Và rồi anh đột nhiên có được cơ hội. Anh đang quay trở lại từ bệnh viện, tiu nghỉu, hai tay đút sâu vào túi quần, mũ đội sụp xuống sát mắt. Lúc này anh đang lùng tìm các quán bar. Thật dễ dàng nhận ra chúng, thậm chí là từ cách xa hai đến ba dãy nhà; chúng nổi bật lên như những cái đinh ghim có mũ màu trên một tấm bản đồ, vì đó là những nơi duy nhất còn mở cửa và sáng đèn vào giờ này. Anh đang quay trở lại theo một lộ trình cực kỳ ngoằn ngoèo, giới hạn mình trong không gian rộng khoảng sáu dãy nhà từ Bắc xuống Nam, trải dài giữa bệnh viện và ngôi nhà đó. Ở mỗi đại lộ cắt qua, anh lại rẽ về phía ba dãy nhà, lùng sục tìm kiếm khắp các quán bar, rồi quay ngược và tìm kiếm tiếp trong ba dãy nhà phía đối diện, đi cắt qua điểm xuất phát ban đầu. Rồi lại quay trở lại chỗ đó, đi xa thêm một dãy nhà về phía Tây, tới đại lộ tiếp theo, rồi lặp lại điều tương tự ở đó. Các quán bar đều tọa lạc trên các đại lộ chứ không phải trên các phố nhánh nối giữa chúng.
Với một số quán bar, anh bước hẳn vào trong, nán lại một lúc và quan sát xung quanh. Ở những chỗ khác anh chỉ ló đầu qua cửa ngó vào trong, đưa mắt lướt một vòng rồi trở ra. Anh không uống chút gì. Làm vậy thật quá ngu ngốc; vừa mất thời gian, vừa làm giảm sự nhạy bén của các giác quan.
Anh có thể tiến hành tìm kiếm theo kiểu này, bởi có một số thứ rõ ràng để tìm kiếm, một số dấu hiệu đặc trưng, những biểu tượng, cứ việc gọi chúng là gì tùy thích, khiến cho việc tìm kiếm nhanh hơn, tạo ra một lối tắt.
Anh tự nhủ, nếu như hắn đã nán lại tới tận lúc này, vậy thì hắn sẽ thu mình, tách riêng một chỗ. Người ta sẽ không vào một quán bar sau khi giết người. Người ta vào quán bar sau một chuyện như thế là để trấn tĩnh lại tinh thần. Vậy thì cần tìm một người ngồi một mình, tách biệt, không giao tiếp, tránh xa khỏi những khách hàng khác, cả về vị trí lẫn thái độ.
Đó là một lối tắt. Lối tắt thứ nhất và trước nhất.
Anh bắt gặp chỗ này, và xem xét nó một cách chóng vánh, đầu tiên là từ bên ngoài, không hề đặt chân vào trong. Nơi này đủ nhỏ để có thể đứng ngoài quan sát mà không sợ bỏ sót chi tiết quan trọng nào. Đây là một cửa hiệu, một không gian được ngăn riêng, với mặt tiền chỉ rộng bằng một nửa so với thông thường. Quầy bar của nó, thay vì nằm dạt về một phía của không gian bên trong, lại chia đôi nơi này ra ở chính giữa. Khoảng không gian được chừa lại phía ngoài để thoáng cho khách cũng chẳng rộng hơn không gian dành cho người phục vụ quầy. Thêm nữa, không hề có những cái bàn thường thấy ẩn sau các tấm che hay trong các khoang riêng, khó lòng quan sát được từ bên ngoài, nơi anh đang đứng. Anh có thể nhìn thẳng xuống mặt quầy bar từ ô cửa kính ngoài mặt tiền, theo góc phối cảnh thu hẹp ở trung tâm. Và đây là những gì anh thấy:
Có tám người đang ngồi uống dọc theo quầy bar. Họ tách ra thành ba nhóm, mỗi nhóm đều tách biệt, tảng lờ những nhóm khác, nhưng anh phải nhìn thật kĩ để chắc chắn được sự tách biệt xảy ra ở đâu. Khoảng cách chẳng liên quan gì tới chuyện này; tất cả họ ngồi rải rác xa dần khỏi vị trí của anh thành một hàng không ngắt quãng. Chính tư thế của các đôi vai đã mách bảo cho anh biết. Giới hạn của mỗi nhóm được đánh dấu bởi một bên vai xoay nghiêng đi so với vai của người bên cạnh. Những bờ vai đó cũng giống như những dấu ngoặc đơn. Nói cách khác, người cuối cùng trong mỗi nhóm sẽ không quay thẳng về phía trước, mà xoay nghiêng người vào phía trong nhóm của họ. Việc chia nhóm diễn ra như sau: ba người đầu tiên, rồi đến một cái vai xoay nghiêng, rồi lại ba người, rồi thêm một cái vai xoay nghiêng nữa, cuối cùng là hai người đứng quay mặt vào nhau.
Không có ai tách lẻ, không có ai uống một mình ở đây. Anh sắp sửa rời đi để tiếp tục cuộc tìm kiếm thì đột ngột nhìn lại; có một thứ vừa lọt vào ánh mắt anh, giữ anh đứng yên. Mắt anh vừa lướt đi theo mặt quầy bar, tự động đếm số cốc so với số người, và tìm thấy một điều không khớp, không đúng.
Có chín cái cốc và tám người. Có một cái cốc bị thừa ra so với số người có mặt.
Anh đếm lại cả hai thứ một lần nữa để chắc chắn. Thật dễ đếm số người; còn số cốc thì không dễ như thế, vì có những bàn tay không ngừng đưa ra rồi lại thụt về, che khuất tầm nhìn của anh.
Thêm một lần nữa lại là chín cái cốc, ngay cả khi anh đã kiểm tra lại để tìm những cái ly uống rượu nhỏ, loại này cần đếm hai cái cho mỗi người uống. Không có cái ly nào loại này. Tất cả những người có mặt ở quầy bar lại tình cờ đều đang uống bia vào lúc ấy.
Mà cái cốc thừa ra cũng không phải là bị bỏ đi. Nó không nằm trước mặt bất cứ ai, mà nằm một mình ở tận cuối quầy, trước một khoảng trống đáng lẽ phải là vị trí của người sử dụng nó.
Đó chính là thứ mà anh đang tìm; một biểu tượng của sự đơn độc, thu mình, tách biệt. Chỉ có điều nó lại không phải là một người, nó chỉ là một cái cốc thủy tinh bất động.
Dấu hiệu đầu tiên.
Anh bước vào.
Anh lách qua những người khác, đi đến cuối quầy, nơi cái cốc đang nằm, nơi có khoảng không gian trống đang nói lên nhiều điều. Có một khoảng trống dài hàng mét ở đó, giữa người khách uống bia cuối cùng và bức tường. Anh di chuyển tới chỗ đó, không tới ngay trước cái cốc, nhưng rất gần nó.
Anh nhìn cái cốc, và nó quả là hữu ích. Chỉ là một cốc bia, thế nhưng riêng việc anh nhìn nó thôi đã cực kỳ hữu ích.
Chúng có quai cầm, loại cốc này lúc nào cũng có quai cầm; chúng có hình bát giác, thành dày và nặng, với phần đáy lõm sâu, thứ đem lại lợi ích cho người bán. Những cái quai cầm của tất cả những cái cốc khác đều xoay về một hướng, quay ra xa cửa, hướng vào bên trong cửa hàng. Quai cầm của cái cốc này, và chỉ một mình nó, xoay ngược lại, hướng ra ngoài phố.
Dấu hiệu thứ hai.
Anh cũng gọi cho mình một cốc bia, để kéo người phục vụ quầy bar tới chỗ mình, để làm đà cho những câu anh sắp hỏi. Cuộc săn đột nhiên có manh mối; nó đậu xuống một chỗ, cho dù chỉ trong thoáng chốc, hệt như một con ruồi trâu vo ve lượn lờ quấy quả.
Anh hỏi người phục vụ quầy bar, “Cốc của ai thế?” Người phục vụ nói, “Của người vừa đi ra đằng sau.” Vậy là hắn vẫn còn ở đây. Bia vẫn còn trong cốc, việc cái cốc được đặt yên ở đó, không bị động đến vốn đã cho anh biết điều này.
Anh không có nhiều thời gian; anh chuyển thẳng sang câu hỏi tiếp theo, bất chấp người được hỏi có thích hay không. “Anh ta mặc bộ đồ màu gì vậy?”
“Nâu.” Người phục vụ quầy nói với vẻ dè dặt. Ông ta đưa mắt nhìn anh. Người phục vụ quầy không thích câu hỏi đó, nhưng ông ta đã nói “nâu”.
Dấu hiệu thứ ba. Tất cả cùng một lúc, tất cả cùng một nơi, tất cả cùng từ một cốc bia thô kệch, uống một mình trong đám đông, thuận tay trái, mặc bộ đồ màu nâu.
Anh hỏi câu thứ ba. “Anh ta ở đây bao lâu rồi, ông có để ý không?”
Rõ ràng là mười cent của anh đã dần hết hiệu lực. Một khoảng im lặng trôi qua trước khi anh có được câu trả lời. Cuối cùng anh cũng có nó, nhưng câu trả lời đến rất chậm, như phần cuối cùng của bất cứ thứ gì. Hay giống như một thứ gì đó đang khô cạn dần, sắp sửa chẳng còn chút nào.
“Hai hay ba giờ, tôi đoán vậy.”
Chừng đó cũng vừa khớp thời gian.
Dấu hiệu thứ tư.
“Anh ta đã uống cốc bia này suốt thời gian đó à?”
Lần này thì phản tác dụng. Anh cần phải người mua whisky lúa mạch để có thể nhận thêm bất cứ câu trả lời nào.
“Cậu đang làm gì vậy hả, chàng trai, điều tra dân số ở đây à?” Người phục vụ quầy cáu kỉnh, rồi ông ta di chuyển về phía đầu kia, nơi có nhiều lợi nhuận và ít lục vấn hơn.
Anh không cần hỏi thêm nữa; mà dẫu sao thì anh cũng không thể. Một cánh cửa mở đâu đó đằng sau, ngoài tầm mắt của anh, và chủ nhân của cái cốc đã quay trở lại.
Quinn không quay đầu lại. Có một tấm gương ở đúng chỗ quầy bar ngay trước mặt anh. Mình sẽ thấy hắn trong đó, anh tự nhủ, và giữ đôi mắt nhìn chăm chăm về phía trước.
Tấm gương trống không trong một phút ở phần bên cạnh hình ảnh phản chiếu của anh. Rồi phần đó được làm đầy. Một khuôn mặt nhô ra từ rìa tấm gương, từ phía thấp hơn anh; khuôn mặt đó ổn định lại khi nhô lên ngang tầm với khuôn mặt của anh, rồi đứng im.
Một cái mũ méo mó xơ xác được kéo thấp, nhưng không đủ thấp để che giấu khuôn mặt. Đó là khuôn mặt của một người đàn ông khoảng bốn mươi lăm tuổi, nhưng nó đã nhảy trước thời gian thêm hai mươi năm – có lẽ chỉ trong tối nay – để tới gặp tuổi già. Chỉ có mái tóc, đường nét của cần cổ, vài chi tiết như thế, cho ta biết rằng chủ nhân của chúng có lẽ vẫn còn trẻ. Khuôn mặt đó hốc hác và trắng bệch đầy căng thẳng, trắng bệch như bạc ở nơi ánh điện rọi vào dưới vành mũ và bắt gặp nó.
Có gì đó không ổn với hắn. Quinn dám chắc điều đó chỉ sau một cái liếc mắt; ai cũng có thể dám chắc điều đó.
Hắn không đứng thẳng người áp sát vào quầy bar. Hắn khom người tựa vào tường như thủ thế, như để áp toàn bộ sườn bên phải vào tường, như để che chắn, che khuất nó khỏi bị nhìn thấy, vào chỗ bức tường chạy ngang ra, cũng là chỗ quầy bar kết thúc. Đó không phải là kiểu tựa người cứng đờ vô lực của kẻ say, đó là kiểu nghiêng người lén lút, giấu giếm của một kẻ tìm kiếm sự che chở; biểu hiện rất kín đáo, nhưng lại hết sức rõ ràng trên mọi đường nét cơ thể của hắn. Ngay cả khi đưa bàn tay lên, như lúc này chẳng hạn, và uống, hắn cũng hơi quay người đi một chút, hướng vào tường. Chỉ một chút rất nhỏ, một chút mong manh nằm trong thái độ hơn là trong sự đo lường vật lý, nhưng đúng là hắn có hơi quay đi một chút, một sự trốn tránh trong tâm tưởng.
Mình tóm được hắn rồi, Quinn tự nhủ. Và lần này là một chuyện tệ hại thực sự, chứ không phải là ông bố đang hoảng hốt của một đứa trẻ sắp chào đời.
Hắn lại uống, và lại một lần nữa nghiêng người đi một chút, co ro. Chỉ có bàn tay trái luôn đưa lên cầm cốc; bàn tay phải chẳng bao giờ lộ diện. Bàn tay phải là một bí mật ẩn giữa thân người được che chắn và bức tường.
Khẩu súng chăng? Quinn thầm nghĩ.
Hắn đang nhìn gì trong cốc bia, mơ màng ngó vào nó như thế? Bóng ma của người đã chết chăng? Có phải đó là lý do khiến hắn không thể rời mắt khỏi nó, đôi mắt mở trừng trừng như bị ma ám của hắn?
Mình sẽ thử phản ứng của hắn, Quinn quyết định. Mình đã biết rồi, nhưng mình sẽ bổ sung thêm dấu hiệu thứ năm.
Anh cầm cốc bia của mình lên và đủng đỉnh bước tới, giả bộ loay hoay một chút với cái máy bán thuốc lá đặt ở đó. Bằng cách này, anh có thể thấy rõ mọi thứ trước mặt mình, theo đường thẳng. Anh đặt cốc bia chông chênh trên cái máy, rồi kín đáo gạt khẽ, khiến nó rơi xuống.
Cái cốc rơi đánh choang xuống sàn. Không phải là một âm thanh kinh hoàng, chỉ hơi khiến người ta giật mình. Tám cái đầu ngoảnh lại và dửng dưng nhìn quanh, rồi lại quay về với mối bận tâm riêng.
Nhưng còn cái đầu thứ chín. Hai bả vai hắn co lại, kéo lưng thu vào. Đầu hắn cúi gập xuống, như thể để tránh một cú đánh vào sau gáy. Hắn không quay lại nhìn, hắn không thể; cú sốc khiến hắn đờ người trong giây lát. Rồi sau đó, khi tình trạng ấy lắng xuống, Quinn có thể thấy hai bên sườn hắn phập phồng theo từng nhịp thở khó nhọc. Và khi hắn đưa bàn tay lên một giây sau đó, những đường rìa của nó cũng lờ mờ, ngay cả đối với đôi mắt bình tĩnh của Quinn, vì bàn tay đó đang run bần bật.
Phản ứng: dương tính. Dương tính với tội lỗi. Còn gì khác ngoài cảm giác tội lỗi có thể khiến người ta thu mình lại như thế, co rúm lại thành một đống như thế? Và, Quinn nhắc nhở bản thân, có thể còn có những triệu chứng rõ ràng khác mà anh đã bỏ sót. Chẳng hạn, nếu như bàn tay phải bị giấu kín đã định rút ra một khẩu súng ra khỏi túi áo, thì chỉ bức tường đối diện với bàn tay đó có thể chứng kiến. Quinn đã để hụt mất nó. Đến khi anh muốn quan sát bàn tay đó thì đã quá trễ; nó đã lại bất động như trước.
Anh trở lại chỗ của mình, đá vu vơ vào một mảnh vỏ ốc, hoặc cũng có thể là hai miếng kính, trên đường đi.
Nhưng lúc này giữa họ đã hình thành ý thức về nhau, và bắt đầu cuộc quyết đấu tay đôi đầy ý nhị trong việc giả bộ không ý thức được sự hiện diện của người kia, thể hiện trong từng cử chỉ nhỏ nhất. Vành mũ được ấn sụp xuống, thấp hơn rất nhiều. Nhưng đôi mắt sáng rực một cách bệnh hoạn ẩn bên dưới nó không nhìn xuống mặt quầy như đang giả bộ, Quinn biết rõ điều đó. Cũng giống như đôi mắt của chính anh, hướng về phía trước, tới tấm gương, kỳ thực chỉ quan tâm tới những hình ảnh phản chiếu trên bề mặt của nó. Như thể mỗi người đều có một chiếc ăng ten vô hình được chỉnh sóng, rất nhạy với người kia.
Hắn đã cảm nhận được gì đó, Quinn tự nhủ. Không phải bởi bất cứ điều gì mình đã làm; mà chính sự bất động, việc không nhận thức được sự hiện diện của hắn từ phía mình đã đánh động hắn. Mình đã quá tĩnh tại, trong thời gian quá dài; mình đã nhìn quá chăm chú về phía trước. Hắn đã cảnh giác. Mình đã làm hắn sợ.
Một dòng điện vô hình đang sôi sục phóng từ người này sang người kia, rồi phóng ngược trở lại, được nạp thêm năng lượng, rồi lại phóng ngược trở lại, rồi lại được nạp thêm năng lượng. Sự căng thẳng được trao đi đổi lại.
Cái vành mũ hạ thấp dần xuống để thủ thế, ngoài ra không còn cử động nào khác. Và ánh mắt nhìn chằm chằm vào tấm gương của Quinn càng lúc càng thêm vô hồn, không hề suy chuyển, không hề trượt sang bề mặt bên phải. Nó kéo dài tới tận khi cả hai gần như không thở nổi nữa.
Xung quanh, những người khác vừa uống vừa tán chuyện, cười nói và đôi lúc nhổ nước bọt, chẳng hề bận tâm tới họ. Họ giống như một bức ảnh chụp hai người ở một quầy bar, được đặt giữa khung cảnh quầy bar ồn ào náo nhiệt ngoài đời thực, với khoảng cách khoảng ba, bốn bước chân. Họ giống như những cột mốc bất động tựa vào quầy bar.
Không có lời cảnh báo nào. Đột nhiên hình ảnh phản chiếu trên tấm gương bên cạnh Quinn trống trơn. Một cuộc biến mất chẳng khác gì Faust, chỉ thiếu những cuộn khói. Bất ngờ tới mức Quinn quay đầu sang hoàn toàn sai hướng để nhìn về nơi người kia đã đứng ban đầu, rồi tiếp tục nhìn ra sau thành đúng nửa vòng, cả thân hình anh xoay theo, rồi cuối cùng ngoảnh mặt ra cửa, sau khi đã xoay người tới vị trí này theo đường vòng dài nhất.
Người kia vừa hấp tấp băng qua đó. Giống như một vết mờ được xóa khỏi mặt kính bằng một cái giẻ lau ướt, hắn đã lao ra ngoài rất nhanh.
Quinn không trông đợi một cuộc tháo chạy công khai, không chút hổ thẹn như vậy. Nếu anh đã trông đợi điều gì, thì đó là một cuộc rời đi khép nép, giấu giếm, với những bước chân rón rén. Đây là một cuộc trốn chạy công khai, trước khi có tiếng tri hô nào kịp cất lên. Chẳng khác gì một cuộn trục dài đầy những dấu hiệu thể hiện tội lỗi bay phần phật trên khuôn mặt hắn. Tôi có tội; tôi biết thế, vậy nên cần gì phải đợi anh khám phá ra nó? Tôi chạy trốn từ chính hiểu biết của bản thân.
Anh bật lên một tiếng kêu tắc nghẹn vì kích động và lao theo hắn, phần thân giữa nhào lên trước so với phần còn lại của cơ thể, trước khi hai cánh tay và đôi chân có thể bắt kịp.
Anh thoáng nghe thấy tiếng la của người phục vụ quầy bar, và anh moi thứ gì đó ra khỏi túi áo. Một đồng tiền xu, anh cũng chẳng để ý loại nào, rồi tung nó ra sau vai. Anh đã ở bên ngoài trước khi đồng xu kịp rơi xuống sàn.
Hắn đang điên cuồng cắm đầu lao xuống phố. Điên rồ là cách mô tả duy nhất thích hợp với nó. Không ai lại chạy nhanh tới vậy, trừ khi người đó đang rơi vào tình trạng sợ hãi đến phát rồ. Vậy nhưng hắn vẫn giữ cánh tay cầm súng kề sát mình trong lúc chạy, bàn tay vẫn đút trong túi. Việc này khiến hơi hắn mất thăng bằng, làm đường chạy của hắn từ thẳng trở nên hơi cong về một bên.
Hắn loạng choạng chạy vòng qua một góc đường và biến mất. Quinn lao người vòng qua đó theo hắn và hắn lại hiện ra ở đằng kia, khoảng cách giữa họ không đổi. Hắn băng qua đường sang phía tối hơn của con phố, bóng tối nuốt chửng hắn, và hắn lại mất tăm. Quinn băng qua đường theo hắn, đặt chân vào đúng vết chân của hắn trước khi chúng kịp nguội đi, và hắn lại hiện ra phía trước.
Cứ như vậy, hai người chơi trò trốn tìm trong bóng tối, chẳng có chút vui vẻ hay khoan nhượng nào. Hắn sẽ bắn, Quinn thầm nghĩ. Tốt hơn mình nên cảnh giác, hắn sẽ bắn. Nhưng anh vẫn đuổi tiếp. Không phải vì dũng cảm; chỉ đơn giản là vì hơi nóng của việc truy đuổi đã làm tan chảy những nỗi sợ khác.
Hắn rẽ vào một góc đường khác. Quinn cũng rẽ theo, đưa hắn trở lại trong tầm mắt. Lần này khoảng cách giữa hai người ngắn hơn và bắt đầu thu hẹp lại. Để chạy ta không chỉ cần đến đôi chân, ta cần tới sự tự do của cả hai cánh tay, để giữ thăng bằng cho ta giữa không gian.
Kẻ bị truy đuổi đã bắt đầu mất bình tĩnh. Hắn lại rẽ vào một góc đường khác, lại biến mất. Nhưng sau đó khi Quinn rẽ qua góc đường này, hắn vẫn mất tăm. Rồi khi Quinn ngỡ rằng đã để mất dấu hắn thì hắn lại tự để lộ mình, bởi nỗi sợ hãi của bản thân. Hắn lao ào ra từ một khung cửa đáng lẽ đã có thể giữ hắn bí mật nếu hắn để yên cho nó làm việc này, như thể vì mất lòng tin vào nó ở khoảnh khắc cuối cùng, và cuộc đuổi bắt lại tiếp tục. Giờ là theo hướng ngược lại, sau khi Quinn đã chạy quá khung cửa đó. Sự sợ hãi khiến lý trí trở nên thối rữa.
Và trong suốt quãng thời gian đó, không có ai ngăn cản họ, không có ai can thiệp. Tại sao hắn không hét lên cầu cứu, nếu hắn vô tội? Quinn hả hê thầm nghĩ. Tại sao hắn không làm thế?
Hắn bỏ chạy phía trước anh trong tuyệt vọng, im lặng lảo đảo lao đi, nín thinh cho tới phút chót.
Cuộc đuổi bắt giờ đã gần kết thúc; Quinn trẻ trung, Quinn có mục đích, anh có thể tiếp tục chạy suốt đêm, chạy qua cả thành phố. Bóng người phía trước lúc này luôn thường trực trong tầm mắt anh, các góc đường không thể cứu được hắn nữa, các ngưỡng cửa không thể cứu được hắn nữa; chúng không còn xuất hiện đủ nhanh.
Tiếng bước chân của hắn trở nên hỗn loạn khi nhịp chạy của chúng chậm lại, chúng cạn dần năng lượng rồi dừng hẳn, và hắn dựa người vào tường, thở không ra hơi. Như thể đã bị dồn vào chân tường. Trong một phút Quinn đã bắt kịp hắn, rồi đi vòng quanh một chút, vẫn còn e sợ cánh tay đáng ngờ luôn thu sát người, và tiếp cận hắn từ vòng ngoài, thay vì lao thẳng tới. Như thế, dù hắn nhảy về phía nào, Quinn cũng có thể lao theo.
Hắn không nhảy, hắn không thể.
Giọng nói của hắn là những tiếng thì thào khàn khàn, như cát được lắc qua một cái rây khi thiếu gió. “Chuyện gì thế? Anh muốn gì...? Đừng lại gần đây.”
Quinn cũng đang hổn hển thở không ra hơi, nhưng giọng anh vẫn cứng cỏi với một quyết tâm không gì lay chuyển nổi, kể cả sáu viên đạn bắn ra một lúc. “Tôi đang lại gần đấy. Tôi đang tới chỗ ông đấy.”
Anh bước lại gần và mặt hai người gần như chạm vào nhau, hơi thở nóng hổi phả vào mặt nhau. Cả hai cùng sợ, nhưng một người đang sợ hơn người kia. Và người ít sợ hơn chính là Quinn. Đó chỉ là nỗi sợ bị bắn bất thình lình. Nhưng người đàn ông kia thì gần như sợ đến rụng rời chân tay. Hắn đang phập phồng vì sợ. Như một thứ gì đó chậm chạp chảy dọc xuống theo vách tường tòa nhà hắn đang tựa vào. Hắc ín hoặc sơn đặc. Miệng hắn há ra và thứ gì đó ươn ướt chảy ra từ khóe miệng, thành một dải dài tức cười. Rồi nó đứt ra chỉ còn một đoạn ngắn, như thể có một lưỡi kéo vừa cắt xoẹt qua nó.
Bàn tay trái đã dịch chuyển trước khi Quinn kịp khống chế nó. Bàn tay trái chứ không phải tay phải. Nếu đó là một khẩu súng thì hẳn đã quá muộn. Nhưng không phải.
“Đây. Có phải đây là thứ anh muốn không? Cầm lấy và để tôi yên.”
Hắn ấn mãi thứ đó vào tay anh.
“Cầm lấy nó. Cầm lấy nó. Tôi sẽ không la hét. Tôi sẽ không...”
Cái ví rơi xuống, và Quinn dùng chân gạt nó đi.
“Tại sao ông lại bỏ chạy?”
“Anh bám theo tôi làm gì? Anh định làm gì tôi? Tôi không chịu nổi chuyện đó. Tôi sợ hãi chưa đủ hay sao? Tôi sợ bóng tối và sợ ánh sáng, tôi sợ tiếng động và sợ sự tĩnh lặng. Tôi sợ cả chính không khí quanh mình. Hãy để tôi yên...” Hắn hét những lời này vào mặt anh. Hoặc là qua vai anh, vào màn đêm vô tâm.
“Bình tĩnh lại đi, thưa ông. Ông sợ cái gì chứ? Có phải vì ông đã giết ai đó không? Phải vậy không? Trả lời tôi đi. Ông đã giết ai đó phải không?”
Đầu hắn gục xuống, như thể cổ hắn là một que diêm vừa bị bẻ làm đôi.
“Rất nhiều. Hai mươi. Tôi không biết bao nhiêu... Tôi đã cố đếm nhưng tôi không bao giờ có thể...”
“Và tối nay, một người...”
Hắn đang khóc như một đứa trẻ. Quinn chưa từng thấy điều gì tương tự. “Giờ hãy để tôi đi. Đừng bắt tôi đứng đây đối diện với họ... Vì lòng kính Chúa, hãy để tôi đi...”
“Ông giấu gì trong đó, một khẩu súng ư?”
Anh đột ngột thô bạo chộp lấy ống tay áo phải luôn buông thõng.
Các ngón tay anh bóp quá sâu vào cánh tay đó, tới tận xương, như thể... như thể không có gì để cản chúng lại. Toàn bộ cánh tay không chút sinh khí rút ra khỏi túi áo, nhưng do bàn tay anh tóm lấy nó kéo ra, chứ không phải do nó tự cử động. Một tờ báo cuộn lại rơi ra khỏi ống tay áo rỗng không. Ống tay áo thõng xuống, phẳng như một tấm bìa, cho tới tận vai.
“Phải, tôi đã từng có một khẩu súng.” Người đàn ông nói với giọng giống trẻ con một cách kỳ lạ. “Người ta đã tước nó đi sau khi nó đã làm phần việc của mình. Và khi tôi trả lại khẩu súng, chắc hẳn tôi đã quên buông tay ra. Và tôi để mất cánh tay ấy suốt từ hồi đó; mỗi lần tôi nhìn, nó chẳng còn ở đó nữa. Cả cánh tay cho tới tận trên này...”
Cú sốc như một cây kim đâm xuyên qua tim Quinn. Anh còn trẻ và vết đâm ấy rồi sẽ khép lại. Nhưng trong thoáng chốc, nó khiến anh như chết sững.
“Tôi xin lỗi, thưa ông”, là tất cả những gì anh có thể khó nhọc thốt lên, rồi đồng cảm quay đi phía khác. “Tôi có thể nói gì nữa đây?”
“Giờ hãy để tôi đi.” Người đàn ông nói với vẻ rầu rĩ ngoan ngoãn, như một đứa bé bất lực trước những sức mạnh mà nó không hiểu, cũng như không thể chống lại được.
“Việc giết người đó.” Quinn nói. “Là khi nào? Nó đã xảy ra khi nào?”
“Ở Tây Ban Nha, hai năm trước. Hay chỉ mới vài phút trước, ở đằng kia, ngay chỗ góc đường gần nhất? Tôi không thể chắc chắn được nữa. Những quả đạn pháo cứ liên tục nổ tung chói lóa, khiến tôi choáng váng cực độ.”
Quinn nhặt cái mũ tả tơi từ dưới đường lên và phủi bụi cho ông ta, đầy thương hại, nhẹ nhàng, nấn ná chậm rãi. Hết lần này tới lần khác, rồi lại lần nữa. Không có cách nào khác để anh có thể cho ông ta thấy...