GÃ HỀ MA QUÁI

Lượt đọc: 10381 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16
eddie kém may
1

Richie nói xong, ai nấy đều gật gù. Eddie cũng gật theo, nhớ lại theo mọi người, đúng lúc ấy, bỗng dưng một cơn đau chạy dọc lên tay trái của anh. Chạy dọc lên ư? Không phải. Nó xoèn xoẹt qua tay anh: như thể có ai đó đang mài lưỡi cưa gỉ sét vào khúc xương bên trong. Nhăn mặt, anh đưa tay vào túi áo khoác, rờ rẫm đủ loại chai lọ bên trong và lấy ra Excedrin. Anh nuốt hai viên bằng một ngụm rượu gin pha nước mận. Tay anh đau thành từng cơn cả ngày hôm nay. Ban đầu, anh không mấy quan tâm vì cứ tưởng cái nhói đau này chỉ là do viêm bao hoạt dịch mà thỉnh thoảng cứ trái gió trở trời là anh lại bị. Nhưng nghe đến giữa câu chuyện của Richie, một ký ức mới lóe lên trong đầu, và anh nhận ra bản chất của cơn đau. Chúng ta không còn nhẩn nha dạo chơi trên Làn đường Ký ức nữa rồi, anh thầm nghĩ , càng lúc tốc độ càng chẳng thua kém gì cao tốc Long Island.

Một loại thuốc giảm đau.

Năm năm trước, trong một buổi kiểm tra sức khỏe định kỳ (Eddie kiểm tra sức khỏe sáu tuần một lần), bác sĩ bảo anh: “Tay của anh có vết gãy cũ ở đây, Ed ạ… Ngày bé anh từng trèo cây rồi bị ngã à?”

“Nôm na là vậy,” Eddie hùa theo, chẳng buồn nói với bác sĩ Robbins rằng mẹ anh chắc chắn sẽ lăn đùng ra chết vì xuất huyết não nếu bà trông thấy hoặc nghe thấy Eddie của bà trèo lên cây. Sự thật là anh chẳng tài nào nhớ nổi chính xác lý do tại sao mình lại gãy tay. Đằng nào lúc ấy, điều đó cũng chẳng quan trọng lắm (nhưng giờ nghĩ lại, Eddie thấy thật kỳ cục khi anh thản nhiên đến thế – anh là kẻ xem cái hắt xì hoặc chút đổi màu khi đi nặng là chuyện kinh thiên động địa kia mà). Nó chỉ là vết gãy cũ, chút khó chịu cỏn con, biến cố xảy ra cách đây đã lâu, từ cái thời thơ ấu mà anh chẳng còn nhớ tí gì, cũng không buồn nhớ lại cho rách việc. Nó chỉ đau âm ỉ vào những hôm trời mưa mà anh phải lái xe đường dài. Một vài viên aspirin là đâu lại vào đó ngay. Không thành vấn đề.

Nhưng giờ đây, nó không còn là chút khó chịu cỏn con nữa, tựa hồ một kẻ điên đang mài lưỡi cưa gỉ sét, chơi điệu nhạc trên xương cốt anh, và anh chợt nhớ đó chính là cảm giác của anh ở bệnh viện, nhất là lúc nửa đêm, vào ba hay bốn ngày đầu tiên sau khi chuyện xảy ra. Nằm trên giường, mồ hôi ròng ròng trong cái nóng mùa hè, đợi y tá mang thuốc cho mình, nước mắt lặng lẽ chảy xuống má vào hõm tai, cậu bé là anh năm xưa đã tự nhủ Như thể có một thằng điên đang mài lưỡi cưa bên trong.

Nếu ký ức đang trên đường ùa về, Eddie nghĩ, thì mình thì dùng chất để tẩy sạch não còn hơn: làm một cú tẩy sạch tâm trí.

Anh cất tiếng trong vô thức: “Henry Bowers là kẻ đã làm gãy tay tớ. Các cậu có nhớ không?”

Mike gật đầu. “Chuyện xảy ra ngay trước khi Patrick Hockstetter mất tích. Tớ chỉ không nhớ ngày nào thôi.”

“Tớ nhớ đấy,” Eddie nói. “Ngày 20 tháng 7. Hockstetter được thông báo mất tích vào ngày… ờ.... ngày 23 thì phải?” l

“Ngày 22,” Beverly Rogan nói, dù cô không kể với các bạn lý do tại sao cô lại nhớ như in ngày tháng chuyện này đến thế: nguyên nhân là bởi cô đã chứng kiến Nó bắt Hockstetter. Cô cũng không kể với mọi người rằng cả ngày ấy lẫn bây giờ, cô đều tin rằng Patrick Hockstetter là một kẻ tâm thần, thậm chí còn điên loạn hơn cả Henry Bowers. Cô sẽ kể với các bạn, nhưng giờ đang là lượt của Eddie. Tiếp theo sẽ đến lượt cô phát biểu, và sau đó, cô đoán Ben sẽ kể lại cao trào những sự kiện trong tháng Bảy ấy… viên đạn bạc mà ban đầu họ ngần ngừ không dám chế tác. Cô thấy đây quả là một hành trình ác mộng – những niềm hân hoan điên rồ ấy vẫn không vợi bớt trong lòng cô. Lần cuối cùng cô thấy mình tràn đầy nhựa sống như vậy là bao giờ nhỉ? Cô thậm chí chẳng ngồi yên nổi.

“Ngày 20 tháng 7 à,” Eddie hào hứng, lăn lăn chuyền ống thở trên bàn từ tay này sang tay kia. “Ba hoặc bốn ngày sau sự kiện lỗ khói. Báo hại tớ bị bó bột cả mùa hè, các cậu nhớ không?”

Richie vỗ trán, một cử chỉ mà mọi người vốn chẳng xa lạ gì ngày trước, và rồi Bill chợt nghĩ, vừa thích thú vừa khó chịu, trong khoảnh khắc ấy, Richie trông giống y như Beaver Cleaver. “Có chứ sao không? Lúc bọn mình đến căn nhà trên đường Neibolt, cậu vẫn phải bó bột đúng không? Và sau đó… trong bóng tối…” Nhưng rồi Richie đành khẽ lắc đầu bối rối.

“Sao thế, R-Richie?” Bill hỏi.

“Tớ chưa thể nhớ ra phần ấy,” Richie thú nhận. “Cậu thì sao?” Bill cũng chậm rãi lắc đầu.

“Hôm đó, Hockstetter đi chung với bọn chúng,” Eddie kể. “Đó là lần cuối cùng tớ thấy cậu ta lúc còn sống. Có lẽ cậu ta thế chỗ cho Peter Gordon. Tớ nghĩ Bowers không muốn Peter trong hội sau khi thấy cậu này bỏ của chạy lấy người vào trận ném đá.”

“Bọn họ đều bỏ mạng cả rồi nhỉ?” Beverly khẽ hỏi. “Sau Jimmy Cullum, những nạn nhân thiệt mạng đều là bạn bè của Henry Bowers… hoặc từng giao du với cậu ta.”

“Tất cả đều chết, trừ Bowers,” Mike đồng tình, liếc mắt nhìn về phía chùm bóng bay đang được cột vào máy quét vi phim. “Mà bây giờ, hắn ta ở đồi Juniper rồi. Đó là một nhà thương điên tư nhân ở Augusta.”

“Th-Th-Thế lúc bọn chúng làm cậu gãy tay thì sao, E-E-Eddie?” Bill hỏi tiếp.

“Cậu càng lúc càng nói lắp rồi kìa, Bill To Bự,” Eddie trầm ngâm nói rồi nốc cạn đồ uống của mình trong một ngụm.

“Cứ kệ đi,” Bill đáp. “K-Kể bọn tớ nghe với.”

“Kể bọn tớ với,” Beverly lặp lại rồi khẽ đặt tay lên cánh tay anh. Cơn đau nhói lên ở đó.

“Được thôi,” Eddie nói. Anh rót thêm rượu, nhìn chằm chằm vào ly rồi nói, “Tớ xuất viện được vài ngày thì các cậu ghé qua nhà và cho tớ xem mấy viên bi bằng bạc. Cậu còn nhớ không Bill?”

Bill gật đầu.

Eddie quay sang nhìn Beverly. “Bill hỏi nếu có biến thì liệu cậu có sẵn sàng bắn hay không… vì cậu ngắm bắn rất chuẩn. Tớ nhớ hình như cậu bảo cậu không… vì cậu sẽ sợ đến độ không làm được gì. Và cậu bảo bọn tớ điều gì nữa kìa, nhưng tớ chưa nhớ ra. Hình như là…” Eddie thè lưỡi, chạm vào đầu lưỡi như thể dính gì đó. Richie và Ben nhe răng cười. “Về Hockstetter phải không nhỉ?”

“Ừ.” Beverly đáp. “Tớ sẽ kể khi cậu nói xong. Cậu cứ kể tiếp đi.”

“Sau khi các cậu ra về, mẹ tớ vào phòng và hai mẹ con tớ đã cãi nhau một trận nảy lửa. Bà không muốn tớ giao du với các cậu thêm nữa. Suýt chút nữa thì mẹ đã nài ép tớ thành công - mẹ tớ rất biết cách thuyết phục người khác mà, các cậu biết đấy…”

Bill lại gật đầu. Anh nhớ bà Kaspbrak là một phụ nữ to con với khuôn mặt kỳ lạ như mớ hổ lốn biểu cảm, khuôn mặt có thể tỏ vẻ lạnh lùng, giận giữ, khốn khổ và sợ hãi cùng một lúc.

“Ừ, suýt chút nữa thì tớ đã xuôi theo,” Eddie nói. “Nhưng lại có một sự kiện khác xảy ra vào cái ngày Bowers làm gãy tay tớ. Một sự việc khiến tớ tỉnh mộng.”

Anh khẽ cười và thầm nhủ trong đầu: Cái gì mà làm tớ tỉnh mộng kia chứ… Mày chỉ biết nói như vậy thôi sao? Nói chuyện liệu được tích sự gì khi mày chẳng bao giờ có thể nói thật với mọi người cảm nhận thật sự của mày? Nếu là trong sách hay trong phim, điều mình phát hiện ra trước khi bị Bowers làm gãy tay sẽ thay đổi hoàn toàn đời mình, khiến mọi thứ không còn như xưa… nếu là trong sách hay trong phim, nó sẽ cho mình tự do. Trong sách hay trong phim, mình sẽ không trữ cả một va li thuốc trong phòng khách sạn, mình sẽ không cưới Myra, mình sẽ không cần cầm theo cái ống thở chết toi này. Ấy là trong sách hay trong phim. Vì…

Bỗng dưng, trong lúc họ đang nhìn thì ống thở của Eddie tự động lăn trên mặt bàn. Vừa lăn, nó vừa phát ra tiếng lạo xạo khô khốc, nghe hao hao tiếng gõ maracas và tiếng xương… đồng thời phảng phất tiếng cười. Khi chạy đến đầu bàn bên kia, giữa Richie và Ben, nó rơi xuống đất. Richie giật mình toan chộp lấy xong Bill ré lên, “Đừng ch-ch-chạm vào!”

“Chùm bóng bay kìa!” Ben hét lên, cả nhóm quay đầu lại.

Cả hai quả bóng cột vào máy quét vi phim ghi THUỐC HEN SUYỄN GÂY UNG THƯ! Bên dưới câu khẩu hiệu là hình đầu lâu đang cười toe toét.

Cả hai quả nổ đùng.

Nhìn cảnh đó, miệng Eddie khô khốc, anh cảm thấy lồng ngực mình sắp nghẹt thở như bu lông siết vào chốt.

Bill nhìn qua anh. “Ai b-bảo cậu như vậy và h-h-họ bảo gì với cậu?”

Eddie liếm môi, chỉ muốn đuổi theo ống thở của mình nhưng lại không dám. Biết ở bên trong nó có gì kia chứ?

Anh nghĩ về ngày hôm ấy, ngày 20, về cái nóng hầm hập, về việc mẹ cho anh một tờ séc, tất cả thông tin đều đã điền ngoại trừ phần tiền, cùng một đô-la tiền mặt – đây là khoản tiêu vặt của anh.

“Ông Keene,” anh nói, và giọng anh vẳng lại nghe thật xa xôi và bất lực trong chính tai anh. “Ông Keene chính là người nói vậy.”

“Tính ra ở Derry này, ông ấy cũng thuộc dạng khó tính,” Mike nói nhưng Eddie chẳng nghe thấy bởi anh đang chìm trong suy nghĩ.

Phải, hôm ấy trời nóng nhưng bên trong Tiệm thuốc đường Trung Tâm lại rất mát mẻ, quạt gỗ quay nhẹ dưới trần nhà ốp thiếc, có một thứ mùi dễ chịu của đủ các loại bột và thuốc thang. Đây vốn là nơi họ bán sức khỏe – ấy là niềm tin thâm căn cố đế tuy bất thành văn nhưng rõ ràng như ban ngày của mẹ anh, và khi đồng hồ cơ thể năm ấy mới chỉ 11 giờ 30 phút, Eddie chẳng mảy may nghi ngờ mẹ mình sai lầm.

Chà, ông Keene chính là người dập tắt sự tin tưởng ấy của mình, anh thầm nhủ, dư vị của tức giận vương lại ngọt ngào.

Anh nhớ mình đã đứng ở giá truyện tranh suốt một lúc lâu, khẽ xoay nó xem có tập Người dơi, Cậu bé Siêu phàm, hoặc Người Co giãn – bộ truyện ưa thích của cậu – nào mới hay không. Eddie đã đưa danh sách thuốc thang mẹ soạn (mẹ bảo cậu đến tiệm thuốc giống như mẹ của những cậu con trai khác bảo con mình đến tiệm tạp hóa ở góc đường) và tờ séc mẹ viết cho ông Keene; ông sẽ chuẩn bị đơn hàng rồi viết số tiền vào tờ séc, đưa lại cho Eddie hóa đơn để bà có thể tự trừ phần tiền từ số dư séc. Tất cả là Quy trình Thao tác Chuẩn cho Eddie. Có ba đơn thuốc khác nhau cho mẹ cậu, thêm một lọ Geritol vì, mẹ nói một cách rất ư bí ẩn, “Nó chứa rất nhiều sắt, Eddie ạ, mà phụ nữ thì cần nhiều sắt hơn nam giới.” Ngoài ra còn có các loại vitamin cho cậu, một lọ xi rô Dr. Swett cho trẻ em… và tất nhiên, thuốc hen suyễn cho cậu.

Lần nào cũng y như lần nào. Sau đó, cậu sẽ ghé qua Chợ Đại lộ Costello với tờ đô la trong túi để mua hai phong kẹo cùng một lon Pepsi. Cậu sẽ ăn kẹo, uống nước ngọt và rung leng keng những đồng xu lẻ được thối lại trong túi. Nhưng ngày hôm ấy lại khác, nó sẽ kết lại bằng việc cậu phải vào bệnh viện, điều này thì khác một trời một vực so với bình thường rồi, song mọi thứ bắt đầu chệch khỏi quỹ đạo khi ông Keene gọi cậu vào trong. Thay vì đưa cho cậu cái túi màu trắng rất to đựng thuốc và hóa đơn, dặn dò cậu cất hóa đơn vào túi kẻo mất, ông Keene lại trầm tư nhìn cậu rồi bảo, “Ra

2

sau văn phòng với ta một chút, Eddie. Ta có chuyện muốn nói với cháu.” Eddie chỉ nhìn ông một thoáng, chớp mắt với chút sợ hãi. Trong đầu cậu vụt qua suy nghĩ có khi ông Keene tưởng cậu chôm chỉa gì đó ở cửa hàng chăng. Ngoài cửa để một tấm biển mà khi nào bước vào Tiệm thuốc đường Trung Tâm, cậu cũng đọc. Nội dung được đề bằng những chữ cái màu đen đầy đe dọa, kích thước lớn đến độ cậu cá ngay cả Richie Tozier còn có thể đọc mà không cần mang kính: ĂN CẮP VẶT KHÔNG HAY HO”, “NGẦU” HOẶC “CHẤT CHƠI”! ĂN CẮP VẶT LÀ PHẠM TỘI VÀ SẼ BỊ TRUY TỐ!

Eddie chưa lần nào ăn cắp vặt, nhưng tấm biển ấy luôn khiến cậu cảm thấy tội lỗi – khiến cậu có cảm giác như thể ông Keene biết chuyện gì đó về cậu mà ngay đến bản thân cậu còn chẳng hay.

Rồi ông Keene càng khiến cậu rối rắm hơn khi hỏi, “Cháu ăn sô-đa kem không?”

“Dạ…”

“Ồ, để ta mời. Tầm giờ này trong ngày, ta lúc nào cũng uống một phần trong văn phòng. Phủ phê năng lượng, trừ những ai cần phải kiểm soát cân nặng, mà ta thấy hai ta đều không thuộc dạng đó. Vợ ta bảo ta tong teo hơn mỗi cọng dây. Cậu bạn của cháu, cậu bé Hanscom ấy, mới là người cần phải lo lắng về chuyện thừa cân. Cháu thích vị gì, Eddie?”

“Dạ thôi ạ, mẹ cháu dặn phải về nhà ngay khi…”

“Ta đoán cháu thích vị sô-cô-la đấy nhỉ? Cháu thấy sô-cô-la được không?” Mắt của ông Keene ánh lên, nhưng cái lấp lánh ấy có gì đó thật khô khốc, như thể ánh mặt trời phản chiếu vào tấm nhựa trong trên sa mạc. Đó là cảm nghĩ trong đầu Eddie, vốn hâm mộ những tác giả phương Tây như Max Brand và Archie Joceylen.

“Dạ vâng.” Eddie cung kính không bằng tuân mệnh. Cách ông Keene đẩy kính gọng vàng lên mũi có nét gì đó khiến cậu sốt ruột. Ở ông Keene toát lên vẻ vừa căng thẳng vừa âm thầm hài lòng. Cậu chẳng muốn vào văn phòng với ông chút nào. Mọi thứ không đơn giản chỉ là ly sô-đa. Không phải. Bất kể vấn đề là gì, Eddie mơ hồ cảm nhận nó không phải tin tốt lành gì cho cam.

Khéo có khi ông ấy sẽ bảo mình mắc ung thư hay gì đó, Eddie sốt vó. Ung thư mà con nít hay bị ấy. Máu trắng thì phải. Chúa ơi!

Ôi trời, đừng ngớ ngẩn như thế chứ, cậu trấn an bản thân, cố ra vẻ như Bill Cà Lăm trong tâm trí. Bill Cà Lăm đã thay thế Jock Mahoney đóng vai Range Rider trong chương trình ti vi sáng thứ Bảy để trở thành anh hùng trong cuộc đời Eddie. Mặc dù không thể nói tròn vành rõ chữ, Bill To Bự lúc nào cũng cứng rắn đứng đầu sóng ngọn gió. Ông này là dược sĩ chứ có phải bác sĩ đâu, vì Chúa. Nhưng Eddie lo thì vẫn cứ lo.

Ông Keene nâng cửa quầy lên và ngoắc ngoắc ngón tay xương xẩu gọi Eddie vào. Eddie làm theo nhưng cứ lừng khừng mãi.

Ruby, cô nhân viên trong quầy, đang ngồi cạnh quầy thanh toán đọc tạp chí Silver Screen . “Cô làm hộ tôi hai ly sô-đa kem với nhé, Ruby?” Ông Keene gọi với ra. “Một sô-cô-la, một cà phê nhé?”

“Vâng.” Ruby đáp, đánh dấu trang tạp chí bằng lớp giấy bạc của kẹo cao su rồi đứng dậy.

“Mang vào văn phòng hộ tôi nhé.”

“Vâng.”

“Đi nào. Ta có cắn đâu mà cháu sợ.” Và lạ chưa, ông Keene còn nháy mắt nữa kìa, khiến Eddie choáng váng không để đâu cho hết.

Chưa lần nào được bước ra sau quầy, cậu đưa mắt nhìn cơ man nào là chai lọ, thuốc thang và hộp đựng với vẻ đầy thích thú. Cậu sẽ nán lại lâu hơn nếu ở đây một mình, xem xét thật kỹ bộ chày đi kèm cối của ông Keene, cân và tạ, tô thủy tinh đựng đầy thuốc con nhộng. Nhưng ông Keene hối thúc cậu vào văn phòng rồi đóng sập cánh cửa sau lưng cậu. Khi cửa đóng cạch, Eddie cảm thấy ngực mình thắt lại một cách đáng ngại, cậu ra sức gồng. Trong số thuốc mới mua có một ống thở, và khi nào ra khỏi đây, cậu sẽ hít một hơi thật dài, thật sảng khoái.

Ở góc bàn của ông Keene có một hộp đựng que cam thảo. Ông mời Eddie.

“Dạ thôi, cháu cảm ơn ạ” Eddie lễ phép.

Ông Keene ngồi xuống chiếc ghế xoay phía sau bàn và nhón lấy một que. Đoạn ông mở ngăn kéo lấy thứ gì đó. Ông đặt nó bên cạnh hộp kẹo cam thảo cao kều, đến lúc này thì Eddie cảm thấy toàn thân như báo động đỏ. Là ống thở. Ông Keene ngả ra ghế cho đến khi đầu ông gần như chạm vào lịch treo tường đằng sau. Bức hình trên lịch chi chít đầy thuốc, ghi chữ SQUIBB. Và…

Tên một công ty dược phẩm.

… và trong một khoảnh khắc tựa hồ ác mộng, khi ông Keene mở miệng toàn nói gì đó, Eddie chợt nhớ lại chuyện xảy ra ở tiệm giày lúc cậu còn bé, khi mẹ hét toáng lên mắng cậu cái tội thò chân vào máy chụp X-quang. Trong một khoảnh khắc tựa hồ ác mộng ấy, Eddie cứ tưởng ông sẽ nói: “Eddie này, cứ mười bác sĩ thì có chín người cho rằng thuốc hen suyễn sẽ khiến ta bị ung thư, giống máy chụp X-quang mà người ta dùng trong tiệm giày đấy. Có khi cháu cũng mắc ung thư rồi. Ta nghĩ cháu nên biết điều đó.”

Nhưng không, điều mà ông Keene nói trong thực tế lại vô cùng kỳ lạ, đến độ Eddie chẳng biết đáp thế nào, cậu chỉ biết ngồi thừ trên băng ghế gỗ đối diện bàn ông như đồ ngốc.

“Chuyện này kéo dài như thế là đủ rồi.”

Eddie mở miệng rồi lại khép.

“Cháu bao nhiêu tuổi rồi, Eddie? Mười một đúng không nhỉ?”

“Dạ phải, Eddie khẽ khọt. Hơi thở của cậu càng lúc càng nông. Cậu chưa rít lên như ấm đun trà (mà Richie hay bảo: Có ai tắt Eddie hộ tớ mới! Cậu ấy sôi sùng sục rồi kìa! ) nhưng nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Cậu nhìn đau đáu vào ống thở trên bàn ông Keene, và vì dường như phải nói gì đó, cậu lên tiếng: “Tháng Mười một này cháu tròn mười hai tuổi.”

Ông Keene gật đầu, đoạn chúi người tới trước như dược sĩ trong quảng cáo trên ti vi và khum hai tay lại. Mắt kính của ông lấp lánh dưới ánh đèn huỳnh quang sáng choang phả xuống. “Cháu có biết giả dược là gì không, Eddie?”

Eddie căng thẳng, vận dụng mọi suy đoán của mình: “Đó là một bộ phận trên con bò mà sữa chảy ra từ đó phải không ạ?”

Ông Keene phá lên cười rồi ngả người ra sau ghế. “Không phải.” ông đáp và Eddie ngượng chín mặt, đỏ bừng đến tận chân tóc. Giờ cậu có thể nghe thấy tiếng thở của mình dần rít lên. “Giả dược là…”

Lời ông nói bị chen ngang bởi tiếng gõ cửa đanh gọn. Không đợi ông lên tiếng, Ruby bước vào với hai ly sô-đa kem kiểu xưa trên tay. “Của cháu chắc là sô-cô-la nhỉ,” cô nói với Eddie và nhoẻn miệng cười. Cậu cố gắng cười đáp lại, song cả đời mình, đó là lần đầu tiên sự quan tâm của cậu dành cho sô-đa kem lại chạm đáy đến thế. Cậu thấy sợ một cách vừa mơ hồ vừa cụ thể, giống như cảm giác sợ khi ngồi trên bàn khám của bác sĩ Handor, độc mỗi quần con, nơm nớp đợi bác sĩ bước vào, biết rõ mẹ mình đang ở ngoài phòng chờ, bành trướng gần hết ghế với cuốn sách (thường là cuốn Sức mạnh của Tư duy Tích cực của Norman Vincent Peale hoặc Bài thuốc Dân gian Vermont của bác sĩ Jarvis) đưa lên sát mắt như sách thánh ca. Bị lột trần, bất lực, cậu cảm thấy mắc kẹt giữa hai người.

Cậu hớp vài ngụm sô-đa sau khi Ruby đi ra ngoài nhưng thấy nhạt thếch.

Ông Keene đợi đến lúc cửa đóng lại, đoạn nở nụ cười mặt-trời-chiếu-lên-nhựa khô khốc ấy. “Thả lỏng đi nào, Eddie. Ta có cắn cháu hay làm hại cháu đâu mà cháu sợ.”

Eddie gật đầu, vì ông Keene là người lớn, mà con nít thì phải nghe theo người lớn bằng mọi giá (mẹ cậu dạy như thế), song trong đầu, cậu thầm nghĩ: Ôi cháu xin, cháu nghe mấy câu vớ vẩn ấy nhiều rồi. Đó cũng là lời bác sĩ nói khi mở máy khử trùng, thứ mùi cồn gắt đến đáng sợ bay ra khiến mũi cậu cay cay. Đó là mùi của thuốc tiêm, mùi bịa đặt và cả hai đều cùng một giuộc: khi họ bảo không sao đâu, chỉ như kiến cắn thôi, chẳng đau đớn gì đâu, thì có nghĩa là nó sẽ đau như hoạn .

Cậu hút thêm một hớp sô-đa nhưng chẳng được tích sự gì, cậu cần thêm không gian trong cổ họng đang thít lại để hít không khí. Cậu nhìn ống thở đặt giữa xấp giấy của ông Keene, muốn xin nhưng lại không có gan. Suy nghĩ kỳ cục lướt qua đầu cậu: có khi ông biết cậu muốn ống thở mà không dám xin, rằng có khi ông đang

(hành hạ)

trêu cậu. Song ý tưởng này nghe rõ là ngu xuẩn nhỉ? Ai đời một người lớn - nhất là một người lớn phân phối sức khỏe – lại đi trêu một đứa nhóc kia chứ? Chắc hẳn là không rồi. Thậm chí ý tưởng đó chẳng đáng để ta suy xét tới, bởi suy xét một điều như vậy sẽ bắt Eddie đánh giá lại thế giới mà bấy lâu nay cậu tưởng mình hiểu, và đó là điều hết sức đáng sợ.

Nhưng ống thở ở kia, gần ngay trước mặt mà xa tựa chân trời, tựa hồ nguồn nước nằm ở ngoài tầm với của người đàn ông đang chết khát trên sa mạc. Nó ở kia, ngay trên bàn, dưới đôi mắt nở nụ cười khô khốc như nắng chiếu lên nhựa của ông Keene.

Trên tất thảy, Eddie ước giá mà lúc này, cậu đang ở Vùng Đất Cằn chơi đùa với nhóm bạn. Cứ nghĩ tới việc có một con quái vật, một con quái vật vô song, đang lẩn lút trong thành phố nơi cậu chôn rau cắt rốn và lớn lên, sử dụng hệ thống cống thoát nước cùng cống nước thải để mò từ nơi này đến nơi khác, khiến cậu kinh hãi, nghĩ tới việc phải chiến đấu chống lại thứ sinh vật ấy, phải đánh bại nó, thậm chí còn đáng sợ hơn… nhưng bằng một cách nào đó, tình huống hiện tại tệ hại hơn nhiều. Làm sao ta có thể chống lại một người lớn khi người đó bảo ta sẽ không chịu đau đớn gì dù ta biết nó sẽ rất đau? Làm sao ta có thể chống lại một người lớn khi người đó hỏi ta những câu kỳ cục và nói những điều hết sức ám muội như Chuyện này kéo dài thế là đủ rồi ? Và rồi như suy nghĩ âm thầm trồi lên trong đầu, Eddie khám phá một trong những chân lý lớn lao của tuổi thơ mình: Người lớn là những con quái vật thật sự. Suy nghĩ ấy không phải như mặt trời chói qua tim, nó không sáng bừng trong cậu, cũng không vang lên với loa kèn rầm rộ. Suy nghĩ ấy đến rồi đi, gần như bị chôn vùi dưới một suy nghĩ mạnh hơn, áp đảo hơn: mình muốn lấy ống thở và biến khỏi đây.

“Cháu thả lỏng đi,” ông Keene lại nói. “Phần lớn những vấn đề cháu gặp phải đều đến từ việc lúc nào cháu cũng quá cứng nhắc và căng thẳng đấy, Eddie. Ví dụ như cơn hen của cháu chẳng hạn. Cháu nhìn đây.”

Ông Keene mở ngăn kéo bàn, lục lọi bên trong rồi lấy ra một quả bóng bay. Hít thật sâu làm lồng ngực căng phồng (cà vạt của ông phập phồng như con thuyền nhỏ cưỡi ngọn sóng lành), ông phà hơi thổi quả bóng. Quả bóng ghi NHÀ THUỐC ĐƯỜNG TRUNG TÂM, THUỐC KÊ ĐƠN, TẠP HÓA VÀ DỤNG CỤ HẬU MÔN NHÂN TẠO. Ông thắt nút rồi đưa quả bóng ra trước mặt cậu. “Giờ hãy tưởng tượng đây là buồng phổi,” ông nói. “Phổi của cháu. Tất nhiên, ta có thể thổi luôn hai quả nhưng ta chỉ còn đúng một quả thừa lại từ dịp khuyến mãi chạy sau Giáng sinh…”

“Ông Keene, cháu có thể lấy ống thở được không ạ?” Đầu Eddie bắt đầu ong lên. Cậu cảm thấy khí quản mình nghẹt lại. Nhịp tim của cậu tăng nhanh, mồ hôi rịn ra trên trán. Món số-đa kem sô-cô-la đặt trên góc bàn của ông Keene, quả cherry đặt trên cùng từ từ chìm xuống phần kem tươi.

“Chốc nữa thôi,” ông nói. “Chú ý đi, Eddie. Ta muốn giúp cháu. Đến lúc phải có người lên tiếng rồi. Nếu Russ Handor không đủ dũng khí làm điều đó, ta sẽ làm. Phổi của cháu giống như quả bóng này vậy, chỉ khác ở chỗ bao bọc xung quanh nó là các lớp cơ; các lớp cơ giống như tay của một người đang làm động tác thổi ống bễ, cháu hiểu không? Ở một người khỏe mạnh, các thớ cơ này giúp phổi căng lên và xẹp xuống dễ dàng. Nhưng nếu chủ nhân của hai buồng phổi khỏe mạnh lúc nào cũng căng thẳng và cứng nhắc, các thớ cơ sẽ gây khó khăn cho buồng phổi thay vì hoạt động hài hòa. Cháu nhìn đây!”

Ông Keene bọc bàn tay xương xẩu, nhăn nheo và đầy nốt đời mồi của mình quanh quả bóng rồi siết lại. Quả bóng phình lên dưới nắm tay của ông, Eddie nhăn mặt, chuẩn bị tinh thần nghe một tiếng nổ bụp. Đồng thời, cậu cảm thấy hơi thở của mình đã dừng lại hoàn toàn. Cậu rướn người về phía bàn, chộp lấy ống thở để trên xấp giấy. Vai cậu đập vào ly đựng sô-đa kem làm ly đổ lên bàn, rơi đánh choang xuống sàn nhà như quả bom.

Eddie chỉ lờ mờ nghe thấy tiếng vỡ. Cậu vội vàng xé ống thở rồi đút vòi ống vào miệng mình và xịt một hơi. Cậu hít thở thật mạnh, suy nghĩ như mớ bòng bong vì hoảng sợ giống như bao lần: Mẹ ơi con ngạt thở mất con không THỞ được ôi Chúa ơi lạy Chúa lòng lành con không THỞ được con không muốn chết đi con xin Người…

Đoạn khí từ ống thở tụ lại trong cuống họng sưng vù, giờ thì cậu hít thở lại được rồi.

“Cháu xin lỗi,” cậu nói, suýt khóc. “Cháu xin lỗi vì đã làm bể ly… Cháu sẽ lau dọn và đền cho ông… nhưng ông đừng bảo với mẹ cháu được không ạ? Cháu xin lỗi, ông Keene, nhưng cháu không thở được…”

Lại có tiếng gõ cửa cộc cộc và Ruby ló đầu vào trong. “Mọi chuyện có…”

“Mọi chuyện vẫn ổn,” ông Keene nghiêm giọng đáp. “Để bọn tôi nói chuyện.”

“Chậc, tôi xin lỗi!” Ruby nói, đảo mắt rồi đóng cửa.

Hơi thở của Eddie lại bắt đầu rít lên trong cổ họng. Cậu hít thêm một hơi từ ống thở rồi lúng túng xin lỗi. Cậu chỉ dừng lại khi thấy ông Keene mỉm cười với mình – vẫn nụ cười khô khốc kỳ lạ ấy. Tay ông đan vào nhau và đặt trên bụng. Quả bóng bay nằm trên bàn. Một suy nghĩ lướt qua đầu Eddie; cậu cố kìm nó lại nhưng bất thành. Trông ông Keene như thể ông thấy cảnh tượng Eddie vừa lên cơn hen còn ngon lành hơn ly sô-đa cà phê đã vơi nửa của ông.

“Cháu đừng lo,” ông nói. “Chút nữa Ruby sẽ lau dọn, và nếu cháu muốn biết sự thật thì ta rất vui khi cháu làm bể ly. Vì ta hứa sẽ không nói với mẹ cháu chuyện cháu làm bể ly nếu cháu hứa không kể với bà ấy việc hai chúng ta đã nói chuyện với nhau thế này.”

“Dạ, cháu hứa,” Eddie nhanh nhảu.

“Tốt lắm,” ông Keene nói. “Chúng ta hiểu nhau rồi đấy. Và giờ cháu thấy khỏe hơn nhiều rồi đúng không?”

Eddie gật đầu.

“Tại sao?”

“Tại sao ạ? Dạ… vì cháu đã dùng thuốc.” Cậu nhìn ông Keene như cách cậu nhìn cô Casey ở trường khi cậu đưa ra câu trả lời mà không dám chắc.

“Nhưng cháu không hề dùng thuốc gì cả,” ông nói. “Cháu đã dùng giả dược . Eddie ạ, giả dược là thứ trông giống thuốc và có vị giống thuốc nhưng lại không phải là thuốc. Giả dược không phải là thuốc vì nó không có thành phần biệt dược. Hoặc nếu là thuốc thì nó là loại thuốc vô cùng đặc biệt. Thuốc trong tâm tưởng.” Ông Keene mỉm cười. “Cháu hiểu ra chưa, Eddie? Là thuốc trong tâm tưởng .”

Ừ thì Eddie hiểu, ông Keene đang bảo cậu bị điên. Nhưng lúng búng trên hàng môi tê rần, cậu đáp, “Dạ không, cháu không hiểu.”

“Để ta kể cháu nghe mẩu chuyện thế này,” ông nói. “Vào năm 1954, Đại học DePaul đã tổ chức chuỗi xét nghiệm y khoa trên bệnh nhân ung nhọt. 100 bệnh nhân được chỉ định uống thuốc. Bác sĩ nói với họ thuốc sẽ giúp chữa lành ung nhọt, nhưng thực ra, 50 bệnh nhân được cho uống giả dược… Chúng chỉ là những viên kẹo M&M được phủ màu hồng mà thôi.” Ông Keene cười khúc khích đầy kỳ cục – như thể ông đang kể chuyện người ta chơi khăm chứ không phải thí nghiệm. “Trong số 100 bệnh nhân ấy, 93 người cho biết họ cảm thấy ung nhọt cải thiện ở mức độ nhất định, và 81 người thực sự có cải thiện tình trạng bệnh. Nào, cháu nghĩ sao? Cháu rút ra được kết luận gì từ thí nghiệm này, Eddie?”

“Cháu không biết,” Eddie khẽ khàng.

Ông Keene nghiêm mặt gõ tay lên trán. “Hầu hết bệnh tật đều xuất phát từ đây, đó là điều ta tâm niệm. Ta đã làm việc trong ngành này suốt một khoảng thời gian dài, và ta biết về giả dược cách đây nhiều năm rồi, trước cả khi các bác sĩ ở trường Đại học DePaul thực hiện nghiên cứu. Thường thì chỉ có những người lớn tuổi mới sử dụng giả dược thôi. Người già hay đến bác sĩ, một mực cho rằng họ bị bệnh tim, bị ung thư, tiểu đường hay mắc bệnh gì đó. Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp lại chẳng phải như vậy. Họ thấy không khỏe đơn giản là bởi họ đã già. Nhưng bác sĩ phải làm gì? Bảo rằng họ giống như những chiếc đồng hồ bị mòn dây cót à? Ái chà! Khó lắm. Vì bác sĩ thu được phí điều trị nên tội gì phải nói như thế.” Và giờ thì khuôn mặt của ông hòa trộn giữa nụ cười và sự khinh khi.

Eddie chỉ ngồi đó, đợi cho mọi chuyện đi đến hồi kết, đến hồi kết, đến hồi kết. Cháu không hề dùng thuốc gì cả: những lời ấy lanh lảnh trong tâm trí cậu.

“Bác sĩ không nói với họ như thế, và ta cũng chẳng buồn nói. Nói ra làm gì cho rách việc? Đôi khi lại có ông cụ bà cụ bước vào với đơn thuốc chẳng kê gì ngoài huỵch toẹt: Giả dược hoặc 25 viên thiên thanh , đây là cách ông bác sĩ già Pearson hay nói.”

Ông Keene khẽ cười rồi hớp một ngụm sô-đa cà phê.

“Vậy nó có gì sai trái không?” Ông hỏi Eddie, và thấy Eddie chỉ thần người ngồi đó, ông tự trả lời câu hỏi của mình. “Chà, chẳng có gì sai trái cả! Chẳng sai chút nào!”

“Thường là thế… Giả dược là một điều tốt lành đối với người già. Và có những trường hợp khác, như những bệnh nhân ung thư, mắc bệnh tim hoặc mắc các căn bệnh hiểm nghèo mà nền y học chưa hiểu hết, thậm chí một số còn rất bé, chỉ tầm tuổi của cháu, Eddie ạ! Với những trường hợp như vậy, nếu giả dược khiến bệnh nhân cảm thấy khỏe hơn thì có tác hại gì đâu? Cháu có thấy tác hại gì không, Eddie?”

“Dạ không ạ.” Eddie đáp và cúi mặt xuống nhìn đống kem sô-cô-la, nước sô-đa, kem tươi và ly vỡ bầy hầy trên sàn nhà. Ngay chính giữa đống hổ lốn này là một quả cherry ngâm đường, nổi bật chẳng khác nào vết máu ở hiện trường tội ác. Nhìn cảnh tung tóe này chỉ càng khiến ngực cậu thắt lại.

“Thế thì chúng ta tư tưởng lớn gặp nhau rồi đấy! Năm năm trước, khi Vernon Maitland mắc ung thư thực quản – một dạng ung thư vô cùng, vô cùng đau đớn – các bác sĩ không còn loại thuốc nào hữu hiệu để khiến cơn đau thuyên giảm. Ta bèn đến phòng bệnh của ông ấy với một lọ đường, dạng viên ấy. Cháu biết không, ông ấy là một người bạn đặc biệt của ta. Và ta nói, ‘Vern này, đây là một loại thuốc giảm đau đặc biệt đang được thử nghiệm. Bác sĩ không biết tôi mang đến cho ông, nên vì Chúa, ông hãy dùng cho cẩn thận và đừng bép xép kể với ai. Có thể thuốc sẽ không có tác dụng, nhưng tôi nghĩ là có. Đừng uống nhiều hơn một viên mỗi ngày, và chỉ uống khi nào cơn đau vượt ngưỡng chịu đựng của ông.’ Ông ấy cảm ơn ta mà mắt rơm rớm. Ông ấy rơi lệ đấy, Eddie ạ! Và chúng có tác dụng! Thật đấy! Chúng chỉ là những viên đường thôi, nhưng chúng khiến cơn đau của ông ấy gần như mất hẳn… vì đau đớn sinh ra từ đây.”

Ông Keene lại nghiêm trang gõ lên đầu mình.

“Thuốc của cháu có tác dụng đối với cháu mà,” Eddie nói.

“Ta biết nó có tác dụng,” ông đáp và nở nụ cười của một người lớn cao ngạo đầy tự mãn. “Nó có tác dụng với ngực cháu vì nó có tác dụng tới tâm trí cháu. Eddie ơi, Hydrox thật ra chỉ là nước bỏ thêm chút long não để có vị như thuốc mà thôi.”

“Không,” Eddie phản bác. Hơi thở của cậu lại rít lên khe khẽ.

Ông Keene uống thêm chút sô-đa, múc vài muỗng kem chảy rồi lấy khăn mùi xoa lau cằm thật kiểu cách trong lúc Eddie dùng ống thở thêm lần nữa.

“Cháu muốn về,” Eddie nói.

“Hãy để ta nói xong đã.”

“Không! Cháu muốn về, ông thu tiền của cháu rồi thì để cháu về chứ!”

“Để ta nói xong đã,” ông Keene nghiêm giọng khiến Eddie ngồi yên trên ghế không dám cục cựa. Người lớn thật đáng ghét khi ỷ lớn hiếp nhỏ. Thật đáng ghét.

“Một phần vấn đề nằm ở chỗ bác sĩ của cháu, Russ Handor, quá sức yếu hèn. Và một phần vấn đề nằm ở chỗ mẹ cháu nhất nhất cho rằng cháu bị bệnh. Rốt cuộc, cháu bị mắc kẹt ở giữa.”

“Cháu không bị điện, Eddie thì thầm, giọng nói khàn khàn vang lên.

Ghế của ông Keene ken két như con dế khổng lồ. “Gì kia?”

“Cháu bảo cháu không bị điên!” Eddie thét lên. Và rồi ngay lập tức, mặt cậu đỏ bừng như gấc.

“Những gì ta muốn nói ở đây là cháu không bị bệnh gì về mặt thể chất. Phổi của cháu không bị hen suyễn mà là tâm trí của cháu.”

“Ý bác là cháu bị điên.”

Ông Keene chúi tới trước, nhìn cậu đăm chiêu qua hai bàn tay đang lồng vào nhau của mình.

“Ta không biết, ông nhẹ nhàng nói. “Thế cháu có điên không?”

“Tất cả là dối trá!” Eddie ré lên, tự thấy ngạc nhiên khi ngôn từ bật ra từ khuôn ngực đang thắt chặt của mình mạnh mẽ đến thế. Cậu nghĩ tới Bill và nghĩ tới cách Bill sẽ phản ứng trước những lời nói choáng váng đến vậy. Bill sẽ biết phải nói gì, dù cậu ấy có nói lắp hay không. Bill biết làm thế nào để can đảm. “Tất cả đều là dối trá! Cháu bị hen suyễn mà, cháu có bị!”

“Phải,” ông Keene đáp, nụ cười khô khốc biến thành cái nhoẻn cười như bộ xương khô. “Nhưng ai đưa nó cho cháu, Eddie?”

Đầu óc của Eddie nhộn nhạo quay cuồng. Ôi, cậu thấy mệt quá, thật sự rất mệt.

“Bốn năm trước, vào năm 1954 – thật trùng hợp là cũng vào năm các thí nghiệm ở trường DePaul được thực hiện – bác sĩ Handor bắt đầu kê đơn Hydrox cho cháu. Nó là chữ viết tắt của hydro và oxy, hai nguyên tử cấu thành nước. Kể từ đó, ta đã tiếp tay cho trò lừa bịp này, nhưng ta sẽ không nhắm mắt làm ngơ nữa. Thuốc chữa hen suyễn của cháu có tác dụng với tâm trí cháu chứ không phải cơ thể cháu. Căn bệnh hen của cháu sinh ra do cơ hoành thít lại vì căng thẳng, dưới mệnh lệnh của tâm trí… hoặc của mẹ cháu.

“Cháu không bị bệnh gì cả.”

Theo sau là sự im lặng khủng khiếp.

Eddie ngồi trên ghế, đầu óc bùng nhùng. Trong thoáng chốc, cậu cân nhắc khả năng có thể ông Keene đang nói thật, nhưng nếu thế sẽ nảy sinh những hệ quả mà cậu không đủ sức đối mặt. Tuy nhiên, ông Keene nói dối làm gì, nhất là về một chuyện nghiêm trọng thế này?! Ông chỉ ngồi đó, nở nụ cười vô hồn khô khốc như sa mạc.

Mình bị hen suyễn thật mà. Cái ngày Henry Bowers đấm vào mũi mình, cái ngày Bill và mình cố gắng xây con đập ở Vùng Đất Cằn, mình suýt nữa chết còn gì. Lẽ nào mình phải quy tất cả là do… tâm trí mình bịa ra ư?”

Nhưng ông ấy nói dối làm gì? (Phải nhiều năm sau, khi ở thư viện, Eddie mới hỏi bản thân mình câu hỏi còn khủng khiếp hơn: Tại sao ông ấy lại nói sự thật? )

Cậu nghe thấy giọng ông Keene văng vẳng: “Ta đã để mắt đến cháu, Eddie ạ. Ta nói ra với cháu tất cả những điều này vì cháu đã đủ lớn để hiểu rồi, nhưng cũng vì ta thấy cháu đã có bạn bè. Đám trẻ ấy là những người bạn tốt lắm, đúng không?”

“Dạ,” Eddie đáp.

Ông Keene nghiêng ghế ra sau (nó lại tạo ra tiếng động kèn kẹt như dế kêu) và nhắm một mắt như thể nháy mắt – hoặc không.”Và ta đoán chắc mẹ cháu không ưa các bạn cho lắm, đúng không?”

“Mẹ cháu quý các bạn ấy ạ,” Eddie nói và nghĩ về những điều chát chúa mà mẹ cậu nói về Richie Tozier ( Thằng bé ấy hay nói bậy lắm… mẹ ngửi thấy hơi thở nó rồi, Eddie… mẹ đoán nó hút thuốc ), lời nhận xét khinh miệt khi mẹ dặn cậu không được cho Stan Uris mượn đồng nào vì cậu ấy là dân Do Thái, thái độ ghét ra mặt của mẹ với Bill Denbrough và “thằng béo ú kia”.

Cậu lặp lại với ông Keene: “Mẹ cháu rất quý họ.”

“Thế à?” Ông nói, miệng vẫn mỉm cười. “Chà, có thể mẹ cháu đúng mà cũng có thể mẹ cháu sai, nhưng chí ít, giờ cháu đã có bạn bè. Cháu nên trao đổi với các bạn về vướng mắc này. Sự… sự yếu đuối tâm lý này. Xem các bạn cháu nói gì.”

Eddie không đáp. Tốt nhất không nên nói gì với ông Keene; như thế an toàn hơn. Và cậu sợ nếu không ra khỏi đây sớm, chắc cậu khóc mất thôi.

“Chà!” Ông thốt lên rồi đứng dậy. “Ta nghĩ chúng ta nói đến đây là đủ rồi, Eddie. Nếu ta khiến cháu buồn lòng thì ta xin lỗi. Theo như ta thấy, ta chỉ đang làm bổn phận của mình thôi. Ta…”

Nhưng trước khi ông kịp nói thêm, Eddie chộp lấy ống thở cùng túi thuốc màu trắng và co giờ chạy biến. Một chân của cậu trượt lên đống kem trên nền nhà, suýt ngã. Cậu phi ra khỏi Tiệm thuốc đường Trung Tâm, mặc kệ hơi thở hồng hộc rít lên. Ruby há hốc, trợn mắt nhìn cậu từ cuốn tạp chí phim ảnh.

Cậu có thể cảm nhận ông Keene đang đứng ở cửa văn phòng sau lưng cậu và nhìn cậu cao chạy xa bay từ quầy thuốc, dong dỏng, gọn gàng, trầm tư với nụ cười sa mạc khô khốc.

Cậu dừng ở góc giao của ba con đường: đường Kansas, đường Chính và đường Trung Tâm. Ngồi trên bức tường đá thấp cạnh trạm xe buýt, cậu hít thêm một hơi thật sâu từ ống thở – họng cậu giờ đã trở nên trơn tru với vị thuốc vẫn còn đọng lại

(thật ra chỉ là nước bỏ thêm chút long não)

pvà cậu nghĩ nếu hôm nay phải dùng ống thở thêm lần nữa, khéo cậu nôn hết lòng mề ra ngoài mất.

Thả nó vào túi, cậu cẩn thận quan sát xe cộ ngược xuôi rồi hướng lên đường Chính, đi xuống đồi Dặm Trên. Cậu cố gắng không nghĩ ngợi gì. Mặt trời chói chang trên đầu, hừng hực cái nóng. Mỗi chiếc xe chạy ngang qua lại phản chiếu những tia sáng chói chang vào mắt khiến hai bên thái dương của cậu ong ong. Cậu không tìm ra cách nào để tức giận với ông Keene, nhưng cậu cảm thấy tội nghiệp thay cho cái thằng Eddie Kaspbrak. Cậu thấy thương hại Eddie Kaspbrak khủng khiếp. Cậu đoán chắc Bill Denbrough chẳng bao giờ phí phạm thời gian ngồi thương thân bao giờ, nhưng Eddie không tài nào gạt đi cảm xúc ấy.

Trên tất thảy, cậu muốn làm điều mà ông Keene đã gợi ý: đến Vùng Đất Cằn và kể với nhóm bạn tất cả mọi chuyện, xem họ nói gì và thu thập những ý kiến họ đóng góp. Nhưng giờ, cậu không thể làm như vậy. Mẹ đang đợi cậu đem thuốc về nhà càng sớm càng tốt

(tâm trí của cháu… hoặc mẹ cháu)

và nếu cậu không về

(mẹ cháu một mực cho rằng cháu bị bệnh)

là thế nào cũng sinh chuyện. Mẹ sẽ cho rằng cậu đàn đúm với Bill hoặc Richie hoặc “thằng nhóc Do Thái”, cách bà gọi Stan (dù bà bảo bà không có định kiến gì khi gọi như vậy, đó chỉ đơn giản là “nói toạc móng heo” – cụm từ bà hay dùng khi nói ra sự thật trong những tình huống khó khăn). Và giờ đây, đứng ở góc đường, cố gắng sắp xếp những suy nghĩ quay cuồng trong đầu một cách vô vọng, Eddie biết mẹ sẽ xa xả điều gì nếu biết cậu đánh bạn với một người da đen và một cô bạn gái – một cô bạn đã đến tuổi nhú ngực.

Cậu chậm rãi bước lên đồi Dặm Trên, cắn răng leo dốc dưới cái nóng hầm hập. Trời nóng đến độ đủ để chiên trứng trên vỉa hè chứ chẳng chơi. Lần đầu tiên trong đời, cậu thầm ước ao được đi học lại, có lớp mới, giáo viên mới để làm quen. Giá mà mùa hè tệ hại này sớm kết thúc.

Leo được nửa đường, không xa vị trí mà hai mươi bảy năm sau Bill Denbrough tái ngộ với Ánh Bạc là bao, cậu lại lôi ống thở ra khỏi túi. Trên nhãn đề Sương HydrOx. Sử dụng khi cần.

Có gì đó lóe lên trong đầu cậu. Sử dụng khi cần. Cậu vẫn là con nít, miệng còn hôi sữa (mẹ cậu thỉnh thoảng nói như thế khi “nói toạc móng heo”), nhưng ngay cả đứa nhóc mười một tuổi biết ta không đưa thứ thuốc thật sự cho người khác và ghi lên nhãn hiệu cụm từ Sử dụng khi cần . Nếu đây thật sự là thuốc, rủi may ta ỷ y và sử dụng quá liều thì mất mạng chứ chẳng chơi. Cậu đoán uống aspirin quá nhiều có khi cũng toi đời ấy chứ.

Cậu nhìn chằm chằm vào ống thở, không hề để ý bà cụ liếc nhìn mình đầy tò mò lúc đi xuống ngọn đồi về phía đường Chính với túi thực phẩm trên tay. Cậu cảm thấy bị phản bội. Và trong một khắc, suýt chút nữa cậu đã ném ống nhựa xuống cống - hay tốt hơn nữa, ném nó qua nắp cống thưa đằng kia. Đúng rồi! Sao lại không kia chứ? Tặng ống thở ấy cho Nó dùng dưới đường hầm và ống cống nhỏ nước tong tổng kia. Dùng giả dược đi, đồ quái dị trăm mặt kia! Cậu phá lên cười ha hả và thêm một bước nữa thôi là cậu đã vứt đi thật. Nhưng cuối cùng, giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời. Cậu lại nhét ống thở vào túi quần bên phải rồi bước tiếp, chẳng để tâm tiếng còi chốc chốc réo lên và tiếng động cơ của chiếc xe buýt công viên Bassey khi nó đi ngang qua. Đồng thời, cậu cũng chưa biết mình sắp sửa khám phá ra thế nào là bị thương - bị thương thật sự.

3

Hai mươi lăm phút sau, bước ra khỏi Chợ Đại lộ Costello, một tay cầm lon Pepsi, tay kia cầm hai phong kẹo Payday, Eddie bất ngờ đầy khó chịu khi trông thấy Henry Bowers, Victor Criss, Moose Sadler và Patrick Hockstetter đang quỳ gối trên mặt đường trải sỏi phía bên trái cửa hàng nhỏ. Trong một thoáng, Eddie cứ tưởng chúng đang chém gió chém bão với nhau, nhưng rồi cậu trông thấy chúng đang gom tiền trên áo bóng chày của Victor. Sách giáo khoa phụ đạo hè bị chúng vứt lăn lóc thành đống lộn xộn bên cạnh.

Nếu là một ngày bình thường, Eddie sẽ chỉ lặng lẽ lui vào trong tiệm và hỏi ông Gedreau liệu cậu có thể về bằng lối cửa sau được hay không, nhưng hôm ấy không phải ngày bình thường. Eddie đơ ra như tượng, một tay vẫn giữ cánh cửa có tấm biển quảng cáo thuốc lá bằng thiếc (WINSTON RẤT NGON, ĐÚNG CHUẨN THUỐC LÁ, 21 ĐIẾU THUỐC PHẢ 20 HƠI TUYỆT VỜI, hình cầu nhóc hét lên HÃY NHỚ ĐẾN PHILIP MORRIS), tay kia cầm túi tạp hóa màu nâu và túi đựng thuốc màu trắng.

Hình ảnh quảng cáo của thuốc lá Philip Morris.

l

Victor Criss trông thấy cậu và huých cùi chỏ vào Henry. Henry ngước nhìn; cả Patrick Hockstetter cũng thế. Moose đầu óc chậm tiêu hơn hội bạn, tiếp tục đếm xu thêm năm giây nữa mới nhận ra không khí im lặng hẳn rồi ngước nhìn.

Henry đứng dậy, phủi đất cát bám trên đầu gối quần yếm mình đang mặc. Hai bên mũi còn băng bó gắn thanh nẹp, giọng hắn ôm ồm trong mũi như còi báo tàu đi trong sương mù. “Chà, tao xuống địa ngục mất thôi. Chiến sĩ ném đá đây mà. Bạn mày đâu rồi, thằng khốn? Chúng nó ở trong à?”

Eddie lặng lẽ lắc đầu trước khi kịp nhận ra mình vừa đi một nước cờ sai lầm.

Nụ cười của Henry nở rộng. “Ồ, cũng không sao,” hắn nói.” Tao không ngại tương nát từng đứa chúng mày đâu. Xuống đây coi, đồ khốn.”

Victor đứng bên cạnh Henry; Patrick Hockstetter đi theo sau, nở nụ cười trì độn mà Eddie vốn chẳng lạ gì ở trường. Moose vẫn đang dợm đứng lên.

“Đến đây nào, thằng khốn,” Henry nói. “Mình còn bàn về ném đá nữa chứ. Bàn về ném đá cho vui, mày muốn vậy không?”

Eddie quyết định quay trở lại cửa tiệm sẽ là hành động khôn ngoan hơn cả, song lúc ấy đã quá muộn. Trong tiệm có người lớn. Nhưng khi cậu lùi lại, Henry đã nhào tới và chộp lấy cậu. Hắn kéo tay Eddie, lôi thật mạnh, nụ cười biến thành cái nhìn nanh nọc. Tay của Eddie bị giật ra khỏi cửa. Cậu bị kéo xuống bậc tam cấp và suýt chút nữa đập đầu lên mặt sỏi nếu Victor không chộp nách cậu lại. Victor hất cậu. Eddie loạng choạng mãi mới đứng được, cậu xoay mòng mòng hai vòng. Bốn kẻ du côn sừng sững đứng trước mặt cậu, cách chừng ba mét, Henry đứng gần hơn những kẻ khác một chút, miệng mỉm cười. Tóc vuốt ngược ra sau.

Đứng đằng sau Henry về phía bên trái là Patrick Hockstetter, một kẻ quái dị vô đối. Hôm nay là lần đầu tiên Eddie trông thấy hắn đi với kẻ khác. Hắn ta mập ú, bụng hơi phệ ra chỗ thắt lưng gắn khóa Red Ryder. Mặt hắn tròn như cái mâm, lúc nào cũng bợt bạt như kem. Giờ cậu mới thấy làn da của hắn có chút cháy nắng. Phần mũi bị cháy nắng nhiều nhất, da tróc hết cả, lan ra hai bên má như đôi cánh. Ở trường, Patrick thích giết ruồi với cây thước nhựa SkoolTime màu xanh của mình rồi cất trong hộp bút chì. Thỉnh thoảng, hắn ta lại khoe bộ sưu tập ruồi của mình với vài đứa bạn mới trên sân chơi vào giờ giải lao, đôi môi dày cui nhoẻn cười, hai mắt màu xanh xám nghiêm trang và trầm mặc. Hắn chẳng nói chẳng rằng khi khoe những con ruồi chết, bất kể đối phương nói gì. Nét biểu cảm đó đang chình ình trên khuôn mặt hắn lúc này.

“Mày sao rồi, Thanh niên Ném đá?” Henry hỏi, tiến lại gần cậu. “Có bị hòn đá nào ném trúng không?”

“Để tôi yên,” Eddie nói, giọng run cầm cập.

“Để tôi yên,” Henry nhại lại, giả vờ qua quàng tay đầy sợ hãi. Victor phá lên cười. “Tao không để yên thì mày làm được gì, Thanh niên Ném đá? Hả?” Hắn vung tay nhanh như cắt, đấm vào má Eddie một cú to như tiếng súng săn. Đầu Eddie bật ngược ra sau. Nước mắt ứa ra từ mắt trái của cậu.

“Bạn tôi đang ở trong đấy,” Eddie nói.

“Bạn tôi đang ở trong đấy,” Patrick Hockstetter ré lên. “Ố! Ồ! Ố ồ!” Hắn bắt đầu vòng qua bên phải Eddie.

Không được khóc, cậu nghĩ, mày mà khóc là đúng ý bọn nó đấy, nên không được khóc, Eddie, Bill còn lâu mới mít ướt, Bill còn lâu mới khóc, tao cấm mày khóc, dù…

Victor bước tới và lấy tay xô Eddie ngay giữa ngực. Eddie loạng choạng lùi lại nửa bước rồi ngã nhào lên Patrick, lúc này đang ngồi chồm hổm ngay phía sau chân cậu. Cậu dập người xuống mặt sỏi, trầy hết cả tay. Có một tiếng phụt! khi lồng ngực cậu co thắt đột ngột.

Trong chớp mắt, Henry Bowers đã leo lên người cậu, hai đầu gối đè lên tay, mông thượng lên bụng cậu.

“Có thủ đá đấy không, Thanh niên Ném đá?” Henry xa xả gào lên, và Eddie sợ hãi trước ánh nhìn cuồng nộ ánh lên trong mắt Henry hơn là cơn đau ở tay hay cơn khó thở của mình. Henry phát điên rồi. Patrick đứng gần đó phá lên cười nắc nẻ.

“Mày muốn ném đá không? Hả? Để tao cho mày đá! Đây này! Đá đây này!”

Henry vơ một nắm sỏi rồi đập vào mặt Eddie. Hắn chà sỏi lên da mặt cậu, cứa rách má, mí mắt và môi cậu. Eddie há miệng hét lên.

“Muốn ăn đá à? Đây để tao cho mày! Đá đây, Thanh niên Ném đá! Mày muốn đá chứ gì? Được thôi! Được thôi!”

Sỏi bị tống vào miệng, rạch vào nướu cậu, lạo xạo và vào răng cậu. Cậu cảm thấy phần răng trám của mình như muốn tóe lửa. Cậu lại thét lên và phun sỏi ra.

“Muốn ăn đá à? Được thôi! Muốn ăn nữa không? Hay để…”

“Thôi ngay! Này, này! Thôi ngay! Cậu kia! Buông cậu bé ra! Ngay lập tức! Cậu có nghe không hả? Buông ra ngay!”

Qua đôi mắt mở hờ, nhòe đi vì lệ, Eddie trông thấy một bàn tay to lớn chộp lấy cổ áo Henry và dây quần yếm bên phải của hắn. Bàn tay thô bạo giật lại, khiến Henry bị kéo lên. Hắn đập mông xuống mặt sỏi rồi đứng dậy. Eddie từ từ gượng dậy. Cậu cố gắng lồm cồm đứng lên nhưng không bói đâu ra sức. Thở hồng hộc, cậu phun những hòn sỏi đầy máu ra khỏi miệng mình.

Hóa ra là ông Gedreau, khoác trên mình chiếc tạp dề dài màu trắng, khuôn mặt đầy giận dữ. Trên mặt ông không có vẻ gì sợ hãi, dù Henry cao hơn ông đến bảy phân và xem chừng nặng hơn ông hơn hai mươi kí-lô. Trên mặt ông không có vẻ gì sợ hãi, vì ông là người lớn còn Henry chỉ là đứa con nít. Nhưng lần này có khi điều đó chẳng có ý nghĩa gì, Eddie thầm nghĩ. Ông Gedreau không hề hay biết Henry là một kẻ mất trí.

“Các cậu biến ngay khỏi đây cho ta,” ông Gedreau nói, lầm lì tiến đến chỗ Henry cho đến khi ông mặt đối mặt với kẻ côn đồ đô con với khuôn mặt sưng sỉa. “Biến đi và đừng có bén mảng lại đây nữa. Ta không chấp nhận bắt nạt, cũng không chấp nhận bốn đánh một. Mẹ các cậu sẽ nghĩ gì hả?”

Ông quét đôi mắt phừng phừng lửa giận nhìn những kẻ còn lại. Moose và Victor cúi gằm mặt nhìn xuống chân. Patrick chỉ đần mặt ra nhìn ông Gedreau với ánh mắt xanh xám vô định ấy. Ông Gedreau nhìn lại Henry và mới chỉ kịp nói “Các cậu lấy xe đạp và…” thì Henry đẩy ông một cú thật mạnh.

Nét biểu cảm đầy ngạc nhiên - trong những trường hợp bình thường, nét mặt ấy sẽ rất chi là buồn cười – hiện lên trên khuôn mặt ông Gedreau khi ông bật ra sau, đế giày hất văng vài viên sỏi. Ông đập vào bậc tam cấp dẫn đến cửa chính và ngồi thịch xuống đất.

“Tại sao cậu…” Ông lên tiếng.

Bóng của Henry đổ xuống người ông. “Đi vào mau lên,” hắn nói như ra lệnh.

“Cậu…” Ông Gedreau toan nói gì đó nhưng im bặt. Eddie nhận ra cuối cùng, ông cũng đã trông thấy thứ đó – ánh nhìn phát ra từ mắt Henry. Ông vội vàng đứng dậy, tạp dề phấp phới. Ông hớt hải bước lên bậc tam cấp thật nhanh, lảo đảo vấp ở bậc thứ hai từ trên xuống và khuỵu một gối. Song ông loạng choạng đứng dậy ngay, nhưng chính cử chỉ loạng choạng ấy, dù nhanh đến đâu, dường như đã trút bỏ hết uy quyền người lớn nơi ông.

Đứng trên cùng bậc tam cấp, ông quay người hét lên: “Ta sẽ báo cảnh sát!”

Henry ra vẻ nhào đến khiến ông rụt người lại. Thế là hết, Eddie thầm nghĩ. Dù khó tin và khó tưởng tượng chăng nữa, cậu chẳng còn thành lũy nào bảo vệ nữa rồi. Đến lúc phải biến thôi.

Nhân lúc Henry đứng ở dưới bậc tam cấp lừ mắt nhìn lên ông Gedreau, những kẻ còn lại đứng đó, ngây ra như phỗng (và đầy kinh sợ, trừ Patrick Hockstetter) trước sự chống đối người lớn thành công này, Eddie chớp lấy thời cơ. Cậu xoay người, đứng dậy và co giò chạy.

Cậu chạy được một nửa dãy nhà thì Henry quay đầu lại, mắt long lên sòng sọc. “Bắt lấy nó!” Hắn gầm lên.

Mặc kệ có mắc hen suyễn hay không, hôm ấy, Eddie đã cho bọn chúng biết thế là nào là hít khói. Có những đoạn dài đến mười lăm mét, cậu còn chẳng nhớ gót đôi giày P.F. Flyers của mình có chạm xuống vỉa hè hay không. Nhiều lúc, cậu thậm chí còn nghĩ đến viễn cảnh choáng váng: biết đâu cậu có thể cắt đuôi được bọn chúng thì sao.

Song trước khi cậu kịp chạy đến đường Kansas để thoát khỏi vùng nguy hiểm thì một đứa bé chạy xe ba bánh lao ra và tông thẳng vào đường Eddie đang chạy. Eddie cố đổi hướng, nhưng đang chạy hết tốc lực nên cậu đoán mình có thể nhảy qua người đứa bé (tên cậu bé này là Richard Cowan, sau này lớn lên, cậu kết hôn và sinh ra một bé trai đặt tên là Frederick Cowan, con của cậu bị chết đuối trong bồn cầu và bị ăn thịt bởi một thứ trào lên từ bồn cầu như khói đen, biến tướng thành hình dạng ngoài sức tưởng tượng) hoặc liều mình làm thử.

Một chân của Eddie vướng vào yên sau chiếc xe, chỗ thằng oắt con ham phiêu lưu mạo hiểm này có thể đứng và đẩy chiếc xe như xe trượt. Richard Cowan, cậu bé mà hai mươi bảy năm sau sẽ phải chịu cảnh mất con dưới tay Nó, gần như chẳng nghiêng ngả tí nào trên xe. Tuy nhiên, Eddie thì mất đà văng đi. Cậu đập vai vào vỉa hè, nảy lên rồi lại đập người xuống và trượt thêm ba mét nữa, khiến phần da trên khuỷu tay và đầu gối cậu chà xát xuống đất. Cậu đang lồm cồm bò dậy thì Henry Bowers choảng cậu một cú chẳng khác nào đại bác bắn khỏi nòng làm cậu đo ván. Mũi Eddie đập thẳng xuống mặt bê tông. Máu chảy lênh láng.

Henry lăn một vòng như lính nhảy dù rồi đứng dậy. Hắn chộp lấy cổ và tay phải của Eddie. Hơi thở phì phò từ hai lỗ mũi sưng vù và được nẹp lại của hắn nóng ẩm.

“Muốn ăn đá không, Thanh niên Ném đá? Có chứ gì! Tiên sư mày!” Hắn kéo cổ tay Eddie lên quá nửa lưng cậu. Eddie thét lên. “Ném đá thì phải có đá chứ nhỉ, Thanh niên Ném đá?” Hắn kéo tay Eddie lên cao hơn nữa. Eddie gào khản cổ. Đằng sau, cậu có thể nghe thấy những kẻ khác đang tiến lại và đứa nhóc trên xe ba bánh ré lên khóc bù lu bù loa. Vô hội luôn đi, nhóc, cậu nghĩ, và dù đau đến mụ mẫm, dù nhòa nước mắt và sợ hãi, cậu phá lên cười hỉ hả như con lừa.

“Mày thấy buồn cười à?” Henry hỏi, giọng hắn nghe có vẻ ngạc nhiên hơn là giận giữ. “Mày thấy buồn cười à?” Hình như giọng của Henry còn có vẻ sợ hãi thì phải? Nhiều năm sau, Eddie mới nghĩ lại và nhận ra Phải, sợ hãi, giọng hắn ta có vẻ sợ hãi.

Eddie vặn cổ tay dưới cái siết của Henry. Người cậu nhớp mồ hôi, suýt chút nữa cậu đã thoát được. Có lẽ đó chính là lý do lần này, Henry kéo cổ tay của Eddie mạnh hơn. Eddie nghe thấy tiếng rắc trong cẳng tay mình, chẳng khác nào tiếng cành cây trong mùa đông khuất phục trước đóng tuyết dày. Cơn đau phát ra từ cẳng tay bị gãy của cậu xám xịt và khổng lồ. Cậu ré lên nhưng âm thanh ấy sao mà xa xôi quá. Màu sắc trôi tuột khỏi thế gian, và khi Henry buông tay rồi đẩy cậu, cậu như trôi lềnh bềnh đến vỉa hè. Mãi một lúc lâu, cậu mới có thể ngồi xuống vỉa hè lâu năm ấy. Vừa ngồi xuống, cậu vừa nhìn thật kỹ từng vết nứt. Cậu còn có cơ hội chiêm ngưỡng ánh mặt trời tháng Bảy phản chiếu lên những mảnh nhựa trên vỉa hè cũ. Cậu đủ thời gian để ý trên mặt vỉa hè còn sót lại lờ mờ những ô lò cò được vẽ bằng phấn hồng. Và rồi, trong khoảnh khắc, những đường nét ấy rung rinh, biến thành hình như con rùa.

Cậu sắp sửa lăn ra bất tỉnh thì đụng phải cái tay mới gãy, và cơn đau mới mẻ ấy gay gắt, chói lòa, nóng bừng và thật tệ hại. Cậu cảm thấy những phần đầu xương bị gãy nát cọ vào nhau. Cậu cắn môi, khiến máu nóng rỉ ra. Nằm lăn ra, cậu trông thấy Henry, Victor, Moose và Patrick sừng sững đứng xung quanh. Trong bọn chúng cao đến không tưởng, cao và to quá, như những kẻ hộ tang đang nhìn xuống huyệt.

“Mày hài lòng chưa, Thanh niên Ném đá?” Henry hỏi, giọng hắn vẳng xuống từ một chốn xa xôi, bảng lảng trôi qua những tầng mây đau đớn. “Mày thích như ban nãy không? Thích giỡn mặt à?”

Patrick Hockstetter khúc khích cười.

“Bố mày là thằng điên,” Eddie nghe thấy giọng mình vang lên, “mày cũng thế.”

Nụ cười của Henry tắt ngúm như thể bị tát văng khỏi mặt hắn. Hắn có chân toan đá cậu… thì tiếng còi hụ vang lên dưới bầu trời chiều oi nóng. Henry khựng lại. Victor và Moose nhìn quanh sốt vó.

“Henry, tao nghĩ mình tếch thôi mày,” Moose lên tiếng.

“Còn tao thì tao xin kiếu trước đây,” Victor nhanh nhảu. Giọng nói của bọn chúng sao mà xa xôi đến thế! Chúng dập dềnh, lơ lửng như bóng bay của gã hề. Victor cao chạy xa bay về phía thư viện, băng qua công viên để chạy xuống đường.

Henry lưỡng lự hồi lâu, dường như hy vọng chiếc xe cảnh sát đang trên đường thực hiện nhiệm vụ khác và hắn có thể tiếp tục trò vui của mình. Nhưng tiếng còi hụ lại vang lên, càng lúc càng gần. “Số mày may đấy, thằng khốn,” hắn nói. Hắn và Moose chạy theo sau Victor.

Patrick Hockstetter đợi thêm một lúc. “Tao tặng thêm quà cho mày đây,” hắn thì thầm bằng giọng trầm khàn. Đoạn hắn hít vào, khạc bãi đờm xanh lè lên khuôn mặt bê bết máu me và sưng vù của Eddie. Phẹt! “Cứ ăn từ từ kẻo nghẹn,” Patrick nói với nụ cười gớm ghiếc đầy dị hợm. “Nếu thích thì để dành dùng dần nhé.”

Đoạn hắn xoay người đi thẳng.

Eddie cố chùi bãi đờm bằng cái tay còn lành lặn của mình, nhưng chỉ cựa quậy một chút cũng đủ để cơn đau nhói lên.

Khi mới ra khỏi nhà đến hiệu thuốc, chắc mày chẳng bao giờ nghĩ mày sẽ nằm lăn lóc trên vỉa hè Đại lộ Costello với một cánh tay bị gãy và cục đờm của Patrick Hockstetter chảy xuống mặt phải không? Mày thậm chí còn chẳng uống được lon Pepsi. Đời đúng là lắm chữ ngờ nhỉ?

Lạ chưa, cậu lại phá lên cười. Tiếng cười ấy yếu ớt, cậu cười mà cánh tay gãy của cậu đau điếng, nhưng cảm giác này thật sự rất sảng khoái. Và còn một điều nữa: cậu không lên cơn hen suyễn nào. Nhịp thở của cậu bình thường, chí ít là hiện tại. Đó cũng là điều tốt. Còn lâu cậu mới có thể lấy được ống thở của mình. Cả nghìn năm còn chẳng có cửa.

Tiếng còi hụ lúc này đã rất gần, ò í e ò í e. Eddie nhắm mắt và trông thấy màu đỏ loang loáng dưới mí mắt mình. Và rồi màu đỏ chuyển sang màu đen khi bóng người chắn trước mặt cậu. Là đứa nhóc chạy xe ba bánh.

“Anh ổn chứ?” Cậu nhóc hỏi.

“Nhìn anh có ổn không?” Eddie hỏi ngược lại.

“Không, nhìn anh kinh lắm ,” cậu bé thành thật trả lời rồi vừa đạp xe đi vừa ông ổng hát “Người nông dân trong thung lũng”.

Eddie bắt đầu khúc khích cười. Xe cảnh sát đến rồi kìa, cậu có thể nghe thấy tiếng phanh của nó. Trong vvô thức, cậu thầm hy vọng ông Nell sẽ ngồi trong xe, dù cậu biết ông Nell là cảnh sát đi bộ tuần tra.

Nhân danh Chúa, mày cười cái gì vậy?

Cậu chẳng biết lý do, giống như cậu không hiểu tại sao mình lại cảm thấy như thể trút được tảng đá dù đau đến mụ mị. Hay ấy là vì cậu vẫn giữ được mạng, rằng điều tồi tệ nhất mà cậu phải chịu chỉ dừng ở cánh tay gãy, và chí ít vẫn còn vớt vát được chút bình an? Cậu bằng lòng với kết luận ấy, nhưng nhiều năm sau, khi ngồi trong Thư viện Derry với một ly rượu gin pha nước mận để trước mặt và ống thở để sát bên, anh tâm sự với mọi người rằng anh nghĩ còn một lý do lớn lao hơn; ngày ấy anh đã đủ lớn để cảm nhận điều đó, nhưng chưa đủ tầm để hiểu hay định nghĩa được nó.

Tớ nghĩ đó thực sự là nỗi đau đầu tiên mà tớ cảm nhận được, anh nói với các bạn. Hóa ra nó không như tớ mường tượng. Nó không đặt dấu chấm hết cho nhân dạng của tớ. Tớ nghĩ… nó cho tớ cơ sở để so sánh, cho tớ biết ta vẫn có thể tồn tại bên trong nỗi đau, dù bị cơn đau hành hạ.

Eddie yếu ớt quay đầu sang phải và trông thấy những lốp xe Firestone, nắp bánh xe bằng crôm lóa mắt cùng ánh đèn xanh nháy liên tục. Đoạn cậu lại nghe thấy giọng của ông Nell, đặc sệt giọng Ireland, đến độ chẳng khác nào Giọng Tay cảnh sát Ireland mà Richie nheo nhéo chứ chẳng phải giọng thật của ông Nell… nhưng có lẽ nguyên nhân là vì khoảng cách:

“Ôi lạy Chúa tôi, là cậu bé nhà Kaspbrak đây mà!”

Đến lúc này thì Eddie như trôi dạt thật xa.

4

Và cậu cứ thế lịm đi suốt lúc lâu, chỉ trừ một đoạn.

Có khoảng thời gian ngắn ngủi cậu duy trì được ý thức của mình lúc ở trong xe cứu thương. Cậu trông thấy ông Nell ngồi bên cạnh, nhấp một ngụm từ cái chai nhỏ màu nâu ông mang theo và đọc cuốn sách tên Hội thẩm đoàn . Cô gái trên bìa có vòng một khủng nhất mà Eddie từng thấy. Mắt cậu chuyển từ ông Nell sang người tài xế ở phía trước. Người tài xế nhìn Eddie với nụ cười toe toét đỏ lòe đỏ loẹt, với làn da loang lổ phấn mỡ và phấn rôm, mắt sáng quắc như những đồng xu mới. Là Pennywise.

“Ông Nell,” Eddie kêu lên.

Ông Nell ngước mặt, mỉm cười. “Cháu thấy trong người thế nào rồi?”

”…tài xế… tài xế…”

“Phải, chúng ta sẽ đến nơi ngay thôi,” ông Nell trấn an và đưa cậu chai màu nâu của mình. “Cháu uống một chút đi. Sẽ thấy khỏe hơn đấy.”

Eddie uống thứ chất lỏng nóng bừng như lửa ấy. Cậu ho khục khặc làm tay nhói lên. Cậu nhìn tới trước và lại trông thấy tài xế, nhưng giờ chỉ là một anh chàng với mái tóc húi cua. Không có tên hề nào cả.

Cậu lại thiếp đi.

Rất lâu sau đó, cậu thấy mình trong Phòng Cấp cứu, y tá đang dùng khăn ướt lau máu, đất cát, bãi đờm và sỏi khỏi mặt cậu. Vết thương đau râm ran nhưng đồng thời, cảm giác lại thật tuyệt vời. Cậu nghe thấy tiếng mẹ mình oang oang bù lu bù loa bên ngoài, và cậu cố gắng nói y tá đừng cho bà vào nhưng chẳng thốt được lời nào dù cậu đã cố hết sức.

”… nếu con tôi sắp chết thì tôi muốn được biết!” Mẹ cậu lồng lên. “Các người có nghe thấy không? Tôi có quyền được biết, và tôi có quyền được gặp con tôi! Tôi sẽ kiện các người cho mà xem! Tôi quen nhiều luật sư lắm! Bạn thân của tôi có khối người làm luật sư đấy!”

“Đừng nói gì kẻo mệt,” y tá dặn Eddie. Cô còn rất trẻ, và cậu có thể cảm nhận được ngực của cô áp lên tay mình. Trong một thoáng, cậu có ý nghĩ điên rồ rằng cô y tá này là Beverly Marsh, và rồi cậu lại lịm đi.

Khi cậu tỉnh lại, mẹ cậu đang ở trong phòng nói chuyện với bác sĩ Handor với tốc độ như bắn súng liên thanh. Sonia Kaspbrak là một người phụ nữ phốp pháp. Chân bà mang vớ chống suy giãn tĩnh mạch, to như cái cột nhà nhưng mịn màng đến không ngờ. Mặt bà hiện tại trắng bệch và loang những vết đỏ bừng.

“Mẹ,” Eddie gắng gượng, “…con ổn… con ổn mà…”

“Ổn cái gì mà ổn, không ổn chút nào,” bà Kaspbrak rền rĩ. Bà bẻ tay. Eddie nghe thấy khớp tay của mẹ kêu răng rắc. Càng lúc, cậu càng thấy hơi thở mình ngắn dần khi nhìn mẹ, trông thấy hiện trạng của bà lúc này, biết màn liều mạng của mình khiến bà tổn thương ra sao. Cậu muốn nói mẹ bình tĩnh kẻo lên cơn đau tim thì khổ, nhưng cậu chẳng nói được lời nào. Giọng cậu khô khốc. “Con không ổn chút nào, con gặp tai nạn kia mà, tai nạn thập tử nhất sinh đấy con ạ, nhưng con sẽ ổn thôi, mẹ đảm bảo với con như thế, Eddie, con sẽ không sao đâu, dù mẹ có phải nhờ tới tất cả những chuyên gia trong sách đi chăng nữa, ôi Eddie… Eddie ơi… cánh tay của con…”

Bà khóc rống lên. Eddie thấy cô y tá vừa lau mặt cho cậu nhìn bà với ánh mắt chẳng chút thương cảm nào.

Chứng kiến màn độc diễn này, bác sĩ Handor chỉ biết lúng búng như gà mắc tóc, “Sonia… xin chị, Sonia… Sonia…?” Bác sĩ là một người đàn ông gầy gò, ủ rũ, với bộ ria mép nhỏ mọc lưa thưa và không được cắt tỉa gọn gàng, bên trái dài hơn bên phải. Trông ông có vẻ lo lắng. Nhớ lại điều ông Keene nói ban sáng, Eddie cảm thấy có phần buồn thảm cho bác sĩ Handor.

Sau một hồi chật vật góp nhặt can đảm, bác sĩ Russ Handor mới có thể thốt lên: “Nếu chị không giữ được bình tĩnh, chị buộc phải rời khỏi đây đấy, Sonia.”

Bà quay ngoắt nhìn khiến ông lùi lại. “Ông đừng có mà nằm mơ! Ông liệu hồn mà nói kiểu đấy với tôi! Con trai tôi đang nằm đó thống khổ kìa! Con trai tôi đang nằm liệt trên giường vì đau đớn kia kìa !”

Eddie khiến ai nấy đều kinh ngạc khi lên tiếng. “Mẹ rời khỏi đây giùm con. Con nghĩ lát nữa, các y bác sĩ sẽ làm gì đó khiến con hét lên, nên mẹ đi đi để đỡ phải trông thấy cảnh ấy.”

Bà quay sang cậu, hết sức ngạc nhiên… và có vẻ tổn thương. Nhìn thấy nét tổn thương trên mặt mẹ, cậu cảm thấy ngực mình như thắt lại một cách mạnh bạo. “Sao mẹ làm vậy được!” Bà ré lên. “Sao con lại nói với mẹ câu tuyệt tình đến thế, Eddie! Con không hiểu mình vừa nói gì đâu, mẹ chỉ có thể giải thích như vậy thôi!”

“Tôi không biết chị giải thích thế nào, mà tôi cũng chẳng quan tâm,” y tá chen ngang. “Tôi chỉ biết chúng ta đứng đực ra đây chẳng làm được gì, trong khi lý ra chúng tôi nên cố định lại tay cho con trai chị.”

“Cô đang bảo…” Sonia lại bắt đầu, giọng bà càng lúc càng rít lên nốt cao hơn, như những lần bà thấy điên tiết nhất.

“Tôi xin chị, Sonia,” bác sĩ Handor nói. “Đừng tranh cãi ở đây. Chúng ta lo chữa cho Eddie đã.”

Sonia lùi lại, nhưng ánh mắt tóe lửa của bà – ánh mắt của gấu mẹ khi thấy gấu con bị đe dọa – cho cô y tá biết lát nữa sẽ có núi lửa phun trào. Hoặc một vụ kiện tụng. Và rồi mắt bà nhòe lệ, dập tắt sự giận dữ hoặc chí ít giấu giếm được nó. Bà nắm lấy bên tay không bị gãy của Eddie rồi siết đau đến độ cậu nhăn mặt.

“Mọi chuyện tồi tệ quá, nhưng con sẽ sớm khỏe lại thôi,” bà nói. “Con sẽ sớm khỏe lại, mẹ hứa với con.”

“Dạ mẹ,” Eddie thở phì phò, “Mẹ lấy ống thở hộ con với?”

“Tất nhiên rồi,” bà nói. Sona Kaspbrak nhìn nữ y tá với vẻ đắc thắng, như thể vừa được minh oan khỏi một tội trạng vớ vẩn nào đấy. “Con tôi bị hen suyễn,” bà kể. “Bệnh tình nặng lắm nhưng nó vẫn rất kiên cường.”

“Tốt,” cô y tá bàng quan.

Mẹ lấy ống thở cho Eddie. Phút sau, bác sĩ Handor sờ nắn cánh tay bị gãy của Eddie. Ông làm thật nhẹ nhàng nhưng cơn đau vẫn như chết đi sống lại. Eddie muốn hét lên nhưng cắn răng chịu đựng. Cậu sợ nếu cậu hét lên thể nào mẹ cậu cũng hét theo. Mồ hôi đua nhau rịn ra trên trán cậu.

“Các người làm con tôi đau kia kìa,” bà Kaspbrak nói. “Tôi biết ngay mà! Thôi chẳng cần nữa! Các người thôi đi! Các người đừng làm con tôi đau nữa! Con tôi mỏng manh yếu ớt như vậy, làm sao nó chịu được đau đớn nhường này!”

Eddie trông thấy nữ y tá xoáy ánh mắt tức giận vào đôi mắt lo lắng đầy mệt mỏi của bác sĩ Handor. Cậu nhìn thấy đoạn hội thoại không lời giữa hai người bọn họ: Đưa con mụ ấy ra khỏi đây đi, bác sĩ. Và ngay lập tức, đôi mắt ông đáp lại: Tôi chịu. Tôi không có gan đó.

Trong cơn đau ấy hiển hiện một sự rõ ràng lớn lao (dù thật lòng mà nói, Eddie chẳng ham trải nghiệm cảm giác rõ ràng ấy thường xuyên: cái giá phải trả quá đắt), và trong đoạn đối thoại không lời ấy, Eddie chấp nhận tất cả những điều ông Keene nói với cậu. Ống thở HydrOx của cậu chỉ đổ đầy nước có thêm vị long não. Căn bệnh hen suyễn không nằm trong họng, trong ngực hay trong phổi của cậu mà nằm trong đầu. Và rồi đây, cậu sẽ phải đối diện với sự thật ấy.

Cậu nhìn mẹ, nhìn rõ từng đường nét của bà trong cơn đau: từng bông hoa trên chiếc váy Lane Bryant, mồ hôi dưới nách nơi dán miếng hút đã ướt sũng, vết xước trên giày. Cậu trông thấy mắt bà ti hí trong hốc mắt, và rồi một suy nghĩ tồi tệ lướt qua đầu cậu: đôi mắt ấy trông như của kẻ săn mồi, như đôi mắt của gã hủi bò ra từ dưới tầng hầm căn nhà số 29 đường Neibolt. Tao đến đây, không sao đâu… Có chạy cũng vô ích thôi, Eddie ạ…

Bác sĩ Handor nhẹ nhàng chạm vào cánh tay bị gãy của Eddie và siết chặt. Cơn đau nổ tung.

Eddie lịm đi.

5

Họ cho cậu chút nước uống trong lúc bác sĩ Handor cố định chỗ gãy. Cậu nghe thấy bác sĩ nói với mẹ cậu rằng đây là gãy xương cành xanh, không nặng hơn những trường hợp gãy xương khi còn bé là bao: “Trẻ con ngã từ trên cây cũng bị gãy xương dạng này,” ông giải thích, và Eddie nghe thấy mẹ cậu giận dữ đáp lại: “Eddie nhà tôi không có trèo cây! Tôi muốn nghe sự thật! Thằng bé bị nặng cỡ nào?”

Và rồi y tá cho cậu uống thuốc. Cậu lại cảm nhận ngực cô chạm vào vai mình và vui vui trước sức ép dễ chịu của đôi gò bồng đảo ấy. Dù đầu óc còn mơ màng, cậu có thể thấy y tá đang hết sức bực mình, và cậu nghĩ mình đã nói, Mẹ em không phải gã hủi đâu, chị đừng nghĩ vậy, mẹ em nhằng nhẵng như đỉa phải vôi vì thương em mà thôi, nhưng hình như chẳng có lời nào thốt lên vì gương mặt bực bội của y tá chẳng hề thay đổi.

Cậu nhớ mang máng mình được đẩy ra ngoài hành lang bằng xe lăn, giọng nói của mẹ cậu xa dần ở phía sau: “Anh bảo giờ giấc thăm bệnh là cái gì? Đừng có bảo tôi thăm giờ nào, nó là con trai tôi cơ mà!”

Nhoà dần. Cậu thấy mừng vì mẹ cậu đang nhòa dần, thấy mừng vì cậu cũng đang nhòa dần. Cơn đau đã biến mất, đi cùng với sự tỏ tường. Cậu chẳng muốn nghĩ gì nữa cả, chỉ muốn trôi dạt. Cậu ý thức được cánh tay phải của mình rất nặng nề. Cậu tự hỏi không biết bác sĩ đã bó bột cho cậu chưa nhỉ. Chẳng hiểu sao cậu không thể biết họ làm hay chưa. Cậu mơ hồ nghe thấy âm thanh đài ra-đi-ô phát lên từ các căn phòng, nhìn thấy những bệnh nhân trông như bóng ma mặc đồ bệnh viện đi tới đi lui dọc sảnh lớn, và cảm nhận được hôm ấy trời nóng… nóng hầm hập. Khi được đẩy vào trong phòng, cậu có thể trông thấy mặt trời đang dần buông, tạo thành quầng cam như máu ngùn ngụt, đầy giận dữ, và rồi cậu mơ hồ tự nhủ: Như cái nút của gã hề khổng lồ.

“Nào, Eddie, cậu đi được mà,” một giọng nói vang lên, và cậu nhận ra mình có thể. Cậu trơn tuột giữa tấm trải giường mát lạnh. Giọng nói ấy nói đêm đến, cậu có thể bị đau, nhưng đừng gọi xin thuốc giảm đau trừ khi đau không chịu nổi. Eddie hỏi xin nước. Nước được bưng ra với ống hút xoắn ở giữa để ta có thể bẻ cong. Nước vừa mát vừa dễ chịu. Cậu uống hết sạch.

Tối đến, cậu lên cơn đau, rất đau là đằng khác. Cậu nằm thao thức trên giường, giữ nút bấm gọi y tá bằng tay trái nhưng không nhấn. Ngoài kia đang vần vũ cơn giông, và khi chớp lóe lên sáng trắng, cậu quay đầu khỏi cửa sổ, sợ mình sẽ nhìn thấy mặt một con quái vật đang nhe răng cười giữa bầu trời vằn vện những tia lửa điện.

Mãi cậu mới có thể thiếp đi, li bì ngủ, cậu nằm mơ. Trong giấc mơ, cậu thấy Bill, Ben, Richie, Stan, Mike và Bev – những người bạn của cậu – đạp xe đến bệnh viện (Bill chở Richie trên Ánh Bạc). Cậu ngạc nhiên khi thấy Beverly mặc váy – một chiếc váy màu xanh lá cây rất đáng yêu, thứ màu của vùng Caribe trên địa tầng Địa lý Quốc gia. Cậu nhớ mình chưa lần nào nhìn thấy cô trong chiếc váy ấy, cậu nhớ cô lúc nào cũng mặc quần jean hoặc quần lửng, hay những bộ “đồng phục trường” như đám con gái hay gọi: váy và áo cánh, áo cánh thường có màu trắng, cổ tròn, váy màu nâu, xếp li dài đến giữa cẳng chân, để những vết đóng vảy trên đầu gối của cô không bị lộ ra.

Trong giấc mơ, cậu thấy các bạn đến thăm mình vào khoảng thời gian thăm bệnh lúc 2 giờ chiều, mẹ cậu kiên nhẫn ngồi đợi từ 11 giờ nên khi thấy họ, bà hét ầm lên đến độ ai nấy đều quay qua nhìn.

Nếu cô cậu nghĩ tôi cho cô cậu vào phòng bệnh thì cô cậu nằm mơ giữa ban ngày rồi đấy! Mẹ của Eddie gào lên, và gã hề ngồi trong phòng chờ (nhưng hắn rúc sâu trong góc phòng, giơ cuốn tạp chí Look lên ngang mặt từ nãy đến giờ) nhảy ra, làm động tác vỗ tay mà không phát ra tiếng động, hắn cứ thế vỗ hai tay mang găng trắng vào nhau thật nhanh. Hắn hết lò cò lại nhảy cỡn lên, làm trò nhào lộn, rồi lật người ra sau trong lúc bà Kaspbrak xa xả mắng chửi các bạn trong nhóm Hội Cùi Bắp của Eddie, còn bọn họ chỉ biết rúm ró từng người một sau lưng Bill, bởi cậu là người duy nhất còn hiên ngang đứng đó, mặt tái mét nhưng vẫn giữ được vẻ bình thản, hai tay thọc sâu vào túi quần jean (có lẽ cậu làm vậy để không ai, ngay cả bản thân Bill, thấy tay cậu có đang run bần bật hay không). Không ai trông thấy gã hề trừ Eddie… mặc dù một đứa bé đang bình yên ngủ trong vòng tay mẹ bỗng tỉnh giấc và khóc thét lên.

Các cô cậu gây chuyện thế là đủ lắm rồi! Mẹ của Eddie gào rống. Tôi biết đám du côn đó là ai! Chúng gây chuyện ở trên trường chưa đủ, còn dính líu tới cả cảnh sát nữa! Và chỉ vì cái đám trời đánh thánh vật ấy xích mích với các cô cậu, không có nghĩa chúng nó phải thù hằn sang con trai tôi. Tôi đã bảo con tôi như vậy mà thằng bé cũng đồng tình rồi. Thằng bé muốn tôi đuổi các cô các cậu về giùm, nó không muốn dây dưa với các cậu và cũng không muốn trông thấy bản mặt các cô các cậu nữa. Con tôi cũng chẳng thèm cái thứ tình bạn giẻ rách của các cô cậu đâu! Bất cứ ai trong các cô cậu! Tôi biết ngay thể nào cũng sinh chuyện mà, giờ thì nhìn đi! Eddie con tôi nằm viện rồi đây! Một thằng bé mỏng manh như nó mà phải…

Gã hề hết lò cò lại nhảy cẫng lên, xoạc chân và đứng bằng một tay. Nụ cười của hắn thật đến từng chi tiết, và trong giấc mơ, Eddie nhận ra, phải rồi, đây là điều mà gã hề mong muốn nhất, thọc gậy bánh xe phá bĩnh cả đám họ chừng nào hay chừng nấy, khiến họ bị chia rẽ, phá hủy cơ hội đồng lòng góp sức của họ. Sung sướng trước tình cảnh ấy, gã hề xoay hai vòng rồi trao một nụ hôn thật kêu và lố lăng lên má của mẹ cậu.

Nh-Nh-Những k-k-kẻ g-gây ra ch-chuyện… Bill lắp bắp.

Ai cho cậu mở miệng ra cãi lại tôi hả! Bà Kaspbrak rít lên. Ai cho cậu lớn lối cãi lại tôi hả! Con tôi không dính dáng gì đến cô cậu nữa, tôi bảo rồi! Hết là hết!

Đoạn một bác sĩ thực tập chạy vào phòng chờ và nhắc nhở mẹ của Eddie rằng bà phải giữ trật tự nếu không hãy rời khỏi bệnh viện. Gã hề bắt đầu mờ đi, phai dần để biến thành một nhân hình khác. Eddie trông thấy gã hủi, xác ướp, con chim; cậu trông thấy Người sói và ma cà rồng với hàm răng là những lưỡi dao lam Gillette Blue-Blade sắc lẹm cắm nhiều góc cạnh như gương trong mê cung ở lễ hội; cậu trông thấy Frankenstein, thứ sinh vật gì đó vừa nhoe nhoét thịt vừa có vỏ, mở ra đóng lại như cái miệng; cậu trông thấy thêm chục lần biến dạng gớm guốc nữa, thậm chí cả trăm lần. Nhưng trước khi gã hề phai đi hoàn toàn, cậu trông thấy cảnh tượng khủng khiếp nhất: khuôn mặt của mẹ cậu.

Không! Cậu cố gắng thét lên. Không! Không! Đừng biến thành bà ấy! Đừng biến thành mẹ tôi!

Nhưng không ai quay đầu lại, cũng chẳng ai nghe thấy. Và trong khoảnh khắc giấc mơ phai nhạt dần, cậu rợn người, kinh hãi nhận ra chẳng ai nghe thấy cậu. Cậu chết rồi. Nó đã giết cậu và cậu đã chết. Cậu chỉ còn là hồn ma.

6

Cảm giác hả hê vừa ngọt vừa chua mà Sonia Kaspbrak nếm trải khi đuổi đám bạn nhố nhăng của Eddie biến mất ngay khi bà bước vào phòng bệnh riêng của con trai vào chiều hôm sau, ngày 21 tháng 7. Bà không tài nào lý giải tại sao cảm giác sung sướng ấy phai nhạt đi, hoặc tại sao nó lại bị thay thế bởi nỗi sợ mơ hồ, bởi lạ chưa, khuôn mặt tái nhợt của con trai bà không nhạt nhòa bởi đau đớn hay lo lắng mà lại có một nét biểu cảm bà chưa thấy bao giờ. Nét biểu cảm có gì đó rất sắc bén. Sắc bén, cảnh giác và quyết tâm.

Màn đụng độ nảy lửa giữa nhóm bạn của Eddie và mẹ cậu không diễn ra trong phòng chờ như những gì Eddie mơ thấy, bởi bà biết chúng nó – cái đám “bạn bè” của Eddie, cái đám chẳng được tích sự gì mà chắc chắn chỉ dạy hư con bà bằng những trò như hút thuốc dù con bà bị suyễn, cái đám tiêm nhiễm vào đầu con bà, đến độ về nhà vào buổi tối, thằng bé chỉ huyên thuyên về bọn chúng, cái đám “bạn bè” khiến con bà bị gãy tay. Bà đã đem hết mọi chuyện kể cho bà hàng xóm Van Prett sống cạnh nhà mình. Bà dứt khoát tuyên bố, “Đã đến lúc phải nói toạc móng heo với bọn chúng rồi”. Bà Van Prett là một phụ nữ da dẻ trông rõ là phát gớm, thông thường lúc nào cũng răm rắp đến tội nghiệp hùa theo mọi điều Sonia Kaspbrak phát ngôn, thế mà lần này, chẳng biết bà ta ăn gan hùm ở đâu mà dám phản đối.

Em nghĩ chị nên vui vì thằng bé có thêm bạn bè chứ, bà Van Prett bình luận khi hai bà cùng phơi phóng quần áo trong tiết trời mát mẻ của buổi ban mai trước khi đi làm – bấy giờ đang là tuần đầu tiên của tháng Bảy. Và nếu thằng bé đi chung với bạn bè, nó sẽ an toàn hơn chứ chị Kaspbrak, chị không nghĩ vậy sao? Hiện tại, thị trấn đang nhiễu nhương thế này, bao đứa trẻ tội nghiệp đã bị giết hại kia mà?

Bà Kaspbrak chẳng đáp lại mà chỉ hừ mũi đầy tức giận (thật ra, lúc ấy, bà không biết phải trả lời ra sao cho phù hợp, dù bà đã nghĩ ra cả chục phương án trong đầu – nhưng một số câu vô cùng mếch lòng, cái đó để sau), và tối hôm ấy, khi bà hàng xóm Van Prett gọi điện thoại cho bà, giọng khá sốt ruột, hỏi liệu bà Kaspbrak có đi chung đến Beano ở Saint Mary’s như bình thường hay không, bà bèn lạnh lùng đáp tối đó bà sẽ chỉ ở nhà thư giãn chứ chẳng đi đâu cả.

Chà, bà mong giờ thì bà Van Prett hài lòng rồi. Bà mong bà Van Prett nhận ra mối nguy hại duy nhất ở Derry mùa hè này không phải kẻ điên tấn công tình dục và giết hại trẻ con. Con bà đang nằm kia, đau đớn trên giường bệnh ở Bệnh viện Derry, rất có thể thằng bé sẽ không bao giờ có thể sử dụng tay phải của mình được nữa, bà đã nghe nhiều trường hợp như vậy rồi, hoặc lạy Chúa lòng lành, có khi những mẩu xương gãy có thể đi theo đường máu đến tim và đâm thủng tim, giết chết con trai bà ấy chứ, ôi, tất nhiên Chúa sẽ không để việc ấy xảy ra, nhưng bà từng nghe trên đời này có những trường hợp như thế, điều đó có nghĩa là Chúa vẫn để những chuyện như vậy xảy ra. Trong một số trường hợp nhất định.

Vì thế, bà cứ dùng dằng mãi ở hàng hiên dài có bóng râm trước cửa bệnh viện, bởi bà biết đám bọn chúng rồi sẽ xuất hiện, bà tự hứa với lòng mình rằng bà sẽ đặt dấu chấm hết cho cái thứ “tình bạn” giẻ rách này, cái thứ tình bằng hữu chẳng được tích sự gì mà chỉ khiến con trai bà gãy tay, đau đớn vạ vật trên giường này.

Cuối cùng, bọn chúng cũng xuất hiện, đúng như ước đoán của bà, và bà kinh hãi nhận ra trong đám bọn chúng có một thằng mọi đen. Chẳng phải bà phân biệt đối xử hay gì với dân mọi đen đâu, bà nghĩ bọn họ có quyền được ngồi chỗ mình muốn trên xe buýt ở miền Nam, và ăn trưa tại quầy của dân da trắng, cũng không nên bị ép buộc phải ngồi ở khu vực dành riêng cho dân mọi đen trong rạp chiếu phim trừ khi họ làm phiền

(phụ nữ)

người da trắng, nhưng đồng thời, bà nhất mực tin tưởng vào lý tưởng mà bà gọi là Thuyết Loài chim: Chim đen bay với chim đen, chứ không được học đòi với chim cổ đỏ. Sáo đá đậu tổ với sáo đá; chúng không chung đụng với chim sơn ca hay dạ oanh. Quan điểm của bà là gió tầng nào, mây tầng ấy, và trông thấy Mike Hanlon đạp xe cùng cả nhóm như thể chúng bằng vai phải lứa với nhau khiến quyết tâm cũng như phẫn nộ, bức bối của bà được dịp tức nước vỡ bờ. Bà nghĩ thầm trong đầu đầy trách móc, như thể Eddie đang có mặt ở đây và nghe được lời bà nói: Con chưa bao giờ kể với mẹ đám “bạn” của con có mọi đen.

Và rồi hai mươi phút sau, bà bước vào phòng bệnh nơi con trai mình đang nằm với cánh tay bó bột to tướng, cột vòng qua ngực (nhìn cảnh này mà ngực bà đau như cắt) sau khi đã đuổi thẳng cẳng đám ấy, một đi không trở lại… bà không có ý chơi chữ ở đây đâu nhé. Cả bọn chẳng có đứa nào dám ho he phản bác lại bà, ngoại trừ thằng con nhà Denbrough, mà thằng này cà lăm khủng khiếp. Bà chẳng biết đứa con gái là ai, nhưng nó dám giương đôi mắt đầy điếm đàng nhìn Sonia – bà đánh giá ngay, hẳn con bé này xuất thân ở đường Chính Khu Dưới hoặc nơi gì mạt hạng hơn thế – nhưng con oắt khôn ngoan ngậm miệng chứ không hó hé gì. Nếu nó dám lên tiếng kêu ca, Sonia sẽ cho nó biết thế nào là giáo huấn và nói cho nó biết thể loại con gái gì mà đàn đúm cùng một đám con trai. Người ta có rất nhiều tên dành cho những kẻ như vậy, và bà ta không muốn con trai mình giao du với loại con gái có cái tên như thế, bất kể là hiện giờ hay mãi mãi.

Những đứa trẻ còn lại chỉ biết cúi gằm nhìn đôi chân nhấp nhổm như ngồi trên đống lửa của chúng. Đúng như những gì bà mong muốn. Sau khi bà tuôn một bài xối xả như tát nước, chúng cun cút đánh xe đi. Thằng bé nhà Denbrough đèo thằng con nhà Tozier trên chiếc xe đạp to tướng, trông rõ là không an toàn, và bà Kaspbrak rùng mình tự nhủ không biết đã bao lần, Eddie được chở trên chiếc xe đạp nguy hiểm ấy, đem tay, chân, cổ và tính mạng của mình ra làm trò đùa.

Mẹ làm điều này vì con, Eddie ạ, bà vừa nghĩ vừa ngẩng cao đầu quay trở lại bệnh viện. Mẹ biết mới đầu, con sẽ thấy có phần thất vọng, đó là điều hết sức tự nhiên. Nhưng bậc làm bố làm mẹ biết cái gì tốt cho con cái mình, lý do Chúa tạo ra bố mẹ trước con cái là để bố mẹ hướng dẫn, chỉ bảo… và bảo vệ con. Sau thất vọng ban đầu, thằng bé sẽ hiểu cho bà. Và lý do lòng bà cảm thấy nhẹ nhõm như hiện tại tất nhiên là vì Eddie chứ không phải vì bản thân mình. Cứu được con mình khỏi đám lông bông đầu đường xó chợ ấy thì cảm thấy nhẹ nhõm cũng đúng thôi.

Chỉ có điều, lúc này đây, khi nhìn khuôn mặt của Eddie, sự nhẹ nhõm ấy lại bị vấy bẩn bởi cảm giác khó chịu. Bà cứ tưởng con mình đang ngủ mà hóa ra không phải. Giấc ngủ li bì do thuốc không khiến thằng bé tỉnh dậy với vẻ mất phương hướng, trì trệ và yếu đuối về mặt tinh thần, mà thay vào đó, trên khuôn mặt nó là ánh nhìn sắc bén, thận trọng, khác hẳn so với ánh nhìn ngập ngừng, dè dặt thường ngày của Eddie. Giống như Ben Hanscom (dù Sonia không biết điều này), Eddie là một cậu bé thường liếc nhìn rất nhanh mặt người khác để đoán xem sóng ngầm cảm xúc nào đang âm ỉ ở đó rồi ngoảnh đi. Nhưng lúc này đây, thằng bé nhìn bà vô cùng chăm chú ( có lẽ là do ảnh hưởng của thuốc, bà tự nhủ, chứ còn gì nữa đâu; chút nữa mình phải tư vấn với bác sĩ Handor về thuốc cho thằng bé mới được ), và ánh nhìn ấy khiến bà phải ngoảnh mặt đi chỗ khác. Trông thằng bé như đang mong mình quay lại vậy, bà nghĩ trong đầu, và suy nghĩ ấy khiến lòng bà nở hoa – cậu con trai đợi mẹ về hẳn là một trong những điều tuyệt vời nhất do bàn tay Chúa tạo ra…

“Mẹ đuổi bạn bè con.” Những lời ấy được thốt lên bình thản, không nghi ngờ cũng chẳng thắc mắc.

Bà rụt người, gần như chột dạ, và suy nghĩ đầu tiên lướt qua đầu bà đầy tội lỗi – Sao con mình lại biết nhỉ? Thằng bé không thể nào biết được! – và ngay lập tức, bà giận bản thân mình (và giận con) khi có cảm xúc như vậy. Bà bèn mỉm cười với cậu con trai.

“Hôm nay chúng ta thấy thế nào rồi, Eddie?”

Trả lời như thế là chuẩn xác. Chắc hẳn có kẻ nào đó – một ả điều dưỡng ngu độn hoặc một y tá vô năng ghen ăn tức ở ngày hôm trước - đã đơm đặt chuyện này. Hẳn là có kẻ nào đó.

“Chúng ta thấy thế nào rồi?” Bà hỏi lại khi không thấy con mình trả lời. Bà nghĩ thằng bé không nghe thấy câu hỏi. Bà chưa bao giờ đọc tài liệu y khoa nào cho biết gãy xương có khả năng ảnh hưởng đến thính lực, nhưng bà đoán trên đời này có gì là không thể kia chứ, tất cả đều có thể xảy ra.

Eddie vẫn không trả lời bà.

Bà bước vào phòng, căm ghét cảm giác ngần ngừ, gần như rón rén đâm chồi trong lòng mình, bà gạt nó đi vì trước nay bà chưa từng cảm thấy ngần ngừ hay rón rén xung quanh Eddie. Bà còn thấy bực cả mình, mặc dù cảm giác ấy mới chỉ manh nha thôi. Thằng bé có quyền gì mà lại khiến bà cảm thấy như vậy kia chứ, sau bao điều bà tất tả cho con trai mình, sau bao hy sinh tảo tần bà dành cho con?

“Mẹ đã bàn với bác sĩ Handor rồi, bác sĩ khẳng định con sẽ hoàn toàn bình phục,” Sonia lảnh lót rồi ngồi xuống chiếc ghế gỗ thẳng lưng ở cạnh giường. “Tất nhiên nếu có vấn đề gì dù là nhỏ nhất, mẹ con mình sẽ đi gặp chuyên gia ở Portland. Thậm chí lên tận Boston nếu cần.” Bà mỉm cười như thể mình đang phổ độ chúng sinh. Eddie không buồn mỉm cười đáp lại. Và cậu cũng không trả lời bà.

“Eddie, con có nghe mẹ nói không?”

“Mẹ đuổi bạn bè con,” cậu lặp lại.

“Phải,” bà đáp gọn lỏn, chẳng buồn giả lả cười đùa nữa rồi im lặng. Đừng tưởng được đằng chân lân đằng đầu. Bà giương mắt nhìn con trai.

Nhưng một điều kỳ lạ xảy ra, nói đúng hơn là một điều hết sức tệ hại. Bỗng dưng đôi mắt Eddie có vẻ gì đó… thật trưởng thành. Những chấm xám trong mắt dường như đang chuyển động tựa quầng mây giông ầm ì. Bà chợt nhận ra không phải con trai mình đang “dằn dỗi”, hay “làm mình làm mẩy” hoặc trái tính trái nết gì cả. Thằng bé đang nổi giận với bà… và bỗng Sonia thấy sợ, vì bà mơ hồ cảm thấy trong căn phòng này không còn là con trai bà nữa mà là một thứ gì đó lớn lao hơn. Bà cúi mặt lục lọi trong ví, tìm giấy Kleenex.

“Phải, mẹ đã đuổi bọn chúng đi rồi,” bà lên tiếng, nhận ra giọng nói của mình đủ uy lực và vững vàng… nếu không nhìn thẳng vào mắt con thì bà còn trụ được. “Con bị thương rất nặng đấy, Eddie. Hiện tại, con không cần ai đến thăm bệnh trừ mẹ, và con cũng chẳng cần ngữ như chúng đến thăm. Nếu không tại chúng thì giờ này, lý ra con đang ở nhà xem ti vi hoặc lắp ráp xe đua thủ công trong ga-ra rồi.”

Ngày ấy, ước mơ của Eddie là lắp ráp xe đua rồi mang đến Bangor trình làng. Nếu thắng cuộc ở đó, cậu sẽ được bao mọi chi phí cho chuyến du lịch ở Akron, Ohio để dự Giải Đua xe Không động cơ Quốc gia. Sonia cho con trai mình được thỏa sức mơ tưởng đến giấc mơ này miễn là bà thấy khả năng hoàn thành chiếc xe đua – với thân làm bằng hộp đựng cam và bánh trưng dụng từ xe kéo ChooChoo Flyer - chỉ là mơ mộng hão huyền. Tất nhiên, không đời nào bà chịu để cho Eddie đánh liều mạng sống trong cỗ máy nguy hiểm ấy, bất kể đó là ở Derry, Bangor hay Akron, mà (theo lời Eddie giải thích) thằng bé sẽ ngồi trên máy bay, cắm đầu lao xuống ngọn đồi cực dốc trong thùng đựng cam gắn bánh xe và không có thắng. Song như mẹ bà hay bảo, ngu si hưởng thái bình (mẹ bà cũng hay nói “Ăn ngay nói thật mọi tật mọi lành” , nhưng giống với mọi người, khi ghi lòng tạc dạ câu gì đó, Sonia rất kén cá chọn canh).

“Các bạn của con không làm con gãy tay,” Eddie thẳng thừng. “Đêm qua, con đã nói với bác sĩ Handor và báo với ông Nell khi ông đến vào ban sáng. Henry Bowers mới là người bẻ gãy tay con. Một đám du côn đi chung với hắn nhưng Henry chính là thủ phạm. Nếu con đi cùng các bạn thì còn lâu chuyện này mới xảy ra. Con gặp nạn là vì lúc ấy con thân cô thế cô.”

Lời thằng bé nói khiến Sonia nghĩ đến lời nhận xét của bà hàng xóm Van Prett, rằng có bạn bè lại an toàn hơn, điều này khiến bao cơn thịnh nộ của bà đùng đùng quay lại như hổ gầm. Bà ngẩng phắt lên. “Chuyện đó chẳng có ý nghĩa lý gì hết, con thừa hiểu mà! Con nghĩ cái gì vậy hả, Eddie? Con nghĩ mẹ bạc đầu còn dại sao? Mẹ thừa biết tại sao thằng con nhà Bowers làm gãy tay con. Ông cảnh sát người Ireland có ghé qua nhà mình. Thằng du côn kia bẻ gãy tay con vì con và đám bạn bè của con gây chuyện với nó. Giờ con thử nghĩ mà xem, ngay từ đầu, nếu con nghe lời mẹ và tránh xa cái đám ấy thì có ra nông nỗi này không?”

“Dạ không, con nghĩ sẽ còn xảy ra chuyện nghiêm trọng hơn vậy nữa,” Eddie đáp.

“Eddie, con ăn nói kiểu gì vậy hả?”

“Con nói thật,” cậu đáp, và bà cảm nhận sức mạnh tỏa ra từ con mình, phát lộ từ cậu như những cơn sóng. “Bill và các bạn của con sẽ quay trở lại, mẹ ạ. Con biết chắc chắn là như thế. Và khi họ quay lại, mẹ đừng cản mọi người nữa. Cũng đừng nói lời nào với các cậu ấy. Họ là bạn của con, và mẹ đừng cướp đi họ chỉ vì mẹ sợ chỉ còn một mình.”

Bà trợn mắt nhìn cậu, kinh ngạc và hãi hùng. Mắt bà nhòe lệ, nước mắt trào như mưa xuống hai bên má làm lớp phấn nhòe nước. “Con ăn nói với mẹ con như thế đấy,” bà oà lên nức nở. “Có lẽ đây là cách mà đám bạn của con ăn nói với bố mẹ của chúng. Con học từ chúng nó có đúng không?”

Bà cảm thấy an toàn hơn trong làn nước mắt. Bình thường, khi bà khóc, Eddie cũng khóc theo. Nhiều người có thể cho rằng đây là một vũ khí hèn hạ, nhưng bảo vệ con trai thì có vũ khí nào hèn kém sao? Bà không nghĩ thế.

Bà ngẩng đầu lên, nước mắt chan hòa trên mặt, cảm thấy buồn bã, mất mát, bị phản bội đến khó tả… và trong lòng, bà chắc như định đóng cột rằng Eddie còn lâu mới chịu được những giọt nước mắt cũng như cảnh bà sầu não. Cái nhìn lạnh lùng sắc như dao ấy sẽ biến mất khỏi mặt con trai bà. Có lẽ thằng bé sẽ hồng hộc khó thở một chút, nhưng đó sẽ là tín hiệu, trước giờ đều vậy, rằng cuộc tranh cãi đã đến hồi kết và bà đã giành chiến thắng… tất nhiên, chiến thắng ấy là vì cậu chứ vì ai. Lúc nào bà chẳng vì con mình.

Nhưng không, bà bàng hoàng khi thấy mặt con trai mình vẫn giữ nguyên nét biểu cảm ấy – thậm chí còn sâu hơn – khiến tiếng nức nở của bà đứt đoạn. Khuôn mặt cậu ẩn chứa nét muộn phiền, nhưng ngay cả nét mặt này cũng khiến bà lo lắng, bởi chẳng hiểu sao, bà thấy nét muộn phiền ấy có vẻ gì đó thật người lớn , và nghĩ đến cảnh Eddie trưởng thành dù bằng bất cứ cách nào luôn khiến con chim hoảng loạn bay tứ tung trong tâm trí bà. Đó là cảm giác của bà vào những lúc tự hỏi điều gì sẽ xảy ra với bà nếu Eddie không muốn theo học ở trường Cao đẳng Kinh doanh Derry hay Đại học Maine ở Orono hoặc Đại học Husson ở Bangor để có thể về nhà sau khi học xong, điều gì sẽ xảy ra nếu cậu gặp một cô gái, đem lòng yêu cô ta và muốn kết duyên vợ chồng. Mẹ ở đâu trong những sự kiện ấy? Con chim sợ hãi sẽ rít lên khi những suy nghĩ lạ lùng, khủng khiếp tựa ác mộng xuất hiện. Mẹ sẽ ở đâu trong cuộc đời ấy? Mẹ thương con lắm, Eddie ơi! Mẹ thương con lắm! Mẹ chăm sóc con từng ly từng tí, dành trọn tình thương cho con! Con làm gì biết nấu nướng, thay khăn trải giường hay giặt đồ lót của mình đâu kia chứ! Mà con biết để làm gì? Mẹ biết những điều đó thay con rồi đây! Mẹ biết vì mẹ thương con!

“Mẹ, con rất thương mẹ,” Eddie lên tiếng. “Nhưng con cũng quý các bạn nữa. Con thấy… Con thấy mẹ đang cố tình rơi nước mắt.”

“Eddie, con làm mẹ tổn thương quá,” bà thì thầm, và dòng nước mắt nhạt nhòa khiến khuôn mặt nhợt nhạt của cậu nhân đôi, nhân ba. Nếu vài phút trước, những giọt lệ là do bà tính toán thì lúc này lại không phải vậy. Bằng sức mình, bà đã bao lần vượt qua phong ba bão táp cuộc đời – bà đã chứng kiến cảnh chồng mình về với đất mẹ mà không quỵ ngã, bà đã kiếm được công việc giữa lúc kinh tế khó khăn, việc làm nhỏ giọt, bà đã một tay nuôi con, và khi cần thiết, bà đã xả thân chiến đấu vì thằng bé. Đây là những giọt nước mắt đầu tiên bà rơi không toan tính, không chút giả tạo. Có lẽ lần cuối bà thật lòng khóc là lúc Eddie mắc viêm phế quản khi lên năm, bà cứ tưởng con mình sẽ chết trên giường bệnh trong đau đớn, sốt bừng bừng, ho sù sụ, thở hổn hển. Nhưng lúc này đây, bà đang giàn giụa nước mắt vì biểu cảm sao mà người lớn đến thế, sao mà xa lạ đến thế xuất hiện trên khuôn mặt của cậu con trai mình. Bà lo cho con, song dưới góc độ nào đó, bà còn cảm thấy sợ thằng bé, sợ cái khí chất dường như đang bao bọc cậu… cái khí chất như đang yêu cầu điều gì đó ở bà.

“Mẹ ơi, đừng bắt con phải lựa chọn giữa mẹ và bạn bè con,” Eddie nói. Giọng cậu không đều, chật vật nhưng vẫn cứng rắn. “Vì như thế là không công bằng mẹ ạ.”

“Chúng là bạn xấu , Eddie ơi!” Bà thét lên, gần như hoảng loạn. “Mẹ biết ngay mà, ngay từ đầu mẹ đã biết chúng nó chẳng cho con thứ gì ngoài đau buồn và tổn thương!” Và khủng khiếp nhất là bà cảm nhận được điều đó, một phần con người bà cảm nhận được trong mắt thằng bé nhà Denbrough, thằng bé đã đứng trước bà với hai tay thọc vào túi quần, với mái tóc đỏ ánh lên trong nắng hè. Đôi mắt nó sao mà can đảm đến thế, sao mà lạ lùng và xa cách đến thế… giống như mắt của Eddie lúc này.

Và chẳng phải khí chất tỏa ra từ thằng bé ấy cũng giống khí chất xung quanh Eddie lúc này sao? Tương tự nhau, thậm chí mạnh hơn? Bà nghĩ, ừ, đúng là thế.

“Mẹ ơi…”

Bất thình lình, bà đứng bật dậy, suýt chút nữa thì hất đổ ghế. “Tối nay, mẹ lại đến,” bà nói. “Con nói chuyện kiểu này là do con còn sốc, do tai nạn, do đau đớn đúng không. Mẹ hiểu mà. Con… Con…” Bà lắp bắp và chộp được những lời mình toan nói quay cuồng trong tâm trí rối như mớ bòng bong. “Con vừa gặp tai nạn kinh khủng, nhưng con sẽ ổn thôi. Và con sẽ thấy rằng mẹ nói đúng, Eddie ạ. Chúng là bạn xấu . Chúng không như mình, con ơi. Gần mực thì đen con ạ. Con cứ suy nghĩ và hỏi bản thân xem có bao giờ mẹ nói sai chưa. Con cứ suy nghĩ và… và…”

Mình đang chạy trốn kìa! Bà nghĩ, lòng nặng như chì, choáng váng và tổn thương. Mình đang chạy trốn chính con trai mình! Ôi Chúa ơi, xin Người đừng để chuyện này xảy ra!

“Mẹ.”

Trong khoảnh khắc, suýt chút nữa bà đã cao chạy xa bay, bởi sao mà bà sợ con mình quá, ôi phải rồi, thằng bé ấy to lớn hơn Eddie nhiều, bà cảm nhận nơi cậu còn hình bóng những người khác, đám “bạn” của con bà và thứ gì đó nữa, thứ lớn lao vô cùng, và bà sợ nó sẽ chói sáng sang cả bà. Tựa hồ con bà đang nằm dưới gọng kìm của một thế lực, một cơn sốt tệ hại như ngày xưa, lúc lên năm, cậu từng bị căn bệnh viêm phế quản hành hạ suýt mất mạng.

Bà dừng chân, tay đặt trên nắm cửa, lòng chẳng muốn nghe những lời cậu sắp sửa thốt lên chút nào… và khi cậu cất tiếng, câu nói của cậu chẳng khác nào sấm động trời quang, đến độ trong thoáng chốc, bà chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì. Để rồi khi nhận thức vồ vập đổ ập xuống tựa khối xi măng lỏng, bà còn tưởng mình sắp lăn đùng ra bất tỉnh đến nơi.

“Ông Keene nói thuốc hen suyễn của con chỉ là nước,” Eddie lên tiếng.

“Cái gì? Cái gì kia?” Bà trừng trừng nhìn con mình.

“Chỉ là nước, bỏ thêm chút hương liệu để nó có vị thuốc. Ông ấy bảo nó là giả dược.”

“Dối trá! Đó là lời nói dối trắng trợn! Tại sao ông Keene lại nói dối con như thế? Thôi, ở Derry không thiếu tiệm thuốc, mẹ sẽ… mẹ sẽ…”

“Con đã nghĩ đi nghĩ lại về chuyện này,” Eddie nói, nhẹ nhàng mà cương nghị, đôi mắt cậu không rời mẹ, “và con nghĩ ông ấy nói thật.”

“Eddie, mẹ nói con nghe, ông ta nói dối!” Nỗi sợ hãi lại tái xuất, tán loạn trong tâm trí.

“Con nghĩ đó chính là sự thật, nếu không thì trên ống thở phải ghi cảnh báo gì đó chứ, ví dụ như nếu dùng quá nhiều có thể gây tử vong hoặc bị ốm chẳng hạn. Thậm chí…”

“Eddie, mẹ không muốn nghe chuyện này nữa!” Bà ré lên và đưa hai tay lên bịt tai. “Con… con… con chẳng giống con bình thường chút nào, chỉ thế thôi !”

“Ngay cả những thuốc bán đại trà mà không cần kê đơn cũng được dán nhãn mác hướng dẫn đặc biệt,” cậu nói tiếp, chẳng hề lên giọng. Đôi mắt xám của cậu dán chặt vào mẹ, và bà không tài nào cúi xuống hay thậm chí đánh mất đi được. “Như xi rô ho Vicks… hoặc vitamin Geritol mẹ uống.”

Cậu dừng lại. Bà buông tay khỏi tai; bởi sao giờ việc giơ tay lên lại mệt mỏi đến thế. Tay bà bỗng chẳng khác nào quả tạ.

“Và hình như… mẹ thừa biết điều đó rồi, phải không mẹ.”

“Eddie!” Bà thiếu điều ré lên.

“Bởi vì, cậu nói tiếp, tựa hồ nãy giờ bà vẫn im bặt – hàng lông mày của cậu chau lại, tập trung vào vấn đề, “bởi vì người lớn như mẹ thừa biết về thuốc thang. Chứ còn gì nữa, ngày nào con cũng dùng ống thở năm, sáu lần. Nếu mẹ lo nó có thể nói sao nhỉ, gây hại cho con, mẹ sẽ không cho con làm vậy đâu. Vì nhiệm vụ của mẹ là bảo vệ con. Con biết điều đó vì lúc nào mẹ cũng nhắc đi nhắc lại như thế. Tức là… mẹ biết rồi, phải không? Mẹ thừa biết nó chỉ là nước lã phải không?”

Bà không nói gì. Môi bà run lên bần bật. Có cảm giác như thể cả khuôn mặt bà đang run rẩy. Nước mắt đã ngừng rơi tự lúc nào. Bởi bà sợ quá, chẳng khóc nổi.

“Vì nếu mẹ biết ,” Eddie nói, chau mày, “nếu mẹ có biết, thì con muốn nghe lý do. Con có thể tìm hiểu chuyện này hay chuyện kia, nhưng con không hiểu tại sao người mẹ sinh thành ra con lại muốn con nghĩ nước lã là thuốc… hay con bị hen suyễn ở đây ,” cậu chỉ lên ngực, trong khi ông Keene bảo con chỉ bị bệnh trên này mà thôi.” cậu chỉ lên đầu.

Bà những tưởng lúc ấy mình sẽ giải thích tất cả. Bà sẽ giải thích nhẹ nhàng, đầu đuôi. Rằng bà cứ đinh ninh cậu sẽ qua đời vào cái lần bạo bệnh khi lên năm, rằng điều đó sẽ khiến bà phát điên, bởi mới hai năm trước đó, bà đã mất ông Frank. Rằng bà nhận ra bậc làm bố làm mẹ chỉ có thể bảo bọc cho con cái bằng sự quan sát và tình yêu của mình, và ta phải chăm chút cho con mình như chăm sóc vườn cây, bón phân, nhổ cỏ, và phải, thỉnh thoảng phải tỉa cành, xén lá, dù nó sẽ rất đau đớn. Bà sẽ bảo với con rằng nhiều lúc, thà trẻ em - nhất là một đứa trẻ mỏng manh yếu ớt như Eddie – nghĩ mình bệnh còn hơn là thật sự đổ bệnh. Và bà sẽ chốt hạ bằng cách kể cho cậu nghe về sự ngu ngốc chết người của bác sĩ và sức mạnh diệu kỳ của tình yêu thương, bà sẽ bảo với cậu rằng bà biết cậu bị hen suyễn, và bác sĩ nghĩ gì hay cho cậu thuốc gì cũng chẳng thành vấn đề. Bà sẽ bảo với cậu rằng không phải chỉ dùng chày với cối của lão dược sĩ ngồi lê đôi mách, lòng lang dạ thú kia mới làm ra thuốc. Eddie con ơi, bà nói, nó là thuốc vì tình thương của mẹ biến nó thành thuốc, và bằng cách đó, mẹ sẽ làm chừng nào con còn muốn và còn để mẹ làm thế. Đó là sức mạnh mà Chúa ban cho những người mẹ với tấm lòng bao la như biển cả. Mẹ xin con, Eddie, mẹ xin con, tình yêu duy nhất của mẹ, con phải tin mẹ.

Song rốt cuộc, bà chỉ lặng thinh. Nỗi sợ hãi trong lòng bà quá lớn.

“Nhưng thôi, mình chẳng cần phải nói cho ra ngô ra khoai chuyện này làm gì,” Eddie tiếp tục. “Có khi ông Keene chỉ đùa với con mà thôi. Thỉnh thoảng người lớn… mẹ biết đấy, họ đem con nít ra làm trò đùa. Vì có nói gì con nít cũng tin răm rắp. Trêu đùa trẻ con như thế rõ là quá đáng, nhưng nhiều lúc người lớn hay làm vậy mà.”

“Ừ.” Sonia Kaspbrak vội vàng hùa theo. “Họ thích trêu đùa mà nhiều khi họ lại ngu ngốc… quá đáng… và… và…”

“Vậy nên con sẽ canh đợi Bill và các bạn của con đến,” Eddie nói, “và sử dụng thuốc hen suyễn điều độ. Như thế tiện cả đôi đường, mẹ có nghĩ vậy không?”

Đến tận lúc ấy, khi mọi chuyện đã quá trễ, bà mới nhận ra mình đã rơi vào tròng của con trai một cách lẹ làng - một cách quá đỗi ác nghiệt. Hành động của thằng bé chẳng khác nào đe dọa bà, nhưng bà còn lựa chọn nào khác kia chứ? Bà chỉ muốn hỏi tại sao con mình có thể toan tính đến thế, có thể thao túng người khác đến thế. Bà mở miệng toan cất tiếng… nhưng lại thôi. Với tâm trạng lúc này, khả năng cao là cậu sẽ trả lời cho xem.

Tuy nhiên, bà biết một điều. Phải. Biết chắc như đinh đóng cột một điều: có chết bà cũng không bao giờ không bao giờ không bao giờ đặt chân vào tiệm thuốc của lão Keene ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng ấy nữa.

Giọng nói chợt trở nên dè dặt của cậu phá ngang dòng suy nghĩ. “Mẹ?”

Ngẩng đầu lên, bà trông thấy Eddie của bà đã trở lại, cậu con trai Eddie thường ngày , và bà mừng rỡ bước đến chỗ con.

“Con ôm mẹ một cái được không?”

Bà ôm cậu, nhưng thật cẩn thận để không làm đau cánh tay bị gãy hoặc đẩy mạnh xương dăm chạy theo đường máu cắm vào tim cậu – thể loại mẹ nào lại giết chết con mình do thương quá kia chứ?), và Eddie ôm đáp lại.

7

Eddie như trút được đá tảng khi mẹ cậu rời khỏi phòng đúng lúc. Suốt cuộc đối mặt khủng khiếp này, cậu đã cảm thấy hơi thở mình chất chồng, chất chồng dâng lên trong phổi và trong họng, bằng lặng, không nổi một gợn sóng, tù đọng, mằn mặn, chực chờ nhiễm độc cậu.

Cậu ráng gồng cho đến khi cánh cửa đóng kịch lại sau lưng bà, lúc ấy cậu mới thở hồng hộc, hổn hà hổn hển. Làn hơi chua lè trong cổ họng thít lại của cậu hết thọc lên lại thọc xuống như que cời còn ấm. Cậu quờ quạng tìm ống thở, cánh tay nhói lên nhưng cậu mặc kệ. Cậu xịt một hơi thật dài xuống họng. Hít thật sâu hơi thở đầy vị cam thảo, cậu thầm nghĩ: Có là giả dược cũng chẳng sao, lời nói không quan trọng, miễn có hiệu quả là được.

Ngả người ra gối, cậu nhắm mắt lại, đây là lần đầu tiên cậu được hít thở thoải mái từ lúc mẹ cậu bước vào phòng. Cậu sợ, sợ đến cùng cực. Những lời câu nói với mẹ, cách cậu cư xử – nó vừa là cậu, vừa chẳng giống cậu chút nào. Có thứ gì đó khuấy động trong người cậu, thao túng cậu, một thế lực nào đó… và mẹ cậu cũng cảm nhận được điều này. Cậu thấy nó trong mắt và trên đôi môi run rẩy của bà. Cậu không cho rằng thế lực ấy xấu xa, nhưng sức mạnh to lớn của nó khiến cậu phát sợ. Tựa hồ cậu ngồi lên tàu lượn siêu tốc vô cùng nguy hiểm ở công viên giải trí và nhận ra cho đến khi chuyến tàu kết thúc, mình sẽ không thể xuống dù có bất cứ điều gì xảy ra.

Quay đầu chẳng còn là bờ nữa rồi, Eddie thầm nhủ, cảm nhận độ nặng, sự châm chích râm ran của bó bột đang bọc lấy cánh tay gãy của mình. Không ai được về nhà cho tới khi ta đến đích. Nhưng Chúa ơi, con sợ quá, con sợ quá. Và cậu biết lý do thật sự đằng sau việc cậu yêu cầu mẹ không chia tách cậu khỏi bạn bè là điều cậu không thể nào nói ra: Con không thể một mình đối diện chuyện này.

Cậu khóc một chút rồi thiếp đi đầy mộng mị. Cậu nằm mơ thấy giữa bóng tối mịt mùng, một chiếc máy – máy bơm – cứ thế ầm ì chạy.

8

Tối hôm ấy, khi Bill và các thành viên trong Hội Cùi Bắp quay trở lại bệnh viện, trời mưa đì đùng giông chớp. Eddie không hề ngạc nhiên khi thấy các bạn xuất hiện, bởi trong lòng mình, cậu biết rõ họ sẽ trở lại.

Cả ngày nay, trời nóng như thiêu như đốt – ai nấy đều đồng tình tuần thứ ba của tháng Bảy là tuần đỉnh điểm trong mùa hè nóng như đổ lửa này – và tầm 4 giờ chiều hôm ấy, những đám mây giông vần vũ trên bầu trời, đen tím, khổng lồ, trĩu nước, loang loáng chớp. Ai nấy đều tất tả lo toan công chuyện, vừa đi vừa lo lắng ngước nhìn bầu trời. Mọi người đinh ninh đến giờ ăn tối, thể nào mưa cũng trút xuống thối đất thối cát, gột rửa cái ẩm nặng nề trong không khí: công viên và sân chơi của Derry, vắng tanh vắng ngắt suốt mùa hè ấy, mới 6 giờ chiều đã không còn bóng người. Mưa vẫn chưa rơi, xích đu đứng yên, không đổ bóng dưới ánh đèn vàng vọt. Sấm giật đùng đùng - tiếng sấm, tiếng chó sủa và tiếng xe cộ trầm đục trên đường Chính Khu Ngoài là những âm thanh ngang qua cửa sổ Eddie cho đến lúc Hội Cùi Bắp tới bệnh viện.

Bill vào trước, tiếp đến là Richie. Beverly và Stan theo sau, Mike với Ben là hai người cuối cùng. Trông cậu nhấp nhổm như đỉa phải vôi trong chiếc áo len cổ lọ màu trắng.

Mọi người đến giường của cậu với vẻ mặt lầm lì. Đến cả Richie cũng không cười.

Khuôn mặt mọi người, Eddie trầm trồ nghĩ, ôi Chúa ơi, khuôn mặt của mọi người kìa!

Cậu nhìn thấy ở họ nét biểu cảm mà mẹ trông thấy nơi cậu buổi chiều hôm ấy: sự kết hợp kỳ lạ giữa sức mạnh và bất lực. Ánh chớp vàng từ cơn bão hắt lên da, khiến khuôn mặt của tất cả mọi người ma mị, xa xăm và mờ ảo.

Bọn mình đang ở bước chuyển giao, Eddie thầm nhủ. Chuyển giao sang trang mới – bọn mình đang ở ngay ranh giới rồi. Nhưng bên kia ranh giới là gì? Bọn mình rồi sẽ về đâu? Về đâu đây?

“Ch-Ch-Chào cậu, E-E-Eddie,” Bill lên tiếng. “Cậu s-s-sao rồi?”

“Tớ ổn, Bill To Bự,” Edd nói và cố gắng mỉm cười.

“Hôm qua đúng là khiếp nhỉ,” Mike nói. Sấm động đì đùng sau tiếng nói của cậu. Trong phòng bệnh của Eddie lúc này không bật đèn trần cũng như đèn đầu giường, thành thử tất cả bọn họ lúc mờ lúc tỏ giữa ánh chớp. Eddie mường tượng đến việc ánh sáng ấy tỏa khắp Derry lúc này, quét thành đường dọc công viên McCarron, lọt qua những cái lỗ trên nóc cầu Hôn Nhau thành những dải biếng nhác, khiến con sông Kenduskeag trông như lớp kính mờ khi ánh chớp cắt ngang qua Vùng Đất Cằn; cậu hình dung những chiếc bập bênh nép mình đằng sau trường Tiểu học Derry trong khi mây giông ngày một dày thêm, cậu nghĩ đến ánh chớp vàng lóe sáng cùng sự tĩnh lặng, như thể cả thị trấn này đã chìm vào giấc ngủ… hoặc cái chết.

“Phải,” cậu đáp. “Đúng là một ngày lắm sự kiện.”

“Tối ng-ng-ngày k-kia, b-bố mẹ tớ s-sẽ đi x-x-xem phim,” Bill nói. “Khi họ chiếu ph-phim mới. Lúc ấy, b-bọn mình tranh thủ làm nh-nh-những v-v-viên…”

“Viên bi bạc,” Richie tiếp lời.

“Tớ cứ tưởng…”

“Như vậy tốt hơn,” Ben trầm ngâm. “Tớ vẫn nghĩ bọn mình có thể chế tạo đạn, nhưng nghĩ thôi chưa đủ. Nếu bọn mình là người lớn…”

“Ở đúng rồi, nếu bọn mình là người lớn, búng tay là xong nhỉ,” Beverly nói. “Người lớn có thể tạo ra bất cứ thứ gì họ thích, đúng không? Người lớn có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, và cái gì cũng chuẩn không cần chỉnh.” Cô cười, tiếng cười ngập ngừng đầy lo âu. “Bill muốn tớ là người bắn Nó đấy. Cậu có tưởng tượng nổi không, Eddie? Từ giờ cậu hãy gọi tớ là Beverly Oakley nhé.”

Beverly đang nhắc tới Annie Oakley (1860-1926), một nữ thiện xạ nổi tiếng người Mỹ.

“Tớ chẳng hiểu các cậu đang nói gì cả,” Eddie thốt lên, song cậu nghĩ mình hiểu – cậu có thể lờ mờ đoán được tình hình.

Ben bèn giải thích kế hoạch của cả nhóm là nấu chảy một đồng bạc của cậu và làm thành hai viên bi bạc, kích thước nhỏ hơn bị trong ổ trục một chút. Sau đó, nếu căn nhà số 29 đường Neibolt thật sự có Người sói trú ngụ, Beverly sẽ bắn thẳng viên bi bạc này vào đầu Nó bằng ná cao su Hồng Tâm của Bill. Vĩnh biệt Người sói. Và nếu bọn họ phân tích đúng về sinh vật nghìn mặt kia thì vĩnh biệt cả Nó nữa.

Hẳn nét biểu cảm trên mặt Eddie phải kỳ khôi lắm, bởi Richie phá lên cười nắc nẻ và gật gù.

“Tớ hiểu cảm giác của cậu, bạn hiền. Lúc Bill trình bày ý tưởng dùng ná cao su thay vì khẩu súng của bố cậu ấy, tớ còn tưởng đầu cậu ấy rơi rớt mấy con ốc còn sót lại rồi ấy chứ. Nhưng chiều nay…” Cậu ngưng lại và đằng hắng. Chiều nay, sau khi mẹ cậu chửi như tát nước vào mặt bọn tớ, đó là câu cậu toan thốt lên, nhưng ăn nói như thế thì dở quá. “Chiều nay, bọn tớ xuống bãi rác. Bill mang theo cả ná cao su Hồng Tâm. Cậu nhìn này.” Richie lôi từ túi quần sau lon thiếc bẹp dúm vốn đựng thơm đóng hộp của hãng Del Monte. Có một cái lỗ lởm chởm đường kính chừng năm phân xuyên qua ngay giữa. “Sản phẩm của Beverly từ khoảng cách sáu mét đấy. Trông chẳng khác nào đạn bắn từ khẩu súng 38 cả. Tía Lia huynh đài chỉ còn biết ngả mũ chào. Và một khi Tía Lia huynh đài đã bái phục thì không còn gì để nói.”

“Bắn trúng mấy lon thiếc ăn thua gì,” Beverly nói. “Nếu mục tiêu là thứ khác… một thứ sinh vật sống… thì Bill, cậu là người bắn mới phải. Thật đấy.”

“Kh-Không,” Bill phản đối. “Cả đám đ-đ-đã th-thay nhau bắn. Cậu th-th-thấy k-k-kết quả ra s-sao rồi.”

“Thế kết quả ra sao?” Eddie hỏi.

Bill bèn giải thích một cách chậm rãi, ngập ngừng, còn Beverly ngoảnh mặt nhìn ra cửa sổ, môi bặm chặt đến độ trắng bệch. Vì những lý do mà đến bản thân cô còn chẳng lý giải nổi, cô thấy mình hơn cả sợ hãi: cô cảm thấy ngượng không để đâu cho hết với những gì xảy ra hôm nay. Tối hôm ấy, trên đường đến đây, một lần nữa cô lại tranh cãi quyết liệt rằng mọi người nên tìm cách chế ra đạn hẳn hoi… không phải vì cô dám chắc hơn Bill hay Richie rằng chúng sẽ có tác dụng khi lâm trận, mà là vì– nếu thật sự xảy ra biến ở căn nhà ấy - vũ khí sẽ nằm trong tay của

(Bill)

một thành viên khác chứ không phải cô.

Nhưng sự thật là sự thật. Mỗi người bọn họ đã nhặt mười viên đá và bắn ná cao su vào mười lon thiếc để cách đó sáu mét. Richie bắn trúng một phát trên mười lần (thật ra phát trúng cũng chỉ sượt qua), Ben trúng hai phát, Bill bốn phát, Mike năm phát.

Trong khi đó, Beverly bắn với vẻ hết sức tùy nghi, chẳng buồn ngắm mục tiêu, thế mà chín trên mười phát lại trúng ngay giữa lon. Lon thứ mười rơi xuống khi viên đá cô bắn bật vào thành lon.

“Nhưng trước hết m-m-m-mình ph-phải làm đ-đ-đạn đã.”

“Tối ngày kia nhỉ? Đến lúc đó, tớ cũng được ra khỏi đây rồi.” Eddie nói. Mẹ cậu sẽ phản đối… nhưng cậu không nghĩ bà sẽ phản đối bằng mọi giá. Sau buổi chiều hôm nay thì không.

“Tay cậu có đau không?” Beverly hỏi. Cô mặc váy hồng (không phải chiếc váy cậu thấy trong giấc mơ, có lẽ cô mặc nó vào buổi chiều, lúc mẹ đuổi mọi người đi), bên trên thêu vài bông hoa nhỏ. Cô mang tất lụa hay vải nylon gì đấy, trông cô thật trưởng thành nhưng cũng có vẻ gì đó rất trẻ con, như một cô bé đang bày đặt ăn diện. Nét mặt cô mơ màng và xa xăm. Chắc ấy là vẻ mặt cô ấy lúc ngủ, Eddie thầm nghĩ.

“Không đau lắm,” cậu đáp.

Họ nói chuyện thêm một lát, giọng nói bị ngắt quãng bởi tiếng sấm. Eddie không hỏi các bạn mình về những chuyện đã xảy ra lúc họ đến bệnh viện lần trước, mà cũng không ai đả động đến. Richie lấy yo-yo ra, thả nó xoay vòng vòng ở cuối dây một, hai lần rồi thu lại.

Cuộc nói chuyện chững lại, và trong những khoảng lặng ấy vang lên tiếng lách tách rất gọn khiến Eddie nhìn xung quanh. Bill cầm gì đó trong tay, và trong một khắc, Eddie cảm thấy tim mình đập rộn lên vì hoảng. Trong khoảnh khắc ấy, cậu cứ tưởng đó là một con dao. Nhưng rồi Stan bật đèn trần lên, xóa tan tăm tối, và cậu nhận ra nó chỉ là cây bút bi. Dưới ánh sáng, bọn họ nhìn tự nhiên trở lại, nhìn thật trở lại, là những người bạn của cậu chứ chẳng phải ai xa lạ.

“Tớ nghĩ bọn mình phải ký tên lên bột của cậu mới được.” Bill nói. Cậu nhìn thẳng vào mắt Eddie.

Mọi chuyện đâu đơn giản thế, Eddie thầm nghĩ, tâm trí chợt rõ nét. Đây là bản hợp đồng. Đây là bản hợp đồng đấy, Bill To Bự ạ, hoặc là thứ gần với hợp đồng nhất mà chúng ta đạt tới. Cậu thấy sợ… và rồi cậu xấu hổ cũng như tức giận với bản thân. Nếu cậu gãy tay trước mùa hè này thì ai sẽ là người ký lên bột? Liệu còn ai ngoài mẹ cậu và bác sĩ Handor kia chứ? Hay các dì ở Haven?

Họ là những người bạn của cậu, và mẹ cậu đã sai rồi: họ không phải bạn xấu. Cậu nghĩ, có khi chẳng có bạn xấu hay bạn tốt – bạn bè là bạn bè, là những người đứng cạnh ta khi ta tổn thương và giúp ta không cảm thấy cô đơn. Có lẽ nếu cậu thấy sợ hãi cho họ, hy vọng hay sống vì họ thì cũng đáng thôi. Thậm chí đáng để cậu hy sinh thân mình. Chẳng có bạn tốt. Cũng chẳng có bạn xấu. Chỉ có những người mà ta muốn, ta cần bên, những người chiếm vị trí trong trái tim ta.

“Được thôi,” Eddie đáp, giọng hơi khàn. “Được chứ, nghe hay ho ra phết, Bill To Bự.”

Thế là Bill nghiêm trang cúi người qua giường rồi viết tên lên mặt thạch cao nhấp nhô bọc quanh cánh tay bị gãy của Eddie, chữ cậu to và tròn. Richie ký nét bay bướm. Ben to bao nhiêu thì chữ viết lại lí nhí bấy nhiêu, hơi nghiêng về phía sau. Trông như thể chỉ đẩy nhẹ một cái cũng đủ để chúng đổ nhào. Nét chữ của Mike Hanlon to, vụng về vì cậu vốn thuận tay trái và góc độ này khá khó viết. Cậu ký trên khuỷu tay của Eddie và khoanh tròn tên mình lại. Khi Beverly chúi người xuống, Eddie có thể ngửi thấy mùi nước hoa thoang thoảng từ người cô. Cô ký thành vòng tròn bằng phương pháp Palmer. Stan là người cuối cùng, cậu viết tên mình chen chúc trên cổ tay Eddie.

Và rồi cả bọn lùi lại, như thể họ ý thức được điều mình vừa làm. Bên ngoài, sấm chớp lại đì đùng nổi lên. Chớp xóa đi khung cảnh bằng gỗ bên ngoài bệnh viện trong ánh đèn chớp tắt chớp nháy.

“Thế là hết à?” Eddie hỏi.

Bill gật đầu, “Ng-Ngày kia, S-s-sau giờ ăn t-tối, nếu đ-đ-được thì đ-đ-đến nh-nh-nhà t-tớ nhé?”

Eddie gật đầu, và chủ đề này dừng lại ở đó.

Cuộc nói chuyện lại trở nên lan man, vô thưởng vô phạt. Trong đó, họ bàn về chủ đề chính ở Derry vào tháng Bảy năm ấy - phiên tòa xử Richard Macklin vì tội giết Dorsey, con riêng của vợ bằng búa và sự mất tích của Eddie Corcoran, anh trai của Dorsey. Hai ngày sau, Macklin không chịu nổi và khóc lóc nhận tội ở bục nhân chứng, nhưng cả Hội Cùi Bắp đều cho rằng khả năng cao Macklin chẳng liên quan gì đến việc Eddie mất tích. Cậu bé đã bỏ nhà đi… hoặc Nó đã bắt cậu ấy.

Tầm 7 giờ 15 phút thì cả bọn rời bệnh viện, lúc ấy trời vẫn chưa đổ mưa. Trời cứ ầm ì muốn mưa mãi cho đến tận sau khi mẹ của Eddie đến thăm cậu và trở về nhà (bà kinh hãi trước những chữ ký trên bột của Eddie, và thậm chí còn kinh hãi hơn khi cậu một mực muốn rời bệnh viện vào ngày hôm sau – bà đã hình dung con mình bệnh viện một tuần hoặc hơn trong yên tĩnh, để đầu vết gãy có thể “định hình trở lại”, trích nguyên văn lời bà).

Cuối cùng, mây giông tản đi. Cả Derry chẳng rơi lấy nổi một giọt mưa. Tối hôm ấy, không khí vẫn ngột ngạt ẩm, và người ta nằm ngủ trên hiên nhà, trên bãi cỏ hoặc trong túi ngủ ở cánh đồng sau nhà.

Hôm sau trời mới đổ mưa, sau khi Beverly chứng kiến cảnh tượng khủng khiếp xảy đến với Patrick Hockstetter.

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang