Khám đường An giang vô cùng buồn thảm.
Trời tối đen như đau thương sắp phải chứng kiến một tấn bi kịch. Cảnh tượng lại càng bi đát hơn, khi chuyển mưa, sấm sét vang động.
Bốn phương mây kéo tối sầm
Ô ! hay ! Trời cũng âm thầm vì ta !
Cậu Trần văn Chái nghiêm nét mặt, trầm ngâm, vì cậu sắp phải quyết định một việc quan trọng : sống hay chết ? Sống để tiếp tục nối chí cha, phục thù nước. Chánh đáng lắm rồi ! Nhưng liệu có sống nổi không ? Huống chi quân lính của Pháp canh gác cẩn mật, một mình nằm trong phòng giam, hai chân bị cùm, mong gì tháo cũi xổ lồng nữa. Hùm thiêng đã lỡ bước sa cơ, khó an toàn được tánh mạng.
Vậy chỉ còn cái chết. Chết đi để cho khỏi phải bị chém dưới tay của kẻ thù và để lại tấm gương khí khái cho đồng bào và ghi lại một vết son cho người khác noi theo mà tiếp tục kháng chiến giành độc lập cho đất nước. Sau nữa chết là để cho người Pháp biết rằng con trai nhà anh hùng Bảy Thưa không phải là một con người ham muốn trong khi phụ thân đã đền nợ nước ở chiến trường.
Cậu Chái, lấy con dao của mẫu thân gởi vào, con dao nhọn sáng quắc dài chỉ bằng ngón tay út, để trong ruột đòn bánh tét và bao gọn trong bức thơ viết vắn tắt có mấy chữ : « Con liệu mà xử sự ; nếu khó thoát khỏi pháp trường thì nên chết bằng lưỡi dao hùng tráng này ».
Bà mẹ khẳng khái đã từng theo thân phụ cậu vào tử ra sanh, nay lo cả đến cái chết của con cho không bị hoen ố.
Trần Văn Chái quay đầu về hướng Nam, trầm tư nhớ đến mẹ lần chót rồi ăn hết đòn bánh tét, món quà cuối cùng của mẹ. Cậu lẩm nhẩm khấn thầm : « Kính thưa mẹ, Tây nó dụ con hàng để an dân và xây vững nền thống trị của nó. Con đâu dám làm nhục vong hồn cha. Không giúp tay cho Pháp thì chắc là tánh mạng không còn. Vậy con xin nghe theo lời mẹ. »
Cậu Chái vuốt quần áo cho ngay thẳng rồi nằm xuống, cầm con dao bén, đâm thằng vào cuống họng.
Trời thảm đất sầu. Bên ngoài cơn mưa trút xuống như tỉn đổ.
Thế là rồi cả một dòng họ nhà ái quốc Trần văn Thành. Quê mà người đương thời hồi ấy chỉ dám gọi là « Đức Cố Quản » chớ không dám động đến tục danh.
Tại sao gọi là « Đức Cố Quản » ?
Nguyên là ông Trần văn Thành. Quê làm quản binh, trông nom một cơ binh, ở biên giới An Giang – Cao Miên, chống giữ bờ cõi, dựng được lắm chiến công oanh liệt nên người đương thời không dám gọi là ông Quản mà gọi là Cố, tâng lên hàng « Cố ». Khi đối thoại với ông và ở ngoài dân chúng thì gọi thêm là « Đức Cố Quản » cũng như Đức Vua, Đức Ngài, v.v…
Sanh trưởng trong một gia đình trung nông, có lẽ vì vậy mới có tòa Thành Quế, – ông là người làng Bình thạnh Đông quận Châu Phú hạ, tỉnh Châu Đốc. Hồi ấy là cuối thế kỷ 19, quân Pháp đang hoàn bị cuộc chinh phục xứ Nam kỳ. Vua nước ta phải nhường cho thực dân hết tỉnh nọ đến tỉnh kia. Tại miền Nam, có những phong trào khởi nghĩa chống Pháp nổi lên dưới mấy danh nghĩa : « Cần vương », « Bình Tây – Sát tả », « Dân chúng Tự vệ »… Bốn vị anh hùng cầm đầu các phong trào ấy còn ghi danh lịch sử là : Trương công Định, Nguyễn trung Trực, Võ duy Dương và Nguyễn hữu Huân.
Khi thất bại, các nhà ái quốc ấy sức cùng lực cạn, không còn đương đầu được với súng đồng, tàu chiến của quân xâm lăng nữa, cho đến năm 1873 mới tạm ngưng.
Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa có thể gọi là cuộc khởi nghĩa chót của đất Đồng Nai.
Pháp đã buộc triều đình Huế nhượng nốt ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên cho họ.
Lâm vào một tình cảnh một người dân mất nước, ông Quản Cơ không cam chịu cúi đầu mà khuyên binh sĩ của ông rút về vùng Láng Linh, sát rừng Bảy Thưa để chờ cơ hội. Láng Linh phía bắc giáp núi Sam, đông giáp sông Hậu giang, tây giáp Thất sơn, nam là rừng Bảy Thưa, thật là lợi địa cho công cuộc kháng chiến.
Các binh sĩ cũ của ông về đây khai hoang, lập ruộng sống một cuộc đời chờ đợi.
Tuy là một nhà ái quốc luôn luôn nghĩ đến việc giải thoát non sông bằng võ lực, ông Cố Quản thức thời, thấy dân chúng còn mê tín dị đoan nên phải liệu gió phất cờ, lợi dụng tín ngưỡng của dân để hướng về chánh nghĩa.
Vì thế ông lên núi để thọ giáo với đức Phật Thầy Tây An và được Phật Thầy coi như tín đồ số 1 sẽ nối chí Ngài sau này truyền giáo trong nhân dân.
Uy tín của ông Cố Quản càng tăng lên nữa,
Trong đời hành đạo của ông có hai việc được truyền tụng khắp dân gian, làm cho người đời thêm tin ông có phép thuật mầu nhiệm. Có lẽ ông phải dùng mánh lới này để gây một lòng tin mãnh liệt trong đám nông dân. Đây hai việc được truyền khẩu trong dân chúng :
Trong làng ông có một người dân tranh nhau đất cát với một người Cao Miên rồi bị tên này thư cho lớn bụng. Theo khẩu truyền thì phép thư là một tà thuật mà người Miên hồi đó thường sử dụng để làm hại kẻ thù : họ hóa phép cho một vật biến thể nhỏ lại hột mè, rồi đổ vào đồ ăn cho kẻ thù vô tình ăn phải : thế là ít lâu, bụng chướng lên vì món vật bị thư vào bao tử, lần lần hiện nguyên hình. Có khi họ thư con gà vào bụng, có khi thư tảng đá.
Người nông dân nói trên đây bị thư lớn bụng, phải đến cầu cứu ông Cố Quản giải thư cho. Ông bèn viết mấy chữ nho vào tờ giấy bản (giấy mỏng) đốt ra tro, hòa nước cho anh uống. Kết quả anh đi tiêu không biết bao nhiêu nùi tóc rối, hết nùi nọ đến nùi kia. Bụng anh xẹp lại, anh hết bịnh.
Tên Thổ căm tức lắm vì Đức Cố Quản đã thắng tà thuật của y.
Y quyết trả thù ở ngay chính ông, lợi dụng hôm mồng một đầu tháng, thiện nam tín nữ lên núi Sam cúng Phật và nghe Đức Cố Quản thuyết pháp. Y cũng đi theo và thư vào bình trà của ông một thỏi sắt. Thỏi sắt này đã biến thành một hột nhỏ xíu, mắt người không thấy được.
Đức Cố Quản thản nhiên uống trà thuyết pháp.
Vài hôm sau, tên Cao Miên đến dọ tin tức thì được gia nhân Cố Quản cho hay rằng ông đi tiêu ra cả một thỏi sắt. Tên Thổ không thể hại ông đau ruột, đành phải đến tạ tội và xin tòng phục để học đạo với ông.
Nó đã cải tà quy chánh từ đó.
Hai câu chuyện trên đây là hoang đường khó tin, nhưng biết đâu đó chỉ là một đòn chiến tranh tâm lý mà ông Cố Quản cho truyền khẩu đi khắp nơi để gây niềm tin trong đám quần chúng còn nặng óc dị đoan.
Biết đâu ông Cố Quản chẳng là một người rành tâm lý, đã xếp đặt hai vụ « đấu phép » để quy phục nhân dân, tăng thêm binh số, chờ ngày khởi nghĩa.
Binh ngũ đàng hoàng, ông Cố Quản đã lập doanh trại trong rừng Bảy Thưa rồi tuyên bố đặt tên quân đội là « Binh Gia Nghị ».
Sau 3 năm im hơi lặng tiếng, nhân dân An Giang lại được nghe danh « Đức Cố Quản ».
Rừng « Bảy Thưa » có 6 cây số chẳng biết có phải do tay người uốn nắn không mà bên trên xòe hình tròn như sáu cái lọng. Có lẽ ông Cố Quản muốn cho dân chúng tin là điềm trời báo trước sẽ khôi phục giang sơn đất nước, sáu cái lọng tượng trưng cho uy quyền nhà vua dân Nam Kỳ đã thành dân thuộc địa Pháp nhưng còn nặng óc tôn quân.
Dân chúng kính cẩn gọi rừng nầy là « Bảy Thưa Sáu Lọng » với cả một hoài vọng rằng triều đình Huế sẽ khắc phục được 6 tỉnh đã mất.
Cuộc kháng chiến của « Binh Gia Nghị » thật là mãnh liệt và gây cho quân Pháp những tổn thất nặng nề. Pháp đem tiền bạc ra mua chuộc dân chúng để đưa đường chỉ lối cho họ vào tới rừng « Bảy Thưa » nhưng vô hiệu quả, không ai ham tiền mà cho Pháp biết doanh trại của « Đức Cố Quản ». Hết bị tập kích ở Tỉnh Biên, đến bị bao vây ở đồn cây Mít, Pháp quân xính vính nhiều phen.
Một hôm quân lính bắt được một tên thổ chạy vào rừng Bảy Thưa, nghi nó làm nội công cho Pháp bèn đưa ra tra tấn. Y khai tên Nguồn và nói rằng vì đi săn bắn đuổi theo một con hươu bị trúng tên, y không biết đường mới lạc vào nơi cấm địa.
Việc này được đưa lên ông Cố Quản phân xử. Ông nhìn hình dáng Thổ Nguồn, tin là y lạc đường thật nên trả tự do cho y.
Ông có ngờ đâu hậu họa sẽ xẩy đến vì tên Thổ trả thù.
Thổ Nguồn khúm núm lạy tạ, nhưng đã phác họa trong đầu cả một mưu mô làm phản. Y lấy một cây lác khô, bẻ nhỏ, rải trên đường từ rừng Bảy Thưa ra, để sau này dễ nhận đường.
Ra tới tỉnh lỵ, y đến đồn binh Pháp xin làm người dẫn đường cho quân Pháp tiến vào rừng Bảy Thưa.
Một trận quyết liệt được chuẩn bị, Pháp đã tìm ra đường lối vào tận doanh trại của Đức Cố Quản. Họ huy động súng đồng, tàu chiến đủ cỡ, kéo từ Saigon xuống An Giang. Từ tỉnh lỵ, đại đội binh mã được chở đến rừng Bảy Thưa.
Trận chiến vô cùng mãnh liệt. Quân sĩ của « Binh Gia Nghị » bị đánh bất ngờ, trở tay không kịp, tổn thất nặng nề. Suốt mấy ngày súng thần công đại bác khạc tứ tung bất phân biệt quân và dân.
Sau trận này, Pháp được tin ông Cố Quản đền nợ nước. Con trai ông là cậu Trần văn Chái bị bắt với một vết thương nơi cánh tay.
Tân binh của ta rút đi nơi khác, bỏ lại một khu rừng âm u hiểm trở.
Quân Pháp đổ xăng vào doanh trại đốt hết khu rừng rậm. Bị hỏa thiêu một phần, nơi đây chỉ còn lại những thân cây xơ xác cháy đen.
Bà cố được hung tin trong khi bà cùng gia quyến đã tản cư ra khỏi miền Láng Linh từ tháng trước. Bà đau đớn vô cùng. Một bạn cũ của ông Cố Quản biết chỗ ở của bà, xin với quân Pháp để cho mình làm trung gian đến dụ hàng. Ông muốn bà khuyên cậu Chái, con của ông Cố Quản, ra cộng tác với Pháp, kêu gọi dân chúng chấm dứt cuộc đề kháng.
Nhưng bà hiền mẫu tiếp ông bạn cũ của chồng với những lời khẳng khái :
- Tôn huynh hẳn nhớ chuyện bà từ mẫu Từ Thứ chớ !
- Dạ có biết. Nhưng đó là chuyện đời xưa. Còn ngày nay không giống ngày xưa, ta sống phải theo thời và tùy thời.
- Từ Thứ quy Tào thì bà Từ Mẫu đã thắt cổ. Tôi không muốn con trai tôi lầm lỡ như Từ Thứ
Ông bạn cũ biết không thể nào xoay chuyển được lòng cương quyết của một phụ nữ quả cảm, nặng lòng yêu nước. Ông gợi đến tình gia tộc :
- Tẩu tẩu đừng quên rằng tôn huynh có một đứa con trai để nối dõi tông đường. Tẩu tẩu không sợ nểu rủi ro cho thằng cháu thì tôn huynh tuyệt tự sao ?
- Ồ ! Nghĩa gia đình nặng thật ! Nhưng còn nợ nước không thể coi nhẹ bằng lông.
Bà cố chùi nước mắt, lui vào trong. Khách cũng cáo từ ra về.
Bà làm một việc tầy trời : đòn bánh tét của bà gởi vào cho con trong khám đường là món quà chót của bà mẹ và con dao bén sẽ dùng cắt đứt cuộc đời của nhà ái quốc trẻ tuổi.
Con dao anh dũng ấy cắt luôn cả dòng họ Đức Cố Quản.