Tại thành cửa Bắc, hôm 14-4-1887, một vụ tự sát rùng rợn và bi đát đã diễn ra trước phiên tòa án quân sự do Thống sứ Bi-Hua (Bi-hourd) chủ tọa. Vụ này các cụ già người Bắc còn nhớ mãi và thường gọi nôm na là vụ « móc mắt moi gan » hay có khi thanh nhã hơn thì gọi là vụ « Tán Cao ».
Hỏi người già, ai cũng nhớ vụ ấy, song mỗi người kể một cách khác, vì là một vụ án xử kín, tòa nhóm trong trại lính, dễ mấy ai được chứng kiến. Họa chăng chỉ còn những sử liệu của người Pháp đương thời chép để lại cho hậu lai biết vụ « Tán Cao » là vụ gì ? Các cụ già kể lại cho con cháu chỉ biết đại khái ông Tán Cao đã bị xử trảm, bêu đầu nơi công cộng, vì theo đảng Văn Thân đánh Pháp. Có thế thôi…
Bị cáo nhơn là Ông Nguyễn Cao làm chức Tán ly Quân Vụ dưới thời Hàm Nghi, nên người ta gọi là Tán Cao, cũng như ông Tán Thuật mà tên chính là Nguyễn Thiện Thuật.
Hai ông Tán Thuật và Tán Cao đã là đồng chí với nhau, cùng gây ra cuộc kháng chiến chống Pháp ở Bãi Sậy (Hà Nội). Người Việt Nam hồi Pháp thuộc được nghe sơ cái danh từ « Giặc Bãi Sậy ».
Hai người cùng tham gia cuộc khởi nghĩa này, dưới hiệu cờ Cần Vương năm 1885-1886. Khi bị thất bại, ông Tán Thuật đang ở mạn ngược (miền thượng du Bắc Việt) vượt biên giới qua Tàu rồi bôn ba nơi đất người. Còn ông Tán Cao bị bắt.
Tại sao lại còn danh từ vụ án « móc mắt moi gan » mà một nhà nho cảm khái vịnh thành bài thơ bát cú, chúng tôi chỉ còn hai câu sau :
« Móc mắt luống căm phường cướp nước
Moi gan cho thấu giống hùng anh. »
Có danh từ nói trên là vì ông Tán Cao đã dám móc mắt moi gan trước phiên tòa, làm cho Thống sứ Bihourd và các võ quan ngồi xử đều xanh máu mặt và ngạc nhiên thấy dân tộc Việt Nam gan dạ có thua kém gì dân tộc Nhật Bổn đã nối tiếng về tục Ha ra Ki ri.
Trước khi nói đến phiên tòa « đẫm máu » ấy, xin bạn đọc hãy biết qua thân thế Ông Tán Cao.
Người có can đảm tự móc mắt moi gan ấy lại có một bà mẹ cũng ghi tên trong trang sử liệt nữ vì bà đã có một cử chỉ bi tráng không kém : cắt vú trước bàn thờ chồng để cho khỏi lọt vào tay một nhà quyền thế.
Chánh sử không chép tên bà, song dã sử nói đến « thân mẫu của Ông Tán Cao ». Bà là người làng Cát Bì tỉnh Bắc Ninh, lấy chồng người cùng làng, vốn là một nho sĩ thanh bạch. Khi bà có thai sắp đến ngày sanh nở, thì chồng bà từ trần.
Sẵn nhan sắc, bà lọt vào mắt xanh một người giàu, có thần thế trong làng. Ông nhà giàu cho người dụ dỗ bà làm vợ bé. Bà biết rằng không thuận, thế nào tên gian ác kia cũng hãm hại, nên dùng kế hưỡn binh, xin phép cho mãn tang chồng bà sẽ về làm vợ bé nhà phú hộ.
Ba năm sau, ngày cúng mãn tang được cử hành trọng thể. (Nhà phú hộ khấp khởi mừng thầm sẽ được thỏa mãn).
Người quả phụ mặc đồ tang, khấn vái trước bàn thờ, khóc lóc một hồi rồi rút con dao bầu ra (dao giết heo) cởi phanh áo, cắt cả cặp vú. Máu chảy ra lênh láng, bà ngã khuỵu trước bàn thờ và một lúc sau đi theo hồn chồng về bên kia thế giới.
Dưới chế độ phong kiến, người mẹ cô đơn muốn trọn tiết đã đành bỏ lại đứa con mới trên ba tuổi, vừa thôi bú.
Người trong họ phải nuôi đứa nhỏ ấy lớn khôn.
Nguyễn Cao mồ côi cha mẹ, sống nhờ bà con họ hàng.
Đi thi đậu tới thủ khoa, thanh niên ấy mang một hoài bão lớn, muốn có võ nghệ cao cường để phò dân giúp nước. Lúc ấy Pháp đã chiếm đất Nam Kỳ và chờ ngày tiến ra Trung, Bắc. Hơn nữa, ở ngay đất Bắc, giặc nổi lên tứ tung, nào Cờ Đen, Cờ Vàng, Cờ Trắng, đều là dư đảng của bọn Thái Bình Thiên Quốc thất bại ở bên Tàu, tràn qua biên giới, hùng chiếm mỗi nhóm một vùng trên mạn ngược.
Nguyễn Cao không đếm xỉa gì tới chức thủ khoa của mình mà chỉ nghĩ đến nhiệm vụ trai thời loạn, lắng tai nghe tiếng gọi của Tố Quốc. Học võ khá giỏi rồi, ông được Tổng Đốc Hà Ninh Vũ Trọng Bình để ý. (Hồi ấy hai tỉnh Hà Nội và Bắc Ninh đặt dưới quyền một vị Tổng Đốc). Vị quan này được triều đình cử ra dẹp giặc và được binh quyền rộng rãi đến tận vùng Tuyên Thái Lạng (Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn).
Nghe danh Nguyễn Cao, ông mời Cao đến và xin vua phong cho chức Thương Tá đặc trách quân vụ.
Năm sau, chỉ một năm thôi, ông Nguyễn Cao đã tổ chức xong bộ máy quân sự, điều binh khiển tướng, cùng ông Ích Khiêm phát ra trận đánh lớn giết được tướng Ngô Côn là lãnh tụ bọn giặc Tàu, dư đảng Thái Bình Thiên Quốc.
Sau chỉ còn nhóm Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh còn mạnh thế ở Thượng Du ; giặc Cờ Đen thì hàng đầu ; giặc Cờ Trắng tan nát, còn những tốp lẻ tẻ, cướp bóc nhân dân mà người là gọi là giặc « Cỏ ».
Tôn thất Thuyết và Hoàng Kế Viêm được triều đình phái ra Bắc quét nốt bọn Hoàng Sùng Anh và tổ chức lại việc cai trị miền Thượng Du cho vững chắc. Thuyết dẹp giặc xong, nhờ công Nguyễn Cao, xin vua cử ông này làm Án Sát tỉnh Thái Nguyên, có rộng quyển diệt Giặc Cỏ khắp vùng Thượng Du.
Năm ấy là Qúy Mùi (1883)
Năm sau, (1884) bọn triều thần nhu nhược, cầu an, xúi vua ký Hiệp ước Bảo hộ cho quân đội pháp ra chiếm đóng Bắc kỳ và bảo hộ cho dân chúng Bắc ; còn Nam Kỳ đã thành thuộc địa Pháp.
Đảng Cần Vương nổi lên khắp nơi.
Ngoài Bắc, các nhóm Văn Thân không chịu chế độ bảo hộ, kéo nhau tới Hải Dương, làng Xuân Dục, nơi đây có ông Nguyễn thiện Thuật, tức Tán Thuật, dựng cờ Cần Vương chống Pháp. Ông Nguyễn Cao đang làm Án sát tỉnh Thái Nguyên, cũng bỏ hết chức tước, một mình một ngựa phóng về Hải Dương, tìm ông Tán Thuật.
Chiêu tụ được đông Văn Thân rồi, ông Tán Thuật được tôn lên làm Minh Chủ, với chức nguyên soái điều khiển quân sĩ. Còn ông Tán Cao được cử lên chức Phó nguyên soái phụ tá ông Thuật.
Tổng hành dinh lúc đầu đặt ở Hải Dương, song các Văn Thân thấy tỉnh này ở vùng Trung Châu, gần Hà Nội quá, khó mà chống Pháp có hiệu lực, nhứt lại còn phải đề phòng thất bại, có đất lui binh.
Ông Tán Thuật bàn nên dời lên vùng thượng du có núi non hiểm trở, rừng rậm bao la có thể là đất thích nghi nhứt cho việc dụng binh. Ai cũng tán thành ý kiến ấy.
Tổng hành dinh dời lên Thái Nguyên là nơi ông Nguyễn Cao đã từng điều khiển quân mã, biết rõ địa hình và thổ dân… Ông nói rõ hết cho Chủ soái biết cách thức hành quân ở vùng này. Rồi ông xin mở mặt trận ở ngay Hà Nội, đánh vào những đồn binh Pháp. Các nhân vật trong bộ tham mưu tán thành và giao trọn quyền điều động binh mã cho ông.
Nguyễn Cao trở về Hà Nội, lựa Bãi Sậy làm nơi xuất binh.
Dân chúng nghe danh ông Tán Cao khởi nghĩa, ùn ùn kéo nhau tới xin đầu quân. Những binh sĩ cũ đã từng xông pha mặt trận, dưới quyền chỉ huy của ông đánh giặc Ngô Côn, biết ông là tướng giỏi nên kiếm đến xin đi theo chống Pháp.
Đủ lực lượng hùng mạnh rồi, Ông cho lịnh đánh phá các đồn Pháp.
Nhưng quân Bãi Sậy võ khí thơ sơ, chỉ có súng hỏa mai trong khi Pháp sử dụng thần công đại bác ; lòng ái quốc dầu có hăng hái nồng nàn đến đâu cũng khó đem sức trứng chọi với đá được.
Trong một trận giao phong, ông Nguyễn Cao trúng đạn suýt chết. Băng bó xong vết thương, ông không chịu nghỉ ngơi, bắt các người phụ tá để ông nằm trên cái chõng tre khiêng ra mặt trận, ông hô hào binh sĩ hăng say đánh giặc.
Các quân nhân thấy ông hy sinh, can đảm như vậy, lòng càng phấn khởi, quyết tiến không lùi.
Than ôi ! Trứng chọi với đá, chẳng bao lâu quân Bãi Sậy bị đánh tan rã. Bãi Sậy chỉ còn là bãi đất hoang đầy dẫy xác chết, lênh láng máu đào.
Ông Tán Thuật ở mạn ngược cũng không chống cự nổi, phải lánh sang Tàu.
Một đồng chí của Ông là Đốc Tích ra đầu hàng Pháp để vinh thân phì gia.
Còn ông Tán Cao ở đâu ? Ông đã tử trận chăng ? Hay ông trốn thoát lên mạn ngược ? Không biết tông tích ông đâu nữa.
Quân Pháp cho người nhận dạng các tử thi ở Bãi Sậy, không có tử sĩ nào giống Nguyễn Cao. Tra hỏi các tù binh, cũng không biết ông đâu mất.
Hồi đó có tên lãnh Nhung là một cánh tay đắc lực của Pháp và đã có công đánh Bãi Sậy. Anh ta tên Nhung, chẳng biết họ gì, chỉ biết có công nên được Pháp đặc cách cho lên chức lãnh binh.
Dân chúng gọi là ông Lãnh hoặc kêu trỗng là « Lãnh Nhung ».
Lãnh Nhung bảo người Pháp treo giải thưởng rất lớn cho ai bắt sống hoặc lấy được thủ cấp Tán Cao, nhưng lòng ái quốc của dân Việt Nam không dễ gì mua chuộc. Một năm sau, vào mùa thu năm Đinh Hợi (1887) mới có một tia sáng sáng chiếu vào vụ Tán Cao.
Một bộ hạ của Lãnh Nhung ở Hà Đông báo tin cho y biết rằng tại một căn nhà lá làng Kim Giảng, Phủ Đình, thường có người lạ ra vào. Đây là nhà thầy Đồ Hoàng rất hay chữ, có nhiều môn đệ tới học. Hồi đó, vùng Hà-Đông thuộc về Hà-Nội, các người sắp đi thi đều vào tận làng Kim Giảng, xin thầy Hoàng giảng văn sách cho.
Thầy đồ được môn đệ các nơi thọ giáo rất đông.
Được tin mật báo có người khả nghi lui tới nhà thầy đồ, Lãnh Nhung bèn cho bắt một người đem về Hà-Nội tra khảo. Thì ra thầy đồ họ Hoàng là ông Tán Cao.
Ngay đêm hôm ấy, Lãnh Nhung được Thống sứ Pháp cấp cho một tiểu đội lính kỵ mã, hỏa tốc kéo vào Hà Đông, vây căn nhà lá của thầy đồ.
Nguyễn Cao ở trong nhà biết rằng chỗ mình ở đã bị bại lộ không còn chỗ nào thoát thân. Bên ngoài có tiếng loa nói vang dậy : « Bớ này Tán Cao, hãy mau đầu hàng ta sẽ cho an toàn tánh mạng ». Ông Nguyễn Cao khăn áo chỉnh tề, điềm nhiên như đi dự một đại lễ, ra mở cửa hỏi :
- Thằng Lãnh Nhung đâu ?
Không có tiếng đáp. Song nhà ái quốc họ Nguyễn đã nhận diện một người ngồi trên lưng ngựa, đeo súng trên vai :
- À ra mày tới bắt tao ! Lãnh Nhung à ! Mầy muốn lấy đầu tao về nộp cho chủ soái để lấy thưởng thì đây cắt đầu ta đi. Mày muốn bắt sống ta chăng ? Đây còng tao đi.
Do một hiệu lịnh của Lãnh Nhung, bốn tên lính lực lưỡng ập lại trói Nguyễn Cao, dẫn về Hà Nội liền đêm hôm ấy.
Một đêm tăm tối u ám, đất thảm trời sầu.
Hôm 14 tháng 4, tòa án quân sự Pháp nhóm để xử Nguyễn Cao. Vị anh hùng Bãi Sậy ung dung nhìn thẳng vào Thống sứ Bi-hua là chánh án.
Bi-hua nói :
- Anh biết nước Đại Pháp là một nước lớn, lại có lượng khoan hồng, anh khai hết đồng đảng, Đại pháp sẽ tha tội cho anh.
Bị can lạnh lùng không đáp.
- Tán Thuật hiện nay ở đâu ?
- Ở ngay trong dân chúng. Mỗi người là một ông Tán Thuật. Có bắt thì bắt hết đi.
Biết là không mua chuộc được bị can nữa, Thống sứ Bi hua mau kết liễu vụ án và tuyên án tử hình : bị can sẽ bị trảm tại Hà Nội và bêu đầu cho công chúng lấy đó làm gương.
Chưa kịp dứt lời, chánh án đã rùng mình phải chứng kiến một cảnh ghê rợn :
Bị can đứng thẳng người nói « Chúng mày coi đây ! Ta đâu sợ chết ! »
Rồi Nguyễn Cao lẹ như chớp, chuyển hết sức mạnh của một võ tướng vào 10 ngón tay, phanh da bụng, moi ruột ra lòng thòng, không biết đau đớn là gì. Ông còn đứng vững lại, dùng hai bàn tay đẫm máu mà đưa lên mặt móc hai con mắt ra. Ông bất tỉnh té xuống đất, trào máu miệng, vì Ông cắn lưỡi để kết thúc hơi thở cuối cùng. Hôm Ông chết cũng là hôm con trai duy nhất của Ông bị giết trong Hà Đông.
Ai giết ?
Lãnh Nhung chăng ? Không phải.
Người giết cậu con trai trên 20 tuổi của ông lại là những đồng chí của ông và do mạng lệnh đã ban ra trước khi Ông bị bắt.
Nguyên là cậu này rượu chè cờ bạc, chơi bời lêu lổng, có manh tâm muốn hàng quân Pháp. Ông lo con Ông là hậu họa cho công cuộc chống Pháp mà Ông còn đang tái tổ chức dưới lớp áo của thầy đồ dạy học, nên Ông sai người tìm cậu con để giết đi cho rồi.
Thật là ba cái chết bi đát của một gia đình.
Thân mẫu Ông Nguyễn Cao cắt vú để thủ tiết với chồng.
Ông moi gan móc mắt để tỏ lòng can đảm của dân tộc.
Còn con Ông chết, một cái chết không vinh quang gì, song cũng là cái chết bi đát vì chết bởi tay cha.