“Thật thú vị,” Bill Gates nói. “Khi còn trẻ, tôi không biết bất kỳ người lớn tuổi nào. Khi chúng tôi thực hiện cuộc cách mạng vi điều khiển thì chẳng có ai lớn tuổi cả, không ai hết. Họ không để chúng tôi gặp những phóng viên đã đứng tuổi. Tôi không làm việc với những người trong độ tuổi 30. Giờ đây thì có cả những người 50, 60 tuổi. Và bây giờ, khi đã già, tôi phải quen với việc đó. Thật lạ khi thấy ngành này đã già tới mức nào. Tôi gặp anh khi còn trẻ và giờ đây, khi già rồi tôi vẫn gặp anh. Chúa ơi!”
Nhà đồng sáng lập Microsoft và tôi, hai gã lẩm cẩm ở tuổi 50, đang tiếp tục cuộc phỏng vấn mà tôi đã thực hiện cho cuốn Hackers lược sử với một anh chàng Gates đầu bù tóc rối cách đây hơn một phần tư thế kỷ. Tôi đã cố gắng ghi lại cốt lõi của cuộc cách mạng máy tính – đó là nỗi ám ảnh đáng sợ, sự thông minh đến lố bịch và sức sáng tạo vô tận mà người ta biết đến với danh xưng hacker. Gates vừa mới chỉ bắt đầu gặt hái phần thưởng từ thỏa thuận cung cấp hệ điều hành DOS của anh cho IBM, thứ đã đưa Microsoft vào vị trí thống trị máy tính cá nhân để bàn trong hàng thập kỷ. Tên của anh vẫn chưa phổ biến và trình soạn thảo văn bản Word cũng chưa phổ biến trong các hộ gia đình. Sau đó, tôi vẫn phỏng vấn Gates thêm nhiều lần nữa, nhưng lần phỏng vấn đầu tiên ấy thật đặc biệt. Tôi đã thấy niềm đam mê mà anh dành cho máy tính như một phần của lịch sử. Gates đã thấy sự quan tâm mà tôi dành cho những thứ thú vị và khác thường như “Thư gửi những người Đam mê máy tính” của anh. Khi đó, tôi đã bị thuyết phục rằng dự án của mình quả thực là sự ghi nhận về một phong trào sẽ ảnh hưởng tới tất cả mọi người.
Biên tập viên đã thúc giục tôi phải thật tham vọng. Do đây là cuốn sách đầu tiên nên tôi đã kỳ vọng rất cao, và cho rằng các lập trình viên thông minh, những người đã khám phá ra thế giới bên trong máy vi tính, là những nhân vật then chốt trong cuộc chuyển đổi kỹ thuật số sâu rộng. Cách nghĩ lớn này không phải là mục đích ban đầu của tôi. Khi bắt tay vào dự án, tôi đã coi hacker chỉ thú vị hơn một chút so với các tiểu văn hóa khác. Nhưng khi thực hiện các nghiên cứu của mình, tôi đã phát hiện ra chính tính hay vui đùa cũng như sự vô tư của họ khi không quan tâm đến việc người khác nói điều gì đó bất khả thi đã dẫn tới những đột phá khiến cho hàng tỷ người sử dụng máy tính. Hacker MIT đã giúp ấp ủ các ý tưởng về trò chơi điện tử, và phần mềm xử lý văn bản. Câu lạc bộ máy tính Homebrew đã biến các tính toán của Định luật Moore thành thứ xuất hiện trên tất cả bàn làm việc của chúng ta, bất chấp suy nghĩ thông thường khi đó về việc chẳng ai muốn có một chiếc máy tính cá nhân. Và hầu hết các hacker này chỉ đơn thuần làm việc vì niềm vui khi thực hiện được một kỹ thuật thú vị.
Đằng sau sự sáng tạo đó, tôi đã phát hiện ra một thứ thậm chí còn quý giá hơn – đó là việc các hacker đích thực, bất kể việc họ xuất hiện ở đâu hay khi nào, cũng đều có một tập các giá trị chung sau này đã trở thành cương lĩnh cho thời đại thông tin. Tôi đã cố gắng hệ thống hóa bộ luật bất thành văn này thành một loạt các nguyên tắc mà tôi gọi là Đạo đức Hacker. Tôi hy vọng rằng những ý tưởng này – đặc biệt là niềm tin của hacker về việc “Thông tin nên được Tự do” – sẽ khiến mọi người nghĩ khác về hacker.
Dù ban đầu, cuốn sách gặp một số khó khăn (tờ New York Times đã gọi nó là “câu chuyện trên tạp chí được thổi phồng một cách vô lý”) nhưng cuối cùng, nó cũng tìm được những độc giả của mình, thậm chí còn vượt ra ngoài các khát khao cháy bỏng của tôi. Thông qua những cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên, thư điện tử và các tweet, mọi người liên tục nói với tôi rằng cuốn Hackers lược sử đã truyền cảm hứng cho nghề nghiệp hay suy nghĩ của họ. Giở qua một cuốn sách kể về John Carmack, nhà sáng lập của trò chơi điện tử Doom, tôi đã nghiệm ra một điều rằng việc đọc Hackers lược sử sẽ giúp cho những cậu bé nghiện máy tính tự tin khi biết rằng, họ không hề đơn độc trên thế giới này. Gần đây, khi phỏng vấn Ben Fried, Giám đốc Công nghệ Thông tin của Google, anh đã xuất hiện cùng một cuốn Hackers lược sử với nhiều nếp quăn ở góc để tôi ký. “Tôi sẽ không thể có mặt ở đây nếu không được đọc cuốn sách này,” anh nói với tôi. Tôi đã nghe điều đó hàng chục lần mỗi năm và chưa bao giờ thấy chán cả.
Một việc khác khiến tôi thỏa mãn không kém là các vấn đề mà cuốn sách này đưa ra đã trở thành những cuộc tranh luận trọng tâm trong thời đại thông tin. Vào tuần mà cuốn sách này được xuất bản, nhiều chủ thể được đề cập tới trong cuốn sách (cùng những hacker đáng chú ý khác mà tôi không đề cập tới), đã gặp nhau ở Hạt Marin, California trong Hội nghị Hacker đầu tiên. Đó là nơi mà Stewart Brand, hacker trùm sò kiêm biên tập của Whole Earth Catalog đã hack nguyên tắc “Thông tin nên được Tự do”. Tôi cảm thấy nên trích dẫn lại nhận xét của anh tại một phiên mà tôi chủ trì có tên “Tương lai của Đạo đức Hacker”, bởi nó thường bị trích dẫn sai. “Một mặt, thông tin muốn trở nên đắt đỏ, bởi chúng có nhiều giá trị,” Brand nói. “Thông tin đúng vào đúng thời điểm sẽ thay đổi cuộc đời bạn. Mặt khác, thông tin muốn được tự do bởi chi phí để đưa nó ra đang trở nên ngày càng thấp hơn. Và thế là hai điều đó đã chống lại nhau.”
Một phần tư thế kỷ sau, phát biểu lại của Brand đã quen thuộc tới mức nó trở thành một tính từ (chẳng hạn các nhà phê bình nói về “đám đông thông-tin-nên-được-tự-do”). Nhưng toàn bộ câu nói ấy đã gói gọn sự căng thẳng của phong trào hacker trong một phần tư thế kỷ vừa qua – một cuộc chiến cao trào giữa chủ nghĩa lý tưởng của những người đam mê máy tính và công việc kinh doanh lạnh lùng. Hacker muốn thông tin được tự do – không phải là kiểu bia miễn phí, mà là sự tự do không ràng buộc, như lời của Richard Stallman. May thay, nỗi sợ của Stallman về việc anh sẽ giống như Ishi, người Yahi cuối cùng, đã không thành sự thực.
Thế giới của hacker đã chứng kiến những thay đổi chấn động kể từ khi tôi viết Hackers lược sử trên chiếc máy tính Apple II bằng phần mềm WordStar. (Khi đó, tôi chỉ có thể lưu một nửa chương vào đĩa mềm.) Lúc ấy, gần như không ai biết hacker là gì – một số nhân viên kinh doanh của nhà phát hành đầu tiên, Doubleday, thậm chí còn yêu cầu tôi đổi tên sách vì nó quá khó hiểu. Mạng Internet khi đó chỉ là một mạng máy tính ít người biết đến, kết nối một số ít máy tính trong chính phủ và giới học thuật. Những người dành nhiều thời gian với máy tính khi đó được coi là phản xã hội và có phần khó nói chuyện. Ấy thế mà một số ý tưởng đằng sau tập giá trị đặc biệt của Đạo đức Hacker giờ đây đã rõ ràng tới mức các độc giả mới có thể sẽ tự hỏi tại sao tôi phải viết chúng ra. (Chẳng hạn như “Bạn có thể tạo ra nghệ thuật và cái đẹp trên máy tính không?” Ai chả biết điều đó chứ.)
Với việc Hackers lược sử kỷ niệm 25 năm tuổi, tôi đã quyết định nhìn lại một lần nữa về chủ nghĩa hacker thông qua việc đến thăm một số người mà tôi đã gặp khi nghiên cứu để viết cuốn sách này. Tôi cũng thăm một số người không xuất hiện trong bản sách lần đầu tiên, chủ yếu là vì họ chưa để lại dấu ấn trong giới hacker. Một trong những điều mà tôi muốn tìm hiểu là việc trở thành một hacker vào năm 2010 sẽ như thế nào. Nhưng tôi còn có một động cơ khác là liên lạc lại với những người ấy khi họ không hề được nhắc đến trên sách báo. Giống như chuyến đi thăm lại những người bạn gái cũ của Bill Murray trong bộ phim Broken Flowers (tạm dịch: Những cánh hoa rơi), tôi hy vọng có thể rút ra một ý nghĩa nào đó từ việc tìm hiểu những điều đã xảy ra với các chủ thể của mình, hy vọng họ có thể hé lộ chút ánh sáng về những gì đã xảy ra với hack, để rồi từ đó nhìn ra được những gì mà hack đã giúp thay đổi thế giới – và ngược lại.
Tôi chỉ có thể đến thăm một nhóm nhỏ, nhưng qua họ, tôi đã tìm thấy sự phản chiếu về cách mà thế giới công nghệ đã phát triển trong 25 năm qua. Dù phong trào hacker đã giành chiến thắng, nhưng không phải tất cả những người tham gia đều có chung số phận. Giống như Gates, một số người được đề cập trong cuốn Hackers lược sử giờ đây đã trở nên giàu có, nổi tiếng và quyền lực. Họ đã ăn nên làm ra trong sự chuyển dịch của phong trào, từ một tiểu văn hóa ốc đảo thành một ngành công nghiệp trị giá nhiều tỷ đô-la, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc họ không còn đi theo Đạo đức Hacker Đích thực. Số khác, do chưa sẵn sàng hoặc không thể thích nghi với thế giới, đã khám phá và tận dụng đam mê của họ – hay chỉ đơn giản là thiếu may mắn – đã chìm trong đau khổ và đấu tranh để xoa dịu những đắng cay. Tôi cũng thấy sự nổi dậy của một làn sóng mới: những người thừa kế ngày nay của di sản hacker, họ đã lớn lên trong một thế giới, mà ở đó thương mại và hacker chưa từng được xem là các giá trị đối lập. Họ đang làm nên tương lai của phong trào này.
☆ ☆ ☆
Các hacker đích thực không bao giờ nghỉ phép. Và nếu xét theo các tiêu chuẩn đó thì Bill Gates không còn là một hacker đích thực nữa.
Bản thân Gates cũng thú nhận điều này. “Tôi tin vào nhiệt huyết, và tôi phải hoàn toàn đồng ý rằng trái ngược với bây giờ, nhiệt huyết của tôi ở độ tuổi đôi mươi lớn hơn rất nhiều,” anh nói. “Khi đó, tôi chỉ có làm việc thôi. Giờ thì tôi lại về nhà ăn tối.
Khi lựa chọn sẽ lấy vợ và có con, bạn sẽ phải từ bỏ một chút sự cuồng tín. Quả thực, khi nhìn lại, Gates nói rằng những năm tháng quan trọng nhất trong sự nghiệp hack của anh còn đến từ trước đó, khi còn là một cậu bé ở trường Lakeside. “Những năm tháng máu lửa nhất, cuồng tín nhất là từ 13 tới 16 tuổi,” anh nói.
“Vậy là anh đã ở bên kia sườn dốc khi vào Harvard?” tôi hỏi.
“Theo kiểu lập trình 24 giờ mỗi này á? Chà, đúng vậy,” anh nói. “Chắc chắn là vào năm 17 tuổi, tư duy phần mềm của tôi đã được định hình.”
Tôi đã tự hỏi làm sao mà một đứa trẻ ngày nay, khi máy tính nhan nhản khắp nơi và rất dễ điều khiển, có thể tạo ra tầm ảnh hưởng tương tự như vậy. Liệu có thể có một Bill Gates của ngày hôm nay không? “Chắc chắn là hacker không còn cơ hội để mang máy tính đến với mọi người nữa rồi,” anh nói. Vụ nổ big bang của cuộc cách mạng máy tính đã diễn ra. Khi tôi nói rằng những trang giấy trắng bây giờ thật khó tìm, anh đã lập tức gạt đi. “Còn cả tấn,” anh nói. “Trong lĩnh vực người máy. Trí tuệ nhân tạo. Lập trình DNA. Và còn năm sáu thứ gì đó mà tôi thậm chí còn không thể nêu tên vì tôi không còn trẻ nữa. Chúng ta có khoảng 135 triệu đứa trẻ được sinh ra mỗi năm – chúng ta không cần một tỷ lệ cao. Anh thậm chí không cần một người mỗi năm. Và vì thế, anh có thể cần phải cực kỳ kén chọn.”
Anh dường như vẫn rất nhiệt huyết như khi tôi gặp anh vào năm 27 tuổi: xấc xược nhưng vẫn tránh những ánh nhìn trực tiếp. Trong một nửa cuộc phỏng vấn, anh nhìn chằm chằm vào màn hình máy tính, kiểm thử phần mềm có sử dụng một trong những con chuột mới lạ ấy. Nhưng anh vẫn hoàn toàn nhập tâm vào các câu hỏi của tôi, rất nhanh chóng đưa ra quan điểm cứng đầu về một số người mà anh làm việc cùng – hoặc chống lại – trong những ngày đầu của kỷ nguyên máy tính cá nhân. Nhiệt huyết đó sẽ thấm nhuần trong công việc và công ty của anh, giúp anh biến Microsoft trở thành công ty phần mềm hàng đầu thế giới và giúp anh, vào một thời điểm nào đó, trở thành người giàu nhất thế giới. Niềm tin của Gates vào hack thể hiện trong tất cả những việc làm của anh, ngay cả trong các quyết định tuyển dụng. “Nếu bạn muốn thuê một kỹ sư,” anh nói, “hãy nhìn vào mã nguồn anh ta viết. Chỉ thế thôi. Nếu anh ta không viết nhiều mã nguồn lắm thì đừng tuyển.”
Khi tôi nhắc lại vụ “Thư gửi những người đam mê máy tính” của anh vào năm 1976, anh nói: “Tôi khơi lên vụ đó theo kiểu ‘Chà, nếu mọi người trả nhiều tiền hơn cho phần mềm thì mình có thể thuê thêm nhân viên đấy.’”
“Liệu anh có nghĩ rằng những vấn đề đó vẫn sẽ tồn tại sau nhiều năm?” Câu trả lời là có, và lời giải thích của anh là một bài học lịch sử về luật sở hữu trí tuệ đã đưa chúng ta trở lại với học thuyết của Adam Smith, và việc in lại trái phép các văn bản của Benjamin Franklin của các nhà phát hành châu Âu. “Benjamin Franklin đã bị trộm,” Gates nói. “Anh có thể viết chính xác những gì tôi đã viết. ‘Lũ xuất bản chết tiệt!’” Gates cho rằng chúng ta đã kiểm thử các mô hình kinh doanh mới đủ lâu để tìm ra sự cân bằng hợp lý giữa người sở hữu và độc giả trong thời đại số. Và ít nhất là như những gì tôi nghe được thì dường như anh đang che giấu một sự thỏa mãn nào đó về việc giờ đây các nhà báo vẫn đang rên rỉ đúng những thứ mà anh rên rỉ trong bức thư của mình. “Có lẽ những người viết báo vẫn sẽ được trả tiền sau 20 năm kể từ hôm nay,” anh nói. “Hoặc có thể anh sẽ phải cắt tóc vào ban ngày, và chỉ cần viết vào ban đêm. Ai biết được chứ?”
Gates đã phải đi chệch khỏi quy tắc đạo đức cứng nhắc của hacker để có được thành công vang dội. Tất cả những gì Steve Wozniak đã làm là xỏ vào chân một đôi giày khiêu vũ. Woz vẫn là một huyền thoại hacker, đồng thời anh cũng trở thành một biểu tượng văn hóa khó tin, xuất hiện trong chương trình nổi tiếng Dancing with the Stars (Khiêu vũ cùng ngôi sao). Khi tôi gặp anh cho cuộc phỏng vấn sau 25 năm, anh cũng vừa mới hội ngộ cùng các đối thủ khác trong vòng chung kết năm đó. Anh nói “tôi đã nhảy thi với Jerry Springer và Cloris Leachman” trên điệu chip và salsa tại một nhà hàng Mexico ở Fremont, California. Việc sớm bị loại không làm ảnh hưởng đến tinh thần của anh. Rất ít thứ có thể làm Woz nản chí, ngay cả khi các ngôi sao truyền hình thực tế đang làm lu mờ những thành tựu thiên tài của anh trong lịch sử công nghệ. “Khi mọi người đến và nói: ‘Này, tôi thấy anh trong chương trình Dancing with the Starsđấy!’” tôi đành phải trả lời: ‘Ừ, tôi còn làm cả máy tính nữa nhé.’”
Những người hâm mộ có thể được tha thứ cho việc bỏ qua năng lực kỹ thuật của Woz. Thời gian này, người ta chú ý nhiều hơn đến các sở thích (như Segway polo chẳng hạn) cũng như đời sống tình cảm của anh – anh đã có một mối tình đã qua với diễn viên hài Kathy Griffin dù khi ấy anh đã kết hôn cùng một người phụ nữ mà anh gặp ở Geek Cruise. Những trang web ác ý đã tàn nhẫn chế giễu sự xuất hiện của anh trên tạp chí dành cho người nổi tiếng và sự xuất hiện của anh trên trang nhất của Apple Store. Nhưng Woz đã vô tình rũ bỏ những lời châm chọc. Anh hồi tưởng lại những lời lẽ của mình dành cho Griffin cách đó vài năm: “Này, anh có thể làm tôi xấu hổ, anh có thể sỉ nhục tôi, anh có thể nhạo báng tôi bao nhiêu tùy thích – nếu điều đó khiến mọi người vui thì cũng đáng.” Khi tôi gặp anh hồi đầu những năm 1980, Woz đã là một tỷ phú dễ bị tổn thương, và không giỏi tương tác xã hội. Giờ đây, anh là một người cha được yêu thích và là biểu tượng cho văn hóa hacker nói chung.
Hết lần này sang lần khác, Woz xuất hiện trên các trang tin tức như một thế lực đứng sau các công ty khởi nghiệp với công nghệ có tiềm năng đột phá. CL 9 sắp sửa đưa ra những chiếc điều khiển từ xa siêu mạnh. Wheels of Zeus hứa hẹn sẽ cho phép người dùng theo dõi tài sản của họ bằng công nghệ không dây. Nhưng sản phẩm trước đã không thành công còn cái thứ hai thì chưa bao giờ thành hình. Giờ đây anh đang làm nhà khoa học phụ trách cho một công ty lưu trữ có tên Fusion-io. “Tôi đang trao đổi về sản phẩm, và thực hiện nhiều công việc bán hàng và marketing, nhưng đồng thời cũng xem xét các công nghệ có thể có tính cạnh tranh trong tương lai.”
Nhưng Woz thậm chí không kỳ vọng vào việc tạo ra một chiếc Apple II khác. Vào năm 2010, đóng góp lớn nhất của anh là với tư cách một hình mẫu. Tiếng tăm của anh là một lời nhắc nhở liên tục rằng, trí óc và sức sáng tạo có thể lấn át các dấu hiệu thường thấy. Anh là một kẻ chán ngắt trong phòng máy mà vóc dáng – cũng như sự vui vẻ – của anh còn vượt xa và đủ làm lu mờ những ông vua dạ hội kia. Và đó là nguồn cảm hứng cho những kẻ chán ngắt nghiền máy tính ở mọi nơi.
Quả thực, một trong những học trò của anh, Andy Hertzfeld, vẫn còn có cảm hứng hack. Hertzfeld không phải là một hình tượng chính trong Hackers lược sử, nhưng với tư cách là một trong những nhân viên đời đầu xán lạn nhất tại Apple Computer, anh đã có thể trở thành người như vậy. (Tôi đã gặp anh lần đầu tiên vào cuối năm 1983, khi anh là một trong những nhà thiết kế của hệ điều hành Macintosh.) Ngày nay, anh đang làm việc tại Google, nơi mà đóng góp nhìn thấy được gần như duy nhất của anh chỉ là một tính năng giúp tạo ra bảng niên đại cho các truy vấn của Google News sao cho người dùng có thể nhìn thấy một câu chuyện trong bối cảnh thời đại của nó. Nhưng hack ở độ tuổi ngũ tuần không dễ dàng như khi còn đôi mươi. “Khi hack trên Mac, tôi có thể hack một thời gian dài rồi cứ tưởng chỉ mới một tiếng trôi qua. Nhưng khi nhìn lên thì hóa ra đã làm bốn tiếng rồi,” anh nói. “Giờ đây, khi tôi nghĩ là một tiếng vừa mới trôi qua nhưng nhìn lên vẫn là một tiếng thật.”
Thời gian không phải là thứ duy nhất làm thay đổi trải nghiệm của Hertzfeld. Anh đồng thời phải điều chỉnh phương pháp tiếp cận cá nhân của mình để phục vụ mối quan hệ phức tạp giữa đam mê và sự chuyên nghiệp ở Google. Một mặt, Google là thánh địa Mecca dành cho hacker. Họ đề cao và coi kỹ sư là tài sản quan trọng nhất của mình. “Bạn được kỳ vọng sẽ làm việc bằng đam mê,” Hertzfeld nói – đó nhất định là một giá trị thân thiện với hacker. Nhưng Hertzfeld không thể chịu được việc Google đồng thời là một công ty lớn với phong cách làm việc cùng các quy trình thiết kế sản phẩm chuẩn mực, và những điều này khiến quá trình làm việc trở nên hình thức hơn, bớt thú vị hơn. “Tôi làm việc giống như một nghệ sĩ,” anh nói. Nhưng ở Google, anh nói thêm, “tôi không thể thực hành sáng tạo theo cách có thể đem lại niềm vui cho bản thân trong khi đó là các tiếp cận cơ bản của tôi.”
Dù mất đi một riêng tư, nhưng anh đã có được khả năng chưa từng có để ghi dấu ấn đối với thế giới. Nhờ sự phổ biến của máy tính và mạng Internet, chỉ với một vài dòng mã là một người ở Google hay Apple có thể tạo ra một thay đổi giúp cải thiện cuộc sống của hàng triệu người. Và điều đó tạo ra một cảm xúc khác so với những gì Hertzfeld trải qua trong thời kỳ đầu ở Apple. “Anh có biết điều gì là thú vị nhất ở Apple II không?” anh nói. “Đó là việc chúng tôi có thể tạo ra tiếng bíp từ loa. Chúng tôi biết một ngày nào đó chúng tôi có thể tạo ra âm nhạc. Sự thú vị chính là ở chỗ đó – khi mọi thứ có nhiều tiềm năng hơn so với những gì nó bộc lộ, thì đó cũng chính là lúc sự hứng khởi lên đến đỉnh điểm. Mặt khác, giờ đây, có rất nhiều đòn bẩy để tạo ra những thay đổi lớn lao. Những thứ này đang ngày càng trở nên chính thống. Google và điện thoại iPhone đã làm thay đổi nền văn hóa nhiều hơn những gì mà Beatles làm được trong những năm 1960. Chúng đã định hình cuộc sống của loài người chúng ta.”
☆ ☆ ☆
Richard Greenblatt nói với tôi rằng anh đã bị cường điệu hóa. Ái chà! Sau tất cả những năm tháng ấy, cuối cùng anh cũng đã phàn nàn về cách mà tôi kể về vấn đề vệ sinh cá nhân của anh trong những chương đầu tiên của cuốn Hackers lược sử sao?
May mắn thay, Greenblatt quan tâm nhiều hơn tới những khía cạnh mà anh cho là sự yếu kém của lĩnh vực điện toán. Anh căm ghét sự thống trị ngày nay của các ngôn ngữ lập trình như HTML và C++. Anh nhớ LISP, ngôn ngữ lập trình yêu quý mà anh sử dụng khi còn ở MIT. “Thế giới đảo điên hết cả rồi,” anh nói trước khi chuyển sang phần tích kỹ thuật về trạng thái hiện tại của lập trình mà tôi không thể hiểu được.
Nhưng viết mã chỉ là bước khởi đầu. Greenblatt cho rằng vấn đề thực sự nằm ở chỗ công việc kinh doanh đã xâm chiếm một nền văn hóa được xây dựng dựa trên những lý tưởng về sự cởi mở và sáng tạo. Trong thời kỳ sung sức nhất của Greenblatt, anh và bạn bè thường chia sẻ mã nguồn với nhau thoải mái, cống hiến toàn bộ sức lực của họ chỉ đơn thuần cho mục tiêu tạo ra những sản phẩm tốt hơn nữa. “Ngày nay, người ta có một động lực là: ‘Hãy định dạng trang web sao cho người dùng phải ấn vào nút này, và xem thật nhiều quảng cáo,’” Greenblatt nói. “Về cơ bản thì người chiến thắng là những kẻ xoay xở để tạo ra những thứ bất tiện nhất cho bạn.”
Greenblatt không nằm trong số đó. Anh thuộc về một nhóm khác: Những người tin tưởng chân thành vẫn đang bám chặt lấy động cơ ban đầu của họ – đó là niềm vui khám phá và sự trao đổi ý tưởng một cách tự do – ngay cả khi đam mê của họ bị lu mờ trong cái bóng của một nền công nghiệp trị giá nhiều tỷ đô-la. Dù rất thông minh và vô cùng quan trọng, nhưng họ là những người chưa bao giờ phát hành một sản phẩm triệu đô hay trở thành một biểu tượng. Họ chỉ đơn giản là cứ tiếp tục hack.
Tôi đứng giữa những người theo chủ nghĩa lý tưởng như thế ngay tại đây, trong Hội nghị Hacker lần thứ 25, một sự kiện tiếp tục được tổ chức thường niên để chào đón niềm hân hoan đến từ việc tạo ra những thứ thực sự thú vị. Đã vài năm rồi tôi không tham gia nhưng nó vẫn như những gì tôi còn nhớ: Đó là 48 giờ hội họp của các hacker diễn ra tại khu nghỉ dưỡng Santa Cruz để thảo luận về tất cả mọi thứ từ lý thuyết kinh tế cho tới lưu trữ dữ liệu số lượng lớn. Đám đông phần lớn đã già, bất chấp những nỗ lực thu hút thêm nhiều người dưới 30 tuổi tham dự. Nhưng những chú chó già vẫn không bỏ cuộc chơi.
Greenblatt là một khách quen tại đây, và là mối dây liên kết với MIT, Vùng Lưỡng Hà đối với văn hóa hacker. Trong những ngày này, Greenblatt coi bản thân là một nhà nghiên cứu độc lập. Anh đã dọn tới ở nhà của mẹ ở Cambridge cách đây vài năm để chăm sóc bà trong những năm cuối đời, và sống ở đó cho tới khi mẹ anh mất vào năm 2005. Anh giữ liên lạc với một vài đồng nghiệp ở MIT, và trong suốt nhiều năm, anh vẫn cố gắng kêu gọi một hacker kinh điển khác của Dự án MAC, Bill Gosper, tới tham dự Hội nghị Hacker. Nhưng anh chàng Gosper thông minh ấy, vì ít nhiều muốn sống ẩn dật, chưa từng đồng ý. (Gosper cũng vẫn tiếp tục hack, anh sống ở Thung lũng Silicon và bán các câu đố toán học trên trang web của mình.) “Dự án chính mà tôi đang làm việc trong hơn 15 năm nay là bộ nhớ luồng, và nó liên quan một chút tới việc đọc hiểu ngôn ngữ tiếng Anh,” Greenblatt nói. Đó là nghiên cứu cơ bản, tuy không phải là những gì mà người ta làm ngày nay nhưng dù sao cũng là một công việc thú vị.”
Khi Greenblatt nhìn vào tình trạng hiện tại của hack, anh thấy một thế giới đang xuống dốc. Ngay bản thân từ “hack” cũng đã mất đi ý nghĩa của nó. Khi tôi hỏi về tình trạng hack ngày nay, câu trả lời gần như ngay lập tức của anh là: “Họ đã đánh cắp thế giới của chúng tôi, và mọi chuyện đã không thể cứu vãn nổi nữa rồi.”
Greenblatt không hề đơn độc trong quá trình hồi tưởng đầy bâng khuâng về quá khứ. Ngay cả khi tôi phỏng vấn Richard Stallman lần đầu tiên vào năm 1983, anh đã tỏ ra tiếc thương khi nói về sự xuống cấp đáng buồn của văn hóa hacker, và cảm thấy việc thương mại hóa phần mềm là một tội ác. Tôi cho rằng thế giới này sẽ nhanh chóng đè bẹp “những Hacker Đích thực Cuối cùng” như một con bọ.
Liệu tôi có phạm sai lầm không. Cuộc tấn công của Stallman trong lĩnh vực phần mềm tự do đã tiếp tục cho thấy nỗ lực đấu tranh đang tiếp diễn chống lại sở hữu trí tuệ, và nó đã giúp anh dành học bổng “thiên tài” của Quỹ MacArthur. Anh đã thành lập Quỹ FreeSoftware, và viết hệ điều hành GNU được chấp nhận rộng rãi sau khi Linus Torvald viết Linux; tổ hợp này đã được sử dụng trong hàng triệu thiết bị. Có lẽ quan trọng hơn cả là việc Stallman đã cung cấp một bộ khung trí tuệ để dẫn tới phong trào phần mềm mã nguồn mở, một nhân tố then chốt trong phần mềm hiện đại và bản thân Internet. Nếu phần mềm có các vị thánh của nó, thì Stallman phải được tuyên phúc từ lâu rồi.
Dù vậy, anh gần như nổi tiếng nhờ vào cá tính kiên định của mình. Vào năm 2002, nhà sáng lập Creative Commons, Lawrence Lessig đã viết “Tôi không biết rõ về Stallman lắm. Tôi chỉ biết đủ để kết luận rằng anh ta là một kẻ khó ưa.” (Và đó đã trở thành phần mở đầu trong cuốn sách của Stallman!) Thời gian đã không khiến anh mềm mỏng hơn. Trong cuộc phỏng vấn đầu tiên giữa chúng tôi, Stallman đã nói: “Tôi là người sống sót cuối cùng của một nền văn hóa đã chết. Và tôi không thực sự thuộc về thế giới này nữa. Theo những nghĩa nhất định, tôi là một người đã chết.” Giờ đây – khi gặp nhau trong trong một tiệm ăn Tàu, tất nhiên rồi – anh lại củng cố thêm điều này. “Tôi thực sự ước rằng mình đã tự tử vào ngày mình được sinh ra,” anh nói. “Nếu xét đến tác động đối với thế giới, thì việc tôi sống là rất có ích. Và vì thế, chắc là nếu có thể quay trở lại thời gian để ngăn chặn việc mình được sinh ra, tôi sẽ không làm thế. Nhưng tôi chắc chắn sẽ ước rằng mình không phải chịu nhiều nỗi đau đớn đến thế.”
Một phần nỗi đau đã đến từ sự cô đơn, và đây từng là lời phàn nàn phổ biến trong cộng đồng nhỏ và đầy ám ảnh của những người hâm mộ máy tính. (Một bộ phim tài liệu năm 19880 của nhà tâm lý học Stanford, Philip Zimbardo, đã ám chỉ rằng hacker là những kẻ thất bại phản xã hội đang tìm đến với máy tính để tránh tiếp xúc với con người.) Nhưng khi văn hóa hacker lan tỏa, xã hội lại dần chấp nhận nó. Ngày nay, những người yêu máy tính không còn bị coi là những kẻ thất bại nữa mà là những người sắp sửa thành công. Họ không còn phải chịu đựng sự cách ly đã dày vò Stallman – trớ trêu thay, nhờ vào sự thương mại hóa mà anh từng than vãn.
Giờ đây, sau gần 25 năm, Stallman vẫn là một người theo trào lưu chính thống, một Hutterite 96 của chủ nghĩa hacker. Trang web cá nhân của anh đầy những nội dung tẩy chay các kẻ thù khác nhau, từ Bluray cho tới J. K. Rowling. Anh thậm chí còn hận thù cả những đồng minh trước kia của mình, trong đó có Torvalds. (“Anh ta không muốn bảo vệ sự tự do của người dùng,” Stallman nói.) Anh đặc biệt khinh rẻ Apple, các hệ thống đóng cũng như phần mềm bản quyền kỹ thuật số của họ. Anh nhắc tới các sản phẩm của họ bằng lối chơi chữ điên cuồng. Máy chơi nhạc là iScrod. Điện thoại di động thì là iGroan. Máy tính bảng mới thì là iBad. Còn anh thì là một kẻ phàn nàn công bằng. Khi tôi nói rằng cuốn Hackers lược sử sắp được xuất bản trên Kindle – thứ mà ta có thể đoán được rằng Stallman sẽ gọi nó là Swindle – cách hành xử khắc khổ của anh đã biến mất khi anh hăng hái khuyến khích tôi chống lại sự quản lý bản quyền kỹ thuật số nặng nề của chiếc máy đọc sách điện tử đó. “Anh phải tin tưởng rằng tự do rất quan trọng, và anhxứng đáng có nó,” anh nói. Bất chấp sự vỡ mộng của mình, ngọn lửa ấy vẫn cháy trong anh.
96 Tên một giáo phái sống tách biệt theo kiểu nguyên thủy. (BTV)
Lee Felsenstein cũng giữ cho ngọn lửa trong anh bùng cháy. Trong tất cả những người mà tôi đề cập trong Hackers lược sử, Felsenstein là người nói rõ ràng nhất về các hậu quả chính trị của cuộc cách mạng máy tính. Nhưng kể từ chiến thắng của anh với Osborne, sự nghiệp của chính anh cũng gặp phải vào nhiều sóng gió. Anh đã làm việc trong 8 năm cho phòng thí nghiệm đổi mới sáng tạo Interval Research, nhưng các nỗ lực của anh đã thành công cốc. Một loạt các dự án khác có vẻ hứa hẹn hơn – trong đó có nỗ lực cung cấp dịch vụ điện thoại Internet cho Lào được cung cấp năng lượng bằng máy phát điện bàn đạp – nhưng vì nhiều lý do đã không thể cất cánh. “Nếu muốn, tôi có thể cay đắng về việc đó, nhưng tôi không muốn thế,” anh nói.
Dù Felsenstein đã thấy trước sự trỗi dậy của máy tính cá nhân, nhưng anh vẫn chờ đợi sự dân chủ hóa mà anh hằng hy vọng sẽ đi kèm với nó, khi máy tính giá rẻ được đưa vào tay “mọi người”, cho phép họ đón nhận thông tin, thay đổi nói cho tốt hơn, phản ánh sự thực và truyền bá nó rộng rãi. “Việc đó đang bắt đầu diễn ra nhưng không phải theo cách mà tôi dự định,” anh nói. “Lincoln Steffens từng bình luận: ‘Tôi đã nhìn thấy tương lai và nó hoạt động được,’ nhưng tôi cũng đồng tình với người đã sửa câu đó thành: ‘Tôi đã nhìn thấy tương lai và cần phải chỉnh sửa mới hoạt động được.’”
Felsenstein buồn bã chứng kiến sự xói mòn của khái niệm “hacker”, nhưng anh cho rằng nó đang tiến bộ. “Giờ đây, hacker có nghĩa rộng ám chỉ ai đó ở ranh giới giữa cái xấu và cái tốt, nhưng thiên về cái tốt hơn. Vì thế, tôi cho rằng chúng ta đã giành chiến thắng trong cuộc chiến văn hóa mà mọi người tưởng như chúng ta đã thất bại hồi những năm 1980.” Về phần mình, Feslsenstein đang đặt thế hệ những người đam mê máy tính tiếp theo vào một hành trình ngay thẳng. Gần đây, anh đang giúp thành lập một không gian làm việc tại Mountain View, California, có tên là Hacker Dojovới mức giá dành cho 80 thành viên là 100 đô-la mỗi tháng để được vào một không gian rộng gần 900 mét vuông cùng với mạng nội bộ, và những công cụ kỳ lạ như đầu đọc hồng ngoại. Đó là bước đầu trong số các “Không gian Hacker” đang ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên toàn nước Mỹ để tiếp thêm sức mạnh cho những thiên tài trước kia thường bị cô lập, và không được trang bị đầy đủ. “Tôi là một sensei of the dojo, bạn có thể đã biết từ đó nghĩa là ‘một bậc thầy rất được tôn kính,’” anh nói với nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt. “Felsenstein sensei.”
☆ ☆ ☆
Greenblatt, Stallman và Felsenstein nhìn nhận hack như một tập hợp các lý tưởng. Còn Paul Graham lại coi nó là một cỗ máy kinh tế mạnh mẽ. Là một bậc thầy Internet 45 tuổi, bản thân Graham cũng là một kỹ sư cuồng tín trong thời của mình, và cũng là nhà đồng sáng lập của Y Combinator, vườn ươm dành cho các công ty khởi nghiệp từ Internet. Cứ mỗi năm hai lần, công ty của anh lại tổ chức các cuộc thi theo phong cách Thần tượng Âm nhạc Mỹ để lựa chọn ra 20-30 công ty tài năng tham gia vào một trại huấn luyện kéo dài 3 tháng, trong đó nổi bật nhất là ngày đầu diễn ra chương trình cùng với các nhà đầu tư Thiên thần, các quỹ đầu tư mạo hiểm và những công ty đang khao khát mua bán sáp nhập như Google và Yahoo.
Graham lựa chọn các ứng viên hứa hẹn nhất bằng cách nào ư? Dễ thôi. Anh tìm kiếm các hacker. “Chúng tôi đều là hacker nên thật dễ nhận ra tinh thần chung quen thuộc,” Graham, nhà đồng sáng lập Viaweb, ứng dụng web đầu tiên vào năm 1995, đã nói. “Hacker hiểu một hệ thống đủ tường tận để chịu trách nhiệm cho việc đó, và khiến nó thực hiện yêu cầu của họ, cũng như những điều họ không có chủ đích từ trước.” Anh cho rằng đối tượng thích hợp nhất là “các hacker thế giới” – những người “không chỉ hiểu cách thao tác với máy tính mà còn hiểu tất cả mọi thứ”. Thực vậy, Graham nói rằng ngày nay, tất cả các công ty đều tìm kiếm, và tuyển mộ hoặc đầu tư vào các công ty do hacker điều hành. “Chúng tôi nói với các nhà sáng lập xuất hiện trong ngày đầu chương trình rằng: ‘Nếu anh mặc quá đẹp, trông anh sẽ như một gã đần độn trong mắt các nhà đầu tư.’ Họ đến để tìm kiếm Larry và Sergey 97 tiếp theo chứ không phải là một gã MBA non nớt nào đó.”
97 Tên hai nhà đồng sáng lập của Google. (BTV)
Stallman hẳn sẽ chùn bước đầy sợ hãi khi Graham đánh đồng hack với tinh thần doanh nhân. Nhưng Graham lại nhận thấy rằng, các giá trị hack không hề bị các giá trị kinh doanh đe dọa – mà thậm chí, nó còn giành chiến thắng. Đó là cách giải quyết vấn đề theo kiểu trực giác và kinh nghiệm. Đó là cách ra quyết định phi tập trung. Đó là sự nhấn mạnh vào chất lượng công việc thay vì chất lượng của tủ quần áo. Tất cả chúng đều mang tinh thần của hacker, và tất cả chúng đều đã thâm nhập vào thế giới đang vận hành ngoài kia. Sự căng thẳng mà tôi từng chứng kiến giữa hacker và các ông chủ ở Sierra On-Line nhìn chung đã được giải quyết, không chỉ ở các công ty khởi nghiệp mà còn ở cả những công ty lớn hơn như Google, khi mà tinh thần hacker đã được tích hợp vào trong giá trị doanh nghiệp. (Nhân đây, Ken Williams đã rời công ty sau khi Sierra bị thâu tóm bởi một tập đoàn lớn. “Cả Roberta và tôi đã hoàn toàn ‘từ bỏ’ lĩnh vực kinh doanh trò chơi điện tử, và thậm chí cả việc chơi điện tử luôn,” anh viết trong thư điện tử. Là một người đam mê thuyền buồm, anh đã viết ba cuốn sách về những chuyến phiêu lưu trên thuyền, còn Roberta thì đang sáng tác một tiểu thuyết phi hư cấu về cuộc nhập cư của người Ai-len.)
Một thế hệ hacker mới đã nổi lên, họ là những nhà công nghệ không xem kinh doanh là kẻ thù, mà là một phương tiện để đưa các ý tưởng và sáng tạo của họ tới được đông đảo khán giả nhất. Chẳng hạn như CEO của Facebook, Mark Zuckerberg, đã thu hút 400 triệu người dùng chia sẻ cuộc sống cá nhân của họ trên mạng. Ở tuổi 25, anh đã là một bậc thầy về nghệ thuật phát triển kinh doanh – Zuckerberg đã thận trọng và có chủ đích khi mở ra một địa bàn mới dành cho các nhà quảng cáo và marketing. Dù vậy, anh vẫn tư duy một cách rõ ràng rằng mình là một hacker; anh từng nói với các khán giả tại một sự kiện dành cho các doanh nhân Internet tương lai rằng: “Chúng ta có được toàn bộ sự khác biệt này là nhờ vào việc xây dựng một văn hóa hacker.”
Để tìm hiểu lý do tại sao anh lại nói vậy, tôi đã tới thăm anh tại trụ sở của Facebook, một tòa nhà lớn nằm trên đại lộ California ở Palo Alto – cùng con phố mà tôi đã thuê phòng để nghiên cứu cuốn Hackers lược sử vào năm 1983. Thật ngạc nhiên khi anh chàng CEO nổi tiếng với việc mặc áo khoác North Face xuất hiện cùng một chiếc cà vạt. Anh giải thích rằng sắp hết một năm mà anh đã hứa với nhóm của mình về việc mặc áo có cổ thắt cà vạt đi làm hằng ngày. Hóa ra, việc đó lại rất tốt cho Facebook; bất chấp cuộc suy thoái kinh tế, số lượng người dùng vẫn tăng lên gấp đôi, và kiếm được hàng trăm triệu đô-la lợi nhuận. “Có thể trông thì đẹp đấy,” anh nói về trang phục của mình, “nhưng nó gần như khiến tôi nghẹt thở”.
Phong cách của Zuckerberg có lẽ không đến từ thời kỳ hoàng kim của hacker, nhưng đạo đức làm việc của anh thì có. “Chúng tôi không bắt đầu từ một lý thuyết lớn lao nào đó, mà là từ một dự án mà chúng tôi đã hack cùng nhau trong vài tuần,” Zuckerberg nói. “Toàn bộ văn hóa của chúng tôi là xây dựng mọi thứ thật nhanh.” Cứ 6-8 tuần một lần, Facebook lại thực hiện các buổi “hackathon”, nơi mọi người sẽ có một đêm để mơ mộng và hoàn thành một dự án. “Ý tưởng ở đây là bạn phải xây dựng một thứ gì đó thật tốt chỉ trong một đêm,” Zuckerberg nói. “Và giờ đây, hoạt động này đã trở thành một nét đặc trưng của Facebook. Chúng tôi vô cùng tin tưởng vào việc phát triển thật nhanh, thúc đẩy các giới hạn dù có lỡ làm hỏng thứ gì đó cũng không sao. Đó chắc chắn là điểm cốt lõi trong cá tính của tôi.”
Trong cuộc cạnh tranh giành nhân tài đang diễn ra, Zuckerberg tin rằng, công ty có các hacker giỏi nhất sẽ giành chiến thắng. “Một hacker giỏi có thể bằng 10 hay 20 kỹ sư, và chúng tôi luôn cố gắng mời chào họ. Chúng tôi muốn trở thành nơi mà các hacker giỏi nhất muốn đến làm việc, bởi văn hóa của chúng tôi đã được thiết lập sao cho họ có thể xây dựng được mọi thứ thật nhanh chóng, làm những việc thật điên rồ, và có thể được công nhận nhờ vào sự thông minh nổi bật.”
Không như các hacker thời kỳ đầu, thế hệ của Zuckerberg không phải bắt đầu từ con số 0, hay sử dụng hợp ngữ để điều khiến những chiếc máy của họ. “Tôi chưa bao giờ muốn tháo máy tính của mình ra,” anh nói. Là một hacker tài năng vào cuối những năm 1990, Zuckerberg sử dụng các ngôn ngữ bậc cao, cho phép anh tập trung vào hệ thống của mình, thay vì những cỗ máy.
Chẳng hạn, khi chơi Teenage Mutant Ninja Turtles (tạm dịch: Biệt đội Ninja Rùa), anh sẽ không gây chiến với họ như những đứa trẻ khác. Anh sẽ lập hội và đóng giả như những chú rùa đang tương tác với nhau. “Tôi chỉ quan tâm đến cách hệ thống hoạt động,” anh nói. Tương tự như vậy, khi bắt đầu chơi đùa cùng máy tính, anh đã không hack bo mạch chủ hay điện thoại mà là một cộng đồng – chẳng hạn như lợi dụng lỗi để đá bạn của anh ra khỏi AOL Instant Messenger.
Cũng tương tự như trường hợp của Gates, Zuckerberg thường bị buộc tội là quay lưng lại với lý tưởng hacker, bởi anh luôn từ chối không cho phép các trang web khác truy cập vào thông tin mà người dùng Facebook đóng góp. Nhưng Zuckerberg nói rằng, sự thực không phải vậy; công ty của anh luôn đi theo – và được xây dựng trên – dòng chảy tự do của thông tin. “Tôi chưa từng có thứ này khi tôi muốn có những thông tin mà người khác không có,” anh nói. “Tôi chỉ nghĩ rằng tất cả thông tin cần được sẵn dùng hơn. Thế giới đang trở nên cởi mở hơn, và thật tốt khi có thể truy cập được nhiều thông tin hơn. Với những gì tôi từng đọc, thì đó là phần cơ bản nhất của văn hóa hacker. Kiểu dạng như ‘Thông tin muốn được tự do’ hay đại loại như thế.”
Thế hệ hacker trước – và tôi – đã lo lắng rằng thế giới thương mại sẽ bóp nghẹt sáng tạo, và ngăn cản sự phát triển của một phong trào văn hóa. Nhưng chủ nghĩa hacker đã sống sót và phát triển thịnh vượng, đó là minh chứng cho sự mềm dẻo, và sức mạnh của chủ nghĩa này. Theo nhà xuất bản sách về máy tính, Tim O’Reilly, người đã thúc đẩy chủ nghĩa hacker thông qua hội nghị Foo Camp của anh: Văn hóa hack sẽ luôn tìm ra những con đường mới. (Không phải ngẫu nhiên mà ấn bản mới này của cuốn Hacker lược sử có tên của O’Reilly.) Các doanh nghiệp lớn có thể tìm thấy và thương mại hóa các đột phá của hacker, nhưng hacker sẽ đơn giải là tiếp tục đi tới những chân trời mới. O’Reilly nói:“Giống như câu thoại trong bộ phim Last Tango in Paris (tạm dịch: Điệu Tango cuối cùng ở Paris), của Marlon Brando đã nói: ‘Mọi chuyện kết thúc rồi, và nó sẽ bắt đầu lại thôi.’”
Theo O’Reilly, giới hạn hiện tại của hacker không phải là thế giới toán học thuần túy của những con số 0 và 1, mà là những thứ có thật – sử dụng chính thái độ “tháo tung ra và xây lại từ đầu” như các lập trình viên từng làm đối với các trình biên dịch, và áp dụng nó cho các cánh diều tạo điện hay các bộ phận cơ thể. (O’Reilly đã xuất bản tạp chí Make – và tổ chức hội chợ Maker Faire để ủng hộ tinh thần DIY.) “DIY thực sự là một từ khác về hack,” anh nói. Nhưng anh cũng chỉ ra rằng ngay cả lĩnh vực này cũng đã có sự chuyển dịch theo hướng thương mại. O’Reilly nói rằng lĩnh vực hoạt động hiện nay của DIY là sinh học – chỉnh sửa mã gen như cách mà các hacker thế hệ trước chỉnh sửa mã máy. “Nó vẫn đang trong giai đoạn thú vị.”
Cứ hỏi Bill Gates thì biết. Nếu được trở lại thời trẻ, anh sẽ hack sinh học. “Tạo ra cuộc sống nhân tạo nhờ tổng hợp DNA cũng tương đương với việc lập trình ngôn ngữ máy,” Gates nói, công việc của anh ở Quỹ Bill and Melinda Gates đã khiến anh trở thành một chuyên gia mô phạm về bệnh tật và miễn dịch. “Nếu bạn muốn thay đổi thế giới theo cách vĩ đại thì đây là nơi bạn nên bắt đầu – phân tử sinh học. “Những vấn đề khá thâm sâu này cũng cần phải có sự cuồng tín của những thiên tài trẻ tuổi cùng sự ngây thơ đã định hướng cho ngành công nghiệp PC, và nó sẽ tạo ra những tác động tương tự đối với điều kiện sống của con người.”
Nói cách khác, Gates kỳ vọng hacker sẽ tiếp tục trở thành anh hùng trong cuộc cách mạng tiếp theo. Điều đó nghe thật tuyệt.
— Steven Levy, tháng 5 năm 2010