Hacker Lược Sử

Lượt đọc: 435 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
greenblatt và gosper

Ricky Greenblatt là một hacker mà chúng ta luôn chờ đợi. Nhiều năm sau, khi anh đã nổi tiếng khắp các trung tâm máy tính trên toàn nước Mỹ như một hacker kiểu mẫu, khi những câu chuyện về sự chuyên tâm của anh phong phú như hàng triệu dòng lệnh của mã hợp ngữ mà anh đã hack, thì người ta bắt đầu hỏi anh mọi chuyện đã quay sang như thế nào. Anh sẽ xoay ghế lại, không bú rù như hồi đại học, vẫn khuôn mặt ngây thơ, mái tóc đen và sự vụng về đau khổ khi phát biểu ấy; anh nhận thấy câu hỏi này được quy về việc liệu hacker là những người có tài năng thiên bẩm hay do trui rèn mà thành. Anh đã đưa ra một trong những câu trả lời không nhất quán về lý lẽ nổi tiếng mà sau này được biết đến là chủ nghĩa Blatt: “Nếu hacker có tài năng thiên bẩm, thì họ sẽ trui rèn mà thành, và nếu họ trui rèn mà thành, thì họ có tài năng thiên bẩm.”

Nhưng Greenblatt cũng thừa nhận anh sinh ra để làm một hacker.

Cơ duyên của anh và chiếc PDP-1 không bắt đầu ngay từ lần đầu tiên anh nhìn thấy nó. Đúng là anh rất quan tâm đến nó. Đó là một tuần vội vã của các tân sinh viên MIT, và Ricky Greenblatt vẫn còn chút thời gian trước khi tập trung vào các khóa học, sẵn sàng cống hiến sức mình cho con đường học thuật. Anh đến thăm những nơi hấp dẫn nhất: trạm phát thanh trường WTBS (trạm phát thanh của MIT có lẽ là trạm phát thanh duy nhất trong các trường đại học trên khắp nước Mỹ thừa thãi kỹ sư âm thanh sinh viên nhưng lại thiếu các DJ), Câu lạc bộ Mô hình Đường tàu và Phòng Kluge ở Tòa 26, nơi chứa chiếc PDP-1.

Một vài hacker đang chơi trò Chiến tranh không gian.

Quy định chung ở đây là phải tắt hết đèn khi chơi trò chơi, nên mặt của những người tụ tập quanh bàn điều khiển sẽ bị hắt lên thứ ánh sáng của các con tàu không gian và ngôi sao trọng lực này. Ánh sáng từ màn hình phả vào mặt họ. Ricky Greenblatt đã rất ấn tượng và quan sát những cuộc đụng độ không gian một lúc, rồi sang phòng bên để xem chiếc TX-0, với các tủ ống và đèn bán dẫn, bộ cấp điện cuốn hút, các bóng đèn và thiết bị chuyển mạch của nó. Câu lạc bộ toán học thời phổ thông của anh ở Columbia, Missouri, đến tham quan chiếc máy tính xử lý theo lô của trường đại học bang, và anh đã nhìn thấy một chiếc máy xếp thẻ khổng lồ ở một công ty bảo hiểm địa phương. Nhưng không thứ nào trông giống như thế này cả. Ấn tượng với trạm phát thanh, TMRC và đặc biệt là những chiếc máy tính, anh quyết tâm giành được học bổng toàn phần.

Sự hấp dẫn mang tính sách vở này chẳng thể tồn tại được lâu. Greenblatt, thậm chí còn hơn cả một sinh viên MIT thông thường, đã sẵn sàng gia nhập nhóm Nhu cầu được Thực hành. Cuộc đời của anh đã thay đổi mãi mãi vào một ngày nọ năm 1954 khi cha anh, nhân dịp đến thăm cậu con trai không sống cùng sau khi ly hôn từ lúc nó còn quá nhỏ, đã đưa anh tới Hội Sinh viên Tưởng niệm ở Đại học Missouri, không xa nhà của Ricky ở Columbia lắm. Ricky Greenblatt ngay lập tức thích nơi đó. Không chỉ vì phòng khách tiện nghi, bộ vô tuyến, quầy đồ uống… mà vì các học sinh ở đây đều có trí tuệ ngang ngửa với cậu bé Ricky Greenblatt 9 tuổi hơn là các bạn cùng lớp của cậu. Cậu sẽ đến đó để chơi cờ vua và thường dễ dàng đánh bại các sinh viên đại học. Cậu chơi cờ rất giỏi.

Một trong những bại tướng dưới tay cậu là một sinh viên kỹ thuật thuộc Đại học Missouri. Tên anh là Lester và món quà anh dành cho cậu bé 9 tuổi tài năng này là một phần giới thiệu cách thức thực hành với thế giới điện tử. Một thế giới nói “không” với sự nhập nhằng. Logic luôn chiếm ưu thế. Bạn có một mức độ kiểm soát nhất định đối với vạn vật. Bạn có thể xây dựng mọi thứ tùy theo kế hoạch của mình. Với một cậu bé 9 tuổi có trí tuệ vượt trội so với các bạn cùng trang lứa, một đứa trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc đổ vỡ hôn nhân đặc trưng cho các mối quan hệ hợp-tan giữa người với người vượt ngoài tầm kiểm soát, thì điện tử chính là một cuộc đào thoát hoàn hảo.

Lester và Ricky cùng làm việc trong các dự án phát thanh nghiệp dư. Họ đã phá tung một bộ truyền hình cũ. Trước khi tốt nghiệp đại học, Lester đã giới thiệu Ricky với một quý ngài Houghton nào đó, người quản lý một tiệm phát thanh địa phương, và nơi đó đã trở thành ngôi nhà thứ hai của cậu trong suốt những năm trung học. Hợp tác cùng một người bạn thời phổ thông, Greenblatt đã xây dựng một loạt dự án. Bộ khuếch đại, bộ điều biến, tất cả các loại máy kỳ cục có ống chân không loằng ngoằng rối rắm. Một máy hiện sóng. Các dự án phát thanh nghiệp dư. Một máy quay truyền hình. Một máy quay truyền hình! Đó có vẻ là một ý tưởng hay, vì thế họ đã chế tạo nó. Và tất nhiên, Richard Greenblatt đã chọn MIT. Cậu nhập học vào mùa thu năm 1962.

Chương trình học khá nặng trong học kỳ đầu nhưng Greenblatt giải quyết vấn đề này ổn thỏa mà không gặp nhiều khó khăn. Anh đã nghiên cứu một số máy tính trong trường. Greenblatt đã may mắn được tham dự một khóa học tùy chọn có tên EE 641 – Lập trình Máy tính Nhập môn – và anh thường lui tới những chiếc máy đục lỗ thẻ ở EAM để viết các chương trình cho Gã Khổng lồ Xanh 7090. Cùng lúc đó, bạn cùng phòng của anh, Mike Beeler, đã chọn một khóa học về Toán đồ. Các sinh viên tham gia khóa học được thực hành trên chiếc IBM 1620 – thiết lập vùng đất khác cho những tu sĩ lầm lạc với trí tuệ bị bao phủ bởi những đám mây ngu dốt đến từ đội bán hàng IBM. Greenblatt thường cùng Beeler tới chỗ chiếc 1620 để đục lỗ cho đống thẻ của mình và đứng xếp hàng. Khi đến lượt, bạn sẽ đổ thẻ vào bộ đọc và ngay lập tức thu được kết quả từ một máy vẽ đồ thị. “Việc này khá vui, nhất là khi làm vào buổi tối,” Beeler sau này nhớ lại. “Chúng tôi làm việc này theo cái cách mà những người khác xem một trận đấu thể thao, ra ngoài tụ tập và làm vài chai bia.” Công việc tuy còn nhiều hạn chế nhưng cũng tạm ổn. Nó khiến Greenblatt muốn nhiều hơn.

Đến gần Giáng sinh, cuối cùng anh cũng cảm thấy đủ thoải mái để đến chơi ở TMRC. Ở đó, tiếp xúc với những người như Peter Samson, con người ta rất dễ rơi vào chế độ hacker (hacker mode). (Máy tính có các trạng thái khác nhau gọi là “chế độ” (mode), vì thế các hacker thường sử dụng từ này để mô tả các tình huống trong đời thực.) Samson đang xử lý một chương trình có thời gian biểu trải rộng cho các phiên vận hành của TMRC trên mô hình khổng lồ; vì khối lượng công việc cần làm, anh đã viết chúng bằng ngôn ngữ FORTRAN trên chiếc 7090. Greenblatt đã quyết định viết chương trình FORTRAN đầu tiên cho PDP-1. Anh không thể giải thích lý do mình quyết định làm vậy và có lẽ cũng chẳng ai hỏi anh về điều đó. Khi bạn muốn thực hiện tác vụ trên một cỗ máy và cỗ máy này không có phần mềm để làm điều đó, thì việc viết một phần mềm phù hợp có thể làm điều đó là lẽ đương nhiên. Đây cũng là động lực thôi thúc Greenblatt nâng cấp nó thành một dạng nghệ thuật.

Greenblatt đã viết một chương trình cho phép bạn viết bằng FORTRAN, đem thứ bạn đã viết để dịch mã nguồn thành ngôn ngữ máy, cũng như chuyển đổi các phản hồi ngôn ngữ máy của máy tính ngược trở lại thành FORTRAN. Anh đã viết phần lớn trình dịch FORTRAN trong phòng của mình do gặp trục trặc trong việc xin cấp quyền truy cập PDP-1 để làm việc trực tuyến. Bên cạnh đó, anh cũng tham gia nghiên cứu một hệ thống rơ-le mới bên dưới mô hình ở TMRC. Dường như vữa trong phòng liên tục rơi và dính cả vào các mối nối của hệ thống mà Jack Dennis tạo ra hồi giữa những năm 1950. Ngoài ra, có một thứ gì đó mới gọi là rơ-le lò xo dây trông có vẻ tốt hơn loại cũ. Vì thế, Greenblatt đã dành khá nhiều thời gian trong mùa xuân năm ấy để làm việc đó cùng với việc hack PDP-1.

Cách mọi việc diễn ra khá buồn cười. Bạn nỗ lực hết mình như một sinh viên, nhận được học bổng, rồi phát hiện ra thứ gì đó đặt các khóa học vào bối cảnh phù hợp của chúng: thứ hoàn toàn không thích hợp với vấn đề trước mắt. Vấn đề trước mắt là hack, và khá rõ ràng – ít nhất là rõ ràng tới mức không có ai xung quanh TMRC hoặc PDP-1 có vẻ nghĩ rằng đây là một chủ đề hữu ích để đàm luận – rằng hack là một đam mê đáng theo đuổi tới mức bạn có thể dành cả đời cho việc đó. Dù máy tính rất phức tạp, nhưng nó vẫn không thể phức tạp bằng các thông tin đầu vào và đầu ra đầy phong phú cũng như các mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội; nhưng không giống như các nghiên cứu chính thức và phi chính thức về khoa học xã hội, hack không chỉ đem lại cho bạn vốn hiểu biết về hệ thống mà còn là sự kiểm soát gây nghiện, cùng với ảo giác rằng chỉ cần thêm vài tính năng nữa là bạn có thể kiểm soát được toàn bộ hệ thống. Một cách tự nhiên, bạn dự định sẽ xây dựng các khía cạnh này của hệ thống, vốn có vẻ là yếu tố tối cần thiết để làm việc một cách thích hợp bên trong hệ thống. Một cách tự nhiên không kém, làm việc trong hệ thống đã được cải tiến này giúp bạn biết thêm nhiều việc cần phải làm khác. Và rồi, ai đó như Marvin Minsky có thể đi qua và nói: “Đây là một cánh tay rô-bốt. Tôi sẽ để cánh tay rô-bốt này bên cạnh chiếc máy.” Ngay lập tức, việc cần thiết nhất là tạo ra một giao diện thích hợp giữa chiếc máy và cánh tay rô-bốt, đặt cánh tay rô-bốt dưới sự điều khiển của bạn và tìm cách tạo ra hệ thống “nhắc việc” cho cánh tay rô-bốt ấy.” Sau đó, bạn có thể chứng kiến thành quả của mình. Làm sao mà một thứ phi thực tế như giờ học kỹ thuật có thể so sánh được với điều đó? Nhiều khả năng là giáo sư kỹ thuật của bạn chưa bao giờ làm ra thứ gì thú vị bằng một nửa những vấn đề mà bạn đang giải quyết hằng ngày trên chiếc PDP-1. Vậy ai là người đúng đây?

Khi Greenblatt học năm thứ hai đại học, bối cảnh điện toán xung quanh chiếc PDP-1 đã thay đổi đáng kể. Dù vài hacker ban đầu của chiếc TX-0 đã rời đi, nhưng lại có những tài năng mới thế chỗ, những thiết lập đầy tham vọng và mởi mẻ, được Bộ Quốc phòng hào phóng tài trợ và hỗ trợ nhiệt tình. Chiếc PDP-1 thứ hai được đưa tới; đặt trong một tòa nhà 9 tầng mới xây trên phố Main – một tòa nhà với vẻ u ám thểu não, không có những chỗ nhô ra, cửa sổ không gờ trông như được sơn trên bề mặt màu trắng nhờ. Tòa nhà được gọi là Quảng trường Công nghệ, và cùng với MIT cũng như các khách hàng doanh nghiệp còn có Dự án MAC. Tầng 9 của tòa nhà này, nơi đặt cỗ máy, sẽ là nhà của một thế hệ hacker, và không ai dành nhiều thời gian ở đó hơn Greenblatt.

Greenblatt được trả lương (một khoản rất nhỏ) cho việc hack với tư cách là sinh viên học việc, giống như một vài hacker khác làm việc trên hệ thống hoặc bắt đầu phát triển một vài chương trình lớn triển khai AI. Họ đã nhận thấy cậu sinh viên năm hai lịch sự một cách vụng về này là một ngôi sao hack PDP-1 đầy tiềm năng.

Anh đã nhập một lượng lớn mã nguồn, hack nhiều nhất có thể, hoặc ngồi với một đống kết quả và đánh dấu chúng. Anh chạy qua chạy lại giữa PDP-1 và TMRC, nhưng lạ thay vẫn nắm rõ các cấu trúc của chương trình mà anh đang thực hiện, hoặc hệ thống rơ-le mà anh hack bên dưới mô hình TMRC. Để giữ được sự tập trung đó trong thời gian dài, một ngày của anh thường kéo dài 30 giờ giống như một số bạn bè. Hack say sưa khiến ta quên đi giờ giấc, và vì bạn có khoảng thời gian thức dài hơn để tập trung vào một chương trình, nên một khi đã thực sự vào guồng thì một chút phiền phức như nhu cầu ngủ đủ giấc cũng chẳng ảnh hưởng gì. Ý tưởng ở đây là bạn sẽ miệt mài suốt 30 giờ tới mức mệt lả, rồi về nhà và ngủ suốt 12 giờ sau đó. Một lựa chọn khác là lăn ra ngủ luôn trong phòng thí nghiệm. Một nhược điểm nhỏ của lịch làm việc này là nó xung đột với các lịch trình hằng ngày của những người khác như hẹn hò, ăn uống và lên lớp. Các hacker có thể điều chỉnh điều này – họ thường hỏi những câu hỏi kiểu như: “Greenblatt đang ở pha nào nhỉ?” và ai đó vừa mới gặp anh sẽ trả lời: “Tôi nghĩ anh ấy đang ở pha đêm và sẽ quay trở lại sau khoảng 9 tiếng nữa.” Các giáo sư thì không dễ dàng điều chỉnh theo các pha này, và Greenblatt toàn trốn tiết.

Anh bị đình chỉ học và mẹ anh đã phải tới Massachusetts để nói chuyện với hiệu trưởng. Bà cần vài lời giải thích trong trường hợp này. “Mẹ anh ấy đã rất lo lắng,” bạn cùng phòng Beeler kể lại. “Ý của bà là anh ấy đến trường để học và lấy một tấm bằng. Nhưng những thứ mà anh ấy đang làm trên máy tính quá tiên tiến – chưa có ai từng làm những việc đó cả. Anh thấy có vài việc nữa cần phải hoàn thành. Thật khó cảm thấy thích thú với các giờ học.” Với Greenblatt, việc anh sắp bị đuổi khỏi trường không hẳn quan trọng. Hack là trên hết: Đó là điều anh làm tốt nhất và khiến anh hạnh phúc nhất.

Khoảnh khắc tồi tệ nhất là khi anh ở “ngoài pha ngày” và ngủ quên cả lịch tham dự kỳ thi cuối kỳ. Việc này chỉ là giọt nước tràn ly, tước đi tấm thẻ sinh viên MIT của anh. Việc bị đuổi học có lẽ không tạo ra bất kỳ khác biệt nào trong cuộc sống của anh vì chẳng có luật nào cấm bạn không thể là sinh viên học việc khi đã bị đuổi học cả. Vì thế, Greenblatt bắt đầu đi tìm việc, với ý định tìm kiếm một công việc lập trình vào ban ngày, và dành các buổi tối ở nơi mà anh muốn – tầng 9 của Quảng trường Công nghệ. Hacking. Và đó chính xác là những gì anh đã làm.

☆ ☆ ☆

Có một hacker cũng để lại ấn tượng tương tự khi làm chủ PDP-1 theo một cách khác. Hoạt ngôn hơn Greenblatt, hacker này có thể diễn giải tốt tầm nhìn của anh về việc máy tính đã làm thay đổi cuộc sống của anh như thế nào và nó có thể thay đổi cuộc sống của chúng ta ra sao. Chàng sinh viên này có tên là Bill Gosper. Anh đến MIT trước Greenblatt một năm, nhưng lại có phần chậm chạp hơn trong việc trở thành khách quen của chiếc PDP-1. Gosper có dáng người gầy gò, đôi mắt tinh ranh giấu sau cặp kính dày cộp, một cái đầu bù xù với mái tóc nâu xoăn. Nhưng chỉ cần tiếp xúc qua với Gosper, bạn sẽ bị thuyết phục rằng “không thể trông mặt mà bắt hình dong”. Anh là một thiên tài toán học. Thực ra, chính ý tưởng hack thế giới toán học thay vì hack các hệ thống đã thu hút Gosper đến với máy tính, và trong suốt một thời gian dài, anh đóng vai trò nền tảng cho Greenblatt và những người đi theo định hướng hệ thống khác trong xã hội gồm toàn những tay lính bộ binh thông minh đang hình thành xung quanh Dự án MAC đầy mới mẻ.

Gosper đến từ Pennsauken, New Jersey, ở bên kia bờ sông bắt nguồn từ Philadelphia, và giống như Greenblatt, kinh nghiệm với máy tính trước khi tới MIT của anh chỉ dừng lại ở mức quan sát Gã Khổng lồ Xanh được vận hành sau một tấm kính. Anh vẫn nhớ rất rõ chiếc Univac trong Viện Franklin ở Philadelphia đã in hình ảnh Benjamin Franklin trên chiếc máy in từng dòng (line printer) 22 của nó ra sao. Gosper không hề biết chuyện gì đang xảy ra nhưng điều đó trông có vẻ rất thú vị.

22 Loại máy in sử dụng một hàng búa gõ dao động. Các búa gõ tạo ra các chữ cái và hình ảnh bằng cách va đập lên một ruy-băng và chuyển các điểm mực lên giấy. (BTV)

Anh đã tự mình nếm trải sự thú vị đó lần đầu tiên trong kỳ học thứ hai tại MIT. Gosper đã tham gia một khóa học của “bác” John McCarthy – khóa học chỉ dành cho sinh viên năm nhất đạt điểm xuất sắc trong học kỳ trước. Khóa học bắt đầu với FORTRAN, rồi tới ngôn ngữ máy IBM, và gói lại trên chiếc PDP-1. Các vấn đề này không hề đơn giản, mà là những thứ như tia dò vết qua các hệ thống quang học với chiếc 709, hoặc các chương trình con với trình phiên dịch dấu chấm động mới cho chiếc PDP-1.

Thử thách lập trình đã hấp dẫn Gosper. Đặc biệt là sau khi bị bộ xử lý theo lô của IBM tra tấn thì việc lập trình với chiếc PDP-1 sẽ giống như một liều thuốc gây nghiện. Hay như lần đầu tiên làm tình. Nhiều năm sau đó, Gosper vẫn nói chuyện đầy kích động về “sự sốt sắng muốn đặt tay lên bàn phím sống động này và khiến cỗ máy phản hồi lại những gì bạn yêu cầu trong vài mili giây…”

Dù vậy, Gosper vẫn do dự về việc có nên tiếp tục với chiếc PDP-1 sau khi khóa học kết thúc hay không. Anh đã vào khoa Toán, nơi mọi người không ngừng khuyên anh tránh xa mấy chiếc máy tính – chúng sẽ biến anh trở thành một tay thư ký quèn. Gosper phát hiện ra khẩu hiệu ngầm của khoa Toán là “Làm gì có Khoa học Máy tính – đó chỉ là yêu thuật!” Vậy mà sau đó, anh lại trở thành pháp sư của yêu thuật đó! Anh đã đăng ký khóa học của Minsky về AI. Một lần nữa, anh lại gắn bó với PDP-1, và lần này, Gosper đã bị hack mê hoặc. Trong thời gian tham gia khóa học, anh đã viết một hàm đồ thị trên màn hình cho dự án đầu tiên, và một trong các chương trình con đó có phần cắt giảm đẹp tới mức anh đã mạnh dạn cho Alan Kotok xem. Khi đó, Kotok đã đạt được “vị thế thần thánh” không chỉ vì khả năng khai thác PDP-1 và TMRC, mà còn vì anh đang đảm nhiệm vai trò quan trọng trong hoạt động thiết kế một chiếc máy tính mới, một phiên bản PDP-1 được nâng cấp rất nhiều. Gosper đã ngất ngây khi Kotok không chỉ xem màn hack của anh mà còn cho rằng nó đủ tốt để những người khác cùng xem nữa. Kotok thực sự cho rằng tôi đã khéo léo làm xong việc! Vì thế, Gosper đã hack thêm.

Dự án lớn của anh trong khóa học là “giải” trò chơi Peg Solitaire (Cắm cọc) (hay HI-Q), trong đó bạn có một tấm bảng hình dấu thập với 33 lỗ: Chỉ có một lỗ không có cọc, bạn phải nhảy qua đầu các cọc và loại bỏ cọc đã bị nhảy qua. Yêu cầu đặt ra là bạn phải hoàn thành trò chơi với cọc cuối cùng ở trung tâm. Khi Gosper và hai bạn học đề xuất với Minsky rằng họ sẽ giải quyết bài toán đó trên PDP-1, Minsky đã nghi ngờ khả năng của họ nhưng vẫn đồng ý để họ thử. Gosper cùng các bạn không chỉ giải được mà còn “phá hủy nó” như cách mà sau này anh nhớ lại. Họ đã hack một chương trình cho phép PDP-1 giải được trò chơi trong một tiếng rưỡi.

Gosper ngưỡng mộ cách máy tính sử dụng cách tiếp cận “phản trực giác” để giải trò chơi HI-Q. Anh rất ngưỡng mộ các chương trình sử dụng kỹ thuật mà thoạt nhìn có vẻ bất khả thi nhưng trên thực tế chúng lại tận dụng được các kiến thức toán học sâu sắc. Giải pháp phản trực giác bắt nguồn từ hiểu biết về mối quan hệ kỳ diệu giữa những thứ trong Mạn-đà-la 23 rộng lớn gồm các mối quan hệ số học mà rốt cuộc thì việc hack lại dựa vào đó. Khám phá các mối quan hệ này – tạo ra thứ toán học mới trên máy tính – đã trở thành sứ mệnh của Gosper; và khi bắt đầu dành nhiều thời gian hơn cho PDP-1 và TMRC, anh đã khiến mình trở thành nhân vật không thể thiếu với cương vị người đứng đầu nhóm “hacker toán học” – những người không quá quan tâm tới các chương trình hệ thống, nhưng lại có thể tạo ra các thuật toán rõ ràng đến sửng sốt (và phản trực quan!) giúp hacker hệ thống cắt giảm được vài dòng lệnh của một chương trình con, hoặc phá vỡ sự bế tắc trong tâm trí để khởi chạy một chương trình.

23 Hình tròn tượng trưng cho tôn giáo của vũ trụ. (BTV)

☆ ☆ ☆

Gosper và Greenblatt tượng trưng cho hai kiểu hack khác nhau xung quanh TMRC và PDP-1: Greenblatt tập trung vào việc xây dựng các hệ thống thực tế còn Gosper lại chú trọng vào các khám phá toán học. Mỗi người tôn trọng sở trường của người kia, và cả hai đều tham gia vào các dự án, thường là các dự án phối hợp, có thể khai thác tốt nhất các khả năng của mình. Thêm vào đó, cả hai đều là những người đóng góp chính cho văn hóa còn sơ khai đang bắt đầu đơm bông khoe sắc trên tầng 9 của Quảng trường Công nghệ. Vì một số lý do khác nhau, tòa nhà công nghệ hấp dẫn này sẽ là nơi văn hóa đó bung nở mạnh mẽ nhất, đưa Văn hóa Hacker đạt tới giới hạn của nó.

Hành động này sẽ chuyển dịch ở một vài bối cảnh. Phòng Kluge, với chiếc PDP-1 hiện đang được vận hành với hệ thống chia sẻ thời gian, thứ mà Jack Dennis đã phát triển trong cả năm trời, vẫn là một lựa chọn cho một số hoạt động hack vào đêm muộn, và đặc biệt là để chơi trò Chiến tranh không gian. Nhưng các hacker đích thực ngày càng thích chiếc máy tính của Dự án MAC hơn. Nó nằm giữa các cỗ máy khác trên tầng 9 được trang bị đồ đạc và ánh sáng sơ sài của Quảng trường Công nghệ, nơi ai đó chỉ có thể trốn khỏi tiếng vo vo của loạt máy điều hòa không khí đang làm mát cho những chiếc máy tính bằng cách chui vào một trong các văn phòng nhỏ xíu. Cuối cùng, còn có TMRC, với máy bán Coca không bao giờ hết và hộp tiền lẻ của Saunders cùng Phòng Công cụ kế bên, nơi mọi người sẽ ngồi đó cả đêm và tranh luận thứ mà những người ngoài luôn cho là bí ẩn và khó hiểu.

Tranh luận là hơi thở của cộng đồng hacker. Đôi khi, mọi người quát tháo nhau, khăng khăng về một kiểu phối hợp mã nguồn cho một trình hợp ngữ, hoặc một loại giao diện đặc biệt, hay một tính năng cụ thể nào đó của một ngôn ngữ máy tính. Những điểm khác biệt này sẽ khiến các hacker đập bảng thùm thụp và ném phấn khắp phòng. Đó không hẳn là cuộc chiến của các cái tôi mà là nỗ lực tìm ra “Điều Đúng đắn”. Khái niệm này có ý nghĩa đặc biệt với các hacker. Điều Đúng đắn ám chỉ rằng với bất kỳ vấn đề nào, dù đó là một thế lưỡng nan trong lập trình, một giao diện phần cứng không khớp hay một câu hỏi về kiến trúc phần mềm thì giải pháp vẫn tồn tại như nó vốn… thế. Đó là thuật toán hoàn hảo. Bạn sẽ phải hack vào đúng điểm ngọt 24 , và bất kỳ một gã khờ nào cũng sẽ thấy rằng đường thẳng nối giữa hai điểm đã được vẽ ra và chẳng có lý do gì để thay đổi nó. “Điều Đúng đắn”, như Gosper giải thích, “có nghĩa là giải pháp duy nhất, đúng đắn và đẹp đẽ… thứ sẽ thỏa mãn tất cả các ràng buộc cùng lúc, thứ mà mọi người có vẻ tin rằng nó có thể hóa giải mọi vấn đề.”

24 Điểm hơi quá sức của bạn nhưng bạn vẫn có thể cố gắng làm được. (BTV)

Cả Gosper và Greenblatt đều có những quan điểm mạnh mẽ, nhưng thường thì Greenblatt sẽ rất mệt mỏi vì phải đối đầu với người khác và anh sẽ từ bỏ quan điểm trước để có thể tự mình thực sự triển khai một thứ gì đó. Đẹp hay không. Trong suy nghĩ của anh, mọi thứ cần phải được hoàn thành. Nếu không có ai khác hack chúng thì anh sẽ làm. Anh sẽ ngồi xuống với cây bút và tờ giấy hoặc tại bàn điều khiển của PDP-1 rồi bắt đầu viết mã. Các chương trình của Greenblatt luôn chắc chắn, với nền tảng vững vàng, cùng hoạt động kiểm tra lỗi dựng sẵn để ngăn chặn việc tổng thể bị phá hủy chỉ vì một lỗi nhỏ. Khi Greenblatt làm việc với một chương trình nào đó thì nó sẽ được gỡ lỗi triệt để. Gosper cho rằng Greenblatt thích tìm và gỡ lỗi nhiều hơn bất kỳ ai anh từng gặp và ngờ rằng đôi khi anh còn cố tình viết các mã nhiều lỗi để có thể sửa chúng.

Gosper có phong cách hack công khai hơn. Anh thích làm việc khi có khán giả ở bên và các hacker học việc thường kéo một chiếc ghế ngồi sau anh để quan sát cách anh viết các dòng hack thông minh, vốn đầy ắp những chi tiết toán học thú vị súc tích. Anh giỏi hack hiển thị nhất, khi một thuật toán khác lạ sẽ tạo ra một loạt màn hiển thị pháo hoa ngẫu nhiên trên màn hình CRT. Những lúc như thế này, Gosper sẽ đóng vai trò hướng dẫn viên, có khi anh lại nhấn mạnh rằng thậm chí các lỗi đánh máy cũng có thể tạo ra một hiện tượng số học thú vị. Anh luôn thích thú với cái cách mà máy tính có thể mang lại những điều bất ngờ, và anh luôn trân trọng điều đó. Đôi khi, một sự kiện ngẫu nhiên của máy có thể cuốn anh theo một hướng thú vị trong hàm ý của số vô tỷ bậc hai này hay một hàm tiên nghiệm khác. Một chương trình con kỳ diệu trong một chương trình của Gosper đôi khi sẽ phát triển thành một biên bản học thuật, như sau:

Về mặt lý thuyết, các liên phân số không được tận dụng, có lẽ là do sự kém quen thuộc của chúng, tôi sẽ đưa ra phiên tuyên truyền sau về giá trị tương đối của các liên phân số so với các biểu diễn số học khác.

Lập luận trong Phòng Công cụ không chỉ đơn thuần là các phiên tranh luận ở mức đại học. Kotok thường có mặt ở đó, và chính trong các phiên này, mọi người đã đưa ra các quyết định đáng kể liên quan đến cỗ máy mà anh đang thiết kế tại DEC, chiếc PDP-6. Ngay cả trong giai đoạn thiết kế, chiếc PDP-6 này đã được coi là Điều Đúng đắn hoàn toàn ở khắp TMRC. Đôi lúc, Kotok lái xe đưa Gosper quay trở lại Nam Jersey trong các kỳ nghỉ. Cả hai sẽ cùng trò chuyện trên đường đi về cách chiếc máy tính mới này sẽ có 16 thanh ghi độc lập. (Thanh ghi, hay thanh ghi tích lũy, trong một chiếc máy tính là nơi thực sự diễn ra các hoạt động tính toán. 16 thanh ghi sẽ mang lại cho cỗ máy sự linh hoạt chưa từng có.) Gosper sẽ há hốc miệng kinh ngạc. Anh nghĩ đó sẽ là chiếc máy tính vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới!

Khi DEC thực sự xây dựng PDP-6 và mang nguyên mẫu đầu tiên đến Dự án MAC, mọi người lập tức nhận ra rằng dù sở hữu mọi thành phần thiết yếu phù hợp với người dùng thương mại, nhưng nó đã chiếm trọn trái tim của các hacker. Cả Kotok và sếp của anh, Gordon Bell, đã sử dụng PDP-6 để phá vỡ những giới hạn từng làm phiền họ khi sử dụng TX-0. Đồng thời, Kotok cũng chăm chú lắng nghe gợi ý của các thành viên TMRC, đáng chú ý là của Peter Samson, người có công với 16 thanh ghi. Tập lệnh của nó có mọi thứ bạn cần, và kiến trúc tổng thể rất đối xứng. Mỗi thanh ghi trong 16 thanh ghi có thể được truy cập theo ba cách khác nhau, và bạn có thể làm theo các tổ hợp để có thể làm được nhiều hơn bằng cách sử dụng một câu lệnh đơn giản. Chiếc PDP-6 cũng sử dụng một “ngăn xếp”, cho phép bạn dễ dàng trộn lẫn các chương trình con, chương trình chính và các hoạt động của nó. Với các hacker, sự ra mắt của PDP-6 cùng tập lệnh vô vùng đẹp đẽ của nó đồng nghĩa với việc họ có một bộ từ vựng mới mạnh mẽ dùng để diễn đạt những thứ mà trước đó chỉ có thể được truyền tải bằng các thuật ngữ kỳ cục nhất.

Minsky để các hacker viết các phần mềm hệ thống mới cho PDP-6, một chiếc máy rất đẹp, màu xanh nước biển với ba tủ lớn, một bảng điều khiển được sắp xếp hợp lý hơn chiếc Số Một, các hàng công tắc bóng loáng và một ma trận đèn nhấp nháy. Chẳng bao lâu sau, họ đã gắn bó với chiếc máy mới này như với chiếc PDP-1. Nhưng bạn có thể làm nhiều điều hơn trên chiếc Số Sáu. Một hôm, khi các hacker cùng ngồi ở Phòng Công cụ tại TMRC để mày mò tìm cách thực hiện chương trình con in số thập phân nhằm khiến máy tính in ra các con số Ả Rập, thì ai đó đã nảy ra ý tưởng thử dùng một vài câu lệnh bóng bẩy mới trên chiếc PDP-6, tận dụng ngăn xếp. Gần như chưa có ai tích hợp các câu lệnh mới này vào mã nguồn của mình; nhưng khi chương trình in được viết lên bảng đen chỉ với một câu lệnh gọi là Push-J, trước sự sửng sốt của mọi người, toàn bộ chương trình con in số thập phân, thường sẽ chiếm một trang mã nguồn, hóa ra lại chỉ cần sáu câu lệnh. Sau đó, mọi người ở TMRC đều đồng ý rằng việc đưa Push-J vào PDP-6 chắc chắn là một Điều Đúng đắn.

Những trao đổi và tranh luận ở Phòng Công cụ thường kéo dài tới tận bữa tối, và loại đồ ăn ưa thích gần như lúc nào cũng là đồ Trung Quốc. Nó rẻ, nhiều và đặc biệt là tối muộn vẫn có thể mua. (Còn một lựa chọn dự phòng nữa là mấy món béo ngậy gần đó trên phố Main của Cambridge, bán ở tiệm F&T Diner, một toa tàu bỏ đi được sơn đỏ, mà các hacker gọi là “The Red Death” (Cái chết Đỏ). Vào hầu hết các tối thứ Bảy, hoặc dịp phát sinh vào các tối trong tuần sau 10 giờ đêm, một nhóm hacker sẽ ra ngoài, đôi khi là trên chiếc Chevy 1954 màu xanh mui trần của Greenblatt, để tới khu phố Tàu của Boston.

Đồ Tàu cũng là một hệ thống và các hacker cũng tò mò với hệ thống này hệt như với trình biên dịch LISP mới. Samson đã trở thành người cuồng đồ Tàu sau trải nghiệm đầu tiên cùng mọi người ở TMRC tới tiệm Joy Fong ở Quảng trường Trung tâm, và vào đầu những năm 1960, anh đã cố gắng học một chút tiếng Trung đủ để đọc được thực đơn và gọi món. Gosper còn ghiền những món này hơn thế; anh sẽ đi lòng vòng quanh Phố Tàu để tìm kiếm các tiệm ăn còn mở cửa sau nửa đêm, và một đêm nọ, anh phát hiện ra một hầm rượu nhỏ xinh do một gia đình nhỏ quản lý. Đồ ăn khá nhạt nhẽo, nhưng anh để ý thấy vài người Tàu đang ăn những món trông rất hấp dẫn. Vì thế, anh quyết định sẽ đưa Samson quay trở lại đó.

Họ đã quay trở lại, cầm theo các cuốn từ điển tiếng Trung và đề nghị được xem thực đơn tiếng Trung. Bếp trưởng Wong của tiệm đã miễn cưỡng chiều theo và Gosper, Samson cùng những người khác đã soi kỹ thực đơn như thể nó là tập lệnh của một chiếc máy mới. Samson dịch thực đơn và đưa ra những thông tin thú vị. Món “thịt bò hầm cà chua” trong thực đơn tiếng Anh có nghĩa đen là thịt bò cà man rợ. “Vằn thắn” có tên tiếng Trung là nốt mây. Họ đã khám phá ra những điều không tưởng trong hệ thống này! Vì thế, sau khi xác định được món thú vị nhất cần gọi (“Cánh dâm bụt nhé? Tốt hơn là gọi thử nó, để xem nó là cái gì”), họ gọi bếp trưởng Wong, và ông này đã xả một tràng tiếng Trung không chấp nhận lựa chọn của họ. Hóa ra là ông ta ngại phục vụ đồ Tàu cho họ vì cho rằng người Mỹ không thể ăn được chúng. Wong đã nhầm họ với những người Mỹ rụt rè khác – nhưng họ là những nhà thám hiểm cơ mà! Họ đã ở bên trong cỗ máy, và trải nghiệm để kể câu chuyện (họ sẽ kể nó bằng ngôn ngữ hợp ngữ). Wong phải đầu hàng. Hóa ra, đây là bữa ăn đồ Tàu ngon nhất mà các hacker từng ăn cho tới lúc đó.

Các thành viên của TMRC là các chuyên gia hack đồ Tàu giỏi tới mức cuối cùng, họ đã tìm ra các chủ tiệm ăn tốt bụng. Trong một chuyến tham quan của các hacker vào ngày Cá tháng Tư, Gosper thèm ăn một món ít được biết tới, món mướp đắng – loại quả thuôn dài màu xanh với nhiều nốt sần trên vỏ và có vị đắng gắt. Vì vài lý do mà chỉ mình anh biết, Gosper đã quyết định gọi món mướp ăn kèm với sốt chua ngọt, và còn viết yêu cầu gọi món bằng tiếng Tàu. Con gái của chủ tiệm bước ra, cười khúc khích và nói: “Em nghĩ các anh đã phạm phải một sai lầm – bố em bảo đây là món ‘mướp đắng chua ngọt.’” Gosper coi đây là một thử thách. Bên cạnh đó, anh cảm thấy bị xúc phạm khi con gái chủ tiệm thậm chí không thể đọc được tiếng Trung – điều đó đi ngược lại logic của một Hệ thống Nhà hàng Tàu hiệu quả, logic mà Gosper tôn sùng. Vì thế, dù biết việc gọi món của mình là một yêu cầu phi lý, nhưng anh đã nổi giận và nói với cô gái rằng: “Tất nhiên, nó là món mướp đắng chua ngọt – người Mỹ chúng tôi luôn gọi món này vào ngày đầu tiên của tháng Tư.” Cuối cùng, ông chủ tiệm phải ra mặt. “Các cậu không ăn được đâu!” ông ta quát. “Không ăn được! Không ăn được!” Các hacker chỉ biết tần ngần với yêu cầu gọi món của mình, còn chủ tiệm thì lẻn quay vào bếp.

Món mướp đắng chua ngọt hóa ra khiến họ phát ói như chủ tiệm đã nói. Sốt ở đây đậm đặc tới mức nếu trót hít vào khi có gì đó trong miệng, bạn sẽ phun hết ra. Kết hợp với vị đắng ngoét của mướp đắng, hai vị này tạo thành một chất hóa học bám rít vào các kẽ răng và dù có uống bao nhiêu trà hay Coca-Cola cũng không đủ để trung hòa vị đó. Với hầu hết mọi người, trải nghiệm này quả là một cơn ác mộng. Nhưng với các hacker thì đó là một phần của hệ thống. Nó không có nghĩa nhưng có logic. Đó là Điều Đúng đắn; vì thế vào ngày Cá tháng Tư hằng năm, họ đều quay lại tiệm và gọi món mướp đắng chua ngọt làm món khai vị.

Các hacker thường trò chuyện thân mật với nhau nhất trong những bữa ăn như thế này. Các tiệm đồ Tàu đã cung cấp cho họ một hệ thống bếp núc lôi cuốn và một môi trường bài trí không gian dễ dự đoán. Để tạo ra một không giạn thoải mái hơn, Gosper, một trong vài hacker bài xích khói nói chung và khói thuốc nói riêng, đã mua một chiếc quạt nhỏ chạy bằng pin. Chiếc quạt là sản phẩm của một hacker nhỏ tuổi thường lảng vảng quanh Phòng Thí nghiệm AI – trông như một quả bom nhỏ và được chế từ quạt làm mát của một chiếc máy tính đồng nát. Gosper sẽ đặt nó lên bàn để chiếc quạt thốc khói vào mặt những kẻ gây tội. Vào một dịp ở nhà hàng Lucky Garden tại Cambridge, một lính Ê-cốt vũ phu ở bàn bên cạnh đã phát điên khi chiếc quạt nhỏ thổi thốc khói thuốc xì gà của bạn gái hắn bay ngược lại. Hắn nhìn chòng chọc vào những gã MIT bẩn thỉu cùng chiếc quạt tí hin và yêu cầu họ tắt thứ chết tiệt đó đi. “Được thôi, nếu cô ấy thôi hút thuốc,” họ nói, trong lúc hắn bắt đầu đập bàn, gõ đĩa, vẩy trà khắp nơi và thậm chí còn chọc đũa vào cánh quạt. Các hacker, những người coi đánh nhau là một trong những hành vi ngu ngốc của con người, quan sát việc đó với vẻ đầy ngạc nhiên. Vấn đề nhanh chóng kết thúc khi tên lính nhận ra có một cảnh sát đang ngồi ở bên kia cửa tiệm.

Những buổi tụ tập vui vẻ như thế này thường xoay quanh các vấn đề hack khác nhau. Mọi người sẽ mang theo các bản in và trong những lúc không biết nói gì, họ sẽ lại dí mũi vào hàng tập giấy chứa các mã hợp ngữ. Đôi khi, các hacker còn thảo luận về các sự kiện trong “thế giới thực” nhưng những sự kiện này cũng phảng phất Đạo đức Hacker. Chúng đều được quy về một lỗi nào đó trong hệ thống. Hoặc một sự kiện thú vị sẽ được mổ xẻ dưới góc độ vạn vật vận hành theo quan điểm tò mò của một hacker.

Một chủ đề phổ biến trong các cuộc nói chuyện là sự thống trị đáng ghê tởm của IBM, “ông vua cởi truồng” của vương quốc máy tính. Greenblatt cảm thấy “nóng mắt” với số tiền khổng lồ đang bị lãng phí vào các cỗ máy của IBM. Vào kỳ nghỉ, Greenblatt về nhà và nhận ra phòng Khoa học của Đại học Missouri, nghe nói là chẳng có chút tiền nào, đã chi 4 triệu đô-la mỗi năm để “nuôi báo cô” một Gã Khổng lồ IBM còn lâu mới tiện lợi như chiếc PDP-6. Và nhân tiện khi nói về những thứ được đánh giá quá cao tới mức thô thiển, hệ thống chia sẻ thời gian của IBM ở MIT với chiếc IBM 7094 nằm chình ình ngay tầng 9 thì sao? Chỉ có thể nói đó quả là một sự phí phạm!

Những câu chuyện như thế có thể được thảo luận trong suốt bữa ăn. Dù vậy, chúng ta cũng cần chú ý tới những thứ mà các hacker không đề cập đến. Họ gần như không nói gì đến các vấn đề chính trị và xã hội của máy tính (ngoại trừ việc đề cập tới các sai lầm và sự ngây thơ trong quan niệm phổ biến về máy tính). Họ không nói về thể thao. Nhìn chung, họ đều giữ những cảm xúc và cuộc sống riêng tư – nếu có – cho riêng mình. Và đối với một nhóm gồm toàn những nam sinh đại học khỏe mạnh, thì chủ đề về phụ nữ, một chủ đề vốn thường phổ biến trong các nhóm như vậy, có vẻ lại ít khi được thảo luận.

Dù vài hacker có cuộc sống xã hội khá tích cực, nhưng các nhân vật chủ chốt trong nhóm TMRC-PDP thì lại tự khóa mình trong “chế độ độc thân”. Nhiều hacker rất dễ rơi vào trạng thái này do họ luôn thui thủi một mình, ngại tạo dựng các mối quan hệ xã hội. Chính sự có thể đoán biết và kiểm soát được của hệ thống máy tính – trái với tính ngẫu nhiên tới mức vô vọng trong một mối quan hệ giữa người với người – khiến hack đặc biệt cuốn hút. Nhưng có một yếu tố thậm chí còn quan trọng hơn: Các hacker có suy nghĩ rằng điện toán quan trọng hơn nhiều so với việc hẹn hò. Đó là một vấn đề về thứ tự ưu tiên.

Với họ, hack đã thay thế tình dục.

“Những người này chỉ quan tâm đến máy tính và những thứ tương tự nhiều tới mức họ chẳng có thời gian [cho phụ nữ],” Kotok cho biết. “Và khi đứng tuổi hơn, họ đều có suy nghĩ cho rằng rồi một ngày nào đó, sẽ có một người phụ nữ đột nhiên từ trên trời rơi xuống, chỉ tay vào họ và nói: Tôi chọn anh kia!” Trường hợp của Kotok có phần giống thế, đó là khi anh sắp bước sang tuổi 40. Điều đó có nghĩa là các hacker thường hành xử như thể tình dục không tồn tại. Họ chẳng đoái hoài gì đến một phụ nữ xinh đẹp nào đó ở bàn kế bên trong quán ăn Tàu, bởi “khái niệm phụ nữ đẹp không tồn tại trong từ điển của chúng tôi”, hacker David Silver giải thích. Khi một phụ nữ bước vào cuộc đời của một hacker nghiêm túc, người ta có thể xì xào kiểu: “Có chuyện xảy ra với người này, người kia… gã đó đã chĩa mũi ngay vào…” Nhưng nhìn chung, những điều như thế cũng không đáng khinh lắm vì mọi chuyện đã rồi. Bạn không thể để ý đến những người có thể ngã bên lề đường, bởi bạn còn mải quan tâm đến việc quan trọng nhất thế giới – hack. Hack không chỉ là nỗi ám ảnh hay và thú vui mãnh liệt mà còn là một sứ mệnh. Bạn sẽ hack, sống với Đạo đức Hacker, và biết rằng những chuyện gây lãng phí và chẳng đâu vào đâu như phụ nữ sẽ “đốt cháy quá nhiều chu trình và chiếm quá nhiều dung lượng bộ nhớ”. “Thậm chí cho tới ngày nay, phụ nữ vẫn thuộc diện khó đoán và biến hóa khôn lường,” một hacker PDP-6 sau gần hai thập kỷ cho hay. “Làm sao một hacker có thể chịu đựng được một sinh vật kém hoàn thiện như thế chứ?”

Có lẽ tình hình sẽ khác nếu có nhiều phụ nữ quanh TMRC và tầng 9 hơn – cũng chẳng có mấy người ở quanh đây chịu hẹn hò cùng các hacker. (“Họ tìm ra chúng tôi,” một hacker cho hay.) Không có quá nhiều phụ nữ như vậy bởi những người ngoại đạo, dù là nam hay nữ, thường lảng tránh nhóm: Các hacker nói chuyện rất kỳ lạ, sinh hoạt theo giờ giấc kỳ lạ, ăn những đồ ăn kỳ lạ và dành mọi thời gian họ có cho máy tính.

Vì thế, các hacker đã hình thành một thứ văn hóa nam giới đặc biệt. Có một sự thật đáng buồn là chưa từng có một nữ hacker nào đạt đến đẳng cấp ngôi sao. Không ai biết lý do. Có các nữ lập trình viên và một vài người khá giỏi, nhưng có vẻ như không ai coi hack là lẽ sống như Greenblatt, Gosper và những người khác. Dù nền văn hóa này có thiên kiến đáng kể đối với những phụ nữ nghiêm túc với điện toán, cũng không ai có thể lý giải nổi sự vắng bóng tuyệt đối của các nữ hacker. “Thiên kiến văn hóa có mạnh mẽ thật đấy, nhưng chưa tới mức đó,” Gosper kết luận và quy hiện tượng này cho những khác biệt về gen hay “phần cứng” theo cách gọi của giới hacker.

Trong bất kỳ trường hợp nào, chuyện phụ nữ tham dự các chuyến đi tới tiệm ăn Tàu hoặc các phiên làm việc trong Phòng Công cụ cùng TMRC là điều rất hiếm xảy ra. Một cách tự nhiên, họ không cần phải chỉn chu nhất có thể. Greenblatt có lẽ đã đẩy điều này tới giới hạn. Anh tham gia vào vài dự án rất lớn hồi giữa những năm 1960 và mải miết với chúng tới mức những thói quen cá nhân của anh trở thành vấn đề quan ngại với các hacker khác.

Sau khi bỏ học, Greenblatt làm việc tại Charles Adams Associates, một công ty đang trong quá trình mua và lắp đặt một chiếc PDP-1. Greenblatt làm việc ở các văn phòng của họ gần “Đại lộ Công nghệ” của Boston bên ngoài thành phố vào ban ngày và lái xe về MIT, cách đó 30 dặm sau giờ làm để hack vào ban đêm. Lúc đầu, anh chuyển từ phòng ký túc tới Cambridge YMCA nhưng họ đã sớm đuổi anh đi chỉ vì ở bẩn. Sau công việc tại Charles Adams Associates, Greenblatt được Phòng thí nghiệm AI thuê lại và dù có cuộc sống khá ổn định – anh thuê một căn nhà ở Belmont từ một vợ chồng nha sĩ đã về hưu – anh vẫn thường ngủ võng tại tầng 9. Sự sạch sẽ rõ ràng không phải là ưu tiên của anh, bởi có hàng tá câu chuyện về sự mất vệ sinh nổi tiếng của anh. (Sau này, Greenblatt còn khăng khăng là anh cũng “không đến nỗi bẩn” so với vài người khác.) Một số hacker nhớ lại, vì bận hack mà Greenblatt rất lười tắm, và do đó, người anh bốc mùi rất nặng. Ở Phòng Thí nghiệm AI, mọi người còn đùa rằng có đơn vị khoa học đo mùi mới được gọi là milliblatt 25 . Họ còn nói thêm rằng để giảm số milliblatt, các hacker đã đưa Greenblatt tới một nơi trong hành lang của Tòa 20, nơi có vòi phun cứu hỏa đề phòng các trường hợp cháy nổ do các chất hóa học gây ra, rồi mở van nước hết cỡ.

25 Trêu đùa theo tên của Greenblatt. (ND)

Đôi khi Gosper cũng cố gắng thay đổi các thói quen cá nhân của Greenblatt, bởi anh đặc biệt khó chịu với thói quen miết hai bàn tay vào nhau của Greenblatt tạo thành những vụn ghét. Khi Greenblatt làm việc ở bàn của Gosper và để lại các vụn ghét này, Gosper lại thấy việc lau chùi cả khu vực bằng a-mô-ni-ắc là điều cần thiết. Đôi khi, Gosper sẽ trêu chọc Greenblatt vì cách diễn đạt kỳ lạ, thói quen hắng giọng, khả năng đánh vần cực kém và những lúc lẩm bẩm của anh – dù nhiều diễn đạt của Greenblatt được cho là một phần ngôn ngữ đặc biệt mà tất cả các hacker đều sử dụng ở một mức độ nào đó. Chẳng hạn, có lẽ chính Greenblatt đã phổ biến việc lặp từ để nhấn mạnh – như những lần anh nhanh chóng giải thích điều gì đó với Gosper, Kotok và Samson, khi đó, lời nói của anh cứ xoắn lại, rồi anh sẽ thở dài và nói rằng: “Ờ, thôi quên đi, quên đi” và bắt đầu lại từ đầu. Gosper và những người khác sẽ cười phá lên – nhưng giống như cách mà một gia đình yêu quý cách nói chuyện cùng các tật dùng từ dễ thương của những đứa con. Cộng đồng vẫn luôn chấp nhận một Greenblatt rất riêng như thế, kiểu Greenblattisms 26 .

26 Chủ nghĩa Greenblatt, ý chỉ cách dùng từ và điệu bộ của anh. (ND)

Bất chấp các đặc điểm cá nhân kỳ lạ này, các hacker vẫn rất nể phục Greenblatt. Anh luôn là chính mình nhờ vào các ưu tiên có ý thức: Anh là một hacker chứ không phải một người giỏi giao tiếp, và với anh, chẳng có thứ gì hữu ích hơn hack. Nó choán trọn thời gian của anh tới mức đôi khi anh còn quên cả việc lấy tiền lương ở MIT suốt sáu tháng trời. “Nếu Greenblatt ngồi đâu đó và cố nói rõ những điều mình nghĩ và làm thì anh ấy sẽ chẳng hoàn thành nổi thứ gì,” Gosper cho hay. “Nếu lo lắng về cách đánh vần mọi thứ, anh ấy sẽ chẳng viết được thứ gì. Greenblatt làm điều mà mình giỏi nhất. Anh ấy là một “con chiên” của chủ nghĩa thực dụng. Anh ấy chẳng màng đến suy nghĩ của mọi người. Nếu ai đó cho rằng anh ấy là một kẻ đần độn hay mọt sách thì đó là vấn đề của họ. Một vài người nghĩ như thế và họ đã nhầm.”

Gosper trân trọng sự chuyên tâm của Greenblatt bởi nỗ lực tốt nghiệp (năm 1965) đã gây khó khăn cho chính anh. Không phải năm cuối của anh ở MI là một thảm họa học hành, mà bởi anh đã phải xoay xở để cố đáp ứng vừa đủ các yêu cầu tốt nghiệp. Một phần vấn đề có liên quan đến thỏa thuận của anh với Hải quân Hoa Kỳ. Trước khi vào MIT, anh đã thực hiện một bài kiểm tra nghĩa vụ công dân và đạt thành tích cao tới mức được tham gia một chương trình phát triển kỹ thuật đặc biệt. Anh đã làm việc cho Hải quân vào các mùa hè, và tổ chức này đã chi trả một nửa học phí, đồng thời yêu cầu anh cam kết làm việc cho họ trong ba năm sau khi tốt nghiệp. Thỏa thuận này bao gồm một điều khoản thả lỏng cho phép Gosper trì hoãn cam kết nếu tiếp tục học sau đại học; hoặc có một tập toàn nào đó đồng ý chi trả toàn bộ 3.000 đô-la mà Hải quân đã đầu tư vào Gosper, thì giữa họ sẽ không còn ràng buộc nào nữa. Nhưng sau hai đến ba năm học đại học, cánh cửa sau đại học đã đóng lại trước mắt anh. Chỉ có khoản tiền đầu tư nào đó mới cứu được anh, mà anh cũng chẳng có tiền.

Viễn cảnh phải gia nhập Hải quân thật đáng sợ. Trong suốt thời gian làm việc vào mùa hè, anh đã tiếp xúc với một hệ thống thảm hại đối lập với Đạo đức Hacker. Các lập trình viên bị nhốt trong một căn phòng hoàn toàn tách biệt với cỗ máy; đôi khi, để thưởng cho nhiều năm trời phục vụ, họ sẽ cho phép một nhân viên vâng lời nào đó vào thám hiểm phòng máy và được tận mắt chứng kiến chương trình chạy. (Chuyện kể rằng có một phụ nữ đã được trao đặc ân này, và khi nhìn thấy các bóng đèn loang loáng cùng tiếng vo vo của các ổ đĩa, cô ấy đã ngất xỉu.) Thêm vào đó, vị sếp Hải quân của Gosper là người không thể hiểu nổi tại sao logarith của các tổng trong một phương trình cho trước lại không bằng tổng của các logarith. Không đời nào Bill Gosper lại chịu làm việc dưới trướng của một người như vậy.

Sau đó, Gosper biết được rằng Hải quân làm việc trên máy tính Univac 27 . Anh coi Univac là thứ hàng nhái kệch cỡm của một chiếc máy tính, một gã to xác. Anh phát hiện ra về cơ bản, Hải quân đã biết đó là một cỗ máy dỏm nhưng vẫn dùng nó – đó là ví dụ kinh điển về kết quả bị bóp méo khó tránh khỏi của sự quan liêu của Thế giới Bên ngoài. Sống chung với chiếc máy đó chẳng khác nào chìm sâu dưới địa ngục. Gosper đã sử dụng máy tính để tìm kiếm những thứ mà chưa ai từng thấy trước đó, và cỗ máy mà anh dùng cần phải tối ưu trong mọi khía cạnh. Chiếc PDP-6 là thứ tốt nhất anh từng biết tới lúc đó. Gosper quyết định không rời xa nó, nhất là để đến với chiếc Univac “cùi bắp”. “Nếu thấy một chiếc máy có vấn đề gì đó thật ngớ ngẩn, một lỗi thiết kế hay bất kỳ điều gì tương tự thế, tôi sẽ vô cùng khó chịu,” Gosper giải thích. “Trong khi đó, chiếc PDP-6 lại luôn cho thấy nó là một cỗ máy vô cùng hoàn hảo. Nếu có vấn đề gì đó không ổn, bạn có thể thay đổi nó. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta đã sống bên trong cỗ máy chết tiệt. Nó là một phần môi trường của chúng ta. Gần như có cả một xã hội trong đó… Tôi không thể tưởng tượng ra việc sống mà không có một chiếc PDP-6.”

27 Univac là máy tính kỹ thuật số điện tử được sản xuất thương mại đầu tiên trên thế giới. Những chiếc máy tính khổng lồ này sử dụng hàng nghìn ống chân không để tính toán và là tiền thân của các máy tính kỹ thuật số ngày nay. (BTV)

Gosper quyết định kiếm tiền để trả lại cho Hải quân bằng cách làm việc cho một công ty có chiếc PDP-6. Anh đã đáp ứng được các điều kiện cứng nhắc này bằng cách làm việc với hãng mà Greenblatt từng làm việc hồi năm ngoái,Charles Adams. Việc công ty Adams chưa bao giờ làm điều đúng đắn với chiếc PDP-6 của họ (Greenblatt khăng khăng rằng anh đã hoàn thành đầy đủ phần việc chuẩn bị của mình) dường như không khiến Gosper buồn bã: Điều khiến anh khó chịu là Charles Adams đã loại bỏ dự án và mua một chiếc Univac Khổng lồ giống với chiếc của Hải quân.

Nhưng vào thời điểm đó, Dự án MAC được bổ sung quỹ và Bill Gosper đã tìm ra cách để được trả lương. Anh phải chật vật thay đổi các thói quen của mình, do trong suốt thời gian ở Adams, đêm nào anh cũng làm việc trên chiếc PDP-6 ở tầng 9.

☆ ☆ ☆

Lúc đó, Greenblatt đang chú tâm vào công việc hack. Một trong các dự án đầu tiên mà anh làm việc trên chiếc PDP-6 là một trình biên dịch LISP, cho phép máy tính chạy phiên bản mới nhất và tiện lợi nhất của ngôn ngữ AI do John McCarthy tạo ra. Cậu chàng Peter Deutsch đã viết một chương trình LISP cho PDP-1 nhưng không thực sự hiệu quả do chiếc Số Một có ít bộ nhớ hơn; và LISP, thứ hoạt động bằng các biểu tượng chứ không phải các con số dễ dàng được dịch thành hệ nhị phân, đã tiêu thụ khối dung lượng khổng lồ.

Một số người, nhất là Gosper, cho rằng LISP chỉ làm tốn thời gian trên PDP-6 mà thôi. Gosper đã luôn quan ngại với thứ mà anh coi là sự thiếu hụt năng lực điện toán trong những ngày ấy, và sau đó, anh sẽ tỏ vẻ ngạc nhiên về sự ngu dốt của họ ở Phòng Thí nghiệm AI khi cố gắng thực hiện những tác vụ bất khả thi và đổ lỗi những thất bại lên đầu chính mình chứ không phải cho những cỗ máy tầm thường họ đã có. Trong năm cuối đại học, Gosper đã được Minsky cho làm việc trên một màn hình để kiểm thử xem một hiện tượng trực quan nhất định có thể nhìn bằng một mắt hay hai mắt. Gosper cố gắng đến gần một hình cỏ ba lá thông minh, thứ ít nhất đã hiển thị được hiện tượng đó, nhưng nhìn chung anh đã nỗ lực trong vô vọng khi cố gắng khiến cho cỗ máy phải làm được nhiều hơn khả năng của nó. Một trong các tác vụ mà Gosper coi là bất khả thi là một chương trình LISP hữu dụng trên chiếc PDP-6 – nó có thể là một thang đo biểu tượng đẹp đẽ nhưng vô dụng. Anh coi đó là một trong những hành động điên rồ của Minsky mà Greenblatt và những người khác đã bị lừa triển khai.

Nhưng Greenblatt đã thấy nhiều điều hơn thế. Dù thấy LISP trên PDP-6, một bản hack mở rộng, không hoàn toàn căn cứ vào thực tế, nhưng anh đã nhìn ra nhu cầu mà nó tạo ra. Đó là một ngôn ngữ mạnh mẽ sẽ giúp cho lĩnh vực AI phát triển: Thứ ngôn ngữ mà qua đó máy tính sẽ thực hiện được các tác vụ vô cùng khó, và là thứ mà họ có thể thực sự học hỏi được. Sau đó, Greenblatt bắt đầu đưa ra một tầm nhìn nhất định về tương lai, một ý niệm mơ hồ về hoạt động triển khai mang tính kỹ thuật cho giấc mộng hacker. Vì thế, anh và vài người khác – cả Kotok đến từ DEC – đã bắt đầu triển khai LISP trên PDP-6. Họ điền kín các tấm bảng đen ở TMRC bằng tầng tầng lớp lớp mã và cuối cùng đã triển khai nó trên máy.

Các phần cốt yếu được Greenblatt và một hacker khác viết. Số lượng người “Đúng đắn” trong một dự án là hai/ba người – ít hơn nhiều so với cái gọi là phong cách “sóng người” của IBM khi nhét hàng tá lập trình viên vào một vấn đề và tạo ra cả đống đồng nát. Dựa vào hai/ba người hữu dụng hơn nhiều so với cả đội quân – sao cho khi một người kết thúc pha 30 giờ của anh ta thì ai đó khác sẽ đến và tiếp tục hack, giống như chạy tiếp sức.

Với PDP-6 MacLISP (tên dành cho Dự án MAC), các hacker bắt đầu tích hợp ngôn ngữ máy tính đó vào các chương trình và vào cả các cuộc trao đổi của họ. Chẳng hạn, LISP quy ước sử dụng chữ “p” làm hậu tố là cảm hứng cho phong cách đặt câu hỏi của các hacker nói chung. Khi ai đó hỏi “Đồ ăn – P?” thì bất kỳ hacker nào cũng hiểu là họ muốn kiếm thứ gì ăn hay không. Thuật ngữ LISP “T” và “nil” được dùng tương ứng cho “có” và “không”. Sự chấp thuận của LISP không làm giảm bớt tình yêu của hacker đối với hợp ngữ, đặc biệt là tập lệnh tao nhã của PDP-6. Nhưng như Greenblatt và thậm chí là Gosper sau này nhận ra, LISP là một trình xây dựng hệ thống mạnh mẽ hoàn toàn khớp với Đạo đức Hacker thực hành.

DEC bày tỏ sự quan tâm với MacLISP và Kotok đã sắp xếp cho Greenblatt cùng những người khác tới Maynard vào đêm muộn để nghiên cứu chương trình, gõ mã nguồn của họ và gỡ lỗi cho nó. Tất cả đều là sự sắp đặt dễ dàng giữa MIT với DEC, và không ai nghi ngờ điều đó. Điều Đúng đắn cần làm là đảm bảo rằng bất kỳ chương trình tuyệt vời nào cũng đều được tiếp cận đầy đủ nhất có thể, bởi thông tin là miễn phí và thế giới sẽ chỉ được cải tiến nhờ dòng chảy xiết của nó.

Sau khi làm việc trên MacLISP, có lẽ Greenblatt là người có thẩm quyền nhất trong số các hacker hệ thống trên PDP-6. Quản trị viên mới của Phòng Thí nghiệm AI, một thanh niên đến từ Southwest có tên Russell Noftsker, đã thuê Greenblatt duy trì và cải thiện sự sáng tạo hữu cơ của hệ điều hành máy tính. Nhưng tầm nhìn của Greenblatt không dừng ở các hệ thống; anh bị cuốn hút mạnh mẽ bởi các khái niệm của trí tuệ nhân tạo. Anh quyết định sử dụng hệ thống để thực sự làm điều gì đó trong vương quốc này và vì đã là một cờ thủ, nên tất nhiên anh sẽ nghiên cứu một chương trình chơi cờ vua, thứ sẽ vượt xa nỗ lực của Kotok và cả các dự án cờ vua AI khác đang được triển khai tại các phòng thí nghiệm khác nhau trên cả nước.

Giống như các hacker tài giỏi khác, anh không mất nhiều thời gian để nhanh chóng bắt tay vào việc. Không ai yêu cầu anh phải đưa ra đề xuất. Anh cũng không quan tâm tới việc thông báo cho cấp trên. Chẳng có kênh nào để thông qua vì trong khoảng giữa những năm 1960, khi Phòng Thí nghiệm AI mới đi vào hoạt động, bản thân hacker chính là các kênh. Chính Đạo đức Hacker là thứ “cầm cân nảy mực” và Greenblatt đã tận dụng tối đa điều này.

Anh đã xem một ván cờ mà chương trình của Kotok chơi và nghĩ nó thật vớ vẩn. Về cơ bản, những gã này không biết chơi cờ. Mê mẩn trước việc một chiếc máy tính có thể chơi cờ, họ đã quên khuấy rằng mục tiêu của trò chơi là ăn các quân cờ của đối phương. Chương trình của Greenblatt sử dụng các kỹ thuật AI phức tạp để thử và tìm ra các nước đi phù hợp với các điều kiện nhất định mà anh coi là chơi tốt. Cùng với bộ đôi hacker khác, Greenblatt lại triển khai viết mã chớp nhoáng. Anh tìm cách để có bốn giờ trên chiếc PDP-6 mỗi ngày, và tiếp tục viết mã ngoại tuyến khi không ngồi máy. Anh đã khiến chương trình thực sự chơi được cờ chỉ trong một tuần. Chương trình đã được gỡ lỗi, bổ sung các tính năng và về cơ bản, đã hoạt động sau đó vài tháng. (Cuối cùng, Greenblatt nhận được đề nghị cấp bằng MIT nếu chịu viết luận văn về chương trình cờ vua của anh; nhưng anh lại từ chối.)

Có một bản ghi nhớ nổi tiếng của Rand Corporation mang tên “Alchemy and Artificial Intelligence” (tạm dịch: Thuật giả kim và Trí tuệ Nhân tạo) đã được lưu truyền khắp MIT hồi năm 1965. Tác giả của nó, học giả Herbert Dreyfus, đã phê phán lĩnh vực này và các nhà tiên phong của nó. Với các hacker, lời chỉ trích của ông ta vô cùng nguy hiểm, bởi máy tính là mô hình ngầm định cho hành vi của họ, ít nhất là trong các lý thuyết về thông tin, sự công bằng và hành động của họ. Dreyfus lại tập trung vào cấu trúc giới hạn đến lố bịch của máy tính (khi so với cấu trúc của não người). Đòn ân sủng 28 của ông ta là sự quả quyết lỗ mãng rằng không một chương trình máy tính nào có thể chơi cờ giỏi tới mức đánh bại một đứa trẻ lên 10.

28 Một thuật ngữ được sử dụng để chỉ cái chết gây ra cho một người hoặc một vật bị thương để rút ngắn đau đớn coi như một cái chết nhân đạo. (BTV)

Sau khi Greenblatt hoàn thành chương trình cờ vua mang tên MacHack, MIT đã mời Dreyfus đến chơi cờ với PDP-6. Các hacker tập trung xung quanh để xem đại diện máy tính của Richard Greenblatt chơi cờ với đối thủ phản đối máy tính, đeo kính, có mái tóc đỏ, dáng người gầy gò và vênh váo này ra sao. Nhà tiên phong về AI, Herbert Simon, người quan sát ván cờ, nói rằng:

… một cuộc phiêu lưu thực sự. Đó là hai người chơi… đang đấu đá nhau… Dreyfus đã bị đánh cho tơi bời, sau đó anh ta đã phát hiện ra một nước đi đáng lẽ có thể bắt được quân hậu của đối phương. Cách duy nhất để đối thủ có thể thoát ra khỏi tình huống này là liên tục chiếu Dreyfus bằng quân hậu của mình cho tới khi có thể chia tách quân vua và quân hậu và trao đổi chúng. Chương trình đã tiếp tục chính xác như vậy. Ngay sau khi nó làm được việc đó, Dreyfus chỉ còn vài quân và rồi bị chiếu ngay giữa bàn.

Sau này, Peter Samson nhớ lại cảnh tượng ngay sau thất bại của Dreyfus: kẻ chiến bại hoang mang nhìn các giáo sư MIT và hacker tụ tập quanh đó, bao gồm người chiến thắng Greenblatt. Sao họ không ăn mừng, vỗ tay hay giày vò mình? Đó là vì họ đã biết. Dreyfus là một phần của “thế giới thực” đó, vốn không thể cảm nhận được bản chất tuyệt vời của máy tính, hay có cảm giác gần gũi với máy tính tới mức một chiếc PDP-6 có thể thực sự trở thành môi trường của bạn. Đây là điều mà Dreyfus sẽ không bao giờ biết được. Thậm chí cả Minsky, người chưa bao giờ thực sự đắm chìm 7 ngày trong tuần, 30 giờ mỗi ngày bên máy tính, cũng chưa bao giờ được nếm trải thứ cảm giác mà các hacker đã kinh qua. Các hacker, những người như Greenblatt và Gosper, chắc hẳn đã từng ở đó, biết cảm giác đó như thế nào và quay trở lại đó – tạo ra, tìm cách giải quyết mọi việc, khiến thế giới của họ trở nên khác biệt và tốt hơn. Để thuyết phục những kẻ hoài nghi, mang thế giới bên ngoài vào vòng bí mật, cải đạo sang Đạo đức Hacker – chẳng gì sánh bằng việc đắm mình trong thế giới ấy.

« Lùi
Tiến »