GÃ HỀ MA QUÁI

Lượt đọc: 10382 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17
thêm một nạn nhân mất tích: cái chết của patrick hockstetter
1

Nói xong, Eddie tự rót cho mình một ly, tay vẫn không khỏi run rẩy. Anh quay sang nhìn Beverly mà nói, “Cậu cũng đã thấy Nó phải không? Sau hôm các cậu ký lên bột của tớ, cậu đã trông thấy Nó bắt Patrick Hockstetter đúng không?”

Mọi người trong nhóm chúi người tới trước.

Beverly hất mái tóc đỏ bồng bềnh của mình ra sau. Bên dưới mái tóc, khuôn mặt cô nhợt nhạt không chút sinh khí. Cô vụng về lôi một điều thuốc ra khỏi bao - điếu cuối cùng - rồi bật hộp quẹt Bic. Song cô chẳng tài nào đưa được ngọn lửa đến đầu thuốc. Chốc sau, Bill khẽ nắm lấy cổ tay cô, nhẹ nhàng đưa ngọn lửa đến vị trí cần châm. Beverly nhìn anh với ánh mắt đầy biết ơn và nhả ra làn khói xám nhuốm xanh.

“Ừ,” cô lên tiếng. “Tớ đã tận mắt chứng kiến chuyện xảy ra.”

Cô rùng mình.

“Hắn ta như kẻ đ-đ-điên,” Bill nhận xét và thầm nghĩ: Nội chuyện Henry lêu lổng đầu đường xó chợ với một kẻ quái dị như Patrick Hockstetter trong mùa hè năm ấy… đã nói lên tất cả rồi còn gì? Hoặc Henry đang mất đi phong độ, vơi bớt sức hút, hoặc độ điên rồ của Henry đã tăng tiến đến mức hắn thấy kẻ như Hockstetter là dạng người dung nạp được. Cả hai điều này dẫn tới cùng một kết quả – Henry càng lúc càng… gì nhỉ? Thoái triển ư? Từ này có đúng không nhỉ? Phải, xét tới những chuyện đã xảy ra với hắn ta, nơi hắn đưa bị đưa vào thì có lẽ là thế.

Vẫn còn một vài chi tiết khác củng cố cho luận điểm này, Bill nghĩ, nhưng hiện giờ anh chỉ nhớ mang máng. Ngày ấy, anh, Richie và Beverly đã đến Trạm Xe tải Của Anh em Tracker – nếu anh nhớ không lầm là đầu tháng Tám, lớp phụ đạo hè đã cầm chân Henry không để hắn quấy phá bọn họ gần hết mùa hè năm ấy sắp sửa kết thúc – và hình như Victor Criss tiếp cận bọn họ thì phải? Lúc ấy, trông Victor Criss sợ đến mất mật nhỉ? Đúng rồi, chuyện xảy ra là thế. Khi ấy, mọi chuyện đang dần đẩy đến hồi kết, và Bill nghĩ mọi đứa trẻ ở Derry đều cảm nhận được điều đó – cảm nhận rõ rệt nhất phải kể đến Hội Cùi Bắp và bè lũ của Henry. Nhưng chuyện đó hồi sau mới tới.

“Ừ phải, cậu nói chính xác,” Beverly thản nhiên. “Patrick Hockstetter là một kẻ điên. Ở trường chẳng có đứa con gái nào dám ngồi trước mặt hắn. Nếu ngồi đấy, trong lúc làm Toán hay Tập làm văn, bất thình lình cậu sẽ cảm thấy bàn tay… gần như nhẹ tựa lông hồng, nhưng ấm nóng và nhớp nhúa mồ hôi. Bè bè.” Cô nuốt nước bọt và họng khẽ kêu đánh tách. Ngôi quanh bàn, mọi người nghiêm mặt nhìn cô. “Cậu sẽ cảm thấy bàn tay ấy chạm vào hông, hoặc có khi là ngực của mình. Ngày ấy, mấy đứa con gái bọn tớ làm gì đã nhú ngực. Nhưng Patrick chẳng hề để tâm đến chuyện đó.

Cậu sẽ cảm nhận được… cái đụng chạm ấy, và rồi khi cậu giật bắn lên, quay người lại, cậu sẽ thấy Patrick nhe răng cười với cặp môi dày cui như miếng cao su. Hắn có một hộp bút chì…”

“Đựng đầy ruồi,” Richie chợt lên tiếng. “Đúng rồi. Hắn ta dùng cây thước xanh của mình giết ruồi rồi bỏ vào hộp bút chì. Tớ thậm chí còn nhớ hình dạng của nó – nó màu đỏ với nắp đậy bằng nhựa trắng gợn sóng, trượt ra trượt vào để đóng mở.”

Eddie gật đầu.

“Khi cậu giật ra, hắn toe toét cười, rồi mở hộp bút để cậu trông thấy đống ruồi chết bên trong,” Beverly nói. “Và điều kinh khủng nhất – hay nói đúng hơn, tởm lợm nhất – chính là việc hắn ta chỉ cười mà chẳng nói chẳng rằng. Cô Douglas thừa biết. Greta Bowie đã mách với cô, và nếu tớ nhớ không lầm, hình như cả Sally Mueller cũng có lần phàn nàn này kia. Nhưng… tớ nghĩ đến cô Douglas còn thấy sợ một kẻ như hắn.”

Ben ngả người, nghiêng hai chân ghế ra sau, tay đan sau gáy. Đến tận lúc này, cô vẫn chưa tài nào tin nổi người anh gọn gàng đến thế. “Tớ khá chắc chắn những điều cậu nói là đúng,” anh thốt lên.

“Ch-Chuyện gì đ-đ-đã x-x-xảy ra với h-hắn, Beverly?” Bill hỏi.

Cô lại nuốt nước bọt, cố trụ vững trước sức áp đảo của cơn ác mộng mà cô chứng kiến vào ngày hôm ấy tại Vùng Đất Cằn, khi hai chiếc giày trượt patin được cô cột gọn vắt vẻo qua vai, khi một bên đầu gối của cô nhói lên sau cú ngã từ ngõ Saint Crispin, một con đường cụt ngắn với hai hàng cây, dừng ở ngay khu đất đổ thẳng xuống Vùng Đất Cằn (đến giờ vẫn thế). Cô còn nhớ (ôi, những ký ức này một khi trở về thì sống động từng đường nét và mạnh mẽ biết bao) cô mặc quần đùi bằng vải denim – quần đùi cực ngắn, đến độ chỉ che vừa đủ gấu quần lót. Một năm đổ lại, cô ý thức về thân thể mình nhiều hơn – hay nói đúng hơn là sáu tháng gần đây, khi những đường cong đã dần rõ nét, trông cô dần ra dáng phụ nữ hơn. Cô chú ý đến điều đó một phần là nhờ tấm gương, tất nhiên rồi, nhưng ấy chưa phải lý do chính; lý do chính là vì gần đây, bố cô càng lúc càng nóng tính, lão không ngại thượng cẳng tay hạ cẳng chân với cô, tát chưa đủ, có khi còn vận cả nắm đấm. Lão có vẻ sốt ruột, như con thú bị cầm tù, và lúc nào có lão bên cạnh, cô lại thấy căng thẳng, lại thấy nơm nớp bồn chồn. Tựa hồ giữa bố con cô có thứ mùi ngăn cách, thứ mùi sẽ biến mất vào những lúc cô ở nhà một mình, thứ mùi trước nay chưa từng hiện hữu khi hai người bọn họ ở cùng một chỗ – nhưng mùa hè này lại khác. Và kể từ khi mẹ cô ra đi, tình hình ngày càng xuống cấp. Nếu có một thứ mùi, một thứ mùi đặc trưng đến vậy tỏa ra, thì hẳn nhiên bố cô cũng biết, bởi khi cái nóng dần trở nên khắc nghiệt, Bev càng lúc càng ít đụng mặt bố mình, phần vì giải bowling mùa hè, phần vì lão đang phụ người bạn của mình mang tên Joe Tammerly sửa xe hơi… song cô đồ rằng nguyên nhân một phần nằm ở thứ mùi ấy, thứ mùi họ dựng lên quanh mình, không hữu ý những vẫn cố tình tạo ra, có muốn cũng chẳng dập được, như ta chẳng thể nào ngừng ra mồ hôi vào tháng Bảy.

Hình ảnh hàng trăm hàng nghìn con chim sà xuống đậu trên mái nhà, trên đường dây điện, trên ăng ten ti vi, lại ngăn cản ký ức của cô.

“Còn thường xuân độc nữa,” cô nói thật to.

“C-C-Cái gì?” Bill hỏi.

“Có gì đó liên quan đến thường xuân độc,” cô chậm rãi nói, đưa mắt nhìn anh. “Nhưng không trực tiếp liên quan mà hình như chỉ giống thường xuân độc mà thôi. Mike…?”

“Đừng để tâm,” Mike nói. “Ký ức sẽ quay lại thôi. Cậu nhớ được gì thì cứ kể, Bev ạ.”

Tớ nhớ về chiếc quần đùi màu xanh, cô thầm nhủ trong đầu, về cái quần dần trở nên bạc thếch; về việc nó bó quanh hông và mông của tớ. Một túi tớ nhét nửa gói thuốc Lucky Strike, túi còn lại nhét ná Hồng Tâm…

“Cậu còn nhớ ná Hồng Tâm không?” Cô hỏi Richie nhưng cả nhóm cùng gật đầu.

“Là Bill đưa cho tớ,” cô tiếp tục. “Tớ không muốn nhận đâu, nhưng nó… cậu ấy…” Cô mỉm cười với Bill, nét mặt hơi hốc hác. “Làm gì có ai có thể từ chối Bill To Bự kia chứ, đơn giản là thế. Nên tớ nhận và đó là lý do tớ xuống đấy một mình. Để luyện tập. Tớ vẫn không nghĩ tớ có đủ gan làm vậy vào giây phút quyết định. Trừ việc… Hôm ấy tớ đã dùng nó. Tớ phải làm vậy. Tớ đã kết liễu một trong số bọn chúng… một trong những phân thân của Nó. Khủng khiếp lắm. Đến giờ nghĩ lại, tớ vẫn còn thấy choáng nữa là. Và một trong số phân thân đã tấn công tớ. Xem này.”

Cô giơ tay lên, lật lại để mọi người có thể nhìn vết sẹo nhăn nheo trên phần đầy đặn nhất của cẳng tay. Trông như thể một vật hình tròn nóng rẫy với đường kính cỡ điếu xì gà Havana đã áp lên da cô. Vết sẹo hơi lõm vào, chỉ nhìn nó thôi đã đủ khiến Mike Hanlon rùng mình. Giống như cuộc nói chuyện chẳng đặng đừng vọc vào tận thâm can của Eddie, đây là một trong những phân câu chuyện mà anh đã ngờ đến nhưng chưa bao giờ được nghe tận tai.

“Cậu nói đúng một chuyện, Richie ạ,” cô nói tiếp. “Cái ná Hồng Tâm ấy đúng là sát thủ. Tớ sợ nó, nhưng đồng thời lại thích nó.”

Richie phá lên cười rồi vỗ lưng cô. “Trời đất, tớ biết từ ngày xưa rồi, cô ngốc ạ.”

“Cậu biết à? Thật sao?”

“Ừ, thật đấy,” anh nói. “Đôi mắt cậu nói lên điều đó mà, Bevvie.”

“Ý tớ là, trông nó như món đồ chơi, nhưng nó vô cùng được việc. Bị nó bắn mà không thủng lỗ mới lạ.”

“Và hôm ấy, cậu đã dùng ná bắn thủng lỗ thứ gì phải không?” Ben trầm tư.

Cô gật đầu.

“Có phải cậu bắn vào Patrick…”

“Không, Chúa ơi, làm gì có!” Beverly phản đối. “Là thứ khác… đợi đã.” Cô dụi tắt điếu thuốc, nhấp rượu và lấy lại điềm tĩnh. Cuối cùng, cô cũng bình tâm trở lại. À… thật ra là chưa. Nhưng cô có cảm giác tối nay, mình chỉ có thể đạt đến mức này là cùng. “Lúc đó, tớ đang trượt patin, thế rồi tớ bị ngã và trầy xước tùm lum. Rồi tớ quyết định xuống Vùng Đất Cằn để luyện tập. Đầu tiên, tớ đến phòng sinh hoạt nhóm để xem các cậu có ở đó không. Nhưng chẳng thấy ai. Chỉ có mùi khói vương lại. Các cậu nhớ suốt một thời gian dài, nơi ấy vẫn ám mùi khói không?”

Mọi người gật đầu với nụ cười trên môi.

“Bọn mình thử đủ cách mà chẳng tài nào khử được mùi nhỉ?” Ben nói.

“Thế là sau đó, tớ đến bãi rác,” cô kể “vì đó là địa điểm bọn mình tổ chức… tổ chức bắn tập, tớ đoán có thể gọi như thế, mà tớ biết ở đó có nhiều thứ để bắn. Thậm chí có thể bắn thử cả chuột.” Cô dừng lại. Trán cô lấm tấm mồ hôi. “Thật ra, đó là thứ tớ muốn bắn thử nhất,” rốt cuộc, cô bộc bạch. “Một sinh vật sống. Mòng biển thì không được – tớ biết mình không đủ sức - nhưng chuột thì… Tớ muốn xem thử mình có thể bắn được hay không.

Cũng may là tớ đi từ phía đường Kansas chứ không phải từ phía Mũi Đất Cũ, vì bên đường tàu không rậm rạp um tùm. Thể nào bọn chúng cũng trông thấy tớ, và có Chúa mới biết chuyện gì sẽ xảy ra.”

“Ai s-s-sẽ thấy c-cậu?”

“Bọn chúng,” Beverly nói. “Henry Bowers, Victor Criss, Huggins Ợ Hơi và Patrick Hockstetter. Chúng ở dưới bãi rác và…”

Bỗng dưng, trước sự ngạc nhiên của mọi người, cô phá lên cười khúc khích như đứa trẻ, má chuyển sang màu mận chín. Cô cười đến độ chảy nước mắt.

“Bev ơi là Bev,” Richie nói. “Chuyện cười thì phải kể với anh em chứ.”

“Ừ, là chuyện cười thôi,” cô nói. “Buồn cười lắm, nhưng nếu bọn chúng mà biết tớ chứng kiến, chắc bọn chúng giết người diệt khẩu luôn quá.”

“Tớ nhớ ra rồi!” Ben la lên, và đến anh cũng cười nắc nẻ. “Tớ nhớ cậu đã kể với bọn tớ!”

Vừa cười lăn cười bò, Beverly vừa nói, “Bọn chúng tụt quần xuống và đánh rắm ra lửa.”

 Trong một khắc, không gian im lặng như tờ, đoạn tất cả mọi người phá lên cười – tiếng cười âm vang cả thư viện.

Sau một hồi ngẫm nghĩ xem nên trình bày thế nào với mọi người về cái chết của Patrick Hockstetter, cô bèn bắt đầu bằng cách kể lại chuyện đi đến bãi rác thị trấn từ phía đường Kansas chẳng khác nào tiến vào một vành đai tiểu hành tinh dị hợm. Có con đường đất lồi lõm (thật ra nó vẫn được xem là đường của thị trấn; thậm chí còn có tên đàng hoàng: đường Old Lyme) chạy từ đường Kansas đến bãi rác, đây là con đường duy nhất dẫn vào Vùng Đất Cằn – ngày trước, xe rác của thị trấn dùng con đường này. Beverly chỉ đi gần đường Old Lyme chứ không nghênh ngang đi thẳng trên đường - cẩn tắc vô áy náy - cô đoán không chỉ cô mà tất cả mọi người trong nhóm đều vậy – kể từ sau vụ Eddie bị bẻ gãy tay. Nhất là lúc này, cô đang đơn thương độc mã.

Cô vạch bụi cây rậm rạp để đi, vòng qua khóm thường xuân độc với lá bóng nhẫy màu đỏ, ngửi mùi ung thối của bãi rác, nghe tiếng mòng biển réo rắt vọng lại. Phía bên trái, qua những kẽ lá, thỉnh thoảng cô lại trông thấy đường Old Lyme.

Mọi người trong nhóm nhìn cô chờ đợi. Cô kiểm tra gói thuốc và thấy nó trống không. Richie chẳng nói chẳng rằng ném cho cô gói thuốc của mình.

Cô bật lửa, đưa mắt nhìn mọi người một lượt rồi cất tiếng: “Đi đến bãi rác từ phía đường Kansas có phần nào giống

2

tiến vào một vành đai tiểu hành tinh dị hợm. Vành đai tiểu rác rến. Ban đầu, chẳng có gì ngoài những bụi cây mọc trên mặt đất xốp, sau đó, ta sẽ trông thấy tiểu rác rến đầu tiên: một cái lon gỉ sét từng đựng Xốt Mì Ý Prince, chắc vậy, hoặc một chai sô-đa S’OK nhung nhúc bọ bị thu hút bởi chút sô-đa kem hoặc nước ngọt cáng lò dinh dính lợ lợ. Và rồi ta sẽ thấy ánh mặt trời loang loáng phản chiếu lên mảnh giấy bạc vướng trên cây. Ta còn bắt gặp lò xo giường (hoặc vấp phải nó, nếu đi mà không để ý dưới chân) hoặc khúc xương mà chú chó nào đó đã gặm và vứt lại.

Bản thân bãi rác không đến nỗi nào – thậm chí, nó còn có điểm thú vị là đằng khác. Theo quan điểm của Beverly là thế. Điểm gớm ghiếc (và có phần đáng sợ) là cách bãi rác dần dà mở rộng. dần dà hình thành vành đai tiểu rác rến này.

Cô tiến lại gần hơn; cây cối to dần, đa phần là cây linh sam, và các bụi cây thưa hẳn. Mòng biển í ới gọi nhau, rít ré bằng những tiếng quang quác chói tai, bầu không khí vương mùi khét do đốt rác.

Bên tay phải của Beverly, tựa vào gốc cây vân sam là chiếc tủ lạnh Amana gỉ sét. Liếc nhìn nó, Beverly mơ hồ nghĩ đến viên cảnh sát từng đến thăm lớp vào năm cô học lớp Ba. Ông dặn cả lớp những món đồ như tủ lạnh bị vứt đi tiềm tàng nhiều nguy hiểm – ví dụ, trẻ con có thể trèo vào trong lúc chơi trốn tìm và có thể bị ngạt đến chết. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, ai mà thèm chui vào cái tủ lạnh vừa bẩn vừa…

Cô nghe thấy tiếng hét, gần đến độ cô thiếu điều giật nảy, theo sau là tràng cười. Beverly nhoẻn cười. Hóa ra mọi người đều có mặt đây. Họ không ở phòng sinh hoạt nhóm vì mùi khói nên xuống chỗ này. Chắc họ đang ném đá vỡ chai hoặc bới rác tìm đồ.

Cô sải chân vội vã hơn, quên bẵng vết trầy do cú té ngã ban nãy, mở cờ trong bụng khi được gặp mọi người… được gặp cậu ấy , cậu con trai với mái tóc hung đỏ giống cô, được thấy cậu nở nụ cười nhếch mép lạ lùng theo cách rất riêng với mình. Cô biết mình còn quá nhỏ để yêu một chàng trai, ở cái tuổi này, cô chỉ đang “cảm nắng” mà thôi, nhưng thế thì sao kia chứ, cô vẫn yêu Bill đấy. Và rồi cô bước nhanh hơn, đôi giày patin vung vẩy nặng trịch trên vai, sợi dây của ná Hồng Tâm khẽ đập vào mông bên trái của cô.

Suýt chút nữa cô đã bước một mạch đến đó trước khi nhận ra ấy không phải hội bạn của mình mà là của Bowers.

Cô ra khỏi bụi cây, cách đó gần bảy mươi mét là mặt dốc nhất của bãi rác, với rác rến lóng lánh, ngồn ngộn như tuyết lở dọc theo triền dốc tức của bãi đá dăm. Xe ủi của ông Mandy Fazio im lìm phía bên trái. Nằm gần hơn trước mắt cô là đồng xác xe ô tô ngổn ngang. Cuối tháng, đống phế liệu này bị nghiền nát và vận chuyển đến Portland để tái chế, nhưng hiện giờ có hơn chục xác ô tô, có chiếc chỉ còn mỗi vành xe, có chiếc nghiêng sang bên, có dăm ba chiếc nằm ngửa như chó chết. Chúng được xếp thành hai hàng, Beverly đi giữa lối đi đầy rác rến và lởm chởm như cô dâu nổi loạn trong tương lai, thầm hỏi không biết cô có đủ sức bắn vỡ kính chắn gió bằng ná Hồng Tâm hay không. Một bên túi quần đùi màu xanh đựng đầy những viên bi nhỏ được cô trưng dụng làm đạn tập.

Giọng nói và tiếng cười đùa vang lên từ bên kia bãi xác ô tô, chếch về bên trái, ở rìa bãi rác. Beverly đi men theo xác xe cuối cùng, một chiếc Studebaker mất phần đầu xe. Tiếng chào của cô im bặt ngay trên môi. Cánh tay cô toan giơ lên vẫy không buông thõng xuống và bủn rủn xụi lơ.

Suy nghĩ ngượng ngùng đầy phẫn nộ của cô là: Ôi lạy Chúa tôi, tại sao bọn họ lại trần truồng thế kia?

Ngay sau đó, cô hoảng hồn nhận ra đối phương là ai. Cô đứng như trời trồng trước chiếc Studebaker chỉ còn một nửa, bóng đổ xuống gót của đôi giày cổ thấp. Trong khoảnh khắc ấy, cô hoàn toàn nằm trong tầm mắt của bọn chúng, chỉ cần một trong bốn đứa du côn đang ngồi thành vòng tròn kia ngẩng đầu lên, thể nào hắn cũng trông thấy cô, cô gái chỉ nhỉnh hơn chiều cao trung bình một chút, đôi giày patin vắt vẻo trên vai, một bên gối của đôi chân dài lòng ngóng còn rớm máu, mồm há hốc, má đỏ lựng.

Trước khi nhào ra sau chiếc Studebaker, cô nhận ra bọn chúng không trần truồng từ trên xuống dưới, chúng vẫn mặc áo, chỉ có quần dài và quần lót được kéo xuống chân, như thể phải đi cầu (trong cơn sốc, đầu óc của Beverly tự động tìm đến uyển ngữ mà cô được dạy lúc bé) – nhưng làm gì có chuyện bốn đứa con trai cùng đi cầu một lúc kia chứ?

Sau khi khuất khỏi bọn chúng, suy nghĩ đầu tiên của cô là rời khỏi đó – rời khỏi đó thật nhanh. Tim cô nện thình thịch trong lồng ngực, các thớ cơ căng lên vì adrenaline. Cô nhìn quanh, trông thấy những gì ban nãy cô không để ý lúc bước đến đây, tưởng nhầm tiếng nói mình nghe thấy là tiếng cười đùa của bạn bè mình. Dãy xác xe ô tô phía bên tay trái khá thưa – chúng không chen chúc xếp cạnh nhau như khoảng thời gian chừng một tuần trước khi máy nghiền biến chúng thành các khối kim loại lóng lánh. Trong lúc bước đến vị trí hiện tại, cô đã phô ra bản thân mình với đám côn đồ ấy; nếu cô lùi lại thì cô sẽ để lộ thêm lần nữa và khả năng cao lần này cô sẽ bị phát hiện.

Ngoài ra, cô còn cảm thấy một sự tò mò đáng xấu hổ: rốt cuộc bọn chúng đang làm trò gì vậy kìa?

Cô cẩn trọng nhìn qua chiếc Studebaker.

Henry và Victor Criss đang đứng quay mặt về phía cô. Patrick Hockstetter đứng bên trái Henry. Huggins Ợ Hơi quay lưng về phía cô. Cô phát hiện Ợ Hơi có mông to khủng khiếp và lông lá khủng khiếp, suýt chút nữa tiếng cười nắc nẻ đã dâng lên trong họng cô như thể cô vừa nốc một ly nước ngọt gừng. Cô phải bưng hai tay bịt miệng và rút ra sau chiếc Studebaker, cố gắng không phá lên cười.

Phải thoát khỏi đây thôi, Beverly. Nếu chúng bắt được thì…

Cô nhìn con đường giữa dãy xác xe, hai tay vẫn chưa buông khỏi miệng. Lối đi rộng chừng ba mét, bừa bãi lon thiếc, lấp lánh những mảnh thủy tinh Saf-T-Glas, lởm chởm đầy cỏ dại. Chẳng may cô phát ra tiếng động thì thể nào bọn chúng cũng nghe thấy… nhất là khi sự tập trung của chúng vào việc kỳ quặc chúng đang làm bị lung lay. Cứ nghĩ đến cảnh mình đã ngây thơ vô số tội mà bước thẳng đến đây là cô lại lạnh người. Với lại…

Rốt cuộc, bọn chúng đang làm trò gì vậy nhỉ?

Cô lén nhìn, lần này quan sát kỹ càng hơn. Gần đó là đống sách vở hổ lốn - sách giáo khoa đây mà. Bọn chúng vừa trở về từ lớp phụ đạo hè, mà ngày ấy, đa phần trẻ con hay gọi là Trường Ngu hoặc Trường Bịa Đặt. Henry và Victor đang quay mặt về phía cô nên cô có thể thấy cậu bé của bọn chúng. Đó là những cậu bé đầu tiên mà cô được tận mục sở thị, chứ không phải bức hình trong cuốn sổ nhỏ cáu bẩn mà năm ngoái cô từng được Brenda Arrowsmith cho xem, chưa kể mấy bức hình ấy mờ căm đến độ chẳng thấy được gì. Bev quan sát thấy cậu bé của bọn chúng trông như cái ống con con treo lủng lẳng giữa hai chân. Cậu bé của Henry vừa nhỏ vừa trụi lủi, trong khi của Victor tương đối lớn, phủ một lớp lông đen cứng bên trên.

Bill cũng có một cậu bé như vậy, cô nghĩ, bỗng dưng cả cơ thể của cô như đỏ lựng lên - sức nóng ập vào người cô như cơn sóng, khiến cô choáng váng, muốn xỉu và quặn cả bụng. Trong khoảnh khắc ấy, cảm giác của cô cũng giống cảm giác của Ben Hanscom vào ngày cuối cùng học kỳ, khi cậu nhìn xuống chiếc lắc chân cô đeo và nhìn nó phản chiếu lấp lánh dưới nắng… nhưng cậu không cảm thấy sự sợ hãi đan xen như cô lúc này.

Cô nhìn ra sau lưng thêm một lần nữa. Giờ thì con đường giữa hai hàng xe dẫn đến chỗ nấp ở Vùng Đất Cằn dường như càng xa xôi hơn. Cô sợ không dám cựa quậy. Nếu chúng phát hiện cô đã trông thấy cậu bé của chúng, chắc chúng cho cô một trận mất. Và không chỉ là một trận bình thường mà có khi còn là thừa sống thiếu chết.

Huggins Ợ Hơi chợt gầm lên, khiến cô nhảy dựng, và Henry gào rống: “Chín mươi xen-ti-mét! Ối tiên sư mày, Ợ Hơi! Chín mươi xen-ti-mét đó! Đúng không Vic?”

Vic gật gù đồng tình và bọn chúng cười ha hả.

Beverly bèn len lén nhìn thêm một lần ra sau xác chiếc xe Studebaker.

Patrick Hockstetter xoay người chồm hổm khiến bàn tọa của hắn gần như nằm ngay trước mặt Henry. Trong tay Henry là một thứ lấp lánh màu bạc. Sau một hồi căng mắt ra nhìn, cô nhận ra đó là bật lửa.

“Tao tưởng mày cảm thấy sắp đánh được phát nữa kia mà,” Henry nói.

“Ừ, có mà,” Patrick đáp. “Đến lúc đó tao sẽ nói với mày. Chuẩn bị đi! …Chuẩn bị đi, sắp đến rồi! Chuẩn… đến rồi đây !”

Henry bật lửa lên. Cùng lúc, tiếng đánh rắm xé toạc không gian vang lên. Chắc chắn là tiếng đánh rắm, không còn nghi ngờ gì nữa, bởi Beverly đã nghe tiếng động ấy rất nhiều lần trong nhà, thường là vào tối thứ Bảy, sau khi cả nhà ăn món xúc xích và đậu đóng hộp. Bố cô có niềm đam mê to lớn với món đậu. Khi Patrick đánh rắm còn Henry bật lửa, cô trông thấy cảnh tượng khiến cô há hốc mồm kinh ngạc. Một ngọn lửa màu xanh sáng phụt thẳng từ lỗ hậu của Patrick. Bev thấy nó trông giống ngọn lửa màu xanh trên bếp ga.

Đám con trai lại phá lên cười khùng khục, còn Beverly lẳng lặng lùi ra sau chiếc xe mình đang nấp, cười nắc nẻ như được mùa. Ừ thì cô cười song không phải vì cô thấy vui thú gì cho cam. Từ góc độ quái dị nào đó thì hành động ấy vui thật, nhưng chủ yếu cô cười là bởi cô cảm nhận được sự ghê tởm đến cùng cực, đi cùng nỗi sợ hãi. Cô cười vì cô chẳng biết cách nào khác để đối chọi với cảnh tượng mình vừa trông thấy. Đúng là nó có liên quan đến việc trông thấy cậu bé của đám con trai ấy, nhưng đó hoàn toàn không phải nguyên nhân chính yếu cho cảm xúc của cô lúc này. Suy cho cùng, cô thừa biết con trai phải có thứ đó , giống như cô hiểu con gái lại có những thứ khác ; đây chỉ là cảnh tượng xác nhận mà thôi. Nhưng hành động còn lại của chúng thật kỳ khôi, thật ngu ngốc và đồng thời ăn lông ở lỗ đến phát sợ, tới mức cô nhận ra dù mình đang cười như điên như dại, cô phải chật vật lắm mới giữ được bình tĩnh.

Thôi đi, cô nghĩ, như thể ấy là câu trả lời, thôi đi, chúng nghe thấy mày bây giờ, mày thôi ngay đi, Bevvie !

Nhưng đó là điều bất khả. Cô chỉ biết cố hết sức để cười mà không đụng vào dây thanh đới, như vậy âm thanh phát ra từ họng cô chỉ là một chuỗi những tiếng khục khặc gần như vô âm, tay đè chặt lên miệng, mặt đỏ như gấc và mắt ầng ậng lệ.

“Tiên sư, đau bỏ mẹ!” Victor rống.

“Ba mét sáu!” Henry ầm ĩ gào lên. “Tao thề với Chúa, Vic ơi, ba mét sáu! Tao lấy danh dự tao ra thề đấy!”

“Có là sáu mét tao cũng cóc quan tâm, mày đốt mông tao rồi đây này!” Victor giãy nảy như đỉa phải tôi, và bọn chúng càng được đà ha hả cười. Vẫn cố gắng nén tiếng cười đằng sau chiếc xe, Beverly nghĩ đến bộ phim cô xem trên ti vi. Nội dung phim nói về bộ tộc nọ sống trong rừng có một nghi thức bí mật, và nếu chứng kiến thì ta sẽ bị hiến tế cho vị thần mà họ thờ, trong phim là bức tượng to tướng. Nghĩ đến đây, tràng cười của cô không tắt ngúm mà còn có phần gấp gáp hơn. Càng lúc, chúng càng biến tướng thành những tiếng hét trong câm lặng. Bụng cô quặn đau và nước mắt giàn giụa chảy xuống má.

3

Vào buổi chiều tháng Bảy nóng nực ấy, Henry, Victor, Ợ Hơi và Patrick Hockstetter mò xuống bãi rác châm lửa thắp những cú đánh rắm là nhờ công của Rena Davenport.

Henry thừa biết ăn một đống đậu hầm sẽ dẫn tới hệ quả gì. Có lẽ hệ quả ấy được miêu tả cô đọng và súc tích nhất trong bài hát bố truyền con nối lúc hắn còn ở cái tuổi miệng còn hôi sữa: Đậu ơi đậu à, ăn nào vui tai! Càng ăn càng bủm! Càng bủm càng phê! Bủm xong ăn tiếp!

Rena Davenport và bố của hắn đã qua lại với nhau gần tám năm nay. Bà ta ở tuổi tứ tuần, ú na ú nần và dơ dáy bẩn thỉu, Henry đoán hẳn bà Rena này và bố hắn thỉnh thoảng mây mưa với nhau, nhưng hắn chẳng tài nào tưởng tượng nổi có kẻ đủ sức lách người xuống tạ thịt của Rena Davenport.

Rena hết sức tự hào về đậu mình trồng. Cứ đến tối thứ Bảy, bà ta lại ngâm chúng qua đêm và hầm liu riu trên lửa suốt ngày Chủ nhật. Henry nghĩ chúng cũng tạm – suy cho cùng đấy chỉ là thứ tống vào mồm và nuốt thôi mà – nhưng ăn suốt tám năm thì đến sơn hào hải vị cũng nhạt toẹt.

Vấn đề là Rena không chỉ làm ít đậu cho vui; bà ta đã nấu là nấu tới bến. Tối Chủ nhật, khi bà ta qua nhà hắn trong con xe De Soto cũ màu xanh (gương chiếu hậu trong xe treo một con búp bê cao su trần truồng, trông chẳng khác nào nạn nhân trẻ nhất thế giới bị dân tình xử tử), trên ghế cạnh ghế lái là một xô sắt mạ kẽm dung tích 45 lít đựng đậu đang nghi ngút khói cho nhà Bowers. Và rồi tối đó, ba người bọn họ sẽ ăn đậu với nhau (Rena nói tràng giang đại hải về tài nấu nướng của mình, lão Butch Bowers điên khùng càu nhàu quết miếng bánh mì Sonny Boy vào nước xốt đậu hoặc cục súc bảo bà ta im mồm nếu trên đài đang phát trận banh, Henry chỉ lẳng lặng ăn, mắt chằm chằm nhìn ra ngoài cửa sổ, mải mê đuổi theo suy nghĩ riêng của mình: chính nhờ đĩa đậu vào tối Chủ nhật mà hắn nảy ra ý tưởng đầu độc chú chó Mr Chips của Mike Hanlon), và tối hôm sau, Butch lại hâm nóng mớ hổ lốn ấy để ăn tiếp. Vào thứ Ba và thứ Tư, Henry sẽ xách theo một hộp Tupperware đựng đầy đậu đến trường. Đến thứ Năm và thứ Sáu, cả Henry cùng bố hắn đều đã ngán đến tận cổ. Hai phòng ngủ trong nhà thum thủm toàn mùi đánh rắm dù đã mở mọi cửa sổ cho thoáng. Butch sẽ đem đống đậu còn lại trộn với những thứ thừa thãi khác cho hai con heo Bip và Bop mà nhà Bowers nuôi. Và có lẽ phải đến Chủ nhật kế tới, Rena mới xuất hiện cùng cái xô nghi ngút khói, để rồi chu kỳ lại bắt đầu.

Sáng hôm ấy, Henry đã khăn gói xách theo đống đậu thừa để bốn đứa trong hội ăn trưa dưới bóng cây du sum suê giữa sân chơi. Chúng hùng hục ăn đến độ thiếu điều vỡ bụng.

Patrick là kẻ gợi ý cả đám đi đến bãi rác, một nơi tương đối yên tĩnh giữa buổi chiều mùa hạ mà người lớn đều đi làm. Lúc cả bọn đến nơi, đống đậu đã phát huy hiệu quả tương đối tốt.

4

Dần dà, Beverly bình tĩnh trở lại. Cô biết mình phải rời khỏi đây: suy cho cùng, tránh voi chẳng xấu mặt nào, lảng vảng ở đây nguy hiểm hơn. Dù sao chăng nữa, chúng đang mải mê vào thứ mình đang làm, và nếu tình hình bung bét, chí ít cô vẫn có lợi thế khi khởi đầu trước bọn chúng (và đâu đó trong đầu mình, cô cũng đã chuẩn bị tinh thần bất lắm, cô sẽ dùng ná Hồng Tâm bắn vài phút để làm chúng chùn bước).

Cô sắp sửa lén lút bỏ đi thì Victor lên tiếng, “Tao phải đi đây, Henry. Chiều nay ông già tao bắt tao về phụ hái bắp.”

“Ôi trời,” Henry gạt đi. “Không có mày, ông ấy không chết đâu.”

“Thôi đi, ông già đang điên tiết với tao. Vì chuyện xảy ra hôm nọ đấy.”

“Tiên sư ông bô mày, có thế mà cũng để bụng.”

Beverly lắng tai nghe, cô đoán chúng đang nói về vụ ẩu đả khiến Eddie gãy tay hôm trước.

“Thôi, tao phải về đây.”

“Chắc nó thốn bàn tọa,” Patrick nói.

“Mày coi chừng cái mồm đó, thằng khốn.” Victor gầm gừ. “Tao cho mày thốn thật bây giờ.”

“Tao cũng phải về đây,” Ợ Hơi nói.

“Ông già mày cũng sai mày hái bắp à?” Henry bực mình. Trong đầu, có lẽ Henry xem đây là một câu đùa, bởi bố của Ợ Hơi đã qua đời.

“Không. Tao phải đi giao Tuần san Mua sắm . Tối nay tao có lịch.”

Tuần san Mua sắm là giống ôn dịch gì?” Henry hỏi, vừa cau có vừa tức tối.

“Là công việc ,” Ợ Hơi kiên nhẫn giả thích. “Tao phải kiếm tiền mà.”

Henry hừ mũi đầy trịch thượng, Beverly lén lút nhìn ra sau xe. Victor và Ợ Hơi đang đứng cài thắt lưng. Henry và Patrick vẫn ngồi xổm, quần tụt xuống. Bật lửa lấp lánh trong tay Henry.

“Mày không kiếm cớ lủi về chứ hả, thằng kia?” Henry hỏi Patrick.

“Không,” Patrick chỏng lỏn.

“Mày không phải đi hái bắp hay làm dăm ba cái công việc vớ vẩn à?”

“Không,” Patrick lại đáp.

“Thôi,” Ợ Hơi ngần ngừ nói, “gặp mày sau nhé, Henry.”

“Ừ rồi,” Henry lạnh nhạt, khạc nước bọt gần chiếc giày lao động đầy bùn đất của Ợ Hơi.

Vic và Ợ Hơi cùng đi về phía hai hàng xe ô tô đồng nát… về phía chiếc xe Studebaker mà Beverly đang trốn đằng sau. Đầu tiên, cô chỉ biết co rúm, sững người lại vì sợ. Đoạn cô vòng qua phía bên trái chiếc Studebaker và ngồi thụp xuống khoảng trống giữa nó cùng các chiếc Ford cũ nát, không có cửa. Cô khựng lại trong giây lát, đảo mắt nhìn hai phía, lắng nghe chúng tiến lại. Cô lưỡng lự, miệng khô khốc, lưng ngứa ngáy vì mồ hôi; một phần tâm trí ngây ngô tự hỏi không biết trông cô sẽ ra sao khi bó bột như Eddie, chi chít chữ ký của các thành viên trong Hội Cùi bắp. Đoạn cô nhào vào ghế hành khách của chiếc xe Ford. Cô cuộn tròn người trên tấm trải dơ dáy, rúm ró hết mức có thể. Trong chiếc Ford đồng nát nóng như vạc dầu, đầy mùi bụi bặm, mùi ghế da mục nát, mùi cứt chuột lâu ngày khiến cô phải chật vật lắm mới không hắt xì hay ho sặc sụa. Cô nghe thấy tiếng Ợ Hơi và Victor đi ngang qua, rì rầm nói chuyện. Rồi chúng đi mất dạng.

Đưa tay lên bụm miệng, cô hắt xì ba lần, khẽ khọt và vội vàng.

Cô đoán nếu cẩn thận thì mình có thể rời khỏi đây. Cách tốt nhất là dịch sang bên ghế lái của chiếc xe Ford, lén lút lỉnh vào lối đi ban nãy rồi cao chạy xa bay. Cô đoán mình có thể xoay xở, song dư chấn từ việc suýt chút nữa bị phát hiện khiến cô nao núng, chí ít tạm thời là vậy. Cô cảm thấy an toàn hơn trong chiếc xe Ford. Và có lẽ vì Victor và Ợ Hơi đã rời khỏi đây, có lẽ hai kẻ còn lại cũng sớm ra về. Khi đó, cô sẽ có thể quay lại phòng sinh hoạt nhóm. Cô chẳng còn hứng thú tập bắn nữa.

Thêm nữa, cô đang buồn đi vệ sinh.

Nào, cô nghĩ thầm. Nào nào, mau rời khỏi đây đi, rời khỏi đây đi, XIN BỌN MÀY!

Chốc sau, cô nghe thấy tiếng Patrick ré lên vừa cười ha hả vừa la oai oái vì đau.

“Một mét tám!” Henry la ỏm tỏi. “Chẳng thua gì đèn hàn! Tao thề với Chúa!”

Tiếp theo là một sự im lặng. Mồ hôi chảy ròng ròng trên lưng cô. Mặt trời hầm hập chiếu xuống gáy cô qua tấm kính chắn gió vỡ vụn của chiếc xe Ford. Bàng quang cô nặng như chì.

Henry hét thất thanh khiến Beverly, lúc này đang lơ mơ ngủ dù người rất khó chịu, suýt chút nữa kêu lên. “Mả bố mày, Hockstetter! Mày đốt bàn tọa tao rồi! Mày làm cái trò gì với bật lửa vậy hả?”

“Ba mét,” Patrick cười khúc khích (nội tiếng cười của hắn đã khiến Bev lạnh gáy và ghê tởm, như thể cô vừa trông thấy con giun quắn quéo bò ra khỏi đĩa rau trộn). “Ba mét chuẩn từng ly từng tí nhé, Henry. Lửa bừng bừng xanh luôn. Ba mét chuẩn từng ly. Tao thề với Chúa!”

“Đưa tao coi,” Henry gầm gừ.

Trời ơi, trời ơi, lũ chết băm chết vằm kia, đi đi, đi khỏi đây mau!

Khi Patrick cất tiếng lần nữa, giọng hắn trầm thấp đến độ Bev mãi mới nghe ra. Nếu buổi chiều nóng như thiêu ấy mà có chút gió, chắc cô đã không nghe được lời chúng nói.

“Để tao cho mày xem thứ này,” Patrick lên tiếng.

“Gì?” Henry hỏi.

“Thứ này,” Patrick dừng lại. “Đã lắm.”

“Cái gì?” Henry hỏi lại lần nữa. Và rồi không gian rơi vào im lặng.

Mình không muốn nhìn, mình không muốn nhìn điều bọn chúng đang làm, hơn thế nữa, lỡ bọn chúng thấy mình thì chết, mà khả năng cao chúng sẽ thấy mình cho xem, vì mày đã dùng hết may mắn hôm nay rồi, cô gái ơi. Nên cứ ở yên đấy đi. Đừng nhìn lén…

Nhưng cơn tò mò đã lấn át mọi lý trí. Trong bầu không khí lặng như tờ ấy có gì đó thật lạ, thật đáng sợ. Cô chậm rãi vươn đầu lên cho đến khi có thể quan sát qua kính chắn gió đóng bụi và vỡ nát của chiếc Ford. Thật ra cô không cần phải lo bị phát hiện: hai tên du côn kia đang dồn hết tâm trí vào thứ Patrick đang làm. Lúc ấy, cô chưa hiểu cảnh tượng mình trông thấy, song cô hiểu hành động ấy rất gớm guốc… chứ cô mong đợi được gì ở một kẻ người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm như Patrick kia chứ.

Hắn để một tay giữa đùi Henry, tay còn lại giữa đùi mình. Một tay Patrick nhẹ nhàng vuốt ve cậu bé của Henry, và hắn dùng tay còn lại để chà xát cậu bé của mình. Nhưng không hẳn là chà xát – nói sao nhỉ, trông hắn như đang… bóp nó, kéo nó lên rồi èo uột thả nó xuống.

Hắn ta làm gì vậy kìa? Beverly băn khoăn tự hỏi.

Cô không biết chắc câu trả lời, nhưng nó khiến cô sợ. Cô nghĩ lần cuối cùng cô cảm thấy sợ hãi đến nhường này là lúc máu phọt lên từ lỗ thoát nước trong bồn rửa mặt và bắn tung tóe khắp nhà vệ sinh. Đâu đó trong tâm khảm cô gào thét: nếu bọn chúng phát hiện cô trông thấy cảnh tượng này, bất kể hành động ấy là gì, chúng sẽ không chỉ đánh đập cô mà có khi còn tiễn cô lên chầu trời. Nhưng cô vẫn không tài nào rời mắt.

Cô trông thấy thứ đó của Patrick dài hơn một chút nhưng không nhiều; nó vẫn lủng lẳng giữa hai chân hắn ta như con rắn không xương. Còn thứ của Henry lại to hẳn ra, dựng đứng cứng ngắc, thiếu điều đụng đến lỗ rốn. Patrick đưa tay lên xuống liên tục, có lúc dừng lại để bóp, lúc khác lại cù vào phần da kỳ cục trì xuống dưới thứ đó của Henry.

Ấy, là bi của hắn, Beverly thầm nghĩ. Con trai phải mang thứ đó trên người mọi lúc mọi nơi sao? Chúa ơi, mình phát điên mất! Một phần khác trong tâm trí cô thì thầm: Bill cũng có chúng đấy. Cô chưa cho phép thì tâm trí đã tự tiện mường tượng đến cảnh cô nắm lấy chúng, ấp trong lòng bàn tay, cảm nhận lớp da… và cảm giác nóng bừng lại vụt qua người, khiến mặt cô đỏ bừng.

Henry nhìn chằm chằm vào tay của Patrick như kẻ bị thôi miên. Bật lửa của hắn nằm chỏng chơ trên mặt đá bên cạnh, loang loáng dưới ánh mặt trời chói chang.

“Mày có muốn tao cho vào miệng không?” Patrick hỏi. Cặp môi to tướng như hai miếng gan của hắn nở nụ cười sung sướng.

“Hả?” Henry hỏi, như thể vừa giật mình tỉnh mộng.

“Tao sẽ cho nó vào miệng nếu mày muốn. Tao không thấy…”

Tay của Henry vung thẳng, nắm hờ, nhưng không thành nắm đấm. Patrick bị hất ngã bật ra đất. Đầu hắn đập xuống mặt sỏi. Beverly vội thụp xuống, trống ngực nện thình thịch, hai hàm răng cắn chặt để ngăn tiếng rên hốt hoảng vang lên. Sau khi đẩy ngã Patrick, Henry quay người và trong một khắc, trước khi cô kịp thụp xuống, co rúm người trên sàn ghế hành khách, dường như mắt cô và mắt Henry giao nhau.

Chúa ơi, con xin Người cho mặt trời chiếu vào mắt hắn, cô cầu nguyện. Chúa ơi, con xin lỗi vì đã nhìn trộm. Chúa ơi, con xin Người.

Một khoảng lặng chẳng khác nào địa ngục trôi qua. Chiếc áo trắng của cô bết vào người vì mồ hôi. Mồ hôi đọng thành giọt trên cánh tay rám nắng. Bàng quang cô quặn đau. Cô cảm thấy mình sắp đái ra quần đến nơi. Cô chờ đợi khuôn mặt nộ khí xung thiên của Henry xuất hiện ở khoảng trống ngày trước từng là cánh cửa hành khách của chiếc xe Ford, chắc hẳn điều đó sẽ xảy ra - hắn không thấy cô mới lạ. Thể nào hắn cũng kéo cô ra ngoài và cho cô một trận. Hắn sẽ…

Một suy nghĩ mới và còn khủng khiếp hơn hiện lên trong đầu cô, để rồi cô phải trầy trật, đau đớn nín nhịn để không bĩnh ra quần. Nhỡ đâu hắn dùng thứ đó làm gì cô thì sao? Nhỡ đâu hắn muốn đưa thứ đó vào người cô thì sao? Cô biết thứ đó được nhét vào đâu, cô biết chứ, dường như kiến thức ấy chợt nhảy vào đầu cô. Chỉ cần nghĩ đến chuyện Henry đưa thứ đó vào thân thể mình là cô lại thấy đầu óc mình như muốn phát điên.

Chúa ơi, con xin Người, đừng để hắn thấy con, con xin Người mà?

Đoạn Henry cất tiếng, và trong tâm trí càng lúc càng hoảng sợ của cô, giọng hắn vang lên sát sàn sạt. “Tao không chơi trò đồng bóng.”

Xa hơn một chút là giọng Patrick: “Mày thích mà.”

“Tao không có thích!” Henry hét lên. “Và nếu mày bép xép với ai, tao sẽ giết mày, thằng khốn chết toi!”

“Mày cương rồi kìa,” Patrick nói. Dường như hắn đang mỉm cười. Dù rất sợ Henry Bowers nhưng không hiểu sao Beverly không thấy bất ngờ trước nụ cười của Patrick. Bởi hắn là một thằng điên, có khi còn điên hơn cả Henry, và kẻ điên cỡ đó thì chẳng sợ gì sất. “Tao thấy mà.”

Tiếng bước chân sàn sạt đi trên sỏi – càng lúc càng gần hơn. Beverly ngước lên, mắt lồi ra. Qua cửa kính chắn gió cũ của chiếc Ford, cô có thể trông thấy gáy của Henry. Hắn đang nhìn về phía Patrick, nhưng chỉ cần hắn quay đầu…

“Nếu mày kể với bất cứ ai, tao sẽ nói mày là thằng bú cu,” Henry dọa dẫm. “Rồi tao sẽ giết mày cho xem.”

“Mày tưởng tao sợ mày à, Henry,” Patrick nói và cười khúc khích. “Nhưng tao sẽ giữ kín nếu mày cho tao một đô.”

Henry nhấp nhổm khó chịu. Hắn khẽ quay người; giờ thì Beverly có thể thấy phần tư khuôn mặt hắn chứ không chỉ phần gáy. Chúa ơi, con xin Người, con xin Người, cô cuống cuồng cầu xin, bàng quang càng lúc càng giật mạnh.

“Nếu mày dám kể ra,” Henry nói, giọng trầm gằn từng tiếng, “tao sẽ mách chuyện mày làm với đám mèo, đám chó nữa. Tao sẽ kể với mọi người về tủ lạnh của mày. Mày biết hậu quả sẽ ra sao chứ hả, Hockstetter? Người ta sẽ đến và đưa mày vào nhà thương điên cho xem.”

Patrick im lặng.

Henry gõ ngón tay lên nắp chiếc Ford mà Beverly đang trốn. “Mày có nghe tao nói gì không?”

“Tao nghe rồi,” Patrick có vẻ rầu rĩ. Rầu rĩ và sợ hãi. Hắn tuôn ra một tràng: “Mày thích mà! Mày cương lên còn gì! Tao chưa thấy ai cương kinh thế!”

“Ờ, chắc mày thấy nhiều rồi chứ gì, thằng bê đê chết băm chết vằm nhà mày. Mày liệu hồn mà nhớ những gì tao nói về cái tủ lạnh đấy. Cái tủ lạnh của mày . Và nếu tao thấy mày lảng vảng, đừng trách tao tương cho mày sống dở chết dở.”

Patrick lại tiếp tục im lặng.

Henry bỏ đi. Beverly quay đầu và nhìn thấy hắn đi ngang qua phía ghế lái của chiếc Ford. Hắn chỉ cần liếc sang bên trái một chút thôi, thể nào cũng trông thấy cô. Nhưng may sao hắn không nhìn. Chốc sau, cô nghe thấy hắn bỏ đi theo hướng Victor và Ợ Hơi ban nãy.

Và giờ chỉ còn Patrick.

Beverly chờ đợi nhưng không có chuyện gì xảy ra. Năm phút nữa lững lờ trôi qua. Cô buồn đi vệ sinh không chịu được. Chắc cô chỉ nín được thêm hai hoặc ba phút, không hơn. Và cô cảm thấy sốt ruột khi không biết Patrick đang ở đâu.

Cô lén nhìn qua kính chắn gió và trông thấy hắn ngồi đó. Henry bỏ quên bật lửa. Patrick đã xếp đống sách giáo khoa vào chiếc túi vải nhỏ rồi vòng nó qua cổ như mấy cậu bé giao báo, nhưng quần dài và quần lót của hắn vẫn tụt xuống mắt cá chân. Hắn ngồi vọc bật lửa. Hắn gạt bánh răng, tạo ra ngọn lửa gần như vô hình trong ánh sáng ban ngày, đoạn lại tắt bật lửa rồi lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác. Hắn say sưa như bị thôi miên. Một vết máu chảy từ khóe miệng xuống cằm, môi phải của hắn sưng vù. Có vẻ hắn chẳng buồn quan tâm, và một lần nữa, Beverly lại cảm thấy chộn rộn đến buồn nôn. Patrick đúng là kẻ điên khùng; từ lúc bố sinh mẹ đẻ đến giờ, cô chưa từng muốn né xa người nào đến thế.

Di chuyển thật cẩn thận, cô bò qua sàn chiếc Ford và lách xuống dưới vô lăng. Cô đặt chân lên mặt đất và lén lút ra sau chiếc Ford. Đoạn cô co giò chạy thật nhanh ngược lại hướng mình đến. Khi đã vào rặng thông liền kề bãi xe, cô quay đầu nhìn sau lưng. Không có ai ở đó. Bãi rác im lìm dưới ánh mặt trời. Cô cảm thấy nhẹ nhõm hơn, ngực và bụng bớt căng như dây đàn, và giờ cô chỉ muốn giải quyết nỗi buồn cho xong, nỗi buồn lớn đến nỗi cô thấy muốn đổ bệnh rồi đây.

Cô vội vàng men theo con đường thêm một đoạn rồi lách sang phải. Vừa vào bụi rậm là cô mở khóa quần. Cô liếc nhìn xung quanh để chắc chắn không có thường xuân độc; đoạn cô ngồi thụp xuống, tay gá lên thân cây xù xì để giữ thăng bằng.

Đang kéo quần lên thì cô nghe thấy tiếng bước chân tiến lại từ bãi rác. Qua bụi cây, cô chỉ trông thấy thấp thoáng màu xanh của chiếc quần jean và áo ca rô đồng phục trường đã bạc thếch. Là Patrick. Cô cúi xuống, đợi hắn đi ngang qua, tiến về phía đường Kansas. Cô thấy vững tâm hơn về vị trí hiện tại của mình. Bụi cây che chắn khá tốt, cô cũng không buồn đi vệ sinh nữa, và Patrick thì đang thả hồn trong thế giới chẳng giống ai. Khi hắn đi rồi, cô sẽ quay ngược lại về phía phòng sinh hoạt nhóm.

Nhưng Patrick không bỏ đi. Hắn dừng lại, gần như đối diện cô và đứng nhìn chiếc tủ lạnh Amana cũ gỉ.

Beverly có thể quan sát Patrick trong bụi cây um tùm mà không lo bị phát hiện. Khi đã nhẹ nhõm trở lại, máu tò mò một lần nữa dâng lên trong cô – và rủi may bị Patrick trông thấy, cô dám chắc mình có thể chạy nhanh hơn hắn. Hắn không mập như Ben nhưng cũng khá phệ. Tuy nhiên, cô vẫn lôi sẵn ná Hồng Tâm ra khỏi túi sau và nhét chừng năm, sáu viên bi sắt vào túi áo Ship’n Shore trên ngực. Bị bắn thẳng vào đầu gối thì dù điên hay không điên, thể loại như Patrick Hockstetter cũng sẽ nao núng trong một nốt nhạc.

Cô nhớ chiếc tủ lạnh này rồi. Trong bãi rác có rất nhiều tủ lạnh bị vứt đi, nhưng cô chợt nhận ra đây là chiếc tủ lạnh duy nhất cô từng thấy mà không bị ông Mandy Fazio tháo dỡ bằng cách dùng kìm bẻ chốt hoặc đơn giản là gỡ hẳn cửa tủ.

Patrick bắt đầu ngân nga và ngả nghiêng trước chiếc tủ lạnh gì sét, trông thấy thế, Beverly lại cảm thấy cả người mình lạnh ngắt. Hắn ta giống nhân vật trong phim kinh dị, kẻ tìm cách triệu hồi người chết đội mồ sống dậy.

Hắn ta làm gì vậy kìa?

Nhưng nếu biết câu trả lời, hoặc biết điều sắp sửa xảy ra khi Patrick hoàn thành nghi thức tự biên tự diễn kia rồi mở cánh cửa tủ lạnh Amana gỉ sét ra, hẳn cô sẽ bỏ của chạy lấy người ngay lập tức.

5

Không một ai – kể cả Mike Hanlon – lờ mờ biết được Patrick Hockstetter thật ra điên rồ đến mức nào. Hắn mười hai tuổi, con trai một người bán sơn. Mẹ hắn là tín đồ Công giáo mộ đạo, qua đời vì ung thư vú năm 1962, bốn năm sau khi Patrick thiệt mạng dưới tay thế lực đen tối tồn tại bên trong và ẩn tàng bên dưới Derry. Mặc dù bài kiểm tra IQ cho kết quả bình thường thấp, Patrick đã học đúp đến hai lần: lớp Một và lớp Ba. Năm nay, hắn phải học phụ đạo hè để không phải ở lại lớp Năm. Giáo viên nhận xét hắn thờ ơ với việc học (đây là điều nhiều giáo viên đã phê vào sáu dòng trên sổ liên lạc trường Tiểu học Derry ở phần NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN) và là một học sinh tương đối phiền phức (không ai phê điều này - cảm giác của các thầy cô quá mơ hồ, quá rối ren, viết sáu mươi dòng còn chưa đủ chứ nói gì đến sáu dòng). Nếu sinh ra trễ hơn mười năm, cố vấn hướng dẫn có thể đã hướng hắn đến gặp nhà tâm lý học cho trẻ em để người này có thể (hoặc không, vì Patrick tinh ranh hơn chỉ số IQ kém cỏi mà hắn kiểm tra rất nhiều) sớm nhận ra những chiều kích đáng e ngại đằng sau khuôn mặt tròn lẳn chậm chạp và bợt bạt kia.

Hắn căm ghét xã hội, và có lẽ đến tháng Bảy nóng nực năm 1958, hắn đã hoàn toàn biến thành một kẻ thần kinh. Hắn nhớ mình chưa từng một lần tin rằng người khác – hay nói đúng hơn là bất cứ sinh vật sống nào khác – thật sự “tồn tại” trên đời. Hắn cho rằng bản thân hắn mới là sinh vật thật sự, có lẽ là sinh vật thật sự duy nhất trên vũ trụ này, nhưng cái “thật sự” ấy không khiến hắn tin mình “tồn tại”. Chính xác thì hắn hờ hững với bạo lực, cũng chẳng cảm thấy đau đớn khi bị hành hung (điển hình là lúc hắn không phản ứng khi bị Henry đấm vào mồm ở bãi rác). Nhưng dù thấy thực tại là một khái niệm hoàn toàn vô nghĩa, hắn hoàn toàn thấu triệt khái niệm “luật lệ”. Và dù tất cả giáo viên đều thấy hắn kỳ dị (cả cô Douglas, giáo viên lớp Năm, và cô Weems, giáo viên lớp Ba, đều biết về hộp bút đựng toàn ruồi chết của Patrick, nhưng dù ý thức được nguy cơ tiềm tàng, mỗi cô giáo đã xoay như chong chóng khi phải quản từ hai mươi đến hai mươi tám học sinh, mỗi đứa trẻ lại có vấn đề riêng), không ai có vấn đề nghiêm trọng về mặt kỷ luật với hắn. Đúng là nhiều khi hắn nộp bài kiểm tra trống trơn – hoặc trống trơn và tô điểm bởi dấu hỏi to tướng - và cô Douglas rút ra được rằng tốt nhất không cho hắn lại gần các học sinh nữ để tránh hắn táy máy sờ soạng, nhưng hắn lúc nào cũng im như thóc, im đến độ lắm lúc hắn chẳng khác nào đống đất sét to tướng được nặn sơ sài mang hình dáng con người. Rất dễ để là một kẻ xuống cấp trong im lặng như Patrick khi giáo viên còn phải đối mặt với những nam sinh như Henry Bowers hay Victor Criss, những thành phần gây chuyện và xấc láo, những kẻ sẵn sàng trộm tiền sữa hoặc vui sướng phá hoại trường lớp nếu có cơ hội, và những nữ sinh không may như Elizabeth Taylor, cô bé bị động kinh với dăm ba tế bào não họa hoằn lắm mới hoạt động, một cô bé phải dặn dò can ngăn mãi mới không kéo váy lên trong sân trường để khoe quần chíp mới. Nói cách khác, trường Tiểu học Derry là một vũ đoàn giáo dục lắm cảnh nhiễu nhương hết sức điển hình, một gánh xiếc với nhiều khán đài biểu diễn mà một kẻ như Pennywise còn chẳng lo quá nổi bật. Chắc hẳn không một ai trong số các giáo viên của Patrick (hay thậm chí là bố mẹ hắn) ngờ được rằng lúc lên năm tuổi, Patrick chính là kẻ giết chết đứa em Avery mới sinh của mình.

Patrick không lấy làm vui thích khi mẹ nó đưa Avery từ bệnh viện về nhà. Nó chẳng buồn quan tâm (hoặc chí ít, ban đầu nó tự nhủ với bản thân như thế, liệu bố mẹ nó có hai con, năm con hay năm mươi con, miễn là đám con nít ấy không làm xáo trộn thời gian biểu của nó. Nhưng Avery lại phá bĩnh nó. Bữa ăn trễ hơn. Tối đến, đứa trẻ khóc ré lên làm nó thức giấc. Bố mẹ nó cứ bám rịt lấy cái cũi, và khi nào nó tìm cách thu hút sự chú ý của bố mẹ là y như rằng đều thất bại. Đó là một trong những lần ít ỏi Patrick cảm thấy sợ hãi. Nó chợt suy luận nếu bố mẹ đưa cái thằng Patrick nó từ bệnh viện về, và nếu nó thật sự tồn tại, thì Avery cũng thật sự tồn tại. Và rồi khi Avery lớn lên, biết đi, biết nói, có đủ khả năng mang tờ Derry News từ thềm nhà vào cho bố và đủ sức lấy tô cho mẹ khi bà nướng bánh, khéo bố mẹ sẽ quyết định tống khứ Patrick đi cũng nên. Vấn đề không phải nó sợ bố mẹ thương Avery hơn (dù theo Patrick cảm nhận, rõ ràng bố mẹ thương đứa trẻ ấy hơn nó rất nhiều, và trong trường hợp này, đánh giá của nó có lẽ là đúng). Điều nó quan tâm là (1) luật lệ đang bị phá vỡ và lộn tùng phèo kể từ lúc Avery xuất hiện, (2) có khả năng Avery thực sự tồn tại và (3) có thể bố mẹ sẽ vứt bỏ nó để thay bằng Avery.

Thế rồi chừng 2 giờ 30 phút một chiều nọ, Patrick bước vào phòng của Avery, khi xe buýt đưa rước của trường thả nó xuống sau buổi học trên trường mầm non. Lúc ấy đang là tháng Một. Bên ngoài, tuyết bắt đầu rơi. Cơn gió mạnh hun hút thổi qua công viên McCarron, khiến cửa sổ phủ sương giá lạch cạch va đập ở tầng trên. Mẹ của nó đang chợp mắt trong phòng bà; Avery la khóc ỏm tỏi cả tối hôm qua. Bố nó đang đi làm. Avery nằm sấp, say sưa ngủ, đầu ngoẹo sang một bên.

Với khuôn mặt tròn quay vô hồn, Patrick xoay đầu Avery sao cho mặt đứa trẻ ép thẳng xuống gối. Avery khụt khịt kêu lên rồi quay đầu sang bên. Nhìn cảnh này, Patrick đứng ngây ra ngẫm nghĩ một lát trong lúc tuyết tan dưới đôi bốt vàng và đọng thành vũng dưới sàn. Có lẽ khoảng năm phút trôi qua (đầu óc nhanh nhạy không phải đặc điểm của Patrick), đoạn nó xoay mặt Avery vào gối lần nữa và giữ chặt một lúc. Avery quẫy đạp dưới tay nó, vùng vẫy. Nhưng đứa bé vùng vẫy yếu ớt. Patrick buông tay. Avery lại ngoẹo đầu sang bên, khọt khẹt khóc khe khẽ rồi thiếp đi. Gió gào thét ngoài kia, cửa sổ không ngừng lạch cạch. Patrick đợi xem tiếng khóc ban nãy có khiến mẹ tỉnh giấc hay không. Nhưng bà vẫn say ngủ.

Giờ đây, nó cảm thấy một niềm hứng thú to lớn dâng trào trong người mình. Lần đầu tiên trong đời, nó thấy thế giới này rõ nét trước mắt mình đến thế. Cơ quan cảm xúc vô cùng khiếm khuyết, và trong phút giây ngắn ngủi ấy, cảm giác của nó giống cảm giác của một người mù màu được chích một mũi tiêm cho anh ta khả năng cảm thụ màu sắc trong khoảng thời gian ngắn… hoặc giống kẻ nghiện vừa lên cơn phê khi ma túy đưa não của hắn phóng vào quỹ đạo. Trải nghiệm này mới mẻ quá. Nó còn không hay có thứ như vậy trên cõi đời.

Nhẹ nhàng hết cỡ, nó lại quay mặt của Avery vào gối. Lần này, khi Avery quẫy đạp, Patrick không buông tay, thậm chí còn đè mặt đứa trẻ xuống gối mạnh hơn. Đứa bé khóc lên những tiếng ngạt thở, và Patrick biết Avery đã thức giấc. Nó mơ hồ nghĩ nếu nó dừng lại, đứa trẻ này sẽ mách với mẹ. Nó bèn giữ thật chặt. Đứa trẻ vùng vẫy nhưng Patrick nhất quyết không buông. Đứa trẻ đánh rắm bủm một tiếng rồi bớt quẫy đạp dần. Patrick vẫn đè đầu nó xuống. Cuối cùng, nó im ắng hoàn toàn. Patrick giữ đầu đứa trẻ thêm năm phút nữa, cảm thấy cơn hào hứng ấy dâng cao rồi bắt đầu rút dần: liều thuốc đã mất đi tác dụng, biến thế giới trở lại một màu xám xịt, cơn phê xuôi xị thành trạng thái mơ màng quen thuộc.

Patrick xuống lầu, lấy cho mình một đĩa bánh quy và rót một cốc sữa. Chừng nửa tiếng sau, mẹ nó bước xuống và bảo bà thậm chí còn không nghe thấy tiếng nó về, bởi bà mệt đến bã cả người ( mẹ sẽ không mệt như vậy nữa đâu, Patrick thầm nghĩ, mẹ đừng lo, con đã lo liệu xong cả rồi. ) Ngồi xuống với nó, bà ăn một cái bánh quy và hỏi han chuyện trường học. Patrick bảo mọi thứ ổn rồi khoe với mẹ bức tranh nó vẽ ngôi nhà và cái cây. Tờ giấy chi chít đầy những dòng nguệch ngoạc bằng bút sáp đen và nâu. Mẹ nó khen bức tranh đẹp lắm. Ngày nào cũng vậy, Patrick đều đem về nhà những bức hình chằng chịt màu nâu đen như thế. Lúc thì nó bảo đó là con gà tây, lúc thì bảo là cây thông Noel, lúc thì là một đứa trẻ. Mẹ nó luôn khen nó vẽ rất đẹp… dù thỉnh thoảng, sâu thẳm trong đáy lòng, sâu đến độ bà không hay, bà cảm thấy lo lắng. Có gì đó thật đáng ngại ở những vòng tròn màu nâu đen to tướng cẩu thả ấy.

Phải đến 5 giờ chiều, bà mới tá hỏa phát hiện Avery đã chết; cho tới lúc đó, bà cứ nghĩ đơn giản rằng con bà ngủ say quá. Khi ấy, Patrick đang xem Chú thỏ Thập tự trên chiếc ti vi bảy inch, và nó cứ thế xem tiếp trong suốt khoảng thời gian ầm ĩ sau đó. Trên ti vi chiếu bộ phim Whirlybirds lúc bà Henley từ nhà bên cạnh chạy qua (mẹ nó vừa la hét thất thanh vừa ôm xác đứa bé đứng ở cửa căn bếp mở toang, cuồng dại cho rằng không khí lạnh có thể khiến đứa con mình cải tử hoàn đồng; thấy lạnh, Patrick bèn đi lấy áo len từ trong tủ quần áo dưới lầu). Lúc ông chồng Hockstetter đi làm về thì trên ti vi đang chiếu Cảnh sát Cao tốc , bộ phim ưa thích của Ben Hanscom. Khi bác sĩ tới nhà, Rạp phim Khoa học viễn tưởng với Truman Bradley dẫn chương trình vừa mới bắt đầu. “Ai mà biết vũ trụ này có bao điều kỳ lạ kia chứ?” Truman Bradley chiêm nghiệm trong lúc mẹ của Patrick thét gào và vùng vẫy trong tay chồng dưới nhà bếp. Thấy Patrick chỉ bình thản giương mắt nhìn chằm chằm, vị bác sĩ tưởng nó bị sốc. Ông bèn cho Patrick một viên thuốc, và nó chẳng phiền lòng uống.

Đứa trẻ được chẩn đoán đột tử ở trẻ sơ sinh. Nếu xảy ra nhiều năm sau, có lẽ người ta còn đặt nghi vấn về cái chết không may này, bởi nó có quá nhiều điểm khác biệt so với triệu chứng dẫn tới cái chết của trẻ sơ sinh quan sát được. Nhưng vào thời điểm này, cái chết chỉ được ghi nhận và đứa trẻ được chôn cất. Patrick lấy làm hài lòng khi mọi thứ lắng xuống, bữa ăn của nó trở lại đúng giờ như xưa.

Trong chuỗi điên cuồng vào buổi chiều và tối hôm ấy - người ta hối hả ra vào nhà như con thoi, ánh đèn xe cấp cứu của bệnh viện loang loáng chiếu lên tường, bà Hockstetter gào thét, khóc than và không chịu bình tĩnh – chỉ có bố của Patrick là tiến gần đến sự thật, cách chỉ một bước chân. Khoảng hai mươi phút sau khi thi thể của Avery được mang đi, ông thần người đứng trước cái cũi trống không của con trai mình, ngây ra như phỗng, không tài nào tưởng tượng nổi chuyện vừa xảy ra. Lúc nhìn xuống, ông trông thấy hai vết giày trên sàn nhà lát gỗ. Dấu vết này để lại do tuyết tan từ đôi ủng cao su màu vàng của Patrick. Nhìn chung, một suy nghĩ khủng khiếp khẽ dâng lên trong đầu ông như thế khí độc phụt lên từ giếng mỏ sâu hoắm. Tay ông chậm rãi đưa lên miệng còn mắt thì trợn tròn. Một hình ảnh dần xuất hiện trong tâm trí ông. Trước khi nó kịp thành hình, ông rời khỏi căn phòng, đóng sập cửa lại sau lưng, mạnh đến độ khung cửa trên cùng bể lả tả.

Ông không hỏi Patrick bất kỳ câu nào.

Kể từ đó, Patrick chưa lần nào làm điều tương tự, mặc dù hắn sẵn sàng ra tay nếu cơ hội xuất hiện. Hắn chẳng cảm thấy tội lỗi, cũng chẳng nằm mơ thấy ác mộng gì. Nhưng thời gian trôi qua, càng lúc hắn càng ý thức được chuyện có thể xảy ra nếu hắn bị phát giác. Trên đời có luật lệ. Điều không dễ chịu gì cho cam sẽ xảy ra nếu ta không tuân theo… hoặc nếu ta bị bắt quả tang phá luật. Ta có thể bị tống giam hoặc cho lên ghế điện ấy chứ.

Nhưng cảm giác hào hứng ấy mãi in đậm trong lòng hắn – cảm giác rực rỡ sắc màu và đê mê giác quan ấy – quá mạnh mẽ, quá tuyệt vời nên hắn không tài nào từ bỏ hoàn toàn. Thế là hắn giết ruồi. Ban đầu, hắn chỉ lấy vỉ đập ruồi của mẹ để giết chúng, nhưng về sau, hắn nhận ra nếu dùng thước nhựa thì giết chúng hiệu quả hơn nhiều. Hắn cũng phát hiện niềm vui từ giấy bẫy ruồi. Chỉ tốn hai xu, hắn đã có thể mua một que dài phết chất dính bán ở Chợ Đại lộ Costello, và thỉnh thoảng, Patrick đứng hai tiếng đồng hồ trong ga-ra, nhìn ruồi đậu lên miếng dính và vùng vẫy trốn thoát, miệng hắn mở to, đôi mắt mờ đục sáng bừng đầy hứng khởi, mồ hôi chảy ròng ròng xuống khuôn mặt tròn quay và thân người cục mịch. Patrick giết cả bọ cánh cứng, nhưng nếu được thì hắn bắt chúng trước. Thỉnh thoảng, hắn trộm một cây kim dài từ gối cắm kim của mẹ, xuyên qua con bọ cánh cứng rồi ngồi xếp bằng trong sân nhìn nó chết. Biểu cảm của hắn những lúc ấy là biểu cảm của một đứa trẻ đang đọc cuốn sách vô cùng thú vị. Lần nọ, hắn phát hiện con mèo bị xe cán đang thoi thóp trong cống rãnh trên đường Chính Phố Dưới, thế là hắn ngồi nhìn cho đến khi một bà cụ trông thấy hắn dùng chân đẩy con vật bị cán bẹp ruột từ chỗ này đến chỗ khác. Bà ta lấy cây chổi đang dùng để quét đường đập vào người hắn. Về nhà ngay! Bà ta thét vào mặt hắn. Mày bị điên rồi à? Patrick bèn đi về nhà. Hắn chẳng thấy bực mình với bà cụ. Hắn bị bắt quả tang khi đang phá luật, thế thôi.

Và rồi, năm ngoái (có lẽ đến lúc này, Mike Hanlon hay bất kỳ ai trong nhóm sẽ chẳng lấy làm bất ngờ khi biết chuyện xảy ra vào đúng cái ngày George Denbrough bị giết hại), Patrick phát hiện chiếc tủ lạnh Amana gỉ sét – một trong những thiên thể rác rến to nhất trong vành đai bao quanh đống rác.

Giống như Bev, hắn cũng đã nghe rất nhiều lời căn dặn về những món đồ bị vứt bỏ này, về việc hằng năm có rất nhiều đứa trẻ xấu sổ đã bất cẩn chết ngất bên trong. Patrick đứng nhìn tủ lạnh suốt lúc lâu, tay mân mê cậu bé của mình. Cảm giác hào hứng ấy lại trở về, mạnh mẽ hơn bao giờ hết, chỉ là không bằng cái lần hắn trừng phạt Avery. Cảm giác hào hứng ấy đã quay trở lại, vì trong thứ chất thải lạnh lẽo và ám khói mang tên đầu óc hắn, Patrick Hockstetter vừa nảy ra một ý tưởng.

Một tuần sau, gia đình nhà Luce, sống cách nhà Hockstetter ba căn, bị mất chú mèo Bobby. Mấy đứa trẻ nhà Luce, vốn khăng khít với Bobby từ thuở bé đến giờ, lùng sục cả khu vực suốt mấy tiếng đồng hồ để tìm chú mèo cưng. Chúng thậm chí còn gom góp tiền để đăng tin tìm mèo lên cột báo Tìm đồ mất tích trên tờ Derry News . Song chẳng có tin gì. Và nếu bất kỳ ai trong số chúng trông thấy Patrick ngày hôm ấy, kềnh càng trong chiếc áo khoác mùa đông đầy mùi băng phiến (mùa thu năm 1957, sau khi lũ rút, tiết trời liền trở rét), khệ nệ bưng thùng giấy, có lẽ chúng cũng không mảy may nghi ngờ gì.

Mười ngày trước lễ Tạ Ơn, nhà Engstrom, cách một dãy nhà và nằm ngay phía sau nhà Hockstetter, mất một chú cún giống Cocker. Trong sáu đến tám tháng sau, hết nhà này đến nhà kia không mất chó cũng mất mèo, và tất nhiên, Patrick chính là kẻ ra tay, đó là chưa kể đến chục con thú hoang không ai để ý trong khu Nửa mẫu Địa ngục của Derry.

Hắn nhét từng con một vào tủ lạnh Amana gỉ sét gần bãi rác. Lần nào mang một con thú đến đây, trống ngực hắn đều đập thình thịch, mắt bỏng rát, sung sướng đến rớm lệ, hắn luôn chuẩn bị tinh thần phát hiện Mandy Fazio đã phá then cửa tủ lạnh hoặc dùng búa tạ đập gãy bản lề. Nhưng Mandy chưa một lần nào đụng vào chiếc tủ lạnh ấy. Có lẽ ông không nhận ra sự hiện diện của nó, có lẽ sức mạnh ý chí của Patrick đã ngăn trở ông đến đấy… hoặc một thế lực nào đó.

Con chó nhà Engstrom sống dai dẳng nhất. Mặc thời tiết lạnh thấu xương, nó vẫn sống sót khi Patrick quay trở lại vào lần thứ ba sau nhiều ngày, dù nó chẳng còn vẻ năng động ban đầu nữa (nó cuống cuồng vẫy đuôi và liếm tay hắn lúc hắn lôi nó ra khỏi hộp và tống nó vào tủ lạnh). Một ngày sau khi nhốt chú chó, hắn quay lại thì suýt chút nữa nó đã chạy thoát. Patrick phải rượt nó đến tận bãi rác mới có thể nhào lên chộp một chân sau. Con chó cắn những cái răng nhỏ xíu sắc bén vào Patrick nhưng hắn chẳng quan tâm. Ngoài dăm ba vết cắn, hắn đem con chó quay lại tủ lạnh rồi nhét nó vào bên trong. Vừa làm, hắn vừa cương lên, một điều xảy ra như cơm bữa.

Sang ngày thứ hai, con chó cố gắng thoát ra thêm lần nữa, nhưng nó di chuyển chậm chạp hơn hẳn. Patrick lại tống nó vào trong, đóng sập cánh cửa cũ gỉ của tủ lạnh Amana rồi tựa người lên cửa. Hắn có thể nghe thấy tiếng con chó cào vào cửa và nghe thấy tiếng nó rên rỉ. “Ngoan lắm,” Patrick Hockstetter nói. Hắn nhắm mắt, hơi thở dồn dập. “Chó ngoan.” Sang ngày thứ ba, chú chó chỉ còn đủ sức liếc mắt nhìn khuôn mặt của Patrick khi cửa mở. Hai bên hông của nó phập phồng khe khẽ và dồn dập. Hôm sau, khi Patrick quay trở lại, chú chó đã chết, bọt mép sùi quanh mõm đông cứng lại. Cảnh tượng ấy khiến Patrick mường tượng đến que kem dừa, và hắn vừa cười khùng khục vừa lôi xác chú chó đông cứng ra khỏi cái thùng giết chóc của mình rồi lẳng vào bụi cây.

Mùa hè năm nay, nguồn cung chó mèo xấu số (khi nghĩ về bọn chúng, Patrick xem chúng như “động vật thí nghiệm”) khá ít. Không xét tới những thắc mắc về thực tại, bản năng bảo toàn mạng sống của hắn phát triển hơn người, trực giác xuất thần. Hắn ngờ rằng mình đang bị nghi ngờ. Ai nghi ngờ thì hắn không dám chắc: Ông Engstrom? Có thể. Một ngày mùa xuân nọ, trong cửa tiệm A&P, ông Engstrom đã quay đầu nhìn Patrick với vẻ dò xét suốt một lúc lâu. Khi đó, ông ta mua thuốc lá còn Patrick được sai đi mua bánh mì. Bà Josephs? Có thể. Thỉnh thoảng, bà ta lại ngồi ở cửa sổ phòng khách với kính viễn vọng và theo như bà Hockstetter nhận xét, bà ta là chuyên gia “ngồi lê đôi mách”. Hay ông Jacubois, một người dán logo của Hiệp hội Phòng chống Tàn ác Đối với Động vật trên thanh cản sau xe? Ông Nell? Hay người nào khác? Patrick không dám chắc, nhưng trực giác mách bảo rằng hắn đang bị nghi ngờ, mà hắn chẳng bao giờ tranh cãi với trực giác của mình. Hắn bắt vài con thú lang thang trong những khu nhà mục nát ở Nửa mẫu, và chỉ chọn những con nhìn ốm yếu hoặc bệnh tật, nhưng chỉ thế thôi.

Tuy nhiên, dần dà hắn nhận ra cái tủ lạnh gần bãi rác ám ảnh hắn mãnh liệt đến lạ kỳ. Ở trường, cứ khi nào chán là hắn vẽ chiếc tủ lạnh ấy. Thỉnh thoảng, về đêm, hắn còn chiêm bao thấy nó, và trong giấc mơ, chiếc tủ lạnh Amana cao phải đến hai mươi mét, trông chẳng khác nào ngôi mộ trắng hếu, sừng sững dưới ánh trăng lạnh như băng. Trong giấc mơ, một cánh cửa khổng lồ sẽ mở tung, từ đó hắn trông thấy những đôi mắt to tướng trừng trừng nhìn mình. Và rồi hắn sẽ tỉnh giấc, mồ hôi lạnh và khắp người, nhưng hắn nhận ra mình không tài nào từ bỏ niềm hân hoan mà chiếc tủ lạnh ấy mang lại.

Hôm nay, cuối cùng hắn cũng đã phát hiện ra kẻ nghi ngờ hắn là ai. Là Bowers. Khi biết Bowers chính là kẻ nắm giữ trong tay bí mật về cái thùng giết chóc của hắn, Patrick tiệm cận đến cảm giác hoảng sợ, gần nhất từ trước đến giờ. Thật ra, tiệm cận ấy còn khuya mới có thể xem là hoảng sợ, nhưng hắn vẫn cảm thấy thứ cảm xúc ấy – không hẳn là sợ hãi, chỉ là không yên lòng - thật ngột ngạt và khó chịu. Henry biết rồi. Biết thỉnh thoảng Patrick lại phá luật.

Gần đây nhất, con vật xấu số là một chú chim bồ câu mà hắn phát hiện ở đường Jackson hai ngày trước. Con chim bị xe tông nên không bay được. Patrick về nhà, lấy thùng trong ga-ra rồi đặt con chim bồ câu vào trong. Con chim mổ mu bàn tay của Patrick vài lần, để lại những vết khoét nông rướm máu. Patrick chẳng buồn quan tâm. Ngày hôm sau, khi hắn kiểm tra chiếc tủ lạnh thì con chim đã hấp hối, nhưng Patrick chưa vứt cái xác đi. Song hiện giờ, đối mặt với lời đe dọa của Henry, Patrick quyết định phải phi tang xác con chim ngay lập tức. Có khi hắn còn phải kiếm xô nước và vài miếng giẻ để kỳ cọ bên trong tủ lạnh. Tủ lạnh thối hoẵng. Nếu Henry mách lẻo và ông Nell xuống đây kiểm tra, khéo ông ta sẽ suy đoán có thứ gì đó – hay nói đúng hơn là nhiều thứ – đã chết trong này.

Nếu hắn ta mách lẻo, Patrick nghĩ khi đứng trong rặng thông nhìn chiếc tủ lạnh Amana gỉ sét, mình sẽ bảo hắn chính là kẻ đã bẻ gãy tay Eddie Kaspbrak. Tất nhiên ai nấy đều biết điều đó, nhưng họ không có bằng chứng vì tất cả bọn chúng đều khai hôm ấy, chúng chơi ở nhà Henry và lão già điên khùng đẻ ra Henry đã che đậy cho chúng. Nhưng nếu hắn khai, mình cũng khai. Ăn miếng trả miếng.

Giờ thì tạm gác chuyện đó qua một bên. Việc hắn phải làm lúc này là phi tang con chim. Hắn sẽ để mở cửa tủ lạnh và mang nước với giẻ xuống đây lau chùi. Thế là ngon.

Mở cửa tủ lạnh, Patrick cũng mở cửa tử cho bản thân mình.

Ban đầu, hắn chỉ cảm thấy bối rối, bởi hắn chẳng tài nào lý giải nổi thứ mình đang nhìn thấy. Nó chẳng có nghĩa lý gì với hắn. Nó cũng không có bối cảnh gì. Patrick ngây người nhìn chằm chằm, đầu ngoẹo sang một bên, mắt trợn tròn.

Con chim bồ câu chỉ còn bộ xương với đống lông vũ lả tả xung quanh. Trên xác của nó không vương lại dù chỉ một mảnh thịt. Và xung quanh nó, dính trên thành tủ lạnh, lủng lẳng dưới ngăn đông, ngúc ngoắc dưới ngăn kéo là hàng chục, hàng chục những vật thể màu thịt trông như những mẩu nui to tướng. Patrick thấy chúng khẽ đung đưa, rung động như thể có gió. Nhưng hiện tại, trời tịnh không chút gió. Hắn chau mày.

Bất chợt, một trong những thứ đó bật mở đôi cánh côn trùng. Trước khi Patrick kịp ghi nhận cảnh tượng ấy, thứ sinh vật kia bay từ tủ lạnh đậu lên tay trái của Patrick. Nó đáp lên tay hắn đánh bép. Ngay lập tức, tay hắn nóng bừng như lửa đốt. Cảm giác ấy phai đi và tay của Patrick bình thường trở lại… nhưng lớp da thịt bọt bạt của thứ sinh vật kia chuyển sang màu hồng, và rồi đột ngột đến choáng váng, chuyển sang màu đỏ như máu.

Patrick gần như chẳng sợ bất cứ thứ gì theo nghĩa thường được hiểu (khó mà sợ những thứ không thực sự “tồn tại”), nhưng có ít nhất một thứ khiến hắn kinh hãi đến cùng cực. Năm hắn bảy tuổi, vào một ngày tháng Tám ấm áp, hắn ra khỏi hồ Brewster thì phát hiện bốn, năm con đỉa bám vào bụng và chân của mình. Hắn la hét thất thanh cho đến khi bố hắn lôi chúng ra khỏi người hắn.

Và giờ, khi bao suy nghĩ dồn dập bùng nổ trong đầu, hắn nhận ra thứ sinh vật này là một loại đỉa biết bay. Chúng đã sinh sôi trong tủ lạnh.

Vừa la hét, Patrick vừa đập bốp bốp vào thứ sinh vật trên tay mình. Nó đã phình to gần bằng quả bóng tennis. Hắn đập lần thứ ba thì con đỉa vỡ tung đánh phụt nghe rợn cả người. Máu – máu của nó – bắn tung tóe lên tay hắn, từ khuỷu tay xuống cánh tay, nhưng cái đầu không có mắt nhớp nhúa như thạch của thứ sinh vật kia vẫn cắm vào tay hắn. Xét theo cách nào đó, trông nó như đầu chim, thuôn dài thành mỏ, nhưng cái mỏ ấy không bằng phẳng hay nhọn; nó có hình ống và cùn đủn, giống vòi chích của muỗi. Cái vòi ấy chôn sâu vào tay Patrick.

Vẫn không ngừng gào thét, hắn dùng ngón tay bấu lấy thứ sinh vật đã bể kia và kéo nó ra. Cái vòi bị lôi ra trơn tru, máu trộn lẫn thứ dịch nhầy màu trắng vàng như mủ phọt ra. Nó để lại một cái lỗ to bằng đồng xu không đau đớn trên tay hắn.

Và dù đã bị vỡ tung, thứ sinh vật ấy vẫn quắn quéo, ngọ nguậy và ngoe nguẩy giữa những ngón tay của hắn.

Patrick vứt nó đi, quay đầu lại… thì thấy rất nhiều đỉa bay ra khỏi tủ lạnh, đáp lên hắn trong lúc hắn quơ quàng tìm tay nắm cửa tủ lạnh. Chúng đậu lên bàn tay, cánh tay và cổ của hắn. Một con bậu vào ngay giữa trán. Khi Patrick giơ tay lên để kéo nó ra, hắn phát hiện trên tay mình có bốn con đang khẽ đung đưa, chuyển sang màu hồng rồi màu đỏ.

Hắn không cảm thấy đau… nhưng hắn cảm nhận được lực hút đến gớm ghiếc. Vừa hét, hắn vừa quơ quàng, đập bôm bốp vào đầu và cổ với hai bàn tay nhung nhúc đỉa. Tâm trí của Patrick Hockstetter rên lên: Đây không phải sự thật, chỉ là ác mộng thôi, đừng lo, đây không phải sự thật, chẳng có gì là thật cả…

Nhưng máu chảy ra từ những con đỉa bị đập bể lại thật quá đỗi, tiếng cánh của chúng vo ve lại thật quá đỗi… cả nỗi kinh hoàng của hắn nữa, thật quá.

Một con đỉa rơi vào trong áo và bám vào ngực hắn. Trong lúc hắn hoảng loạn đập nó và nhìn máu loang khắp chỗ nó bấu lên thì một con khác lao vào mắt phải của hắn. Patrick nhắm mắt lại nhưng vô dụng, hắn cảm thấy mắt mình như có lửa đốt khi vòi của thứ sinh vật ấy chọc xuyên qua mí mắt và bắt đầu hút dịch ra khỏi nhãn cầu. Cảm nhận được mắt mình teo tóp bên trong hốc mắt, Patrick lại gào lên thất thanh. Đúng lúc ấy, một con đỉa bay vào miệng hắn và cắm vào lưỡi hắn.

Tất cả gần như chẳng đau đớn chút nào.

Patrick loạng choạng, vung vẩy tay chân đi về phía những chiếc xe đồng nát. Đám ký sinh trùng lủng lẳng bám vào người hắn. Nhiều con hút hết công suất rồi vỡ tung như bóng bay căng hơi; khi những con đỉa to trong đám bị vỡ, chúng đã hút của Patrick gần 200cc máu nóng hôi hổi. Cảm nhận con đỉa trong miệng mình phình to, hắn bèn há miệng ra, vì trong đầu hắn chỉ còn sót lại duy nhất một suy nghĩ mạch lạc, rằng nó không được vỡ trong miệng hắn, nhất định, nhất định không được.

Nào ngờ nó vỡ thật. Patrick nôn thốc nôn tháo máu trộn lẫn xác ký sinh trùng. Hắn ngã xuống mặt sỏi, lăn lộn qua lại, không ngừng la hét ỏm tỏi. Dần dà, hắn thấy tiếng hét của mình trở nên xa xăm, yếu ớt.

Trước khi bất tỉnh, hắn trông thấy một bóng người bước ra từ xác chiếc ô tô cuối đường. Ban đầu, Patrick tưởng đó là một người đàn ông, có thể là Mandy Fazio chẳng hạn, và hắn sẽ được cứu thoát. Nhưng khi bóng hình ấy tiến lại, hắn thấy khuôn mặt kẻ này chảy xệ như sáp. Thỉnh thoảng nó cứng lại và thành hình gì đó – dung mạo ai đó – rồi lại tiếp tục chảy xệ, như thể nó không thể quyết định mình phải biến thành kẻ nào hay vật nào.

“Xin chào và vĩnh biệt,” một giọng nói lục bục vang lên từ bên trong lớp diện mạo nhẽo nhoẹt không rõ hình tướng, và Patrick cố thét lên lần nữa. Hắn không muốn chết, là kẻ duy nhất thực sự tồn tại, hắn không thể nào chết được. Nếu hắn chết, cả thế gian này sẽ chết chung với hắn.

Nhân hình kia chộp lấy hai cánh tay bám đầy đỉa của hắn rồi kéo hắn về phía Vùng Đất Cằn. Túi đựng sách dính máu của hắn hết nảy lên lại đập vào hông, dây túi vẫn trong quanh cổ. Patrick loay hoay tìm cách thét lên rồi bất tỉnh.

Hắn chỉ tỉnh dậy đúng một lần: trong địa ngục tối tăm, hôi hám và tong tỏng nước, nơi không có lấy một tia sáng, lúc Nó bắt đầu ăn thịt.

6

Mới đầu, Beverly không dám chắc mình đang chứng kiến thứ gì hay điều gì xảy ra… chỉ thấy Patrick Hockstetter bắt đầu quẫy đạp, nhảy loạn xạ và thét gào. Cô bối rối đứng dậy, một tay cầm ná cao su, tay kia cầm hai viên bi sắt. Cô có thể nghe thấy tiếng Patrick ngã nhào ở cuối đường, vẫn la hét như điên như dại. Trong khoảnh khắc ấy, Beverly như phát lộ toàn bộ nét đẹp chín muồi của người con gái mà sau này cô sẽ trở thành, và giả như Ben Hanscom có mặt đây để chứng kiến cô lúc này, có lẽ trái tim cậu sẽ không tài nào chịu nổi.

Cô đứng thẳng người, đầu nghiêng sang trái, đôi mắt mở to, mái tóc tết đuôi sam thắt bằng hai chiếc nơ đỏ nhung con con cô mua ở tiệm Dahlie’s với giá mười xu. Tướng người cô lúc này biểu lộ mọi sự chú ý và tập trung, sắc sảo như mèo, chăm chú như linh miêu. Cô dịch chuyển về phía trước bằng chân trái, toan quay người đuổi theo Patrick, chiếc quần đùi bạc màu đã kéo lên, chỉ để lộ mép quần lót bằng vải bông màu vàng. Bên dưới quần là đôi chân thon dài, chắc nịch, xinh đẹp bất kể các vết sẹo, bầm tím và bùn đất.

Hắn lừa đấy. Hắn trông thấy mày và biết nếu rượt đuổi thì còn lâu mới bắt được mày nên mới tương kế tựu kế dụ mày ra. Đừng ra, Bevvie.

Nhưng một phần khác trong cô lại nghĩ tiếng thét ấy chất chứa quá nhiều đau đớn và sợ hãi. Cô ước giá mà mình nhìn thấy điều gì, bất cứ điều gì, đã xảy ra với Patrick rõ ràng hơn. Cô quay quắt ước phải chi mình đến Vùng Đất Cằn theo cách khác và không phải trải qua chuỗi sự kiện điên đảo này.

Tiếng thét của Patrick ngưng bặt. Ngay sau đó, Beverly nghe thấy một giọng nói vang lên – nhưng cô biết đó hẳn là tưởng tượng của mình. Bởi cô nghe thấy bố cô nói “Xin chào và vĩnh biệt”. Hôm ấy, bố cô thậm chí còn không có mặt ở Derry: lão ta đã đi đến Brunswick từ 8 giờ sáng. Lão ta và Joe Tammerly dự định đi lấy chiếc xe tải Chevy ở đó. Cô lắc đầu như thể gạt đi. Giọng nói ấy không phát ra nữa. Rõ ràng, cô đang thần hồn nát thần tính.

Cô bước ra khỏi bụi cây vào lối đi, lên tinh thần sẵn sàng co giò chạy nếu thấy Patrick nhào tới tấn công mình, phản ứng của cô tinh vi chẳng kém gì ria mèo. Cô nhìn xuống lối mòn, hai mắt trợn tròn. Xung quanh toàn là máu. Rất nhiều máu.

Máu giả thôi, tâm trí cô trấn an. Mày có thể mua một thùng máu giả Dahlie’s với giá bốn mươi chín xu mà. Cẩn thận đấy. Bevvie!

Quỳ xuống, cô nhanh nhẹn chạm ngón tay vào máu. Cô nhìn thật lung. Đây không phải máu giả.

Bỗng dưng tay trái của cô nhói lên nóng bừng, ngay dưới khuỷu tay. Cô nhìn xuống và trông thấy một thứ mà mới đầu cô cứ tưởng là quả gai. Nhưng không, đó không phải quả gai. Quả gai không ngúc ngoắc và đung đưa như thế. Thứ này là vật sống. Liền sau đó, cô nhận ra nó đang cắn mình. Cô dùng mu bàn tay phải đập thật mạnh khiến nó vỡ tung, xịt đầy máu. Cô lùi lại một bước, toan hét lên khi mọi thứ đã xong xuôi… nhưng rồi cô nhận ra nó vẫn chưa hề kết thúc. Cái đầu nhằn nhẫn của thí sinh vật ấy vẫn cắm vào cánh tay, đầu vòi chôn vào thịt cô.

Ré lên đầy kinh tởm và sợ hãi, cô kéo nó ra và trông thấy vòi của nó rút khỏi tay như con dao nhỏ, tong tỏng máu. Giờ thì cô đã hiểu tại sao trên đường lại có vết máu, ra là vậy, nghĩ đến đấy, mắt cô bèn liếc về phía tủ lạnh.

Cửa tủ lạnh đã đóng sập lại, nhưng rất nhiều con vật ký sinh kia vẫn còn bên ngoài và chậm chạp lúc nhúc bò trên mặt cửa bằng sứ màu trắng gỉ sét. Khi Beverly quay lại nhìn, một trong số chúng giương đôi cánh có màng như cánh ruồi và vo ve bay về phía cô.

Không kịp suy nghĩ gì, cô đưa một viên bi sắt lên ná Hồng Tâm rồi kéo dây cao su ra sau. Khi cơ tay trái co lại, cô trông thấy máu phọt ra từ cái lỗ mà thứ sinh vật kia để lại trên tay ban nãy. Cô buông tay, để viên bi lao vụt đi trong vvô thức.

Khốn thật! Trượt rồi! Cô nghĩ khi ná bật đánh tách và viên bi bay đi, một khối sáng lấp lánh dưới mặt trời mờ ảo. Về sau, cô kể với các thành viên trong Hội Cùi Bắp rằng lúc ấy, cô biết mình đã bắn trượt, giống như người ném quả bóng bowling biết anh ta không thể đánh đổ hết hàng ki ngay lúc quả bóng rời khỏi tay. Nhưng rồi cô trông thấy viên bi bay cong lên. Mọi chuyện chỉ xảy ra trong tích tắc, song ấn tượng ấy vô cùng rõ nét: nó đã bay theo đường cong . Viên bị đập vào thứ sinh vật nọ và đập nó nát bấy. Những giọt chất nhầy màu vang lộp bộp văng xuống đường.

Beverly chậm rãi lùi lại, mắt cô trợn tròn, môi run lẩy bẩy, mặt xám ngoét vì sốc. Ánh nhìn của cô dán vào trước cửa tủ lạnh bị vứt bỏ, chờ xem thứ sinh vật nọ có ngửi thấy hay ý thức được sự hiện diện của cô hay không. Nhưng đám ký sinh trùng ấy chỉ từ từ bò tới bò lui, như những con ruồi lờ đờ vì cái lạnh.

Cuối cùng, cô quay đầu và vùng chạy.

Hoảng loạn lấn át suy nghĩ nhưng cô không chịu nhân nhượng. Cô cầm chặt Hồng Tâm trong tay trái, thỉnh thoảng ngoái lại phía sau. Máu vẫn lốm đốm trên đường và trên bụi cây xung quanh, như thể Patrick đã vung vẩy tay hết bên này sang bên kia lúc chạy.

Beverly phi đến khu vực để xác xe ô tô. Phía trước cô là bãi máu đang bắt đầu thấm xuống mặt sỏi. Mặt đất trông có vẻ bị quần thảo, những vệt đất đen ngang dọc trên mặt đất trắng bụi bặm. Tựa hồ đã có xô xát xảy ra tại đây. Từ vị trí này hằn hai rãnh cách nhau chừng bảy mươi xen-ti-mét.

Beverly đứng lại, thở hồng hộc. Nhìn xuống tay mình, cô thấy nhẹ nhõm phần nào khi thấy máu đã chảy chậm lại dù cánh tay và lòng bàn tay cô nhơm nhớp dính máu. Cơn đau bắt đầu nhói lên, nhức nhối âm ỉ. Cảm giác ê ẩm như miệng cô khoảng một tiếng sau khi đi đến nha sĩ, lúc thuốc giảm đau đã hết tác dụng.

Cô lại nhìn ra sau, không thấy gì, đoạn cô nhìn vào hai rãnh hằn kéo dài từ bãi xe phế liệu, rời khỏi bãi rác và dẫn sâu vào Vùng Đất Cằn.

Những thứ đó ở trong tủ lạnh. Chúng đã bám lên người hắn ta – chắc hẳn là thế, nhìn đống máu này mà xem. Hắn ta chạy đến đây, và rồi

(xin chào và vĩnh biệt)

có chuyện gì đó đã xảy ra. Nhưng là chuyện gì mới được chứ?

Cô sợ đến rợn người vì cô biết đó là gì. Những con đỉa kia là một phần của Nó, chính chúng đã đẩy Patrick vào một phần khác của Nó, giống như con bò phát điên vì sợ bị lùa vào chuồng và đẩy xuống lò mổ.

Rời khỏi đâu mau! Đi mau, Bevvie!

Nhưng thay vào đó, cô lại lần theo rãnh đất, nắm chặt ná Hồng Tâm trong bàn tay mướt mồ hôi.

Chí ít hãy gọi mọi người đã!

Biết rồi… tí nữa mình sẽ làm thế.

Cô đi tiếp, men theo hai rãnh hằn, mặt đất dần dốc xuống và trở nên mềm hơn. Cô bước vào bụi rậm um tùm. Đâu đó vang lên tiếng ve râm ran rồi im bặt. Muỗi vo ve quanh cánh tay dính máu của cô. Cô xua chúng đi. Răng cô cắn chặt môi dưới.

Có thứ gì đó nằm trên đất ngay phía trước. Cô nhặt lên quan sát. Là một cái ví thủ công, loại sản phẩm trẻ con hay làm trong dự án đồ thủ công ở Nhà Cộng đồng. Nhưng Bev nhận thấy rõ ràng đứa trẻ chế tác thứ này không khéo tay cho lắm; phần chỉ khâu đã bắt đầu bung ra, ngăn đựng tiền toang hoác há miệng. Cô thấy đồng hai mươi lăm xu trong ngăn đựng tiền lẻ. Thứ duy nhất còn lại trong ví là thẻ thư viện đề tên Patrick Hockstetter. Cô ném ví tiền, thẻ thư viện và mọi thứ sang bên rồi chùi tay vào quần đùi.

Đi thêm chừng mười lăm mét, cô thấy một chiếc giày. Bụi cây quá um tùm nên cô khó lòng dò theo vết hằn trên đất, nhưng chẳng cần phải thần thông quảng đại cũng có thể đi theo những vết máu bắn trên bụi cây.

Vết máu ngoằn ngoèo chạy thẳng xuống dốc tức. Bev sa chân một lần, trượt xuống và bị gai cứa vào chân. Những đường máu tươi rướm trên đùi cô. Cô thở hổn hển, tóc mướt mồ hôi, bết vào đầu. Vết máu dẫn ra con đường nhỏ xuyên Vùng Đất Cằn. Sông Kenduskeag cách đó không xa.

Chiếc giày còn lại của Patrick, dây giày bê bết máu, nằm chỏng cho trên đường.

Cô tiến lại con sông với ná cao su kéo sẵn. Rãnh đất lại một lần nữa xuất hiện trên đất. Giờ thì vết hằn nông hơn – lý do là bởi hắn đã tuột giày, cô thầm nghĩ.

Vòng theo khúc quanh, cô ra đến con sông. Rãnh đất chạy xuống bờ sông và kéo thẳng tới một trụ bê tông - trụ của trạm bơm. Chúng dừng ở đó. Nắp sắt đậy nóc trụ khép hờ.

Cô đứng bên trên nhìn xuống thì một tiếng cười đặc quánh, ma mị chợt vang lên bên dưới.

Thế này là quá đủ rồi. Nỗi hoảng sợ lăm le cô từ nãy đến giờ đổ ập xuống. Beverly quay người phi thẳng đến khu đất, chỗ phòng sinh hoạt nhóm, tay trái đầy máu giơ lên che chắn để cây không túi bụi quất vào mặt.

Thỉnh thoảng con cũng lo lắm bố ạ, cô điên cuồng nghĩ. Thỉnh thoảng con lo lắng rất nhiều.

Bốn tiếng sau, tất cả mọi thành viên của Hội Cùi Bắp, trừ Eddie, tụ họp quanh bụi cây gần chỗ Beverly nấp và chứng kiến cảnh Patrick Hockstetter đến mở cửa tủ lạnh. Bầu trời giăng kín mây đen, không khí sức mùi mưa. Bill đang cầm một đầu dây chăng quần áo trong tay. Sáu thành viên góp tiền túi để mua sợi dây và bộ sơ cứu của Johnson cho Beverly. Bill cẩn thận áp miếng gạc lên miệng vết thương đầy máu trên tay cô.

“B-Bảo b-b-bố mẹ cậu là c-cậu b-bị x-xây xát lúc tr-tr-trượt p-patin nhé,” Bill dặn.

“Đôi giày patin của tớ!” Beverly thảng thốt hét lên. Cô đã quên bẵng mất chuyện đôi giày.

“Đằng kia kìa,” Ben đưa tay chỉ. Chúng nằm chỗ ụ đất cách đó không xa, và cô nhanh chân đi nhặt trước khi Ben hoặc Bill hoặc bất cứ ai trong bọn họ toan giúp đỡ. Giờ cô mới nhớ cô đã để chúng sang một bên trước khi đi vệ sinh. Cô không muốn bất cứ ai trong số họ xớ rớ đến đó.

Bill tự tay cột một đầu dây phơi quần áo vào tay nắm cửa tủ lạnh Amana dù cả bọn cẩn thận cùng nhau tiến tới đó, sẵn sàng co giò chạy nếu thấy bất cứ động tĩnh nào. Bev đề nghị đưa ná Hồng Tâm lại cho Bill nhưng cậu nhất quyết cô nên giữ nó. May sao không có thứ gì động đậy.

Mặc dù khoảng đất trên đường mòn phía trước tủ lạnh vẫn tung tóe máu, không thấy bóng dáng đám ký sinh trùng đâu. Có thể chúng đã bay đi.

“Có gọi Cảnh sát trưởng Borton và ông Nell cùng cả trăm cảnh sát đến đây cũng chẳng giải quyết được gì,” Stan Uris cay đắng thốt lên.

“Phải. Họ sẽ chẳng trông thấy gì,” Richie tán thành. “Tay cậu thế nào rồi hả Bev?”

“Đau lắm,” cô nói, hết nhìn Bill lại nhìn Richie rồi quay sang nhìn Bill. “Liệu bố mẹ tớ có trông thấy cái lỗ thứ sinh vật kia đục trên tay tớ không nhỉ?”

“Tớ ngh-nghĩ l-l-là kh-kh-không” Bill nhận xét. “Ch-Chuẩn bị ch-ch-chạy nhé. Tớ s-s-sắp c-cột rồi đ-đây.”

Cậu quấn đầu dây phơi quần áo quanh tay nắm bằng crôm gỉ sét của tủ lạnh, cẩn thận từng ly từng tí như người phá bom. Thắt nút đầu bò xong, cậu lùi lại rồi buông dây.

Cậu nở nụ cười có phần run rẩy với các bạn khi họ lùi ra một chút. “Phù,” cậu nói. “M-May mà x-xong.”

Và rồi, khi đã đứng cách tủ lạnh một khoảng (mà họ hy vọng là) an toàn, Bill bảo các bạn lên tinh thần sẵn sàng chạy. Sấm chớp trực tiếp đì đùng trên đầu khiến cả bọn nhảy dựng. Những hạt mưa đầu tiên lác đác rơi xuống.

Bill kéo sợi dây phơi quần áo thật mạnh. Nút thắt cậu cột bị tuột khỏi tay cầm sau khi đã giật cho cánh cửa tủ lạnh mở tung. Một đống quả bông màu cam rơi ra như thác đổ, Stan Uris hãi hùng rên lên. Các thành viên chỉ biết trố mắt nhìn, miệng há hốc.

Mưa bắt đầu nặng hạt. Sấm đùng đoàng trên không khiến cả bọn Co rúm, và những tia chớp màu xanh tím lóe lên khi cửa tủ lạnh bật tung. Richie là người đầu tiên nhìn thấy, cậu hét thất thanh, hoảng loạn. Bill ré lên tức giận, sợ hãi. Những người khác chỉ biết im lặng.

Trên thành trong tủ lạnh là một dòng chữ nguệch ngoạc bằng máu đã khô:

DỪNG NGAY TRƯỚC KHI TAO GIẾT CHẾT TẤT CẢ CHÚNG MÀY NÓI ÍT HIỂU NHIỀU, CHỖ BẠN BÈ PENNYWISE

Mưa đá trút xuống. Cánh cửa tủ lạnh đập ra đập vào trong cơn gió, dòng chữ bắt đầu nhoe nhoét chảy, trông khiếp đảm chẳng khác nào áp phích phim kinh dị.

Bev không hề hay biết Bill đã đứng dậy cho đến khi cô trông thấy cậu băng qua đường, tiến đến tủ lạnh. Cậu nắm chặt tay, run lên. Nước mưa chảy xuống mặt cậu, khiến áo cậu bết vào lưng.

“B-Bọn tao s-s-sẽ giết mày!” Bill thét lên. Sấm đì đùng, ầm ầm vang lên. Chớp lóe sáng chói chang, cô ngửi thấy mùi khét, và cách đó không xa có âm thanh cây vỡ nát, đổ ập xuống.

“Bill, quay lại đây!” Richie gào lên. “Quay lại đây đã!” Cậu toan đứng dậy thì Ben kéo cậu lại.

“Mày đã giết George em trai tao! Đồ khốn kiếp! Quân súc sinh! Đồ thối tha! Mày ra đây cho tao xem! Ra đây cho tao!”

Mưa xối xả như thác lũ, châm chích vào người họ dù cả bọn đang nấp trong lùm cây. Beverly phải đưa tay che mặt. Cô có thể thấy những vết hằn đỏ trên má Ben.

“Bill, quay lại đây!” Cô tuyệt vọng thét lên, nhưng một tiếng sấm đánh xuống át tiếng cô, nó đì đùng khắp Vùng Đất Cằn dưới đám mây đen trĩu nước.

“Mày ra đây cho tao xem, quân khốn kiếp!”

Bill điên cuồng đá vào đống quả bóng bay ra từ tủ lạnh. Đoạn cậu quay người, bước trở lại về phía chỗ các bạn, đầu cúi gằm. Dường như cậu chẳng cảm thấy cơn mưa đá rét buốt, dù hiện giờ chúng phủ đầy mặt đất như tuyết.

Cậu loạng choạng lủi vào bụi cây, và Stan phải chộp lấy tay bạn để cậu không ngã nhào lên bụi gai. Cậu đang khóc.

“Không sao đâu, Bill,” Ben an ủi và vụng về choàng tay quanh bạn mình.

”Ừ.” Richie nói, “Đừng lo. Bọn mình sẽ không hèn nhát rút lui đâu.” Cậu đưa mắt nhìn cả nhóm, đôi mắt ánh lên sắc bén trên khuôn mặt ướt mèm. “Có ai ở đây muốn rút lui không?”

Cả bọn lắc đầu nguầy nguậy.

Bill ngước lên, lấy tay chùi mắt. Mọi người ai nấy đều ướt như chuột lột, trông họ chẳng khác nào đàn cún con vừa bơi qua sông. “N-Nó s-s-sợ ch-chúng ta, các c-cậu thấy kh-không” cậu nói. “Tớ c-có thể c-cảm thấy như thế. Tớ thề với Ch-Chúa tớ c-cảm thấy thế.”

Bev nghiêm nghị gật đầu. “Tớ nghĩ cậu nói đúng.”

“Gi-Gi-Giúp t-t-tớ với,” Bill cầu xin. “X-X-Xi-Xin các c-cậu. H-Hãy gi-giúp t-t-tớ.”

“Bọn tớ sẽ giúp cậu, Beverly khảng khái. Cô vòng tay ôm chầm lấy Bill. Bấy lâu nay cô không hề hay biết tay cô có thể ôm trọn cậu dễ dàng đến thế, rằng cậu gầy gò đến thế. Cô cảm nhận được tim cậu đập rộn dưới áo; cảm nhận nó gần sát tim cô. Cô thầm nhủ chưa có cái đụng chạm nào ngọt ngào và mạnh mẽ đến vậy.

Richie vòng tay ôm hai người bọn họ rồi ngả đầu lên vai Beverly. Ben làm tương tự ở phía đối diện. Stan Uris vòng tay ôm Richie và Ben. Mike ngần ngừ rồi vòng một tay quanh eo Beverly và tay kia choàng qua đôi vai run rẩy của Bill. Cả bọn đứng đó, ôm nhau thật chặt, cơn mưa đá giờ chuyển sang mưa như trút nước, nặng hạt đến độ có cảm giác họ đang ở một bầu khí quyển mới. Chớp không ngừng lóe lên và sấm giật đùng đùng. Không ai nói gì. Beverly nhắm chặt mắt. Họ đứng túm tụm dưới cơn mưa, ôm nhau, lắng nghe mưa ào ào quất vào bụi cây. Đó là khoảnh khắc cô nhớ như in: tiếng mưa rơi và sự thinh lặng mà họ san sẻ cùng nỗi buồn man mác khi Eddie không có mặt ở đó cùng cả nhóm. Những chi tiết ấy in hằn trong tâm trí cô.

Cô nhớ mình đã cảm thấy trẻ trung vô cùng, bất khả chiến bại.

« Lùi
Tiến »