Nó/ Tháng Tám năm 1958
Có biến chuyển mới.
Lần đầu tiên trong thiên thu rục rịch biến chuyển.
Trước khi vũ trụ ra đời chỉ có hai thứ. Một là Nó, hai là con Rùa. Con Rùa là một thứ già nua ngu độn chẳng bao giờ mò ra khỏi vỏ. Nó còn nghĩ có khi con Rùa chết rồi, khéo đã chết ngỏm cả tỉ năm rồi ấy chứ. Mà dù cái ngữ ấy còn sống đi chăng nữa, ngu độn vẫn hoàn ngu độn, và dù con Rùa đã phọt ra toàn bộ vũ trụ, ngu đần vốn là bản chất nên chẳng thay đổi được đâu.
Rất lâu sau khi con Rùa rúc vào vỏ, Nó đến Trái Đất và phát hiện nguồn trí tưởng tượng phong phú nơi đây, mới mẻ làm sao, giá trị làm sao. Trí tưởng tượng chính là yếu tố khiến thức ăn muôn phần đậm đà. Hàm răng của Nó rần rật nhựa sống, tê dại trước những kinh hoàng dị thường và những nỗi sợ đê mê: chúng mơ về quái vật ban đêm và bùn lầy biết đi, dù không muốn, chúng cũng chẳng thể ngăn tâm trí mình tưởng tượng đủ thứ.
Nhờ có nguồn thức ăn béo ngậy này mà Nó tồn tại theo chu kỳ đơn giản: dậy để ăn rồi ngủ để mơ. Nó tạo ra một nơi theo hình ảnh mà Nó hình dung, và Nó dõi theo vùng đất này nhờ tử quang vốn dĩ là mắt Nó. Derry là lò mổ của Nó, còn cư dân của Derry là đàn cừu Nó chăn. Bao đời nay là thế.
Nhưng rồi… đám trẻ ấy.
Biến chuyển mới.
Lần đầu tiên trong thiên thu.
Khi Nó xông vào căn nhà trên đường Neibolt với ý định giết tất cả lũ bọn chúng, mơ hồ khó chịu bởi đến lúc ấy Nó vẫn chưa kết liễu được đám này (và tất nhiên, nỗi khó chịu ấy cũng là điều hết sức mới mẻ), một chuyện hoàn toàn ngoài dự thưởng đã xảy ra, một chuyện Nó chưa lần nào mảy may nghĩ tới, và Nó đau, đau, đau đến cùng cực, thống khổ suốt giai đoạn biến hình, và trong một khắc, Nó còn manh nha thấy sợ, vì đặc điểm tương đồng duy nhất giữa Nó và con Rùa già nua ngu độn kia cùng cự đại cũ trụ bên ngoài quả trứng tí teo của vũ trụ này chính là: mọi sinh vật phải tuân theo quy luật của hình dạng mà nó trú ngụ. Lần đầu tiên, Nó nhận ra có lẽ năng lực biến muôn hình vạn trạng của Nó vừa ưu vừa nhược. Trước nay, chưa bao giờ Nó biết đau, chưa lần nào Nó biết sợ, và trong khoảnh khắc, Nó còn tưởng khéo mình chết mất – ôi, đầu của Nó ngập trong cơn đau khủng khiếp bạc trắng, Nó gào rống, thét gầm, rít ré, còn đám trẻ kia đã tìm được đường thoát.
Nhưng chúng đang đến. Ngày xưa, chúng từng xâm phạm lãnh địa dưới lòng thị trấn của Nó, bảy đứa trẻ ngu ngốc mò mẫm trong bóng đêm, không đèn, không vũ khí. Chắc chắn lần này, Nó sẽ kết liễu bọn chúng.
Nó tự ngộ ra điều tối thượng: Nó không muốn có thay đổi hay bất ngờ. Nó cũng chẳng ham điều mới mẻ. Nó chỉ muốn ăn rồi ngủ, nằm mơ, xong lại ăn.
Sau cơn đau và nỗi sợ hãi chói lòa thoáng qua ấy, thêm cảm giác mới trỗi dậy (thật ra với Nó, tất cả các cảm xúc đều mới mẻ, dù Nó rất giỏi nhái cảm xúc): phẫn nộ. Nó sẽ giết chết đám trẻ ấy vì chúng tình cờ thế nào đã làm phương hại Nó. Nhưng trước hết, Nó sẽ hành hạ chúng, vì trong khoảnh khắc dù ngắn ngủi, lũ oắt con đã khiến Nó sợ.
Đến với ta nào, Nó vừa nghĩ, vừa lắng nghe bước chân của họ. Đến với ta nào, đám trẻ kia, và xem chúng ta lơ lửng thế nào… tất cả chúng ta.
Tuy nhiên, chẳng hiểu sao có một suy nghĩ cứ bén rễ trong Nó dù Nó tìm mọi cách để gạt suy nghĩ ấy đi. Giả như mọi thứ bắt nguồn từ Nó (mà chắc chắn là vậy, vì con Rùa là thứ nôn ra vũ trụ này rồi bất tỉnh trong cái vỏ của nó), làm thế nào mà thế giới này hoặc bất cứ thế giới nào lại có một sinh vật đủ sức lừa Nó, tổn hại Nó, bất kể thoáng qua hay vặt vãnh kia chứ? Sao lại có chuyện đó được?
Và rồi một điều mới mẻ lại đến với Nó, không phải cảm xúc mà là suy luận vô cảm: biết đâu Nó không chỉ có một mình như Nó hằng tưởng thì sao?
Biết đâu tồn tại một Thế Lực Khác?
Và giả sử đám trẻ con ấy là tay sai của Thứ Đó?
Giả như… giả như…
Nó rùng mình.
Căm ghét là cảm xúc mới. Đau đớn cũng mới. Khó chịu không yên cũng mới. Nhưng thứ mới mẻ nhất, tệ hại nhất chính là sợ hãi. Nó không sợ đám trẻ, nỗi sợ ấy đã qua rồi, mà Nó sợ có thể Nó không độc nhất vô nhị.
Không. Không còn kẻ nào khác. Chắc chắn là vậy. Có lẽ khi chúng còn là trẻ con, trí tưởng tượng của chúng mang một sức mạnh ban sơ nào đó mà Nó đã xem nhẹ. Nhưng giờ đây, chúng đã chọn đến, thì Nó để chúng vác xác đến. Khi chúng đến, Nó sẽ tiêu diệt từng đứa một vào cự đại vũ trụ… vào tử quang trong mắt Nó.
Phải.
Khi chúng đến đây, Nó sẽ khiến chúng gào thét, phát điên và mất mạng bằng tử quang ấy.
2
Trong cống ngầm/ 2 giờ 15 phút chiềuBev và Richie còn khoảng chục que diêm, nhưng Bill không cho mọi người phung phí. Chí ít hiện tại vẫn còn leo lét ánh sáng trong đường cống. Tuy không nhiều nhưng cậu vẫn có thể nhìn thấy hơn một mét trước mặt, và họ sẽ cố gắng tiết kiệm diêm chừng nào còn gắng gượng được.
Cậu đoán thứ ánh sáng yếu ớt mà họ trông thấy là từ lỗ thông gió của vách đá trên đầu, hoặc thậm chí là từ lỗ thông hơi trên nắp cống. Thật khó lòng mà tưởng tượng nổi lúc này đây, họ đang đi dưới lòng thị trấn, song tất nhiên, sự thật là thế.
Nước càng lúc càng sâu. Xác động vật chết trôi qua ba lần: một con chuột, một con mèo, và xác một thứ trăng trắng trương phình mà cậu đoán là chuột chũi. Cậu nghe thấy tiếng ai đó trong nhóm kêu lên oai oái khi cái xác trôi ngang qua.
Họ đang lội trong dòng nước tương đối tĩnh lặng, nhưng chốc nữa thôi, điều này sẽ kết thúc: phía trước, cách đó không xa, vang lên tiếng ào ào đều đặn. Càng lúc, âm thanh ấy càng lớn. Cống ngầm uốn khúc sang phải. Họ rẽ theo và bắt gặp ba cái ống đang xả nước vào ống mà họ đang đi. Chúng xếp thành hàng dọc như đèn giao thông. Cống nước thải đâm ngõ cụt. Không gian sáng sủa hơn chút đỉnh. Ngước lên, Bill trông thấy họ đang đứng trong một ống thông bao quanh là tường đá vuông vức cao chừng năm mét. Trên cùng có một nắp cống và nước đang ồng ộc chảy xuống người cả đám. Chẳng khác nào đứng dưới thác nước ban sơ.
Bill bối rối quan sát ba cái ống. Ống trên cùng đang xả thứ nước khá sạch, dù vẫn có lá, cành cây và chút ít rác rến bên trong - đầu mẩu thuốc lá, vỏ bọc kẹo cao su và những thứ tương tự. Ống ở giữa đang thải nước màu xám. Còn cái ống thấp nhất lại ồng ộc chảy ra thứ nước thải màu nâu xám.
“E-E-Eddie!”
Eddie lội lên đứng cạnh cậu. Tóc bết vào đầu. Bó bột quanh tay cậu ướt sũng, tong tỏng nước.
“Đ-Đ-Đường n-n-nào?” Nếu muốn biết cách xây thứ gì đó, hãy hỏi Ben; nếu muốn biết đường đi lối lại, hãy hỏi Eddie. Họ không nói ra nhưng ai nấy đều biết điều đó. Giả sử cả nhóm lạc bước đến một khu phố lạ lẫm và muốn quay lại nơi mình quen thuộc, Eddie có thể đưa họ đi, rẽ phải rẽ trái vô cùng tự tin cho đến khi ta chỉ biết ngoan ngoãn đi theo cậu, lòng thầm mong mọi thứ sẽ ổn thỏa… mà kỳ lạ thay, khi nào chuyện cũng êm thấm. Một lần nọ, Bill kể với Richie chuyện khi cậu và Eddie mới bắt đầu lang thang chơi dưới Vùng Đất Cằn, Bill lúc nào cũng sợ bị lạc. Thế mà Eddie chẳng hề nao núng, và cậu luôn tìm được đường đưa hai người bọn họ đến chỗ cậu muốn. “Nếu tớ b-b-bị l-lạc trong rừng Hainesville mà có E-Eddie đi cùng, tớ cũng ch-ch-chẳng ph-phải lo,” Bill nói với Richie. “Cậu ấy c-có t-t-tài sẵn. B-B-Bố tớ bảo nh-nhiều người nh như có l-l-la bàn trong đầu ấy. Eddie c-cũng vậy.”
“Tớ nghe không rõ!” Eddie hét lên.
“Tớ hỏi đ-đường nào?”
“Đường nào gì? Eddie nắm chặt ống thở trong chiếc tay lành lặn của mình, và Bill thầm nghĩ cậu bạn mình trông giống con chuột xạ hương hơn là một cậu nhóc.
“Bọn mình đ-đ-đi đường nào đây?”
“Chà, tùy thuộc vào bọn mình muốn đi đâu,” nghe Eddie nói đến đấy, Bill thiếu điều muốn bay vào bóp cổ cậu bạn, dù câu trả lời ấy hoàn toàn có lý.
Eddie nhìn ba cái ống với vẻ mặt hồ nghi. Kích thước của cả ba đều đủ cho họ chui vào, nhưng ống dưới cùng có vẻ hơi chật.
Bill ra hiệu cho cả nhóm quay lại thành vòng tròn. “N-N-Nó ở chỗ chết toi nào?” Cậu hỏi mọi người.
“Ngay giữa thị trấn,” Richie gọn lỏn. “Ngay dưới lòng trung tâm thị trấn. Gần Kênh Đào.”
Beverly gật đầu, Ben và Stan cũng vậy.
“M-M-Mike?”
“Ừ.” cậu lên tiếng. “Đó là nơi Nó trú ngụ. Gần hoặc ngay dưới Kênh Đào.”
Bill quay sang Eddie. “Đ-Đ-Đường nào?”
Eddie lưỡng lự chỉ vào cái ống bên dưới… và dù lòng chùng xuống, Bill cũng không lấy làm ngạc nhiên. “Kia kìa.”
“Ôi, gớm quá,” Stan khó chịu ra mặt. “Đó là ống thải cứt.”
“Bọn mình không…” Mike nói dở câu rồi ngưng bặt. Cậu nghiêng đầu lắng nghe. Đôi mắt ánh lên sắc bén.
“Có…” Bill toan nói thì Mike đặt ngón tay lên môi ra hiệu im lặng. Giờ thì Bill cũng có thể nghe thấy: tiếng nước bì bõm. Càng lúc càng gần. Tiếng cằn nhằn, cấm cảu không rõ âm. Hóa ra Henry vẫn lì lợm chưa bỏ cuộc.
“Mau,” Ben giục. “Đi thôi.”
Stan quay lại nhìn đường cả đám đã đi, rồi nhìn xuống ống cống dưới cùng. Mím chặt môi, cậu gật đầu. “Đi thôi,” cậu nói. “Cứt rửa được.”
“Stan Quân Tử có được một tràng hay ho quá!” Richie ré lên. “Hô hô hô hô…”
“Richie, im ngay cho tớ nhờ!” Beverly rít lên.
Bill dẫn mọi người đến đường ống, nhăn mặt vì mùi hôi thối xộc vào mũi mình rồi bò vào bên trong. Mùi nước thải và mùi phân nồng nặc, nhưng hình như ở đây còn có thứ mùi khác nữa thì phải? Một thứ mùi trầm hơn, rần rật hơn. Nếu tiếng gầm của động vật có mùi (và Bill nghĩ nếu con vật ấy ăn đúng thứ thì chắc là có), thứ mùi ấy sẽ giống xú khí này. Bọn mình đi đúng hướng rồi. Nó từng ở đây… và Nó đã trú ngụ ở đây rất nhiều lần.
Họ lần mò đi được chứng sáu mét thì không khí thối hoẵng và độc hại. Cậu chậm chạm lép nhép tiến về phía trước, bì bõm lội qua những thứ không phải bùn lầy. Nhìn sau lưng mình, cậu lên tiếng, “Cậu đ-đ-đi ngay sau t-tớ nhé, E-E-Eddie. Tớ sẽ c-cần c-cậu.”
Ánh sáng tù mù sang màu xám, được một lúc rồi tắt hẳn, cả bọn
(bước ra khỏi sắc xanh và)
tiến vào đêm tối. Bill cứ thế đi, cắn răng chịu đựng mùi hôi, cảm tưởng thứ xú uế ấy có hình dạng và cậu đang cắt ngang qua nó, một tay giơ về phía trước, trong lòng chuẩn bị tư tưởng bất cứ lúc nào tay cậu cũng có thể chạm vào lớp lông lá thô ráp, để rồi những con mắt như ngọn đèn xanh rực sẽ mở bừng giữa bóng tối. Tất cả sẽ kết thúc bằng cơn đau lóe lên như thiêu đốt khi Nó cắn đứt đầu cậu khỏi cổ.
Màn đêm dày đặc âm thanh, mọi thứ đều bị phóng đại và vang vọng dội lại. Cậu có thể nghe thấy tiếng các bạn lội ngay phía sau mình, thỉnh thoảng lẩm bẩm gì đó. Có tiếng ùng ục và lanh canh lạ lùng. Đang đi thì bỗng dưng một dòng nước ấm ấm phát gớm ào lào chảy qua giữa hai chân, khiến cậu ướt đến tận đùi và được phen khiếp vía, Eddie hốt hoảng bấu chặt đằng sau áo cậu, và rồi dòng lũ nhỏ yếu đi. Từ cuối hàng, Richie rền rĩ pha trò: “Tớ nghĩ bọn mình vừa bị Người khổng lồ xanh Jolly tè trúng, Bill ạ.”
Jolly Green Giant, hình tượng đại diện của hãng rau củ đóng hộp Green Giant.
Bill có thể nghe thấy tiếng nước hoặc nước thải chảy theo lưu lượng được kiểm soát qua hệ thống các ống cống nhỏ hơn mà cậu đoán hẳn nằm trên đầu bọn họ. Nhớ lại nội dung lần trò chuyện với bố về hệ thống cống của Derry, cậu nghĩ mình biết chức năng của ống cống này là gì – nó được dùng để kiểm soát nước tràn ra vào những dịp mưa lớn hoặc trong mùa lũ. Nước thải bên trên sẽ rời khỏi Derry rồi được xả vào sông Torrault và sông Penobscot. Thị trấn không thích đổ thẳng phân vào sông Kenduskeag vì nó sẽ khiến Kênh Đào thối hoẵng. Nhưng tất cả thứ nước màu xám chảy trực tiếp vào con sông này, và trong trường hợp ống nước thải thông thường không đủ sức giải quyết nước thải thì hệ thống sẽ phải xả cống… như điều ban nãy vừa xảy ra. Đã xả cống một lần thì hoàn toàn có thể xả thêm lần nữa. Cậu lo ngại ngước lên nhưng chẳng thấy gì, dù cậu biết trên cùng hay thậm chí cả hai bên thành ống sẽ có nắp cống, và bất cứ lúc nào cũng đều có thể xảy ra…
Cậu không hề hay biết mình đã đi hết ống cống cho đến khi rơi ra ngoài, loạng choạng ngã nhào về phía trước, tay quơ quang trong không trung, bất lực tìm cách giữ thăng bằng. Bụng cậu đập lên một đống mềm mềm nằm bên dưới miệng ống cậu vừa lao ra khoảng sáu mươi xen-ti. Có thứ gì đó rít lên, chạy qua tay cậu. Cậu hét toáng, vội ngồi dậy, đưa bàn tay nhoi nhói của mình lên ngực, bàng hoàng nhận ra một con chuột vừa vượt qua tay mình; cậu còn cảm nhận được cái đuôi không lông thô ráp gớm ghiếc của nó quét ngang.
Cậu gượng đứng dậy thì đập đầu vào trần ống đánh cốp. Cú va đập mạnh đến độ Bill choáng váng khuỵu gối, trước mắt tưng bừng nổ những bông hoa đỏ to tướng trong màn đêm.
“C-C-Cẩn thận!” Cậu vội la lên. Lời cậu nói vẳng lại trong ống cống. “Cổng kết thúc ở đây rồi! E-Eddie! C-Cậu đ-đ-đâu rồi?”
“Đây!” Bàn tay quơ quàng của Eddie quệt vào mũi Bill. “Giúp tớ ra với Bill. Tớ không thấy đường! Tối…”
Bỗng tiếng xả nước ào ào vang lên. Beverly, Mike và Richie đồng thanh la lớn. Nếu là ban ngày, việc cả ba người cất tiếng hòa ca gần như cùng lúc thế này hẳn sẽ rất buồn cười, nhưng trong màn đêm dưới cống thế này, điều đó thật đáng sợ. Cả bọn đột ngột lao ra khỏi ống. Bill ôm chầm lấy Eddie, cố giữ cho tay bạn mình bình yên.
“Ôi Chúa ơi, tớ tưởng mình chết đuối tới nơi,” Richie rên. “Nước đổ xuống như lũ – ôi lạy hồn, cả một thác đầy cứt, tuyệt quá cơ, mai mốt người ta phải tổ chức cho lớp đi du lịch dưới này Bill ạ, bọn mình có thể nói thầy Carson làm trưởng đoàn…”
“Sau đó, cô Jimmison có thể ca một bài về sức khỏe,” Ben nói, giọng run run, và cả bọn run rẩy cười. Khi tiếng cười tắt dần, bỗng Stan òa lên khóc nức nở.
“Đừng vậy,” Richie nói, vụng về vòng tay qua đôi vai dinh dính của Stan. “Cậu làm cả bọn khóc theo bây giờ.”
“Tớ không sao!” Stan nói lớn, nước mắt rơi lã chã. “Tớ có thể chấp nhận sợ hãi, nhưng tớ ghét dơ dáy bẩn thỉu thế này lắm, tớ ghét khi không biết mình ở đâu lắm…”
“C-C-Cậu ngh-nghĩ mình c-còn que d-diêm nào d-d-dùng đ-được không?” Bill hỏi Richie.
“Tớ đưa hết cho Bev rồi.”
Bill cảm nhận một bàn tay chạm vào tay mình trong bóng tối và đưa cho cậu bọc diêm còn khô.
“Tớ kẹp chúng dưới nách,” cô nói. “Chắc còn dùng được. Cậu thử xem sao.”
Bill xé một que rồi quẹt diêm. Diêm lóe sáng, cậu khum tay giữ. Các bạn của cậu đang đứng nép vào nhau, nhăn mặt trước ánh sáng bừng lên. Ai nấy đều ướt sũng, nhoe nhoét phân, mặt mũi mọi người đều non nớt và đầy sợ hãi. Đằng sau, cậu có thể trông thấy ống nước thải mà họ vừa chui ra. Cái ống hiện tại thậm chí còn nhỏ hơn. Nó chạy thẳng theo cả hai phía, lòng ống đóng nhiều lớp cặn bẩn thỉu. Và…
Cậu khẽ rít lên và lắc que diêm khi lửa bén đến ngón tay. Lắng tai, cậu nghe thấy tiếng nước chảy, ào ào có, tí tách có, thỉnh thoảng lại ầm ầm khi van chống tràn xả nước, bơm thêm nước thải xuống sông Kenduskeag, và có Chúa mới biết lúc này họ cách sông bao xa. Cậu không nghe thấy tiếng Henry và bè lũ… hay nói đúng hơn là chưa.
“Có một x-x-xác ch-ch-chết phía bên ph-ph-phải tớ,” cậu khẽ nói. “Cách b-bọn mình kh-kh-khoảng b-b-ba m-mét. Tớ đoán l-là P-P-P…”
“Patrick?” Beverly run rẩy hỏi, chực hoảng loạn. “Có phải Patrick Hockstetter không?”
“Ph-Ph-Phải. Cậu có muốn tớ th-thắp th-th-thêm qu-que diêm không?”
“Cậu làm đi, Bill,” Eddie nói. “Nếu không thấy đường ống, tớ sẽ không biết mình phải đi đường nào.”
Bill thắp diêm. Dưới ánh lửa, cả nhóm trông thấy thi thể trương phình, xanh nhởn vốn dĩ từng là Patrick Hockstetter. Xác chết nhe nhởn cười với họ trong bóng tối, thân thiện đến rợn người, nhưng khuôn mặt chỉ còn một nửa; đàn chuột dưới cống đã xử lý nửa còn lại. Sách phụ đạo hè của Patrick vương vãi xung quanh, trương to chẳng thua kém gì từ điển do ẩm thấp.
“Chúa ơi,” Mike khô khốc thốt lên, mắt mở to.
“Tớ lại nghe thấy tiếng bọn chúng rồi,” Beverly nói. “Đám Henry.”
Xem chừng cấu trúc không gian đã đưa giọng nói của cô vang vọng đến chúng; bởi Henry hét xuống ống xả nước thải và trong thoáng chốc, cả bọn có cảm tưởng hắn đang đứng ngay đó.
“Bọn tao sẽ tóm chúng màyyyyy…”
“Giỏi thì làm đi!” Richie hét lên. Mắt cậu sáng rực, loang loáng và thảng thốt. “Giỏi thì đến đây xem, đồ trượt vỏ chuối! Dưới này cứ như bể bơi của Hiệp hội Thanh niên Cơ Đốc vậy đó! Giỏi…”
Đột nhiên, tiếng thét man rợ ngập ngụa sợ hãi và đau đớn vắng lại từ ống cống, khiến que diêm lập lòe rời khỏi tay Bill và tắt ngóm. Tay của Eddie vòng qua cậu, Bill ôm chầm lấy Eddie, cảm nhận cả người cậu bạn run như cầy sấy, ở phía ngược lại, Stan Uris cũng tiến sát đến. Tiếng thét càng lúc càng rít ré..và rồi sau tiếng nhập trầm đục, gớm ghiếc, tiếng thét im bặt.
“Có thứ gì đó bắt bọn chúng rồi,” Mike nghẹn ngào, kinh hãi trong màn đêm. “Thứ gì đó… thứ quái vật gì đó… Bill ơi, bọn mình phải ra khỏi đây… tớ xin cậu…”
Bill có thể nghe thấy kẻ sống sót – một hoặc hai người, do không gian quá vang nên không thể chắc chắn – bì bõm, nháo nhào lội qua ống nước thải về phía bọn họ. “Đ-Đường n-n-nào, E-Eddie?” Cậu hối. “C-Cậu b-biết không?”
“Về phía Kênh Đào à?” Eddie vừa lay cánh tay của Bill vừa hỏi.
“Phải!”
“Rẽ phải. Ngang qua Patrick… hoặc đạp lên hắn.” Giọng của Eddie chợt đanh lại. “Tớ chẳng quan tâm. Hắn là một trong những kẻ đã bẻ gãy tay tớ. Nhổ nước bọt vào mặt tớ nữa.”
“Đ-Đi thôi,” Bill nói, quay đầu nhìn ống nước thải mà cả bọn vừa chui ra. “Th-Thành m-một hàng! Chạm v-v-vào ng-người đằng tr-tr-trước, như b-b-ban nãy!”
Cậu mò mẫm tiến tới, quệt vai phải dọc theo mặt sứ nhớp nháp của ống cống, nghiến răng, không muốn đạp lên Patrick… hoặc đạp lủng hắn.
Và rồi họ cứ thế bò vào màn đêm, mặc kệ bao nhiêu nước cứ ầm ì chảy quanh, trong lúc ngoài kia giông tố dồn dập kéo đến, khuấy đặc bóng đêm bao phủ Derry - thứ bóng đêm thét gào với gió, tanh tách lửa điện, răng rắc cây đổ, chẳng khác nào tiếng gầm rú của những loài động vật tiền sử lúc lìa đời.
3
Nó/ Tháng Năm năm 1985Chúng đang đến, và dù mọi thứ đều xảy ra theo những gì Nó tiên liệu, một thứ Nó không ngờ tới đã trở lại: nỗi sợ hãi đáng ghét, điên người ấy… cảm giác ngay ngáy về Thế Lực Khác. Nó căm ghét nỗi sợ ấy, nếu có thể, Nó đã lao vào xâu xé và ăn tươi nuốt sống cảm giác sợ hãi này rồi… nhưng nỗi sợ cứ trêu ngươi chờn vờn ngoài tầm với, và Nó chỉ có thể giết chết nỗi sợ bằng cách kết liễu bọn chúng.
Hẳn nhiên chẳng cần gì phải sợ, giờ đây, bọn chúng đã già hơn, và quân số đã giảm từ bảy mống xuống còn năm. Năm là con số quyền năng, nhưng lại không mang tính linh thiêng thần kỳ như số bảy. Đúng là gã tay sai của Nó đã không thể giết chết thằng thủ thư, nhưng đằng nào thằng thủ thư ấy cũng mất mạng trong bệnh viện. Chút nữa, khi bình minh chưa kịp ló rạng, Nó sẽ cử một gã y tá có cái tật dùng thuốc vô độ vào tiễn thằng thủ thư về chầu trời.
Lúc này, con đàn bà của thằng nhà văn đang ở chỗ Nó, còn sống nhưng chẳng khác nào đã chết – tâm trí của ả bị phá hủy hoàn toàn ngay khi ả nhìn thấy Nó trong hình hài thật sự, khi Nó không mang mặt nạ và gột bỏ những hình hài ngụy trang - và tất nhiên những ảo ảnh ấy chỉ là tấm gương phản chiếu thứ mà kẻ đang kinh hãi nhìn kìa sợ nhất, những hình ảnh quang báo như khi tấm gương phản chiếu mặt trời vào con mắt đang ngây ngô giương ra và khiến nó chói đến mù lòa.
Giờ thì tâm trí vợ của thằng nhà văn đang ở chỗ Nó, ở trong Nó, ngoài rìa cự đại vũ trụ; trong bóng đêm mịt mùng mà con Rùa không thể quản; giữa nơi hẻo lánh, cách xa mọi vùng đất.
Ả đang nằm trong mắt Nó; ả đang ở trong tâm trí Nó.
Ả đang nằm trong tử quang.
Ôi, nói đi cũng phải nói lại, ngụy trang cũng thú vị ra phết. Ví dụ như Hanlon chẳng hạn. Bản thân hắn không còn nhớ, nhưng mẹ hắn hẳn sẽ biết con chim mà hắn trông thấy ở Xưởng đúc sinh ra từ đâu. Khi hắn mới chỉ là một đứa bé sáu tháng tuổi, mẹ hắn để hắn ngủ trong nôi ở giữa sân trong lúc bà ta ra sau phơi chăn mền và tã lót lên dây. Nghe thấy tiếng con mình hét toáng lên, bà ta hốt hoảng chạy lại thì thấy một con quạ rất to đang đậu lên thành nôi mổ lấy mổ để Mikey bé bỏng như con quái vật trong truyện cổ tích. Đứa bé hét lên vì đau và sợ, nhưng chẳng tài nào đuổi được quạ khi nó nhận ra con mồi vô cùng yếu đuối. Sau khi vung tay đập nó bay đi, bà ta nhận ra nó đã mổ tay Mikey chảy máu hai, ba chỗ nên vội đưa con đến bác sĩ Stillwagon để chích ngừa uốn ván. Một phần trong Mike vẫn nhớ hình ảnh ấy – đứa trẻ nhỏ bé, con chim to lớn – nên khi Nó tấn công Mike, cậu bé trông thấy một con chim khổng lồ.
Nhưng khi tên tay sai vốn là chồng của đứa con gái năm xưa bắt được con đàn bà của thằng nhà văn, Nó không mang bất cứ bộ mặt nào – khi ở nhà thì Nó không chưng diện. Thằng chồng tay sai nhìn đúng một lần và tức tử vì quá kinh hãi, mặt hắn xám xịt, mắt đầy máu, vốn phọt ra từ não ở cả chục chỗ là ít. Ả đàn bà của thằng nhà văn kịp nghĩ trong đầu một suy nghĩ đầy sức mạnh, ngập trong sợ hãi - ÔI CHÚA ƠI NÓ LÀ CON CÁI – rồi mọi suy nghĩ tắt ngóm. Ả chơi vơi trong tử quang. Nó đã cất công rời khỏi ổ của mình và chăm sóc thân xác của ả ta; chuẩn bị để lát nữa xơi tái. Hiện tại, Audra Denbrough đang bị treo lơ lửng giữa mớ bòng bong, chằng chịt trong lụa là, đầu gục xuống hõm vai, hai mắt thao láo, mờ mịt, chân duỗi xuống đất.
Nhưng đám bọn chúng vẫn còn sức mạnh. Tuy đã thui chột nhưng vẫn còn. Ngày xưa, khi là trẻ con, chúng từng mò đến đây, và bằng cách nào đó, bất chấp bao khó khăn, bất chấp những điều đáng lý phải xảy ra, có thể xảy ra, chúng đã phương hại Nó nặng nề, suýt chút nữa đã có thể giết chết Nó, buộc Nó phải tháo chạy thật sâu vào lòng đất, nơi Nó cuộn tròn, vừa đau, vừa căm hận, vừa tức tối, vừa run rẩy trong bể huyết kỳ dị của bản thân.
Thế là chẳng đặng đừng, lại một điều mới: lần đầu tiên trong lịch sử vô biên của mình, Nó cần phải lên kế hoạch, lần đầu tiên, Nó nhận ra mình rón rén, không dám lấy thứ mà Nó muốn từ Derry, vườn thú của riêng Nó.
Trước nay, món khoái khẩu của Nó là trẻ con. Nhiều người lớn cũng cung cấp nguồn thức ăn cho Nó mà không hề hay biết, thậm chí suốt chiều dài lịch sử, thỉnh thoảng Nó cũng ngấu nghiến một số ông già bà lão – người lớn cũng có nỗi sợ, và những đại huyệt có thể được tác động, khai mở để hóa chất sợ hãi tràn ngập cơ thể, ướp mặn thịt. Nhưng đa phần, nỗi sợ của bọn chúng quá phức tạp. Nỗi sợ của trẻ con đơn giản hơn, và thường mạnh mẽ hơn. Nỗi sợ hãi của trẻ con có thể tụ thành một khuôn diện duy nhất… nếu cần mồi nhử thì quá đơn giản, đứa con nít nào mà chẳng yêu thích chú hề kia chứ?
Nó mơ hồ nhận ra bằng cách nào đó, đám trẻ con này đã khiến công cụ của Nó phản chủ – tình cờ thế nào đấy (chắc chắn không thể nào có tính toán, không thể nào do bàn tay Thế Lực Khác dẫn dắt), bảy trí óc với trí tưởng tượng vô cùng sáng tạo này đã đoàn kết lại, đẩy lùi Nó đến vùng nguy hiểm cực độ. Đứng riêng lẻ, bảy đứa bọn chúng sẽ làm mồi ngon để Nó ăn tươi nuốt sống, và nếu bọn chúng không tình cờ kết bè kết phái với nhau, chắc hẳn Nó đã làm thịt từng đứa một, bởi Nó bị trí óc của chúng hấp dẫn chẳng khác nào sư tử bị thu hút tới vũng nước vì đánh hơi thấy mùi của ngựa vằn. Nhưng khi đoàn kết lại, chúng khám phá ra bí mật động trời mà ngay cả Nó còn không hay biết: rằng niềm tin là con dao hai lưỡi. Nếu thời trung cổ, một vạn nông dân tạo ra ma cà rồng bằng niềm tin chúng tồn tại, thì chỉ cần một người – có thể là một đứa trẻ - tưởng tượng ra cọc gỗ là đủ để giết nó. Song cây cọc chỉ đơn giản là khúc gỗ vô tri, chính tâm trí mới là cái búa đóng cọc vào đúng chỗ.
Nhưng cuối cùng, Nó đã trốn thoát; Nó trốn thật sâu, và đám trẻ mệt lử, nỗi sợ hãi ấy quyết định không bám theo Nó khi Nó đang trong tình trạng yếu đuối nhất. Chúng đã chọn cách tin rằng Nó đã chết hoặc đã hấp hối rồi rút đi.
Nó biết lời thề của bọn chúng, và biết chúng sẽ quay lại, giống như con sư tử biết ngựa vằn rốt cuộc sẽ trở lại bờ nước. Nó lên kế hoạch ngay dù lúc ấy Nó bắt đầu gật gà gật gù. Khi tỉnh dậy, Nó sẽ được chữa lành, được tái tạo – nhưng thời thơ ấu của chúng sẽ lụi tàn như bảy ngọn nến. Sức mạnh từ trí tưởng tượng năm xưa sẽ tắt ngúm, hao mòn. Chúng sẽ chẳng còn tưởng tượng dưới sông Kenduskeag có cá piranha hay nếu bước lên vết nứt trên vỉa hè thì coi chừng mẹ sẽ gãy lưng, hoặc nếu giết bọ rùa đậu trên cẳng chân thì tối đó nhà sẽ bị cháy. Thay vào đó, chúng tin vào bảo hiểm.
Đây là các quan niệm mê tín của phương Tây, tương tự như quan niệm ăn đậu đỏ, hay không ăn chuối trước kỳ thi trong văn hóa Việt Nam.
Thay vào đó, chúng tin vào thưởng rượu khi ăn tối – một loại rượu ngon nhưng đừng quá màu mè, như Pouilly-Fuissé ‘83, và này anh phục vụ, tôi nhờ anh để rượu thở được không? Thay vào đó, chúng tin vào việc thuốc Rolaids có thể trung hòa lượng axit trong dạ dày gấp 47 lần khối lượng của viên thuốc. Thay vào đó, chúng tin vào truyền hình, Gary Hart, tin vào việc chạy bộ để ngăn ngừa nhồi máu cơ tim, không ăn thịt đỏ để ngăn ngừa ung thư đại tràng. Chúng tin vào bác sĩ Ruth khi muốn tìm bí quyết phòng the và tin vào Jerry Falwell khi muốn được cứu rỗi. Mỗi năm trôi qua, ước mơ của chúng dần nhỏ lại. Và khi Nó tỉnh giấc, Nó sẽ gọi chúng lại, phải, gọi chúng trở về, vì sợ hãi sản sinh ra nộ khí, và nộ khí khát khao trả thù.
Để rượu thở là quá trình rót rượu vào một bình hứng (Decanter) trong khoảng 30 phút đến 6-7 tiếng, tùy loại, nhờ đó mà rượu tỏa hương thơm mạnh mẽ hơn, vị chát dịu đi.
Một chính trị gia người Mỹ.
Ruth Westheimer (sinh năm 1928), bà là bác sĩ trị liệu tình dục, người dẫn chương trình nổi tiếng và là tác giả của nhiều đầu sách về tình dục.
Mục sư Baptist Nam Phương, nhà thuyết pháp hay xuất hiện trên truyền hình.
Nó sẽ gọi chúng về rồi giết chúng.
Có điều, giờ đây, khi chúng trở về, sợ hãi lại giày vò Nó. Chúng đã lớn, và óc tưởng tượng của chúng đã thui chột – nhưng không thui chột đến mức Nó tưởng. Khi chúng hợp quần, Nó cảm nhận sức mạnh của bọn chúng tăng lên đến đáng gờm, khiến Nó bực mình, và lần đầu tiên, Nó tự hỏi liệu nước cờ này của Nó có sai hay không.
Nhưng buồn làm gì? Xúc xắc cũng đã gieo rồi, và không phải tất cả đều là điềm xấu. Thằng nhà văn đang nửa điên nửa dại vì vợ mình, quá tốt. Thằng nhà văn là kẻ mạnh nhất, nhìn theo cách nào đó, hắn là kẻ đã trui rèn đầu óc bao năm qua cho màn đụng độ này, và khi thằng nhà văn chết ngỏm, ruột gan phèo phổi phọt ra ngoài, khi thằng “Bill To Bự” mà chúng nó tôn thờ đi đời nhà ma, cái đám kia sẽ như rắn mất đầu mà thôi.
Nó sẽ được bữa ngon lành… và Nó sẽ lại rúc vào thật sâu. Rồi say sưa ngủ. Một thời gian.
4
Trong cống ngầm/ 4 giờ 30 phút sáng“Bill!” Richie hét vang vào ống cống. Anh đang di chuyển nhanh nhất có thể, nhưng tốc độ chẳng đáng là bao. Anh nhớ ngày còn bé, họ chỉ cần khom người đi trong cái ống thông từ trạm bơm trong Vùng Đất Cằn này. Nhưng giờ anh phải lồm cồm bò, và chẳng hiểu sao ống lại chật chội đến thế. Kính của anh cứ chực trượt khởi đầu mũi, buộc anh phải đẩy tới đẩy lui. Anh có thể nghe thấy tiếng của Bev và Ben ở đằng sau.
“Bill!” Anh la lên lần nữa.
“Eddie!”
“Tớ đây!” Giọng của Eddie vẳng lại.
“Bill đâu?” Richie hét to.
“Đằng trước!” Eddie đáp. Cậu bạn đã gần anh hơn, tối tăm mịt mùng nên Richie không nhìn thấy mà chỉ cảm nhận được bạn ở phía trước. “Cậu ấy đi nhanh quá!”
Đầu của Richie tông vào chân Eddie. Ngay sau đó, đầu của Bev đụng vào mông Richie.
“Bill!” Richie vận hết sức bình sinh gào lên. Ống cống âm vang tiếng thét của anh, bật nó trở lại làm anh muốn điếc cả tai. “Bill, đợi bọn tớ đã! Bọn mình phải đi với nhau, cậu biết rõ mà?”
Từ xa vắng lại giọng của Bill: “Audra! Audra! Em ở đâu?”
“Mẹ kiếp, Bill To Bự!” Richie khẽ rít lên. Kính của anh rơi xuống. Vừa chửi, anh vừa lần mò tìm kính, đeo cặp kính nhễu nước lên mũi. Hít vào một hơi, anh hét to: “Không có Eddie, cậu bị lạc bây giờ, đồ chết tiệt kia! Đợi đã! Đợi bọn tớ nữa! Cậu nghe thấy tớ không, Bill? ĐỢI BỌN TỚ ĐÃ, MẸ KIẾP!”
Đáp lại lời anh chỉ có sự tĩnh lặng điếng người. Dường như chẳng ai dám thở. Richie nghe thấy tiếng nước tong tỏng đằng xa, lần này, ống cống khô ráo, thỉnh thoảng mới gặp nước đọng.
“Bill!” Anh run rẩy vò đầu bứt tóc, cố kìm nước mắt. “THÔI NÀO… TỚ XIN CẬU! ĐỢI BỌN TỚ ĐÃ! TỚ XIN CẬU!”
Và rồi giọng của Bill vẳng lại dù rất nhỏ: “Tớ đang đợi đây.”
“Chúa làm ơn làm phước,” Richie lầm bầm. Anh vỗ mông Eddie. “Đi nào.”
“Tớ không biết tớ có thể cầm cự bao xa với một tay nữa,” Eddie ái ngại nói.
“Cứ đi đi,” Richie nói và Eddie bắt đầu bò tiếp.
Với vẻ mặt hốc hác và chẳng còn chút sắc khí, Bill đợi nhóm bạn ở đoạn ống thông của cống, nơi ba ống cống xếp thành hàng dọc như cột đèn giao thông. Vẫn có đủ không gian để họ đứng thẳng.
“Đằng kia,” Bill nói. “C-Criss. Và Ơ-Ơ-Ợ Hơi.”
Mọi người quay sang nhìn. Thấy Beverly thảng thốt nên lên, Ben quàng tay qua người cô. Bộ xương của Huggins Ợ Hơi bọc trong những miếng vải mục nát xem ra còn được toàn thây. Trong khi đó, xác của Victor đã mất đầu. Bill nhìn bên kia ống thông và trông thấy hộp sọ đang nhe nhởn cười.
Kia rồi, đầu của hắn nằm kia. Cứ để nó yên, các cậu ạ, Bill nghĩ mà rùng mình.
Phần này trong hệ thống nước thải đã không còn được sử dụng: Richie thấy lý do khá rõ ràng. Nhà máy xử lý nước thải đã đăng đàn tiếp quản. Đâu đó trong những năm tháng khi họ bận rộn học cách cạo râu, lái xe, hút thuốc, đàn đúm, ăn chơi hưởng thụ, Cục Bảo vệ Môi trường đã được thành lập, cơ quan này tuyên bố rằng việc thải chất thải chưa qua xử lý – thậm chí là nước xám – xuống sông suối là hành động không thể chấp nhận được. Do đó, phần trạm bơm này bị bỏ xó, thi thể Victor Criss cùng Huggins Ợ Hơi cũng vì vậy mà im lìm nằm lại. Như những cậu bé trong truyện cổ tích Peter Pan, Victor và Ợ Hơi không bao giờ lớn lên. Hài cốt của hai cậu bé trong áo thun, quần jean đã rữa nát rách bươm chôn vùi tại đây. Rêu mọc đầy trên những chiếc xương sườn cong vẹo của Victor và trên khóa cài thắt lưng hình con đại bàng của hắn.
“Con quái vật đã tấn công chúng,” Ben khẽ nói. “Các cậu nhớ không? Bọn mình nghe thấy tiếng động.”
“Audra ch-chết rồi,” giọng Bill cứng đờ. “Tớ biết điều đó.”
“Cậu làm sao mà biết được điều đó!” Beverly rít lên đầy phẫn nộ, đến độ Bill run bắn quay sang nhìn cô. “Tất cả những gì cậu biết là rất nhiều người khác đã bỏ mạng, và đa phần là trẻ con.” Cô bước đến rồi hiên ngang đứng trước mặt anh, tay chống nạnh. Mặt và tay cô nhoe nhoét cáu bẩn, tóc bết đầy đất cát. Richie thầm nghĩ trông cô chẳng khác nào nữ vương. “Và cậu biết kẻ nào là thủ phạm.”
“L-Lý r-r-ra tớ không được n-n-nói với cô ấy tớ đi đ-đâu,” Bill bần thần. “Tớ nói làm gì kia chứ? Tớ nói…”
Hai tay cô đưa ra và nắm chặt lấy áo anh. Richie ngạc nhiên ngây ra nhìn cô lắc lấy lắc để Bill.
“Thôi ngay! Cậu biết bọn mình đến đây làm gì mà! Bọn mình đã thề, và giờ thì bọn mình sẽ thực hiện lời thề ! Cậu hiểu lời tớ nói không, Bill? Nếu cô ấy chết rồi thì đành chịu… nhưng Nó chưa chết ! Giờ, cả bọn cần cậu. Cậu có hiểu không? Bọn tớ cần cậu!” Nước mắt cô nhạt nhòa. “Vậy nên hãy đứng lên vì bọn tớ! Cậu mà không đứng lên vì cả bọn như xưa thì còn lâu chúng mình mới toàn mạng ra khỏi đây!”
Anh lặng thinh nhìn cô một lúc lâu, và Richie bất giác nghĩ, Nào, Bill To Bự. Thôi nào, thôi nào…
Bill nhìn tất cả mọi người rồi gật đầu. “E-Eddie.”
“Tớ đây, Bill.”
“C-Cậu c-còn nh-nhớ ô-ô-ống nào không?”
Eddie chỉ ra sau Victor rồi nói: “Ống kia kìa. Trông hơi nhỏ nhỉ?”
Bill gật đầu lần nữa. “T-T-Tay bị gãy như vậy, cậu nhắm kham nổi không?”
“Tớ sẽ gắng vì cậu, Bill ạ.”
Bill mỉm cười: nụ cười mệt mỏi nhất, khủng khiếp nhất mà Richie từng thấy. “D-Dẫn đường đi, E-Eddie. Giải qu-quyết cho xong.”
5
Trong cống ngầm/ 4 giờ 15 phút sángVừa bò, Bill vừa nhắc nhở bản thân chú ý đến chỗ hụt thẳng đứng ở cuối ống cống nhưng vẫn không khỏi bất ngờ. Mới giây trước, tay anh đang mò mẫm dọc theo bề mặt thô ráp của cái ống cũ, thế mà giây sau, nó đã chới với giữa không trung. Anh nhào tới trước và cuộn tròn người theo phản xạ, đập vai xuống mặt đất đau điếng.
“C-C-Cẩn thận!” Anh vội vàng la lên. “Đoạn cuối của ống rồi! E-E-Eddie?”
“Tớ đây!” Tay của Eddie quơ quàng sượt qua trán Bill. “Cậu đỡ tớ ra được không?”
Anh vòng tay quanh người Eddie rồi đỡ lấy bạn mình, cố gắng cẩn thận để cánh tay bị thương của cậu ấy không bị ảnh hưởng. Ben là người tiếp theo, rồi tới Bev và Richie.
“Cậu có qu-qu-que diêm nào không, R-Richie?”
“Tớ có đây,” Beverly nói. Bill cảm nhận một bàn tay chạm vào tay mình trong đêm tối rồi dúi cho anh bọc diêm. “Chỉ còn tám hay mười que gì đấy, nhưng Ben cầm nhiều lắm. Tớ lấy từ phòng.”
“Lần này cậu cũng nhét chúng dưới n-n-nách à, B-Bev?” Bill hỏi.
“Lần này thì không,” cô đáp và vòng tay ôm anh trong bóng tối. Anh cũng ôm cô thật chặt, hai mắt nhắm nghiền, cảm nhận chút xoa dịu mà cô đang cố hết sức truyền tải.
Anh nhẹ nhàng buông tay rồi quẹt diêm. Ký ức vẫn in hằn trong tâm trí – tất cả bọn họ ngay lập tức quay sang phải. Hài cốt của Patrick Hockstetter vẫn còn đó, nằm giữa đống bầy hầy trương phồng, rêu mốc từng là sách vở. Thứ duy nhất nguyên hình nguyên dạng là hàm răng bành ra với hai, ba chiếc răng có vết trám.
Gần đó có một vòng tròn lấp lánh, phải căng mắt ra mới nhìn được dưới ánh lửa dập dờn của que diêm.
Bill phẩy tắt que diêm rồi quẹt thêm một que mới. Nhặt món đồ lên, anh nói: “Nhẫn cưới của Audra.” Giọng anh trống rỗng và vô cảm.
Que diêm tắt ngóm trên tay anh. Giữa màn đêm, anh đeo chiếc nhẫn lên tay mình.
“Bill?” Richie ngần ngừ. “Cậu có biết
6
Trong cống ngầm/ 2 giờ 20 phút chiềucả nhóm đã lang thang trong cống ngầm bên dưới Derry bao lâu kể từ lúc họ rời khỏi nơi phát hiện thi thể của Patrick Hockstetter, nhưng Bill dám chắc cậu không thể nào tìm được đường quay lại. Cậu cứ miên man nghĩ về điều mà bố cậu từng nói: Người ta có thể lạc hàng tuần dưới đó. Nếu cảm nhận về phương hướng của Eddie mà chệch thì cả nhóm chẳng cần Nó xuống tay làm gì, họ sẽ lang thang cho đến chết… hoặc nếu họ chui sai ống, họ sẽ chết chìm như đàn chuột trong bể nước mưa.
Nhưng Eddie dường như không hề nao núng. Thi thoảng, cậu lại nhờ Bill quẹt một trong số que diêm ít ỏi còn sót lại, đoạn nhìn quanh thật lung rồi tiếp tục tiến bước. Tưởng chừng cậu rẽ phải rồi quẹo trái một cách đầy ngẫu hứng. Có lúc ống cống rộng đến độ Bill còn không thể chạm đến trần ống dù vươn tay hết cỡ. Có lúc họ phải lồm cồm bò, và có một lần, trong suốt năm phút kinh hoàng (mà cứ ngỡ năm tiếng đồng hồ), họ trườn như giun, bụng áp vào thành ống, Eddie dẫn đường, các thành viên khác theo sát phía sau, mũi sát vào gót chân người đằng trước.
Điều duy nhất Bill dám chắc là họ đã tiến vào khu vực không còn được sử dụng trong hệ thống nước thải của Derry. Họ đã đi một quãng dài, khiến những ống cống còn hoạt động đều nằm ở đằng sau hoặc cách xa trên đầu họ. Tiếng nước chảy ầm ầm giờ đã phai nhạt thành tiếng ầm ì xa xăm. Những ống cống này cũ hơn, không phải loại gốm nung lò mà làm bằng một vật liệu giống đất sét dễ vụn, thỉnh thoảng lại ứa ra dịch hôi nồng nặc. Thứ mùi xú uế của phân người – choáng ngợp và gay gắt, thiếu điều khiến cả bọn ngạt thở ban nãy - đã phai đi, nhưng lại được thay thế bởi thứ mùi vàng úa, xưa cũ, tệ hại bội phần.
Ben nghĩ đó là mùi của xác ướp. Eddie lại thấy giống y như mùi của gã hủi. Richie thầm nhủ mùi này chẳng khác nào mùi áo khoác flannel từ đời tám hoành, giờ đã mốc meo và rách nát – chiếc áo khoác của dân đốn gỗ, chiếc áo cỡ khủng, đủ to để một người như Paul Bunyan mặc vừa. Với Beverly, nó lại thoảng mùi ngăn đựng tất của bố. Thứ mùi này lại đánh thức trong Stan Uris ký ức khủng khiếp từ thuở nhỏ – ký ức kỳ cục đặc sệt chất Do Thái trong một cậu bé chỉ mơ hồ hiểu thế nào là làm người Do Thái. Nó có mùi đất sét trộn dầu, khiến cậu nghĩ đến quái vật không mắt, không miệng có tên là Golem, vốn được người Do Thái phản đạo tạo ra vào thời Trung Cổ để cứu mình khỏi đám ngoại đạo cướp của, hiếp đáp phụ nữ và đánh đuổi họ bỏ xứ ra đi. Mike nghĩ đến thứ mùi khô khốc của lông vũ trong cái tổ trống rỗng.
Loay hoay mãi cũng đến được cuối ống cống chật như nêm, họ trườn như lươn xuống mặt cong của một chiếc ống khác chạy xiên với ống mà họ vừa chui, và lần này họ đã có thể đứng thẳng. Bill sờ vào đầu diêm còn lại. Bốn que. Cậu nghiến răng, quyết định không thông báo với nhóm bạn rằng cả đám sắp sửa hết nguồn cung ánh sáng… còn có được chừng nào hay chừng đó.
“C-C-Các cậu s-s-sao r-rồi?”
Nghe tiếng họ lầm bầm đáp lại, cậu gật đầu trong bóng tối. Không ai bắt chước Stan hoảng loạn và khóc lóc. Tín hiệu tốt. Cậu lần mò chạm vào tay các bạn, cả nhóm cứ thế túm tụm đứng bên nhau giữa màn đêm mịt mùng, cảm nhận nhau để vừa cho đi vừa nhận lại. Giây phút ấy, Bill cảm nhận niềm hân hoan rõ nét, một cảm giác chắc chắn rằng ở bên nhau, họ tạo ra nguồn sức mạnh lớn lao hơn bảy người bọn họ đứng riêng lẻ; rằng họ bổ khuyết vào một thể thống nhất, quyền uy hơn bội phần.
Cậu quẹt thêm một que diêm, cả bọn trông thấy đường hầm nhỏ hẹp chạy là là xuống dốc. Trần ống dính đầy mạng nhện, nhiều mạng nhện đã bị rách toạc và lòng thòng thành những đám bùng nhùng. Nhìn chúng mà Bill rợn đến tận xương tủy. Sàn ống khô nhưng phủ lớp mốc meo dày cui, cùng lớp mùn đoán chừng là lá cây hoặc nấm… hoặc phân của thứ gì đó không tưởng nổi. Cách đó một đoạn, cậu trông thấy đống xương và lổn nhổn bùi nhùi màu xanh. Có thể trước đây chúng từng là vải cotton bóng được dùng để may quần áo lao động. Bill đoán có lẽ một nhân viên Cục Nước thải hoặc Cục Nước bị lạc nên mới lòng vòng xuống đây và bị phát hiện…
Que diêm bập bùng. Cậu nghiêng đầu diêm xuống dưới để ánh sáng duy trì thêm chút nữa.
“C-C-Cậu có b-biết m-m-mình đang ở đ-đâu kh-không?” Cậu hỏi Eddie.
Eddie chỉ xuống một lỗ cống hơi cong vẹo. “Kênh Đào ở hướng này,” cậu đáp. “Chưa tới tám trăm mét nữa, trừ khi cống rẽ theo hướng khác. Tớ nghĩ bọn mình đang ở dưới đồi Dặm Trên. Nhưng Bill này…”
Que diêm bén xuống ngón tay Bill, buộc cậu phải vứt xuống. Bóng tối lại bao trùm cả nhóm. Ai đó – Bill đoán là Beverly – vừa thở dài. Trước khi que diêm tắt hẳn, cậu trông thấy vẻ mặt Eddie đượm âu lo.
“S-S-Sao thế? C-Có ch-chuyện gì à?”
“Tớ thật sự có ý nói bọn mình đang ở dưới đồi Dặm Trên đấy. Bọn mình chui xuống khá sâu rồi. Chẳng có ai xây ống nước thải sâu đến vậy. Khi cậu đặt đường ống ngầm sâu đến mức này, ta gọi nó là giếng mỏ.”
“Cậu ước lượng mình đang ở sâu chừng nào, Eddie?” Richie hỏi.
“Bốn trăm mét,” Eddie đáp. “Hoặc hơn.”
“Ôi lạy Chúa tôi,” Beverly thảng thốt.
“Mà đây cũng chẳng phải cống nước thải,” Stan cất tiếng từ đằng sau. “Ngửi mùi là biết. Mùi rất hôi nhưng không phải mùi hôi của nước cống.”
“Thà bắt tớ hít mùi nước cống còn hơn,” Ben nói. “Thứ mùi này giống như…”
Một tiếng thét vẳng xuống chỗ bọn họ, từ miệng ống cống mà cả nhóm vừa chui ra, tóc gáy Bill dựng đứng. Cả bảy người rúm ró bấu chặt lấy nhau.
”… sẽ bắt lũ khốn kiếp chúng mày. Bọn tao sẽ bắt chúng màyyyyy…”
“Henry, Eddie thở hắt ra. “Ôi Chúa ơi, hắn vẫn đuổi theo bọn mình.”
“Chẳng hề bất ngờ,” Richie nhận xét. “Nhiều người ngu quá nên có biết điểm dừng đâu.”
Họ có thể nghe tiếng thở vẳng lại, tiếng giày loẹt quẹt và tiếng quần áo loạt soạt.
*”… chúng màyyyyyy…”
“Đ-Đ-Đi thôi,” Bill nói.
Họ bắt đầu hối hả men theo ống cống, đi thành hàng hai người, ngoại trừ Mike ở cuối: Bill đi với Eddie, Richie với Bev, Ben với Stan.
“C-Cậu nghĩ H-H-Henry c-cách bọn m-m-mình x-x-xa kh-không?”
“Tớ chịu thôi, Bill To Bự,” Eddie đáp. “Âm thanh vang quá.” Cậu hạ giọng. “Cậu có thấy đống xương kia không?”
“C-C-Có,” Bill khẽ khọt đáp.
“Có thắt lưng đeo dụng cụ trong đống quần áo. Tớ nghĩ đó là nhân viên Cục Nước.”
“Ch-Chắc v-v-vậy.”
“Cậu nghĩ đã lâu chưa…”
“Tớ kh-kh-không b-b-biết.”
Eddie áp bàn tay còn lành lặn của mình nắm lấy tay Bill trong đêm tối.
Chừng mười lăm phút sau, họ nghe thấy tiếng thứ gì đó tiến đến giữa màn đêm.
Richie đứng sững lại như tượng. Bỗng dưng, cậu như biến thành đứa trẻ ba tuổi. Cậu lắng nghe chuyển động lép nhép, sột soạt – càng lúc càng gần thêm – kèm theo âm thanh lạo xạo tua tủa, và trước khi Bill kịp đánh diêm, cậu đã biết nó là gì.
“Con mắt!” Cậu thét lên. “Chúa ơi, Con mắt Biết bò!”
Trong thoáng chốc, những thành viên còn lại chưa biết mình đang nhìn thấy gì (Beverly còn tưởng bố đã tìm ra cô dù ở tít dưới lòng đất này, Eddie thì loáng thoáng trông thấy Patrick Hockstetter sống dậy từ cõi chết, bằng cách nào đó hắn đã sượt qua và giờ đang đứng trước mặt bọn họ), nhưng tiếng thét của Richie, sự đinh ninh của Richie đã cô đọng dáng hình trước mắt cả nhóm. Mọi người thấy hình ảnh Richie trông thấy.
Một con mắt khổng lồ lấp đầy đường cống ngầm, đồng tử đen nháy loang loáng như kính rộng chừng sáu mươi xen-ti-mét, mống mắt có màu nâu đỏ như đất. Trong trắng lồi ra, nhầy nhầy lớp màng, vằn vện mạch máu đập thình thịch. Không mí mắt, không lông mi, thứ gớm ghiếc sền sệt ấy di chuyển trên những xúc tu bầy nhầy. Chúng dò dẫm bề mặt đầy đất cát của cống ngầm và lổn ngổn như những ngón tay, dưới ánh lửa lập lòe của que diêm trên tay Bill, con mắt dường như mọc ra những ngón tay lúc nhúc kéo Nó di chuyển.
Nó nhìn bọn họ với ánh mắt trống rỗng và thèm thuồng. Que diêm lụi tắt.
Trong bóng tối, Bill cảm nhận được những xúc tu tua tủa vờn qua mắt cá, cẳng chân mình… nhưng cậu không sao cử động được. Toàn thân cậu cứng đờ. Cậu cảm nhận được Nó đang đến gần, cảm nhận được sức nóng tỏa ra từ Nó, nghe được nhịp đập ươn ướt của những mạch máu trên màng mắt Nó. Cậu tưởng tượng mình sẽ thấy dinh dính khi Nó chạm vào người mình nhưng vẫn không tài nào thét lên được. Ngay cả khi những xúc tu rần rật ấy trườn qua eo, móc vào con đỉa quần jean rồi kéo cậu về phía trước, cậu vẫn không thể nào hét lên hay chống cự. Cả người cậu cứ mụ đi, mơ màng như chìm vào giấc ngủ.
Beverly cảm nhận một xúc tu móc quanh tai mình rồi bất thình lình siết chặt thòng lọng. Cơn đau lóe lên, cô bị kéo tới trước, vừa quằn quại vừa rên oai oái như thể bị bà giáo già mất kiên nhẫn nhéo tai lôi ra sau lớp và bắt ngồi trên ghế đẩu, đội mũ dành cho học sinh hư. Stan với Richie toan lùi ra sau, nhưng chưa gì rừng xúc tu đã đung đưa và thì thầm xung quanh họ. Ben quàng một tay quanh vai Beverly, cố kéo cô lại. Cô hoảng sợ chộp thật chặt lấy tay cậu.
“Ben… Ben, Nó bắt được tớ rồi…”
“Không. Nó không bắt đâu… Đợi đó… Tớ sẽ kéo…”
Cậu vận hết sức bình sinh kéo cô lại, Beverly thét lên khi cơn đau như cứa vào tai cô, máu bắt đầu ứa ra. Một xúc tu khô và cứng sượt qua áo Ben, dừng lại rồi siết vào vai cậu chặt đến phát đau.
Bill vung tay, vô tình chọc thẳng vào một thứ ươn ướt, vừa nhầy vừa dính. Con mắt! Tâm trí cậu gào lên. Ôi Chúa ơi, tay mình đâm vào con mắt đó rồi! Ôi Chúa ơi! Lạy Chúa lòng lành! Con mắt ấy! Tay mình xuyên vào trong mắt rồi!
Cậu cố gắng vật lộn, nhưng những xúc tu vẫn tiếp tục kéo cậu tới trước. Bàn tay cậu bị cái nóng ẩm ướt ngấu nghiến. Rồi cẳng tay cậu. Giờ thì cánh tay cậu xuyên thẳng vào Con mắt, sâu đến khuỷu tay. Chẳng mấy chốc, cả cơ thể cậu sẽ áp sát vào bề mặt dính nhớp nháp ấy, và cậu cảm thấy giây phút ấy, mình sẽ phát điên mất thôi. Cậu hoảng loạn giãy giụa, dùng tay còn lại quật lấy quật để xúc tu.
Eddie đứng ngây ra như đang chìm trong giấc mơ, tai loáng thoáng nghe thấy tiếng thét, tiếng quẫy đạp khi bạn bè cậu đang dần bị con mắt lôi vào. Cậu cảm giác các xúc tu đang ở quanh mình nhưng chưa chạm vào cậu.
Chạy về nhà đi! Tâm trí cậu lớn tiếng ra lệnh. Chạy về với mẹ đi, Eddie! Mày tìm được đường mà!
Bill đang gào thét trong bóng tối – tiếng thét rít ré, tuyệt vọng, theo sau là một tràng lép nhép, soàm soạp.
Bao nhiêu tê liệt của Eddie như vỡ òa – Nó đang tìm cách bắt lấy Bill To Bự!
“Không!” Eddie gầm lên – tiếng gầm đầy dũng mãnh. Có lẽ chẳng ai tưởng nổi tiếng thét uy hùng như chiến binh lại có thể cất lên từ bộ ngực gầy nhom ấy, bộ ngực của Eddie Kaspbrak, buồng phổi của Eddie Kaspbrak, phải, cái buồng phổi bị hen suyễn nặng nhất đất Derry này. Cậu nhào người tới trước, nhảy lên những cái xúc tu nhung nhúc mà chẳng buồn nhìn, cánh tay bị gãy đập bồm bộp vào ngực khi nó vung tới vung lui trong bó bột sũng nước. Lục lọi trong túi mình, cậu lôi ống thở ra.
(axit nó có vị như axit như axit như axit trong pin)
Tông đánh rầm vào lưng Bill Denbrough, cậu gạt phăng bạn mình sang một bên. Có một tiếng nước rúng động ì oạp, theo sau là tiếng rên rỉ khe khẽ, Eddie không nghe bằng tai mà cảm nhận bằng tâm trí. Cậu giơ ống thở lên.
(axit đây là axit nếu mình muốn nên ăn mòn đi ăn mòn đi ăn mòn đi)
“AXIT TRONG PIN ĐÂY, MẸ KIẾP NHÀ MÀY!” Eddie hét lên và bật ống thở. Cùng lúc, cậu giơ chân thúc vào con mắt. Chân cậu thọc sâu vào phần giác mạc như thạch của Nó. Một thứ dịch nóng rẫy ứa lên chân cậu. Cậu rút chân ra, chỉ lờ mờ nhận thấy mình đã mất một bên giày.
“CÚT NGAY! BIẾN ĐI, SAM! CUỐN XÉO ĐI, JOSÉ! MẸ KIẾP! BIẾN NGAY CHO TAO!”
Cậu cảm thấy những xúc tu chạm vào mình nhưng có phần e dè. Cậu lại xịt ống thở phủ hết con mắt, và lại một lần nữa nghe thấy, cảm thấy tiếng rên rỉ kia… nhưng giờ nó có vẻ đau đớn, ngạc nhiên.
“Đánh Nó!” Eddie xa xả với cả nhóm. “Nó chỉ là một con mắt thôi! Đánh Nó! Các cậu nghe thấy không? Đánh Nó đi, Bill! Đá cho nó ra bã luôn đi! Ôi Chúa ơi, cái đám bún thiu chết toi kia! THẰNG BỊ GÃY TAY NHƯ TỚ còn đang làm gỏi Nó đây này!”
Bill cảm thấy sức mạnh của mình như trở lại. Cậu giật phăng cánh tay đang tong tỏng nước của mình ra khỏi con mắt… rồi dồn sức vung thẳng nắm đấm vào Nó. Ngoảnh sang, cậu thấy Ben đứng ngay bên cạnh. Ben xộc thẳng vào con mắt, gầm gừ vừa ngạc nhiên vừa ghê tởm rồi tung nắm đấm túi bụi vào bề mặt như thạch đang run rẩy ấy. “Thả cô ấy ra!” Cậu gầm lên. “Nghe không hả? Thả cô ấy ra! Biến đi! Biến khỏi đây mau!”
“Bõ bèn gì con mắt! Nó chỉ là một con mắt thôi!” Eddie điên cuồng gào lên. Xịt ống thở thêm lần nữa, cậu cảm nhận Nó rụt lại. Những xúc tu ban nãy quấn vào người cậu giờ cũng buông lơi. “Richie! Richie! Nhào lên! Sợ quái gì con mắt!”
Richie loạng choạng tiến tới, trong thâm tâm không tài nào tin nổi mình thật sự đang lại gần thứ quái vật khủng khiếp nhất, đáng sợ nhất trần đời. Nhưng sự thật là thế.
Cậu chỉ dám tung một cú đấm yếu ớt, và khi cảm nhận nắm tay mình nhúng vào con mắt – vừa dày vừa ướt và giòn giòn như sụn – cậu thiếu điều muốn nôn toàn bộ lòng mề ra ngoài. Cậu ọe lên một tiếng, và nghĩ đến việc mình vừa ói lên con mắt, cậu lại xây xẩm nôn thêm lần nữa. Chỉ một cú đấm, nhưng có lẽ thế này là đủ, bởi vốn dĩ cậu chính là người đã tạo ra con quái vật này. Bỗng những cái xúc tu biến mất. Họ có thể nghe thấy Nó rút lui… và rồi những âm thanh duy nhất còn lại là tiếng Eddie thở hồng hộc và tiếng Beverly khóc rưng rức, một tay bưng bên tai chảy máu.
Bill quẹt một trong ba que diêm còn lại, cả bọn nhìn nhau với vẻ mặt bàng hoàng, thảng thốt. Cánh tay trái của Bill vẫn nhoe nhoét thứ dịch đặc sệt, xám xịt trông như lòng trắng trứng đã đông trộn với gỉ mũi. Máu từ từ rỉ xuống cổ của Beverly, mặt Ben bị rách một đường. Richie chậm rãi đẩy kính lên mũi.
“C-C-Các cậu ô-ô-ổn chứ?” Bill khàn khàn hỏi.
“Cậu thì sao, Bill?” Richie hỏi.
“Tớ ô-ô-ổn.” Cậu quay sang Eddie và trao cho cậu bạn nhỏ con cái ôm thật chặt. “Cậu đã c-c-cứu m-mạng tớ, bạn hiền.”
“Nó ăn một bên giày của cậu rồi kìa,” Beverly nói và ha hả cười. “Thế có chết không cơ chứ.”
“Tớ sẽ mua cho cậu một đôi Keds mới khi bọn mình ra khỏi đây,” Richie tuyên bố. Cậu vỗ lên lưng Eddie trong bóng tối. “Cậu làm sao mà hay vậy, Eddie?”
“Tớ dùng ống thở bắn nó. Giả vờ đây là axit. Mà hôm nào tớ không vui, xịt một lúc thì nó có vị như thế thật. Hiệu quả ghế.”
“THẰNG BỊ GÃY TAY NHƯ TỚ còn đang làm gỏi Nó đây này.” Richie nhại lại và khúc khích cười. “Buồn cười phết, Eds ạ. Cậu sắp thành cây hài rồi đấy.”
“Tớ ghét cậu gọi tớ là Eds lắm đấy nhé.”
“Tớ biết mà,” Richie nói và ôm chặt bạn mình, nhưng phải có ai đó làm cậu sáng mắt ra, Eds ạ. Khi cậu không còn được bảo bọc trong nhung lụa mà lăn lộn bươn chải. Ôi chao, ôi chao, cậu sẽ nhận ra đời không như là mơ, nhóc ạ!”
Eddie phá lên cười ha hả. “Giọng gì dở như hạch thế, Richie.”
“Chậc, cậu cứ giữ ống thở nhé.” Beverly lên tiếng. “Có khi mình sẽ lại cần đấy.”
“Cậu không thấy Nó nữa à?” Mike hỏi. “Lúc cậu bật diêm ấy?”
“N-N-Nó đ-đ-đi rồi,” Bill nói nhưng cũng u ám đế thêm. “Nhưng bọn mình đang tiến đến gần Nó. Tới h-hang ổ mà N-Nó tr-tr-trú ngụ. Tớ ngh-nghĩ l-lần đó b-bọn mình đ-đ-đã đả th-thương N-Nó.”
“Henry vẫn đang đuổi theo đấy.” Stan nói. Giọng cậu trầm và khô khốc. “Tớ có thể nghe thấy tiếng hắn từ xa.”
“Vậy mình đi thôi,” Ben đề nghị.
Cả bọn lại lục tục đi. Đường cống ngầm xuôi dần xuống dốc, và thứ mùi ấy – thứ xú khí hoang dại âm ỉ - càng lúc càng nồng nặc. Thỉnh thoảng, họ nghe thấy tiếng Henry ở phía sau, nhưng giờ đây, tiếng thét của hắn sao thật xa xôi và chẳng còn quan trọng. Một cảm giác nhen nhóm trong lòng họ - giống y như cảm giác lạc lối và mất phương hướng như cái lần bước vào căn nhà trên đường Neibolt – rằng họ đang bước qua rìa của thế giới, bước vào hư không lạ kỳ. Bill cảm thấy (dù không biết diễn tả bằng lời như thế nào) rằng cả nhóm đang tiến đến trái tim đen tối và hỏng nát của Derry.
Mike Hanlon dường như cảm nhận được nhịp đập hỗn loạn, bệnh hoạn của trái tim ấy. Beverly cảm thấy nguồn năng lực ma quỷ càng lúc càng mạnh xung quanh cô, chực chờ bao bọc lấy cô, cố tách cô ra khỏi mọi người, khiến cô chỉ còn một mình. Lo lắng, cô vươn tay ra hai bên và chộp lấy tay của Bill và Ben. Sao mà sải tay của cô phải vươn xa đến thế, nó khiến cô nóng ruột la lên: “Nắm tay nhau đi mọi người! Hình như bọn mình đang dạt khỏi nhau đấy!”
Stan là người đầu tiên nhận ra mình đã có thể nhìn thấy trở lại. Trong không gian có thứ ánh sáng trầm đục, lạ kỳ. Ban đầu, cậu chỉ nhìn thấy tay – tay cậu, một bên nắm lấy tay Ben, bên còn lại nắm lấy tay Mike. Rồi cậu nhận ra mình có thể thấy nút áo thun dính bùn đất của Richie và chiếc nhẫn Đội trưởng Nửa đêm – quà khuyến mãi rẻ tiền trong hộp ngũ cốc - Eddie thích đeo trên ngón tay út.
“Các cậu có thấy đường không?” Stan hỏi rồi khựng lại. Cả nhóm cũng khựng lại theo. Bill đưa mắt nhìn quanh, đến lúc ấy, cậu mới ý thức được mình nhìn thấy – dù chỉ chút ít – và rằng đường cống ngầm đã mở rộng thênh thang. Lúc này, họ đang đứng trong một gian phòng có mái vòm không thua kém gì đường hầm Sumner Boston. Thậm chí còn rộng hơn, cậu chữa lại khi nhìn quanh với vẻ hết sức trầm trồ.
Cả bọn nghển cổ nhìn trần nhà, cách họ ít nhất mười lăm mét, được chống đỡ bằng những trụ tường bằng đá cong cong trông như mạng sườn. Mạng nhện bẩn thỉu chẳng giữa các cây trụ. Sàn nhà được lát đá, nhưng đóng bên trên là một lớp đất cát từ ngày xưa ngày xưa khiến tiếng bước chân của họ không thay đổi. Hai bức tường uốn vòng dễ phải cách họ đến mười lăm mét.
“Nước dưới này vô tư chảy,” Richie nói và cười bối rối.
“Trông như thánh đường vậy,” Beverly khẽ khọt.
“Ánh sáng chiếu từ đâu nhỉ?” Ben thắc mắc.
“Hình nh–như t-từ mấy b-b-bức t-tường thì phải.” Bill lên tiếng.
“Tớ thấy khó chịu thế nào ấy,” Stan nhận xét.
“Đ-Đi thôi. HH-Henry dí s-s-sát tận c-c-cổ bọn mình…”
Tiếng thét inh tai nhức óc xé toạc không gian âm u, và rồi tiếng vỗ cánh phành phạch, nặng nề vang lên. Bỗng một cái bóng lao ra từ bóng tối, một mắt lóe lên- mắt còn lại đen thui như ngọn đèn cháy.
“Con chim!” Stan hét lên. “Coi chừng, con chim bổ ra đấy!”
Nó lượn về phía họ như chiếc máy bay chiến đấu gớm ghiếc, cái mỏ màu cam thô ráp mấp máy đóng mở, để lộ phần màu hồng trong miệng, trông như lớp đệm sa tanh của quan tài.
Nó nhào thẳng đến Eddie.
Mỏ của Nó rỉa vào vai, cậu cảm thấy cơn đau thấm đẫm vào da thịt mình như bị tạt axit. Máu tuôn xuống ngực. Cậu ré lên khi luồng khí từ đôi cánh đập phành phạch của Nó thổi làn hơi độc hại trong cống tốc lên mặt cậu. Nó bay vòng lại, mắt lóe lên đầy ác ý, long sòng sọc trong hốc mắt, chỉ mờ đi khi màng nháy xuống trong thoáng chốc để bọc con mắt bằng một lớp mỏng như giấy. Móng vuốt của Nó nhắm tới Eddie lúc này vừa cuống cuồng né vừa la hét ỏm tỏi. Chúng quẹt ngang khiến lưng áo cậu rách toạc, xẻ những đường đỏ tươi khá nông trên xương vai. Eddie gào thét và cố bỏ đi nhưng con chim vẫn bay vòng lại.
Mike nhảy tới trước, thọc tay vào túi lấy ra con dao gấp hiệu Buck. Khi con chim nhào xuống Eddie lần nữa, cậu vung dao vụt một đường sắc bén xoẹt vào vuốt của con chim. Vết cắt sâu hoắm làm máu ồ ạt ộc ra. Con chim vụt lên rồi chao lượn xuống, hai cánh gập lại, lao vù vù như viên đạn. Trong tích tắc, Mike vừa kịp lăn sang một bên, con dao chém thẳng lên trời. Cậu vung hụt, không may móng vuốt của con chim phạt trúng cổ tay mạnh đến độ cả tay cậu rần rần tê liệt – về sau vết bầm lan đến tận khuỷu tay. Con dao gấp bay vèo vào bóng tối.
Con chim vòng lại, kêu lên đắc thắng, Mike chỉ còn biết lăn người lên chắn cho Eddie và chuẩn bị tinh thần cho tình huống tệ nhất.
Stan bước đến chỗ hai người bạn đang co rúm trên sàn lúc con chim bay đến. Cậu hiên ngang đứng đó, nhỏ nhắn, tinh tươm, dù đất cát bám đầy ở tay và quần áo, bất thình lình, cậu giơ tay ra thành một cử chỉ lạ lùng - lòng bàn tay ngửa lên, ngón tay chĩa xuống. Con chim thét lên một tiếng nữa rồi chệch đi, vượt qua người Stan, chỉ cách cậu chưa tới chục phân, thổi tóc tai cậu dựng ngược trong tích tắc lúc bay ngang. Cậu xoay người theo hình vòng tròn, đối mặt về hướng Nó bay đến.
“Tao tin chim Tanager đỏ có tồn tại dù tao chưa nhìn thấy nó lần nào,” cậu nói vang, giọng cao và rõ. Con chim rít lên rồi lùi lại như thể vừa trúng đạn cậu bắn. “Tao cũng tin vào chim kền kền, chim ác là New Guinea, chim hồng hạc của Brazil.” Con chim vừa kêu rít vừa bay vòng vòng rồi bất thình lình, vút thẳng lên trần hầm, kêu quang quác. “Tao tin vào chim đại bàng đầu trắng lông vàng!” Stan thét vang với theo. “Tao còn tin đâu đó trên đời có cả phượng hoàng nữa kìa! Nhưng tao không tin mà có thật, nên cuốn xéo ngay khỏi đây cho tao! Biến ngay! Lượn đi!”
Cậu dừng lại, bốn bề tĩnh lặng như tờ.
Bill, Ben cùng Beverly cùng tiến đến chỗ Mike và Eddie, mọi người giúp Eddie đứng dậy, Bill xem xét vết thương. “Kh-Không s-s-sâu lắm,” cậu nhận xét. “Nhưng ch-chắc đ-đ-đau như h-h-hoạn.”
“Nó làm áo tớ rách tơi tả rồi Bill To Bự ơi,” nước mắt lã chã rơi trên má Eddie, cậu hít thở khó nhọc. Tiếng thét trầm hùng ban nãy đã biến mất, thật khó tưởng tượng tiếng nói âm vang ấy đã cất lên từ cậu bé này. “Tớ biết nói với mẹ thế nào đây?”
Bill khẽ mỉm cười. “S-S-Sao cậu không l-lo mình làm th-thế nào để r-r-r-ra khỏi đây? Hít một h-hơi đi, E-Eddie.”
Eddie làm theo, hít vào thật sâu rồi khò khè thở.
“Tuyệt cú mèo đó,” Richie nói với Stan. “Đỉnh của chóp ấy chứ!”
Stan run như cầy sấy. “Không có con chim nào như vậy cả, đơn giản là thế. Trước đây hay mai này cũng thế.”
“Bọn tao đến đây!” Henry hét lên từ đằng sau như kẻ loạn trí. Hắn vừa cười ha hả vừa gào rống, chẳng khác nào con quái vật chui lên từ lỗ nứt dẫn xuống Địa ngục. “Tao và Ợ Hơi! Bọn tao đang đến làm thịt tụi mày đây! Đừng hòng trốn thoát!”
“B-B-Biến đi, H-H-Henry!” Bill gầm lên. “Tr-Tr-Trong lúc còn th-th-thời gian!”
Henry chỉ đáp lại bằng tiếng gào chẳng rõ nghĩa. Họ nghe thấy tiếng bước chân rầm rập và Bill chợt ngộ ra toàn bộ vai trò của Henry: hắn có thật, hắn bằng xương bằng thịt và đừng hòng ngăn chặn hắn bằng ống thở hay cuốn sách về các loài chim. Ma thuật không có tác dụng với Henry, vì đầu óc hắn quá thui chột.
“Đ-Đ-Đi th-thôi. Bọn mình ph-phải đi tr-tr-trước h-h-hắn.”
Cả nhóm tiếp tục đi, nắm tay nhau, chiếc áo rách như tổ đỉa của Eddie lật phật sau lưng. Không gian càng lúc càng sáng, đường hầm càng lúc càng rộng. Hầm nghiêng xuống dốc và đồng thời, trần cao vời vợi đến khuất tầm mắt. Dường như họ không còn đi trong đường cống ngầm mà đang bước trong sân chơi khổng lồ dưới lòng đất dẫn tới một tòa lâu đài xếp bằng đá nào đó. Ánh sáng phát ra từ các bức tường đã biến thành ngọn lửa màu vàng xanh lập lòe. Xú khí càng lúc càng mạnh, và họ bắt đầu cảm nhận được rung động chẳng rõ thực sự tồn tại hay chỉ đang nện trong tâm trí. Rung động đều đặn, theo nhịp điệu.
Là tiếng tim đập.
“Hết đường rồi!” Beverly la lên. “Nhìn kìa! Bức tường phẳng lì đằng kia!”
Lít nha lít nhít như đàn kiến con trên sàn nhà lát đá bẩn thỉu rộng mênh mông với mỗi khối đá to hơn cả công viên Bassey, họ tiến lại thì trông thấy bức tường không hoàn toàn phẳng lì. Nó có một cánh cửa nhỏ. Và dù bức tường cao gần trăm mét, cánh cửa này nhỏ xíu. Nó chỉ cao vỏn vẹn chín mươi phân, trông chẳng khác nào cánh cửa trong truyện cổ tích, làm bằng những tấm gỗ sồi cứng cáp với thanh sắt bắt chéo thành hình chữ X. Ngay lập tức, cả bọn nhận ra cánh cửa này chỉ dành riêng cho trẻ em.
Ben ma mị nghe văng vẳng trong tai mình tiếng cô thủ thư đọc truyện cho đám trẻ: Ai đang bước qua cầu của ta đấy? Các cô bé cậu bé rướn người tới trước, bao con mắt lấp lánh say sưa hòa vào câu chuyện: Liệu con quỷ có bị đánh bại… hay Nó sẽ ăn thịt đàn dê?
Trên cửa có dấu gì đó, và ngay phía trước xếp một ụ xương. Toàn là những mẩu xương nhỏ. Có Chúa mới biết đó là hài cốt của biết bao đứa trẻ.
Bọn họ đã đến sào huyệt của Nó. Vậy dấu vết trên cửa có nghĩa là gì?

Bill mường tượng đó là hình chiếc thuyền giấy.
Stan nhìn thấy một con chim cất cánh bay lên trời cao – chim phượng hoàng chẳng hạn.
Michael liên tưởng đến khuôn mặt kéo mũ che sùm sụp – ví dụ như mặt của gã điên Butch Bowers, nếu các nét hiện lên chi tiết hơn.
Richie nhìn ra đôi mắt đằng sau cặp kính.
Beverly hình dung bàn tay đang vung nắm đấm.
Eddie chắc chắn đó là khuôn mặt của gã hủi, với đôi mắt trũng sâu, cái miệng nhe nanh đầy nếp nhăn – bao bệnh tật, ốm đau đều in hằn dấu vết trên mặt.
Ben Hanscom trông thấy đống vải quấn tả tơi và dường như ngửi thấy mùi hương liệu chua ngòm, lâu năm.
Chốc sau, Henry cũng một mình đến trước cánh cửa này với tiếng gào thét của Ợ Hơi vang vọng trong tai, và trước mắt hắn hiện ra Mặt Trăng tròn vành vạnh… đen đúa.
“Tớ sợ quá, Bill ơi,” Ben run rẩy lên tiếng. “Bọn mình phải vào ư?”
Bill rón rén đưa chân về phía đống xương rồi bất thình lình hất chúng văng tung tóe. Cậu cũng sợ… nhưng nghĩ đến George là cậu không đành lòng. Nó đã giật đứt cánh tay của em trai cậu. Những mẩu xương nhỏ bé, mỏng manh ấy có nằm trong đây không nhỉ? Có chứ, tất nhiên là có rồi.
Bọn họ thân chinh đến đây vì chủ nhân những mẩu xương này, vì George và tất cả những nạn nhân khác - những đứa trẻ đã bị bắt xuống, những đứa trẻ có thể đã bị bắt xuống, và những đứa trẻ bị vứt bỏ đến thối rữa ở chỗ khác.
“Bọn mình phải làm,” Bill khẳng định.
“Nếu nó bị khóa thì sao?” Beverly khẽ khọt hỏi.
“Kh-Không bị kh-khóa đâu,” Bill đáp rồi nói với cô điều mà cậu biết từ tận đáy lòng. “Nh-Những nơi thế này kh-không bao giờ b-bị kh-kh-khóa.”
Dè dặt áp những ngón tay phải lên cửa, cậu đẩy. Cửa mở toang, tràn trề thứ ánh sáng xanh xao vàng vọt. Thứ mùi xú khí nọ phả vào họ, nồng nặc và nghẹt thở đến không tưởng.
Lần lượt từng người trong nhóm bước qua cánh cửa cổ tích kia, dấn thân vào hang ổ của Nó. Bill
7
Trong cống ngầm 4/ giờ 59 phút sángkhựng lại khiến cả nhóm đổ dồn lên nhau như các toa tàu chở hàng khi động cơ dừng đột ngột. “Sao thế?” Ben hỏi.
“C-c-Con m-mắt x-x-xuất hiện ở đ-đây. Các c-cậu nh-nhớ kh-kh-không?”
“Tớ nhớ,” Richie đáp. “Eddie đã dùng ống thở để chặn đường Nó bằng cách giả vờ đấy là axit. Cậu ấy còn nói cái gì mà làm gỏi làm bún thì phải. Buồn cười ra phết nhưng tớ không nhớ chính xác.”
“Kh-Kh-Không qu-qu-quan trọng. Bọn mình sẽ không th-thấy những gì đ-đ-đã t-từng thấy,” Bill nói. Anh quẹt một que diêm rồi nhìn mọi người. Mặt ai nấy đều lung linh dưới ánh lửa, ma mị và có gì đó bí ẩn. Trông họ như trẻ lại. “C-C-Các cậu th-thấy thế nào?”
“Bọn tớ ổn, Bill To Bự,” Eddie đáp nhưng mặt méo xệch vì đau. Nẹp mà Bill chế không ăn thua nữa. “Cậu thì sao?”
“T-T-Tớ ổn,” Bill nói rồi dập tắt que diêm trước khi khuôn mặt phản chủ của anh nói lên điều khác.
“Sao lại có thể?” Beverly hỏi và chạm vào tay anh trong bóng tối. “Bill ơi, làm thế nào mà vợ cậu…”
“V-V-Vì tớ c-có nhắc đến t-tên thị trấn. C-Cô ấy đ-đ-đuổi th-theo t-t-tớ. Kh-Khi tớ d-d-dấn thân v-vào v-vụ này, l-l-linh tính m-ma-mách tớ ph-phải gi-gi-giữ b-bí mật. Nh-Nhưng tớ l-l-lại ch-ch-chủ qu-quan.” Anh lắc đầu bất lực giữa màn đêm. “Nhưng d-dù cho c-cô ấy c-có đến D-D-Derry đ-đi chăng nữa, tớ cũng kh-kh-không h-hiểu t-t-tại sao cô ấy l-lại x-xuất hiện d-d-dưới n-na-này. Nếu kh kh-không ph-phải H-H-Henry thì là a-ai k-kia chứ?”
“Là Nó,” Ben đáp. “Nó chẳng cần phải dọa cô ấy nữa kìa. Nó chỉ cần xuất hiện và bảo cậu đang gặp rắc rối là đủ. Nó bắt cô ấy đến đây để… để cậu bị phân tâm, tớ đoán vậy. Để bọn mình nhụt chí. Vì cậu luôn là ngọn đèn hải đăng của bọn tớ, Bill To Bự ạ.”
“Hay là Tom?” Beverly thảng thốt trầm mặc.
“A-A-Ai kia?” Bill đốt thêm một que diêm.
Cô nhìn anh với vẻ mặt khốn khổ, không chút dối trá. “Tom. Chồng tớ. Anh ta cũng biết. Vì hình như tớ có nhắc đến tên thị trấn với anh ta thì phải, giống như cậu kể với Audra. Tớ… Tớ không biết có phải vậy không. Lúc đó, chồng tớ đang nổi điên với tớ.”
“Chúa ơi, cái gì đây, phim truyền hình dài tập mà chẳng sớm thì muộn ai nấy đều đăng đàn à?” Richie cảm thán.
“Không phải phim truyền hình,” Bill nói đầy xót xa, “mà là một màn trình diễn. Như buổi diễn xiếc. Bev thì kết hôn với một Henry Bowers. Khi cô ấy bỏ đi, hắn không mò đến đây cũng lạ. Suy cho cùng, Henry thật đã đến đấy thôi.”
“Không,” Beverly nói. “Tớ không cưới Henry. Tớ cưới bố tớ.”
“Nếu hắn đánh đập cậu thì có khác gì nhau đâu?” Edie hỏi. “Đ-Đ-Đứng quanh tớ nào,” Bill giục. “V-V-Vào thôi.”
Đoạn cả nhóm bước vào. Bill giang hai tay, một tay nắm lấy bàn tay lành lặn của Eddie, tay kia nắm tay Richie. Và rồi họ quây thành vòng tròn như xưa, lúc quân số đông hơn bây giờ. Eddie cảm thấy có ai đó đặt tay lên vai mình. Cảm giác ấy ấm áp, dễ chịu và quen thuộc xiết bao.
Bill cảm thấy dâng trào trong mình sức mạnh như năm xưa, nhưng anh đau lòng hiểu bao điều đã đổi thay. Sức mạnh bây giờ chỉ bằng một góc ngày ấy - nó lay lắt, lập lòe như ngọn nến trước gió. Bóng tối như dày hơn, gần hơn, thượng phong hơn. Anh có thể ngửi thấy mùi của Nó. Anh thầm nghĩ, Đi xuống con đường này một đoạn không xa có cánh cửa đánh dấu đằng trước. Đằng sau cánh cửa ấy là gì ý nhỉ? Đó là điều mà đến giờ mình vẫn chưa nhớ ra. Mình nhớ mình đã phải gồng mười ngón tay lên vì chúng chực run bần bật, và mình nhớ mình đã đẩy cửa mở. Mình thậm chí còn nhớ ánh sáng như lũ ào ạt trào ra, sống động tựa sinh vật sống, tựa hồ chẳng phải ánh sáng đơn thuần mà là những con rắn huỳnh quang. Mình nhớ thứ xú khí tựa mùi chuồng khỉ trong vườn thú rộng lớn, có điều hôi thối bội phần. Sau đó… chẳng còn ký ức nào…
“Các c-c-cậu c-c-c-có a-ai nh-nh-nhớ h-h-hình h-h-hài thực sự c-của Nó không?”
“Tớ không.” Eddie đáp.
“Tớ thì…” Richie lên tiếng, song Bill gần như cảm nhận được bạn mình vừa lắc đầu trong bóng đêm. “Không.”
“Tớ không,” Beverly nói.
“Chịu,” Ben gọn lỏn. “Đó là điều tớ vẫn chưa tài nào nhớ ra. Hình hài thực sự của Nó là gì… hay bọn mình đã đánh bại Nó bằng cách nào.”
“Chüd,” Beverly nói. “Đó là cách bọn mình đã đánh bại Nó. Nhưng tớ không nhớ nó có nghĩa là gì.”
“Nương tựa vào t-tớ nhé,” Bill đề nghị, “và t-tớ cũng s-s-sẽ n-nương tựa vào c-c-các cậu.”
“Bill,” Ben chợt lên tiếng. Giọng anh vô cùng bình tĩnh. “Có thứ gì đó đang đến.”
Bill lắng nghe. Anh nghe thấy tiếng bước chân kéo lê, loạng choạng tiến lại trong bóng tối… và anh thấy sợ.
“A-A-Audra?” Anh cất tiếng… dù trong lòng biết chẳng phải là cô.
Thứ đó càng lúc càng đến gần bọn họ.
Bill quẹt diêm.
8
Derry/ 5 giờ sángĐiều sai lệch đầu tiên xảy ra vào cái ngày cuối xuân định mệnh năm 1985 trước thời khắc bình minh chính thức đúng hai phút. Để hiểu nó sai lệch đến nhường nào, ta phải biết hai điều mà Mike Hanlon khắc cốt ghi tâm (lúc này, khi mặt trời lên, anh vẫn đang bất tỉnh nhân sự trong Bệnh viện Derry), cả hai đều liên quan đến Nhà thờ Baptist Ân điển, nằm ở góc đường Witcham và đường Jackson từ năm 1897. Chóp nhà thờ hình nón có màu trắng mỏng nhỏ nhắn, vốn là hình tượng đỉnh cao của tháp chuông trong tất cả các nhà thờ Tin Lành ở New England. Bốn mặt tháp chuông đều gắn đồng hồ, và bản thân chiếc đồng hồ này được chế tạo và vận chuyển từ Thụy Sỹ đến vào năm 1898. Chiếc đồng hồ duy nhất tương tự công trình này tọa lạc ở quảng trường thị trấn Làng Haven cách đó hơn sáu mươi ki-lô-mét.
Stephen Bowie, vốn là một ông trùm buôn gỗ sống trên phố Tây Broadway, đã tặng chiếc đồng hồ này cho thị trấn với chi phí bỏ ra đâu đấy tầm 17.000 đô-la. Số tiền ấy chẳng là gì với Bowie. Ông mộ đạo, rất siêng đi nhà thờ và là chấp sự suốt bốn mươi năm (về cuối khoảng thời gian này, có vài năm ông còn đảm nhiệm vai trò chủ tịch Binh đoàn Lễ nghi Da trắng của Derry). Ngoài ra, ông còn được biết đến với những bài thuyết pháp sùng kính vào Ngày của Mẹ, mà ông luôn kính cẩn gọi là Chủ nhật của Hiền mẫu.
Cho đến ngày 31 tháng 5 năm 1985, kể từ lúc lắp đặt, cứ cách một tiếng và nửa tiếng là đồng hồ luôn cần mẫn ngân vang - với một ngoại lệ duy nhất. Vào ngày xảy ra vụ nổ ở Xưởng đúc Kitchener, đồng hồ không đánh vào giữa trưa. Người dân trong vùng cho rằng Đức Cha Jollyn đã không để đồng hồ ngân lên nhằm thể hiện sự thương tiếc những đứa trẻ xấu số, và Đức Cha Jollyn cũng chẳng lên tiếng phản đối điều này, dù sự thật vốn không phải thế. Chỉ đơn giản là đồng hồ không ngân lên, vậy thôi.
Và đồng hồ cũng im bặt vào lúc 5 giờ sáng ngày 31 tháng 5 năm 1985.
Thời khắc ấy, trên toàn Derry, các cụ ông cụ bà bỗng mở mắt, nhỏm dậy, lòng như lửa đốt dù chẳng biết lý do là gì. Thuốc uống đủ, răng giả đeo vào, tẩu thuốc và xì gà châm lên.
Những ông bà cụ ấy nâng cao cảnh giác.
Một trong số đó là ông cụ Norbert Keene lúc này đã hơn chín mươi tuổi. Ông tập tễnh bước đến cửa sổ, ngước nhìn bầu trời đang dần tối đen. Dự báo thời tiết đêm qua nói hôm nay trời trong, nhưng xương khớp của ông bảo trời sắp đổ mưa, mưa thối đất thối cát. Sâu trong lòng mình, ông thấy sợ, bằng cách kỳ dị nào đó, ông thấy bị đe dọa, tựa hồ một thứ chất độc đang không ngừng chảy về tim ông. Ông bâng quơ nhớ lại cái ngày Băng đảng Bradley vô tư chạy xe vào Derry, vào thẳng tầm ngắm của 75 khẩu súng lục và súng trường. Sự vụ ấy khiến lòng người cảm thấy ấm áp và lười biếng, như thể mọi thứ đều… đều đã được xác nhận . Ông không biết mô tả thế nào cho phải, ngay cả với bản thân mình. Sự vụ như thế khiến người ta cảm thấy khéo có khi mình sẽ sống muôn đời, mà Norbert Keene cũng suýt soát làm được vậy còn gì. Đến 24 tháng 6 này, ông thọ chín mươi sáu tuổi, thế mà ông vẫn phăm phăm đi bộ gần năm ki-lô-mét mỗi ngày. Nhưng giờ, ông thấy sợ.
“Đám trẻ ấy,” vừa nhìn ra ngoài cửa sổ, ông vừa cất tiếng trong vvô thức. “Đám trẻ chết tiệt ấy bị cái gì vậy? Lần này chúng lại làm trò gì đây?”
Egbert Thoroughgood, chín mươi chín tuổi, ngày xưa từng có mặt ở Đồng bạc vào lúc Claude Heroux xách rìu đến diễn tấu bài nhạc đưa đám cho bốn người đàn ông tại đó, cũng thức dậy vào khoảnh khắc ấy. Ông ngồi dậy, ú ớ gào lên khán đặc mà chẳng ai nghe thấy. Ông cụ nằm mơ thấy Claude, có điều trong mơ, hắn đuổi theo ông, và khi rìu chém xuống, giây sau, Thoroughgood nhìn thấy bàn tay bị chặt đứt giật giật và cong quèo trên quầy rượu.
Không lành rồi, ông nghĩ dù đầu óc phần nào lú lẫn, cả người run bần bật vì sợ trong chiếc quần ố vì nước tiểu. Đại hung ập xuống rồi.
Dave Gardener, người đã phát hiện thi thể nát như tượng của George Denbrough vào tháng 10 năm 1957, và con trai của ông là người đã phát hiện nạn nhân đầu tiên của chu kỳ mới vào đầu xuân năm nay, mở mắt vào đúng 5 giờ và thầm nghĩ, thậm chí khi chưa nhìn đồng hồ trên tủ: Đồng hồ Nhà thờ Ân Điển không gióng chuông báo giờ… Có chuyện gì nhỉ? Ông cảm thấy nỗi sợ hãi không rõ hình xâm lấn mình. Bao năm qua, Dave phất lên như diều gặp gió, vào năm 1965, ông mua lại cửa tiệm Thuyền giày, giờ đã có cửa tiệm Thuyền giày thứ hai trong Trung tâm thương mại Derry và tiệm thứ ba ở Bangor. Chợt tất cả mọi thứ – những thứ ông đã lao tâm khổ tứ cả đời gây dựng - chực bên bờ sụp đổ. Do thứ gì kia chứ? Ông rít lên với bản thân trong lúc nhìn sang vợ vẫn đang say sưa ngủ. Do thứ gì? Đồng hồ không đánh chuông thôi mà, việc gì mà mày phải như đỉa phải vôi thế? Nhưng không có câu trả lời nào cả.
Ông đứng dậy, đi đến cửa sổ, kéo đai quần ngủ chặt hơn. Bầu trời vần vũ những đám mây đua nhau kéo đến từ hướng Tây, lòng ông càng thêm nhấp nhổm. Đã bao lâu rồi, ông mới bất giác nghĩ lại những tiếng thét gào của hai mươi bảy năm về trước, tiếng thất thanh đã khiến ông chạy ra ngoài hiên và nhìn thấy hình hài quằn quại trong chiếc áo mưa vàng. Nhìn những đám mây đen ùn ùn kéo đến, ông thầm nhủ: Ta lâm nguy rồi. Tất cả mọi nơi trên Derry lâm nguy rồi.
Cảnh sát trưởng Andrew Rademacher, một mực đinh ninh mình đã cố gắng hết sức để phá chuỗi án mạng liên quan đến trẻ em mới hoành hành Derry gần đây, đứng trên hiên nhà, tay móc vào thắt lưng Sam Browne, ngước mặt nhìn mây và cũng thấy lòng không yên. Sắp sửa có biến cố xảy ra. Chắc lát nữa sẽ mưa lở đất cho xem. Nhưng không chỉ có thế. Ông rùng mình… và trong lúc ông cứ thế trầm ngâm đứng trên hiên, mùi thịt xông khói vợ ông nấu thoang thoảng bay ra từ cửa, những giọt mưa đầu tiên to bằng đồng xu rào rào rơi xuống khiến vỉa hè ngay trước căn nhà xinh xắn trên phố Reynolds của ông xỉn màu, và đâu đó xa xa đằng chân trời từ phía công viên Bassey, sấm động ầm ì.
Rademacher chỉ biết rùng mình.
9
George/ 5 giờ 1 phút sángBill giơ que diêm lên… để rồi thét lên một tiếng thất thanh, run rẩy thật dài.
George đang loạng choạng bước đi trong đường cống, tiến về phía anh, George vẫn khoác trên mình chiếc áo mưa vàng bê bết máu. Một bên ống tay áo phất phơ, vô dụng. Khuôn mặt của George trắng bệch, đôi mắt long lên màu bạc. Cặp mắt ấy dán chặt vào Bill.
“Thuyền của em!” Giọng nói xa xăm của Georgie cất lên, ngân vang trong đường hầm. “Em tìm không ra, anh Bill, em đã tìm khắp nơi nhưng vẫn không thấy, giờ thì em chết rồi, anh vừa lòng chưa, là tại anh tại anh TẠI ANH…”
“G-G-Georgie!” Bill ré lên. Anh cảm thấy tâm trí mình như chực sụp đổ, giật phăng khỏi mỏ neo.
George lảo đảo, ngả nghiêng tiến lại, giơ cánh tay còn lành lặn về phía Bill, bàn tay trắng bợt khoằm lại thành móng vuốt. Móng tay cậu bé dơ dáy và nhọn hoắt.
“Tại anh,” George thầm thì và toét miệng cười. Hàm răng của cậu toàn là răng nanh; chúng mở ra đóng lại từ từ như răng cưa trên bẫy thú. “Anh bảo em ra ngoài chơi… tất cả… là tại anh.”
“Kh-Kh-Không, G-G-Georgie!” Bill thét lên. “Anh kh-kh-không b-b-b-biết…”
“Em giết anh!” George gầm lên, chuỗi gào rống như tiếng tru phát ra từ cái miệng lởm chởm năng ranh: rít ré, tru tréo, hú hét. Hăng hắc tiếng cười. Bill có thể ngửi thấy mùi của em trai mình, ngửi thấy mùi George đang dần thối rữa. Đó là thứ mùi của tầng hầm, ẩm ướt, thứ mùi của con quái vật đang nấp với đôi mắt vàng quắc lên trong góc, chực chờ móc ruột gan của đứa trẻ xấu số.
Hàm răng của George nghiến vào nhau. Âm thanh vang lên như tiếng những quả bóng bi da va đập lanh canh. Thứ dịch vàng khè chảy ra từ mắt cậu bé, nhễu xuống mặt… đến lúc đó, que diêm phụt tắt.
Bill cảm thấy bạn bè mình đang biến mất – họ bỏ của chạy lấy người, dại gì mà không thoát thân kia chứ, họ để anh lại một mình. Họ bỏ rơi anh, như bố mẹ anh bỏ rơi anh, vì George nói đúng: tất cả là lỗi của anh. Chốc nữa thôi, anh sẽ cảm thấy bàn tay kia siết lấy họng mình, cảm thấy hàm răng nanh kia cắn nát người anh, và thế thì đáng lắm. Gieo gió ắt gặt bão. Anh đã gián tiếp đẩy em mình vào chỗ chết, và rồi anh dùng cả đời mình để viết về nỗi kinh hoàng của hành động phản bội ấy - ồ phải, anh đã khoác bao mặt nạ lên nó, chẳng thua kém gì vô vàn khuôn mặt mà Nó đã biến hình để dễ bề lộng hành, nhưng tận cùng tất cả, con quái vật chính là George, chính là cậu em trai đã ra ngoài chơi khi lũ rút với con thuyền giấy bọc sáp trên tay. Và giờ đã đến lúc anh chuộc tội.
“Anh là kẻ đáng chết, tại anh mà em mất mạng,” George thầm thì. Cậu bé đã tiến đến rất gần. Bill nhắm mắt.
Chợt ánh đèn màu vàng lóe lên trong cống ngầm khiến anh hé mắt. Richie đang cầm một que diêm. “Chiến đấu đi, Bill!” Richie hét lên. “Vì Chúa! Chống lại Nó đi!”
Các cậu đang làm gì ở đây vậy? Anh nhìn các bạn đầy ngạc nhiên. Hóa ra họ không chạy trốn. Sao có thể chứ? Tại sao họ vẫn ở đây sau khi chứng kiến anh đã giết hại em trai mình tàn độc như thế nào?
“Chiến đấu đi!” Beverly gào lên. “Ôi Bill ơi, chống lại Nó đi! Chỉ cậu mới hạ được thứ này mà thôi! Xin cậu…”
Lúc này, George cách anh chưa tới một mét rưỡi. Bất thình lình, cậu chĩa thẳng một ngón tay về phía Bill. Ngón tay tua tủa nấm trắng. Bill thất thanh gào lên.
“Giết Nó, Bill!” Eddie hét vang. “Đó không phải em cậu! Giết Nó đi khi Nó còn nhỏ! Giết Nó NGAY ĐI! “
George liếc sang Eddie, cặp mắt sáng quắc màu bạc long lên trong một khắc, Eddie lùi lại, đập vào tường như thể bị đẩy. Bill đứng ngây ra như phỗng, nhìn em trai mình tiến lại, nhìn George sau ngần ấy năm, cuối cùng là George, khởi đầu cũng là George, ô kia, anh có thể nghe thấy tiếng áo mưa vàng của em trai anh cọ loạt soạt khi George càng lúc càng sát gần, anh còn nghe thấy tiếng lanh canh của khoá kéo trên đôi ủng, ngửi thấy mùi như mùi cỏ ướt, tựa hồ cơ thể bên dưới chiếc áo mưa kia làm bằng lá cây, tựa hồ đôi chân bên trong cặp ủng kia ngồn ngộn lá, phải, em trai anh là người đắp bằng lá, đúng rồi, đó là George đấy, mặt em trai anh thối rữa, trương phồng như quả bóng, thân thể thì làm bằng lá mục, thứ lá thỉnh thoảng gây nghẹt cống sau trận lũ lớn.
Anh mơ hồ nghe thấy tiếng Beverly ré lên.
(anh đấm tay)
“Bill, xin cậu, Bill ơi…”
(vào cột nhà, la oai oái)
“Mình cùng nhau đi tìm chiếc thuyền cho em nhé,” George lảnh lót. Thứ dịch vàng khè, đặc sệt, những giọt nước mắt giả dối, chảy xuống má cậu. Cậu vươn tay về phía Bill, đầu nghiêng sang một bên, miệng nhe hàm răng bén ngót.
(rằng mình gặp ma rằng mình gặp ma RẰNG MÌNH)
“Rồi mình sẽ tìm ra,” George nói, và Bill có thể ngửi thấy mùi của Nó, thứ mùi chẳng khác nào xác thú bị cán nát bấy nằm trên đường cao tốc vào giữa đêm. Và khi miệng của George há ra, anh có thể trông thấy bên trong nhung nhúc thứ gì đó. “Nó vẫn ở dưới đây, dưới đây thứ gì cũng lơ lửng, mình sẽ lơ lửng, Bill ơi, chúng ta sẽ lơ lửng…”
Bàn tay trương phình như bụng cá của George chạm vào cổ Bill.
(MÌNH GẶP MA BỌN MÌNH GẶP MA CHÚNG BỌN MÌNH GẶP MA…)
Khuôn mặt méo mó dị dạng của George tiến sát đến cổ anh.
”… lơ lửng…”
“Anh đấm tay vào cột nhà!” Bill gào lên. Giọng nói vang lên trầm trầm, chẳng còn là giọng của anh nữa, và khi ký ức vùn vụt lướt qua như điên dại, Richie nhớ ra Bill chỉ cà lăm khi nói giọng của bản thân: nếu Bill giả vờ là người khác, cậu không bao giờ vấp.
Con quái vật trong bộ dạng George kia rít lên, giơ tay ngang mặt như muốn chắn thứ gì đó.
“Đúng rồi!” Richie hét như điên dại. “Cậu tấn công Nó rồi kìa, Bill ơi! Tiến lên! Hạ Nó! Hạ Nó!”
“Anh đấm tay vào cột nhà, la oai oái rằng mình gặp ma!” Bill hô vang. Anh tiến lại con quái vật giả dạng George. “Mày không phải hồn ma em tao! George biết tao không cố tình khiến em ấy phải chết! Bố mẹ tao đã sai! Họ trút giận lên người tao, hành động đó là sai trái! Mày nghe chưa?”
Đột nhiên con quái vật quay phắt lại, ré lên như chuột. Cả người Nó dường như chảy và rung lên thành từng đợt bên dưới chiếc áo mưa màu vàng. Bản thân áo mưa cũng nhễu xuống, chảy thành những vết màu vàng tươi rói. Nó đang mất đi hình dạng, không còn giữ được vẻ ngoài của mình nữa.
“Anh đấm tay vào cột nhà, đồ khốn kiếp!” Bill Denbrough gầm lên, “la oai oái rằng mình gặp ma!” Anh nhảy bổ vào Nó, tay vọc vào chiếc áo mưa vàng chẳng còn nguyên dạng. Song thứ anh chộp được lại âm ấm, mềm mềm kỳ dị vô cùng, ngay khi anh nắm tay lại, chúng tan chảy dưới ngón tay anh. Anh ngã quỵ gối. Richie la lên khi lửa của que diêm bén vào tay, và họ lại bị tống vào màn đêm mịt mùng.
Bill cảm thấy thứ gì đó trào dâng trong ngực mình, nóng rẫy, nghẹn ngào, đau đớn tựa gai tầm ma. Anh co ro kéo đầu gối lên sát cằm, hy vọng cơn đau sẽ chấm dứt hoặc dịu đi, anh thầm cảm thấy biết ơn vì bốn bề tối tăm, anh mừng vì mọi người không thấy anh đang quằn quại trong đau đớn.
Anh nghe thấy cất lên từ miệng mình tiếng rên run rẩy. Rồi thêm một tiếng, một tiếng nữa. “George!” Anh khóc. “George, anh xin lỗi! Anh không hề nghĩ sẽ có chuyện x-x-xấu x-x-xảy ra!”
Anh chỉ nói đến vậy, còn bao lời khác nghẹn lại bên trong. Nước mắt cứ thế tuôn rơi, anh áp lưng nằm trên đất, đưa một cánh tay che mắt, nhớ về con thuyền, nhớ về tiếng mưa rơi lộp độp, lộp độp đập vào cửa sổ phòng ngủ, nhớ về đống thuốc cảm và giấy xì mũi trên chiếc bàn đầu giường, nhớ về cả người và đầu mình ong ong vì sốt, nhớ về George, phải, nhớ nhất là George, nhớ đến quay quắt, nhớ George trong chiếc áo mưa trùm đầu màu vàng.
“George ơi, anh xin lỗi!” Anh gào thét trong làn nước mắt. “Anh xin lỗi, anh xin lỗi, anh th-th-thành thật x-x-XIN LỖI…”
Và rồi mọi người đến bên cạnh anh, những người bạn chí cốt ấy, không ai thắp diêm, đoạn ai đó ôm anh, anh chẳng rõ là ai, có thể là Beverly, Ben hoặc Richie cũng nên. Mọi người đang ở bên anh, và những phút giây ngắn ngủi ấy, chẳng hiểu sao màn đêm lại dịu dàng đến thế.
10
Derry/ 5 giờ 30 phút sángĐến 5 giờ 30, mưa như trút nước. Phát thanh viên dự báo thời tiết của nhà đài Bangor tỏ ra khá ngạc nhiên và cũng gửi lời xin lỗi tới những ai đã lên lịch dã ngoại hoặc đi chơi sau khi tham khảo dự báo ngày hôm qua. Vận đen, thưa quý vị thỉnh thoảng một số hình thái thời tiết kỳ cục lại xuất hiện ở thung lũng Penoscob mà không hề báo trước.
Trên đài phát thanh WZON, nhà khí tượng học Jim Witt mô tả hiện tượng này là vùng áp thấp “vô cùng trật tự”. Nói thế chưa lột tả hết hiện trạng. Thời tiết chuyển từ có mây ở Bangor sang lất phất Hampden, mưa bụi ở Haven, rồi mưa rả rích ở Newport. Tuy nhiên, ở Derry, chỉ cách trung tâm Bangor gần năm ki-lô-mét, mưa xối xả ráo riết. Các tài xế trên Làn số 7 di chuyển qua nước ngập, có vài số chỗ sâu đến hai mươi phân, và phía bên kia Nông trại Rhulin, cống ở khu vực trũng không tháo nước kịp, khiến cả cao tốc bị ngập đến độ không thể lưu thông. Đến 6 giờ sáng, Đội Tuần tra Cao tốc Derry buộc phải trưng bảng màu cam đề ĐI ĐƯỜNG VÒNG hai bên chỗ trũng.
Những người trú mưa bên dưới mái che trên đường Chính, đợi chuyến xe buýt đầu tiên trong ngày đưa họ đến sở nhìn qua rào chắn Kênh Đào, nơi nước đang ào ào dâng lên dưới con kênh bê tông. Song ai nấy đều đồng tình rằng sẽ không có lụt lội xảy ra. Nước vẫn cách vị trí đánh dấu mức nước đỉnh điểm của năm 1977 những một mét hai, và năm ấy cũng không xảy ra lụt lội. Nhưng mưa vẫn không ngừng trút xuống, sấm cứ thế đì đùng trong những đám mây đen kịt nặng trĩu giăng trên bầu trời. Nước ào ào chảy xuống đồi Dặm Trên thành suối, ầm ầm trong cống xả lũ và cống thoát nước.
Mọi người cho rằng lũ lụt sẽ không xảy ra, song vẻ mặt họ đều vẩn chút e dè.
5 giờ 45 phút, một máy biến áp trên cột điện ngay đằng sau Trạm Xe tải bỏ hoang của Anh em Tracker phát nổ, cháy lên thành chùm sáng tím, bắn những khối kim loại méo mó lên mái lợp. Một khối kim loại phá hỏng dây điện cao thế, khiến sợi dây rơi lên mái nhà, quằn quại, lèo xèo như con rắn, tóe ra những tia sáng chẳng khác nào chất lỏng. Trời đang mưa ầm ầm nhưng mái nhà vẫn bắt lửa, và chốc sau, cả trạm xe tải cháy phừng phừng. Dây cáp điện rơi từ mái lợp xuống mép cỏ um tùm dẫn ra khu đất ngày xưa các cậu bé từng chơi bóng chày. Sở Cứu hỏa Derry cử chiếc xe đầu tiên vào lúc 6 giờ 2 phút, đến hiện trường Trạm Xe tải của Anh em Tracker lúc 6 giờ 9 phút. Một trong những người lính cứu hỏa đầu tiên bước xuống xe tải là Calvin Clark, một trong hai anh em sinh đôi nhà Clark trước đây từng học chung trường với Ben, Beverly, Richie và Bill. Bước xuống xe, đi được ba bước thì gót chiếc bốt da của anh đạp lên đường dây có dòng điện chạy qua. Calvin chết vì điện giật gần như ngay lập tức. Lưỡi anh thè ra khỏi miệng, áo khoác cao su chuyên dụng của lính cứu hỏa bắt đầu khét cháy. Người anh tỏa ra mùi như lốp xe cháy ở bãi rác thị trấn.
Đến 6 giờ 5 phút, các cư dân sống trên đường Merit ở Mũi Đất Cũ cảm thấy hình như một vụ nổ vừa xảy ra dưới lòng đất. Đĩa loảng xoảng rời khỏi chạn, khung hình rời khỏi tường đánh choang. 6 giờ 6 phút, mọi bồn cầu trên đường Merit đột nhiên phọt lên đầy phân và nước thải chưa qua xử lý, tựa hồ đã có cú đảo chiều không tưởng trong hệ thống ống dẫn vào các bể chứa của nhà máy xử lý nước thải mới ở Vùng Đất Cằn. Ở một số nhà, lực của cú nổ mạnh đến nỗi đục thủng trần nhà vệ sinh. Một phụ nữ mang tên Anne Stuart đã thiệt mạng khi một bánh răng cũ bắn ra từ bồn cầu cùng nước cống. Bánh răng phóng qua lớp cửa kính mờ của nhà tắm và xuyên thẳng qua họng cô như viên đạn khi cô đang sấy tóc. Đầu nạn nhân thiếu điều muốn đứt ra. Bánh răng này là tàn tích còn sót lại từ Xưởng đúc Kitchener, vô tình lọt xuống cống vào bảy mươi lăm năm về trước. Một phụ nữ khác cũng bị chết khi chất thải dữ dội trào theo đà bùng lên của khí metan, khiến bồn cầu phát nổ như bom. Đang ngồi trên bồn cầu đọc catalog mới nhất của hãng Banana Republic, người phụ nữ xấu số đã bị xé xác thành nghìn mảnh.
Vào 6 giờ 19 phút, tia sét đánh trúng cây cầu Hôn Nhau băng qua Kênh Đào, nối giữa công viên Bassey và trường Trung học Derry. Những mảnh gỗ tan nát bị hất văng lên không trung, rào rào rơi xuống con kênh cuồn cuộn chảy rồi bị cuốn phăng.
Gió ngày một mạnh. Đến 6 giờ 30 phút, máy đo sức gió trong hành lang tòa án ghi nhận vận tốc gió đạt hơn 24 ki-lô-mét trên giờ. 6 giờ 40 phút, tốc độ đã lên đến 38.
6 giờ 46 phút, Mike Hanlon tỉnh giấc trong phòng bệnh ở Bệnh viện Derry. Anh lấy lại ý thức một cách từ từ, chậm rãi – suốt một lúc lâu, anh cứ tưởng mình đang nằm mơ. Nếu là mơ, hẳn đây là giấc mơ lạ lùng - giấc mơ đầy lo âu, giáo sư môn tâm lý học Doc Abelson sẽ gọi thế cho mà xem. Chẳng có lý do nào cụ thể để lo âu, nhưng cảm giác ấy vẫn dấy lên trong lòng anh; căn phòng trắng trơn dường như đang rít lên đe dọa.
Anh dần nhận ra mình đã tỉnh dậy. Hóa ra căn phòng trắng trơn này là phòng bệnh. Chai lọ treo trên đầu anh, một chai đựng dịch truyền trong suốt, chai kia màu đỏ đậm. Là máu. Anh nhìn thấy ti vi gắn tường và nghe tiếng mưa rả rích tạt vào cửa sổ.
Mike thử dịch chuyển chân. Một chân có thể cử động dễ dàng, nhưng chân còn lại của anh, chân phải, không nhúc nhích được. Chân như tê dại, và anh nhận ra nó được bằng bó rất chặt.
Ký ức trở lại từng chút một. Hồi tối, khi anh đang ngồi viết thì Henry Bowers xuất hiện. Quá khứ như chấn động dội về. Hai bên đã lao vào ẩu đả, sau đó…
Henry! Hắn đi đâu rồi? Hắn tìm mọi người sao?
Mike mò mẫm tìm chuông gọi y tá. Nó được gắn trên thành giường, và khi tay anh vừa trờ lấy nó thì cửa bật mở. Một nhân viên y tá bước vào. Áo đồng phục trắng gỡ hai nút, đầu bù như tổ quạ khiến anh ta trông như Ben Casey trong bộ dạng lôi thôi. Anh ta đeo vòng Thánh Christopher ở cổ. Dù đầu óc còn mơ màng, mười phần thì mới chỉ tính bảy phần, Mike vẫn nhận ra anh này ngay lập tức. Vào năm 1958, thiếu nữ mười sáu tuổi mang tên Cheryl Lamonica đã mất mạng vào tay Nó ở Derry. Cô gái này có một cậu em trai mười bốn tuổi tên là Mark, và người y tá này chính là anh ta.
“Mark?” Anh gắng gượng nói. “Tôi có chuyện muốn nói với anh.”
“Suỵt,” Mark đáp. Tay thọc vào túi. “Đừng nói gì cả.”
Hắn bước vào phòng, và lúc đối phương đứng ở cuối giường, Mike rùng mình nhận ra đôi mắt của Mark Lamonica trống rỗng nhường nào. Đầu hắn khẽ nghiêng sang một bên như thể đang nghe nhạc đâu đó văng vẳng. Hắn rút tay khỏi túi.
Bên trong có kim tiêm. “Thứ này sẽ đưa anh vào giấc ngủ,” Mark nói rồi tiến lại giường.
11
Dưới lòng thị trấn/ 6 giờ 49 phút sáng“Suỵt!” Bill đột nhiên ré lên, dù xung quanh chẳng có tiếng động, ngoại trừ tiếng bước chân rất khẽ của họ.
Richie quẹt một que diêm. Tường của căn hầm xa tít tắp, và năm người bọn họ thật nhỏ bé trong không gian dưới lòng thị trấn. Cả nhóm túm tụm đi bên nhau, Beverly mơ hồ cảm thấy một cảm giác déjà vu kỳ quái khi quan sát những phiến đá khổng lồ lát sàn và mạng nhện lòng thòng bên trên. Họ đã đến gần rồi. Rất gần.
“Cậu nghe thấy gì à?” cô hỏi Bill, cố gắng nhìn quanh khi que diêm trong tay Richie lập lòe, chuẩn bị tinh thần sẽ trông thấy thứ gì đó thập thò hoặc nhào ra từ màn đêm. Hay là con quái vật Rodan? Người ngoài hành tinh trong bộ phim gớm ghiếc có Sigourney Weaver xuất hiện? Con chuột khổng lồ chạy thoăn thoắt với đội mắt màu cam và hàm răng bạc? Nhưng chẳng có gì - chỉ có thứ mùi ám bụi của bóng đêm, và tiếng nước chảy rì rầm từ xa vẳng lại khi cống càng lúc càng đầy.
“C-C-Có gì đó kh-kh-không ổn,” Bill nói. “Mike…”
“Mike?” Eddie hỏi. “Mike làm sao?”
“Tớ cũng cảm thấy điều đó.” Ben đáp. “Lẽ nào… Bill ơi, hay cậu ấy chết rồi?”
“Không phải,” Bill nói. Mắt anh mờ đục, xa xăm, không lộ cảm xúc – bao căng thẳng nằm trong tông giọng và dáng người đầy phòng thủ của anh. “Cậu ấy… C-C-Cậu ấy…” Anh nuốt nước bọt. Trong họng anh đánh tách. Mắt anh mở to. “Ôi… ôi không…”
“Bill?” Beverly thét lên, thảng thốt. “Bill, sao vậy? Có…”
“N-N-Nắm lấy t-t-tay tớ!” Bill la to. “Nh-Nh-Nhanh l-l-lên!”
Richie liền thả que diêm và chộp lấy tay Bill. Beverly nắm tay bên kia. Cô giơ tay còn lại ra, và Eddie yếu ớt đưa cánh tay bị gãy nắm lấy. Ben nắm tay còn lại của anh và quây thành vòng tròn bằng cách nắm tay của Richie.
“Truyền sức mạnh cho cậu ấy!” Bill hô vang bằng giọng nói trầm lạ lùng. “Truyền sức mạnh cho cậu ấy, bất kể Người là ai, xin hãy truyền sức mạnh cho cậu ấy! Ngay! Ngay! Ngay!”
Beverly cảm thấy có thứ gì đó thoát ra từ người bọn họ và bay đến Mike. Đầu cô ngả ra vai như ngập trong đê mê, trong lúc hơi thở khò khè của Eddie hòa với tiếng nước chảy ầm ầm trong cống.
12
“Ngay bây giờ,” Mark Lamonica hằm hè. Hắn thở dài – tiếng thở dài của người đàn ông biết cực khoái đang gần đến.
Mike bấm nút gọi y tá trong tay mình liên hồi. Anh có thể nghe thấy tiếng chuông vang lên trong phòng trực y tá dưới sảnh, nhưng không ai xuất hiện. Quang cảnh khủng khiếp chẳng khác nào địa ngục hiện lên trong đầu anh: phải, y tá đang ngồi dưới phòng trực, bàng quan đọc báo buổi sáng, uống cà phê, nghe thấy tiếng chuông anh gọi nhưng không lọt vào tai, nghe nhưng không đáp lại, họ chỉ phản ứng sau khi mọi thứ đã kết thúc, bởi ở Derry, mọi sự là thế. Ở Derry, người ta giả mù giả điếc trước nhiều thứ… cho đến khi sự đã rồi.
Mike thả nút bấm khỏi tay.
Mark cúi người về phía anh, mũi kim tiêm loang loáng. Vòng Thánh Christopher đung đưa như thôi miên khi anh ta kéo chăn xuống.
“Ngay đó,” hắn thầm thì. “Xương ức.” Đoạn hắn thở dài lần nữa.
Đột nhiên Mike cảm thấy sức mạnh ùa vào người mình – thứ sức mạnh ban sơ vồ vập như điện giật. Anh cứng người, ngón tay duỗi ra như lên cơn co giật. Mắt anh trợn trừng. Anh rên lên, và cảm giác tê liệt khổ sở kia như bị tát văng khỏi người anh.
Tay phải của anh vươn tới bàn đầu giường. Có một bình nước bằng nhựa ở đó và một ly thủy tinh chắc chắn bên cạnh. Anh chộp lấy cái ly. Lamonica cảm nhận được sự thay đổi, ánh nhìn mơ màng, hài lòng biến mất khỏi mắt hắn ta, thay vào đó là sự bối rối đầy mệt mỏi. Hắn khẽ rụt lại, và rồi Mike giơ ly thủy tinh lên phang thẳng vào mặt hắn.
Lamonica hét lên, loạng choạng lùi ra sau, đánh rơi kim tiêm. Tay hắn đưa lên bưng khuôn mặt bê bết máu, máu chảy ròng ròng xuống cổ tay và bắn lên chiếc áo y tá màu trắng.
Sức mạnh chợt đến rồi cũng chợt đi. Mike ngây ra nhìn những mảnh thủy tinh vỡ trên giường, bộ đồ bệnh nhân mặc trên người và bàn tay đang chảy máu của mình. Anh nghe thấy tiếng giày đế kếp rảo bước lại gần ngoài hành lang.
Giờ thì họ đến cơ đấy, anh thầm nghĩ, Ồ phải, giờ mới đến. Để xem sau họ sẽ là ai xuất hiện đây? Là ai đây?
Lúc những y tá đã bàng quan ngồi trong phòng trực khi anh bấm chuông điên cuồng đổ vào phòng bệnh, Mike nhắm mắt, cầu cho mọi sự kết thúc. Anh cầu mong bạn bè anh đang ở dưới lòng thị trấn, anh cầu mong họ vẫn bình an vô sự, cầu mong họ sẽ đặt dấu chấm hết cho tất cả.
Anh chẳng rõ rốt cuộc mình đang cầu nguyện với Đấng nào… nhưng anh vẫn không ngừng cầu xin.
13
Dưới lòng thị trấn/ 6 giờ 54 phút sáng“Cậu ấy ô-ô-ổn r-r-rồi,” Bill lên tiếng.
Ben không rõ họ đã đứng nắm tay nhau trong bóng tối bao lâu. Anh cơ hồ cảm nhận được một sức mạnh – một thứ gì đó từ cả nhóm, từ vòng tròn họ dựng nên – thoát ra rồi quay trở lại. Song anh không rõ thứ đó nếu nó thật sự tồn tại – đã đi đâu, hay làm gì.
“Cậu chắc chứ, Bill To Bự?” Richie hỏi.
“C-C-Chắc,” Bill thả tay Richie và Beverly ra. “Nhưng bọn mình ph-phải kết thúc thứ này càng s-sớm càng t-tốt. Đ-Đi n-n-nào.”
Họ tiếp tục đi, Richie và Bill thay phiên nhau quẹt diêm. Bọn mình còn chẳng có lấy khẩu súng đồ chơi trong người, Ben thầm nhủ. Nhưng phải chăng đây cũng là một phần của nghi thức mang tên Chüd ấy? Mà nó có nghĩa là gì nhỉ? Ngày ấy, hình dạng thật của Nó là gì? Bộ mặt cuối cùng của Nó là gì? Ngày đó, bọn mình không giết được Nó nhưng đã đả thương Nó. Bọn mình đã làm thế nào nhỉ?
Khán phòng mà họ bước qua – không thể nào gọi nơi này là đường hầm nữa rồi – càng lúc càng rộng. Tiếng bước chân của họ vang vọng. Ben nhớ thứ mùi đặc quánh, man dại này. Anh nhận ra không cần đến diêm nữa – vì giờ đã có ánh sáng: một thứ ánh sáng rùng rợn càng lúc càng rõ. Trong thứ ánh sáng đục ngầu, bạn anh trông như xác chết biết đi.
“Đi thẳng về phía trước đi, Bill,” Eddie nói. “Tớ b-b-biết rồi.”
Ben cảm thấy trống ngực mình đập càng lúc càng nhanh. Miệng anh chua lòm, còn đầu thì ong lên. Anh cảm thấy mình chậm chạp và sợ hãi. Anh cảm thấy mình chẳng khác nào một gã béo phị.
“Cánh cửa,” Beverly thì thầm.
Phải, cánh cửa hiện ra rồi. Hai mươi bảy năm về trước, họ dư sức bước qua cánh cửa này bằng cách cúi đầu xuống thấp. Giờ họ phải lom khom chui, thậm chí lồm cồm bò qua. Họ đã lớn rồi, bằng chứng cuối cùng là đây, nếu cần cái thứ gọi là bằng chứng.
Mạch đập trên cổ và cổ tay Ben nóng ran, máu truyền rần rật; tim anh dồn dập thiếu điều muốn loạn nhịp. Đúng là gan thỏ đế, anh bâng quơ nghĩ và liếm môi.
Thứ ánh sáng vàng xanh rực rỡ tràn ra từ dưới cánh cửa, xuyên qua lỗ khóa chạm trổ công phu thành một tia sáng to và dày đến độ thiếu điều có thể đưa dao lên cắt.
Một lần nữa, mỗi người trong bọn họ lại nhìn thấy hình ảnh khác nhau trên dấu vết ở cánh cửa. Beverly nhìn thấy khuôn mặt của Tom, Bill thấy đầu Audra bị chặt lìa với đôi mắt đờ đẫn nhìn anh đầy trách cứ. Trong mắt Eddie là hình ảnh đầu lâu nhe nhởn cười trên hai khúc xương bắt chéo, biểu tượng của chất độc. Richie nhìn thấy gương mặt gớm ghiếc, râu ria xồm xoàm của Paul Bunyan, với hai con mắt nheo lại như kẻ sát nhân. Còn Ben thấy Henry Bowers.
“Bill, bọn mình có đủ sức mạnh không?” Anh hỏi. “Chúng mình làm nổi không?”
“Tớ kh-không b-b-biết,” Bill đáp.
“Nếu cửa khóa thì sao?” Beverly khẽ khọt hỏi. Khuôn mặt của Tom như trêu ngươi cô.
“Kh-Không khóa đâu,” Bill đáp. “Nh-Những nơi thế này chỉ chẳng b-b-bao giờ kh-kh-khóa.” Anh áp tay phải lên cửa – anh phải khom người xuống mới làm vậy được – rồi đẩy vào. Cửa bật mở, ánh sáng xanh vàng vọt kia ào ra như thác lũ. Thứ mùi man dại phả vào bọn họ, thứ xú khí của quá khứ nay đã trở thành hiện tại, sống động đến rùng rợn, cuộn trào đến đáng tởm.
Phải theo lao thôi, Bill bất thần nghĩ và đưa mắt nhìn các bạn. Đoạn anh khuỵu gối, lồm cồm bò trên hai tay. Beverly theo sau, kế đến là Richie, rồi Eddie. Ben đi cuối, nổi da gà khi chạm vào thứ đá mạt cổ xưa trên sàn. Anh đi qua cửa, và khi anh vươn người đứng dậy trong ánh lửa kỳ cục chập chờn lên xuống tường đá tong tỏng nước thành những vệt sáng vằn vện, mảnh ký ức cuối cùng giáng xuống mạnh bạo chẳng thua gì cỗ máy công thành điên cuồng.
Anh vừa hét lên vừa loạng choạng lùi lại, một tay ôm đầu, suy nghĩ rành mạch đầu tiên vang lên trong đầu là Hèn gì mà Stan tự sát! Ôi Chúa ơi, phải chi mình cũng tự sát cho rồi! Anh thấy vẻ mặt của mọi người xung quanh cũng như anh, kinh hãi đến bàng hoàng, ngỡ ngàng đến choáng váng khi chiếc chìa khóa cuối cùng đã xoay mở ổ khóa cuối.
Và rồi Beverly thất thanh ré lên, bám lấy Bill khi Nó vùn vụt lao xuống cơ man nào là mạng nhện. Con Nhện gớm ghiếc tựa ác mộng, vượt ra khỏi không gian, thời gian, con Nhện mà ngay cả những kẻ dưới mười tám tầng địa ngục cũng không tài nào tưởng tượng nổi.
Không, Bill lý trí nghĩ, Nó cũng chẳng phải một con Nhện, không hẳn vậy, đây không phải hình dạng Nó lựa ra từ tâm trí mình; đây chỉ là hình dạng gần nhất mà trí óc mình có thể lý giải
(tử quang)
bản chất thật của Nó.
Nó cao đến bốn mét rưỡi, đen như trời đêm một ngày không trăng. Mỗi cái chân của Nó to như đùi lực sĩ. Mắt Nó rực sáng như hồng ngọc đầy ác ý, lồi ra từ trong mắt nhoe nhoét dịch màu crôm. Hàm lởm chởm mở ra đóng vào canh cách, canh cách, bọt mép sùi ra. Đông cứng người vì kinh hãi tột độ, đầu óc ngấp nghé bờ vực phát điên, Ben quan sát với vẻ bình lặng tựa mắt bão rằng thứ bọt mép kia biết động đậy; nó rơi xuống sàn nhà lát đá đầy xú khí rồi ngoe nguẩy như trùng bò vào những vết nứt.
Nhưng Nó là thứ khác, có một hình dạng tận cùng mà mình lờ mờ trông thấy, như người ta có thể thấy dáng hình lấp ló của nhân viên đằng sau màn hình rạp chiếu phim khi đang chiếu, Nó có hình dạng khác, nhưng mình không muốn thấy, lạy Chúa, đừng để con phải trông thấy Nó…
Mà điều đó quan trọng gì chứ? Thứ gì đang thấy thì họ cũng trông thấy cả rồi, và Ben mơ hồ hiểu ra Nó bị cầm tù trong hình hài cuối cùng này, hình hài con Nhện, bắt nguồn từ trí tưởng tượng không rõ nguồn gốc, chẳng viện cầu mà bộc lộ ở tất cả bọn họ. Mạng sống của họ nằm trong tay phiên bản này của Nó.
Con quái vật gầm rít, và Ben dám chắc anh nghe thấy tiếng Nó phát ra hai lần – lần thứ nhất trong đầu và lần thứ hai sau đó một tích tắc, trong tai. Thần giao cách cảm, anh thầm nghĩ, mình đang đọc được tâm trí Nó. Cái bóng tròn như quả trứng chạy dọc bức tường thành vốn là hang ổ của Nó. Cả người Nó bao phủ bởi lớp lông thô cứng, và Ben trông thấy Nó có cái ngòi đủ dài để đâm xuyên qua một người. Từ đầu ngòi nhỏ giọt thứ dịch trong suốt, Ben để ý đây cũng là sinh vật sống; tương tự như bọt mép của Nó, dịch uốn éo chui xuống khe nứt trên sàn. Phải, cái ngòi rõ gớm… nhưng bên dưới còn một thứ gớm ghiếc bội phần: bụng của Nó phình ra, thiếu điều kéo lê trên sàn lúc Nó di chuyển, khẽ chệch hướng và tiến thẳng đến đầu não của bọn họ, tiến đến Bill To Bự.
Đó là túi trứng của Nó, Ben thầm nghĩ, và tâm trí anh như chực thét gào trước ngầm ý của hình ảnh ấy. Tuy hình ảnh thật sự của Nó nằm ngoài trị giác của họ, chí ít hình tượng này đúng về mặt biểu tượng: Nó là con cái, và Nó đang mang thai… Nó mang thai từ ngày ấy, và không ai nhận ra điều này ngoại trừ Stan, ôi Chúa ơi, thì ra là thế, Stan, là Stan, chứ không phải Mike, Stan là người phát hiện, Stan là người nói với cả nhóm… Đó là lý do bọn mình phải quay lại, bất chấp tất cả, vì Nó là con cái, Nó đang mang trong mình dòng giống ngoài sức tưởng tượng… và sắp đến thời điểm Nó đẻ rồi.
Và kìa, Bill Denbrough đang tiến lại để đối mặt với Nó.
“Bill, đừng!” Beverly thét lên.
“L-L-Lùi l-l-lại!” Bill hét mà không nhìn quanh. Nhưng rồi Richie chạy lại chỗ anh, vừa chạy vừa gào to tên Bill, chân Ben cũng cứ thế tự động bước tới. Dường như anh cảm thấy cái bụng phệ vô hình đang đung đưa trước người mình, và anh đón chào cảm giác ấy. Phải trở về làm một đứa trẻ như xưa, anh quay cuồng nghĩ. Đó là cách duy nhất để mình có thể ngăn Nó không khiến mình phát điên. Phải trở thành đứa trẻ như xưa… phải xoay xở tìm cách chấp nhận điều này.
Chạy. Gào thét tên Bill. Mơ hồ nhận ra Eddie đang chạy bên cạnh mình, cánh tay gãy thông thượt, thắt lưng áo tắm mà Bill dùng để cột quanh nẹp rơi trên sàn. Eddie đã rút ống thở ra. Trông anh chẳng khác nào gã xạ thủ còi cọc lên cơn điên với khẩu súng kỳ cục trên tay.
Ben nghe thấy Bill gầm lên: “Mày gi-gi-giết em trai tao, đồ kh-kh khốn khiếp!”
Đoạn Nó sừng sững đứng ngay trên Bill, khỏa lấp anh dưới cái bóng khổng lồ, cẳng chân loe ngoe trong không trung. Ben nghe thấy tiếng Nó rít lên, nhìn thẳng vào những con mắt ma quỷ đỏ quạch, trường tồn với thời gian của Nó… và trong khoảnh khắc, anh đã nhìn thấy hình dạng thật sự đằng sau vẻ ngoài kia: anh trông thấy những tia sáng, một thứ lông lá nhung nhúc vô hạn làm bằng ánh sáng và chẳng còn thứ gì khác, ánh sáng màu cam, thứ ánh sáng chết chóc trêu ngươi sự sống.
Và rồi nghi thức một lần nữa được thực hiện.