Hacker Lược Sử

Lượt đọc: 436 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
hội lắp máy lúc nửa đêm

Greenblatt là hacker về hệ thống và là người có tầm nhìn về ứng dụng; Gosper là nhà thám hiểm siêu hình kiêm hacker đa năng với các kỹ thuật bí truyền. Cùng với nhau, họ là hai đỉnh trong một tam giác văn hóa – công nghệ, đóng vai trò nền tảng của Đạo đức Hacker trong cú vươn mình đến với uy quyền văn hóa tối cao tại MIT trong những năm tiếp theo. Đỉnh thứ ba của tam giác đó đã xuất hiện vào mùa thu năm 1963, đó là Stewart Nelson.

Không lâu sau khi xuất hiện, Stewart Nelson đã bộc lộ trí tò mò và khả năng bước vào địa hạt điện tử chưa từng được khám phá, cùng những đặc điểm cho thấy anh có tiềm năng trở thành phù thủy bậc thầy phục vụ cho Đạo đức Hacker. Như thông lệ, Nelson đã đến sớm một tuần cho kịp Freshman Rush 29 . Với vóc dáng thấp lùn, khá ít nói, mái tóc xoăn, cặp mắt nâu lanh lợi và hàm răng vẩu, anh gợi cho người đối diện nhớ đến vẻ ngoài đầy tò mò của một động vật thuộc bộ gặm nhấm. Quả thực, Stewart Nelson đã đánh hơi ra thiết bị điện tử phức tạp mà anh có thể tiếp cận; anh cũng không mất quá nhiều thời gian để tìm ra điều mình muốn ở MIT.

29 Tuần lễ hướng nghiệp cho sinh viên năm nhất. (ND)

Mọi chuyện bắt đầu tại WTBS, trạm phát thanh của trường. Bob Clements, một sinh viên làm việc ở trạm, sau này có thực hiện một số hack PDP-6, đang giới thiệu các phòng điều khiển với một nhóm sinh viên năm nhất và khi anh mở cánh cửa dẫn tới một cỗ máy phức tạp thì phát hiện ra Stewart Nelson, “một thằng nhóc hay lẩn như chạch”, sau này anh nhớ lại, “đã nhúng tay vào các đường điện thoại và bộ phát thanh chính tại Khu phía Đông của chúng tôi.”

Rốt cuộc, anh đã tìm đường tới chiếc PDP-1 trong Phòng Kluge. Cỗ máy đã khiến Stewart Nelson rất phấn khích. Anh đã tìm thấy chiếc máy tính thân thiện mà mình có thể đặt tay vào, và với sự tự tin đến từ thứ mà Greenblatt gọi là hacker bẩm sinh, anh bắt tay vào làm việc. Ngay lập tức, anh chú ý tới cách mà loa ngoài của chiếc Số Một kết nối với cỗ máy và cách mà chương trình chơi nhạc của Peter Samson có thể điều khiển chiếc loa đó. Vì thế, vào một đêm rất muộn, khi John McKenzie và những người trông nom chiếc TX-0 ở phòng bên cạnh đã an giấc ở nhà, Stewart Nelson bắt đầu học lập trình chiếc PDP-1, và anh không phải mất quá nhiều thời gian để có thể khiến chiếc PDP-1 quen với vài trò mới. Anh đã lập trình một số giai điệu phù hợp để phát ra từ loa và đi vào bộ thu mở của loa trường đặt ở Phòng Kluge. Các giai điệu phát ra được truyền tới hệ thống điện thoại, vang lên và nhảy múa. Nhảy múa đi, các đường dây điện thoại, hãy nhảy múa nào!

Và các tín hiệu đã thực sự nhảy múa. Chúng nhảy từ một nơi trong hệ thống đường dây chặt chẽ của MIT tới hệ thống tiếp theo, rồi tới Đài quan sát Haystack (kết nối với hệ thống của MIT), nơi chúng lại nhảy tới một đường dây mở, được giải phóng từ đây và nhảy ra thế giới bên ngoài. Không gì ngăn được chúng, bởi các giai điệu đặc biệt mà Stewart Nelson tạo ra trên chiếc PDP-1 chính xác là các giai điệu mà công ty điện thoại đã dùng để thực hiện các cuộc gọi nội bộ trên khắp thế giới, và Stewart Nelson biết rằng chúng sẽ cho phép anh đi dạo xung quanh hệ thống phi thường này mà không phải trả một xu nào.

Nhà giả kim tín hiệu âm thanh, ông vua mới trong giới hacker, đã trình diễn trước một nhóm các lập trình viên PDP-1 bị ấn tượng sâu sắc với cái cách mà một sinh viên năm nhất cô độc có thể kiểm soát hệ thống điện thoại gần trăm tuổi, rồi sử dụng nó không phải để kiếm lợi mà chỉ đơn thuần là vì thú vui khám phá. Khi tin này lan ra, Nelson bắt đầu được tung hô như một người hùng trong cộng đồng TMRC và Phòng Kluge; chẳng bao lâu sau, một vài người sử dụng PDP-1 kỹ tính hơn đã bày tỏ quan ngại về việc liệu anh có đi quá xa không. Greenblatt và các hacker đích thực không nghĩ vậy: Mọi người đã làm những việc như vậy ở TMRC nhiều năm rồi; và nếu Nelson tiến thêm một bước nữa thì đó là một bước phát triển tích cực của Đạo đức Hacker. Nhưng khi John McKenzie hay tin và yêu cầu Stewart Nelson dừng lại ngay, anh cũng nhận ra rằng mình chẳng thể làm gì để ngăn cản Stewart Nelson khám phá các kiến thức hệ thống. “Sao anh có thể cản trở một tài năng như thế chứ?” John McKenzie sau này kể lại. Hóa ra, mọi việc đã đi xa hơn rất nhiều trước khi Stewart Nelson làm vậy. Theo nhiều cách khác nhau, họ sẽ chẳng bao giờ dừng lại.

Sự nổi trội của Nelson trong năm nhất đại học không quá ấn tượng nếu so sánh với cuộc đời anh trước khi gia nhập MIT. Sinh ra ở quận Bronx, Nelson là con trai của một nhà vật lý sau chuyển sang làm kỹ sư, người đã thực hiện một số nghiên cứu tiên phong trong thiết kế tivi màu. Dù vậy, Stewart Nelson lại dành mối quan tâm riêng đến điện tử mà không cần cha mẹ tác động. Mọi việc tự nhiên như hơi thở, và khi lên 5 tuổi, anh đã chế tạo máy thu vô tuyến bằng tinh thể 30 . Năm 8 tuổi, anh đã nghiên cứu còi báo trộm rơ-le kép. Anh không mấy quan tâm đến chuyện học hành nhưng lại chết mê tiệm bán đồ điện tử, nơi anh có thể thử nghiệm không biết mệt mỏi. Chẳng bao lâu sau, các bà mẹ của những đứa trẻ khác bắt đầu cấm con cái họ chơi với Nelson vì sợ rằng có ngày chúng sẽ phải bỏ mạng vì điện đóm. Đây là những mối nguy không thể tránh khỏi nếu chơi đùa với các mạch ống chân không rất mạnh hay các bóng bán dẫn tiên tiến được cấp điện bởi đường dây 110V. Thỉnh thoảng, Nelson cũng bị điện giật tới mức choáng váng. Anh từng kể có lần các thiết bị đã bay ra giữa phòng và nổ tung thành nhiều mảnh. Sau một lần bị điện giật chí tử, anh đã thề không nghịch điện nữa. Nhưng chỉ khoảng hai ngày sau, chuyện đâu lại vào đó, anh lại trở lại là một cậu bé đơn độc hay thực hiện các dự án thú vị.

30 Một loại máy phát thanh đơn giản nhưng rất thông dụng trong thời kỳ đầu của ngành vô tuyến. Nó không cần pin hoặc nguồn năng lượng nào khác để hoạt động mà dùng chính năng lượng nhận được từ sóng vô tuyến thông qua một ăng-ten dây rất dài và cao. (BTV)

Nelson thích điện thoại. Gia đình anh đã chuyển tới Haddonfield, New Jersey và anh nhanh chóng phát hiện ra bằng cách bấm vào các nút trên ống nghe, anh thực sự đang quay số. Ai đó ở đầu dây bên kia sẽ trả lời, “Alô… Ai đó?Alô?” và bạn nhận ra rằng đây không chỉ là một loại thiết bị ngẫu nhiên, nó còn là thứ kết nối với một hệ thống mà bạn có thể khám phá không ngừng. Nelson nhanh chóng chế tạo ra những thứ mà hiếm có người hàng xóm nào của anh trong những năm giữa thập niên 1950 từng thấy, chẳng hạn như bộ quay số tự động và các bộ phận cải tiến có thể kết nối với vài đường điện thoại, nhận cuộc gọi từ đường này và tự động gọi đi ở đường kia. Anh đã học cách thao tác thiết bị điện thoại khéo léo như các nghệ sĩ chăm chút cho nhạc cụ của mình. Những người chứng kiến sau này kể lại, khi đối diện với một chiếc điện thoại, Nelson sẽ lập tức tháo tung nó ra, vứt bỏ bộ lọc để giúp người gọi không phải nghe âm thanh của tín hiệu quay số, rồi thực hiện một vài hiệu chỉnh để chiếc điện thoại đó quay số nhanh hơn đáng kể. Về cơ bản, anh đã lập trình lại chiếc điện thoại và tự gỡ lỗi cho thiết bị của Western Electric.

Cha của Nelson qua đời khi anh mới 14 tuổi, mẹ anh đã đưa cả gia đình chuyển tới Poughkeepsie, New York. Anh đã trao đổi với các giáo viên trung học về việc đề nghị sẽ sửa tivi, đài hỏng cho họ với điều kiện họ cho phép anh không phải lên lớp. Thay vào đó, anh dành thời gian ở một trạm phát thanh nhỏ mới mở gần đó; như sau này anh giải thích, anh “gần như đã lắp ghép mọi thứ lại với nhau”, lắp ráp các linh kiện, hiệu chỉnh máy phát, tìm các nguồn nhiễu và tiếng vo ve bên trong hệ thống. Khi trạm phát thanh vận hành, anh đã là kỹ sư chính, và có lúc kiêm luôn cả vai trò DJ. Mỗi vấn đề trong hệ thống đều là một chuyến phiêu lưu mới, một lời mời gọi khám phá, thử sức với thứ gì đó mới mẻ để xem điều gì sẽ xảy ra. Với Nelson, mong muốn tìm hiểu xem điều gì có thể xảy ra là nhu cầu tối thượng, mạnh mẽ hơn cả sự tự vệ hay xốc nổi.

Với quan điểm sống như vậy, anh chính là mảnh ghép hoàn hảo dành cho TMRC và PDP-1. Khát khao “hack điện thoại” từ lâu đã cháy âm ỉ trong Câu lạc bộ; và với sự có mặt của Nelson, ngọn lửa này đã thực sự bùng lên. Ngoài việc là một thiên tài công nghệ, Nelson sẽ giải quyết các vấn đề bằng sự tỉ mẩn, kiên nhẫn trong việc dò tìm thông tin. “Anh ấy tiếp cận vấn đề bằng cách hành động,” Donald Eastlake, một hacker trong nhóm của Nelson, nhớ lại. “Anh ấy rất kiên trì. Nếu bạn chỉ thử làm vài lần rồi từ bỏ, bạn sẽ không bao giờ tới được đích. Nhưng nếu cứ tiếp tục thử… Có rất nhiều vấn đề trên thế giới có thể thực sự được giải quyết bằng cách kiên nhẫn gấp hai hoặc ba lần người khác.”

Nelson đã phô bày phần mở rộng của Đạo đức Hacker – nếu tất cả chúng ta đều hành động dựa trên khao khát khám phá của mình, chúng ta sẽ khám phá được nhiều hơn, tạo ra được nhiều thành quả hơn và kiểm soát được nhiều hơn.

Đương nhiên, hệ thống điện thoại là đối tượng khám phá đầu tiên của anh ở MIT. Đầu tiên là chiếc PDP-1 và sau này là PDP-6 – những công cụ lý tưởng phục vụ các công cuộc khám phá này. Nhưng ngay cả khi Nelson bắt đầu triển khai những chuyến hành trình điện tử của mình, anh vẫn tuân thủ thứ đạo đức hacker phi chính thức này. Bạn có thể gọi đến bất kỳ đâu, thử bất kỳ thứ gì, làm thí nghiệm liên tục, nhưng đừng làm những việc đó vì tiền. Nelson không chấp nhận việc các sinh viên MIT tạo ra “hộp xanh” – các thiết bị phần cứng để thực hiện những cuộc gọi bất hợp pháp – với mục đích lừa bịp các công ty điện thoại. Nelson và các hacker tin rằng họ đang giúp các công ty điện thoại. Họ sẽ nắm giữ các đường dây ưu tiên tới các địa điểm khác nhau trên cả nước và kiểm thử chúng. Nếu chúng không hoạt động, họ sẽ báo cho dịch vụ sửa chữa thích hợp.

Tất nhiên, để làm điều này, bạn phải đóng giả là nhân viên kỹ thuật của Bell Telephone System một cách thành thục nhưng các hacker đã quá quen với việc này, đặc biệt là sau khi đọc những cuốn sách lậu như Principles of Electricity and Electronics Applied to Telephone and Telegraph Work (tạm dịch: Nguyên lý điện và điện tử ứng dụng trong điện thoại và điện tín), hoặc Notes on Distant Dialing (tạm dịch: Các ghi chú về quay số xa), hay các số báo gần đây của tờ Bell System Technical Journal (Tạp chí kỹ thuật của hãng Bell System).

Với thông tin này, bạn có thể đi vòng quanh thế giới, nói với một người vận hành rằng: “Tôi đang gọi đến từ bảng kiểm thử tại Hackensack và muốn cô nối máy cho tôi tới Rome. Chúng tôi đang kiểm tra mạch.” Cô ấy sẽ “viết số”, dẫn bạn tới một số khác, rồi một lúc sau, bạn có thể hỏi một nhà vận hành điện thoại ở Italia xem thời tiết ở đó thế nào. Hoặc bạn sẽ sử dụng chiếc PDP-1 trong Chế độ Hộp Xanh, cho phép nó định tuyến và tái định tuyến các cuộc gọi tới khi bạn được kết nối tới một số điện thoại nhất định ở Anh, nơi mà những người gọi sẽ được nghe câu chuyện trước giờ đi ngủ của trẻ, một số mà bạn không thể tiếp cận được từ đất nước này trừ phi sử dụng hộp xanh.

Giữa những năm 1960, công ty điện thoại đã thiết lập hệ thống các số mã vùng 800 miễn cước. Đương nhiên, các hacker đều biết điều này. Và với sự chính xác của khoa học, họ sẽ cố lập sơ đồ cho các địa hạt chưa từng được ghi chép này: Những chuyến hành trình tới vùng đất 800 có thể đưa bạn tới những nơi kỳ lạ, từ Quần đảo Virgin tới New York. Cuối cùng, ai đó từ công ty điện thoại sẽ thực hiện một cuộc gọi tới đường dây gần chiếc máy tính, và hỏi xem khoảng 400 cuộc gọi tới những nơi mà họ cho là không tồn tại này là gì. Chi nhánh Cambridge thiếu may mắn của công ty điện thoại, đã và sẽ còn phải đối phó với MIT – đã có lúc, họ xông lên tầng 9 ở Quảng trường Công nghệ và yêu cầu các hacker đưa cho họ chiếc hộp xanh. Khi các hacker chỉ vào chiếc PDP-6 thì những viên chức chán nản ấy đã dọa tịch thu toàn bộ cỗ máy cho tới khi các hacker tháo giao diện điện thoại ra và giao cho họ mới thôi.

Dù mối quan tâm ban đầu của Nelson đối với PDP-1 là tiềm năng hack điện thoại của cỗ máy này nhưng anh đã dần trở nên linh hoạt hơn và cuối cùng chấp nhận lập trình mọi thứ. Càng lập trình, anh càng giỏi và càng giỏi thì anh lại càng muốn lập trình. Anh sẽ ngồi bên bàn điều khiển của cỗ máy trong khi một nghiên cứu sinh nào đó dò dẫm một chương trình, rồi anh phải lượn qua lưng anh chàng nghiên cứu sinh này và khiến anh ta thậm chí còn lóng ngóng hơn nữa để rồi cuối cùng phải lớn tiếng: “Nếu tôi giải quyết vấn đề đó cho anh, anh sẽ để tôi dùng chiếc máy chứ?” Anh chàng nghiên cứu sinh, có lẽ đã cố gắng xử lý vấn đề nhiều tuần, sẽ đồng ý, dù không hoàn toàn tin rằng anh chàng mưu mô này có thể giải quyết nó, nhưng Nelson đã đẩy anh ta ra, ngồi vào bàn điều khiển, bật chương trình soạn thảo “TECO” lên và nhập mã nguồn với tốc độ chóng mặt. Sau 5 phút, anh sẽ dừng tay, lao ra để in nó trên chiếc máy đánh chữ Mẫu 33 gần đó, rồi nhanh chóng xé toạc tờ giấy ra khỏi máy, chạy ngược lại cỗ máy, kéo băng giấy có chương trình của chàng sinh viên rồi đuổi anh ta ra ngoài. Sau đó, anh sẽ thực hiện việc hack của mình.

Với anh, dường như mọi thứ đều không có bất kỳ giới hạn nào. Anh đã sử dụng cả chiếc PDP-1 trong Phòng Kluge và chiếc máy mới hơn ở Dự án MAC. Khi sử dụng PDP-1 và tập lệnh giới hạn của nó, những người khác có thể càu nhàu vì phải sử dụng một vài câu lệnh cho một hoạt động đơn giản, rồi tìm ra các chương trình con để thực hiện chương trình chính. Trong số họ thì Nelson là người có thể gọt mã tốt nhất nhưng anh thực sự muốn có nhiều câu lệnh hơn trên cỗ máy. Đặt một câu lệnh trên bản thân cỗ máy – trong phần cứng của nó – là một hoạt động có vẻ đòi hỏi nhiều sự khéo léo hơn. Khi chiếc TX-0 được bổ sung các câu lệnh mới, nó cần được tắt đi một lúc cho tới khi các tu sĩ chính thức, cấp cao, thực hiện cuộc phẫu thuật não cần thiết. Điều này có vẻ hợp lý vì ai lại mong đợi một trường đại học cho phép các sinh viên năm nhất, năm hai can thiệp vào các linh kiện của một chiếc máy tính đắt đỏ chứ?

Không ai cả. Trên thực tế, Dan Edwards, một trong các học viên cao học của Minsky từng thực hiện vài hack trên tròChiến tranh không gian, đã tự coi mình là người bảo vệ phần cứng. Theo Gosper, Edwards đã tuyên bố rằng: “Bất kỳ ai thực hiện một thay đổi dù nhỏ như dịch chuyển một ruy băng trên máy đánh chữ cũng sẽ vĩnh viễn bị cấm cửa khỏi chỗ này!” Nhưng các hacker đâu quan tâm đến việc trường đại học cho phép hay cấm đoán điều gì. Việc Dan Edwards nghĩ gì thậm chí còn chẳng mấy liên quan: Địa vị thẩm quyền của anh ta, như hầu hết các viên chức quan liêu khác, có vẻ cũng chẳng đáng kể gì.

Nelson cho rằng việc bổ sung một câu lệnh “thêm vào bộ nhớ” sẽ cải thiện cỗ máy. Để đi qua các kênh nhằm thực hiện việc này có lẽ sẽ phải mất nhiều tháng trời, và nếu tự thực hiện, anh sẽ biết gì đó về cách thức mà thế giới được vận hành. Vì thế vào một đêm nọ, Stewart Nelson đã tự ý triệu tập Hội Lắp Máy Nửa đêm (Midnight Computers Wiring Society – MCWS). Đây là hội hoàn toàn đặc biệt, khi dòng chảy lịch sử yêu cầu, nó sẽ phá vỡ các luật lệ của MIT để thực hiện những can thiệp không được phép với các cỗ máy đắt tiền. MCWS, đêm đó gồm Nelson, một sinh viên làm thêm và một vài người quan tâm, đã mở máy và tiến hành viết lại PDP-1.

Đêm đó, các hacker đã kiểm thử cỗ máy qua các bước và nhận thấy nó hoạt động ổn định. Nhưng vào hôm sau, Margaret Hamilton, một Người sử dụng được Phê chuẩn Chính thức, đã xuất hiện trên tầng 9 để tiến hành một thứ gọi là Vortex Model (Mô hình Cơn lốc) cho dự án mô phỏng thời tiết của cô. Cô đã biết rõ sự nghịch ngợm của các hacker ở tầng 9, và khá thân thiện với vài người trong số họ, dù sau cùng, trong trí nhớ của cô, tất cả họ đều hòa thành một tính cách tập thể: một gã trai trẻ nhếch nhác nhưng lịch sự, với tình yêu bất tận dành cho máy tính đến mức mất hết lý trí.

Trình hợp ngữ mà Margaret Hamilton đã dùng cho chương trình Vortex của cô không phải là trình hợp ngữ MIDAS do các hacker viết, mà là hệ thống DECAL được DEC cung cấp, một thứ cực kỳ kinh khủng trong mắt các hacker. Vì thế, Nelson và MCWS đã không sử dụng trình hợp ngữ DECAL khi kiểm thử cỗ máy vào đêm hôm trước. Họ thậm chí còn chưa từng tính đến khả năng trình hợp ngữ DECAL truy cập mã lệnh không giống như MIDAS, vốn chịu ảnh hưởng nhiều hơn bởi sự giảm áp nhẹ của cả hai đi-ốt giữa dòng cộng và dòng lưu trữ. Tất nhiên, Margaret Hamilton không biết chiếc PDP-1 vừa mới trải qua cuộc đại phẫu vào đêm hôm trước. Vì thế, cô không biết tại sao chương trình Vortex của cô, sau khi đưa vào trình hợp ngữ DECAL… đã không còn chạy nữa. Nó dừng hoạt động và chết luôn. Chương trình hoàn toàn bình thường của cô đã chết ngắc một cách bí ẩn. Dù các chương trình thường bị như vậy vì nhiều lý do khác nhau nhưng lần này, khi Margaret Hamilton phàn nàn, có người đã điều tra lý do và cuối cùng, Hội Lắp Máy Nửa đêm bị chỉ điểm. Việc đó đã để lại hậu quả cùng những lời khiển trách.

Nhưng đó không phải là cái kết cho Hội Lắp Máy Nửa đêm. Edwards và các bạn không thể thức cả đêm để theo dõi các cỗ máy. Bên cạnh đó, Minsky và những người chịu trách nhiệm cho Dự án MAC biết rằng những hoạt động về đêm của các hacker đã biến thành khóa học thực hành sau đại học về thiết kế logic và kỹ năng phần cứng. Một phần là do Nelson và những người khác đã đủ giỏi nên những thảm họa như Thất bại của Chương trình Margaret Hamilton Vĩ đại ít khi xảy ra, việc Phòng Thí nghiệm AI chính thức cấm thay đổi phần cứng đã dần bị coi thường tới mức nó trở thành một trong những luật lệ không hợp thời mà chẳng mấy ai quan tâm, không khác gì đạo luật cấm đánh ngựa vào Chủ nhật. Cuối cùng, Hội Lắp Máy Nửa đêm đã cảm thấy đủ tự do để thay đổi các câu lệnh, thực hiện các kết nối phần cứng, và thậm chí còn kết nối máy tính với đèn phòng ở tầng 9 sao cho khi khởi động chương trình soạn thảo văn bản TECO, các bóng đèn sẽ tự động mờ dần giúp bạn có thể dễ dàng đọc màn hình CRT hơn.

Màn hack sau cùng này đã để lại hậu quả không mong muốn. Trình soạn thảo TECO sẽ rung một chiếc chuông trên máy đánh chữ để thông báo rằng người sử dụng vừa mắc lỗi. Bình thường thì việc này không thành vấn đề, nhưng vào một số ngày nhất định, cỗ máy sẽ trở nên mong manh và đặc biệt nhạy cảm với các biến thiên về dòng điện – như những dao động do chuông trên máy đánh chữ tạo ra. Những lúc như thế, khi có ai mắc lỗi với TECO, chiếc chuông sẽ kêu lên và cỗ máy sẽ rơi vào trạng thái bất định. Máy tính mất kiểm soát; nó sẽ bị kẹt phím, rung chuông ầm ĩ và đáng lo nhất là cứ bật tắt đèn liên tục. Máy tính rơi vào trạng thái hỗn loạn hệt như một trận quyết đấu trong phim khoa học viễn tưởng!

Các hacker thấy việc này vô cùng hài hước.

Những người chịu trách nhiệm về phòng thí nghiệm, đặc biệt là Marvin Minsky, hiểu rất rõ những việc này. Marvin, như cách các hacker đã gọi ông (họ luôn gọi nhau bằng họ), biết rằng Đạo đức Hacker chính là thứ giúp cho phòng thí nghiệm phát huy được hiệu quả, và ông sẽ không làm xáo trộn một trong các yếu tố cốt lõi của chủ nghĩa hacker. Mặt khác, còn có Stewart Nelson luôn mâu thuẫn với các luật lệ, người sẽ nổi quạu khi bị bắt quả tang đang hack điện thoại. Cần phải làm gì đó. Vì thế, Minsky đã gọi Ed Fredkin, bạn thân của mình, và kể với Fredkin rằng mình đang gặp vấn đề như thế này với một anh chàng 19 tuổi vô cùng thông minh có thiên hướng thích tham gia vào những trò đùa phức tạp. Liệu Fredkin có thể thuê cậu ta không?

☆ ☆ ☆

Bên cạnh việc là bạn thân của Marvin Minsky và là người sáng lập Tổ chức Thông tin Quốc tế (Information International Incorporated – Triple-I), Ed Fredkin còn tự coi mình là lập trình viên vĩ đại nhất thế giới.

Với mái tóc sẫm màu, đôi mắt nâu ấm áp đằng sau cặp kính trượt xuống sống mũi cùng dây đeo kính trông khá tri thức, nhưng Fredkin lại chưa bao giờ tốt nghiệp đại học. Ông học về máy tính trong Lực lượng Không quân vào năm 1956, là một trong những người đầu tiên làm việc với hệ thống phòng không máy tính SAGE, hệ thống được cho là phức tạp nhất mà nhân loại từng biết. Fredkin và 19 người khác đã bắt đầu khóa chuyên sâu về lĩnh vực mới phát triển của điện toán – bộ nhớ trống, logic, truyền thông và lập trình. Qua chất giọng kể chuyện nhẹ nhàng, ông cho hay: “Sau một tuần, tất cả mọi người đều bỏ cuộc, trừ tôi.”

Ed Fredkin không say mê máy tính như Kotok, Samson, Greenblatt hay Gosper – theo nhiều cách khác nhau, ông là một người đàn ông rất chừng mực, vô cùng thông tuệ để chỉ gắn bó với mỗi máy tính. Nhưng ông rất tò mò về chúng, vì thế sau khi rời quân ngũ, ông đã nhận một công việc ở Phòng thí nghiệm Lincoln chi nhánh MIT, nơi ông nhanh chóng được mọi người biết đến là người cắt gọt chương trình hàng đầu. Ông có thể liên tục đưa ra các giải thuật độc đáo, trong đó có nhiều giải thuật nổi tiếng và trở thành các giao thức lập trình tiêu chuẩn. Ông cũng là một trong những người đầu tiên thấy được tầm quan trọng của PDP-1 – ông đã biết về nó trước khi nguyên mẫu được xây dựng và đặt hàng chiếc đầu tiên. Bolt Beranek và Newman đã thuyết phục ông đừng mua, thay vào đó, họ thuê ông lập trình cho cỗ máy và viết một trình hợp ngữ. Fredkin đã làm thế và coi đó là một kiệt tác lập trình. Bên cạnh việc nghiên cứu các hệ thống, ông cũng tham gia kiểu hack toán học, thứ sau này trở thành thế mạnh của Bill Gosper, và xây dựng các lý thuyết ban đầu về máy tự động. Không phải là một hacker thuần túy – Fredkin có máu kinh doanh và phải nuôi gia đình – ông đã rời BBN để thành lập công ty riêng có tên Information International, nơi thực hiện các loại dò lỗi số và tư vấn điện toán đặc biệt. Sau này, công ty đặt trụ sở ở Los Angeles nhưng trong một thời gian dài, nó từng tọa lạc ở Quảng trường Công nghệ, chiếm hai tầng nhà bên dưới chiếc PDP-6.

Fredkin hài lòng với cộng đồng hacker ở Quảng trường Công nghệ; họ đã đưa chủ nghĩa hacker vượt ra khỏi trạng thái trước kia của nó, thứ vốn chỉ được thực hiện bán thời gian ở một vài nơi trên thế giới (chẳng hạn như MIT, DEC, Quân đội, BBN). Ở MIT, chủ nghĩa hacker là một công việc toàn thời gian. Fredkin rất yêu quý các hacker – ông có thể nói cùng một ngôn ngữ và khâm phục công việc của họ. Đôi khi, ông cũng đồng hành cùng họ trong các chuyến dạo chơi đến phố Tàu, và trong những dịp như thế, các cuộc trao đổi giữa họ cũng cởi mở hơn. Nhiều hacker là những người hâm mộ cuồng nhiệt khoa học viễn tưởng (hãy nhớ lại nguồn gốc của trò Chiến tranh không gian), nhưng Fredkin còn liên tưởng công việc của họ với các kỳ quan của Heinlein và Asimov 31 – biến máy tính trở thành các hệ thống mạnh mẽ và xây dựng nền tảng phần mềm cho AI. Fredkin có biệt tài trong việc thổi bùng trí tưởng tượng của họ, giống như điều ông đã làm khi suy tưởng rằng một ngày nào đó, sẽ có những người máy tí hon có thể đứng trên đầu người cần cắt tóc khi tóc đã đạt tới một chiều dài nhất định để tạo nên kiểu tóc mong muốn. (Fredkin đã gây ra một vụ om sòm khắp cả nước khi lặp lại tiên đoán này trong một chương trình đàm thoại trên truyền hình.)

31 Tên của hai nhà văn khoa học viễn tưởng nổi tiếng của Mỹ. (BTV)

Dù vô cùng ngưỡng mộ các hacker, nhưng Fredkin vẫn coi mình là lập trình viên giỏi nhất. Trong khi Đạo đức Hacker khuyến khích các nỗ lực nhóm cho những cải tiến tổng quát, thì mỗi hacker lại muốn mình được công nhận là một phù thủy, đồng thời họ còn trình diễn và thảo luận đầy háo hức về các nỗ lực lập trình cũng như chỉnh sửa mã nguồn nhanh chóng. Trên tất cả, với Fredkin, thành thạo hack là cả một niềm tự hào.

“Tôi chưa từng gặp ai viết mã giỏi hơn mình, theo bất kỳ nghĩa nào,” Fredkin nhớ lại. “Nhưng rõ là Nelson có thể làm điều đó.” Xét về điện toán, Nelson là thiên tài, sáng tạo trong cách tiếp cận, cực kỳ quyết liệt khi tiếp cận vấn đề, và có khả năng siêu tập trung. Fredkin đã thuê chàng hacker trẻ tuổi này theo gợi ý của Minsky, và ông không phải đợi lâu để có thể nhận ra rằng ngay cả khi ở một nơi đầy rẫy các lập trình viên xuất sắc thì Nelson vẫn là điều gì đó rất đặc biệt, rất riêng. Tất nhiên, vì Triple-I nằm trong Quảng trường Công nghệ, nên Nelson có thể tham quan Phòng Thí nghiệm AI ở tầng 9 và hợp tác cùng một vài lập trình viên tại đó. Nhưng việc đó không có gì phải phàn nàn cả; mỗi khi Fredkin cần, Nelson gần như luôn xuất hiện một cách đầy vi diệu.

Có một dự án lập trình đặc biệt, một tác vụ trên chiếc DEC PDP-7 mà Fredkin muốn Nelson thực hiện, nhưng vì một lý do nào đó Nelson không cảm thấy hứng thú. Cùng lúc ấy, công ty của Fredkin cũng cần thiết kế giao diện giữa máy tính và ổ đĩa để lưu trữ dữ liệu. Fredkin đã coi công việc thứ hai là một dự án 6 người-tháng (man-month) 32 , và muốn công việc kia được hoàn thành trước. Nelson hứa sẽ thu được một số kết quả trong cuối tuần. Thứ Hai tuần sau, anh cầm đến một tờ giấy khổng lồ gần kín đặc các nét vẽ nhỏ xíu, các đường vạch dài nối các khối với nhau, cùng chứng cứ của việc tẩy xóa và viết lại nhiều lần. Đó không phải là chương trình PDP-7 mà Fredkin đã yêu cầu, mà là toàn bộ giao diện ổ đĩa. Nelson đã cố làm việc này như một sự giải thoát mang tính xây dựng khỏi công việc được giao. Công ty của Fredkin chế tạo thiết bị dựa trên tờ giấy đó và nó đã hoạt động tốt.

32 Đơn vị phổ biến dùng để ước lượng công sức thực hiện công việc trong lĩnh vực phần mềm, ý chỉ phần công việc để một người hoàn thành trong một tháng. Ở đây, nếu dự án được ước lượng hoàn thành trong 6 người-tháng, điều đó sẽ tương ứng với việc một người phải bỏ ra 960 giờ để hoàn thành công việc. (BTV)

Fredkin tuy rất vui nhưng ông vẫn muốn giải quyết vấn đề của chiếc PDP-7. Vì thế, ông nói: “Nelson, cậu và tôi sẽ viết chương trình này cùng nhau. Cậu viết chương trình con này, còn tôi sẽ viết cái đó.” Vì không có một chiếc PDP-7 ở đó, nên họ ngồi xuống bàn và viết các mã hợp ngữ tiền gỡ lỗi. Họ bắt đầu hack. Có lẽ, chính lúc này, Ed Fredkin nhận ra, chỉ một lần và mãi mãi, rằng ông không phải là lập trình viên giỏi nhất thế giới. Nelson đã chạy đua như thể vấn đề chỉ là làm sao anh có thể viết nhanh nhất có thể. Fredkin cuối cùng không thể cưỡng nổi sự tò mò và nhìn vào chương trình của Nelson. Ông không thể tin vào mắt mình. Nó thật kỳ lạ. Hoàn toàn rối rắm, một sự kết hợp điên rồ của các chương trình con. Và rõ ràng là nó rất hiệu quả. “Stew,” Fredkin thốt lên, “làm thế quái nào mà cậu lại viết nó theo cách này?” Nelson giải thích rằng anh từng làm việc tương tự trên chiếc PDP-6 và thay vì nghĩ về nó, anh chỉ đơn thuần là chuyển ngữ từ các chương trình con trước kia sang mã PDP-7. Đây là một ví dụ hoàn hảo về trí tuệ vượt trội của Nelson. Anh đã hoàn thiện hành vi của mình tới mức có thể cắt giảm các câu lệnh trong đầu và tối thiểu hóa công việc phải làm.

Cách tiếp cận này rõ ràng phù hợp với làm việc bằng máy móc hơn là tương tác con người. Nelson vô cùng xấu hổ, và Fredkin có lẽ đã hành xử giống một bậc cha chú đối với chàng hacker trẻ tuổi. Ông thực sự hoảng hốt vào ngày Nelson phi tới văn phòng và nói: “Đoán xem chúng ta có gì nào? Tôi sắp cưới vợ!”

Fredkin có lẽ đã cho rằng Nelson thì làm sao biết mở lời mời một cô gái đi hẹn hò chứ nói gì đến một lời cầu hôn ngọt ngào. “Tuyệt vời!” Ông nói. “Cô nàng may mắn đó là ai vậy?”

“Ồ, không biết nữa,” Nelson nói. “Tôi chỉ vừa mới quyết định đó là một việc nên làm.”

15 năm sau, Nelson vẫn ở “chế độ” độc thân.

Dù phụ nữ ít khi xuất hiện trong cuộc đời anh, nhưng cuộc sống của Nelson vẫn còn những chiến hữu hacker. Anh đã dọn đến sống cùng Gosper và hai người khác. Dù “ngôi nhà Hacker” này ở gần Belmont, và sau này chuyển về Brighton, nhưng Nelson vẫn không chịu mua một chiếc xe. Anh không thể chịu nổi việc lái xe. “Chuyện đường xá mất sức lắm,” anh giải thích. Anh sẽ đi phương tiện giao thông công cộng hoặc đi nhờ xe của một hacker khác, hoặc thậm chí là gọi taxi. Khi tới Quảng trường Công nghệ, anh sẽ được thoải mái trong nhiều giờ liền: Nelson thuộc nhóm các hacker làm việc 28 giờ mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần. Anh không quan tâm tới các lớp học – anh cho rằng mình có thể kiếm được bất kỳ công việc nào mình muốn dù có bằng cấp trong tay hay không, vì thế anh không bao giờ quay trở lại trường học.

Nelson là hiện thân của Đạo đức Hacker, và ảnh hưởng từ hành vi của anh là yếu tố góp phần vào sự phát triển khoa học và văn hóa của Phòng Thí nghiệm AI. Nếu Minsky cần ai đó chỉ ra lý do một chương trình con nhất định không hoạt động, ông sẽ tới gặp Nelson. Nghĩa là, Nelson có mặt ở mọi nơi. Làm việc với Fredkin, viết các chương trình hệ thống với Greenblatt, hack hiển thị với Gosper, và tạo ra đủ thứ kỳ lạ khác. Anh đã hack một kết nối kỳ lạ giữa máy tính Triple-I trên tầng 7 với chiếc PDP-6 trên tầng 9 để gửi tín hiệu giữa một máy hiện sóng ở đường dây này và một máy quay truyền hình ở đường dây khác. Nelson đã thực hiện đủ các loại hack điện thoại mới. Và một lần nữa, thông qua việc làm mẫu thay vì tổ chức, anh là người đi đầu về ma thuật hack khóa.

☆ ☆ ☆

“Hack khóa” là giải pháp khéo léo cho các khóa vật lý, dù là trên cửa, tủ tài liệu hay két an toàn. Trong chừng mực nào đó, việc làm này là một truyền thống của MIT, đặc biệt là xung quanh TMRC. Nhưng một khi được kết hợp với Đạo đức Hacker, hack khóa đã trở thành một chiến dịch chứ không còn là một trò chơi vô ích, dù thử thách vui vẻ của việc vượt qua các chướng ngại vật nhân tạo cũng góp phần làm nên sự phổ biến của việc hack khóa.

Với một hacker, cánh cửa đóng kín là một sự sỉ nhục và cánh cửa bị khóa là một sự xúc phạm. Cũng giống như việc thông tin nên được truyền tải một cách minh bạch và đẹp đẽ bên trong một chiếc máy tính, hay như việc phần mềm cần phải được phân phối tự do, hacker tin rằng mọi người cần được phép truy cập tới các tệp hoặc công cụ có thể hỗ trợ họ trong nỗ lực tìm ra và cải thiện cách thức vận hành thế giới. Khi một hacker cần thứ gì đó để tạo ra, khám phá hay sửa chữa một thứ khác, anh ta sẽ không quan tâm đến những khái niệm lố bịch như quyền sở hữu.

Giả sử vào một đêm nọ, khi bạn đang làm việc trên chiếc PDP-6 và nó bỗng nhiên bị sập. Bạn kiểm tra các bộ phận bên trong và phát hiện ra nó cần một linh kiện. Hoặc bạn có thể cần một dụng cụ để cài đặt một linh kiện. Sau đó, bạn phát hiện ra rằng thứ bạn cần – một chiếc đĩa, băng giấy, tuốc-nơ-vít, một IC (mạch tích hợp) dư thừa nào đó – bị cất và khóa ở đâu đó. Một phần cứng trị giá hàng triệu đô-la đang bị lãng phí và bỏ không chỉ vì một thiên tài phần cứng, người biết cách sửa nó, không thể lấy được chiếc IC giá 75 xu, hay chiếc máy hiện sóng đang nằm trong một két an toàn. Vì thế, các hacker sẽ xoay xở để lấy chìa khóa của những chiếc tủ hoặc két an toàn này. Nhờ đó, họ có thể lấy được các linh kiện, giúp máy tính hoạt động, cẩn thận thay thế thứ mà họ đã lấy rồi quay trở lại với công việc dang dở.

Theo một hacker có tên David Silver kể lại, đó là một “cuộc chiến siêu thông minh… có những quản trị viên sở hữu các loại khóa có độ bảo mật cao, những két chứa chìa khóa và các thẻ đăng xuất để phát khóa. Và họ cảm thấy an toàn, như thể mình đã khóa mọi thứ, điều khiển vạn vật và ngăn cản thông tin không bị rò rỉ một cách trái phép hay bị mất cắp. Và rồi ở mặt kia của thế giới, nơi mọi người cho rằng ai cũng xứng đáng nhận được tất cả mọi thứ, các hacker này có vô vàn những chiếc chìa khóa có thể đưa họ tới bất kỳ đâu. Những người làm việc này vô cùng có đạo đức, trung thực và họ không sử dụng quyền lực này để trộm cắp hay làm hại ai. Việc này giống như một trò chơi, phần vì cần thiết, phần vì cái tôi và sự tinh nghịch… Sâu xa nhất thì nếu ở đúng chỗ, bạn có thể lấy được bộ mã để mở bất kỳ két an toàn nào và lấy được bất kỳ thứ gì.”

Phần thưởng cơ bản của mọi hacker khóa là một khóa chủ. Khóa chủ thích hợp sẽ mở cửa cả một tòa nhà hoặc một tầng trong tòa nhà đó. Cao cấp hơn, khóa chủ là một khóa kiện tướng, hay một loại khóa chủ của chủ; nó có thể mở được khoảng hai phần ba số cửa trong khuôn viên trường. Cũng giống như hack điện thoại, hack khóa đòi hỏi sự kiên nhẫn và bền bỉ. Vì thế, các hacker sẽ thực hiện những chuyến đi vào đêm muộn, tháo ốc và các khóa cửa. Sau đó, họ sẽ cẩn thận dỡ khóa. Hầu hết các khóa đều có thể được mở bằng vài tổ hợp khóa khác nhau; vì thế, các hacker sẽ sử dụng vài khóa trong cùng một hành lang để xác định chắc chắn tổ hợp phù hợp nhất. Sau đó, họ sẽ cố gắng tạo ra một khóa được tạo hình theo tổ hợp đặc biệt đó.

Có thể khóa chủ cần phải được làm từ các “phôi” đặc biệt – không có sẵn một cách công khai. (Đây thường là trường hợp của các khóa chủ có độ bảo mật cao như các khóa được dùng trong nghiên cứu quốc phòng). Điều này không ngăn được các hacker do vài người trong số họ đã tham gia các khóa học tương ứng để đủ tiêu chuẩn lấy chứng nhận thợ khóa; họ chính thức được cho phép mua các phôi khóa giới hạn này. Vài loại khóa có độ bảo mật cao tới mức ngay cả các thợ khóa được chứng nhận cũng không thể mua phôi cho chúng; để sao chép những chiếc khóa này, các hacker sẽ phải thực hiện các cuộc gọi vào giữa đêm tới tiệm máy – một không gian làm việc ở tầng 9, nơi một thợ kim khí lành nghề có tên Bill Bennett làm việc vào ban ngày với các vật liệu như cánh tay rô-bốt. Một vài hacker đã tạo ra phôi của riêng mình trong tiệm máy này.

Khóa chủ không chỉ đơn thuần là một phương tiện để đạt được mục đích mở khóa; nó chính là biểu tượng cho tình yêu tự do của hacker. Có lúc, các hacker của TMRC thậm chí còn cân nhắc tới việc gửi khóa chủ của MIT tới tất cả tân sinh viên sắp nhập học như một cách chiêu sinh. Khóa chủ là một thanh gươm báu đánh đuổi ma quỷ, hay các cánh cửa khóa kín. Ngay cả khi không có công cụ nào đứng sau các cánh cửa khóa, những chiếc khóa cũng tượng trưng cho quyền lực của sự quan liêu, thứ quyền lực cuối cùng sẽ được sử dụng để ngăn chặn việc Đạo đức Hacker được triển khai trọn vẹn. Sự quan liêu luôn bị đe dọa bởi những người muốn biết vạn vật vận hành như thế nào. Những kẻ quan liêu biết rằng sự sống còn của họ phụ thuộc vào việc duy trì sự thiếu hiểu biết của mọi người qua các công cụ nhân tạo – như khóa – để buộc họ phải nằm trong tầm kiểm soát. Vì thế, khi một quản trị viên khiến cuộc chiến này trở nên căng thẳng hơn bằng cách cài đặt thêm một khóa mới, hoặc mua một chiếc két an toàn Cấp độ Hai (được Chính phủ chứng nhận dùng cho các tài liệu mật), các hacker sẽ ngay lập tức tìm cách phá khóa và mở két an toàn đó. Trong trường hợp mở két, họ sẽ đến một kho siêu công nghệ ở Taunton, tìm một két an toàn Cấp độ Hai, mang nó trở lại tầng 9, và mở nó bằng đèn a-xê-ti-len để tìm ra cơ chế hoạt động của khóa và lẫy.

Nhờ tất cả các mẹo hack khóa này, Phòng Thí nghiệm AI đã trở thành cơn ác mộng của các quản trị viên. Russ Noftsker biết điều đó; anh là một quản trị viên. Anh đã đến Quảng trường Công nghệ vào năm 1965 với tấm bằng kỹ sư của Đại học Mexico, cùng sự quan tâm tới AI và một người bạn làm việc ở Dự án MAC. Anh đã gặp Minsky, người phụ trách quản lý học viên cao học thay Dan Edwards, người vừa rời phòng thí nghiệm. Minsky nổi tiếng là người không quan tâm tới công tác quản lý, ông luôn cần ai đó xử lý các công việc giấy tờ của Phòng Thí nghiệm AI, đơn vị sau này được tách ra khỏi Dự án MAC để trở thành một đơn vị độc lập được Chính phủ tài trợ riêng. Vì thế, Minsky đã thuê Noftsker, người lại chính thức thuê Greenblatt, Nelson và Gosper làm các hacker toàn thời gian. Bằng cách nào đó, Noftsker đã duy trì “gánh xiếc điện tử” này phù hợp với các giá trị và chính sách của MIT.

Noftsker, một anh chàng tóc vàng gọn gàng, có nét mặt cau có và đôi mắt xanh lúc thì mơ màng lúc lại đăm chiêu, không lạ gì các trò phá phách công nghệ kỳ lạ: Khi còn đi học, anh đã hack chất nổ với một người bạn. Họ làm việc cho một công ty công nghệ cao và nhận lương bằng dây nổ (một vật liệu dễ bắt lửa) hoặc thuốc nổ đi-na-mít, và thực hiện các vụ nổ hang để xem mình có thể tiêu diệt được bao nhiêu con nhện, hoặc cần bao nhiêu dây nổ để phá vỡ một chiếc thùng có thể tích 246 lít ra làm đôi. Bạn của Noftsker từng nấu chảy khoảng 13kg thuốc nổ TNT vào một đêm muộn trong lò của mẹ mình và khi nó bắt lửa – chiếc lò và chiếc tủ lạnh đã thực sự bị chảy ra và cậu bé bị đặt trong một tình huống khó xử khi buộc phải chạy sang nhà hàng xóm và nói: “Xin thứ lỗi cho cháu, à, cháu nghĩ tốt hơn hết là cô chú nên đi ra cuối phố…” Noftsker biết cậu đã may mắn khi sống sót vào ngày hôm đó; tuy nhiên, theo Gosper, sau này Noftsker đã lập kế hoạch dọn dẹp tuyết trên vỉa hè trước cửa nhà bằng dây nổ cho tới khi ý tưởng đó bị vợ anh ngăn chặn kịp thời. Noftsker cũng ác cảm với khói thuốc như các hacker khác, và thỉnh thoảng lại thể hiện sự khó chịu của mình bằng cách bắn tia oxy tinh khiết từ chiếc hộp nhỏ đã chuẩn bị trước; người hút thuốc sẽ thảng thốt khi thấy điếu thuốc của anh ta nổ tung thành một đám bụi màu cam. Rõ ràng là Noftsker hiểu rõ khái niệm về chủ nghĩa cực đoan công nghệ để duy trì một môi trường vui vẻ.

Mặt khác, Noftsker là người chịu trách nhiệm, chết tiệt thật, và một phần công việc của anh là giữ mọi người tránh xa các khu vực bị hạn chế và giữ an toàn cho các thông tin mật. Anh sẽ quát tháo, hăm dọa, rồi nâng cấp khóa cũng như đặt mua các két an toàn nhưng anh biết, cuối cùng mình cũng không thể chiến thắng các hacker bằng vũ lực. Như những kẻ ngây thơ, các hacker tin rằng quyền sở hữu không hề tồn tại. Trong suy nghĩ của tầng 9, mọi việc quả thực là như vậy. Các hacker có thể đạt được mọi thứ. Noftsker từng được tận mắt chứng kiến điều này vào một ngày nọ, khi có một chiếc két an toàn mới với bảo hành khóa 24 giờ được chuyển tới và ai đó đã vô tình đóng két, xoay khóa trước khi Noftsker lấy được mã từ nhà sản xuất. Một trong các hacker là thợ khóa được chứng nhận đã tình nguyện giúp mở cái két đó trong vỏn vẹn 20 phút.

Vậy thì Noftsker còn làm được gì đây?

“Dựng lên các rào cản [sẽ khiến gia tăng] cấp độ thử thách,” Noftsker giải thích. “Vì thế, mẹo ở đây là đưa ra một thỏa thuận ngầm – ‘Ranh giới này, hãy tưởng tượng như thể nó có tồn tại, nằm ngoài phạm vi’ – để những người cần có chút riêng tư và bảo mật cảm thấy họ thực sự có được điều đó. Nếu ai đó vi phạm các giới hạn này, sự vi phạm đó sẽ được tha thứ miễn là không ai biết về nó. Do đó, nếu bạn kiếm được thứ gì đó bằng cách trèo tường vào văn phòng của tôi, bạn phải tuyệt đối không bao giờ được nói về điều đó.”

Đây là một sự giảm trừ quân bị đơn phương mang lại cho các hacker quyền tự do để đến bất kỳ nơi nào họ muốn trong quá trình khám phá, lấy bất kỳ thứ gì họ cần để nhận được hỗ trợ trong những cuộc dạo chơi điện tử và các phiên họp về khoa học máy tính… miễn là họ đừng đi khắp nơi khoe khoang về việc tại sao vị hoàng đế quan liêu lại không mặc quần áo. Bằng cách đó, Noftsker và ban quản trị mà anh đại diện có thể giữ lại chút tự trọng trong khi các hacker có thể giả vờ là họ không hề tồn tại. Họ đã tới bất kỳ nơi nào họ muốn, đột nhập vào các văn phòng bằng cách bò trên trần giả treo thấp, gỡ các tấm trần và tụt xuống văn phòng – giống như những đặc công với hộp bút chì và quần túi. Một hacker đã bị đau lưng khi đang “hành sự” vào một đêm nọ và trần sụp xuống khiến anh ta rơi vào văn phòng của Minsky. Nhưng thường thì bằng chứng duy nhất mà Noftsker có thể tìm thấy là những dấu chân trên tường. Tất nhiên, đôi khi anh cũng bắt gặp một hacker đang ngủ gật trên ghế sofa trong văn phòng khóa trái của mình.

Dù vậy, một số người lại không bao giờ có thể chịu nổi Đạo đức Hacker. Tiêu biểu là người thợ kim khí của tiệm máy Bill Bennett. Dù là thành viên của TMRC nhưng anh không phải là hacker: Sự trung thành của anh không dành cho phe S&P mà dành cho cái Gosper gọi là “Hãy cùng Xây dựng Tiểu văn hóa Các thiết bị Vật lý Thu nhỏ Chính xác”. Anh là chàng trai tốt bụng đến từ Marietta, Georgia, và anh luôn dành sự tôn kính gần như sùng bái cho các công cụ của mình. Coi công cụ như những đối tượng thần thánh là suy nghĩ truyền thống xuất phát từ quê hương anh; những thứ mà bạn sẽ chăm sóc và bảo tồn để rồi truyền lại cho con cháu sau này. “Tôi là một kẻ cuồng tín,” anh giải thích. “Một công cụ cần được đặt vào đúng vị trí của nó, tinh tươm và sẵn sàng để sử dụng.” Vì thế, anh không chỉ khóa trái tất cả công cụ mà còn cấm các hacker mò vào nơi làm việc được rào lại bằng các hàng rào dây và các đường sọc sơn trên sàn nhà.

Bennett không thể ngăn được kết quả khó tránh của việc vẽ ra một ranh giới và bảo các hacker không được vượt qua. Anh sẽ bước vào và thấy các công cụ của mình bị sử dụng, rồi phàn nàn với Minsky. Anh dọa nghỉ việc; Noftsker nhớ anh còn đe dọa sẽ đặt bẫy treo ở văn phòng. Anh còn yêu cầu Minsky phải trừng phạt Nelson, người mà anh coi là kẻ tội đồ. Minsky hoặc Noftsker sẽ khiển trách Nelson nhưng họ lại bí mật coi những việc này là nực cười. Cuối cùng, Noftsker đã nảy ra ý tưởng về việc cung cấp cho mỗi hacker một hộp công cụ riêng và để họ tự quản lý chúng, nhưng việc này không thực sự hiệu quả. Khi một hacker muốn điều chỉnh thứ gì đó trên máy móc, hoặc muốn nhanh chóng tạo ra một hack phần cứng, anh ta sẽ sử dụng bất kỳ thứ gì có sẵn, bất kể là nó thuộc về một người bạn hay kẻ bợ đỡ Bill Bennett. Có lần, Nelson đã sử dụng một chiếc tuốc-nơ-vít của Bennett, và trong quá trình sử dụng, anh đánh dấu gì đó lên nó. Khi Bennett đến vào ngày hôm sau và thấy chiếc tuốc-nơ-vít bị hỏng, anh đã tới gặp thẳng Nelson.

Nelson thường khá ít nói, nhưng lần này anh đã nổi điên. Gosper nhớ lại: “Nelson tranh cãi rất quyết liệt. Nếu bạn dồn Nelson vào thế bí, anh ta sẽ xù lông nhím lên.” Gosper cũng cho hay, lần đó Nelson và Bennett đã lao vào khẩu chiến kịch liệt, và trong cuộc cãi vã, Nelson nói rằng dù sao thì chiếc tuốc-nơ-vít cũng gần như “vô dụng” rồi.

Vô dụng? Đó là từ vô cùng khó chịu trong triết lý của Bennett. “Việc đó đã khiến Bennett tức xì khói,” Gosper kể. “Anh ta đã nổi điên.” Với những người như Bennett, mọi thứ không được phép truyền từ người này sang người khác trừ khi chúng đã trở thành “đồ bỏ đi”. Chúng không giống như các chương trình máy tính mà bạn viết và trau chuốt rồi tung ra để những người khác – không cần hỏi ý kiến bạn – có thể làm việc với nó, bổ sung tính năng cho nó, tái tạo nó theo trí tưởng tượng của riêng họ, rồi lại để nó cho người tiếp theo cải tiến. Vòng lặp đó lại lặp lại mỗi khi ai đó bắt đầu viết một chương trình mới từ đầu để thực hiện cùng công việc đó. Đó có thể là điều mà các hacker tin tưởng, nhưng Bill Bennett thì cho rằng công cụ là thứ mà bạn sở hữu, một thứ gì đó rất riêng tư. Các hacker này thực sự cho rằng một người được cấp quyền sử dụng một công cụ chỉ bởi anh ta nghĩ rằng mình có thể làm được điều gì hữu ích với nó. Và khi xong việc, họ sẽ vứt nó đi và nói rằng nó đã… vô dụng!

Với các triết lý hoàn toàn trái ngược nhau như vậy, chẳng có gì ngạc nhiên khi Bennett lại phát điên với Nelson. Sau này, Bennett nói rằng cơn nóng giận của anh sớm qua đi và anh sẽ lại đối xử với các hacker thân thiện như chưa có chuyện gì xảy ra. Nhưng Nelson thì lại cho rằng khi đó anh đã e sợ tay thợ máy có thể khiến mình bị thương.

Vài đêm sau, Nelson muốn thực hiện một số hiệu chỉnh bị cấm trên bộ cấp điện của chiếc máy tính ở tầng 7 của Quảng trường Công nghệ và cần một chiếc tuốc-nơ-vít lớn để làm việc đó. Đương nhiên, anh đã tới tủ khóa của Bennett để lấy công cụ. Thế nhưng, theo cách nào đó, công tắc trên bộ cấp điện lại bị hở và anh bị điện giật đến tím người. Nelson may mắn sống sót nhưng cú sốc đó đã làm chảy đầu của chiếc tuốc-nơ-vít.

Ngày hôm sau, Bill Bennett trở lại văn phòng của mình và thấy chiếc tuốc-nơ-vít hỏng cùng một tấm bảng trên đó viết hai chữ “VÔ DỤNG”.

« Lùi
Tiến »