, Mike nhỉ?”

“Ôi Chúa ơi!” Bill nói, chợt ngồi bật dậy. “Và những bức hình…”

Richie nghiêm nghị gật đầu. “Vẫn màn cũ như trong phòng của Georgie. Chỉ có điều, lần này tất cả chúng ta đều thấy.”

“Tớ nhớ chuyện xảy ra với đồng bạc còn lại rồi,” Ben nói.

Mọi người quay sang nhìn anh.

“Tớ đã tặng ba đồng bạc cho một người bạn trước khi đến đây,” Ben khẽ nói. “Cho con của anh ấy. Tớ nhớ còn một đồng bạc thứ tư nữa, nhưng lúc trước, tớ không tài nào nhớ nổi nó lưu lạc ở đâu. Giờ thì tớ biết rồi.” Anh nhìn qua Bill. “Chúng ta đã chế viên đạn bạc từ đồng xu ấy, phải không? Cậu, tớ và Richie. Ban đầu chúng mình định làm một viên đạn bạc tinh xảo hơn…”

“Đầu tiên, cậu rất tự tin mình có thể làm được,” Richie gật gù. “Nhưng rốt cuộc…”

“Bọn mình lại c-co v-vòi,” Bill chậm rãi gật đầu. Ký ức dần dà ăn khớp vào đúng vị trí, và lúc ấy, anh nghe thấy tiếng cạch! trầm thấp nhưng không lẫn vào đâu được vang lên. Chúng ta càng lúc càng gần hơn rồi, anh thầm nhủ.

“Chúng ta đã quay trở lại đường Neibolt,” Richie nói. “Tất cả mọi người.”

“Cậu đã cứu mạng tớ, Bill To Bự,” Ben chợt bồi hồi nhưng Bill lắc đầu.

“Có đấy,” Ben khăng khăng, và lần này, Bill không lắc đầu nữa. Anh ngờ ngợ có khi anh đã làm thế thật, dù hiện tại, anh chưa nhớ ra mình làm bằng cách nào… mà có phải anh là người cứu Ben không nhỉ? Anh nghĩ có khi lại là Beverly ấy chứ… nhưng ký ức chưa trở về. Chỉ là chưa mà thôi.

“Cho tớ xin phép một lát nhé,” Mike lên tiếng. “Tớ có để lốc bia trong tủ lạnh đằng sau.”

“Có một lốc của tớ nữa đấy,” Richie nói.

“Mỗ không uống bia của dân da trắng,” Mike đáp. “Nhất là của vị huynh đài đó, Tía Lia.”

“Bíp bíp, Mikey,” Richie nghiêm mặt đáp, và Mike đi lấy bia trong tràng cười ấm áp của cả nhóm.

Anh bật đèn trong phòng nghỉ, một căn phòng nhỏ tồi tàn với hàng ghế xập xệ, một máy pha cà phê Silex cáu bẩn, một bảng tin đính toàn những mẩu tin cũ mèm, thông tin lương và giờ giấc, vài tập truyện tranh New Yorker đã vàng ố và quăn góc. Mở tủ lạnh, anh cảm nhận cơn choáng váng thấm đẫm trong người, thấu đến tận xương, trắng xóa như băng, tựa hồ cái lạnh buốt giá táp vào người khi bước sang tháng Hai, tưởng chừng tháng Tư sẽ không bao giờ đến. Những quả bóng bay màu xanh và cam ồ ạt bay ra, hàng chục quả, như chùm bóng bay ăn mừng vào đêm giao thừa, và giữa nỗi sợ hãi đang trào dâng, anh mụ mẫm nghĩ, Chúng ta chỉ cần Guy Lombardo thổi toe toe bài “Auld Lang Syne” là đủ bộ. Chúng lướt qua mặt anh, là là bay lên trần phòng nghỉ. Anh cố hét lên nhưng không thể, bởi anh trông thấy thứ đằng sau những quả bóng, thứ mà Nó đã để vào tủ lạnh, cạnh lốc bia của anh, như món đồ nhắm khuya dành cho anh, sau khi lũ bạn vô dụng của anh đã kể xong những câu chuyện vô dụng của họ và về lại giường trong căn phòng họ thuê ở thị trấn nơi không còn là quê hương này.

Mike lùi lại một bước, đưa tay lên mặt, che đi tầm nhìn. Anh vấp phải ghế, suýt chút nữa thì ngã nên phải hạ tay xuống. Nó vẫn ở đó; thủ cấp bị chặt rời của Stan uris vẫn nằm cạnh lốc sáu lon bia Bud Light của Mike, nhưng không phải đầu của một người trưởng thành mà là của cậu bé mười một tuổi. Miệng cậu há to thành một tiếng thét vô thanh, song Mike không thể thấy rằng hay lưỡi vì miệng bị nhét đầy lông vũ. Lông vũ có màu nâu nhạt và kích thước rất to. Anh thừa biết đây là lông vũ của con chim nào. Ồ phải. Ồ, phải rồi. Anh đã từng thấy con chim ấy vào tháng Năm năm 1958, cả nhóm đã thấy nó vào đầu tháng Tám năm 1958 và nhiều năm sau, khi thăm người bố gần đất xa trời của mình, anh phát hiện ông Will Hanlon cũng từng trông thấy nó sau khi thoát khỏi trận cháy ở Điểm Đen. Máu chảy ra từ cái cổ nát bấy của Stan nhỏ xuống thành vũng đặc trên kệ dưới cùng tủ lạnh. Nó ánh lên màu đỏ đậm dưới ngọn đèn vô tình chiếu sáng trong tủ.

“Ư… ư… ư…” Mike chật vật nhưng chẳng rặn được thêm lời nào. Đoạn cái đầu mở mắt, và hai con ngươi là đôi mắt lóe lên màu bạc của Gã hề Pennywise. Đôi mắt đảo về phía anh, hàng môi của thủ cấp nhộm nhoạm quanh cái mồm đầy lông. Nó đang tìm cách nói gì đó, có lẽ toan đưa ra lời tiên đoán như nhà tiên tri trong vở kịch Hy Lạp.

Tao vừa nảy ra ý tưởng, để tạo tham gia cùng bọn mày, Mike ạ, vì không có tao, bọn mày còn lâu mới thắng được. Không có tao, bọn mày không thể thắng, mày thừa biết vậy mà, phải không? Nếu tao xuất hiện toàn thây thì bọn mày còn có cửa, nhưng tao không thể chịu được áp lực đè nặng lên bộ óc chuẩn Mỹ của tao, mày hiểu ý tao không, kẹo dẻo. Những gì sáu đứa chúng mày có thể làm là ôn lại kỷ niệm xưa rồi mất mạng. Vậy nên tao nghĩ thôi thì để tạo ngáng đường chúng mày ngay từ đầu cho xong. Ngáng đường đấy, mày hiểu không, Mikey? Hiểu không, bằng hữu? Hiểu không hả, thằng mọi đen mạt hạng khốn kiếp?

Ngươi không có thật! Anh thét lên nhưng chẳng có âm thanh nào phát ra; anh như chiếc ti vi đã bị tắt tiếng.

Một cách đầy bất ngờ và gớm guốc, cái đầu nháy mắt với anh.

Tao có thật đấy. Thật như từng giọt mưa. Và mày hiểu tao đang nói gì mà, Mikey. Thứ mà sáu đứa bọn mày tính làm chẳng khác nào cất cánh trên một chiếc máy bay không có thiết bị hạ cánh. Bay lên làm gì nếu mày không thể bay xuống? Cũng chẳng có nghĩa lý gì khi đi xuống nếu không thể đi lên. Bọn mày sẽ không bao giờ nghĩ ra những câu đố và chuyện cười phù hợp đâu. Mày sẽ không bao giờ làm tao cười được, Mikey ạ. Bọn mày đã quên làm thế nào để thét gào trào máu họng rồi nhỉ? Bíp bíp, Mikey, mày có gì phát ngôn không? Mày còn nhớ con chim chứ? Nó chỉ là con chim sẻ thôi, nhưng ối chà chà! To gì mà khiếp thế nhỉ? To phải cỡ cái kho thóc, to như những con quái vật trong mấy bộ phim Nhật ngu ngốc khiến mày sợ xanh mặt lúc bé đấy. Cái thời mày biết cách đuổi con chim đi khỏi cửa đã trôi vào dĩ vãng rồi. Tao bảo này, Mikey. Nếu mày biết vận dụng cái đầu của mình, mày sẽ biến khỏi đây, khỏi Derry này, ngay và luôn. Nếu mày có đầu mà không biết dùng, rồi mày sẽ như thứ nằm trong tủ. Biển báo trên con đường đời hôm nay là xài trước khi mất, bạn tao ạ.

Cái đầu lộn xuống mặt (lông vũ nhét trong miệng vang lên tiếng lạo xạo gớm ghiếc) rồi rơi ra khỏi tủ lạnh. Nó rớt bịch xuống sàn và lăn đến chỗ anh như quả bóng bowling ma quái, mái tóc bết máu cùng khuôn mặt đang cười thay phiên nhau xoay lên; nó lăn tới anh, để lại vệt máu dinh dính và những mảnh lông vũ đằng sau, mồm nó chuyển động quanh đống lông vũ.

Bíp bíp, Mikey! Nó thét lên khi Mike điên cuồng lùi lại, hai tay quơ quàng gạt đi. Bíp bíp bíp bíp, mẹ kiếp, bíp bíp!

Và rồi bất thình lình, một tiếng póc rất to vang lên – như âm thanh phát ra từ nút bần bằng nhựa của chai sâm panh rẻ tiền. Cái đầu biến mất (Nó là thật, Mike nôn nao nghĩ; tiếng póc ấy chẳng có gì siêu nhiên cả; nó là tiếng không khí tràn vào không gian bất chợt bị trống… nó là thật, ôi Chúa ơi, là thật). Một tấm mạng mảnh những giọt máu li ti lơ lửng trong không trung rồi rào rào trút xuống. Nhưng cũng chẳng cần lau dọn phòng nghỉ làm gì, ngày mai, có bước vào, Carole cũng chẳng thấy, ngay cả khi cô ấy phải lội qua đống bóng bay để đến chỗ bếp hâm mà pha ly cà phê đầu tiên trong ngày. Tiện quá là tiện. Anh khúc khích cười rộ lên.

Anh ngẩng đầu lên, phải, bóng bay vẫn ở đó. Những quả bóng màu xanh ghi: MỌI ĐEN DERRY BẮT CON CHIM. Bóng cam ghi: Hội Cùi Bắp VẪN CÙI BẮP, NHƯNG STANLEY URIS ĐÃ VƯỢT LÊN TRÊN.

Bay lên làm gì nếu mày không thể bay xuống, cũng chẳng có nghĩa lý gì khi đi xuống nếu không thể đi lên. Cái đầu biết nói ấy đã bảo anh như thế. Vế thứ hai khiến anh lại nghĩ đến những cái mũ bảo hộ của thợ mỏ để sẵn trong nhà. Liệu nó có đúng không? Chợt anh nghĩ đến ngày đầu tiên anh đi xuống Vùng Đất Cằn sau trận ném đá. Hôm ấy là ngày mùng 6 tháng 7, hai ngày sau khi anh tham gia cuộc diễu hành Mùng Bốn Tháng Bảy… hai ngày sau khi anh tận mắt trông thấy gã hề Pennywise lần đầu tiên. Sau cái ngày ở Vùng Đất Cằn. Sau khi lắng nghe mọi người kể chuyện và sau khi tâm sự một cách lưỡng lự chuyện của mình, cậu bé Mike là anh năm ấy đã về nhà và hỏi bố liệu cậu có thể xem cuốn album của ông được hay không.

Chính xác thì tại sao anh lại đi xuống Vùng Đất Cằn vào ngày mùng 6 tháng 7 đó nhỉ? Liệu anh có biết mình sẽ gặp họ ở đó không? Dường như là thế – và anh không chỉ biết họ sẽ có mặt ở đó, mà còn biết cả địa điểm họ tụ tập. Anh nhớ họ có nhắc đến phòng sinh hoạt nhóm, nhưng anh cảm thấy ngoài miệng, họ bàn tán về chủ đề này dù trong lòng bận tâm về chuyện khác, một vấn đề mà họ không biết mô tả thành lời.

Mike ngước lên nhìn đống bóng bay, nhưng hình ảnh chúng không lọt vào mắt anh, mà thay vào đó, anh cố lục lọi tâm trí mình để nhớ lại chính xác ngày hôm ấy, cái ngày đầy oi bức ấy. Bất chợt, anh thấy mình cần phải nhớ lại chuyện đã xảy ra, mọi chi tiết, mọi thay đổi trong đầu anh.

Bởi đó là lúc mọi thứ sắp sửa xảy ra. Trước đó, mọi người có bàn đến chuyện kết liễu Nó, nhưng không có các bước hành động hay kế hoạch nào cụ thể. Thời điểm Mike đến cũng là lúc vòng tròn đóng lại và bánh xe bắt đầu lăn. Chiều tà cùng ngày hôm ấy, Bill, Richie và Ben đến thư viện, nghiêm túc bắt tay vào nghiên cứu ý tưởng mà Bill đề ra một ngày, một tuần hay một tháng trước đó. Tất cả đã bắt đầu…

“Mike?” Richie gọi anh từ Phòng Tham khảo, nơi mọi người đang tập trung. “Cậu chết ở trong đấy phỏng?”

Gần chết rồi đây, Mike nghĩ, mắt liếc nhìn đống bóng bay, máu me và lông vũ bên trong tủ lạnh.

Anh gọi với lên: “Các cậu xuống đây một lát đi.”

Anh nghe thấy tiếng ghế đẩu kèn kẹt, tiếng họ khẽ trao đổi, anh nghe thấy tiếng Richie càu nhàu “Ôi Chúa ơi, gì nữa đấy?” ở một bên tai, còn tai kia, anh nghe vẳng lại từ trong ký ức của mình tiếng Richie nói câu gì đó khác, và anh chợt nhớ ra điều mình mải miết đi tìm; thậm chí, anh còn hiểu tại sao nó lại gần ngay trước mặt mà xa tận chân trời đến thế. Phản ứng của cả nhóm khi anh bước vào khoảng đất ở nơi tối tăm nhất, sâu nhất và um tùm nhất của Vùng Đất Cằn vào ngày hôm ấy là… bình chân như vại. Không chút bất ngờ, không chút thắc mắc làm thế nào anh tìm ra họ, không lấy làm lạ. Anh nhớ lúc ấy Ben đang ăn bánh Twinkie, còn Beverly và Richie đang hút thuốc, Bill nằm ườn trên cỏ, hai tay kê sau đầu, mắt nhìn trời, Eddie và Stan nghi ngờ nhìn những sợi dây được cột xuống đất tạo thành hình vuông rộng chừng một mét rưỡi.

Không chút bất ngờ, không chút thắc mắc, không lấy làm lạ. Anh xuất hiện và được chấp nhận, đơn giản thế thôi. Tựa hồ họ đã đợi anh, dù bản thân họ không hề hay biết điều đó. Và bên tai thứ ba, tai của ký ức, anh nghe thấy Richie cất lên Giọng Nhóc da đen giống như tối nay: “Lawdy, quý cô Clawdy, anh chàng

2

da đen kia tái xuất giang hồ rồi kìa! Lạy Chúa lòng lành, chẳng biết rồi đây Vùng Đất Cằn sẽ đi đâu về đâu! Nhìn quả đầu xoăn tít thò lò ấy mà xem, Bill To Bự!” Bill chẳng quay đầu lại nhìn; cậu tiếp tục mơ màng nhìn những đám mây to lớn mùa hè lững lờ bay qua bầu trời. Cậu đang dồn tâm trí cho câu hỏi vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, Richie không thấy thế mà phật ý. Cậu nói tiếp, “Nhìn quả đầu xoăn tít thò lò ấy thôi cũng đủ khiến con muốn uống thêm một ly Chu-líp bạc hà! Con sẽ ra ngoài hiên uống, ở ngoài đó được cái mát mẻ…”

“Bíp bíp, Richie,” Ben vừa nói vừa nhồm nhoàm Twinkie, Beverly thấy vậy phá lên cười.

“Chào các cậu,” Mike rụt rè nói. Tim cậu khẽ đập thình thịch, nhưng cậu quyết tâm đã làm là phải làm cho trót. Cậu còn nợ họ lời cảm ơn, mà bố cậu đã dạy luôn phải trả thứ mình nợ - và phải trả nhanh nhất có thể, trước khi lãi mẹ đẻ lãi con.

Stan nhìn quanh. “Chào cậu,” cậu nói rồi nhìn xuống bốn sợi dây chằng thành hình vuông ở giữa. “Ben này, cậu có chắc nó ăn thua không vậy?”

“Có chứ sao không,” Ben khẳng định. “Chào Mike.”

“Hút thuốc không Mike?” Beverly hỏi. “Tớ còn hai điếu.”

“Thôi, cảm ơn cậu,” Mike hít một hơi thật sâu và nói. “Tớ muốn một lần nữa gửi lời cảm ơn đến tất cả các cậu vì hôm nọ đã cứu tớ. Đám côn đồ ấy đã tìm cách hại tớ. Tớ xin lỗi đã khiến các cậu bị thương.”

Bill phẩy tay xua đi. “Đ-Đ-Đừng c-c-câu nệ ch-ch-chuyện đó. B-Bọn chúng ỷ m-mạnh h-h-hiếp yếu bọn tớ suốt c-c-cả năm rồi.” Cậu ngồi dậy và ngước nhìn Mike với đôi mắt lấp lánh sáng bừng. “T-Tớ c-c-có thể hỏi cậu ch-ch-chút không?”

“Tất nhiên rồi,” Mike đáp. Cậu dè chừng ngồi xuống. Cậu chẳng lạ gì lời mào đầu kiểu này. Thể nào cậu bạn nhà Denbrough cũng sẽ hỏi cậu là một người da đen có cảm giác thế nào.

Nhưng thay vào đó, Bill lại hỏi: “Hai năm trước, L-L-Larsen không mắc l-l-lỗi x-xử lý bóng nào trong trận S-Series Thế giới, c-cậu có nghĩ đó chỉ là m-may mắn không?”

Richie rít thuốc thật sâu và húng hắng ho. Beverly dịu dàng vỗ lên lưng bạn. “Cậu còn xanh và non lắm, Richie ạ, cứ từ từ rồi sẽ học được.”

“Tớ nghĩ khéo có khi nó sập đấy, Ben ơi,” Eddie lo lắng nói, mắt nhìn hình vuông chăng dây. “Tớ không thấy khoái ý tưởng bị chôn sống đâu nhé.”

“Thế nào mà bị chôn sống được chứ,” Ben đáp. “Mà nếu có thì cậu chỉ cần ngậm ống thở thân thương cho đến khi có người kéo cậu ra thôi.”

Stanley Uris thấy câu nói ấy buồn cười đến nôn ruột. Cậu ngả người tựa vào khuỷu tay, đầu ngẩng lên trời, cười như được mùa cho đến khi Eddie đá vào mắt cá chân và bảo cậu thôi đi giùm.

“May mắn, rốt cuộc Mike lên tiếng. “Tớ nghĩ việc không mắc lỗi xử lý bóng nào là hay không bằng hên.”

“T-T-Tớ c-cũng thấy thế,” Bill nói. Mike đợi xem còn câu hỏi nào khác không, nhưng Bill có vẻ khá hài lòng. Cậu lại nằm xuống, hai tay đan đằng sau đầu và tiếp tục ngắm mây bay.

“Các cậu đang làm gì thế?” Mike hỏi, nhìn những sợi dây ngang dọc chăng trên đất.

“À, đây là ý tưởng lớn trong tuần của Haystack đó,” Richie giải thích. “Lần trước, cậu ấy làm Vùng Đất Cằn ngập lụt, hơi bị ngầu nhé, nhưng lần này mới là đắt xắt ra miếng đây. Tháng này bọn tớ tổ chức Tháng Tự Đào Phòng Sinh Hoạt Nhóm. Tháng sau…”

“C-Cậu việc gì ph-ph-phải trù dập B-B-B-Ben nh-nh-như thế.” Bill nói, mắt vẫn nhìn trời. “Nó s-sẽ t-t-tuyệt lắm đó.”

“Chúa ơi, Bill, tớ đang đùa mà.”

“Đ-Đùa cũng phải c-c-có mức độ thôi, R-Richie.”

Richie im lặng chấp nhận lời quở trách.

“Tớ vẫn chưa hiểu,” Mike nói.

“À, đơn giản lắm,” Ben giải thích. “Mọi người muốn xây một cái nhà trên cây, và cả bọn có thể làm được, nhưng ngã từ trên cây xuống thì thể nào cũng gãy xương…”

"Kookie... Kookie... cho em mượn xương của anh," Stan nói và phá lên cười ngặt nghẽo trong khi cả đám ngẩn ra nhìn cậu. Stan không phải cây hài, và chút máu hài trong người cậu lại có phần chẳng giống ai.

Stan đang nhái lời bài hát Kookie, Kookie (Lend Me Your Comb).

“Thưa ngài, hình như ngài bị khìn khìn thì phải,” Richie véo von. “Chắc do trong sàn nhảy nóng nực quá.”

“Nói tóm lại,” Ben tiếp tục, “điều bọn tớ định làm là đào xuống khoảng một mét rưỡi trong hình vuông mà tớ đánh dấu ở đây. Tớ nghĩ bọn mình không thể đào sâu hơn nữa vì sẽ đụng phải mạch nước ngầm. Nó nằm khá sát mặt đất. Sau đó cả bọn sẽ đắp các mặt xung quanh để nó không sập xuống.” Cậu nhìn chằm chằm vào Eddie nhưng Eddie vẫn lo ra mặt.

“Rồi sao nữa?” Mike thích thú hỏi.

“Mình sẽ dựng nóc.”

“Hả?”

“Lấy các tấm gỗ che lên miệng hố là được. Mình có thể lắp cửa sập hay gì đó để đi ra đi vào, thậm chí cả cửa sổ nếu muốn…”

“Mình sẽ cần vài b-b-bản lề,” Bill nói, mắt vẫn mơ màng nhìn mây trôi.

“Chúng ta có thể mua chúng ở Cửa hàng Đồ dùng Reynolds,” Ben nói.

“C-Các c-c-cậu có t-t-tiền tiêu vặt nhỉ?” Bill nói.

“Tớ có năm đô,” Beverly lên tiếng. “Tớ tiết kiệm từ việc trông trẻ đó.”

Richie liền lồm cồm bò lại chỗ cô. “Tớ yêu cậu, Bevvie,” cậu nói và ngước nhìn cô với đôi mắt long lanh như cún con. “Cậu sẽ cưới tớ chứ? Chúng mình sẽ sống trong căn nhà chòi dựng bằng gỗ thông…”

“Căn gì cơ?” Beverly hỏi, còn Ben giương mắt nhìn hai người bọn họ với vẻ mặt lo lắng xen lẫn thích thú và tập trung.

“Một căn nhà chòi dựng bằng thỗng gô,” Richie nói. “Năm đồng là đủ rồi, tình yêu ơi, một túp lều thông, hai trái tim vàng…”

Beverly cười ngặt nghẽo, má hây hây đỏ và né khỏi cậu bạn.

“Cả bọn c-cùng chia s-sẻ chi ph-phí,” Bill nói. “Đó là lý do mình lập hội mà.”

“Sau khi lấy các tấm gỗ che miệng hố,” Ben tiếp tục, “mình sẽ bôi keo công nghiệp này - keo Tangle-Track – rồi lấp cỏ lên trên. Rắc thêm lá thông nữa này. Bọn mình có thể chui xuống phòng và người khác - những kẻ như Henry Bowers chẳng hạn – đi trên đầu chúng ta mà không hề hay biết.”

“Cậu tự nghĩ ra đấy à?” Mike trầm trồ. “Trời ơi, sao cậu ghê gớm vậy!”

Ben mỉm cười. Đến lượt cậu đỏ mặt.

Chợt Bill ngồi dậy và nhìn Mike. “Cậu c-c-có muốn gi-giúp không?”

“À… hẳn rồi,” Mike đáp. “Nghe có vẻ vui.”

Những thành viên còn lại đưa mắt nhìn – Mike cảm thấy và nhìn thấy nó rõ rành rành. Bảy người bọn mình đã tề tựu ở đâu rồi, Mike nghĩ, và chẳng hiểu vì lý do gì mà cậu rùng mình.

“Khi nào các cậu động thổ?”

“S-S-Sớm th-thôi,” Bill nói và Mike biết – tận trong thâm tâm – điều Bill đang nhắc tới không chỉ dừng lại ở phòng sinh hoạt nhóm dưới đất của Ben. Ben cũng biết điều đó. Cả Richie, Beverly và Eddie đều hiểu. Stan Uris đã thôi cười. “B-Bọn mình s-s-sẽ bắt đầu d-d-dự án này sớm th-th-thôi.”

Có một khoảng lặng, và rồi Mike chợt nhận ra hai điều: họ muốn nói gì đó, muốn bảo cậu gì đó… và cậu không chắc mình muốn nghe. Ben nhặt một cây gậy và nguệch ngoạc linh tinh lên đất, tóc lòa xòa che mặt. Richie gặm móng tay vốn đã nham nhở. Chỉ có Bill nhìn trực diện vào Mike.

“Có chuyện gì à?” Mike lo lắng hỏi.

Thật chậm rãi, Bill cất tiếng: “B-B-Bọn mình là m-một h-hội. C-Cậu có thể tham gia nếu cậu m-m-muốn, chỉ cần gi-giữ k-kín b-b bí mật của cả bọn.”

“Ý cậu là phòng sinh hoạt nhóm?” Mike hỏi, giờ còn cảm thấy ngột ngạt hơn. “Ừ, hẳn rồi…”

“Bọn tớ còn một bí mật lớn nữa, bạn hiền,” Richie nói, vẫn không nhìn thẳng vào Mike. “Và Bill To Bự bảo mùa hè này, bọn tớ có nhiệm vụ quan trọng hơn nhiều so với việc đào đất xây phòng sinh hoạt nhóm.”

“Cậu ấy nói phải đấy,” Ben chêm vào.

Chợt tiếng thở hồng hộc vang lên. Mike nhảy dựng. Hóa ra là Eddie vừa hít vào. Eddie nhìn Mike với vẻ hối lỗi, nhún vai rồi gật đầu.

“Chà,” rốt cuộc Mike thốt lên, “đừng làm tớ hồi hộp nữa. Nói đi nào.”

Bill nhìn cả nhóm. “C-Có a-a-ai kh-không muốn cậu ấy th-tham gia h-hội không?”

Không ai nói gì hay giơ tay.

“C-Có ai muốn n-nói gì không?” Bill hỏi.

Tiếp tục có một sự im lặng dài, và lần này, Bill không lên tiếng phá vỡ. Cuối cùng, Beverly thở dài và nhìn Mike.

“Những đứa trẻ bị giết chết,” cô nói. “Bọn tớ biết thủ phạm là ai, và đó không phải con người”

3

Bọn họ lần lượt kể với câu chuyện gã hề trên băng, gã hủi dưới hiên nhà, máu và giọng nói từ lỗ thoát nước, xác các cậu bé ở Standpipe. Richie kể chuyện xảy ra lần cậu và Bill quay lại đường Neibolt, còn Bill là người lên tiếng cuối cùng, kể về bức hình chụp chân dung chuyển động cũng như tấm hình mà cậu thò tay vào. Cậu kết luận bằng cách giải thích thứ đó đã giết chết Georgie - em trai cậu, và Hội Cùi Bắp đã quyết tâm giết chết con quái vật ấy… bất kể chân tướng của nó là gì.

Tối hôm ấy, lúc về nhà, Mike thầm nghĩ đáng ra cậu phải lắng nghe với vẻ mặt bán tín bán nghi rồi chuyển dần sang kinh hoàng, sau đó co giò bỏ của chạy lấy người, không một lần quay đầu nhìn lại, đinh ninh trong lòng cậu đang bị một đám con nít da trắng không ưa gì dân da đen chơi khăm hoặc cậu đụng trúng sáu đứa đầu óc chập cheng, cái sự chập cheng ấy lây hết cả hội, giống như cái cách những ai học chung lớp lại bị lây cùng một loại vi-rút cảm cúm.

Nhưng không, cậu không chạy, vì dù hãi hùng, cậu cảm thấy thoải mái đến lạ. Thoải mái và còn một cảm giác khác, một cảm giác căn cơ hơn: cảm giác cậu đã tìm được chốn dung thân. Bảy người bọn mình đã tề tựu nơi đây, cậu thầm nghĩ khi Bill nói xong.

Cậu mở miệng toan nói gì đó nhưng không chắc mình sẽ nói gì.

“Tớ đã từng thấy gã hề” cậu kể.

“Cái gì cơ?” Richie và Stan đồng thanh kêu lên, Beverly quay phắt lại, đến độ mái tóc đuôi ngựa của cô quật từ vai trái sang vai phải.

“Tớ thấy hắn vào mùng Bốn,” Mike chậm rãi kể, chủ yếu là nói cho Bill nghe. Đôi mắt sắc bén và tập trung hết sức của Bill đổ dồn vào cậu, yêu cầu cậu kể tiếp. “Phải, vào ngày mùng 4 tháng 7…” Cậu thoáng lưỡng lự, lòng thầm nghĩ: Nhưng tớ biết hắn. Tớ biết hắn vì đó không phải lần đầu tiên tớ trông thấy hắn. Và đó cũng không phải lần đầu tiên tớ bắt gặp thứ gì đó… thứ gì đó sai trái.

Lúc ấy, cậu nghĩ về con chim, lần đầu tiên kể từ tháng Năm, cậu thực sự cho phép bản thân mình nghĩ về nó – ngoại trừ những lúc nằm mơ thấy ác mộng. Cậu cứ tưởng mình sắp phát điên đến nơi. Giờ đây, khi biết mình không điên, cậu cảm thấy nhẹ nhõm… nhưng cái cảm giác ấy vẫn thật đáng sợ. Cậu liếm môi.

“Kể tiếp đi.” Bev sốt ruột nói. “Nhanh nào.”

“Chà, vấn đề là lúc ấy tớ đang tham gia diễu hành. Tớ…”

“Tớ có thấy cậu.” Eddie nói. “Cậu là người chơi kèn saxophone nè.”

“À, thật ra đó là kèn trombone,” Mike nói. “Tớ chơi với Ban nhạc Trường Nhà thờ đường Neibolt. Nói chung, tớ đã trông thấy gã hề. Hắn phát bóng bay cho trẻ con ở ngã giao trung tâm thị trấn. Hắn trông giống như Ben và Bill mô tả. Hắn mặc bộ đồ màu bạc, hàng nút cam, mặt trang điểm trắng bệch và nụ cười màu đỏ rất to. Tớ không rõ nó là son hay trang điểm, nhưng trông chẳng khác gì máu.”

Cả nhóm gật gù hào hứng hơn, nhưng Bill chỉ tiếp tục dán mắt quan sát Mike. “Hắn có chỏm t-t-tóc c-c-cam nào không?” Cậu hỏi Mike, vvô thức mô tả chúng bằng cách đưa ngón tay lên đầu.

Mike gật đầu.

“Trông thấy hắn… tớ phát hoảng. Và lúc tớ đang nhìn chằm chằm vào hắn, hắn quay lại vẫy tay với tớ, như thể hắn đọc được tâm trí tớ, hoặc cảm xúc của tớ, hoặc bất cứ thứ gì tương tự vậy. Và điều đó… còn khiến tớ hoảng sợ hơn. Lúc ấy, tớ chưa hiểu lý do tại sao, nhưng hắn khiến tớ sợ hãi đến độ trong vài giây tớ không chơi được kèn trombone luôn. Miệng tớ khô khốc và tớ thấy…”

Cậu liếc nhìn Beverly. Giờ đây, cậu nhớ rõ mồn một từng chi tiết, nhớ rõ khi ấy, mặt trời bỗng dưng đổ xuống chói chang đến khôn tả, loang loáng trên chiếc kèn đồng và lớp vỏ crôm của xe cộ, nhớ rõ tiếng nhạc đinh tai nhức óc, nhớ rõ trời xanh rợn ngợp. Gã hề giơ một tay mang găng trắng tay kia cầm chùm bóng bay), chậm rãi vẫy tới vẫy lui, nụ cười máu me quá đỏ, quá rộng, tựa hồ tiếng hét bị lật ngược. Cậu nhớ như in vùng hạ bộ của mình râm ran như có kiến bò, bụng chợt quặn lên, như thể cậu sắp bĩnh ra quần đến nơi. Nhưng cậu không thể nói những lời này trước mặt Beverly. Ai lại vô duyên đến mức nói những câu bất nhã như vậy với phái nữ kia chứ, dù trước mặt cô gái ấy, ta có thể thoải mái nói “đồ khốn” hay “tiên sư”…

“Tớ thấy sợ” cậu nói, cảm thấy mình đúng là đồ yếu đuối, nhưng chẳng biết phải diễn tả thành lời những rối ren còn lại trong lòng ra sao. Nhưng mọi người đều gật gù đầy thấu hiểu, và cậu cảm thấy nhẹ nhõm dào dạt trong lòng. Cảnh tượng gã hề nhìn cậu, nở nụ cười đỏ như máu, bàn tay mang găng trắng chậm rãi lắc qua lắc lại… hình ảnh ấy còn gớm ghiếc hơn việc Henry Bowers và bè lũ rượt đuổi cậu. Thậm chí còn tệ hại hơn.

“Sau đó bọn tớ đi ngang qua,” Mike kể tiếp. “Chúng tớ diễu hành lên đồi Đường Chính. Một lần nữa, tớ lại trông thấy hắn phát bóng bay cho trẻ con. Chỉ có điều nhiều em nhỏ không muốn nhận. Một số đứa còn khóc ré lên. Tớ không tài nào hiểu nổi làm thế nào mà hắn có thể đến đây nhanh như vậy. Tớ thầm nhủ chắc có hai người, các cậu biết đấy, hai người ăn mặc giống hệt nhau chẳng hạn. Chúng là một đội với nhau. Nhưng rồi hắn lại xoay người và vẫy tay với tớ, và lúc ấy, tớ dám chắc đó là hắn. Đó là cùng một người.”

“Hắn không phải người đâu,” Richie nói, Beverly rùng mình. Bill vòng một tay ôm lấy vai cô, và cô nhìn cậu với ánh mắt biết ơn.

“Hắn vẫy tay với tớ… và rồi hắn nháy mắt. Như thể bọn tớ có bí mật gì đó. Hoặc như thể… như thể hắn biết tớ đã nhận ra hắn.”

Bill thả tay khỏi vai Beverly. “ Cậu nh-nh-nh-nhận ra hắn ư?”

“Tớ nghĩ vậy,” Mike nói. “Trước khi khẳng định chắc chắn, tớ phải kiểm tra lại một số thứ. Bố tớ có vài bức hình… Ngày trước ông sưu tầm… Tớ bảo này, các cậu hay xuống đây chơi phải không?”

“Đúng rồi,” Ben nói. “Đó là lý do bọn tớ xây dựng phòng sinh hoạt nhóm.”

Mike gật đầu. “Vậy để tớ kiểm tra xem tớ có đúng không đã. Nếu đúng, tớ sẽ mang mấy bức hình tới.”

“H-Hình c-c-cũ à?” Bill hỏi.

“Ừ.”

“C-C-Còn gì nữa kh-không?” Bill hỏi.

Mike dợm nói gì đó nhưng lại thôi. Cậu ngần ngại nhìn quanh rồi nói, “Các cậu sẽ nghĩ tớ bị khùng mất. Bị khùng hoặc nói dối.”

“C-Cậu c-c-có ngh-nghĩ bọn tớ kh-kh-khùng không?”

Mike lắc đầu.

“Bọn tớ không khùng đâu.” Eddie nói. “Tớ biết tớ có lắm điều khác người, nhưng tớ không dở khùng dở điên.”

“Không,” Mike đáp. “Tớ không nghĩ các cậu bị điên.”

”Chà, b-bọn tớ cũng kh-không ngh-nghĩ cậu b-bị đ-đi… khùng đ-đ-đâu,” Bill nói.

Mike nhìn các bạn một lượt, đằng hắng và nói: “Tớ từng trông thấy một con chim. Tầm hai, ba tháng trước. Tớ đã thấy một con chim.”

Stan Uris nhìn Mike. “Chim gì thế?”

Ban nãy ngần ngừ một thì bây giờ ngần ngừ gấp mười, Mike rụt rè: “Trông nó vừa như chim sẻ vừa giống chim cổ đỏ. Ngực nó lại có màu cam.”

“Hừm, con chim ấy có gì đặc biệt à?” Ben hỏi. “Ở Derry có nhiều chim lắm.” Nhưng cậu thấy hơi ngột ngạt, và khi nhìn Stan, cậu dám chắc Stan đang nhớ lại chuyện xảy ra trong Standpipe cũng như việc cậu ấy đã thoát khỏi cảnh ngàn cân treo sợi tóc bằng cách hét lên tên các loài chim. Song cậu quên bằng tất tần tật khi nghe câu tiếp theo Mike thốt lên.

“Con chim ấy còn to hơn cả căn nhà di động,” cậu nói.

Cậu nhìn những khuôn mặt thảng thốt đầy kinh ngạc của các bạn. Cậu đợi họ phá lên cười song chẳng một ai nắc nẻ. Vẻ mặt Stan như thể vừa bị chọi gạch vào đầu. Mặt cậu trắng nhợt đến độ trông như ánh mặt trời nhạt nhòa tháng Mười Một.

“Tớ thể đó là sự thật,” Mike nói. “Con chim ấy khổng lồ lắm, như những con chim trong phim quái vật thời tiền sử vậy.”

“Phải, như trong phim Móng vuốt khổng lồ ,” Richie nói. Lúc mới xem, cậu còn thấy con chim trong bộ phim trông thật giả tạo, nhưng đến phần con chim bay đến New York, cậu hào hứng tới độ hất tung bắp rang bơ khắp thanh chắn ban công của rạp Aladdin. Nếu là bình thường, Foxy Foxworth sẽ tống cổ cậu ra ngoài rồi, may sao lúc ấy bộ phim cũng vừa kết thúc. Thỉnh thoảng ta bị ăn hành, nhưng như Bill To Bự từng nói, thỉnh thoảng ta lại được trời thương.

“Nhưng nó không giống động vật thời tiền sử,” Mike nói. “Và nó cũng không giống loài chim gì đó xuất hiện trong thần thoại của người Hy Lạp và La Mã…”

“Qu-quái đ-điểu R-R-Roc?” Bill nhắc.

“Phải, hình như là vậy. Nó cũng không giống quái điểu thần thoại ấy. Nó như lại giữa chim cổ đỏ và chim sẻ. Hai loài chim mà chúng ta hay gặp nhất.” Cậu khẽ cười váng lên.

“C-Ch-Chỗ nào…” Bill lắp bắp.

“Kể bọn tớ nghe đi,” Beverly gọn lỏn, và sau một thoáng sắp xếp suy nghĩ trong đầu, Mike kể đầu đuôi ngọn ngành. Vừa kể vừa quan sát khuôn mặt mọi người dần trở nên lo lắng và sợ hãi, song không chút nghi ngờ cũng chẳng cười cợt, cậu cảm thấy ngực mình như trút được đá tảng. Như Ben với chuyện xác ướp, Eddie với gã hủi và Stan với xác những cậu bé chết đuối, cậu đã bắt gặp thứ dư sức khiến một người lớn phát điên, không phải chỉ vì quá kinh hãi, mà còn vì phải đối diện với một thứ phi hiện thực, không tài nào giải thích nổi, cũng chẳng thể phân tách bằng lý trí, thà nhắm mắt làm ngơ cho xong. Mike từng đọc được ở đâu đó rằng khuôn mặt của Elijah đã bị đốt đen thui bởi ánh sáng từ tình thương của Chúa; nhưng lúc sự việc này xảy ra, Elijah đã già lắm rồi, và có thể mấu chốt nằm ở đây. Ngược lại, chẳng phải một chàng trai trẻ trong Kinh Thánh đã vật lộn với thiên sứ và kết cục là cân tài cân sức đó sao?

Cậu đã trông thấy cảnh tượng ấy và vẫn sống tiếp cuộc đời mình; cậu đưa ký ức ấy vào thế giới quan. Cậu vẫn còn trẻ người non dạ nên góc nhìn của cậu rộng lớn vô cùng. Tuy nhiên, điều xảy ra hôm đó vẫn ám ảnh những góc khuất trong tâm trí cậu, và thỉnh thoảng, trong cơn mơ, cậu thấy mình chạy trốn khỏi con chim gớm ghiếc ấy khi nó rợp bóng ở trên đầu. Một số giấc mơ cậu nhớ, cũng có một số giấc mơ cậu quên bẵng, nhưng chúng vẫn ở đấy, tựa hồ bóng đen biết cử động.

Thì ra cậu vẫn nhớ rõ mồn một, thì ra cậu ám ảnh vô cùng (dù cậu vẫn sống qua ngày hết sức bình thường: phụ đỡ bố, đến trường, đạp xe, giúp mẹ việc vặt, đợi các ban nhạc da đen xuất hiện trên chương trình Bục trình diễn sau giờ học). Nhờ một thứ mà cậu ngộ ra điều đó: cảm giác nhẹ nhõm trong lòng khi cậu chia sẻ với các bạn. Vừa kể, cậu vừa nhận ra đó là lần đầu tiên cậu cho phép bản thân nghĩ về những thứ mình trải qua kể từ buổi sáng sớm ở Kênh Đào, lúc cậu trông thấy những rãnh hằn kỳ lạ… và vết máu.

4

Mike đã kể với cả nhóm câu chuyện cậu đụng độ với con chim ở Xưởng đúc và chạy vào đường ống để trốn. Buổi chiều hôm ấy, ba thành viên trong Hội Cùi Bắp - Ben, Richie, Bill – bước về phía Thư viện công cộng Derry. Ben và Richie cẩn trọng canh chừng bóng dáng Bowers cùng bè lũ, song Bill chỉ cúi đầu chằm chằm nhìn vỉa hè, hai mày chau lại, trầm tư suy nghĩ. Khoảng một tiếng sau khi kể cho mọi người nghe chuyện mình gặp phải, Mike phải cáo từ với lý do bố cậu muốn cậu về nhà trước 4 giờ chiều để hái đậu. Beverly bảo cô phải đi chợ và nấu bữa tối cho bố. Eddie và Stan cũng có việc phải làm. Nhưng trước khi giải tán, họ bắt tay vào đào căn phòng sinh hoạt nhóm tương lai, theo như lời Ben nói. Với Bill (và cậu nghĩ với tất cả mọi người trong nhóm), việc động thổ gần như mang tính chất biểu trưng. Bắt đầu rồi. Bất kể điều họ phải chung tay làm dưới tư cách một hội, một tập thể , là gì, thì nó đã bắt đầu rồi.

Ben hỏi liệu Bill có tin câu chuyện mà Hanlon kể hay không. Lúc ấy, cả bọn vừa băng qua Nhà Cộng đồng Derry và thư viện đã hiện ra ngay trước mặt, một tòa nhà bằng đá hình chữ nhật được vỗ về dưới bóng râm của hàng du dù đã trăm năm tuổi nhưng chưa bị nấm tàn phá và héo mòn.

“Có,” Bill đáp. “Tớ ngh-nghĩ cậu ấy nói th-thật. Đ-Đ-Điên rồ nhưng là thật. Còn cậu thì sao, R-R-Richie?”

Richie gật đầu. “Ừ. Tớ không muốn tin chút nào, cậu hiểu ý tớ không, nhưng trong thâm tâm, tớ tin đấy. Các cậu có nhớ chi tiết cậu ấy mô tả cái lưỡi màu cam của nó không?”

Bill và Ben gật đầu. Trên lưỡi có những cục bông màu cam.

“Đó là điểm nhấn,” Richie giải thích. “Như nhân vật phản diện trong truyện tranh đấy. Lex Luthor hay Joker chẳng hạn. Nó luôn để lại dấu ấn riêng của mình.”

Bill gật đầu trầm tư. Quả thật nó như nhân vật phản diện trong truyện tranh. Là vì góc nhìn của trẻ con như vậy ư? Vì họ mặc định nó như thế? Phải, có lẽ vậy. Điều này nghe thật trẻ con, nhưng dường như thứ sinh vật ấy sinh sôi nảy nở trên những thứ liên quan đến con nít.

Cả ba băng qua đường để đến thư viện.

“Tớ đã h-h-hỏi St-St-Stan xem liệu c-c-cậu ấy t-từng ngh-ngh nghe về con ch-chim nào nh–như vậy chưa, Bill nói. “Kh-Kh-Không c-cần ph-phải là một c-c-con chim l-l-lớn, ch-chỉ c-c-cần…”

“Nó có thật là được?” Richie nói.

Bill gật đầu. “C-Cậu ấy b-bảo c-có thể c-có loài ch-chim như vậy ở N-Nam Mỹ hoặc châu Ph-Ph-Ph-Phi, nhưng ở đ-đ-đây thì kh-không th-th-thể có.”

“Vậy nghĩa là cậu ấy không tin sao?” Ben hỏi.

“C-C-Cậu ấy t-tin ch-ch-chứ,” Bill đáp. Đoạn Bill kể cho các bạn nghe điều mà Stan nhắc tới lúc hai người cùng đi bộ đến nơi Stan để xe đạp. Stan cho rằng chưa một ai từng trông thấy con chim ấy trước khi Mike kể câu chuyện kia. Mọi người có thể nhìn thấy thứ khác, nhưng không phải con chim này, bởi con chim là quái vật của riêng Mike Hanlon. Nhưng giờ… giờ thì con chim ấy đã trở thành một thứ mà tất cả mọi thành viên trong Hội Cùi Bắp chia sẻ cùng nhau, chẳng phải sao? Giờ thì bất cứ ai trong số họ cũng có thể thấy con chim. Có thể hiện thân của nó sẽ không giống nhau hoàn toàn, ví dụ như Bill nhìn thấy con quạ, Richie thấy chim ưng, Beverly thấy đại bàng vàng, nhưng Stan cho rằng giờ đây, Nó có thể biến thành chim khi đụng độ với bọn họ. Bill đáp, nếu quả thật là vậy, thì không loại trừ khả năng họ sẽ thấy gã hủi, xác ướp hoặc xác những cậu bé đã chết.

“Điều đó có nghĩa là nếu định hành động thì chúng ta phải hành động càng sớm càng tốt,” Stan kết luận. “Nó biết…”

“B-Biết gì? Bill dè chừng. “M-Mọi điều ta b-biết sao?”

“Chậc, nếu Nó mà biết thì chúng ta toi đời,” Stan trả lời. “Nhưng tớ dám cá Nó biết việc chúng ta biết sự hiện diện của Nó, nên tớ đoán Nó sẽ tìm cách triệt hạ chúng ta. Cậu vẫn nghĩ về điều bọn mình bàn hôm qua à?”

“Ừ.”

“Giá mà tớ có thể đi với cậu.”

“C-C-Có B-B-Ben và R-Richie mà. Ben th-th-thông minh lắm, cả R-R-Richie cũng vậy, nếu c-cậu ấy kh-không b-bông lơn.”

Đứng bên ngoài thư viện, Richie hỏi Bill đang suy tính gì trong đầu. Bill giải thích, chậm rãi hết sức có thể để không nói lắp. Ý tưởng ấy đã lởn vởn trong đầu cậu hai tuần qua, nhưng nhờ câu chuyện của Mike mà nó mới kết tinh thành hình tướng.

Ta làm gì khi muốn đuổi một con chim?

Chà, bắn nó một phát là xong.

Ta làm gì khi muốn hạ gục một con quái vật?

Chà, phim ảnh bảo ta găm viên đạn bạc vào nó là xong.

Ben và Richie chăm chú dòng tai nghe. Đoạn Richie hỏi, “Mình kiếm đâu ra viên đạn bạc hở Bill To Bự? Viết thư xin à?”

“H-H-Hài hước quá cơ. Bọn mình s-s-sẽ phải t-t-tự làm.”

“Bằng cách nào?”

“Tớ đoán đó là lý do bọn mình đến thư viện để tìm hiểu,” Ben lên tiếng. Richie gật đầu và đẩy kính lên mũi. Đôi mắt đằng sau tròng kính sắc bén, trầm tư… nhưng có phần bán tín bán nghi, Bill thầm nhủ. Đến bản thân cậu còn thấy khó tin cơ mà. Chí ít thì trong mắt Richie không ánh lên vẻ cợt nhả, và nội điều đó đã là bước tiến theo hướng đi đúng rồi.

“Cậu đang nghĩ về khẩu súng Walther của bố cậu à?” Richie hỏi. “Khẩu súng mà bọn mình mang đến đường Neibolt ấy?”

“Ừ.” Bill đáp.

“Giả sử bọn mình có khả năng chế ra được viên đạn bạc đi chăng nữa,” Richie thắc mắc, “thì bọn mình kiếm đâu ra bạc bây giờ?”

“Để tớ suy nghĩ xem sao,” Ben trầm tư nói.

“Chà… được thôi,” Richie nói. “Vậy để Haystack lo vụ đó. Tiếp theo mình làm gì nhỉ? Lại đến đường Neibolt tiếp ư?”

Bill gật đầu. “L-L-Lại đến đường N-N-Neibolt. Và rồi bọn mình s-sẽ b-bắn b-bể đ-đ-đầu nó.”

Cả ba đứng đó thêm một lúc, nhìn nhau đăm đăm rồi bước vào thư viện.

5

“Thề có Chúa, lại ông da đen ấy nữa kìa!” Richie the thé giọng Tay Cảnh sát Ireland.

Một tuần đã trôi qua; tháng Bảy trôi qua một nửa và phòng sinh hoạt nhóm dưới lòng đất đã gần hoàn thành.

“Buổi sáng oách xà lách nhé, thưa ông O’Hanlon! Và hứa hẹn một ngày tuyệt vời ông mặt trời, tuyệt vời như khoai tây đang mọc, như u tối ngày trước từng…”

“Theo tớ biết thì đến trưa là hết buổi sáng rồi đấy, Richie,” Ben nói, ló đầu lên từ cái hố, “và trưa là hai tiếng đồng hồ trước rồi.” Cậu và Richie đang đắp thành xung quanh hố. Ben đã cởi áo nỉ vì hôm nay nóng nực mà công việc còn nặng nhọc. Áo thun của cậu xám xịt vì mồ hôi, bết vào ngực và phệ ra ở bụng. Xem chừng cậu chẳng lấy làm ái ngại gì trước vẻ ngoài của mình, nhưng Mike đoán nếu Ben nghe thấy Beverly sắp sửa đến đây, cậu sẽ khoác ngay cái áo nỉ thùng thình trước khi ta kịp trêu tình tính tang là tang tính tình.

“Đừng câu nệ quá thế chứ – cậu nói y như Stan Quân Tử ấy,” Richie nói. Cậu chui ra khỏi hố chừng năm phút trước vì, theo như lời cậu bảo Ben, đã đến lúc phải nghỉ để làm điếu thuốc.

“Tớ tưởng cậu bảo cậu không hút thuốc,” Ben thắc mắc.

“Thì tớ có hút đâu.” Richie đáp, “nhưng nguyên tắc là nguyên tắc”

Mike cắp cuốn album của bố mình dưới nách. “Mọi người đâu rồi?” Cậu hỏi. Cậu biết Bill ở đâu đó quanh đây vì cậu nhìn thấy Ánh Bạc dưới gầm cầu lúc cất chiếc xe đạp của mình.

“Bill và Richie xuống bãi rác chừng nửa tiếng trước để giải phóng vài tấm gỗ rồi,” Richie nói. “Stanny và Bev thì đi đến Cửa hàng Đồ dùng Reynolds để mua bản lề. Tớ không biết Haystack làm trò gì dưới đó – làm gì dưới đó, ha ha, cậu hiểu không? – nhưng chắc chẳng có gì hay ho đâu. Con trai lúc nào cũng cần ai đó để mắt, cậu biết đấy. Nhân tiện, cậu nợ bọn tớ hai mươi ba xu nếu cậu vẫn muốn tham gia vào hội. Phần mua bản lề ấy mà.”

Mike chuyển cuốn album từ tay phải sang tay trái và mò mẫm túi quần của mình. Cậu đếm hai mươi ba xu (kho bạc cá nhân của cậu còn lại đúng một đồng mười xu) rồi đưa cho Richie. Đoạn cậu bước đến cái hố rồi nhìn vào trong.

Nhưng nó không còn là một cái hố đơn thuần nữa. Bề mặt đã được san phẳng rất gọn gàng. Mỗi mặt đều được dựng lên. Các tấm gỗ tạp nham đủ loại, nhưng Ben, Bill và Stan đã căn chỉnh chúng lại bằng dụng cụ lấy trong tiệm của ông Zack Denbrough (Bill phải vất vả lắm mới đảm bảo mọi món dụng cụ đều được trả lại chỗ cũ hằng đêm, trong đúng tình trạng như khi được lấy đi). Ben và Beverly đã đóng các thanh ngang giữa các thanh gỗ hỗ trợ. Ở trong hố vẫn khiến Eddie hơi lo lắng nhưng tính Eddie vốn thế. Dồn thành đống bên cạnh là những mảng cỏ chốc nữa sẽ được dán lên trên nóc.

“Tớ thấy các cậu làm thành thục ghê,” Mike trầm trồ khen ngợi.

“Chuẩn rồi,” Ben nói và chỉ vào cuốn album. “Cậu mang gì đến thế?”

“Cuốn album chụp Derry của bố tớ,” Mike đáp. “Bố tớ thu thập các bức hình cũ và các bài báo về thị trấn. Bố tớ có sở thích như vậy. Cách đây mấy ngày, tớ có xem qua - tớ từng bảo các cậu tớ nghĩ tớ từng thấy gã hề ấy rồi. Và thật là thế. Trong đây này. Nên tớ mang cuốn album đến.” Cậu ngượng không kể chi tiết cậu không dám xin bố khi làm điều này. Sợ bố hỏi sâu về lý do nên cậu lén lút rinh nó khỏi nhà như một tên trộm trong lúc bố đang trồng khoai tây ở cánh đồng phía tây, còn mẹ đang phơi đồ trong sân sau. “Tớ nghĩ các cậu cũng cần nhìn qua.”

“Ừ, vậy để xem sao,” Richie nói.

“Tớ muốn đợi cho đến khi tất cả mọi người có mặt. Như thế tốt hơn.”

“Được.” Thật ra Richie chẳng ham hố chiêm ngưỡng thêm hình Derry chút nào, dù là cuốn album này hay bất kỳ cuốn album nào khác. Nhất là sau những gì xảy ra trong phòng của Georgie. “Cậu muốn giúp tớ với Ben dựng gỗ chống không?”

“Thế cũng hỏi.” Mike cẩn thận đặt cuốn album của bố xuống, cách xa cái hố một khoảng để đất đá không văng vào, rồi cầm xẻng của Ben lên.

“Cậu đào ở đó nhé,” Ben nói, chỉ cho Mike địa điểm. “Sâu xuống khoảng ba mươi xen-ti-mét là được rồi. Sau đó, tớ sẽ cắm một thanh gỗ xuống và đè nó lên thành hố trong lúc cậu xúc đất vào lại chỗ cũ.”

“Kế hoạch chuẩn đấy, vị huynh đài,” Richie thâm trầm nói, cậu ngồi trên thành hố, giày vung vẩy dưới chân.

“Cậu bị sao thế?” Mike hỏi.

“À, tớ đang bận ngồi nghỉ,” Richie thản nhiên đáp.

“Kế hoạch các cậu làm với Bill sao rồi?” Mike dừng lại để cởi áo rồi bắt đầu đào. Dù ở trong Vùng Đất Cằn chăng nữa thì dưới hố vẫn rất nóng. Dế kêu râm ran như đồng hồ mùa hạ tích tắc trong bụi cây.

“Chà… không tệ,” Richie nói và Mike thoáng thấy hình như cậu bạn khẽ quắc mắt nhìn Ben cảnh báo. “Tớ thấy vậy.”

“Cậu bật đài lên cho vui đi, Richie?” Ben hỏi. Cậu nhét thanh gỗ vào hố Mike vừa đào rồi giữ chặt. Cái đài của Richie được cột bằng dây ở vị trí quen thuộc, trên cành cây to của một cây bụi gần đó.

“Pin chai hết rồi,” Richie nói. “Cậu bắt tớ giao nộp hai mươi ba xu cuối cùng để mua bản lề rồi còn gì, nhớ không? Thật nghiệt ngã, Haystack, nghiệt ngã hết sức. Sau bao điều tớ hy sinh thân mình vì cậu. Ngoài ra, ở đây tớ chỉ bắt được WABI mà họ chỉ chơi mỗi cái thứ rock xàm xí.”

“Hả?” Mike hỏi.

“Haystack nghĩ Tommy Sands và Pat Boone hát rock & roll,” Richie giải thích, “nhưng cậu ấy bị hâm hấp nên mới nghĩ vậy. Elvis mới hát rock & roll. Ernie K. Doe mới hát rock & roll. Carl Perkins mới hát rock & roll. Bobby Darin. Buddy Holly. ‘Á ố Peggy ơi… Peggy Suuuu…’‘’

“Thôi giùm, Richie,” Ben khẽ kêu lên.

“Ngoài ra,” Mike nói, tựa người vào xẻng, còn có Fats Domino, Chuck Berry, Richard Nhỏ Bé, Shep & the Limelites, La Verne Baker, Frankie Lymon và Nhóm Các Thanh Thiếu Niên, Hank Ballard và Những Kẻ Nửa Đêm, the Coasters, the Isley Brothers, the Crests, the Chords, Stick McGhee…”

Hai cậu bạn tròn xoe mắt nhìn làm Mike phì cười.

“Nghe đến Richard Nhỏ Bé là tớ ù ù cạc cạc rồi,” Richie thành thật. Cậu thích Richard Nhỏ Bé, nhưng nếu nói đến thần tượng rock & roll cậu ấp ủ trong lòng mùa hè năm ấy thì đó chính là Jerry Lee Lewis. Mẹ cậu tình cờ bước vào phòng khách lúc Jerry Lee đang biểu diễn trên chương trình Bục trình diễn Mỹ , đúng ngay đoạn Jerry Lee trèo lên chiếc đàn piano và nằm ngược ra chơi đàn, tóc phủ kín xuống mặt. Anh đang hát “Bí mật trường Trung học”. Trong một khắc, Richie nghĩ khéo mẹ cậu sắp lăn đùng ra ngất. Bà không ngất, nhưng bà quá hoảng hồn trước cảnh tượng mình trông thấy đến độ vào bữa tối hôm đó, bà đề cập đến việc gửi Richie tham gia các trại hè quân đội cho thời gian còn lại của kỳ nghỉ hè. Lúc này, Richie rũ tóc xuống lòa xòa mắt rồi bắt đầu ông ổng hát: “Đến đây nào người yêu dấu ơi đám mèo đang quẩy ở trường kìa…”

Ben loạng choạng đi quanh hố, ôm cái bụng phì lũ của mình và làm ra vẻ sắp nôn đến nơi. Mike bụm mũi, nhưng cậu cười lăn cười bò đến độ chảy cả nước mắt.

“Gì thế?” Richie hỏi. “Các cậu bị bệnh à? Hay như vậy kia mà! Tớ nói thật, hay ơi là hay luôn ấy!”

“Ôi trời,” Mike nói, cười nắc nẻ đến độ nói không ra hơi. “Đúng là có một không hai. Thật, có một không hai luôn đấy.”

“Mấy cậu da đen đúng là chẳng có gu gì,” Richie nói. “Chắc ở trong Kinh Thánh có viết như vậy quá.”

“Này bà bô,” Mike nói, và còn cười nắc nẻ hơn nữa. Richie thộn mặt hỏi câu đó có nghĩa là gì, nghe đến đây, Mike ngồi thụp xuống đất, lăn lộn từ trước đến sau, vừa hú hét vừa ôm bụng.

“Chắc cậu nghĩ tớ ghen tị chứ gì” Richie nói. “Chắc cậu nghĩ tớ muốn trở thành dân da đen phải không?”

Giờ thì đến lượt Ben ngã vật xuống, cười như điên như dại. Cả người cậu rung lắc bần bật một cách đáng ngại. Mắt cậu trợn tròn. “Thôi nhé, Richie,” cậu hổn hển. “Chắc tớ bĩnh ra quần mất. Nếu cậu mà không d-dừng thì tớ ng-ng-ngỏm mất…”

“Tớ không muốn làm dân da đen đâu nha,” Richie nói. “Ai mà thèm mang quần hồng, sống ở Boston và mua pizza lẻ từng miếng kia chứ? Tớ muốn làm dân Do Thái như Stan kia. Tớ muốn có một tiệm cầm đồ, bán dao bấm, những bãi nôn bằng nhựa và ghi-ta cũ.”

Giờ thì Ben và Mike không nhịn nổi mà hét ầm lên cười. Tiếng cười của họ vang vọng qua khu rừng rậm rạp với cái tên Vùng Đất Cằn không ăn nhập gì, khiến chim cất cánh bay và đám sóc sững lại trên ngọn cây. Tiếng cười của họ trẻ trung, âm vang, sống động, tràn đầy nhựa sống, chân phương và đầy tự do. Gần như mọi sinh vật trong phạm vi âm thanh ấy đều phản ứng theo cách nào đó, nhưng thứ vẳng ra từ cống thoát nước bê tông rộng vào thượng nguồn con sông Kenduskeag không phải sinh vật sống. Buổi chiều hôm trước, bỗng dưng có một cơn dông vần vũ (phòng sinh hoạt nhóm không bị ảnh hưởng quá nhiều – vì từ lúc bắt tay vào công cuộc đào đất, đêm nào Ben cũng che chắn cái hố rất cẩn thận bằng một tấm vải bạt rách nát mà Eddie lục lọi được đằng sau tiệm Wally’s Spa; nó ám đầy mùi sơn nhưng được việc), và cống thoát lũ dưới lòng Derry cuồn cuộn, ùng ục nước suốt hai, ba tiếng đồng hồ liền. Chính cơn nước lũ ấy đã đẩy cái túi gớm ghiếc này ra ánh mắt trời, thu hút đám ruồi bâu lại.

Đó là túi đựng thi thể của cậu bé chín tuổi mang tên Jimmy Cullum. Có điều mặt mũi cậu đã biến mất. Thay vào đó là một đống bầy nhầy không rõ hình dạng. Phần thịt lấm tấm những nốt màu đen sâu hoắm mà có lẽ chỉ Stan Uris mới nhận ra đó là những vết mổ. Vết mỏ chim khổng lồ mổ xuống.

Nước chảy qua chiếc quần ka ki của cậu bé Jimmy Culum. Bàn tay trắng bệch của cậu nổi lềnh phềnh như cá chết. Tay cậu bé cũng bị mổ, chỉ là không nặng như phần mặt. Chiếc áo họa tiết hình hoa phình lên rồi lại ọp xuống hết lần này đến lần khác như bong bóng.

Bill và Eddie vác những thanh gỗ kiếm được từ bãi rác, băng qua những hòn đá xếp ngang nhánh sông Kenduskeag, cách thi thể chưa tới bốn mươi mét. Nghe thấy Richie, Ben và Mike cười giòn tan, hai cậu bé cũng nhoẻn miệng cười, hối hả rảo bước ngang qua phần thi thể cậu bé Jimmy Cullum nát bấy bị khuất tầm mắt để xem có gì vui đến thế.

6

Cả bọn vẫn chưa thôi nắc nẻ khi Bill và Eddie bước vào khoảng đất, mồ hôi mẹ mồ hôi con thi nhau nhễ nhại dưới đống gỗ vác trên lưng. Ngay cả mặt của Eddie, bình thường vốn nhợt nhạt như tàu lá, cũng ưng ửng đỏ. Hai cậu bé thả những thanh gỗ mới xuống đống gỗ đã hao hụt gần hết. Ben bò ra khỏi hố để xem xét.

“Ngon lành!” Cậu reo lên. “Trời ơi! Tuyệt quá!”

Bill đổ vật xuống đất. “Tớ c-có thể l-lên cơn đ-đau t-t-tim chưa hay ph-phải đ-đ-đợi l-lát nữa?”

“Đợi lát nữa đi.” Ben thủng thẳng nói. Cậu có mang theo dụng cụ riêng xuống Vùng Đất Cằn nên hiện giờ, cậu cẩn thận kiểm tra các thanh gỗ, rút đinh và tháo ốc vít ra. Cậu ném một thanh gỗ sang bên do nó bị bể nát. Gõ lên một thanh khác, cậu nghe thấy tiếng cộc cộc trống rỗng ở ít nhất ba chỗ nên cũng vứt thanh gỗ này qua một bên. Eddie ngồi trên ụ đất, giương mắt nhìn. Cậu hít một hơi từ ống thở khi Ben dùng đầu sừng dê của búa để rút cây đinh gỉ sét khỏi thanh gỗ. Cây đinh kêu ken két như con vật thấp cổ bé họng đang khó chịu vì bị đạp lên.

“Cây đinh gỉ sét ấy mà cắt vào tay thì cậu coi chừng bị bệnh uốn ván bây giờ,” Eddie cảnh báo Ben.

“Hả?” Richie thắc mắc. “Uốn éo gì cơ? Nghe như bệnh của phụ nữ ấy nhỉ?”

“Cậu hâm à,” Eddie nói. “Bệnh uốn ván, chứ không phải uốn éo, nó có nghĩa là bệnh cứng hàm đó. Có một loại vi khuẩn sinh sôi trong gỉ sét, và nếu cậu bị cứa rách da, loại vi khuẩn này có thể chui vào cơ thể cậu, rồi, ờ, rồi phá banh thần kinh của cậu.” Mặt Eddie còn đỏ bầm hơn nữa, khiến cậu phải rít thêm hơi từ ống thở.

“Cứng làm sao, Chúa ơi,” Richie nói, mắt chữ O mồm chữ A. “Nghe có vẻ ghê.”

“Chứ còn gì nữa. Triệu chứng đầu tiên là hàm của cậu cứng lại đến độ cậu không thể mở miệng nổi, thậm chí không ăn được gì. Người ta phải khoét lỗ qua má rồi cho cậu ăn uống thông qua ống.”

“Ôi trời ơi” Mike thốt lên, ngây ra đứng dưới hố. Cậu trợn tròn mắt, giác mạc trắng toát trên khuôn mặt nâu đồng. “Thật không vậy?”

“Mẹ tớ bảo thế,” Eddie nói. “Sau đó họng cậu cứng lại, cậu không ăn được nữa và chết vì đói.”

Cả bọn choáng váng kinh hoàng trong im lặng.

“Mà lại không có cách chữa trị,” Eddie nhấn mạnh.

Sự im lặng lại càng ngột ngạt.

“Thế nên,” Eddie nhanh nhảu, “tớ luôn cẩn thận trước đinh gỉ và những thứ tương tự như vậy. Tớ từng tiêm ngừa uốn ván rồi, đau thấu trời.”

“Vậy tại sao cậu lại đến bãi rác cùng Bill và khiêng đống gỗ này về đây?” Richie thắc mắc.

Eddie thoáng liếc nhìn Bill trong lúc cậu bạn đang mải quan sát căn phòng sinh hoạt nhóm, và bao yêu thương, bao tôn sùng một người anh hùng ẩn trong ánh mắt ấy đã đủ để trả lời câu hỏi, song Eddie nhẹ nhàng nói, “Có những điều ta phải làm ngay cả khi đối mặt với rủi ro. Đó là điều quan trọng đầu tiên tớ không học từ mẹ tớ đấy.”

Lại thêm một khoảng lặng dài, không hẳn là ngột ngạt. Đoạn Ben tiếp tục rút các mẩu đinh gỉ sét, rồi sau đó một lúc, Mike Hanlon cũng bắt tay vào phụ.

Chiếc đài của Richie, im như thóc (chí ít là cho đến khi tiền tiêu vặt của Richie vào cuộc hoặc cậu kiếm được kéo cắt cỏ nào đấy), lủng lẳng trên cành trong cơn gió thoảng. Bill trầm ngâm suy nghĩ về mọi chuyện, thật kỳ quặc làm sao, thật kỳ quặc và hoàn mỹ làm sao, khi tất cả bọn họ đều có mặt ở đây vào mùa hè năm ấy. Cậu biết có những đứa trẻ đi thăm họ hàng. Những đứa trẻ đi du lịch Disneyland ở California hoặc Cape Cod hoặc, như trường hợp cậu bạn nọ, du hí ở một chốn nghe thật xa xôi cách trở với cái tên hết sức lạ kỳ nhưng khơi gợi là Gstaad. Có những đứa trẻ tham gia trại hè nhà thờ, trại hè hướng đạo, hoặc tham gia những trại hè cho con nhà giàu, nơi chúng được học bơi, chơi golf, những trại hè nơi bọn trẻ học cách nói “Này, chơi hay đấy!” thay vì “Tiên sư!” khi đối thủ trong trận quần vợt giao một cú sát thủ, tóm lại là những đứa trẻ được bố mẹ đưa đi khỏi đây. Bill có thể hiểu điều đó. Cậu biết một số đứa chỉ muốn đi thật xa, bởi chúng phát sợ với ông ba bị rình rập Derry mùa hè năm nay, nhưng cậu đồ rằng có rất nhiều bậc làm bố làm mẹ lo lắng trước nhân vật ấy. Những người ban đầu định nghỉ ngơi tại nhà đột nhiên lại quyết định đi XA.

(Gstaad? Nơi đó ở Thụy Điển? Argentina? hay Tây Ban Nha nhỉ?)

Nó có điểm gì đó hao hao nỗi sợ bệnh đậu mùa năm 1956, khi bốn đứa trẻ đi bơi ở hồ bơi Tưởng niệm O’Brian mắc phải căn bệnh này. Tương tự như hiện tại, người lớn – trong đầu Bill, từ này đồng nghĩa với các ông bố bà mẹ – lúc ấy quyết định đi XA sẽ tốt hơn. Ai có thể đi đều đi cả. Bill hiểu đi XA là thế nào, và cậu thậm chí có thể thả hồn suy tưởng về Gstaad, cái từ kỳ diệu đến lạ, nhưng kỳ diệu chẳng bõ bèn gì so với đam mê; Gstaad là chốn XA; còn Derry là chốn đam mê.

Và không ai trong số bọn mình đi XA, cậu thầm nghĩ trong lúc nhìn Ben với Mike rút những cây đinh cũ ra khỏi thanh gỗ, trong lúc Eddie đi vào bụi rậm để thoát nước (cậu bạn từng bảo Bill nếu có thể thì phải đi càng sớm càng tốt để tránh đặt áp lực lên bàng quang, nhưng cũng phải cẩn thận thường xuân độc vì chẳng ai muốn cậu nhỏ bị dính thứ đó cả). Chúng mình đều ở lại Derry. Không trại hè, không họ hàng, không du lịch, không đi XA. Tất cả tề tựu nơi đây. Không nao núng, đứng mũi chịu sào.

“Có một cánh cửa ở dưới kia,” Eddie nói, vừa quay lại vừa kéo quần.

“Cậu nhớ lắc nó nha Eds,” Richie bắng nhắng. “Mẹ tớ bảo nếu hành sự xong mà không lắc, cậu sẽ bị ung thư đó.”

Eddie có vẻ bàng hoàng, thoáng lo lắng, nhưng rồi cậu trông thấy nụ cười toe toét của Richie. Cậu ném về phía bạn mình (hoặc cố gắng nhìn) với ánh mắt đồ-trẻ-ranh rồi bảo, “Nó to quá nên bọn tớ không khiêng nổi. Nhưng Bill bảo nếu cả bọn cùng khiêng thì có thể mang lên đây.”

“Tất nhiên rồi, làm sao cậu có thể lắc sạch sành sanh được.” Richie liến thoắng. “Cậu muốn biết một hiền triết từng bảo tớ cái gì không, Eds?

“Không” Eddie nói, “và tớ không muốn cậu gọi tớ là Eds nữa, Richie. Tớ nghiêm túc đấy. Tớ không gọi cậu là Chim, như người ta hay bảo ‘Chim ơi, Chim có thủ theo kẹo cao su không?’ nên tớ chẳng hiểu tại sao…”

“Vị hiền triết ấy,” Richie cắt ngang, “bảo tớ thế này: ‘Dù lắc hay nhảy tới nhảy lui thế nào thì hai giọt cuối cùng cũng sẽ rơi vào trong quần’. Và đó là lý do tại sao trên thế giới lại có nhiều người bị ung thư đến vậy, Eddie yêu quý.”

“Lý do trên thế giới lại có nhiều người bị ung thư đến vậy là vì những đứa lập dị như cậu và Beverly Marsh hút thuốc lá thì có.” Eddie nói.

“Beverly không phải đứa lập dị,” Ben gằn giọng. “Cậu nói chuyện cho đàng hoàng nhé, Tía Lia.”

“Bíp bíp, kìa m-mọi người,” Bill bâng quơ nói. “Và B-B-Beverly kh-kh-khỏe lắm đó. Cậu ấy có thể gi-gi-giúp mình khiêng c-cửa.”

Ben hỏi đó là loại cửa gì.

“G-G-Gỗ dái ngựa, tớ đ-đoán vậy.”

“Có người vứt bỏ một cánh cửa làm bằng gỗ dái ngựa sao?” Ben hỏi, ngạc nhiên nhưng không tỏ ý nghi ngờ.

“Cái gì người ta chẳng vứt,” Mike nói. “Chậc, mỗi lần xuống bãi rác ấy là tớ lại sướng điên người. Thật, sướng điên người ấy.”

“Phải,” Ben gật gù. “Bao nhiêu thứ nhoáng một cái là sửa được. Trong khi có những người ở Trung Quốc và Nam Mỹ chẳng có gì để dùng. Mẹ tớ hay nói thế.”

“Ở ngay tại Maine cũng có những người chẳng có gì đây này, thưa công tử,” Richie nghiêm nghị nói.

“C-C-Cái gì th-thế?” Bill hỏi, mắt nhìn cuốn album hình mà Mike mang theo. Mike giải thích lý do và bảo cậu sẽ cho mọi người xem bức hình gã hề khi Stan với Beverly mang bản lề quay lại.

Bill và Richie đưa mắt nhìn nhau.

“Sao thế?” Mike hỏi. “Cậu nghĩ tới chuyện xảy ra trong phòng em trai cậu phải không Bill?”

“Ph-Phải,” Bill chỉ nói vậy rồi im bặt.

Cả bọn thay nhau xây đắp hố cho đến khi Stan và Beverly quay lại, mỗi người mang theo một túi giấy màu nâu đựng bản lề. Trong lúc Mike nói, Ben ngồi xếp bằng, dùng hai thanh gỗ dài làm loại cửa sổ lật có thể bật mở và đóng lại. Có lẽ Bill là người duy nhất để ý những ngón tay của cậu chuyển động nhanh lẹ, thành thục đến mức nào, những ngón tay ấy lão luyện và biết từng đường tơ kẽ tóc, chẳng thua kém gì tay của bác sĩ phẫu thuật. Bill nhìn mà phục sát đất.

“Bố tớ nói có một số tấm hình từ cách đây cả trăm năm,” Mike kể, cầm cuốn album trong lòng. “Bố tớ sưu tầm chúng từ những dịp mọi người bán đồ cũ trong sân nhà và ở các tiệm đồ cũ. Thỉnh thoảng, bố tớ mua hoặc trao qua đổi lại với những người sưu tầm khác. Một số tấm là hình nổi tạo hiệu ứng lập thể – có hai bức hình giống nhau trên một tấm thẻ dài, và khi dùng loại kính soi đặc biệt, ta có thể thấy bức hình tạo hiệu ứng lập thể 3-D. Như Căn nhà sáp hoặc Sinh vật từ đầm phá đen .”

“Tại sao bố cậu lại thích những thứ này vậy?” Beverly hỏi. Cô mặc quần Levi’s giản dị nhưng đã cách tân lại gấu quần cho đáng yêu hơn bằng cách thêu phần vải hoa sáng màu ở mười phân cuối cùng, tạo nên một chiếc quần ống loe hết sức cá tính.

“Ừ.” Eddie đồng tình. “Derry chán òm chứ có gì vui đâu.”

“Chà, tớ cũng chẳng rõ, nhưng tớ nghĩ lý do là vì bố tớ không sinh ra ở đây,” Mike ngần ngừ nói. “Nói sao nhỉ – tớ không biết nữa như thể tất cả đều mới mẻ với ông, hoặc nếu như mình đến vào giữa bộ phim…”

“Đ-Đ-Đúng rồi, mình sẽ muốn xem phần m-mở đầu,” Bill nói.

“Phải,” Mike nói. “Derry ẩn chứa bề dày lịch sử. Tớ thấy thú vị ra phết. Và tớ nghĩ nó có liên quan gì đó đến thứ kia – thứ mà các cậu hay gọi là Nó đấy.”

Cậu nhìn Bill và Bill gật đầu, đôi mắt trầm tư.

“Vậy nên sau buổi diễu hành Mùng Bốn Tháng Bảy, tớ lật cuốn album này ra xem lại vì tớ dám chắc tớ đã từng trông thấy gã hề này rồi. Tớ dám chắc như thế. Các cậu nhìn mà xem.”

Cậu mở cuốn album, lật lướt qua rồi đưa cho Ben, lúc ấy đang ngồi ngay bên phải.

“Đ-Đ-Đừng đ-đ-đụng vào trang s-s-sách!” Bill kêu lên, và giọng nói của cậu khẩn thiết đến độ cả bọn giật mình nhảy lên. Richie trông thấy bạn mình nắm bàn tay bị cứa lúc đưa vào cuốn album của Georgie thành hình nắm đấm. Cậu nắm thật chặt, đầy phòng thủ.

“Bill nói đúng đó,” Richie đồng tình, và giọng nói nhỏ nhẹ, chẳng giống Richie chút nào là điều thuyết phục nhất. “Mọi người cẩn thận. Giống như Stan nói, nếu bọn tớ thấy nó xảy ra, thì các cậu cũng có thể thấy.”

“M-Mọi người th-thử cảm nhận đ-đi,” Bill nói đầy u ám.

Cuốn album được chuyển từ tay này sang tay khác, mỗi người rón rén cầm rìa cuốn sách như thể nó là một quả bom cũ đang rịn ra những giọt gây nổ nitroglycerine.

Cuốn sách quay trở lại tay Mike. Cậu mở mấy trang đầu tiên ra.

“Bố tớ bảo không rõ bức hình này từ thời gian nào, nhưng áng chừng khoảng đầu đến giữa thế kỷ 18,” Mike nói. “Bố tớ sửa cưa tay cho một người, đổi lại thùng sách cùng những tấm hình cũ. Bức hình này nằm trong số đó. Bố tớ nói nó có thể có giá trị khoảng bốn mươi đô-la hoặc hơn.”

Bức hình được khắc gỗ, có kích thước to bằng tấm bưu thiếp khổ lớn. Khi đến lượt Bill quay sang nhìn, cậu thở phào nhẹ nhõm khi thấy bố của Mike đã nhét các bức hình dưới một lớp giấy bóng kính bảo vệ. Cậu nhìn với vẻ ngạc nhiên, rồi thầm nhủ: Kia rồi. Mình đang thấy hắn – hoặc Nó. Thấy tận mắt. Đó chính là khuôn mặt của kẻ thù.

Bức hình khắc gã hề đang tung hứng những ki bowling quá cỡ giữa con đường lầy lội. Hai bên đường lác đác vài căn nhà cũng như dăm ba căn chòi mà Bill đoán là cửa tiệm hoặc điểm mua bán, hoặc bất cứ cách gọi nào mà người xưa từng gọi. Ngoại trừ Kênh Đào thì khung cảnh trông chẳng giống Derry chút nào. Kênh Đào ở đó, hai bên bờ được trải sỏi gọn gàng. Ở cảnh nền đằng sau, Bill có thể trông thấy đàn la đang đi men theo bờ cùng nhau kéo chiếc xuồng.

Đám trẻ, chừng năm, sáu đứa vây quanh một gã đàn ông. Một đứa đội mũ rơm của mục đồng. Một đứa khác cầm theo cái vòng và que để lăn vòng. Nó không phải cây gậy đi kèm với vòng mà ngày nay ta có thể mua ở Woolworth’s; nó chỉ là một cành cây. Bill có thể nhìn thấy những phần lồi nho nhỏ, chỗ các nhành cây con đã bị chặt đi bằng dao hoặc rìu. Cây gậy ấy không phải sản phẩm được sản xuất ở Đài Loan hay Hàn Quốc, cậu thầm nghĩ đầy thích thú, bởi nếu sinh ra trước bốn, năm thế hệ, có khi Bill chính là cậu bé ấy.

Gã đàn ông có nụ cười rất rộng trên mặt. Hắn không trát phấn (nhưng trong mắt Bill, cả khuôn mặt hắn trông chẳng khác nào lớp trang điểm), đầu hói, chỉ có hai túm tóc chĩa lên như sừng ở trên tai, và Bill nhận ra ngay đó chính là gã hề mà bọn họ đối đầu. Hai trăm năm trước hoặc hơn, cậu nghĩ, và trong lòng cậu ào ạt bừng lên cảm giác kinh hoàng, phẫn nộ và hào hứng. Hai mươi bảy năm sau, ngồi trong Thư viện công cộng Derry, nhớ lại lần đầu tiên mình nhìn album của bố Mike, anh nhận ra cảm xúc khi ấy chính là cảm xúc của tay thợ săn khi lần được dấu vết đầu tiên của con hổ dữ. Hai trăm năm trước… đã từ ngày xửa ngày xưa, và có Chúa mới biết khéo có khi còn lâu hơn. Điều này khiến cậu tự hỏi vậy rốt cuộc, linh hồn của Pennywise đã ám Derry bao lâu - nhưng rồi cậu cảm thấy đó không phải suy nghĩ cậu muốn đào sâu.

“Đưa tớ xem nào, Bill!” Richie la oai oái, nhưng Bill cứ thế ngẩn ra cầm cuốn album, nhìn chằm chằm vào bức hình khắc gỗ, đinh ninh rồi nó sẽ chuyển động: những ki bowling (chẳng rõ có phải ki hay không) mà gã đàn ông đang tung hứng sẽ bay lên rơi xuống đều đặn, đám trẻ sẽ cười và vỗ tay (có điều khéo không phải ai cũng cười và vỗ tay; một vài đứa sẽ thét lên và chạy mất dép cũng nên), đàn la kéo xuống sẽ di chuyển ra ngoài rìa bức hình.

Song điều đó không xảy ra, và cậu đưa cuốn album cho Richie.

Khi cuốn album được chuyển trở lại tay Mike, cậu lật tìm một bức hình khác. “Đây,” cậu nói. “Bức này từ năm 1856, bốn năm trước khi Lincoln được bầu làm Tổng thống.”

Cuốn album lại được chuyền tay. Bức hình lần này là tranh màu – một dạng hình vẽ hoạt họa - vẽ đám người say xỉn tụ tập trước một hội trường trong lúc tay chính trị gia béo tốt với bộ râu hình sườn cừu đang hô hào trên tấm ván kê giữa hai cái thùng. Một tay lão ta cầm chai bia đầy bọt. Tấm ván lão ta đang đứng oằn xuống dưới thân hình nặng nề của lão. Cách đó không xa, nhóm phụ nữ đội mũ bonnet nhìn khung cảnh kịch cỡm và lố lăng này với vẻ mặt ghê tởm. Câu ghi chú bên dưới bức tranh đề: THƯỢNG NGHỊ SĨ GARNER CHO HAY, LÀM CHÍNH TRỊ KHÁT LẮM!

“Bố tớ bảo trong khoảng hai mươi năm trước cuộc Nội chiến, những bức tranh kiểu này rất phổ biến,” Mike nói. “Người ta gọi nó là bưu thiếp ngớ ngẩn, và họ hay gửi cho nhau cho vui. Tớ thấy nó giống mấy bức hình hài hài trong tạp chí Mad ấy.”

“B-B-Biếm họa,” Bill nói.

“Thế à,” Mike đáp. “Nhưng các cậu nhìn góc hình này mà xem.”

Bức hình có nét hao hao các bức vẽ đăng trên tạp chí Mad – rất chi tiết, đi kèm những mẩu chuyện cười nho nhỏ như những bức tranh biếm họa phim do Mort Drucker vẽ cho cuốn tạp chí này. Một ông mập đang toét miệng cười, đổ ly bia xuống họng chú chó đốm. Một người phụ nữ ngã dập mông trên một vũng bùn. Hai đứa nhóc đầu đường xó chợ đang lén lút cắm những que diêm đầu bọc lưu huỳnh vào gót giày của một ông thương nhân trông có vẻ giàu sang phú quý. Một cô gái đang treo ngược trên cành cây du, lộ cả quần con. Dù bức hình khắc gỗ nhiều chi tiết như thế nhưng không ai trong số họ cần Mike chỉ ra gã hề ở đâu. Mặc trên mình bộ vest ca rô lòe loẹt, hắn đóng vai con buôn chơi trò đoán vỏ giấu quả hạch ăn tiền với đám thợ đốn gỗ say xỉn. Hắn nháy mắt với người thợ đốn gỗ đang há hốc mồm với vẻ đầy ngạc nhiên, có thể là do đã chọn sai vỏ. Tay con buôn - gã hề kia lấy một đồng xu từ anh ta.

Nghệ sĩ vẽ tranh biếm họa và truyện tranh, cống hiến hơn năm thập kỷ cho tạp chí Mad.

“Lại là hắn,” Ben nói. “Chắc phải đến… một trăm năm trước?”

“Tầm đó,” Mike đáp. “Và bài báo này từ năm 1891.”

Đó là mẩu báo trên trang nhất tờ Derry News . Tựa đề bài báo hô hào đầy hứng khởi: HU-RA! XƯỞNG ĐÚC MỞ CỬA! Ngay bên dưới là “Thị trấn đến buổi vui chơi kỳ thú” 0. Bức hình khắc gỗ cảnh lễ cắt băng ở xưởng đúc Kitchener; phong cách của bức hình khiến cậu nhớ đến những bức tranh của nhà in Currier and Ives mà mẹ cậu hay trưng trong phòng ăn, dù bức hình này không được bóng loáng như thế. Một người đàn ông diện áo đuôi tôm và đội mũ chóp cao cầm cái kéo lớn phía trên dây ruy băng trong lúc đám đông chừng năm trăm người đang quan sát. Phía bên trái là một gã hề - gã hề của bọn họ – biểu diễn nhào lộn trước mặt đám trẻ. Người nghệ sĩ bắt được thời điểm hắn ta đang lộn ngược, biến nụ cười thành tiếng hét.

Cậu nhanh nhẹn chuyền cuốn sách cho Richie.

Tấm hình tiếp theo là một bức ảnh mà ông Will Hanlon ghi chú bên dưới: 1933: Bãi bỏ luật ở Derry. Mặc dù không ai trong số các cậu bé biết về Đạo luật Volstead hay việc bãi bỏ đạo luật này, nhưng bức hình đã nói lên tất cả. Bức ảnh chụp Wally’s Spa ở Nửa mẫu Địa ngục. Quán rượu đông nghịt đến nóc với những người đàn ông mặc áo sơ-mi trắng phanh cúc, mũ rơm, áo của dân đốn gỗ, áo thun, đóng bộ vest của dân ngân hàng. Tất cả đều cầm ly và chai của mình đầy thắng lợi. Có hai tấm biển to trên cửa sổ. Một tấm biển đề CHÀO MỪNG TRỞ LẠI, JOHN BARLEYCORN! Tấm còn lại ghi TỐI NAY MIỄN PHÍ BIA. Gã hề ăn diện bảnh bao hết sức có thể (giày trắng, ghệt mắt cá, quần thụng), chân đặt trên bậc lên của xe ô tô Reo và uống rượu sâm panh ừng ực từ chiếc giày cao gót của phụ nữ.

Đạo luật Volstead được ban hành vào năm 1919, cấm sản xuất và bán đồ uống có cồn.

John Barleycorn là hình tượng nhân hóa của lúa mạch và đồ uống có cồn được làm từ lúa mạch như bia hay whisky.

“1945,” Mike nói.

Lại là mẩu báo trên tờ Derry News . Tiêu đề ghi NHẬT BẢN ĐẦU HÀNG! CHIẾN TRANH QUA RỒI! CẢM ƠN CHÚA, KẾT THÚC RỒI! Đoàn diễu hành đang rồng rắn lên mây đi qua đường Chính lên đồi Dặm Trên. Hòa trong khung cảnh là gã hề mặc bộ quần áo màu bạc với hàng nút cam, đông cứng trong ma trận những chấm li ti hình thành bức ảnh mờ căm in trên báo, dường như muốn nói mọi chuyện chưa hề kết thúc, chưa có kẻ nào đầu hàng, chẳng thắng được gì, tất cả chỉ là con số không tròn trĩnh (chí ít Bill cảm thấy thế), dường như muốn nhắn nhủ họ vẫn thua, thua đứt đuôi con nòng nọc.

Bill thấy lạnh người, miệng khô khốc và sợ hãi.

Chợt những chấm li ti trên bức hình biến mất và bức hình bắt đầu chuyển động.

“Đó là…” Mike lên tiếng.

“Nh-Nh-Nhìn này,” Bill nói. Ngôn từ rơi ra khỏi miệng cậu như viên đá đã chảy một phần. “M-M-Mọi người nh-nhìn mà xem!”

Cả bọn châu đầu lại.

“Ôi Chúa ơi,” Beverly thì thầm đầy trầm trồ.

“Là NÓ đấy!” Richie thiếu điều la lên oai oái, đập tay thùm thụp lên lưng Bill với vẻ kích động. Cậu nhìn quanh và trông thấy khuôn mặt trắng bệch, bàng hoàng của Eddie và khuôn mặt cứng đờ của Stan Uris. “Đó chính là thứ bọn tớ trông thấy trong phòng George! Đó chính là thứ bọn tớ…”

“Suỵt,” Ben nói. “Nghe kìa.” Cậu gần như ré lên. “Mình nghe được họ nói – Chúa ơi, bọn mình có thể nghe thấy tiếng họ nói kìa.”

Và trong sự yên tĩnh chỉ bị phá bĩnh bởi tiếng gió mùa hè xào xạc, cả bọn nhận ra họ có thể nghe thấy âm thanh phát ra từ tấm ảnh. Ban nhạc đang chơi một khúc quân hành, tiếng nhạc nghe văng vẳng tiếng được tiếng mất do cách quá xa… hoặc khoảng cách thời gian… hoặc vì nguyên nhân gì đó. Tiếng đám đông hò reo nghèn nghẹt như âm thanh phát ra từ một cái đài chỉnh dở. Có tiếng tanh tách khe khẽ, nghe như tiếng búng tay.

“Là tiếng pháo,” Beverly thì thầm, run rẩy đưa tay lên dụi mắt. “Đó là tiếng pháo phải không nhỉ?”

Không ai trả lời. Mọi người trợn mắt, chăm chú nhìn bức hình.

Đoàn diễu hành rồng rắn tiến gần đến chỗ họ, nhưng trước khi họ tới sát rạt – lúc này, trong họ như sắp sửa diễu hành ra khỏi bức hình và bước vào thế giới của mười ba năm sau – thì đoàn diễu hành bỗng dưng khuất dạng, như thể có một đường dốc vô hình. Đầu tiên là những người lính tham gia Thế chiến thứ nhất, khuôn mặt già nua đến lạ dưới mũ cối, với tấm biển đề CỰU BINH CHIẾN TRANH DERRY CHÀO ĐÓN NHỮNG NGƯỜI CON KIẾN TRUNG TRỞ VỀ, theo sau là Đội Nam Hướng đạo sinh, tổ chức tình nguyện Kiwanis, Đội Điều dưỡng Tại gia, Đoàn Diễu hành Cơ đốc Derry và các cựu binh Thế chiến thứ hai của Derry cùng một đoàn học sinh trung học. Đám đông rục rịch dịch chuyển theo. Hoa giấy rực rỡ sắc màu được tung từ ô cửa sổ tầng hai và tầng ba của những tòa nhà văn phòng hai bên đường. Gã hề nhảy nhót dọc theo vỉa hè, hết xoạc chân lại nhào lộn, làm động tác của lính bắn tỉa, rồi lại chuyển sang làm động tác nghiêm chào. Và lần đầu tiên, Bill để ý người ta đang lủi dần khỏi hắn – không phải vì họ trông thấy hắn mà nói đúng hơn là vì họ cảm thấy lạnh sống lưng hoặc ngửi thấy mùi gì đó hôi thối.

Chỉ có trẻ con trông thấy hắn, và chúng tránh hắn như tránh tà.

Ben vươn tay tới bức hình như Bill từng làm trong phòng của George.

“Đ-Đ-Đ-ĐỪNG!” Bill ré lên.

“Tớ nghĩ không sao đâu, Bill, Ben trấn an bạn mình. “Cậu nhìn này.” Nói đoạn, cậu đặt tay lên lớp bóng kính bảo vệ bức hình rồi rụt tay lại. “Nhưng nếu cậu gỡ lớp bọc…”

Đột nhiên, Beverly thét lên. Lúc Ben rụt tay lại, gã hề đã thôi diễn trò. Nó chạy tới chỗ bọn họ, cái miệng sơn đỏ màu máu liến thoắng nói và cười ha hả. Bill rụt người lại nhưng vẫn giữ rịt lấy cuốn album, bởi cậu cứ nghĩ nó cũng sẽ biến mất khỏi tầm mắt họ như đoàn diễu hành ban nãy, như Đội Nam Hướng đạo sinh hay chiếc Cadillac chở Hoa hậu Derry năm 1945.

Nhưng không, gã hề không biến mất theo đường dốc phân chia ranh giới của những hình hài quá khứ ấy. Thay vào đó, trong nháy mắt, nó nhảy phốc lên cột điện ở góc trên cùng bên trái của bức hình. Nó lắc lư qua lại như con khỉ đung đưa trên cây - và bất thình lình, khuôn mặt của nó dí sát vào lớp bóng kính cứng mà Will Hanlon đã bọc trên từng trang sách. Beverly lại một lần nữa hét lên và lần này có thêm tiếng thét của Eddie, mặc dù tiếng cậu hét nhỏ hơn, hổn hển hơn. Lớp nhựa phình lên – sau đó, cả bọn đều xác nhận mình có thấy cảnh tượng ấy. Bill trông thấy phần chỏm mũi màu đỏ của gã hề bẹt lại, như mũi ta bẹt khi dí sát vào cửa kính.

“Tao sẽ giết hết lũ chúng mày!” Gã hề ré lên cười và la lối ầm ĩ. “Cứ thử bắt tao dừng xem, tao sẽ giết sạch lũ chúng mày! Tao sẽ làm chúng mày phát điên rồi giết bằng hết! Đừng hòng ngăn cản tao! Tao là Người bánh gừng! Tao là Người sói!”

Và trong một khắc, Nó biến thành Người sói, khuôn mặt bàng bạc ánh trăng chĩa thẳng về phía họ trên cổ áo màu bạc, hàm răng nhe lên.

“Đừng hòng ngăn cản tao, tao là gã hủi!”

Giờ thì khuôn mặt của gã hủi hiện ra, ám ảnh và bong tróc, thối rữa đầy lở loét, chằm chằm nhìn họ với đôi mắt của thây ma.

“Đừng hòng ngăn cản tao, tao là xác ướp!”

Gương mặt của gã hủi già đi và vằn vện những vết nứt khô đét. Những lớp băng từ thuở xa xưa vòng tới vòng lui che phủ lớp da của nó và bền chặt ở đó, Ben quay đi, mặt xanh như tàu lá, một tay che cổ và tai.

“Đừng hòng ngăn cản tao, tao là những đứa trẻ chết trôi!”

“Không!” Stan Uris thét lên. Hai mắt cậu trợn trừng trên mảng da hình bán nguyệt trông như bị bầm – bầm đi vì sốc, Bill bâng quơ nghĩ, và đó là cụm từ mà mười hai năm sau, anh sử dụng trong tiểu thuyết của mình, dù chẳng rõ nguồn gốc của từ này ở đâu nhưng anh cứ thế áp dụng, như cách các nhà văn hay nảy ra đúng từ lúc cần, tựa món quà giản dị từ bên ngoài không gian

(không gian khác)

nơi những câu chữ hay ho thỉnh thoảng thường xuất hiện.

Stan giật cuốn album từ tay bạn mình và đóng sập nó lại. Cậu giữ nó thật chặt bằng cả hai tay, đường gân nổi lên dọc mặt trong khuỷu tay và cánh tay cậu. Cậu nhìn mọi người với đôi mắt gần như phát điên. “Không” cậu lắp bắp. “Không, không, không.”

Và bất chợt, Bill nhận ra cậu thấy việc Stan nhiều lần không dám đối diện với nỗi sợ còn đáng e ngại hơn chính bản thân gã hề này, và cậu hiểu đây chính là phản ứng mà gã hề mong khơi gợi trong lòng mọi người, vì…

Vì có lẽ đây là lần đầu tiên Nó hù dọa được chúng ta… thật sự hù dọa được chúng ta trong quãng đời đằng đẵng của Nó.

Cậu chộp lấy người Stan, giữ rịt vai, lắc thật mạnh cậu bạn hai lần. Răng của Stan lạch cạch va vào nhau, tay cậu đánh rơi cuốn album. Mike nhặt lên, vội vàng để qua một bên, không dám đụng vào nhiều sau cảnh tượng vừa trông thấy. Nhưng cuốn album này vẫn là của bố, và bản năng nhắc nhở cậu rằng bố cậu sẽ không bao giờ nhìn thấy điều mà cậu vừa tận mục sở thị.

“Không,” Stan khẽ rên rỉ.

“Có,” Bill khẳng định.

“Không” Stan lại nói.

“Có. Ch-Ch-Chúng ta…”

“Không.”

”…đ-đều th-thấy mà, Stan,” Bill nói. Cậu đưa mắt nhìn mọi người.

“Đúng vậy,” Ben lên tiếng.

“Đúng vậy,” Richie khẳng định.

“Đúng rồi,” Mike nói. “Ôi Chúa ơi, đúng vậy.”

“Phải,” Bev đồng tình.

“Phải,” Eddie chật vật thốt lên, cố nói trong lúc cổ họng đang thít lại.

Bill nhìn Stan, ánh mắt như muốn yêu cầu Stan nhìn thẳng vào mắt cậu. “Đ-Đừng để nó kh-kh-khuất phục c-cậu,” Bill nói. “C-Cậu c-c-cũng th-thấy mà.”

“Tớ có muốn thấy đâu!” Stan la lên. Mồ hôi dầu rịn trên lông mày cậu.

“Nhưng c-c-cậu đã th-th-thấy .”

Stan nhìn những người bạn của mình, từng người một. Cậu đưa tay và mái tóc ngắn ngủn và trút một tiếng thở dài, run rẩy. Đôi mắt cậu đã tản bớt sự điên cuồng quẫn trí khiến Bill lo lắng ban nãy.

“Ừ thì có,” cậu nói. “Phải. Ừ. Đúng rồi. Đó là điều cậu muốn phải không? Ừ thì có.”

Bill thầm nghĩ: Bọn mình vẫn sát cánh bên nhau. Nó không thể cản bọn mình. Chúng mình có thể giết chết Nó. Chúng mình có thể kết liễu Nó… nếu chúng mình đủ can đảm.

Bill nhìn những người khác trong nhóm và thấy trong mắt mọi người ít nhiều ánh lên sự hoảng loạn như Stan. Không đến mức như vậy, nhưng vẫn có.

“U-U-Ừ!” cậu nói và mỉm cười với Stan. Chốc sau, Stan cũng đáp lại bằng một nụ cười và vẻ mặt cậu đã vơi bớt sự kinh hãi. “Đó là điều tớ m-m-muốn đó, đồ nh-nh-nhát chết.”

“Bíp bíp, ngốc xít,” Stan nói và cả bọn phá lên cười. Tiếng cười rít ré có phần hoảng hốt, nhưng thôi, chí ít có cười còn hơn không, Bill thầm nhủ.

“N-N-Nào,” cậu nói, vì phải có ai đó đứng ra khởi xướng. “Bọn mình l-l-làm cho xong căn phòng thôi. Các cậu thấy s-s-sao?”

Cậu trông thấy cảm kích hiện lên trong mắt các bạn và cảm thấy mừng cho mọi người… nhưng ánh nhìn cảm kích ấy chẳng giúp cậu bớt kinh sợ là bao. Thậm chí, trong sự cảm kích ấy hàm chứa thứ gì đó khiến cậu chỉ muốn căm ghét bọn họ. Chẳng lẽ cậu sẽ không bao giờ có cơ hội thể hiện nỗi sợ hãi của chính mình, để giữ cho mối dây mỏng manh kết nối họ làm một không đứt tung?

Mà xem chừng suy nghĩ này cũng không công bằng lắm thì phải? Vì xét theo khía cạnh nào đấy, cậu đang lợi dụng mọi người – lợi dụng những người bạn của mình, đem mạng sống của họ ra đánh liều – để trả thù cho người em trai đã mất. Mà đó có phải là sự thật sau cùng hay chưa nhỉ? Hình như chưa, bởi đằng nào George cũng chết rồi, và nếu buộc phải trả thù, thì Bill đồ rằng hành động ấy là vì người sống, những người còn ở lại. Và điều đó đã biến cậu thành gì? Phải chăng là thành một thằng anh hùng rơm ích kỷ huơ huơ thanh kiếm bằng thiếc, ra vẻ oai hùng như vua Arthur?

Ôi Chúa ơi, cậu thầm rên rỉ, nếu đây là những điều người lớn phải nghĩ đến thì mình chẳng muốn lớn lên chút nào.

Ý chí của cậu vẫn không hề nao núng, song ý chí ấy nhân nhẫn chút đắng cay.

Chua chát.

« Lùi
Tiến »