HAI CÕI NGƯỜI TA

Lượt đọc: 625 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Ba
Chương 8

Người chết vẫn không ngừng giao tiếp với người sống.

— THOMAS HARDY

Vào những đêm không phải làm việc ở mỏ đá, Az Thompson dành hàng giờ liền phân tích mớ sự kiện lùng nhùng trong trí óc. Cứ thử sống trọn một thế kỷ đi thì người ta tự nhiên sẽ biết rất nhiều thứ, như cách xác định phương hướng bằng ánh sao, nên an ủi bà quả phụ đang đau đớn như thế nào, gấu trú ẩn ở đấu suốt mùa đông. Ẩn giấu sau mớ lùng nhùng ấy là hàng loạt sự thật trần trụi, ví dụ như thứ bạn truyền cho con không phải là huyết thống mà là lòng dũng cảm. Ví dụ như bạn có thể tìm thấy tình yêu ở những nơi không ngờ đến nhất - tới những hòn đá dọc vùng nước nông trên sông, dưới đáy cái tô chứa đầy đậu đã lột vỏ. Tình yêu còn xuất hiện ngay lúc bạn chẳng hề mong đợi.

Đám bác sĩ gọi đó là chứng mất ngủ, nhưng Az tự biết bệnh mình. Ông không ngủ để không phải tỉnh dậy và tự hỏi vì sao đêm qua mình chưa chết. Ông đã đọc về những vị vua Ai Cập, cũng như Ponce de León và Tithonus, bọn họ đã cố gắng để trường sinh bất tử như thế nào. Nhưng cuộc sống vô tận có gì tốt khi bạn sống lâu hơn tất cả mọi người mà bạn yêu thương? Khi bạn chứng kiến cơ thể mình rã rời từng chút một như chiếc ô tô gỉ sét, dù trí óc vẫn minh mẫn thì có gì hay? Một lũ ngu với mớ thuốc trường sinh và ngôi mộ bằng vàng ròng… ông lắc đầu nghĩ bụng, Hãy nghĩ cho kỹ trước khi ước nguyện điều gì.

Dù mệt rũ rượi nhưng Az chẳng buồn nằm xuống giường. Ông lặng ngắm từng giọt mưa rơi trên mái lều như đang thưởng thức một đoạn phim xưa. Sau bốn tiếng nữa, mặt trời sẽ mọc và ông vẫn còn ở đây.

Đột nhiên ông nghe thấy tiếng khóc. Âm thanh ấy như đồng thời phát ra từ khu rừng và tận sâu bên trong Az, như một cơn đau nhói hơn là âm thanh. Ông tự hỏi mình có thể quăng cảm xúc ra xa để nó dội lại như người ta nói tiếng bụng hay không.

Đó… lại là âm thanh đó.

Đó không phải tiếng sấm. Âm thanh quá trầm so với tiếng trẻ con, lại quá khan so với tiếng phụ nữ. Ồ không, đó là tiếng kinh cầu hồn cho một người đàn ông đã mất đi quá nhiều thứ đến nỗi không tìm được chính mình. Ai đó… có lẽ giống ông chăng.

Az thở dài. Ông chẳng hề tin mấy chuyện tâm linh vớ vẩn. Thứ ấy chỉ dành cho đám nửa mùa thích sắm vai thổ dân. Nhưng Az biết quá khứ có thể lặp lại qua nhiều hình thái khác nhau, từ tiếng cú the thé đến ánh mắt soi mói của người lạ mặt dõi theo ông suốt dọc đường. Và ông hiểu rõ hơn ai hết quay lưng với quá khứ chỉ khiến người ta càng thêm mù quáng.

Nhưng nói lại thì vẫn có người trượt ngã trong đêm tối và khiến mình bị thương.

Dù sao đi nữa, Az mệt mỏi nghĩ, cũng phải đi xem thử thôi.

Ross ngồi trong lều, quấn cái chăn hiệu Hudson Bay của Az Thompson. Quần áo anh dính đầy bùn đất. Tóc ướt nhẹp nhỏ nước vào mắt khi anh nhấp một ngụm cà phê hòa tan mà ông lão vừa pha bằng bếp lò chạy pin. Anh không ngừng run rẩy nhưng không phải do ướt lạnh, mà vì một người phụ nữ với hương hoa hồng. Một người phụ nữ mà - anh cố lắm mới dám thừa nhận - anh đem lòng yêu thương. Một người phụ nữ không còn tồn tại trên cõi đời này.

“Anh không sao chứ?” Az dò hỏi.

Anh trông như mới gặp ma vậy.

Ross không tài nào trả lời được. Anh cúi đầu nhấp một ngụm cà phê nóng đến bỏng rát. Cảm giác đau đớn khiến nước mắt trào ra.

Anh đã thấy làn da cô trở nên trong mờ, và hàng cây trở nên sắc nét hơn Lia. Anh đã thấy vẻ bàng hoàng trên gương mặt cô ấy khi nhận ra tên mình trên bia mộ. Cô ấy cũng chẳng biết gì nhiều hơn Ross. Ross, một người chuyên nghiên cứu tâm linh, anh hiểu quỷ dữ sẽ toát ra mùi thối rữa, anh biết chuyện có con yêu tinh hút lấy sinh lực của một cô bé, nhưng anh chẳng hề ngờ rằng một con ma có thể hôn đáp lại mình.

Hồn ma không phải là hiện tượng thường gặp. Họ là những người vì lý do nào đó vẫn còn một chân vướng bận ở thế giới này và không thể bỏ đi được. Ross đã nghe Curtis Warburton kể về những hồn ma quay về trả thù, và cũng có những hồn ma quay lại vì quên trả hóa đơn tiền điện. Ross nhớ mãi những câu chuyện Curtis kể về những hồn ma quay lại vì tình yêu mà họ đã bỏ lại.

Có khi nào hồn ma quay trở về vì một tình yêu chưa từng gặp gỡ?

Cái giường kêu lên cót két khi Az ngồi xuống. Ông siết tay và nhìn chằm chằm vào Ross bằng đôi mắt đen nóng rực. “Anh có muốn tâm sự về chuyện đó không?” Az khẽ hỏi.

Ross lắc đầu. Anh không thể nói ra. Từng câu chữ, từng ký ức: đó là tất cả những gì anh có được từ cô ấy.

Eli đợi trên ghế bành trong lúc Shelby Wakeman đang thay quần áo trên lầu. Lúc đầu anh ngồi phía bên trái, sau đó lại e ngại tư thế mình ngồi gác tay coi bộ thoải mái quá, nên đành dịch ra giữa ghế. Tay anh cứ vặn vẹo cái mũ đồng phục cho đến khi cô bước vào phòng và khiến anh ngừng thở.

“Tôi xin lỗi; Tôi thường không dám mở cửa nếu chưa điểm trang.”

“Sao cơ?” Eli nuốt nước miếng. “Điểm… cái gì?”

“Ý là trang điểm cẩn thận.” Shelby ngồi xuống ghế đối diện Eli, vén tóc ra sau tai và nhoẻn miệng cười ngượng ngùng. “Anh chắc là Ross… không gặp rắc rối chứ?”

“Không hề có rắc rối nào với tôi,” Eli trấn an cô. Cô cũng như bất cứ ai thấy cảnh sát viếng nhà mình giữa đêm khuya đều nghĩ đến trường hợp xấu nhất. Nếu Eli suy nghĩ cẩn thận, lẽ ra anh phải đợi đến sáng mai. Nhưng anh quá phấn khích với manh mối vừa sáng tỏ dựa trên bản xét nghiệm DNA đến mức cần phải tìm đến ai đó giúp anh kết nối từng tình tiết lại với nhau. DNA của Sói Xám không hề có trên sợi dây thòng lọng, nhưng điều đó không đủ để loại trừ khả năng ông ta là kẻ giết người. DNA của Spencer Pike dính trên sợi dây cũng không đủ là chứng cứ kết tội. Câu hỏi đặt ra chính là ai sát hại Cissy Pike? Cô ấy có phải là nạn nhân duy nhất trong đêm đó hay không?

Eli cố nhẩm đi nhẩm lại mấy ý đó, và tự nhủ lý do xui khiến anh đến đây chẳng hề liên quan đến việc Shelby Wakeman cứ phảng phất trong tâm trí anh suốt ba tuần qua. Cơ thể cô ấy thơm mùi táo, giống mùi hương lan tỏa khắp phòng anh sau khi mơ về cô. Ngoài đời cô ấy còn xinh đẹp hơn. Trước khi kịp nhận ra, anh vươn tay về phía cô, rồi giật mình kìm lại.

Eli hắng giọng. “Tôi, e hèm, tôi cho rằng em trai cô đang nắm vài thông tin hữu ích cho một vụ án.”

Cô lắc đầu. “Chắc không đâu. Ross ít khi ra ngoài lắm, còn dạo gần đây cậu ấy ra ngoài làm việc mà.”

“Săn ma,” Eli đáp.

“Đúng vậy.” Shelby ngước mặt lên. “Chắc anh nghĩ cậu em tôi bị điên chứ gì.”

Eli dợm gật đầu. Anh không tài nào tưởng tượng nổi có ai đó lại dành cả đời người tìm kiếm một thứ chỉ tồn tại trong tưởng tượng. Nhưng lúc nhìn vào đôi mắt màu xanh biển và chiếc cằm thon của cô, anh tưởng như từng tấc da trên người tê dại. “Tôi không biết mình nên nghĩ sao nữa,” anh chống chế.

Một luồng nhiệt bốc lên mặt Shelby. Cô vụt đứng dậy, loay hoay đẩy ô cửa sổ đang kẹt, trong miệng lầm bầm than phiền khí trời oi ả. “Để tôi,” Eli nói và bước đến giúp cô một tay. Hai người đứng cạnh nhau bên khung cửa sổ, vai kề vai. Eli huých mạnh cánh cửa sổ, ngọn gió mát mẻ lùa vào như tách hai người ra.

“Cảm ơn.”

Eli nhìn cô. “Không có gì.”

Dù Eli định nói gì - lúc ấy chắc anh cũng chẳng phát âm nổi tên mình - thì cũng đành chịu vì tiếng bước chân lộp cộp vọng từ trên lầu. “Tôi xin lỗi. Tôi không biết có người ngủ trên lầu.”

“Ethan vẫn chưa ngủ,” Shelby trả lời khi thấy cậu nhóc bước vào phòng. Cậu bé nhỏ con, gầy teo nhưng lại mặc quá nhiều áo quần. Cái mũ che khuất đôi mắt cậu bé và chỉ để lộ nửa khuôn mặt, nhưng Eli vẫn nhìn thấy làn da trắng như sứ. Một tay cậu bé đang băng bó, tay còn lại phồng rộp lên như vừa bỏng nước sôi. Cậu bé thừa hưởng nụ cười thẹn thùng giống mẹ.

“Ethan, con ra ngoài chơi đi,” Shelby ra lệnh.

“Nhưng trời đang mưa…”

“Tạnh mưa rồi. Đi đi.” Cô chờ đến khi cửa đóng và tiếng ván trượt ma sát chói tai trên đường rồi mới quay lại nhìn Eli, hai tay khoanh trước ngực. Trông cô như một người phụ nữ khác hẳn với vài phút trước đây. “Đấy là con trai tôi.”

Eli lặng nhìn móng tay cô bấu chặt vào cánh tay. Tư thế cứng nhắc đến mức tưởng như người cô ấy có thể gãy làm đôi.

“Anh cho là nó không bình thường chứ gì,” cô buộc tội.

Anh muốn đưa tay vuốt dọc lưng cô ấy. Anh muốn nắm chặt tay cô, để cô thả lỏng lần nữa. “Thực ra thì,” Eli đáp, “tôi chỉ đang nghĩ cậu bé thật giống cô.”

• • •

Âm thanh tròn trĩnh như hạt đậu, nhỏ xíu như hòn sỏi cứ vang lên trong đầu Spencer Pike. Dù có chặn bao nhiêu cái gối lên đầu, ông vẫn nghe thấy tiếng trẻ con khóc vang, Spencer quằn quại, cào cấu tai mình đến nỗi máu bật ra thấm xuống cổ áo pi-ja-ma.

“Ông Pike! Lạy Chúa. Tôi cần trợ giúp ngay! cô y tá hét vào bộ đàm.

Cần đến hai người điều dưỡng mới trói được tay Spencer vào hai bên giường. Cách xử lý này cũng từng được áp dụng với Joe Gigapoulopous, gã đàn ông bị chứng hoang tưởng đến mức thỉnh thoảng lại tự gặm cắn ngón tay mình. “Đứa bé,” Spencer thở hổn hển trong lúc y tá đang sát trùng mấy vết cào sâu hoắm quanh tai. “Vứt đứa bé đi mau.”

“Chẳng có đứa bé nào ở đây hết. Ông chỉ gặp phải ác mộng thôi.”

Lúc này, gương mặt ông đã giàn giụa nước mắt. Âm thanh đó như khiến đầu ông nứt ra làm đôi. Vì sao bọn họ không nghe thấy gì? “Đứa bé,” ông thổn thức.

Cô y tá tiêm cho ông một liều thuốc an thần. “Thuốc này sẽ giúp ích cho ông.”

Nhưng liều tiêm này chẳng hề có tác dụng. Thuốc an thần chỉ khiến ông ngủ thiếp đi, quay lại nơi đứa bé đang chờ ông. Ông nằm yên, mắt ngước nhìn lên trần nhà, chờ thuốc ngấm. Ông cảm thấy đôi tay mình thả lỏng, tiếp đó là hai chân và cuối cùng là quai hàm. “Chừng nào tôi mới chết?” Spencer nghĩ thành lời.

Cô y tá chăm chú nhìn ông bằng ánh mắt nâu điềm tĩnh. Mắt Cissy cũng có màu nâu. “Nhanh thôi,” cô nhẹ nhàng đáp.

Spencer thở dài. Câu trả lời của cô ấy còn công hiệu hơn thuốc an thần; chẳng có loại thuốc nào khiến ông dễ chịu như vậy. Đối với đàn ông, sự thật làm họ yên lòng.

Meredith hình dung đàn ông giống như một món phụ kiện, ví dụ như chiếc thắt lưng, ví tiền hoặc đôi giày có mang hay không cũng chẳng sao. Đúng là nếu đi chân đất, bạn sẽ nhận được vài ánh nhìn kỳ quái nhưng chẳng phải những phần quan trọng trên cơ thể đều được che chắn kỹ càng rồi sao? Người cô gặp thì cô không thích, người cô thích lại không có duyên, lý trí của một nhà khoa học trong Meredith đơn giản mách bảo chính cô phải ngừng hẳn đi để còn hạn chế thiệt hại.

Bây giờ là gần 11 giờ đêm, cô đang lái xe về nhà. Đoạn đường từ văn phòng mất bốn mươi lăm phút nếu không kẹt xe, chính là khoảng thời gian duy nhất cô để tâm trí tự do suy ngẫm về những thứ nằm ngoài nhiệm vụ phải làm. Đêm nay, do phải nghiên cứu tế bào trích ra từ bốn phôi của gia đình mang bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm, Meredith tránh được chuyện phải đi cùng đồng nghiệp đến bữa tiệc tối vinh danh những công ty khoa học tiên tiến. Martin đúng là mẫu người cô thích - cao dong dỏng, đầy trí tuệ với những ngón tay thon dài của một nhà khoa học. Năm đầu tiên làm việc ở Generra, Meredith mê mẩn Martin đến nỗi sau mỗi lần hai người trò chuyện bên máy photocopy, cô phải trốn vào phòng vệ sinh đến khi má hết đỏ ửng. Lời cầu khẩn của cô đã được ứng nguyện một năm trước, khi sếp phái cô đến dự một bữa tiệc gây quỹ cùng Martin. Trong cơn say chếnh choáng vì rượu sâm panh, anh ta đã dẫn dắt cô vào vũ điệu thần tiên.

Mưa rả rích suốt dọc đường Bờ Biển Phía Đông, ít nhất là cơn đau chân khiến Meredith đoán vậy. Chân trái - cái chân khiến cô vào phòng cấp cứu lúc biết tin về sự tồn tại của Lucy - nhạy cảm không thua bất kỳ thiết bị khí tượng thủy văn nào. Lúc đến chỗ rẽ, cô chuyển hướng suy nghĩ của mình từ đời sống tình cảm chưa hề tồn tại sang Lucy. Cô bé vừa ngừng dùng thuốc Risperdal nhưng chẳng hề có biến chuyển gì. Con gái cô làm đủ thứ chuyện kỳ cục như trò chuyện bên bàn ăn sáng với mấy người chẳng hề tồn tại, cài dây an toàn cho ghế ngồi bên cạnh trống trơn. Vốn là người theo chủ nghĩa khoa học, Meredith đành tự nhủ con gái cô có khiếu tưởng tượng bẩm sinh. Một người kiếm sống bằng việc nhận định cái gì là “bình thường”, giờ phải mở rộng khái niệm để bao gồm cả con gái mình trong đó.

Cô rẽ vào cổng. Ngọn đèn duy nhất còn sáng là ở phòng khách; mọi người đều đã ngủ say. Meredith vất vả bước ra khỏi xe, cố cà nhắc với cái chân lành. Cô đột nhiên nín thở, trầm trồ trước bầu trời đêm lấp lánh ánh sao đẹp tuyệt vời. Cô đã dành quá nhiều thời gian nghiên cứu những thứ bé nhỏ liên quan đến con người đến mức quên mất thế giới này vốn đơn giản như thế nào.

Meredith mở khóa cửa và bắt gặp Lucy ngồi trên cầu thang, áo quần chỉnh tề với một cái vali đặt dưới chân. “Luce?” cô gọi nhưng con gái không hề phản ứng.

“Con bé không nghe thấy con gọi đâu.”

Ruby bước xuống cầu thang. Mái tóc dài trắng như mây xõa xuống sau lưng bà; hai tay bà siết chặt lấy lan can. “Con bé đang mộng du.”

Mộng du sao? Mắt Lucy vẫn mở to. “Bà chắc không?” Meredith hỏi bà ngoại. “Bà từng bị mộng du sao?”

Ruby nghiêng người lại gần Lucy, đỡ con bé đứng dậy. “Bà từng quen một người bị mộng du.”

Lucy theo bà Ruby lên lầu, ngoan ngoãn như một chú cừu non. Meredith bước theo, chân vấp phải cái vali bị bỏ lại. Cái vali bật mở dưới chân cô. Bên trong là một tá búp bê với đủ loại tư thế như đang ăn, đang khóc hoặc đang bơi lội. Đôi mắt búp bê trơ trơ đờ đẫn như những đứa trẻ ốm.

Ai về đến nhà mà nhìn thấy xe cảnh sát đậu ngay trước cửa hẳn cũng hoảng hồn. Ross chỉ kịp đậu xe rồi ba chân bốn cẳng chạy vào, mở tung cửa và hét gọi tên Shelby.

Cô lập tức đứng dậy. “Ross!” Anh nhìn chị gái, quét mắt qua Ethan vừa xuất hiện sau lưng mình cùng tấm ván trượt, rồi lập tức chú ý đến tay cảnh sát đứng trong phòng khách.

Rồi anh trễ tràng nhận ra cô chị đang soi mớ áo quần rách và mái tóc ướt sũng của mình. Có lẽ Shelby đã gọi cảnh sát vì lo cho em trai - chị ấy có thể làm vậy lắm chứ. “Nhìn vậy chứ không có gì đâu,” Ross càu nhàu, thầm nghĩ chị ấy mà biết anh sợ hãi đến mức nào hẳn còn lo gấp mấy. “Tôi vẫn ổn. Anh có thể kết thúc nhiệm vụ tìm kiếm được rồi.”

Nghe vậy, Eli Rochert tiến về phía trước và nói. “Thực ra tôi đến đây để mời anh tham gia vào nhiệm vụ đó.”

Ross muốn nhốt mình trong phòng ngủ tại nhà Shelby. Trong khung cảnh tối om cùng một chai Jameson bên cạnh, anh muốn dùng mũi dao khắc tên Lia lên cánh tay mình. Có lẽ sẽ đau đớn và chảy máu - mặc dù anh dám cá anh sẽ chẳng chết được. Anh biết rõ một điều mà chẳng ai hiểu được - anh đã chết từ lâu; nơi này chỉ còn cái xác không hồn.

Ngồi trong phòng thẩm vấn tại Cục Cảnh Sát Comtosook cùng Eli Rochert và con chó to xù đúng là một kiểu tra tấn khác lạ. Trên bàn bày la liệt mớ ảnh pháp y chụp lúc Lia treo cổ, đôi ủng cô mang và chiếc váy đầm cô mặc lúc xuất hiện trước mặt anh. Nhìn thấy những hình ảnh đó khiến lòng anh đau đớn hơn bất kỳ vết thương nào từ trước đến giờ.

“Lần trước khi gặp nhau, ừm, anh bảo mình đang điều tra cái chết của Cecelia Pike đúng không,” Eli nói.

“Lia”, Ross lẩm bẩm, “cô ấy thích được gọi là Lia.”

Anh cảnh sát cố lắm mới không ra vẻ sốt ruột. Ross nghĩ bụng, mẹ nó. Làm như tôi muốn ngồi đây lắm vậy

“Anh… đã gặp cô ấy, rồi sao nữa?” Eli thắc mắc.

“Anh còn chẳng tin chuyện tôi từng gặp cô ấy thì thắc mắc làm quái gì?”

“Nghe này. Tôi cũng không ham nhờ nhà ngoại cảm tư vấn… ”

Ross cắt ngang, “Tôi không phải nhà ngoại cảm, chỉ có chút linh cảm thôi.”

Ross không nhịn được, đưa tay lật úp bức ảnh pháp y kinh dị chụp Lia. “Tôi chỉ có phần nhạy cảm với hồn ma. Đặc biệt là cô ấy.”

Eli thoáng do dự trước khi mở miệng. “Anh Wakeman, một tuần trước anh năn nỉ tôi lật lại một vụ án từ bảy mươi năm trước. Tôi đã đi ngược lại lý trí và lật lại vụ đó. Tôi muốn tiếp tục điều tra, mặc dù đấy là việc ngoài giờ và không nằm trong phạm vi công tác.” Anh đập tay lên bàn. “Anh nói vụ này có liên quan đến Spencer Pike. Vì sao anh kết luận như vậy?”

“Bộ tộc Abenaki đòi lại khu đất. Ông Pike hoàn toàn có động cơ gây án. Thêm vào việc nơi đó có ma - theo những gì tôi được dạy ma chỉ quay lại ám một vùng đất vì một lý do nào đó. Tôi cho rằng nếu khu đất bị ma ám, con ma chắc phải là người thổ dân - có thể là người bị buộc tội sát nhân. Nhưng hóa ra hồn ma lại là Lia.” Anh quay lưng lại. “Tôi xin lỗi vì làm anh phí thời gian.”

“Không hẳn là phí thời gian đâu,” Eli đáp. “Dựa trên những gì anh vừa kể, nếu hồn ma Lia Pike quay về thì cái chết của cô ấy có gì đó không hợp lý.”

Gương mặt Lia vụt qua tâm trí Ross. Anh lập tức đứng dậy, định rời đi trước khi không kiềm chế nổi tâm trạng. “Bị giết hại lúc mới mười tám tuổi đúng là chẳng hợp lý tí nào. Giờ thì xin phép anh, thám tử Rochert…”

“Để tôi cho anh xem cái này trước khi anh rời khỏi đây được không?” Eli đưa cho Ross một tờ giấy. Ross nhận ra đây là bản báo cáo hiện trường được viết vào những năm 1930. “Pike khai rằng Sói Xám siết cổ cô ấy. Theo như những cảnh sát có mặt ở hiện trường thì đúng là có dấu vết chống cự. Có ảnh chụp nơi cô ấy treo cổ, ảnh chụp dấu vân tay, ảnh chụp cửa sổ phòng ngủ chính bị đập vỡ. Tôi đã lấy được mẫu DNA trong máu nạn nhân, kèm DNA của hai nam giới khác đã có mặt ở hiện trường.”

Ross cố nhịn cảm giác nghẹn ngào trong cổ họng. “Có vẻ như anh đang thuận lợi trên con đường chứng minh Pike là thủ phạm nhỉ.”

Eli vờ như không nghe thấy lời Ross vừa nói mà tiếp tục lý luận. “Tuy nhiên cũng có bằng chứng phản bác kết luận đó. Những bằng chứng này khiến tôi tự hỏi không biết anh có đúng khi phán đoán Spencer Pike đã ra tay với Sói Xám rồi xử luôn vợ mình.”

“Nghe này.” Căn phòng chao đảo trước mắt Ross. “Bây giờ tôi không thể tiếp tục nói về chủ đề này thêm nữa.”

“Tôi chẳng hề muốn anh nói gì. Tôi muốn anh giúp đỡ.”

Ross ngước mắt lên. “Tôi không phải là thám tử.”

“Đúng vậy,” Eli nói nhẹ. “Nhưng anh biết cách tìm được những chứng cứ mà chúng tôi không thấy được.”

Danh sách tang vật:

Án mạng tại nhà Pike, ngày 19 tháng 9 năm 1932

Thu được từ kho lạnh:

Thòng lọng, bị cắt rời

Túi da

Tẩu thuốc

Ảnh chụp: dấu chân trên mùn cưa trong kho lạnh, xác nạn nhân

Thu được từ nạn nhân:

Đôi ủng

Váy đầm

Đồ lót/ băng vệ sinh

Ảnh chụp: ảnh khám nghiệm pháp y

Thu được từ phòng ngủ chính:

Danh sách tên khách mời cho tiệc tối diễn ra một tuần sau đó

Chăn, gối, ga giường, áo ngủ - dính máu

Chăn giữ ấm cho trẻ sơ sinh

Chậu kim loại

Ảnh chụp: cửa sổ bị đập vỡ

Ảnh chụp: nội thất bị xáo trộn

Ross về đến nhà vào lúc rạng đông. Anh bước vào nhà, thầm cảm ơn Chúa vì Shelby đã ra ngoài. Anh nhanh chóng bước lên lầu, khóa trái cửa, chẳng buồn thay áo quần mà cứ thế trèo lên giường, mặc cho cảm xúc đau đớn dâng trào.

Những lúc suy tính về cuộc sống cá nhân, Ross luôn tưởng tượng mình sẽ độc thân suốt đời. Chuyện xây dựng gia đình chưa bao giờ nằm trong dự định của anh. Anh không hề e ngại trách nhiệm, cũng chẳng phải xấu xí hay quá ham hố cuộc sống tự do. Nhưng cứ mỗi lần muốn trao trái tim cho ai đó, anh chợt nhận ra sự thiếu vắng của một người đã đi xa.

Xung quanh anh vẫn có vài bóng hồng. Cô phục vụ ở Duluth đưa anh về nhà, còn gửi tặng một suất bò hầm đêm hôm nọ, một bà mẹ thương con quanh năm chẳng nhận được một lời tốt đẹp nào từ ông chồng thương gia, cô bệnh nhân mang vết sẹo kinh khủng sau khi điều trị ung thư vú cần được nhắc nhở mình vẫn xinh đẹp như thế nào. Nhưng cũng có những người phụ nữ chỉ muốn anh trong một hai đêm rồi sẵn sàng bỏ rơi anh ngay khi nhận ra anh cần họ nhiều thế nào. Làm sao có người phụ nữ nào dám yêu anh - gã đàn ông không chịu ra khỏi giường mấy tuần liền, dù không ngủ được, lại còn tự tử hụt hết lần này đến lần khác đến mức tin rằng mình bất tử, một kẻ không biết yêu thương chính bản thân anh ta?

Ross kéo gối đè lên đầu. Anh muốn một người phụ nữ có chung cảm xúc với mình - như thể cô ấy luôn thấy bất toàn, cho đến khi họ gặp nhau, sẵn sàng từ bỏ tất cả để theo anh từ thế giới này sang thế giới bên kia, tin tưởng tất cả những giây phút tồi tệ mà cô ấy một mình trải nghiệm chính là dành cho thời khắc họ ở bên nhau.

Anh muốn một người phụ nữ chẳng hề có thật.

Có tiếng gõ cửa, nhưng Ross phớt lờ. Chắc Shelby tưởng anh đã ngủ rồi. Anh vùi đầu vào chăn.

“Này.” Cô ngồi xuống mép giường, nhẹ nhàng đặt tay lên phần vai giấu dưới lớp chần. “Chị biết em chưa ngủ.”

Anh kéo chăn xuống. “Làm sao chị biết?”

“Vì em có bao giờ ngủ đâu.”

“Chuyện gì chẳng có lần đầu tiên,” Ross càu nhàu.

Anh lặng nhìn Shelby lần gấp ga giường thành hình quạt rồi thả tay để nó bung ra. “Anh cảnh sát đó muốn gì?”

“Chẳng có gì.”

“Anh ta đến tận đây, đưa em về đồn cảnh sát mà không có mục đích?”

“Để em yên, Shelby. Nếu chị muốn ra vẻ gà mẹ thì sang thử nghiệm với con trai chị ấy.”

“Nhưng cái đứa đang khóc nhè không phải là con trai chị.”

Ross quệt ngón tay lên má - Chúa ơi, anh chẳng để ý. “Bây giờ em không có tâm trạng.”

“Ross, kể cho chị nghe…”

Anh nằm vật ra giường, lấy tay che mắt. “Shel, nghe này. Em không có bị bệnh gì sắp chết. Em cũng không làm gì phạm pháp. Em chỉ có một đêm khốn nạn nhắc em nhớ vì sao mình chẳng nên tốn công yêu đương làm quái gì. Vậy nên chị làm ơn quay về phòng, đến thư viện hoặc bất kỳ chỗ nào đó, để em tự liếm vết thương, có được không?”

“Em bị cô gái đang hẹn hò đá à?”

“Em chẳng hẹn hò với ai hết.” Thực ra là có. Không hẳn.

“Cô ấy là ai?”

Ross chống tay lên cùi chỏ. “Cô ấy là hồn ma của người phụ nữ bị sát hại bảy mươi năm trước,” anh đáp, hả hê chứng kiến Shelby há hốc mồm rồi nằm lại xuống gối. “Chính xác là vậy đó.”

“Em nhìn thấy ma?”

“Em nhìn thấy ma. Chạm vào ma. Và hồn ma nữa.

“Em đã hôn một hồn ma?”

“Em yêu một hồn ma sâu sắc đến mức lòng mình tan nát.”

“Ross, được rồi đấy…”

“Đừng nói gì hết, Shelby. Đừng nói gì hết. Em hoàn toàn, một trăm phần trăm, chắc chắn biết chuyện gì đã hoặc không xảy ra với mình.”

Giọng anh trở nên quyết liệt, ánh mắt điên cuồng. “Ross,” cô nhẹ nhàng nói, “trên đời này làm gì có ma.”

Anh nổi cáu lên với chị gái. “Sao chị biết? Nếu chỉ vì chưa từng nhìn thấy, làm sao chị biết chắc thứ gì đó không tồn tại. Có thể mắt chị không có khả năng nhìn thấy, hoặc thứ ấy ngụy trang quá tốt, hoặc chị chưa đủ may mắn để thấy được thôi.”

Ross đang tự biện bạch cho bản thân mình, nhưng với Shelby, lời anh nói cũng đúng với căn bệnh của Ethan. Biết đâu trong tương lai các nhà khoa học sẽ tìm ra phương pháp chữa khỏi bệnh khô da sắc tố XP. Cô đột nhiên nhận ra dù con ma đó có thật hay không thì ngay lúc này, anh cần tin là nó tồn tại. Anh cần chị tin rằng hồn ma đó là có thật.

Cô cũng từng trải qua cảm giác đó mà.

Ross đưa tay dụi mắt. “Lạy Chúa, biết đâu em bị điên. Lẽ ra em nên bị cách ly.”

“Người khác cũng chẳng ít điên hơn em. Ai chẳng có lúc như vậy.”

“Nhìn thấy ma sao?”

“Đem lòng yêu một người không hề có thật.”

Shelby vuốt tóc em trai. Mê đắm một thứ gì đó cũng đồng nghĩa với việc nhìn nhận mọi thứ một cách mù mờ. Chỉ khi bắt đầu yêu thương, người đó mới biến thành hiện thực.”

Ross gục đầu vào vai chị, nấc lên. “Cô ấy đi rồi,” anh nghẹn ngào. “Cô ấy bỏ em mà đi rồi.”

Shelby cúi đầu hôn lên trán em trai và bảo, “Vậy thì tìm cô ấy đi.”

Ngày tháng: 21 tháng Chín năm 1932

Thời gian: 1 giờ 15 phút chiều

Người được phỏng vấn: Bà Wilmetta Sizemore

Người phỏng vấn: Cảnh sát Duley Wiggs

Địa điểm: Cục Cảnh Sát Comtosook

Hỏi: Bà nhìn thấy Cissy Pike lần cuối cùng là khi nào?

Đáp: Một tuần trước, tại Câu Lạc Bộ Ethan Allen, vợ chồng chúng tôi đã ăn tối với cha cô ấy, ông Harry Beaumont. Tôi quen biết Cissy được mấy năm rồi; cô ấy là người vợ hoàn mỹ hết lòng yêu thương giáo sư Pike và sắp sinh con đầu lòng.

Hỏi: Cô ấy có dấu hiệu bất thường nào vào đêm đó không?

Đáp: Tôi không nghĩ vậy… ồ, đợi đã. Cissy có làm đổ một ly rượu. Một anh phục vụ người Gypsy đến thu dọn nhưng lại động tay động chân với cô ấy. Giáo sư Pike tức điên đến mức túm áo đẩy cậu ta xuống đất. [Tạm ngừng] Tôi không biết tên cậu phục vụ người Gypsy ấy. Nhưng anh nên tìm hiểu thử xem.

“Trời đất ơi,” Eli gắt ầm lên khi nghe thấy tiếng rơi đổ ầm ầm. Anh lao ra khỏi phòng tắm với nửa gương mặt còn dính đầy kem cạo râu và chạy xuống lầu, rối bắt gặp Watson đang trốn chui trốn nhủi dưới bàn phòng khách. Nhìn thoáng qua phòng khách, anh lập tức đoán hoặc có ai đó vừa đột nhập hoặc con chó béo gần 70 cân đang rượt đuổi thứ gì đó. Tivi rớt khỏi kệ, gối đệm chẳng còn nằm trên sofa, còn cái ghế dựa lưng thì ngã chỏng chơ bên cạnh ô cửa sổ bị đập vỡ. Eli cúi xuống gần con chó. “Nhả ra nào.” Anh đưa tay ra, và Watson rụt rè há miệng, để con chuột rớt vào tay Eli.

Eli quẳng con chuột qua ô kính vỡ. “Được lắm, giỏi đấy Watson. Giờ nhà mình mở tiệm McDonalds bán mang đi cho xe hơi được đấy hả.” Tai chú chó cụp xuống. “Tao đoán mày sẽ nói đấy không phải lỗi của mày. Ồ phải rồi, mày còn thông minh hơn thế nữa. Mày chẳng buồn nói gì hết cơ mà.”

Chú chó rên rỉ rồi rúc mũi sâu hơn vào tấm thảm. Eli chỉnh lại ghế sofa, rồi đặt tivi lên kệ. May mà tivi chưa tan tành. Thở dài ngán ngẩm, Eli lại gần ô kính vỡ và dựng cái ghế lên. Mấy mảnh kính vỡ lấp lánh bên bậc cửa sổ, nhưng vì cửa sổ bị đập vỡ từ bên trong nên hầu hết mảnh vỡ đều rơi xuống bụi đỗ quyên.

Đột nhiên anh quay ngoắt lại, chạy lên lầu như điên. Lần này chú chó theo sát anh. Trong phòng ngủ, Eli lật tung mớ hồ sơ đặt trên tủ cho đến khi tìm ra tập hồ sơ chứa ảnh chụp hiện trường vụ án. Hình ảnh vụ án mạng ở nhà Pike được chụp từ bảy mươi năm trước, có kèm phim âm bản cỡ 4x5. Đây vẫn là nguồn ảnh tốt nhất và chụp sắc nét nhất tính đến tận bây giờ. Eli quét mắt qua tấm ảnh chụp nội thất phòng ngủ của Cissy Pike. Tiêu điểm của bức ảnh là giường ngủ, nhưng lấy được cả ô cửa sổ phía sau. Có gì đó lấp lánh bên bậc cửa? Còn sàn nhà thì sao?

Eli gãi cằm, giật mình vì mặt còn dính kem cạo râu. “Chờ cạo râu xong,” anh nói với Watson, “tao với mày lái xe dạo một vòng nhé.”

Rod van Fleet dí sát vào mặt Ross. “Nói rõ ràng xem nào,” anh ta gằn giọng. “Có đúng là anh tìm ra một con ma?”

Ross gật đầu. “Không phải anh yêu cầu tôi tìm sao?”

“Không!” Rod vung tay lên trời và lùi ra xa. “Tôi chỉ bảo anh đến kiểm tra khu đất. Tôi chưa từng mong anh sẽ tìm thấy thứ gì cả.” Anh ta ngồi lên chiếc xe kéo đối diện Ross. “Vậy tôi nên làm gì bây giờ? Tưới Nước Thánh lên toàn bộ khu đất hả? Hay chờ xem đầu sếp tôi xoay ngược 360 độ?”

“Khu đất ấy không phải bị quỷ ám. Chỉ là một hồn ma thôi.”

“Ôi, tuyệt vời,” Rod mỉa mai. “Cảm ơn vì lời giải thích của anh. Tôi phải làm sao nếu nó theo ám mấy công nhân?”

“Chuyện đấy khó có khả năng xảy ra. Curtis Warburton luôn khẳng định ma chỉ quan tâm đến chuyện riêng của họ.”

“Vậy chắc cô ta sẵn sàng chuyển đi nơi khác nhỉ?”

Ross lắc đầu. “Theo lời Curtis, ma chỉ bỏ đi khi nào nó muốn. Nếu nó thoải mái với chỗ hiện tại, cảm thấy gắn bó, hoặc đơn giản là nó ương bướng thì không đời nào dời đi đâu.”

“Curtis nói thế này. Curtis nói thế khác. Vậy còn chính anh thì nghĩ thế nào?”

Ross im lặng một lúc thật lâu. Rốt cuộc anh đành thừa nhận, “Tôi cũng không biết nữa.”

“Vậy thì để tôi nói mình nghĩ gì. Nếu tòa án bỗng dưng tin vào câu chuyện vớ vẩn này và cho rằng có một hồn ma còn quanh quẩn tại đây, tôi sẽ bị rút giấy phép xây dựng. Chuyện đó có nghĩa một trong hai phải cuốn xéo… và với một mức phí nhỏ, tôi tin anh sẽ khiến con ma kia chuyển đi nơi khác.”

Mặt Ross trở nên tái mét. “Tôi không thể ép cô ấy rời đi.”

“Vậy tôi sẽ tìm người làm được việc đó.”

Hai người hằm hè nhìn nhau, sau đó, Ross nhảy khỏi xe kéo mà không nói lời nào. Rod lặng nhìn anh bỏ đi. Đám công nhân còn chẳng thèm nháy mắt. Nhưng xét lại thì bọn họ chỉ làm công ăn lương - nên mấy chuyện lẻ tẻ như mặt đất đóng băng vào tháng Tám, cán xẻng chỉ cần chạm vào là gãy ngang, hay đinh chẳng bao giờ chịu đóng cho thẳng chỉ giúp tăng tiền làm ngoài giờ. Trong khu thương mại anh xây có một con ma. Vậy thì sao? Anh có thể kiếm lời từ nó. Mở một nhà hàng mang tên “Nhà hàng An Nghỉ” chuyên bán mấy món rùng rợn. Khi báo chí phỏng vấn, anh sẽ lạnh lùng phát biểu đầu tư cho nơi này đúng là một pha đánh cược lớn.

Hoặc… anh cũng có thể không xây dựng khu thương mại. Chẳng phải vùng New England có đầy nhà nghỉ có chuyện ma ám trên gác mái hay sao. Nếu anh đã có sẵn một con ma, vậy sao không xây khách sạn tại đó?

Dĩ nhiên rốt cuộc anh vẫn phải tìm ai đó trục xuất con ma đi chỗ khác.

Chỉ để phòng hờ thôi.

Rod rút điện thoại ra từ túi áo và bấm 411. “Mỏ đá Angel xin nghe,” một giọng nói đáp lại.

Anh kiểm tra số điện thoại, gác máy rồi gọi lại. Khi tổng đài rốt cuộc nhấc máy, Rod thở phào nhẹ nhõm. Anh cứ tưởng mình lại nghe giọng vừa rồi. “Vâng,” anh đáp, “tôi muốn gặp anh Curtis Warburton.”

Phòng xét nghiệm Pháp y tại Montpelier phân loại vụ án dựa trên mức độ nghiêm trọng. Chuyện này có nghĩa kết quả phân tích bằng chứng tìm được trong vụ giết người có thể xong trong một ngày, nhưng một vụ trộm đơn giản có thể kéo hàng tuần. Eli quá rành quy tắc này nên đã gọi cho Tuck Boorhies, một kỹ thuật viên từng cộng tác trước đây. “Một vụ giết người sao?” Tuck sửng sốt. “Tại Comtosook á?”

“Đúng vậy,” Eli xác nhận. Anh chỉ không nói rõ vụ án này xảy ra vào bảy mươi năm trước.

Tuck lấy ảnh chụp từ Eli. “Trời. Sao lại ảnh trắng đen?”

Thợ chụp ảnh hiện trường là người theo chủ nghĩa thuần túy. Mất bao lâu vậy?”

“Còn tùy anh định đứng đó thúc hối tôi trong bao lâu,” Tuck đáp, quét hình chụp vào máy vi tính có cài Photoshop. “Anh muốn phóng to chỗ nào?

Eli chỉ tay lên màn hình, máy tính tập trung vào cửa sổ phòng ngủ và sàn gỗ cạnh đó. Anh kỹ thuật viên bấm vài nút, chỉnh lại độ tương phản tối sáng. “Anh thấy gì không?” Eli hỏi.

“Sàn nhà.”

“Anh thấy trên sàn nhà có gì không?”

“Không có gì hết,” Tuck trả lời.

Eli nhe răng cười. “Vậy thì đúng rồi.”

Mười phút sau anh đã lấy được hình chụp phóng to sàn gỗ kèm vài tấm hình khác, trong số đó có một bức ảnh chụp cảnh ngoài sân, ngay dưới cửa sổ bị đập vỡ. Trên thảm cỏ, ngay dưới chân thang dựa vào nhà là vài mảnh nhỏ lấp lánh như kính vỡ. “Trong nhà không hề có mảnh kính vỡ,” Eli nói với Watson lúc nó đang thở hổn hển trong xe trên đường về nhà. “Nhưng lại có mảnh kính vỡ ngoài sân. Nghĩa là chẳng có ai vào bắt cóc cô ấy, mà cô ấy bỏ ra ngoài. Nhưng nếu không bị bắt cóc, vì sao cô ấy phải trốn ra ngoài?”

Eli giảm ga nhường đường cho xe khác. “Cô ấy không hề bị bắt cóc, đúng vậy. Cô ấy đang bỏ trốn. Vì sao người ta lại trèo cửa sổ thay vì đi bằng cửa chính? Vì bạn không muốn để người khác biết mình bỏ trốn. Hoặc có thể bạn muốn xuống lầu nhưng không xuống được vì cửa phòng ngủ và cửa sổ đều bị ai đó khóa trái, nhốt bạn lại trong phòng.”

Anh quay qua nhìn chú chó cưng. “Câu hỏi tiếp theo: Vì sao đồ đạc dưới tầng trệt bị xáo tung? Trong lời khai với cảnh sát, Pike nói Sói Xám đột nhập vào nhà qua cửa sổ. Nếu đúng vậy thì Sói Xám sẽ không tẩu thoát bằng cách kéo nạn nhân xuống tầng trệt - anh ta phải rời đi bằng lối vào mới đúng. Nghĩa là có người khác xáo trộn căn nhà.” Anh thầm dựng lại tình tiết vụ án và thử kết luận. Anh bật đèn xi-nhan rối rẽ sang lối khác. “Mọi manh mối,” anh lẩm bẩm, “đều hướng đến Pike.”

BÁO CÁO ĐIỀU TRA

NGUYÊN NHÂN CÁI CHẾT: TREO CỔ

CÁCH CHẾT: TỰ TỬ

Tình tiết liên quan đáng lưu ý:

vừa mới sinh con

KHÁM NGHIỆM BÊN NGOÀI

Xác chết là phụ nữ da trắng đã trưởng thành và khỏe mạnh với diện mạo phù hợp với lứa tuổi đã ghi nhận. Tóc vàng. Mắt nâu. Con ngươi đồng đều với kích thước mỗi bên đạt 6mm. Xác chết có chiều cao 158 cm, nặng 58 kg. Không có sẹo. Tình trạng cơ co cứng ở mức trung bình. Tình trạng tụ máu tử thi được ghi nhận ở hai bàn tay, cẳng tay, bàn chân và cẳng chân. Phía sau thân người có tụ máu nhẹ.

Hai mắt lồi. Trên cổ có vết đỏ dài 2cm hiện rõ phía trước, vết đỏ kéo dài từ ngay trên sụn tuyến giáp đến ngang tai. Có chấm xuất huyết trên da ngay trên vết đỏ. Dịch nhầy lẫn máu rỉ ra từ miệng và hai lỗ mũi. Lưỡi lè ra ngoài, đầu lưỡi có màu tối và khô nứt. Phần da dưới cổ có nhiều vết cào dài.

Khám nghiệm vùng ngực cho thấy hai bên vú bị sưng. Không có dấu hiệu tụ máu. Khám nghiệm vùng bụng cho thấy bụng lồi lên với nhiều vằn kẻ. Tử cung nằm trên xương mu 10 cm đã được khám nghiệm. Khám nghiệm tứ chi cho thấy có nhiều vết tụ máu trên hai cổ chân và cổ tay.

XÉT NGHIỆM NỘI KHOA

Xác chết được mổ bằng vết rạch chữ Y thông thường. Vị trí nội tạng vùng ngực và bụng bình thường. Dịch màng phổi và dịch màng bụng không đáng kể. Khám nghiệm cổ cho thấy không hề có dấu hiện thương tổn tại sụn tuyến giáp hay xương móng. Chỉ có dấu hiệu tụ máu dưới vết đỏ nêu trên.

Phổi trái nặng 300 gram còn phổi phải nặng 280 gram. Phía sau thùy phổi dưới có dấu hiệu sung huyết. Tim nặng 350 gram. Không có dấu hiệu nào bất thường. Gan nặng 1200 gram, khi mổ gan có 600cc máu ở dạng lỏng. Ngoài ra, gan có dấu hiệu nhiễm bệnh gan sung huyết nhẹ. Tuyến tụy, túi mật và ống dẫn mật đều bình thường. Lá lách nặng 100 gram, trong và ngoài lá lách không có dấu hiệu bất thường. Khám nghiệm bao tử cho thấy một ít thức ăn đang được tiêu hóa. Không có dấu hiệu dùng thuốc. Không phát hiện ra điều gì bất thường ở đường ruột.

Hai quả thận, ống dẫn nước tiểu và bàng quang bình thường.

Tử cung nặng 450 gram. Màng trong tử cung dày và đang xuất huyết. Thành tử cung dày 2cm. Khám nghiệm buồng trứng cho thấy buồng trứng phải có u nang dài 2cm. Buồng trứng trái bình thường.

Động mạch và tĩnh mạch vùng bụng bình thường. Có dấu hiệu băng huyết nhẹ sau khi sinh. Khám nghiệm vùng sọ và xương sống không phát hiện điều gì bất thường.

KHÁM NGHIỆM HIỂN VI

Lát cắt tụ máu bên sườn phải cho thấy nhiều tế bào bạch cầu trung tính bị vỡ bao quanh những tế bào hồng cầu xuất huyết. Lát cắt phổi cho thấy tình trạng sung huyết và phù nề nhẹ. Không có dấu hiệu viêm phổi. Lát cắt nơi gan sung huyết cho thấy có máu tụ. Lát cắt của những nội tạng khác đều bình thường.

“Wesley, giải thích giúp tôi nào!” Eli năn nỉ. Anh ngồi trước hiên nhà ông bạn già, trên tay là ly nước chanh đá đang đổ mồ hôi. Watson lẳng lặng cuộn mình thành tấm thảm xù cuộn tròn dưới xích đu treo trên cây tuyết tùng.

Wesley Sneap là bác sĩ thị trấn từ hồi chỉ có lèo tèo vài ba bác sĩ - và nghiễm nhiên trở thành bác sĩ pháp y của quận mãi đến năm 1985. Khi các tổ chức chăm sóc sức khỏe nở rộ, cộng thêm bàn tay cầm dao mổ bắt đầu run rẩy, Wesley buộc phải nghỉ hưu. Nhưng ông vẫn giữ kính hiển vi và một phòng thí nghiệm dã chiến dưới tầng hầm. Trên tủ trong phòng khách là hộp thuốc màu đen cũ kỹ phòng khi ai có cần trợ giúp y tế.

“Ồ,” ông thở dài, “cô ấy treo cổ chết. Anh có thể nhận ra dựa trên gương mặt và mấy vết cào trên cổ.”

Ông bác sĩ đọc lướt qua báo cáo thêm lần nữa. “Có nhiều chi tiết cho thấy cô ấy vừa sinh con… như độ dày thành tử cung, sữa non, cân nặng của quả tim. Ổ, cô ấy có xô xát với người khác vài giờ trước khi treo cổ. Trên cẳng chân và cổ tay cô ấy có vết bầm, nhưng dấu hiệu viêm do vết thương chỉ xuất hiện trên cổ tay. Vết bầm nơi cẳng chân cô ấy không có dấu hiệu viêm vì cô ấy đã chết trước khi phản ứng tế bào xảy ra. Chắc cô ấy đã đạp chân vùng vẫy điên cuồng để thoát đi.”

“Thời điểm tử vong là lúc nào?”

“Để xem nào,” Wesley nhíu mày. “Chẳng có gì nhiều trong dạ dày, nhưng chắc là vì cô ấy mới chuyển dạ. Nhưng chúng ta có thể đoán từ thời điểm bị treo cổ… phải mất một thời gian để tình trạng tụ máu tử thi, tức là máu đọng thành vùng, xuất hiện trên tay và chân… cũng phải bốn đến năm tiếng. Xác cô ấy không thể nào bị treo lâu hơn bốn đến năm tiếng, vì quá thời gian đó thì máu sẽ tụ lại một chỗ cố định. Nhưng máu lại dồn ra sau lưng khi xác được hạ xuống.”

“Người chồng khai với cảnh sát là anh ta hạ cái xác xuống khoảng mười giờ ba mươi phút sáng… nhưng kẻ giết người đã đột nhập vào nhà lúc nửa đêm.”

Wesley lắc đầu. “Lời khai không khớp. Dựa trên báo cáo khám nghiệm tử thi, nếu xác cô ấy bị hạ xuống lúc mười giờ ba mươi phút sáng… thì thời điểm treo cổ phải là khoảng sáu giờ sáng.”

“Nếu cô ấy bị treo cổ lúc nửa đêm thì sao?” Eli thắc mắc.

“Vậy thì xác cô ấy bị hạ xuống lúc sáu bảy giờ sáng. Không thì vết tụ máu tử thi đã cố định một chỗ và không dồn ra sau lưng.”

Ông bác sĩ lôi một tiêu bản nhét trong hồ sơ pháp y và giơ ra trước ngọn đèn. “Hả?”

“Ông thấy gì sao?”

“Này, tay bác sĩ pháp y có nhắc đến vết bầm bên sườn phải kèm theo dấu hiệu gan sung huyết. Có vẻ gã ta đã gom hai chuyện thành một và cho rằng đấy là vì chấn thương vật lý. Nhưng ở đây, anh ta còn nhắc đến chuyện gan có hình quả nhục đậu khấu, thấy không? Anh ta cho rằng đấy là vì mạch máu giãn nở vì hội chứng suy tim phải.”

“Vậy thì sao?”

“Cứ tưởng tượng gan là đường cống dự phòng: khi tim không hoạt động bình thường thì mọi thứ sẽ nghẽn lại trong gan. Nhưng cô ấy qua đời đột ngột nên những triệu chứng này chưa kịp phát tác.” Ông liếc mắt qua tiêu bản rồi bảo. “Xuống tầng hầm với tôi. Tôi sẽ cho anh xem kỹ hơn.”

Eli theo Wesley xuống tầng hầm. Đàn ông bình thường sẽ dành nơi này làm xưởng thủ công hoặc phòng tập thể hình, nhưng Wesley lại dành không gian cho một bàn xét nghiệm bằng thép không gỉ và một quầy chất đầy dụng cụ và kính hiển vi. “Tôi vẫn nhớ vụ án này,” ông ta nói, vươn tay lấy chất nhuộm màu đặt trên kệ. “Hồi tôi chuyển đến Comtosook năm 1943, người ta vẫn nhắc mãi về vụ này. Tôi còn nhớ mỗi lần đến đêm Halloween, đám thanh niên choai choai còn rủ nhau vào rừng sau nhà Pike để hôm sau có chuyện mang đi khoác lác trên trường học.”

“Thật sao? Bọn chúng nói gì?”

“Thật ra cũng chẳng có gì nhiều. Bọn chúng vào rừng là vì thách đố nhưng khi trở ra thì im thin thít. Tôi đã từng chữa trị cho một cậu nhóc vốn là ngôi sao bóng bầu dục. Cậu ta không thể nói gì suốt tháng Mười Một, phải đưa đi Boston gặp một chuyên gia chảnh chọe để kiểm tra thanh quản và mấy bộ phận khác.”

“Rốt cuộc chuyện gì xảy ra với cậu ta?”

“Không có gì, xét về mặt sinh lý. Một ngày nọ lại nói chuyện bình thường như chưa hề có chuyện gì xảy ra.”

“Ông cho rằng có chuyện gì xảy ra với cậu ta tại khu đất nhà Pike sao?”

Wesley nhún vai. “Tôi cho rằng có những chuyện tác động lên cơ thể người nhưng không được ghi chép trong sách vở. Ví dụ như trầm cảm có thể giết anh, hoặc yêu đương có thể khiến thế giới quay cuồng. Dù đám bác sĩ kia cứ bắt cậu ấy thử hết xét nghiệm này đến xét nghiệm khác, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng dây thanh quản của cậu ta có vấn đề gì. Suy luận của tôi đã đúng… đó là hậu quả do phải nén đau buồn.” Ông đẩy tiêu bản xuống kính hiển vi rồi hít một hơi. “À há.”

“Cái gì vậy?”

“Tơ huyết đọng lại bên trong mao mạch hình sin và có vài vùng xuất huyết. Còn có hoại tử vi nghẽn mạch tại tế bào gan.”

“Lạy Chúa, Wesley, nói cho người thường nghe hiểu đi.”

Wesley gỡ kính rồi đưa tay dụi mắt. “Tiền sản giật là một biến chứng nguy hiểm lúc mang thai. Ảnh hưởng còn nghiêm trọng hơn nếu dẫn đến hội chứng HELLP - nói ngắn gọn là bệnh tan máu, men gan tăng cao, tiểu cầu suy giảm. Hội chứng này chỉ được phát hiện cách đây hai mươi năm. Sau khi biết rõ triệu chứng, người ta đã tìm ra phương pháp chữa trị. Nhưng hồi đó lại là chuyện khác… bệnh tình chuyển xấu nhanh lắm. Tôi cho rằng gan sung huyết là vì hội chứng HELLP… chứ chẳng phải vì va đập đâu đó như tay bác sĩ pháp y đã phán bừa đâu.”

“Điều này có ảnh hưởng gì đến hướng điều tra của tôi không?”

Ông bác sĩ lắc đầu. “Không hẳn vậy. Chuyện này chỉ có nghĩa là nếu không chết vì treo cổ, Cissy Pike cũng sẽ qua đời vì nguyên nhân tự nhiên vài ngày sau đó.”

Làn da Spencer Pike ngả vàng xỉn như giấy da mục. Ống thở oxy cắm thẳng vào mũi. Ông ta lặng nhìn Eli bật băng ghi âm với vẻ bất mãn của một người biết mình chẳng còn sống được bao lâu và không muốn dành quãng thời gian ít ỏi đó với một người xa lạ. “Theo tôi biết thì bán một mảnh đất thuộc quyền sở hữu của mình đâu có gì phạm pháp.”

“Đúng vậy,” Eli tán thành. Anh liếc qua mấy cụ già trong viện dưỡng lão đang ngồi trong nhà ăn nhấm nháp món gì đó không rõ nhưng hẳn là thích hợp với người rụng hết răng. “Chẳng qua tôi tự hỏi vì sao ông lại quyết định bán khu đất.”

Pike cười khùng khục. “Tôi chỉ muốn tiếp tục lối sống sung sướng đã thành thói quen. Thám tử à, anh cứ nói với mấy gã thổ dân rằng mảnh đất ấy là của tôi. Tôi có quyền tổ chức lễ hội ở đó nếu muốn. Tôi có thể quyên tặng nó cho mấy gã da trắng có chức có quyền nếu muốn. Và nếu tôi muốn giao mảnh đất cho mấy gã quy hoạch đất để đổi lấy tiền, thay vì chờ chính quyền bang Vermont sung công sau khi tôi qua đời, thì đó cũng là đặc quyền của tôi.”

Lúc đó, Eli chợt nhận ra hai điều: Spencer Pike nghĩ anh đến để xoa dịu căng thẳng với đám thổ dân Abenaki đang nổi loạn, và Spencer Pike không hề nhận ra Eli mang một phần dòng máu thổ dân châu Mỹ bản địa. Anh lập tức nắm lấy thời cơ. “Có vẻ như ông đã vài lần va chạm với bộ tộc Abenaki?”

“Mẹ kiếp, đúng vậy! Một trong số chúng còn giết hại vợ tôi.”

“Đúng vậy, báo cáo cảnh sát có ghi nhận. Chắc chuyện đó đau khổ lắm.”

“Cô ấy là tình yêu của cuộc đời tôi. Không ai muốn chôn vợ và con mình trong cùng một ngày cả.”

“Tôi được biết là mộ của hai mẹ con nằm trong khu đất phải không?”

“Phải.”

Eli nghiêng đầu. “Không chôn trong nghĩa trang nhà thờ sao? Ông rất năng nổ trong giáo đoàn suốt những năm qua mà…”

“Con tôi chết lúc mới sinh,” Pike kể. “Rồi vợ tôi qua đời. Tôi… chưa chuẩn bị tinh thần để họ ra đi. Tôi muốn vợ và con ở một nơi mà họ có thể tìm tôi và tôi có thể tìm họ.” Ông quay lưng đi, sau khi chắc chắn Eli nhìn thấy mình đang khóc.

Hồ sơ gốc chẳng hề đề cập đến cái xác đứa bé. Eli đã rà soát và đoán cảnh sát hồi đó chẳng chịu điều tra đến nơi đến chốn. Nếu không thì bất kỳ bác sĩ pháp y nào cũng sẽ thực hiện khám nghiệm tử thi. Mặt khác, nếu một người đàn ông giàu có đầy quyền lực gọi đến báo án rằng vợ anh ta bị giết hại, chẳng cảnh sát điều tra nào lại muốn xát muối vào vết thương của anh ta. Nếu Pike khai đứa bé mất lúc mới sinh, họ đành phải tin là vậy.

Eli biết người ta chỉ nhìn thấy thứ mình muốn nhìn, và cảnh sát điều tra cũng không ngoại lệ. “Ông đã phát hiện ra vợ mình,” Eli nhắc lại.

“Tôi là người cắt dây hạ xác cô ấy xuống. Tôi biết mấy người các anh muốn… giữ nguyên hiện trường. Nhưng tôi không thể chịu đựng được khi nhìn thấy cô ấy như vậy. Giống như là…” Giọng ông ta lạc hẳn đi. “Giống như cô ấy đang rất đau đớn.”

“Còn cha của bà nhà thì sao?”

“Cụ Harry? Ông ấy sống trên khu Đồi. Ông ấy đang dự hội nghị tại Boston và lập tức quay về nhà. Không bao giờ gượng dậy nổi sau khi biết Cissy bị giết hại… chìm trong rượu chè rồi mất hai năm sau đó.”

Ông cụ ở Boston. Vậy là có thể loại ông ta ra khỏi diện tình nghi. “Ông có nhìn thấy cái ghế nào để vợ ông đứng lên không?” Eli thắc mắc. “Vật gì đó mà vợ ông có thể dùng để trèo lên cao?”

“Vợ tôi bị giết hại,” Pike đính chính, giọng khô khốc. “Nếu muốn tự tử thì cô ấy phải với tới nóc nhà - chỗ ấy cách sàn nhà đến ba mét, và chẳng có vật gì đủ cao để cô ấy đứng lên hết.”

Eli thẳng thắn đáp lại cái nhìn chằm chằm của ông già. “Thưa ông Pike, tôi chỉ muốn tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra. Dựa trên những tranh chấp xung quanh chuyện bán mảnh đất kia, chúng tôi đã có vài manh mối mới về Sói Xám. Theo suy luận của tôi thì vụ án này vẫn chưa được giải quyết hợp lý.”

“Tôi cũng thấy vậy.”

Eli chờ một lúc, biết rằng im lặng chính là cách gây áp lực mạnh mẽ nhất, nhưng Pike không thú nhận thêm điều gì. Một cô y tá mỉm cười tiến lại gần. “Đến giờ trị liệu rồi.”

Eli đứng dậy nhìn theo ông già đang bị đẩy ra ngoài. Anh chờ đến khi y tá rẽ xe lăn vào góc và mấy bệnh nhân khác mải xúc ăn, rồi lôi từ trong túi ra một đôi găng tay cao su, mở túi zip mang theo từ nhà và chôm cái ly nước để trên khay của ông cụ.

• • •

Mọi thứ tại Comtosook đã trở lại bình thường.

Mấy cái đồng hồ ngừng đúng nửa đêm mấy tuần trước đã hoạt động lại; mấy cái xích đu trong sân chơi không còn rên rỉ khi trẻ con ngồi lên; đám bươm bướm xám xịt đã lấy lại sắc màu tươi tắn. Mấy bà mẹ rón rén ra khỏi nhà thả bọn trẻ chơi đùa trên phố. Đám bọ cánh cứng phát sáng bám đầy cây bạch dương đã biến mất. Mớ ảnh chụp nhanh chóng phai màu trong tiệm rửa ảnh nay lại hiện rõ, đúng là đã có thay đổi.

Những gã làm nghề mai táng từ khi tìm thấy một bông hoa mẫu đơn nguyên vẹn trong miệng mỗi khách hàng đến giờ vẫn giữ thói quen kiểm tra răng miệng của người chết. Abe Huppinworth sáng nào cũng ra quét sân trước cửa hàng bách hóa mặc dù trên sàn sạch bong kin kít. Mấy người thương nhân trung tuổi thường ngủ quên giờ lại nghe tiếng chuông báo thức, nhưng vẫn lại ngoan cố trùm chăn kín đầu, như thể cứ thế là đi vào cõi mộng. Nói chung, ai trong thị trấn cũng cảm thấy trống rỗng vì thiếu vắng thứ gì đó mà họ không hình dung được.

Shelby chỉ kịp chạy ra khỏi văn phòng luật sư, vọt vào bụi cây và nôn. Một lúc sau, cô chùi miệng bằng khăn giấy, ngồi bệt bên lề đường thầm mắng nhiếc chính mình. Viết di chúc là chuyện hết sức bình thường, người lớn ai cũng đến lúc phải làm vậy, nhất là khi cô còn có một cậu con trai.

Nhưng Shelby biết rõ Ethan sẽ chẳng bao giờ được thừa hưởng chỗ tài sản mà cô vừa chuyển lại cho con mình trong di chúc.

Shelby sinh con giữa lúc trời nổi cơn giông tố. Thomas lái xe đến bệnh viện bằng chiếc xe mui xếp cũ của hai vợ chồng. Mui xe bị kẹt lúc mở ra rồi không đóng lại được nên dọc đường cao tốc, người Shelby ướt đẫm nước mưa giữa cơn đau xé lòng. Khi họ đỡ lấy đứa bé sơ sinh và đặt nó lại gần Shelby, nhìn đứa bé mềm nhũn như không xương, nhớp nháp như con ếch mà cô không kìm được nước mắt. “Nhìn xem,” cô cứ lặp đi lặp lại với Thomas. “Anh đã thấy đứa bé nào như thế này chưa?”

Ethan là đứa bé trai xinh xắn nhất. Lúc Shelby đưa Ethan về nhà, ai cũng phải trầm trồ với dáng vóc khỏe mạnh, mái tóc đen, bàn tay nắm lại như nắm đấm và đôi mắt màu ngọc lam của cậu nhóc. Người ta cứ mãi xuýt xoa, “Đấy là một đứa bé hoàn hảo.” Nhưng hóa ra thiếu sót của Ethan không phải là thứ dễ nhận ra bằng mắt thường.

Lần đầu tiên cậu bé bị ánh mặt trời làm bỏng da là hồi sáu tháng tuổi. Lúc đó Thomas và Shelby vẫn sống gần bờ biển tại New Hamsphire và đang lái xe đến Khu bảo tồn chim Plum Island. Vào tháng Mười, chẳng có ma nào đến bờ biển. Trên bãi cát dài hoang sơ, bên cạnh đám chim hải âu đang tranh nhau mấy cái bánh quy giòn, hai vợ chồng đặt Ethan đang ngủ say xuống bãi cát rồi hôn nhau, tay luồn vào trong áo người kia, từng sợi tóc rin rít vì không khí đẫm vị muối. “Em cảm giác mình là học sinh trung học,” Shelby đùa lúc Thomas tháo cúc quần jeans và luồn tay vào giữa hai chân cô. Thomas cười phá lên, “Học sinh trung học không đi xe hơi có ghế trẻ em đâu,” anh đáp.

Mải đắm chìm vào nhau, hai vợ chồng không để ý đến việc làn da con trai đã biến thành màu quả dâu tằm, càng lúc càng sậm màu dưới ánh mặt trời. Hai người không biết những vết tưởng như vết phát ban hóa ra là bỏng rộp. Khuya hôm đó, sau khi chườm lạnh mà Ethan vẫn khóc thét, Shelby hiểu ra chuyện này chỉ mới bắt đầu.

Bác sĩ không tài nào chẩn đoán được bệnh này di truyền từ Shelby hay Thomas, nhưng đối với Shelby, nguyên nhân từ đâu chẳng hề có nghĩa lý gì. Cô nghĩ bệnh của Ethan là lỗi của mình, vì cô không kịp ngăn chặn nó. Vậy nên cô sẽ dành hết phần đời còn lại của mình để bù đắp cho con.

Không ai có thể nói cho cô biết Ethan còn sống được bao lâu. Mỗi lần tái khám, cô gặng hỏi ông bác sĩ da liễu nhưng ông ta bảo điều này phụ thuộc vào tình trạng tổn thương trên da Ethan trước khi chẩn đoán - cứ mỗi phút ở ngoài trời mà không có quần áo bảo vệ hồi còn là trẻ sơ sinh sẽ rút ngắn cuộc sống của cậu bé thêm vài ngày. Shelby tưởng tượng bệnh ung thư giống như đám sứa ngoài biển lâu lâu lại trồi lên mặt nước - không nhìn thấy nhưng ta biết chúng ở ngoài đó và nguy hiểm thế nào.

Làm sao có thể tự tay chôn cất con mình rồi bình tĩnh sống tiếp?

Shelby lấy tay ôm mặt. Cuốn sổ tay để mở bên cạnh. Dù có làm di chúc, Ethan vẫn không phải là người thu dọn di vật cho cô: mớ đồ sứ, những bức ảnh và thư tình ngày xưa của cô. Chính Shelby mới sẽ là người ngay ngắn gấp từng cái áo xíu xiu để quyên tặng, rồi mở rộng cửa sổ phòng ngủ để mùi của cậu nhóc tản đi xa dần, mãi đến khi có ai đó đến ở. Và người đó không phải đứa con trai đặc biệt của cô.

Cô nghe thấy tiếng xe đến gần nhưng chẳng buồn ngước lên. Thứ nhất là vì cô đang trông quá nhếch nhác. Thứ hai là vì chẳng có mấy nơi như thế này để cô bộc lộ cảm xúc tuyệt vọng, ví dụ như ngay bên đường để chẳng ai phải quan tâm. Cửa sổ trên xe mở rộng; cô còn nghe thấy tiếng đàn guitar vang trên trong radio.

“Cô Wakeman phải không?” Bánh xe dừng lại bên cạnh cô. Shelby không ngẩng đầu dậy mãi cho đến khi nghe tiếng thở hổn hển. Tò mò ngước lên nhìn, đập vào mắt cô là con chó khổng lồ nhất mà cô từng thấy. Con chó đang thò đầu qua cửa sổ chiếc xe tải màu đen. Một bàn tay đè đầu con chó sang một bên, để lộ gương mặt anh cảnh sát đến nhà cô tối hôm qua.

Eli. Đúng là tên anh ta.

Cô chùi nước mắt, cố tỏ vẻ bình thường. “À, chào anh.”

Shelby cảm nhận được ánh mắt anh ta nhìn chằm chằm mình. Cảm giác này có giống với khi cảm giác bỏng rát xuất hiện trên da lúc Ethan đứng dưới ánh mặt trời không nhỉ? Ngạc nhiên là anh cảnh sát chẳng hỏi gì đến chuyện một người phụ nữ điên khùng ngồi trên lề đường. Anh chỉ nói, “Watson đang trên đường đi uống cà phê đấy.”

“Watson là ai?”

Eli vuốt đầu chú chó. “Đây là Watson.”

Shelby nhận ra miệng mình đang cong lên thành một nụ cười khi đứng lên. “Con chó này biết uống cà phê sao?”

Giả vờ giơ tay bịt kín cái tai cụp của chú chó, Eli ra vẻ thì thầm, “Nó đang cố kìm không lớn nhanh quá ấy mà.”

Nghe vậy, cô cười ngặt nghẽo rồi sửng sốt đến mức phải đặt tay lên ngực vì không ngờ mình còn cười được thế.

“Watson sẽ cảm thấy rất hân hạnh nếu cô đi cùng chúng tôi đấy.”

Shelby ngập ngừng đặt tay lên cửa sổ xe. “Watson nên học cách tự bày tỏ chứ nhỉ.”

Eli rướn người sang phía chú chó, giật nhẹ tay cầm, để cửa xe mở rộng trước mặt Shelby; đúng kiểu trải thảm đỏ cho khách quý, chào đón một khởi đầu mới. “Để tôi nói cô nghe,” Eli cười toe toét. “Watson hơi bị thẹn thùng đấy.”

Ross rít một hơi dài rồi quẳng tàn thuốc lá vào bụi cây mọc bên hiên nhà. Hóa ra có mặt vào giây phút mất đi người thân yêu chẳng làm chuyện dễ dàng hơn. Hóa ra cảm giác chết lặng bên ngoài chẳng khiến vết thương lòng ngừng rỉ máu.

Ross chẳng biết nên tin vào điều gì nữa. Anh có thể yêu Lia mà vẫn còn tình cảm với Aimee hay không? Có khi nào Aimee có thể quay về giống như Lia nhưng chọn ra đi? Nếu vậy… chẳng phải tình cảm anh vẫn luôn tin rằng rất nồng nàn hóa ra không hề đặc biệt sao?

Nếu suy nghĩ tiếp theo hướng này, những việc anh làm suốt mười năm qua chẳng có nghĩa lý gì. Ross tìm kiếm vị hôn thê - đầu tiên là đâm đầu tự tử, sau đó là điều tra hiện tượng tâm linh. Có lẽ tình yêu anh cho là định mệnh chỉ là trùng hợp. Có thể việc anh quen Aimee, yêu Aimee rồi đánh mất cô ấy - đơn giản là để dấn thân vào việc săn ma, và gặp được Lia.

Nhưng Rod van Vleet sẽ tìm cách trục xuất Lia. Có thể lần đầu sẽ không thành, lần thứ hai cũng thất bại, nhưng rốt cuộc cũng có lúc Lia phải ra đi dù cô ấy đang trốn ở đâu. Dù sao đi nữa, vì sao cô ấy phải ở lại, khi cô ấy đã biết mình từng là ai… và là gì?

Nghề săn ma lấy mất của anh vài năm, Ross tưởng tượng sẽ mất vài kiếp để tìm được đúng hồn ma không muốn lộ diện.

Vậy sao không chấm dứt kiếp này, sau đó tiếp tục kiếp khác?

Anh nhìn chằm chằm vào vết bỏng thuốc lá trên da vài tuần trước. Chỉ cách đó vài phân là vết sẹo nhắc anh nhớ mình đã kề cận tử vong như thế nào. Lặp lại việc đó chẳng hề khó khăn tí nào. Còn có mớ thuốc ngủ trắng toát như cẩm thạch đặt trong phòng tắm của Shelby. Trong hộc tủ của Ethan còn có một con dao đa dụng Thụy Sĩ. Như thói quen của một người lang bạt luôn đảm bảo mình phải biết lối thoát hiểm nhanh nhất phòng khi khẩn cấp, anh đã rà soát khắp nhà mấy tuần trước.

Nhưng Ross biết bước qua thế giới bên kia chẳng dễ dàng gì. Anh sẽ biến thành một hồn ma lảng vảng ở thế giới này vì nỗi đau đớn gây ra cho chị gái, và vì những điều mình chưa làm cho Lia.

Có lẽ anh sẽ giúp Eli Rochert. Biết đâu nếu Lia dõi theo hành động của anh từ đâu đó, cô sẽ có lý do ở lại… mặc cho van Vleet sử dụng biện pháp gì để trục xuất cô.

Trong cơn tức giận, anh thọc tay vào túi quần và sờ thấy thứ gì đó. Từ mỗi bên túi quần, anh móc ra một đồng xu năm 1932. Đồng xu sáng bóng như vừa mới đúc sáng nay. Anh tưởng tượng mình nằm trong quan tài, với mấy đồng xu đặt trên mắt làm phí qua sông Styx. Lia sẽ đợi anh sao? Aimee sẽ đợi anh sao?

“Đó là cái gì?”

Mãi chìm đắm trong suy nghĩ, Ross giật mình vì giọng nói của cháu trai. “Cậu đang làm gì vậy?”

Mặc dù mái hiên đã cản hết ánh mặt trời, Ethan vẫn trùm kín mít từ đầu đến chân. “Cậu không biết nữa. Cháu cũng không ngủ được đúng không?” Ethan bước lại gần, nhìn vào mấy đồng xu. “Mớ xu đó, thêm một đô la là đủ mua một ly cà phê đấy.”

“Con nít học kiểu mỉa mai ấy từ lúc nào hả?”

“Khi thế giới càng lúc càng tệ hại,” Ethan đáp.

“Bọn cháu là thế hệ Z mà.”

Ross nhướn mày. “Sau Z thì gọi là thế hệ gì?”

“Cháu đoán chắc sẽ quay lại từ đầu.” Cậu nhóc ngồi xuống xích đu và lắc lư, trong khi Ross đốt thêm một điếu. “Cho cháu một điếu được không?”

“Cháu nghĩ gì chứ?” Ross lắc đầu. Mấy hành động khiến xã hội đánh giá anh là kẻ thất bại hóa ra lại ngầu hết biết trong mắt mấy đứa nhóc tuổi Ethan.

“Mẹ bảo cậu không nên hút thuốc khi ngồi gần cháu.”

“Vậy đừng cho mẹ biết là được.”

“Cậu không nói đâu.” Anh cười. “Hơn nữa, chết vì ung thư phổi là chuyện không tưởng đấy.”

Ross nghiêng người về phía lan can trước hiên. Anh mệt lử; dù cố mấy cũng không ngủ được; vậy mà giờ anh phải nói chuyện lịch sự với một cậu nhóc chín tuổi trong khi bản thân chỉ muốn trốn đi ngủ đông hoặc dí đầu vào lò nướng, hoặc chui vào ngủ đông trong lò nướng.

“Cháu nghe cậu và chú cảnh sát nhắc đến ma tối hôm qua.”

“Cháu không nên nghe lén.”

Ethan nhún vai. “Cháu nghĩ thực sự có một nơi mà người ta sẽ đến… sau khi chết,” cậu nhóc nói. “Cậu nghĩ nơi đó trông như thế nào?”

Ngực Ross đau nhói khi nhận ra Ethan hỏi không phải vì tò mò, mà vì muốn chuẩn bị tinh thần. Anh nhớ rõ lần đầu tiên ẵm cậu bé trong tay, anh đã nhìn vào đôi mắt xanh đen và nghĩ thầm, giờ cậu cháu mình quen nhau rồi nhé. “Cậu không biết nữa, nhưng chắc không có đàn hạc và thiên thần đâu.”

“Biết đâu mỗi người đến một nơi khác nhau,” Ethan đoán. “Ví dụ như cháu sẽ có một máng trượt và được chơi đùa ngoài trời suốt ngày. Nơi đó phải đầy ắp những điều tuyệt vời khiến cháu quên đi cuộc sống dưới này. Cậu mong muốn điều gì?”

Thế giới quái nào sẽ để một cậu bé với cả quãng đời phía trước chết đi, còn một kẻ khốn khổ không còn gì như Ross lại sống mãi? Thế giới mà anh sẵn sàng quăng đi trong chớp mắt lại là thứ quý giá và hiếm hoi đối với nhiều người không thể coi sự sống là điều hiển nhiên.

Anh thầm nghĩ, “nơi cứu chuộc” chẳng qua là từ đồng nghĩa với “ngày mai”.

Ross ngồi xuống xích đu bên hiên nhà, choàng tay qua vai Ethan và đáp: “Thứ cậu muốn là được quay lại thăm hỏi mọi người.”

Như Lia đã từng.

“Không thể tin nổi.” Shelby đứng trước mái hiên cửa hiệu Gas & Grocery, lặng nhìn con chó săn liếm cà phê âm ấm đựng trong cái tô đi mượn.

“Ồ, món này thì dễ rồi. Chỉ khi nó lên cơn thèm mứt hoặc ốc sên thì đúng là kinh khủng.”

Watson có vẻ thừa da. Da nó xếp nếp trên đầu đến mức như che kín mắt. Chú chó ngẩng đầu lên nhìn Shelby rồi sục mõm vào bụng cô. “Watson!” Eli quát nạt.

“Không sao đâu.” Shelby gãi gãi chỗ lông sau tai Watson. “Nó chỉ tưởng tôi là mỹ thực thôi.”

“Thế nghĩa là đẹp hả?”

“Có nghĩa là đồ ngon ăn được.”

“Khôn quá đi,” Eli lầm bầm, nhấp một ngụm cà phê trong cốc rồi nuốt những từ vừa định nói.

Hai người bị xao nhãng bởi tiếng bánh xe nghiền trên sỏi rồi dừng lại. Một anh chàng bảnh bao với dải tóc trắng cùng một phụ nữ ăn mặc hoa hòe như dân Di-gan bước xuống xe. “Xin Chúa rủ lòng thương,” cô ta lẩm bẩm. “Chẳng biết mấy thị trấn này đã từng nghe đến lời dạy của Ralph hay không?”

“Bình tĩnh nào Maylene. Anh chỉ cần mua ít xăng khô Sterno và diêm quẹt thôi. Họ chắc phải trữ hàng để cung cấp cho đám người chưa biết điện đóm là gì.”

Shelby sấn đến một bước. Cô không tài nào nhịn nổi đám dân thành phố đến Comtosook với suy nghĩ dân bang Vermont chỉ biết mặc quần yếm và đi chân đất, trong miệng chỉ còn bảy cái răng và nuôi nguyên đàn bò Holsteins trong phòng khách. “Xin lỗi,” Shelby lên giọng, nhưng Eli nắm lấy tay cô, khiến bao nhiêu câu chữ bay đi hết sạch.

“Cô ấy muốn nhắc là xăng khô nằm ở quầy thứ ba phía bên phải,” anh nhẹ nhàng nói. Cặp đôi kia gật đầu, tỏ vẻ sửng sốt vì gặp được ai đó trong thị trấn với IQ hai chữ số rồi bước vào cửa hàng. “Đó là Curtis Warburton,” Eli nói nhỏ sau khi hai người kia vừa khuất khỏi tầm mắt. “Anh ta có một tiết mục chuyên về mấy vụ ma ám.”

“Tôi biết. Em tôi từng làm việc cho anh ta.” Shelby ngập ngừng. “Nhưng chuyện đó chẳng khiến gã trông đỡ ngu ngốc hơn tí nào.”

“Một thằng ngu hơi bị nổi tiếng đấy. Gã ta đến Comtosook chắc chỉ vì một chuyện thôi. Watson!” Con chó nhấc cái đầu to đùng lên. “Đi theo hai người đó.”

Shelby giật mình sửng sốt khi thấy Watson lao vào trong cửa hàng. “Tiền thuế của tôi có góp vào lương của nó không?”

“Anh chàng ấy ít tốn kém lắm. Thỉnh thoảng một miếng thịt bò ngon là được.”

“Chàng ta làm sao kể lại với anh rằng hai vợ chồng Warburton làm gì trong đấy..

“Tất nhiên là không thể nào,” Eli đáp. “Nhưng nếu không làm vậy thì sao tôi có được vài phút riêng tư với cô chứ?”

Shelby cảm thấy cổ mình bắt đầu ửng hồng và lan lên trên. Cô nhấp một ngụm cà phê nhưng nhận ra cái ly đã trống rỗng. “Tôi nên về nhà. Ethan đang ở nhà với Ross, còn anh, à, chắc có nhiều việc phải xử lý cho vụ án của nhà Pike lắm…”

“Em trai kể với cô sao?” Shelby gật đầu. “Vậy thì cô phải biết vụ đó không nằm trong diện ưu tiên của cục cảnh sát chứ.”

Đôi mắt anh ấy không dời khỏi gương mặt cô. Ngay cả khi Shelby cố quay lưng bỏ đi, anh níu cô lại, mãnh liệt như sức hút giữa mặt trăng và trái đất. “Chuyện này nghĩa là sao?”

Eli chậm rãi mỉm cười. “Nghĩa là tất cả thời gian trên đời này đều thuộc về tôi.”

LỜI KHAI NHÂN CHỨNG

Ngày: Ngày 19 tháng Chín năm 1932

Thời gian: 11 giờ 36 phút tối

NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN: John Delacour (Sói Xám)

NGƯỜI PHỎNG VẤN: Cảnh sát Duley Wiggs và Thám tử F. Olivette, trực thuộc Cục Cảnh Sát Comtosook

ĐỊA ĐIỂM: Cục Cảnh Sát Comtosook

NỘI DUNG:

1. Hỏi: Mời anh khai báo tên trong khai sinh và ngày sinh?   Đáp: Sói Xám. 2. Hỏi: Đó có phải tên thật của anh không?   Đáp: John Delacour. Ngày sinh của tôi là ngày 5 tháng Mười Hai năm 1898. 3. Hỏi: Nơi cư ngụ hiện tại của anh Là ở đâu?   Đáp: Tôi lang thang khắp nơi. 4. Hỏi: Tối hôm qua anh ở đâu?   Đáp: Quán Ổ Chuột. Một quán bar     tại Winooski. 5. Hỏi: Anh đến đó lúc mấy giờ?   Đáp: Tôi đoán là tầm tám giờ. 6. Hỏi: Anh rời khỏi đó lúc mấy giờ?   Đáp: Tôi không biết… chắc khoảng nửa đêm? Hoặc một giờ sáng? 7. Hỏi: Nửa đêm hay một giờ sáng?   Đáp: Một giờ sáng. 8. Hỏi: Có người nào làm chứng cho anh không?   Đáp: Anh chàng pha chế rượu. Tên anh ta là Lemuel. 9. Hỏi: Anh có quen biết phu nhân Spencer Pike không?   Đáp: [Ngập ngừng] Tôi có quen biết. 10. Hỏi: Vì sao quen biết?   Đáp: Tôi từng làm vài việc lặt vặt tại nhà cô ấy. 11. Hỏi: Lần cuối cùng anh gặp cô ấy là lúc nào?   Đáp: Chiều hôm qua. 12. Hỏi: Chiều hôm qua lúc mấy giờ?   Đáp: Khoảng ba giờ. 13. Hỏi: Anh có biết phu nhân Pike đã được phát hiện tử vong hồi sáng nay không?   Đáp: Cô… cô ấy… ôi không, ôi, lạy Chúa. 14. Hỏi: Vì sao anh giết cô ấy?   Đáp: Tôi… Chúa ơi, không, tôi không giết cô ấy. 15. Hỏi: Chúng tôi biết anh đã quay lại đó ngày hôm qua, sau ba giờ chiều.   Đáp: Tôi không hề. Tôi thề đấy. 16. Hỏi: John, John. Anh không nên nói dối trước mặt chúng tôi.   Đáp:

Tôi… Lạy Chúa Jesus, đừng đánh tôi!

Tôi không hề làm gì hết.

17. Hỏi: Mày đúng là một thằng Gypsy quen nói láo khốn kiếp.   Đáp: Tôi không hề nói láo… 18. Hỏi: Không nói láo hả? Vui thật, vì tao biết mày giết cô ấy. Mày có đánh mất vật dụng riêng tư nào không?   Đáp: Không hề. 19. Hỏi: Thật sao. Hình ảnh này quen thuộc không?   Đáp: Tôi… đó là tẩu thuốc của tôi. 20. Hỏi: Nó được tìm thấy tại hiện trường. Mày cũng có mặt ở đó. Bàn tay bẩn thỉu của mày sờ soạng cô ấy…   Đáp: Tôi không hề… 21. Hỏi:

Ngừng thu âm đi Duley.

[TẠM NGỪNG]

  Đáp:

[TIẾP TỤC GHI ÂM]

Chúa ơi, Làm ơn… tôi sẽ khai thật. Tôi sẽ khai toàn bộ sự thật. Cô ấy là… tôi sẽ không bao giờ làm hại cô ấy, không bao giờ.

22. Hỏi: Giống như mày không hề làm hại đến nạn nhân lần trước sao John?

Sửng sốt, Ross dừng chân trước căn phòng trên tầng hai đang khép cửa trong cục cảnh sát. Cô thư ký đã chỉ anh lên lầu tìm Eli Rochert. Chắc chắn là ngài thám tử không phải đang hít thuốc, nhưng mùi thuốc xông cứ phảng phất đâu đây. Mùi thuốc khiến Ross xây xẩm mặt mày; anh gõ cửa bước vào và bắt gặp Eli đang đứng bên cái thùng đựng đầy kính cửa sổ Plexiglas, một bàn tay đeo găng đang rút ra một tấm kính. “Anh đừng tiến lại gần. Tôi đang xịt khói đây.”

Ross phớt lờ anh ta và cứ thế bước thêm một bước. “Ai chọc tức anh à?”

Eli đặt tấm kính lên bàn. “Không phải ý vậy, tôi đang xông khói. Đốt keo siêu dính. Độc lắm nhưng lưu lại dấu vân tay hiệu quả nhất.”

“Giỡn sao?” Ross bước qua người con chó khổng lồ lúc nào cũng theo chân thám tử như hình với bóng rồi nhìn chằm chằm vào miếng kính. “Sáng kiến của ai vậy?”

“Tôi nhớ hình như là công ty điện ảnh nào đó bên Nhật. Hơi bốc ra từ keo khiến Cyanoacrylate Ester đọng lại ở những nơi bị ẩm trên bề mặt. Có một quãng thời gian, trước khi giá cả leo thang, bác sĩ pháp y từng dựng lều và xông khói xác chết để xem có tìm được dấu vân tay của kẻ bị tình nghi hay không.” Eli gật gù nhìn cái hộp xông khói tự tạo. “Tôi đành phải làm một mô hình thu nhỏ thôi.”

Anh ta lôi ra một cái hộp chứa bột đen thui kèm dụng cụ giống như chổi trang điểm mà Shelby vẫn dùng. Lúc Eli quét bột lên cái ly, mấy dấu vân tay lập tức hiện rõ. “Dĩ nhiên là tôi không thể thảo luận tình tiết với một người không liên quan đến vụ án,” anh ta nói xong, ngước mắt lên và chờ đợi.

Ross đáp lại bằng việc bước tới ngồi lên ghế.

“Đây là ly uống nước của Spencer Pkie,” Eli vừa giải thích, vừa đặt cái ly xuống để chụp lại dấu vân tay. “Chôm được sau cuộc phỏng vấn ở nhà dưỡng lão đấy. Tôi đang lấy dấu vân tay trước khi gửi đi xét nghiệm DNA.”

“Đã biết cái ly là của ông ta thì sao anh phải kiểm tra?”

“Bên nghiên cứu có thể lấy mẫu DNA này đem so sánh với những chứng cứ đã thu thập được. Đấy có thể là bằng chứng kết tội gã giáo sư đạo mạo thông qua phương pháp chưa được áp dụng bảy mươi năm trước.”

“Vậy chuyện linh cảm thì sao?” Ross nói nhỏ.

“Chúng ta vẫn cần,” Eli đề nghị. “Nhưng giờ chúng ta đã có phương án dự phòng.” Anh đẩy một tập tài liệu về phía Ross. “Đây là dấu vân tay thu được từ tẩu thuốc trước khi tôi gửi nó qua cho Frankie để xét nghiệm DNA. Tẩu thuốc là vật dụng của thổ dân Abenaki; ông nội tôi cũng có một cái giống y chang. Nó được tìm thấy trong nhà nơi Cecelia Pike bị treo cổ. Theo suy luận thông thường thì cái tẩu thuốc là của Sói Xám. Nhưng mấy dấu vân tay của Sói Xám lấy được từ Nhà tù Liên bang… không hề khớp.”

Ross liếc qua tờ giấy thứ hai có in mười hình vuông bé xíu đều đặn như hàm răng, trong mỗi hình vuông là một dấu vân tay. Anh cố xem thử có dấu vân tay nào khớp với dấu vân tay trên tẩu thuốc. Nhưng mấy dấu vân tay trên tẩu thuốc đều hết sức mờ nhạt và thiếu phần dưới. “Sao anh biết được?”

“Nhìn vào hình dáng vân tay này,” Eli giải thích. “Ví dụ như vân sóng, vân móc, vân xoáy, vị trí vân tay nằm trên ngón nào, kích thước vân tay dựa trên số đường vân móc. Anh chỉ cần chú ý là thấy những vân tay của Sói Xám rất đặc biệt. Tám ngón tay của ông ta có vân sóng. Dạng vân tay này chỉ chiếm khoảng năm phần trăm dân số. Vân tay tôi lấy được trên tẩu thuốc không rõ ràng lắm, nhưng anh thấy được đây là vân móc. Này, xem bản phân tích chi tiết đi.”

“Phân tích chi tiết là sao?”

“Đây này,” Eli chồm qua vai Ross và chỉ tay vào chỗ những đường vân rẽ thành chữ Y. “Ví dụ như một chỗ rẽ đôi. Hoặc một đường vân bị cắt đứt đột ngột. Hoặc một chấm. Khả năng tìm được tám điểm tương đồng giữa hai nhóm dấu vân tay cũng giống với chuyện tung một hòn đá lên không trung mà không thấy nó rớt xuống.” Anh ta đẩy tập vân tay từ nhà tù sang một bên và đặt xuống bàn mẫu vân tay mới lấy được từ ly nước của Spencer Pike. “Vấn đề là - giả sử cái tẩu thuốc là của Sói Xám thì những dấu vân tay trên đó không phải của ông ta. Tôi rất tò mò không biết đấy là dấu vân tay của ai.”

Ross rốt cuộc cũng thông suốt. “Nếu Spencer chạm vào nó, không chừng ông ta là kẻ dàn dựng mọi chuyện.”

“Chính xác.” Eli rướn người ra trước, đẩy Ross sang một bên, trên tay là kính lúp để xem dấu vân tay. “Nếu anh nghĩ lại thì mọi chuyện đang dần được hé lộ… theo như báo cáo cảnh sát, Pike đuổi việc và tống khứ Sói Xám ra khỏi nhà chiều hôm đó. Anh ta tức giận với Sói Xám - tức đến mức gài người ta vào một vụ giết người. Tôi đã nhờ phòng thí nghiệm ở Montpelier giám định những bức ảnh hiện trường. Anh thấy cửa sổ trong phòng ngủ bị đập vỡ như thế nào chứ - cửa sổ bị đập vỡ từ bên trong.”

Ross vẫn thất thần. “Tôi cứ nghĩ gã chồng ra tay đánh đập cô ấy,” anh thì thào. “Nhưng cô ấy nói anh ta yêu cô ấy quá nhiều.”

“Người ta hoàn toàn có thể giết người vì yêu,” Eli đáp. “Tôi thấy suốt.”

“Vậy anh cho rằng cô ấy đang bỏ trốn khỏi anh ta?”

“Tôi không biết nữa,” Eli thừa nhận. “Nhưng tôi nghĩ cô ấy đã gây gổ với chồng vào ngày hôm đó. Báo cáo khám nghiệm tử thi có ghi nhận vết bầm trên cổ tay vài tiếng trước khi tử vong.”

“Anh có cho rằng…” Ross nuốt nước miếng. “Anh có nghĩ anh ta giết cô ấy rồi ngụy tạo thành một vụ treo cổ không?”

“Không thể nào. Báo cáo khám nghiệm tử thi chứng minh, và những tấm ảnh chụp… dù sao thì câu trả lời cũng là không thể. Hơn nữa từ ảnh chụp phóng to - ngay dưới chỗ treo xác là hai bộ dấu giày in lại trên mùn cưa. Một dấu giày có gót nhỏ hơn và dường như khớp với giày nạn nhân mang. Dấu giày còn lại to hơn, có thể là của đàn ông. Pike khai mình hạ xác nạn nhân. Nhưng anh ta cũng khai có ai đó treo cổ cô ấy. Vậy thì dấu chân Sói Xám ở đâu nhỉ?” Eli đặt kính lúp xuống, đẩy tập ảnh dấu vân tay qua một bên. “Đó. Pike không phải là người cầm tẩu thuốc.”

Ross kéo tập ảnh lại gần, nghiên cứu mấy đường vân song song như xoáy nước. Anh hiểu rõ tội ác và hiện trường liên quan chặt chẽ. Bất kỳ người nào từng chạm qua đồ vật hoặc người khác đều để lại dấu vết của họ. Những thám tử như Eli thường dùng những tình tiết đó để xác định kẻ tình nghi đã từng có mặt tại đây vào lúc đó, rồi điều tra nguyên nhân gì dẫn đến hậu quả. Tuy nhiên nguyên tắc trên cũng được áp dụng để chứng minh sự hiện diện của ma. Hoặc khiến một người đàn ông cân nhắc lại chuyện tự tử. Hoặc giải thích vì sao tình yêu như một bóng ma đeo bám thật lâu sau khi kết thúc.

Thám tử điều tra như Eli biết rõ một chân lý mà rất nhiều người dành cả đời để hiểu ra: bạn không thể nào sống trên đời này mà không tạo ra ảnh hưởng với người khác.

Ngực Ross đột nhiên co thắt lại như muốn ngất đi. “Anh có sao không?” Eli tò mò nhìn anh và hỏi. Ngay cả con chó cũng ngẩng đầu lên. Ross tóm lấy thứ đầu tiên vớ được trên bàn - một bộ ảnh vân tay nhét dưới xấp ảnh hiện trường. Anh cúi xuống, giả vờ chăm chú vào mấy đường vân tay ngoằn nghoèo.

“Tôi suy đoán vầy,” Eli đăm chiêu. “Pike là một gã đàn ông quyền lực. Anh ta kể với nhân viên điều tra một câu chuyện, và bọn họ tin vì đổ thừa cho một người thổ dân dễ dàng hơn phản bác lại một người đàn ông đức cao vọng trọng trong thị trấn. Tất nhiên nếu chuyện đúng như vậy thì câu hỏi vẫn còn đó, vì sao ông Pike giết vợ?” Sau đó anh đeo găng tay cao su vào và bắt đầu gói cái ly lại để gửi qua cho bên nghiên cứu DNA. “Cũng có thể là vì tiền. Ông ta được thừa kế mảnh đất đấy thôi.”

Vẫn cau mày, Ross quét mắt từ tập ảnh vân tay đến đám vân tay lấy được trên tẩu thuốc. “Này, tôi không chắc… nhưng không phải hai vân tay này giống nhau sao?”

Eli giằng lấy tập vân tay rồi cứ thế vỗ vào đầu mình, “ừm ừm.” Sau đó anh ngồi lên ghế, lôi kính lúp ra soi kỹ. Sau khoảng năm phút, anh vuốt cằm. “Tôi sẽ bị chửi cho mà xem. Tôi sẽ nhờ chuyên gia tại phòng thí nghiệm kiểm tra lại, nhưng tôi cho hai dấu này trùng khớp.”

“Dấu vân tay đó là của ai?”

Eli nhìn sang Ross. “Của Cecelia Pike. Lấy được sau khi tử vong. Thủ tục bắt buộc.”

“Nếu Sói Xám không hề ở đó thì cô ấy làm gì với tẩu thuốc của ông ta?”

“Chắc là giữ làm kỷ niệm,” Eli đoán. “Để tưởng nhớ vài thứ khác.”

“Ví dụ như cái gì?”

“Chắc là để nhớ đến Sói Xám. Giả sử cô vợ ngoại tình… thì giết vợ rồi đổ tội cho tình nhân của cô ta đúng là một hòn đá giết hai con chim rồi còn gì.”

“Câm miệng,” Ross quát. “Anh câm miệng ngay. Không phải tình nhân. Không có tình nhân nào hết. Anh chẳng biết mình đang nói cái quái gì hết.”

“Bình tĩnh…” Eli lên tiếng. “Trong vụ này tôi không phải kẻ xấu mà.”

Ross ép mình phải thả lỏng sau khi nhận ra mình đã phản ứng như mất trí. “Chỉ là… cô ấy không thể nào ngoại tình. Anh chẳng hiểu gì về cô ấy hết.”

Eli liếc mắt nhìn Ross. “Anh cũng có biết gì hơn đâu.”

LỜI KHAI NHÂN CHỨNG

Ngày: Ngày 22 tháng Chín năm 1932

Thời gian: 8 giờ 15 phút sáng

NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN: Lemuel Tollande

NGƯỜI PHỎNG VẤN: Cảnh sát Duley Wiggs và Thám tử F. Olivette, trực thuộc Cục Cảnh Sát Comtosook

ĐỊA ĐIỂM: Cục Cảnh Sát Comtosook

NỘI DUNG:

1. Hỏi: Anh vui lòng khai báo tên trong khai sinh và ngày sinh?

Đáp: Lemuel Tollande, 45A Đường

Chestnut, Burlington

2. Hỏi: Anh Tollande, anh làm việc ở đâu?

Đáp: Quán Ổ Chuột ở Winooski. Tôi là phục vụ ở quán.

3. Hỏi: Anh có quen John Delacour, còn được gọi là Sói Xám không?

Đáp: Dĩ nhiên. Anh ấy là bạn bè, khách quen.

4. Hỏi: Anh có gặp anh ta vào đêm ngày 18 tháng Chín không?

Đáp: Có. Anh ấy đến lúc tám giờ, tám rưỡi, và rời đi khoảng một giờ.

5. Hỏi: Anh ta có rời khỏi quán bar vào giữa thời gian đó không?

Đáp: Tôi nghĩ anh ta có ra ngoài hút thuốc…

6. Hỏi: Anh ta rời đi bao lâu?

Đáp: Tôi không chắc. Đêm đó quán đông nghẹt.

7. Hỏi: Ồ, vậy thì là năm phút? Hay là một tiếng?

Đáp: Tôi… tôi không chắc. Tôi chỉ biết anh ta rời đi rồi quay lại.

8. Hỏi: Anh ta có kể với anh là vừa bị đuổi việc không?

Đáp: Không hề… nhưng Sói Xám kín tiếng lắm. Anh ta giữ chuyện trong lòng. [Ngập ngừng] Anh ta không phải kẻ giết người đâu. Lần trước cũng không phải, lần này cũng không.

9. Hỏi: Anh Tollande, gần đây anh có gặp Sói Xám không?

Đáp: Sau đêm đó thì không hề.

10. Hỏi: Anh biết chúng tôi có thể tìm được anh ta ở đâu không?

Đáp: Anh ta lang thang hết nơi này đến nơi khác.

11. Hỏi: Mấy người bọn mày lúc nào chả lang thang. Và mày cũng đang nói láo, đúng không?

Lúc bước vào căn phòng ngột ngạt ẩm mốc, ý nghĩ đầu tiên của Eli là một người rực rỡ như hoa cỡ Shelby Wakeman làm sao có thể thuộc về nơi này. Đang tưởng tượng khung cảnh cô ngồi trước kính vạn hoa đặt bên vườn tulip Hà Lan, hoặc bơi lội cùng đàn cá bảy sắc cầu vồng dưới biển Caribbean, anh giật mình nhận ra tâm trí mình đang trôi lạc tận đâu.

Watson vẫn chưa quen đeo dây xích nên đột nhiên giật mạnh một phát, làm anh bay vèo đến quầy trước mặt. Âm thanh vang lên khiến Shelby ngẩng đầu lên khỏi máy tính. “Ôi, xin chào,” cô lên tiếng, đứng dậy và vòng ra trước quầy. Cô chăm chú nhìn con Watson đang vẫy đuôi cố mạng đến mức cái đầu lúc lắc. “Chú mày không được phép vào đây,” cô khẽ mắng, đưa tay vuốt lông nó. “Nhưng mà sao tao dám ra lệnh cho một chú chó cảnh sát được?”

Lúc cô mỉm cười với Eli, tim anh đập thình thịch như tiếng pháo ống nổ giòn tan. “Chào cô,” anh lí nhí.

Giỏi lắm Rochert. Cô ấy làm việc ở thư viện, thuộc nguyên cả cuốn từ điển và mày chỉ nặn ra được từ ấy sao?

“Chú mày đang tìm thứ gì sao?” Shelby thắc mắc, Eli vừa há miệng thì chợt nhận ra cô ấy đang hỏi chuyện Watson. “Thử cuốn Chú chó của dòng họ Baskerville nhé, cùng tên với mày đấy? Hay quyển Binh đoàn chó của Robert Stone?”

“Thực ra nó chỉ theo chân tôi làm nhiệm vụ thôi,” Eli giải thích. “Tôi đang tìm tư liệu ghi chép về thị trấn những năm ba mươi.”

Anh chẳng cần đến tư liệu ghi chép những năm ba mươi. Anh đến đây vì muốn xem thử hôm nay Shelby có đi làm không. Nhưng vụ án mạng kia vẫn lởn vởn trong tâm trí nên anh đành lấy đó làm lý do. Đột nhiên Eli nhận ra bản thân bị kẹp giữa việc điều tra vụ án mạng từ bảy mươi năm trước và cảm giác thôi thúc được gặp người phụ nữ này, khiến thời gian dành cho công việc tại cục cảnh sát trở nên rất ít ỏi.

Cô nhìn thẳng vào anh với vẻ tò mò, tự hỏi vì sao một anh cảnh sát lại không biết tất cả tư liệu hành chính được lưu trữ trong văn phòng thư ký thị trấn ngay bên cạnh. “Tôi không biết chính xác tư liệu được lưu trữ ở đâu… nhưng không có ở đây.”

“Cô chỉ đường giúp tôi được không?”

Trước khi Shelby kịp thắc mắc, cô thủ thư cùng ca trực vốn bất động nãy giờ xua tay bảo cô cứ đi đi. Hai người bước xuống bậc thềm trong lúc Watson chen vào đứng giữa còn Shelby nheo mắt nhìn mặt trời.

“Trời hôm nay đẹp quá phải không?”

Cô gật gù, “Thỉnh thoảng tôi lại quên mất bên ngoài rực rỡ như thế nào.”

“Cô phải làm việc trong thư viện suốt ngày sao?”

“Đúng vậy, ban đêm thì thức chơi với Ethan. Đó là khoảng thời gian duy nhất thằng bé được ra ngoài vui đùa.” Hai người thả bộ dọc Phố Main, Watson mải mê đánh hơi mấy kẽ hở trên lề đường và mấy vết kẹo cao su dính trên mặt đất.

“Cô ngủ vào lúc nào? Vất vả lắm phải không?”

Một đứa bé chạy xe scooter cố vượt lên trước từ bên trái, ép Shelby lại gần Eli. Anh có thể vờ ngã, đổ thừa cho Watson và thừa cơ ép sát người cô. Anh còn có thể đẩy Watson về phía cô rồi đưa tay đỡ lấy khi cô ngã.

Cảm giác ôm cô trong vòng tay như thế nào nhỉ?

Lúc đến được khu văn phòng hành chính, Eli cảm thấy hơi bực bội. Vì sao mấy tòa nhà trong thị trấn lại gần nhau thế này? Anh bước theo Shelby lên mấy bậc thềm đá rồi tiến vào căn phòng nhỏ phía bên phải. “Lottie,” cô gọi tên cô nàng thư ký văn phòng bé bự, “cô giảm cân đấy à?”

Chỉ cần cô ta giảm được một vài lạng, Eli sẵn sàng ăn thực phẩm của Watson suốt một tuần. Nhưng cô nàng nở một nụ cười tươi rói. “Tôi nghĩ ăn kiêng có tác dụng đấy,” cô ta cười khúc khích, khoát tay cho phép hai người xuống tầng hầm mà không hề thắc mắc.

Tầng hầm tối om đầy mốc meo, mạng nhện giăng đầy trần nhà. Watson ngay lập tức giằng khỏi dây xích rượt theo con chuột trốn sau đám hộp xếp chồng. Shelby thản nhiên bước qua mấy cái thùng gỗ thấp, nhảy vào giữa lối đi bé xíu chất đầy tài liệu chẳng ai ngó ngàng đến hơn nửa thế kỷ. Cô mở hộc tủ, lôi ra một tập tài liệu ố vàng. “Đây là tư liệu từ năm 1932.”

Eli trân trối nhìn cô đến sững sờ. “Cô cũng có khả năng ngoại cảm như em mình sao?”

“Ross không có khả năng ngoại cảm,” cô đính chính. “Tôi lại càng không. Tôi tìm được chúng vì đã từng đến đây hồi trước, lục lọi từng kệ hồ sơ đến khi tìm được chỗ này.”

Eli nhảy vào lối đi bé xíu, lúc đứng cạnh cô, anh mới nhận ra nơi này không đủ chỗ cho hai người bọn họ. Hai người đành ép sát vào nhau từ ngực đến eo; Eli cảm nhận được hơi thở của Eli phả lên vai mình. Dưới tầng hầm nơi không khí đặc quánh như máu, Eli tưởng như thời gian cũng ngừng trôi. Dù sao đi nữa, gần đây toàn chuyện kỳ quái xảy ra.

“Vì sao anh làm vậy?” cô khe khẽ hỏi. “Cái này chẳng giải quyết được chuyện gì hết.”

Mất một lúc lâu anh mới nhận ra cô đang nhắc đến vụ án mạng. Eli nhún vai. “Con người ai chẳng làm chuyện điên khùng hằng ngày.” Ánh nắng rọi xuống từ ô cửa sổ trên trần khẽ đậu lên má cô, giống như nó cố tình tìm kiếm và cho rằng đây là đây là thứ đẹp đẽ nhất đáng được chiếu sáng. Eli cúi người, lại gần vầng sáng ấy. Nơi ấy có ấm áp không nhỉ?

Shelby lùi lại phía sau đột ngột đến mức một đống thùng rớt xuống sàn, tài liệu vương vãi đầy đấy. Cô dúi tập tài liệu vào tay Eli. Watson hắt hơi một tiếng bên kia góc phòng. “Tài liệu, à ừm, thứ anh cần chắc là nằm ngay lớp trên,” cô lầm bầm.

Eli nghe lời cô, ráng sức tập trung vào chồng giấy chứng tử nằm trong tay mình. Anh liếc qua giấy chứng tử của Cecelia Pike được ký bởi bác sĩ đã viết báo cáo pháp y. Ông ta nhận điện thoại từ cục cảnh sát về một vụ án tình nghi giết người vào lúc 10:58. Thời gian tử vong được xác định vào 11:32. Dính chặt với giấy chứng tử của Cecelia bằng máu là giấy chứng tử của đứa bé sơ sinh tử vong lúc 11:32. Anh cố nhớ lại cuộc nói chuyện với Wesley Sneap. Ông ta nói Cecelia bị treo cổ lúc nửa đêm, rồi bị hạ xuống theo tư thế nằm ngửa lúc 6 hay 7 giờ sáng. Nhưng đến gần mười một giờ cảnh sát mới được gọi đến… nghĩa là Pike có dư dả thời gian để ngụy tạo hiện trường.

Anh ngước mắt nhìn về hướng có tiếng bước chân. “Xin chào? Có ai dưới đó không?”

Tiếng lóc cóc vang lên, tiếp theo là tiếng Watson phấn khởi khi gặp được bạn mới. “Này, Pilgrim. Xuống đi! Anh bạn chẳng phải giống Pomeranian nhỉ,” Frankie Martine cất tiếng. Cô mặc quần chạy bộ sọc trắng và áo thun ôm in chữ HOTBOD. Mái tóc vàng hoe cột gọn gàng sau gáy, chẳng cần son phấn nhưng cô cũng đủ hạ gục mấy cô người mẫu. Đấy mãi là nỗi đau của Frankie - cô nàng này có trí tuệ như Marie Curie trong hình dáng Marilyn Monroe. “Eli Rochert. Làm cách nào để một cô gái tìm được anh trong thị trấn nhỉ?”

Anh nhoẻn miệng cười. “Xì, Frankie, tôi đâu có đợi hàng giao tận nhà. Cô đang làm gì ở đây vậy?”

“Đừng hòng tôi chịu giải thích chuyện này qua điện thoại.” Cô chồm qua vai anh, lúc này anh mới nhớ ra Shelby.

“Frankie Martine, đây là Shelby Wakeman. Shelby…”

“Đi đây,” Shelby lí nhí. “Tôi, ừm, phải đi đây.” Chẳng thèm nhìn anh, cô né khỏi mớ hồ sơ rồi chạy lên lầu.

“Bạn gái anh sẽ tức điên”, Frankie trêu ghẹo khi Eli dắt cô vào phòng thí nghiệm tự tạo của mình. Cô ngồi lên ghế, gác chân lên người Watson.

“Cô ấy chưa phải bạn gái tôi. Chưa đến lúc.”

“Ồ, phải rồi, ba tháng trước anh cũng nói vậy.”

Eli cau có. “Cô xinh đẹp cũng là lỗi của tôi sao?”

“Eo ơi, đấy là lời khen sao?” Frankie chồm người ra trước, rút ra một tờ giấy. “Thôi nào. Thú nhận đi. Anh yêu tôi cho xem.”

Quả thế. Vì tất cả những việc anh điều tra chẳng hề có tác dụng gì nếu Frankie không giám định chứng cứ và liên kết những manh mối kẻ tình nghi để lại. Cô lật qua những bằng chứng anh thu thập - áo quần và mấy tờ tài liệu vẫn chưa gửi đến tay cô. “Dấu vân tay đẹp đấy.”

“Tôi lấy dấu vân tay trên tẩu thuốc trước khi gửi cho cô đấy,” Eli đáp.

“Vậy sao? Vân tay của ai?”

“Của nạn nhân, kỳ quái không?”

“Ừm ừm,” Frankie ậm ừ mà không bình luận gì thêm. “Sao tôi chưa nhận được cái này?” Cô cầm lấy áo ngủ của nạn nhân, bên áo dính một chấm màu nâu.

“Cô cần bao nhiêu máu? Cô đã lấy hết chỗ quần áo của nạn nhân rồi mà?”

“Màu không khớp.” Frankie trề môi. “Thỉnh thoảng tôi mới phải phân tích mẫu máu từ bảy mươi năm trước, nhưng vẫn thấy màu sai lắm.” Cô cuộn cái áo lại rồi nhét vào trong túi xách màu đen. “Phòng khi tôi rảnh rỗi ghé thăm bạn bè ở phòng thí nghiệm Montpelier.” Sau đó cô thảy cho Eli một tập tài liệu. “Xem đi.”

Mô tả Amelogenin CSF1PO TPOX TH01 Sói Xám X, Y 11, 12 8, 11 7, 7 Cecelia X,X 10, 11 11, 12 7, 7 Spencer Pike X,Y 9, 12 8, 8 7, 9.3           Tẩu thuốc X, Y 11, 12 8, 11 7, 7 Đầu dây thòng lòng X, Y — 8, 8 7, 9.3 Nút dây thòng lọng X, X — 11, 12 7, 7 Túi thuốc A — — — Túi thuốc B X(Y)

11 (10)

(12)

11 (8)

(12)

7, 7

Túi thuốc

C**

X(Y) 11, 11 11 (8) 7, 7

Bảng I - Kết quả xét nghiệm phân loại Amelogenin

Chú thích: Những loại đặt trong ngoặc đơn () có nồng độ thấp hơn những loại không đặt trong ngoặc đơn

— Không có kết quả chắc chắn

** Hiện tượng gián đoạn giữa chừng có thể xảy ra vì DNA có hạn

Cô liếc nhìn Eli và trợn mắt khinh bỉ. “Có cần giảng bài không?”

vWA D16S539 D7S820 D13S317 D5S818 16, 16 11, 12 11, 11 9, 11 11, 11 16, 17 11, 12 11, 13 9, 9 11, 11 17, 18 9, 10 10, 10 8, 13 10, 12           16, 16 11, 12 11, 11 9, 11 11, 11 17, 18 — 10, 10 8, 13 10, 12 16, 17 11, 12 11, 12 9, 9 11, 11 — — — — — 16 (17) — 11 (12) 9 (11) 11, 11 16 (17) — 11, 11 9 (11) 11, 11

“Làm ơn.”

“Được rồi. Về cơ bản, tất cả DNA là di truyền từ bố hoặc mẹ. Mẹ cho anh một phần gene, bố cho anh phần còn lại. Kết quả là một đứa bé chân to hoặc má lúm đồng tiền hoặc tóc xoăn. Tất cả những đặc điểm bên ngoài đó được quyết định bởi DNA, nhưng lại chẳng có ích trong điều tra hình sự. Vì vậy nến chúng ta xét nghiệm DNA ở những điểm khác - ví dụ như gene vWA hoặc gene TH01. Mỗi người sẽ có một loại gene nhất định: một con số di truyền từ mẹ, số kia di truyền từ bố. DNA thu được từ bằng chứng, dù là bằng chứng cũ nghét khó nhằn mà anh gửi cho tôi, giúp thu nhỏ phạm vi để xác định ai để lại DNA ở hiện trường.” Cô vuốt phẳng mấy tờ giấy trước khi đưa qua cho Eli. “Mỗi cột trên này với một con số ghi phía trên là một trong những điểm cần xem xét. Tương ứng với mỗi điểm là hai con số - hai gene tương ứng - thừa hưởng từ bố và mẹ của người để lại DNA tại hiện trường. Hiểu chưa?”

“Đến đây thì hiểu.”

“Được rồi. Trước khi xét nghiệm chứng cứ, chúng ta cần mẫu so sánh - nghĩa là mẫu DNA mà chúng ta phải so sánh với DNA thu được trên dây thòng lọng hoặc túi thuốc. Mẫu so sánh thứ nhất là máu của nạn nhân, dính trên mọi bằng chứng vì cô ta vừa sinh nở. Tôi đánh dấu mẫu máu thu được là Cecelia. Còn kẻ tình nghi đang lẩn trốn, anh gặp may đấy - giả sử mẫu nước bọt trên tẩu thuốc là của anh ta, tôi đã tiến hành cô đọng và thu thập được đủ 8 điểm trên nhiễm sắc thể và ghi chú là Sói Xám. Cuối cùng là cái ly nước anh vừa gửi - mẫu nước bọt là từ một người khác với Sói Xám… nên tôi đánh dấu là Spencer Pike.”

“Chờ đã. Nghĩa là chúng ta có đầy đủ mẫu DNA của cả ba người?”

“Hai trên ba là chắc chắn. Mẩu thứ ba thì không chắc lắm. Tôi không thể nói rằng DNA này chắc chắn thuộc về Sói Xám vì tôi chẳng có mẫu nào để so sánh cả.”

“Vậy là cô chỉ biết mẫu DNA trên tẩu thuốc thuộc về nam giới, và người đó không phải là Spencer chứ gì.”

“Thực ra tôi biết được nhiều hơn một tí.” Frankie rà ngón tay dọc trang giấy. Phụ phẩm của xét nghiệm là chúng ta có được thống kê cho thấy cách những gene tương ứng thường ghép đôi với tần suất như thế nào và liên quan ra sao đến chủng tộc.”

“Tôi không hiểu,” Eli càu nhàu.

“Chúng ta có thể phân loại chủng tộc - da trắng, da đen, thổ dân Châu Mỹ - dựa trên kết quả thống kê. Ví dụ anh có một chiếc Rolls Royce màu trắng. Rolls Royce chỉ chiếm hai phần trăm tổng số xe ô tô.”

“Và cô biết… vì sao vậy?”

Frankie lắc đầu. “Im miệng nghe tôi này, Eli. Hai phần trăm đấy. Xe màu trắng chiếm mười lăm phần trăm tổng số xe ô tô. Để ước tính xe Rolls Royce màu trắng chiếm bao nhiêu phần trăm tổng số xe ô tô, chúng ta tính mười lăm phần trăm trong hai phần trăm xe ô tô… tức là 0.3 phần trăm, nghĩa là cứ một ngàn xe thì mới có 3 chiếc Rolls Royce màu trắng. Chúng ta cũng nghiên cứu theo phương pháp tương tự để xem tần suất những gene tương ứng này ghép lại với nhau như thế nào giữa những chủng tộc. Ví dụ như đặc điểm gene thu được từ đầu dây thừng chỉ có trên một trong 1.7 triệu người Da Trắng, và xuất hiện ở một trong số 450 triệu người Thổ Dân Châu Mỹ. Nghĩa là nếu dồn 450 triệu thổ dân vào một sân vận động, và 450 triệu dân Da Trắng vào một sân vận động khác, tôi ước tính sẽ tìm được 264 người Da Trắng có gene giống vậy… nhưng chỉ có duy nhất một người thổ dân có gene trùng khớp thôi.”

“Vậy kẻ động đến sợi dây có khả năng là người Da Trắng cao hơn là thổ dân đúng không?”

“Đúng vậy. Nhưng giờ hãy nhìn vào những con số biểu thị kết quả thu được từ tẩu thuốc. Khả năng tìm được cặp gene 11, 11 tại đoạn gene D5S818 là mười bốn phần trăm với người Da Trắng, bảy phần trăm với người Mỹ gốc Phi và mười hai phần trăm với người gốc Tây Ban Nha. Nhưng khả năng tìm được cặp gene 11, 11 là ba mươi lăm phần trăm trong cộng đồng thổ dân Châu Mỹ, tức là gấp hai lần so với cộng đồng Da Trắng. Nếu nhìn vào tổng thể kết quả xét nghiệm trên tẩu thuốc, khả năng mẫu gene thuộc về người Da Trắng là một trên 320 triệu; người Mỹ gốc Phi là một trên 520 triệu; người gốc Tây Ban Nha là một trên 41 triệu. Khả năng thuộc về người thổ dân Châu Mỹ là một trên 330,000.”

“Nghĩa là người hút tẩu thuốc này là thổ dân.”

“Đó chính là kết luận không chính thức của tôi.” Eli gật gù. “Còn gì nữa?”

“Chẳng có gì ngạc nhiên khi lấy mẫu trên đầu dây thòng lọng đem so với mẫu tế bào da trên cổ nạn nhân cho kết quả trùng khớp với kết quả của Cecelia. Tôi chỉ lấy được bảy trên tám đoạn gene từ thòng lọng để xét nghiệm nhưng đấy vẫn xem như thành công. Sau đó tôi thử xét nghiệm thêm đoạn cuối của sợi dây. Tôi không hy vọng gì nhiều vì chẳng chiết xuất được mẫu tế bào E nào từ đoạn dây. Vậy nên tôi thử phương pháp PCR để nhân bản hàng tỉ bản sao của đoạn gene thu được, cố mãi mới thu được sáu đoạn gene, đúng là phép màu. Sáu đoạn gene thu được đó đều khớp với mẫu thu được trên ly nước của Spencer.”

Kết luận này không có nghĩa Spencer thắt cổ vợ mình, nhưng ít nhất là ông ta từng đụng chạm qua sợi dây. Eli liếc qua hàng kết quả trống trơn. “Chuyện gì đã xảy ra với túi thuốc vậy?”

Frankie híp mắt. “Chuyện là nhà khoa học di truyền yêu quý nhất của anh suýt nữa thì đã lao đến giết chết gã thám tử đang nàn nỉ mình giúp đỡ đấy. Eli, anh không biết cái túi ấy khó nhằn như thế nào đâu. Tôi suýt phi tang nó nếu không nghĩ đến việc bằng chứng anh thu được ít ỏi đến mức nào.”

“Tôi mời cô bữa tối nhé.”

“Không đủ, mua cho tôi một du thuyền,” Frankie phản bác. “Lần xét nghiệm đầu tiên chẳng ra kết quả gì. Sau đó tôi đành quay lại cắt phần dây tiếp xúc với cổ nạn nhân và lấy được hai mẫu. Cả hai đều tương đồng, ngay cả cách gene kết hợp cũng tương tự nhau.”

“Nghĩa là sao?”

“Nghĩa là mỗi đoạn gene có nhiều hơn một hoặc hai gene khác nhau. Nhìn đường vẽ trên biểu đồ ấy… thấy những chỗ có đến ba con số, thay vì hai không?”

“Thấy,” Eli nhíu mày. “Vậy thì sao?”

“Anh nhớ một gene từ bố và một gene từ mẹ chứ? Nếu có ba gene thì nghĩa là anh bị biến dị hoặc đấy là hỗn hợp DNA từ hai người khác nhau. Dựa trên cấu trúc gene thì không thể loại trừ Cecelia hay Sói Xám ra khỏi phạm vi kết luận được.”

Eli khe khẽ huýt sáo. “Sao không bao gồm Spencer Pike?”

“Không thể nào. Thấy đoạn gene D7S820 không? Anh ta mang cặp gene 10, 10. Nhưng túi thuốc chứa 11, (12) hoặc là cặp 11, 11. Gene này không có trong di truyền của Spencer nên không thể nào là anh ta được.”

Mô tả FGA D8S1179 Penta E Sói Xám 19, 25 13,13 — Cecelia 19,19 13, 14 — Spencer Pike 20, 22 12,14 —       — Túi thuốc B — 13 (14) — Túi thuốc C** — — —

Bảng 1 - Kết quả phân loại

Chú thích: Những loại đặt trong ngoặc đơn () có nồng độ thấp hơn những loại không đặt trong ngoặc đơn

Eli thở dài nặng nề. Tình tiết này đúng là đảo lộn suy đoán của anh về vụ án, vì kết quả xét nghiệm DNA đã chứng minh Sói Xám có mặt ở hiện trường. Nhưng lẽ nào màn dàn dựng hiện trường của Pike không liên quan đến túi thuốc thì sao. Có thể vì lý do nào đó, Sói Xám đã đeo túi thuốc một thời gian trước khi trao cho Cecelia làm kỷ vật tình yêu, và cô ấy đã vô tình giật nó xuống lúc giãy giụa…

“Còn nữa, Eli à.” Frankie do dự. “Tôi rất quan tâm vụ này, nên quay lại xét nghiệm túi thuốc và kiểm tra thêm sáu đoạn gene nữa. Thấy không?”

D18S51 D21S11 D3S1358 12, 16 30,30 15, 15 12, 16 30, 30 15, 15 14, 17 29, 30 17, 18       13, 16 30, 30 15, 15 — 30, 30 15, 15

— Không có kết quả chắc chắn

** Hiện tượng gián đoạn giữa chừng có thể xảy ra vì DNA có hạn

Móng tay sơn tím của Frankie lướt qua các dòng chữ. “Không có một chỗ nào mà tôi tìm được bốn loại gene khác nhau. Trong mấy xét nghiệm này, ba loại khác nhau cũng không có.”

“Vậy thì sao?”

“Nếu anh và tôi nắm lấy một thứ gì đó và để lại tế bào biểu bì, khả năng là cứ một trong mười lăm đoạn gene là tìm được bốn loại gene khác nhau. Ý tôi là anh có hai từ bố mẹ anh, tôi có hai từ bố mẹ tôi, và khả năng chúng ta có chung một loại gene trên một hoặc hai đoạn gene là cực kỳ hiếm.”

“Cô đã nói mình gặp khó khăn khi chiết xuất mẫu DNA mà. Chắc có gì đó lẫn vào.”

“Không thể nào. Vậy nên tôi mới tiến hành thêm xét nghiệm.” Frankie vén tóc ra sau tai. “Mỗi khi gặp được những mẫu gene hỗn hợp chỉ chứa ba loại, thậm chí hai loại, thường thì hai người có quan hệ ruột thịt. Vì mỗi bố mẹ di truyền cho con một loại gene, cha mẹ và con ruột luôn có ít nhất một loại gene giống nhau. Nếu Cecelia là con gái của Sói Xám, thì mẫu gene hỗn hợp này chính là kết quả hợp lý.”

Eli lắc đầu. “Không lý nào. Cecelia là dân da trắng mà.”

Frankie rút một tờ giấy ra khỏi tập hồ sơ. “Nếu xét trên xác suất thống kê,” cô phản bác, “tôi không nghĩ vậy đâu.”

« Lùi
Tiến »