Đi đâu đây, thưa cô?” Anh ta mở cửa xe.
Cô đóng nó lại, vẫn đứng bên ngoài. “Tôi không biết anh có thể giúp được không. Anh đã ở góc phố này cả đêm phải không?”
“Từ lúc mười hai giờ, có lúc đi rồi lại quay lại. Tôi đánh xe tới đây vào mười hai giờ mỗi tối. Không phải lúc nào tôi cũng có mặt ở đây, nhưng đây là điểm đỗ chờ khách quen thuộc của tôi. Tôi khởi hành từ đây, rồi lại quay lại sau mỗi chuyến.”
“Anh có chở một người phụ nữ nào đi một mình từ góc đường này, sau mười hai giờ tối nay không?”
“Có, tôi có chở một cô. Cách đây chừng hai giờ.” Rồi anh ta hỏi, “Cô đang làm gì vậy, đang cố tìm ai đó à?”
“Vâng, đúng vậy.”
“À, nếu cô cho tôi biết cô ta trông thế nào, có thể tôi sẽ giúp được cô.”
“Tôi không thể nói với anh cô ta trông thế nào.”
Người tài xế nhún vai, nhấc hai tay rời khỏi vô lăng rồi đặt xuống. “Vậy thì tôi giúp cô kiểu gì đây, thưa cô?” Chẳng có chút bỡn cợt nào trong câu hỏi đó. Rồi anh ta im lặng một lúc. “À, là chuyện nghiêm trọng hả? Sao cô không nhờ cớm thử xem?”
“Không, chẳng có gì nghiêm trọng cả. Chỉ là chuyện cá nhân thôi.” Cô nghĩ một lúc. “Xem nào, khi khách trả tiền, anh có để ý không?”
Anh ta mỉm cười chẳng chút vui vẻ. “Khi họ trả tiền cho tôi, thì đó là tất cả những gì tôi thực sự để ý, gần như là vậy. Bao nhiêu tiền, chỉ để ý tới việc có bao nhiêu tiền thôi.”
“Không, ý tôi không phải thế... Anh có nhớ đã đưa cô ta đi đâu không?”
“Tôi nhớ tôi đã đưa cô ta đi đâu.”
“Và anh nhớ cô ta đã trả anh bằng cái gì?”
“Tôi nhớ cô ta đã trả tôi bằng cái gì.”
“Nhưng khi cô ta trả tiền cho anh, anh có nhớ... Nhìn này, coi như tôi là cô ta, trong một phút thôi. Hãy nhìn tôi như anh đã nhìn cô ta. Cô ta đã trả tiền cho anh như thế này...?” Cô đưa cho anh ta một món tiền tưởng tượng qua cửa xe đang mở bằng tay phải. “Hay cô ta đã trả tiền cho anh như thế này?” Cô đưa cho anh ta một món tiền tưởng tượng bằng tay trái.
“Tôi chưa nhớ ra.” Anh ta nói. “Cô thử lại đi.”
Cô lại thử lại.
Anh ta lắc đầu. “Tôi chỉ thấy mỗi bàn tay cô ta. Cùng với số tiền nó cầm. Tôi cầm lấy tiền từ bàn tay đó, vậy là chỉ còn mỗi bàn tay cô ta. Tôi trả lại cô ta số tiền thừa. Rồi cô ta lại trả tôi số tiền dư. Và thế là lại chỉ còn mỗi bàn tay cô ta.”
“Anh không nhớ ngón tay cái của cô ta ở phía nào à?”
“Không.” Anh ta lắc đầu khó chịu. “Tôi không nhìn nó. Tôi quan tâm gì tới chuyện ngón cái của cô ta ở phía nào chứ? Tôi để ý thấy tay cô ta đeo nhẫn, nếu chi tiết này có ích gì cho cô.”
“Cũng chẳng có ích gì lắm. Là loại nhẫn nào vậy?”
“Chỉ là một chiếc nhẫn cưới thông thường, chẳng khác gì những chiếc nhẫn khác. Một chiếc nhẫn giống như những chiếc nhẫn khác.”
Cô áp sát người vào chiếc taxi hơn một chút. “Cô ta đeo nó trên tay khi trả tiền cho anh à?”
“Phải, nếu không làm sao tôi biết cô ta đeo nhẫn?”
“Vậy là cô ta trả tiền cho anh bằng tay trái.”
Anh ta có vẻ cực kỳ ngạc nhiên. “Đó là điều cô đã cố tìm ra sao? Tôi không hiểu cô muốn gì nữa.”
Cô mở cửa xe ra và chui vào. “Đưa tôi tới chỗ anh đã đưa cô ta tới.”
Anh ta chở cô theo hướng đại lộ Madison trong quãng thời gian tưởng như dài vô tận, rồi khi tới Quảng trường Madison và sau quảng trường không còn đại lộ Madison nữa, anh ta rẽ theo phía Tây, chở cô đi dọc theo phố Hai Mươi Ba tới chỗ giao với phố Bảy. Đến đây anh ta lại rẽ về phía Nam và chở cô đi xuống theo hướng này, cho tới khi họ đến gần Quảng trường Sheridan. Đột nhiên anh ta dừng lại trên một con phố nhỏ nằm gần phố Mười Bốn. Cô nghĩ xe dừng lại vì tín hiệu đèn giao thông, bởi cú dừng hết sức đột ngột, nhưng khi cô nhìn lên thì đèn tín hiệu vẫn đang xanh. Người tài xế ngoái lại.
“Là chỗ này.”
“Chỗ này ư? Nhưng thanh chắn bùn của xe đã nhô ra quá góc đường rồi. Chỗ đó ở bên nào, tòa nhà nào...? Cô ta không cho anh số nhà sao?”
“Cô ta chẳng nói gì với tôi hết. Cô ta chỉ bảo tôi dừng lại ngay chỗ này, đúng chỗ tôi đang dừng lúc này đây. Cô ta gõ gõ vào kính và bảo, ‘Cho tôi xuống ở đây.’ Nhìn xem, tôi đang lặp lại y hệt với cô. Cô ta ra khỏi xe ở đúng chỗ cô đang đứng, ngay ở khúc lượn này của lề đường, ngay trên cái lưới miệng cống kia. Tôi đã chạy qua đúng vết dầu mà xe tôi nhỏ xuống lần trước. Tôi không thể giúp gì hơn cho cô được nữa.”
“Nhưng cô ta đã đi theo hướng...?”
“Sau đó tôi không nhìn theo cô ta nữa. Ngay khi tiền của cô ta yên vị trên tay tôi, tôi đã nhìn vào món tiền thay vì cô ta. Rồi tôi nhìn về phía cuối phố, trước mặt, để đảm bảo đường thoáng. Rồi tôi lái xe đi.”
“Đợi đã... đừng để tôi lang thang ở đây thế này! Đừng đi!”
Nhưng anh ta đã đi rồi. Chiếc xe của anh ta dành cho cô một lời chào kiểu Bronx từ ống xả của nó. Vậy là cô đứng trơ lại đó một mình, xung quanh là bốn góc ngã tư đường.
Cô nhìn qua chúng. Theo chiều kim đồng hồ thì chúng như thế này:
Ở góc đường thứ nhất, góc mà giờ cô đang đứng đối diện, là một cửa hàng thuốc lá. Cửa hàng đã khóa và tối om. Ở góc đường thứ hai là một tiệm cắt tóc; cũng đã đóng cửa. Ở góc thứ ba là một trạm xăng, ở phía này rìa đường bị bạt thấp xuống bởi một con đường bằng bê tông dẫn vào trạm, được chiếu sáng bởi một, hai ngọn đèn lờ mờ vẫn đứng kiên trung ở đó. Ở góc thứ tư là một tiệm giặt, và nó cũng tối om.
Một khi đã yêu cầu dừng xe ở sát góc đường, cô ta hẳn đã vào một trong bốn chỗ này. Tiệm cắt tóc thì chắc chắn không phải rồi, trạm xăng cũng chẳng có nhiều khả năng hơn. Nhiều khả năng nhất là cô ta đã vào cửa hàng thuốc lá. Cửa hàng này ở gần chỗ cô đang đứng hơn cả, và cũng hợp lẽ nếu cô ta cảm thấy cần một điếu thuốc sau những gì đã trải qua. Song dù sao thì lúc này Bricky cũng không có quyền lựa chọn; vì trạm xăng là chỗ duy nhất còn mở cửa, nên cô liền đi về phía nó.
Cô nói với người phục vụ, “Anh đã làm việc ở đây cả buổi tối chứ?”
“Phải, tôi làm ca đêm.”
“Anh có tình cờ thấy một cô gái bước ra khỏi taxi ở góc đường đằng kia, anh thấy chỗ tôi chỉ không, trong khoảng một giờ vừa qua không?”
Anh này nhìn theo. “Có.” Anh ta nói. “Phải, tôi có thấy. Tôi thấy cô ấy đi vào cửa hàng thuốc lá.”
“Anh không thấy cô ấy đi ra à?”
“Không, tôi không quan sát lâu đến thế.”
Cô quay đi. Cô đã lại gần thêm vài phân khi lần theo dấu vết cô ta, tất cả chỉ có vậy. Chỉ từ rìa đường tới cửa hàng thuốc lá.
Cô quay lại, đứng ở chỗ cô đã đứng lúc trước và nhìn quanh. Có một quầng sáng hẹp hắt ra từ cách đó năm hay sáu ngôi nhà, cùng dãy mà cô đang đứng bên rìa. Dễ thấy, bởi nó hiếm gặp vào giờ này.
Ít nhất đó cũng là một nơi đang mở cửa. Cô bắt đầu đi về phía đó. Có thể cô ta đã đi theo lối này. Cô bắt đầu nhen nhóm lại hy vọng. Nó chỉ kéo dài trong thời gian đủ để đi vài bước chân.
Khoảng hở mà qua đó ánh sáng hắt ra mở rộng dần, khi góc phối cảnh đưa nó lại phía cô. Từ Delicatessen trải ra trên bề mặt của khung cửa kính khi góc nhìn mở rộng ra.
Đồ ăn sau khi giết người ư? Một điểm dừng chân còn ít có khả năng hơn tiệm cắt tóc chỗ ngã tư. Lúc này cô đã đi tới trước cửa tiệm. Dẫu sao cô cũng bước vào, bởi chẳng còn lựa chọn nào nữa. Cô biết mình sẽ chỉ uổng công phí sức.
“Tôi đang tìm một người. Ông có thấy một cô gái tóc vàng vào đây trong khoảng một giờ vừa qua không? Cô ta đi một mình.”
“Mang theo vỏ chai đổi lấy tiền à?”
“Không.” Người ta không mang trả vỏ chai để lấy lại tiền sau khi giết người.
“Biết mà.” Người đàn ông nặng nề buông thõng hai bàn tay xuống mặt quầy.
Người phụ việc của ông này chen vào, “Tôi nghĩ mình biết cô ấy đang hỏi ai. Cô ả rắc rối đó. Ông biết đấy, chính là cô nàng đã khiến tôi phải nói, ‘Thưa quý cô, đừng lấy móng tay vạch thành đường lên bánh mì để cho tôi biết cô muốn lát bánh được cắt dày tới đâu như thế, nếu cô không mua cả ổ. Có thể sau cô vẫn còn ai đó muốn mua nó nữa.’ Với mười cent cả salami lẫn bánh lúa mạch đen, cô ta vạch lên cả một ổ bánh nguyên như thế này.” Anh ta cầm một ổ bánh lên để giải thích, lấy móng tay vạch lên mặt dưới mềm mại có rắc bột trắng của nó. “Phải cắt đúng từng này.”
“Cậu đang tự làm thế đấy.” Ông chủ tiệm chỉ ra.
“À vâng, nhưng tôi làm việc ở đây.”
Lúc này ông chủ tiệm đã nhớ ra, dù chỉ mơ hồ. “Ồ, ý cậu là cô ta hả. Phải, đúng rồi.”
Bricky nôn nóng cúi người qua quầy, về phía hai người. “Ông có thể cho tôi biết tên của cô ta không?”
“Cái đó thì tôi không rõ. Cô ta tới đây suốt. Cô ta sống đâu đó ngay gần đây.” Ông chủ tiệm lơ đãng giơ ngón cái chỉ về phía bức tường sau lưng. Hay chính xác hơn là về phía một dãy chai tương cà chua trên giá.
“Ồ.” Cô kích động thốt lên. “Ồ.” Cô bắt đầu lùi lại. “Vậy thì tôi sẽ đi tìm cô ta. Tôi không biết... Tôi sẽ tới đó ngay lập tức và tìm cô ta.”
“Chỉ ngay bên cạnh thôi.” Ông chủ tiệm nhắc lại.
Cô đi ra nhanh hơn là lúc vào. Cuộc hỏi thăm đã có kết quả. Lần này cô đã tiến lại gần cô ta thêm một khoảng đáng kể.
Cô vòng ra và bước qua lối vào của khu căn hộ ngay bên cạnh.
Có sáu hộp thư xếp thành hàng bên trái cô. Thêm sáu hộp thư nữa ở bên phải. Là hộp thư nào đây? Cho dù đây là “ngay bên cạnh” với ông chủ tiệm đồ ăn – và ông ta đã lơ đãng chỉ ngón tay cái về hướng này – nhưng cụ thể là cánh cửa nào trong tất cả chỗ cửa “bên cạnh” này? Làm sao cô biết được? Cô không biết tên cô ta. Cô không biết mặt cô ta. Người lái taxi đã đi mất rồi. Dấu vết đã kết thúc trong một lát salami kẹp giữa hai lát dày bánh lúa mạch đen. Đây chính là vận may đầy bỡn cợt ở cuối cuộc săn tìm kho báu.
Miller, Carrol, Herzog, Ryan, bỏ trống, Battipaglia. Cô cúi thấp xuống, mắt chỉ cách tường cỡ tám inch[3], nhìn qua những cái họ này. Một số viết cong queo và phải đọc xiên. Một cái còn không được viết đầy đủ trong ô, các chữ cái “ia” của Battipaglia tràn ra ngoài ô ghi tên của hộp thư. Cô ta tóc vàng, đó là cái họ ít có khả năng là của cô ta nhất. Dẫu vậy, việc này vẫn không hoàn toàn không có khả năng; qua hôn nhân, nhờ những lọ peroxide...
Cô quay sang phía còn lại, đưa mắt dọc theo các hộp thư ở khoảng cách gần. Newmark, Kirsch, Lopez, Simms, Barlow, Stem.
Chắc chắn phải là một trong số đó. Không thể là tất cả. Không thể là không cái nào. Một trên mười một phần là đúng. Mười phần là sai. Mười một, đó là chưa kể có khi còn không phải là tòa nhà này. “Ngay bên cạnh”, là một định nghĩa hết sức mơ hồ, nó có thể là cách hai, hay ba, hay bao nhiêu dãy nhà cũng được, cho tới khi có một con phố cắt qua.
Bấm chuông một căn hộ, bất cứ căn hộ nào; cứ để cho người ta cằn nhằn hay quát tháo cô, thì đã sao? Cô sẽ có thể tìm ra cô ta. Không, cô không muốn làm thế; cô có thể tự làm lộ mình. Sàn, tường, tất cả đều có thể có tai. Cách duy nhất để ra tay và có hy vọng thành công là bất ngờ và không hề báo trước.
Cô bước tới cửa để quan sát xem có thể đi xa hơn được nữa không, dù danh tính của chủ nhân căn hộ cô cần tìm vẫn còn là bí ẩn. Quả đấm cửa bằng đồng thau bóng loáng. Có vẻ như đây là một tòa nhà được bảo trì cẩn thận, cho dù nó thuộc loại căn hộ cho thuê giá rẻ. Cô vừa kịp dừng lại ngay khi có ý định nắm lấy và xoay quả đấm.
Đó là một dấu vết rất nhỏ, rất mơ hồ, kỳ thực chẳng là gì cả. Nếu bàn tay cô chạm vào, dù chỉ rất nhẹ thôi thì hẳn là nó đã bị xóa đi. Đó là một vết bẩn nhỏ xíu trên mặt đồng thau bóng loáng, nhẵn nhụi, nhưng lại có màu trắng. Một mảnh, một phần của dấu vân tay, một nét mơ hồ hình lưỡi liềm như đường viền vỏ sò điệp. Như thể ai đó với đầu ngón tay dính phấn từng xoay nắm đấm cửa này trước cô.
“Ả khách hàng mua bánh lúa mạch đen của chúng tôi.” Giọng của người phụ việc tại cửa tiệm vang lên. “Máy không cắt bánh đủ dày để hợp ý cô ta. Cô ta dùng ngón tay như thế này để chỉ cho tôi thấy cô ta muốn cắt bánh dày chừng nào.” Bánh lúa mạch đen, ổ bánh được rắc một lớp bột mì có độ dính bướng bỉnh.
Cô ta đã đi vào qua cánh cửa này, cô tự nhủ. Cô ta ở đâu đó trong tòa nhà này. Mười một phần sai đã rút xuống còn mười.
Đi tiếp vào trong đi nào, đồ ngốc, đi tiếp đi, từ cửa phòng này sang cửa phòng khác; giờ mày đã biết rồi. Cô lắc đầu, vẫn đứng yên tại chỗ. Hãy ra tay đột ngột, ra tay bất ngờ, nếu không mày sẽ mất tất cả.
Có một mẩu giấy nhỏ xíu dưới sàn. Ở trong tiền sảnh này, ngoài nó ra mọi thứ đều sạch như li như lau, bởi vậy mẩu giấy chắc chắn chỉ vừa mới rơi xuống. Một mẩu giấy rách bằng cỡ móng tay, chỉ có vậy. Nó nằm dưới sáu hộp thư ở phía phải theo hướng đi từ ngoài vào, nhưng không cụ thể là dưới hộp thư nào. Vì mảnh giấy nằm ở quá xa bên dưới và dịch ra ngoài hơi xa một chút để có thể truy nguyên nguồn gốc của nó tới một hộp thư riêng biệt.
Cô nhặt nó lên và nhìn chăm chú. Mẩu giấy nhỏ tới mức khi cầm lên hai ngón tay của cô gần như che khuất nó. Trông đợi có thứ gì đó được viết trên mẩu giấy này là quá nhiều, không thể có đủ chỗ cho bất cứ ký tự nào, cho dù sự tình cờ có sẵn lòng ban phát cho cô thứ vận may kỳ lạ đó. Và quả nhiên chẳng hề có chuyện đó. Chỉ là một mẩu giấy trắng tinh.
Nhưng mọi thứ đều có thể nói với ta điều gì đó. Cô dùng móng tay lách vào, và mảnh giấy mở ra. Nó đã bị gập đôi lại. Lúc này có thể thấy một đường gập ngay ngắn bằng máy chạy dọc giữa mẩu giấy.
Nói cách khác, mẩu giấy này đến từ một lá thư. Mẩu giấy này là một mẩu nhỏ rơi ra từ rìa trên của một cái phong bì, nơi nếp gấp hướng xuống dưới, khi nó bị xé vội bằng tay. Toàn bộ phần rìa ngang phía trên phong bì đã bị xé toạc ra thành hai phần nham nhở. Tuy nhiên, cái phần nhỏ xíu này đã rời ra hoàn toàn sau hành động dữ dội đó và rơi xuống.
Nhưng vậy thì có ích gì với cô chứ? Bởi vì nó được xé tại đây, vậy nên lá thư hẳn phải được lấy ra từ một trong mấy hộp thư này. Một trong sáu hộp thư bên phải. Được rồi... vậy thì sao? À, để nó được lấy ra từ một hộp thư thì trước hết hộp thư phải được mở ra. Các hộp thư này mở xuống dưới, như những tấm ván cầu bằng đồng thau. Khi mở chúng ra, các ngón tay sẽ chỉ cầm vào chìa khóa hộp thư. Nhưng khi đóng chúng lại, chẳng phải sẽ tự nhiên hơn, nhanh hơn và khéo léo hơn khi dùng các đầu ngón tay ấn chúng đóng sập trở lại sao?
Trên nắm đấm cửa có một vòng cung nhỏ màu trắng.
Lần này cô lại gần hơn để nhìn, gần hơn cả khoảng cách tám inch lúc trước. Cô nhìn khắp từ trên xuống dưới các tấm kính được lắp vào mỗi hộp thư, cũng như các tấm viền bao quanh bằng đồng thau, chứ không chỉ nhìn vào những cái tên được ghi trên nhãn hộp thư nữa. Cô ghé lại nhìn gần tới mức hơi thở của cô làm mờ cả mặt kính, rồi nó lại trong trở lại khi cô chuyển sang cái bên cạnh. Newmark, Simms, Lopez, Ki... Cô dừng khựng lại, lùi một bước, trong cơn bàng hoàng của cả cơ thể chứ không chỉ riêng đôi mắt.
Nó kìa, một vết trắng mờ mờ dính ngoài hộp thư, ngay chỗ rìa. Một vết bẩn thật vô nghĩa, mà nếu không phải tâm trí cô đã chuẩn bị sẵn để tìm thì nó hẳn sẽ không lọt vào mắt cô. Và cái họ trên hộp thư là Kirsch. Căn hộ ở lầu hai, bên phải cầu thang khi đi lên.
Sáu khả năng đã thu về chỉ còn một. Khả năng duy nhất còn lại giờ không còn là một khả năng nữa, mà là sự chắc chắn rõ ràng.
Những thứ nhỏ nhặt, những thứ nhỏ nhặt luôn ở khắp quanh ta, chỉ cần biết cách sử dụng chúng. Những thứ nhỏ nhặt có thể hủy hoại ta, nếu ta không dừng lại và nghĩ về chúng kịp thời, cảnh giác và đề phòng chúng. Và ai có thể chứ, vì ta thậm chí còn chẳng nhận ra chúng hiện hữu ở đó cho tới khi đã quá muộn.
Một vết móng tay vạch trên một ổ bánh lúa mạch đen để chỉ dẫn nó cần được cắt dày tới đâu. Những ngón tay đã vô thức đóng lại nắp đậy của hộp thư mà trong đó từng có một cái phong bì trắng. Một hóa đơn, có khi là một tờ quảng cáo, gần như chắc chắn là không có gì quan trọng. Cử chỉ hối hả xé phong bì; người ta còn có thể làm gì khác với một lá thư nữa cơ chứ? Cuối cùng là việc xoay nắm đấm cửa để đi vào tòa nhà. Người ta còn có thể làm cách nào khác để trở về nơi ở của mình nữa cơ chứ? Những điều nhỏ nhặt. Và khi kết hợp chúng lại với nhau? Thảm họa. Bị nhận diện, bị đối chất, bị buộc tội, vì một thứ cứ nghĩ đã được chôn sâu an toàn cách nơi này nhiều dặm, khuất ngoài tầm nhìn của mọi con mắt người đời.
Cô bấm nút mở cửa ở phía đối diện. Như thế người ta sẽ không cần phải lớn tiếng vặn hỏi qua giếng cầu thang của ngôi nhà nữa. Cánh cửa phát ra vài tiếng ậm ọe đáp lại nút bấm điều khiển, cho thấy chốt cài đã được mở ra. Cô đẩy cửa và bước vào.
Một người đàn ông liếc ra với vẻ dò hỏi qua khe cửa mở hé khi cô bước lên cầu thang. Cô dành cho ông ta một nụ cười xoa dịu trong khi vẫn hối hả bước ngang qua, không hề dừng lại. “Tôi xin lỗi, đó là một sự nhầm lẫn. Chắc là tôi bị trượt tay.”
Ông ta đang quá ngái ngủ để có thể quan sát cẩn thận. Ông ta lơ đãng chớp mắt, rồi khe cửa lại đóng sập. Cô đã leo gần hết dãy cầu thang thứ nhất, và vẫn tiếp tục leo lên thật nhanh.
Một cú ngoặt ở chỗ rẽ của cầu thang, và nó kia, lờ mờ hiện ra trước mặt cô, cỡ bằng một cỗ quan tài. Cánh cửa nơi tử thần đã đi qua để trở về nhà trước đó ít lâu. Nó trông giống như những cánh cửa khác ở đây. Nhưng không phải thế. Sự chết chóc đang tỏa ra từ đó thành từng đợt sóng vô hình. Cô gần như có thể cảm nhận được chúng trên mặt mình, như một rung động.
Bàn chân đặt lên trước của cô chững lại, ngón chân chỉ cách cánh cửa chừng vài inch. Bàn chân còn lại nấn ná xa hơn ở phía sau.
Cô lắng nghe. Trong một thoáng không có gì xảy ra, vì cô đã tóm được nó trong một khoảnh khắc im lặng. Thế rồi đột nhiên có tiếng một chiếc đĩa được đặt xuống bàn. Tiếng bước chân hối hả bước ra xa. Tiếng bước chân hối hả quay trở lại. Tiếng một cái đĩa nữa được đặt xuống. Lần này là âm thanh của một cái đĩa được đặt xuống một cái đĩa khác. Hay nhiều khả năng là một cái tách được đặt xuống đĩa. Lại một tiếng bước chân hối hả bước ra xa.
Cô không ngăn được cơn rùng mình. Tử thần đã trở về nhà và dùng một bữa ăn vội vã lúc sáng sớm.
Tiếng bước chân lại hối hả trở lại. Một cái túi giấy ồn ào kêu sột soạt trong khi thứ gì đó được lấy từ trong túi ra. Bánh lúa mạch đen, cắt lát dày.
Những bước chân hối hả lại bước ra xa. Ái chà, chúng thật bận rộn, thật hoạt bát, gần như có vẻ hạnh phúc. Chúng sẽ không còn như thế nữa sau một hay hai giây tới. Tử thần vẫn chưa biết cô ta có một vị khách không mời sắp gia nhập cùng mình.
Cô gõ cửa.
Tiếng bước chân vụt tắt.
Cô lại gõ cửa, nhanh và quả quyết.
Có tiếng bước chân thật khẽ tiến lại phía cửa.
“Ai đó? Ai ở ngoài đó vậy?”
Cô ta đã ít nhiều hoảng sợ, có thế nhận thấy điều đó qua giọng nói. Người ta không thể thách thức theo kiểu thở không ra hơi như thế, cho dù vào giờ nào của buổi tối đi chăng nữa.
“Một quý cô muốn gặp cô.”
“Một quý cô? Quý cô nào?”
“Mở cửa ra và cô sẽ thấy.” Cô không để sự đe dọa chen vào giọng nói của mình, cố gắng nói ngọt để vượt qua chướng ngại cuối cùng này.
Quả đấm cửa xoay một cách do dự, cô thấy nó xoay tròn, nhưng cánh cửa không mở ra. “Là cô phải không, Ruth, có phải không?”
“Hãy để tôi được nói chuyện với cô. Chỉ mất một phút thôi.”
Hãy tin lần này đi, và mày sẽ bị tiêu diệt mãi mãi; hãy tin lần này đi, và mày sẽ không bao giờ tin được nữa.
Lẫy khóa được kéo tụt vào ổ, và cánh cửa tách ra khỏi khung cửa.
Cô ta khoảng hai mươi tám tuổi. À, thực ra cũng thật khó nói; vậy cứ coi như hai mươi sáu đi. Cô ta có mái tóc vàng, ngắn và xoăn. Một mái tóc vàng tự nhiên, cho dù có thể đã được trợ giúp đôi chút. Đôi lông mày màu hung và hai hàng mi gần như màu trắng của cô ta cho thấy điều đó. Khuôn mặt cô ta trông có vẻ nghiêm nghị, nhưng lại không phải thế. Đó không phải sự nghiêm nghị từ trong nội tâm tỏa ra, mà là một lớp bọc bảo vệ, một cái vỏ. Bên dưới, vẫn hiện rõ trong đôi mắt và dọc theo những nếp hằn căng thẳng ở khóe miệng, là một sự nhẹ dạ gần như trẻ con, sự sợ hãi không muốn bộc lộ, có lẽ bởi đã bị khước từ quá thường xuyên. Nó đã học được những bài học không chỉ một mà rất nhiều lần; giờ đây nó đang cố ẩn mình trốn khỏi thế giới.
Đôi má cô ta gầy gò, mỗi bên có một cái hốc trống rỗng. Cô ta đã dùng quá nhiều phấn hồng và đã thoa trên một bề mặt quá rộng, khiến chúng trông như thuộc về một người đang lên cơn sốt. Cô ta mặc một chiếc váy vải bông rẻ tiền có hình trang trí là các đường kẻ mảnh như vạch bút chì. Những đường kẻ này chạy chéo; ở một phía của đường trung tuyến vô hình, các đường sọc này chạy xuống theo một chiều, ở phía kia chúng lại chạy xuống theo chiều đối diện.
Cô ta có phần hơi hoảng sợ trước cuộc viếng thăm đường đột này, nhưng đang hy vọng sẽ được trấn an.
Tất cả những chi tiết này được ghi lại trong một bức ảnh chụp tức thời do đôi mắt thực hiện, để rồi được ráp lại sau đó, theo từng phút trôi qua.
“Tôi muốn gặp cô.”
Bàn chân cô giờ đã đặt lên ngưỡng cửa; cánh cửa không thể đóng lại được nữa. Cô ta không nhìn xuống, vậy nên cô ta vẫn chưa nhận ra điều này.
“Cô là ai?”
“Tốt hơn là chúng ta nên nói chuyện trong phòng, vì lợi ích của cô cũng như của chính tôi. Đừng để tôi phải đứng ngoài này thêm nữa.”
Cô lách người qua bên cạnh cô ta và bước vào trong. Một trong hai người họ đã đóng cửa, vào khoảnh khắc đó không ai trong hai người chắc chắn được người nào đã làm việc này.
Đó là một căn phòng vừa để tiếp khách vừa làm phòng ăn của một căn hộ chật chội có sẵn đồ nội thất. Cũng khá ngăn nắp, nhưng rẻ tiền một cách thảm hại, về mọi mặt. Một ô cửa sổ hắt luồng sáng vuông bị co ngắn lại theo luật phối cảnh lên một bức tường xám xịt cách nó một cánh tay. Một mảnh rèm nhung tủn mủn màu đỏ việt quất rũ xuống ở mỗi bên cánh cửa. Một cái bàn chơi bài đã được dựng lên, trên đó bày những chiếc đĩa và những thứ cô ta đã mua từ cửa tiệm bán đồ ăn sẵn, chờ đợi để được thưởng thức. Một tờ báo nằm trên đó, một tờ báo lá cải màu lục nhạt, được cuộn lại, kẹp giữa hai chiếc đĩa, đang chờ được cầm lên. Một gói thuốc lá chưa bóc cũng đang nằm đợi ở đó – hẳn cô ta chỉ vừa mang chúng vào – cùng với một chiếc gạt tàn được lau bóng loáng, rồi cả một vỉ diêm nữa. Một cái khăn giấy được trải ra phủ lên mấy miếng sandwich để tránh bụi rơi vào.
Một ô cửa thông không có cánh mở vào bên trong, với ánh sáng hẳn là được chiếu ra từ một phòng ngủ.
Cô thấy tất cả những thứ đó, nhưng chúng không quan trọng. Ngay cả tử thần cũng có một cuộc sống riêng, hắn không thể đột nhiên hiện ra từ hư không được.
“Tóm lại thì cô muốn gì? Tôi không thường để người lạ vào nhà giờ này. Tôi không thích cách xử sự của cô.”
Cô nói thẳng luôn với cô ta, không chút rào đón. “Cô đã lên một chiếc taxi ở góc giao giữa phố Bảy Mươi và đại lộ Madison lúc khoảng một giờ. Cô đã tới gặp ai đó ở gần đấy. Phải không?”
Đôi mắt cô ta cụp xuống. Nét mặt của cô ta tái đi đôi chút, trông thật chẳng bắt mắt chút nào.
“Cô đã giết anh ta. Phải không?”
“Ôi, Chúa ơi.” Cô ta thốt ra câu này thật nhẹ và khẽ. Tròng mắt cô ta đảo lên; hai con ngươi dịch lên khuất dưới hàng mi, không còn nhìn thấy được nữa. Trong một hoặc hai phút, đôi mắt cô ta chỉ còn tròng trắng.
Phần góc của cái bàn chơi bài đã giúp cô ta đứng thẳng; cô ta dùng hai bàn tay dò tìm cái bàn trong khi mắt không nhìn thấy được.
Cô ta bắt đầu khóc; nước mắt chỉ vừa kịp xuất hiện, rồi cô ta đổi ý. Không có đủ nước mắt để có thể chảy ra ngoài. Chúng ở yên trong mắt, tạo thành một lớp phủ trong suốt.
“Cô là gì chứ, một nữ cảnh sát à?”
“Đừng bận tâm tôi là ai. Chúng ta đang nói về cô. Cô là một kẻ giết người. Cô đã giết một người tối nay.”
Bàn tay cô ta hạ xuống ôm lấy cổ, cố làm dịu nó xuống. Một tiếng nức nở – nghe giống một tiếng ho hơn – vang lên.
“Để tôi uống cốc nước đã, tôi... Không sao đâu, không có lối khác để ra khỏi đây đâu.”
“Và hãy chuẩn bị đồ khi cô ở trong đó đi.” Bricky nói, không chút nhân từ.
Cô ta đi qua ô cửa thông vào căn phòng được chiếu sáng. Cô ta phải bám vào một bên để có thể bước qua.
Bricky đứng đó nhìn xuống. Cô đang lắng nghe, không phải suy nghĩ. Một chiếc cốc thủy tinh kêu lanh canh. Không phải đôi tai đã mách bảo cô. Một thứ bản năng tinh nhạy nào đó, đổ chuông bởi một dòng điện vô hình, đã nhắc nhở cô. Cô hối hả bước vào buồng trong theo cô ta.
“Không được uống thứ đó!” Bricky quật mu bàn tay vào mặt cô ta. Cái cốc thủy tinh bị hất văng khỏi đôi môi đã hé mở. Nó không vỡ, nó là loại rẻ tiền và rất dày. Nó chi rơi cạch xuống sàn và lăn đi, làm tóe ra đằng sau một vệt nước mảnh.
Chỉ sau khi đã hoàn tất hành động đó, đôi mắt cô mới đưa quanh và nhìn thấy cái chai đã mở nút để trên giá phía trên chậu rửa. Chai thủy tinh màu nâu, trên nhãn có ghi “Lysol”[4].
Hai tay cô ta đang bấu chặt lấy rìa thành chậu rửa, như thể nó không vững chắc và có thể trượt khỏi tay cô ta bất cứ lúc nào.
“Vậy là coi như cô đã thú nhận với tôi rồi, phải không nào?”
Cô ta im lặng. Hai tay cô ta, vẫn bấu lấy thành chậu rửa, đang hơi run rẩy. Chỉ có vậy.
“Cô không cần phải làm vậy. Dù sao thì tôi cũng biết rồi.”
Cô ta im lặng.
“Giờ cô sẽ quay lại đó cùng tôi. Cô sẽ quay lại đó... nơi vụ giết người đã xảy ra.”
Người phụ nữ kia bùng nổ, tuôn ra một tràng. “Không. Cô không thể ép buộc tôi. Tôi không biết cô là ai, nhưng cô không thể ép buộc tôi. Tôi sẽ giết cô trước. Tôi không muốn chết hai lần. Một lần là quá đủ rồi.”
Bàn tay cô ta vụt đưa tới chỗ cái giá cao su treo bên chậu rửa. Có thứ gì đó lóe lên dưới ánh đèn, và một con dao làm bếp lưỡi ngắn sắc lẹm lao ngược ra sau qua vai cô ta, chực đâm tới chỗ Bricky.
Không còn thời gian để né tránh nữa, vì nơi này quá chật chội. Thay vào đó, cô lao mình tới chỗ cô ta. Bàn tay cô tóm chặt lấy cổ tay đang vung dao, cố giữ nó lại. Hai cánh tay còn lại của họ đập và cào vào nhau, ghì chặt lấy nhau, vô hiệu hóa lẫn nhau.
Người phụ nữ kia có sức mạnh của kẻ tuyệt vọng muốn tự sát. Bricky có sức mạnh của kẻ muốn bảo vệ mạng sống cho bản thân. Một thế cân bằng được thiết lập và sớm muộn gì cũng phải bị phá vỡ. Hai người hơi lắc lư, gần như không rời khỏi rìa chậu rửa. Có lúc cả hai cùng nghiêng người trên chậu rửa; rồi lại cùng ngả ra phía ngoài. Tóc họ xõa xuống. Họ không la hét, không gầm rít. Đây không phải là một cuộc ẩu đả giữa hai cô ả vì một lý do vớ vẩn nào đó; đây là một cuộc đấu sinh tử giữa hai con người. Và cái chết đã loại bỏ hoàn toàn sự khác biệt giới tính.
Họ xoay đi một chút, rồi xoay trở lại theo hướng ngược lại. Trong im lặng, người ta không thể nghe được gì ngoài hơi thở qua hai hàm răng nghiến chặt. Hai người đã đông cứng lại thành một bức họa mô tả sự kiệt quệ; Bricky quá đuối sức để hất hẳn con dao ra, còn cô ả kia cũng quá đuối sức để đâm nó tới đích.
Một chiếc chìa khóa kêu lạch cạch tra vào ổ ở căn phòng bên ngoài.
Đột nhiên, theo một cách điên rồ nào đó, vai diễn của hai người bỗng đảo ngược.
Người phụ nữ kia khổ sở cố ném con dao đi, cố rũ bỏ nó. Bricky, vẫn chưa hiểu gì, giữ chặt lấy cổ tay cô ta, vô hiệu hóa khả năng cử động của nó.
Các ngón tay của cô ta mở xòe ra và con dao rơi xuống sàn. Bàn chân cô ta vụt đưa tới, đá nó vào dưới gầm chậu rửa, khuất khỏi tầm mắt. Không còn gì để vật lộn nữa. Hai người buông nhau ra một cách dè chừng.
Người phụ nữ kia quỳ gối xuống cạnh Bricky, túm lấy diềm váy của cô khổ sở cầu xin.
“Đừng nói với Harry. Ôi Chúa ơi, xin đừng nói với Harry. Xin hãy thương hại tôi.”
Cánh cửa phòng ngoài đang mở ra.
Một giọng nói hân hoan vọng vào, “Helen, em về rồi à?”
“Xin đừng. Tôi không quan tâm tới việc cô sẽ làm gì tôi, nhưng xin đừng nói gì với Harry.”
“Cô sẽ quay lại đó với tôi chứ? Cô sẽ lặng lẽ quay lại đó, như tôi yêu cầu chứ?”
Cô ta gật đầu, nóng lòng muốn được ân xá.
Cái bóng của người đàn ông đã hướng dần tới lối vào phòng trong. Hẳn anh ta đã rẽ ngang trong giây lát để thử chỗ đồ ăn bày sẵn trên bàn chơi bài.
“Được rồi.” Bricky dịu lại. “Tôi sẽ đáp ứng cô nếu cô đáp ứng tôi việc đó.”
Cô gái đang co ro dưới chân cô chỉ có thời gian để thì thào thêm một câu nữa. “Để chuyện đó cho tôi, để tôi nói...”
Người đàn ông đã đứng ở ngưỡng cửa.
Với Bricky thì đó chỉ là một anh chàng, một gã đàn ông bình thường. Chỉ có đôi mắt của tình yêu mới có thể biến anh ta thành người đặc biệt với người phụ nữ kia, và chỉ cô ta mới sở hữu thứ đôi mắt của tình yêu đó với anh chàng này. Vì thế Bricky không thể nhìn nhận anh ta như những gì cô ta thấy. Chỉ là một gã đàn ông. Một anh chàng như bao anh chàng khác.
Người phụ nữ đang quỳ gối dường như không hề trông thấy anh ta. Cô ta nói, “Chỗ này diềm váy hơi dài quá, đó chính là vấn đề. Nó làm cả chiếc váy buông xuống không đều.” Cô ta dừng lại, như thể đến lúc này mới thấy anh ta. “Ồ, chào anh, Harry.” Cô ta vui vẻ reo lên. “Em thậm chí còn không nghe thấy tiếng anh bước vào.”
Anh ta nói, “Ai vậy? Ai đang ở cùng em thế?”
Cô ta đứng dậy, bước tới chỗ người đàn ông và hôn anh ta. Anh chàng nhòm qua vai cô ta và dành cho Bricky một cái nhìn dò xét ngớ ngẩn.
Cô gái đứng sang bên. “Mary, xin giới thiệu với cô, đây là chồng tôi.”
“Mary Coleman.” Bricky đáp lại cho phải phép.
Họ gật đầu chào nhau khách sáo. Anh ta nhìn xuống áo khoác và quần của mình, rồi nhìn về phía chiếc giường; rõ ràng là anh ta đã mệt. Sau một khoảnh khắc căng thẳng với sự im lặng từ cả ba, anh ta quay gót trở vào trong. “Tôi sẽ vào bàn và ăn trước.” Anh ta nói không chút hiếu khách.
Hai người phụ nữ theo sau anh ta sang phòng bên kia. “À, có lẽ tôi xin phép cáo lui, giờ chồng cô đã về rồi.”
“Đợi một phút, tôi sẽ đi cùng chị và lấy cái đó. Chị biết đấy, cái mẫu hoa văn đó.”
Anh ta ngồi xuống, nhét chiếc khăn ăn vào giữa hai khuy áo sơ mi, làm nó xòe ra như một cái quạt. “Vào giờ này sao?” Anh ta hỏi. “Quần với chả áo, lúc ba giờ sáng”, anh ta khẽ càu nhàu.
“Em sẽ quay lại sau năm phút. Chị ấy sống ở ngay bên kia góc phố thôi.”
“Anh có cần đợi em về không?” Người đàn ông khó chịu hỏi. “Anh mệt lắm rồi.”
“Anh cứ ăn rồi đi ngủ đi. Em sẽ trở về nhanh đến mức anh còn chưa kịp nhận ra là em đã vắng mặt cơ. Em thậm chí không cần cầm theo áo khoác đâu.”
“Tốt hơn là cô nên cầm theo áo khoác”, Bricky nói. “Giờ này ngoài trời hơi lạnh đấy.”
Cô ta đi lấy áo khoác. Khuôn mặt của cả Bricky lẫn cô ta đều hơi tái. Bricky tự hỏi liệu người đàn ông có nhận ra không.
Anh ta đứng dậy cùng họ đi ra cửa, vẫn bận bịu nhai đầy một mồm sandwich. Một chiếc sandwich có cái giá đắt đến thế.
Cô gái lại hôn anh ta.
“Và Harry này, anh đừng nhầm lẫn và khóa cửa trong nhé, chìa khóa của em không mở được. Em không muốn phải bấm chuông và đánh thức anh trong trường hợp anh đã ngủ rồi.”
“Đừng ra ngoài quá lâu đấy. Anh không muốn có chuyện gì xảy ra với em đâu.”
Cô gái lại hôn anh ta lần thứ ba.
“Em đã hôn anh rồi.” Anh ta nói.
“Em không thể hôn anh thêm một lần nữa nếu em muốn sao?”
“Tất nhiên là có, nếu em muốn.” Anh ta đồng ý.
Bàn tay anh ta đã đưa lên nút thắt chiếc cà vạt và miệng ngoác rộng ra ngáp khi nói mấy lời này.
Cô ta bật khóc ngay khi cánh cửa đóng lại. Khuôn mặt cô ta nhăn nhó, nhưng chẳng có âm thanh nào phát ra. “Tôi đã nghĩ tôi sẽ gục ngã trước khi chúng ta kịp ra khỏi căn hộ. Anh ấy mệt rồi, nếu không hẳn anh ấy đã nhận ra điều đó trong mắt tôi. Tôi yêu anh ấy rất nhiều.”
“Bình tĩnh đi.” Bricky cộc cằn nói.
Họ xuống cầu thang, Bricky đi trước. Họ đi ra ngoài không gian xanh thẳm tĩnh lặng ngoài phố.
Helen Kirsch đứng ở ngưỡng cửa, ngoái lại sau lưng. “Tôi không thể quay lại đó được nữa, phải vậy không?” Cô ta cắn môi. “Tôi yêu cuộc sống ở đó... với anh ấy. Chẳng có gì nhiều, nhưng ít nhất nó có anh ấy.”
“Vậy tại sao cô không giữ chặt lấy nó khi còn có nó?” Bricky lạnh lùng nói. “Dẹp hết mấy cái lãng mạn đi. Tôi đã thực hiện phần thỏa thuận của mình, giờ hãy đảm bảo là cô thực hiện phần của cô.” Cuộc đời thật giống một cái bập bênh, cô thầm nghĩ. Mỗi khi một người lên cao, một người khác ở đầu kia sẽ phải xuống thấp.
Họ đi bộ tới chỗ góc phố.
“Chúng ta sẽ gọi một chiếc taxi.” Bricky nói. “Đó là cách nhanh nhất.”
Thân hình bên cạnh cô hơi co rúm lại.
Cô ta đang hy vọng mình sẽ không tìm được taxi, Bricky tự nhủ. Bất cứ điều nhỏ nhặt nào để mình và cô ta chậm lại. Cô nhìn thấy một chiếc taxi và lớn tiếng gọi, chiếc xe liền chạy tới.
Bricky đưa bàn tay về phía người bạn đồng hành mời mọc, như thể để điểm đến được nói ra từ cô ta một cách tự nhiên, để nghe xem địa chỉ đó là gì.
“Chính xác...?”
“Không, góc đường gần nhất là đủ rồi.”
“Góc giao giữa phố Bảy Mươi và đại lộ Madison.” Helen Kirsch nói với giọng bất đắc dĩ.
Bricky tự gật đầu xác nhận, mở cửa vào xe theo sau cô ta.
Chiếc taxi chuyển bánh chạy vào khu trung tâm. Thành phố bắt đầu trôi qua theo từng dãy nhà. Những ngọn đèn đường vùn vụt lướt qua, hiện lên rồi mất hút trên các ô cửa.
Hai bàn tay của Helen Kirsch đặt chéo thành hình nơ bướm đầy tuyệt vọng áp lên miệng. “Ai sẽ mang áo sơ mi ra tiệm giặt cho anh ấy đây? Anh ấy sẽ chẳng bao giờ nhớ; tôi luôn phải giúp anh ấy.”
Bricky không trả lời.
Các dãy nhà lần lượt lướt qua. Những ngọn đèn đường hiện lên rồi mất hút.
“Tôi không biết anh ấy sẽ làm gì khi chỉ có một mình, không có tôi, vào những ngày Chủ nhật. Đó là ngày nghỉ duy nhất của anh ấy. Giờ anh ấy sẽ có cả ngày dài trong tay.”
Bricky nhìn đi chỗ khác. “Sao cô lại dính vào chuyện đó làm gì?” Cô cộc cằn nói.
Đèn đỏ buộc họ dừng lại, và trong sự chờ đợi tĩnh lặng, tiếng rền rĩ của động cơ nghe như tiếng tim ai đó đang đập.
Thêm những dãy nhà nữa. Thêm những ngọn đèn đường chập chờn nữa lướt qua. New York là một thành phố thật rộng lớn, nhất là khi bạn chạy xe dọc theo chiều dài của nó... tới điểm kết thúc cho mọi hy vọng.
“Cảnh sát các người nhanh thật”, Helen Kirsch nói. “Tôi vẫn luôn nghe nói vậy, nhưng trước đây tôi chưa bao giờ tin vào điều đó, cho đến tận lúc này.”
Cảnh sát chúng tôi, Bricky buồn bã nghĩ. Cảnh sát chúng tôi rất giỏi. Giá mà được như vậy.
Cô gái đó, Helen Kirsch, bắt đầu khóc nhiều hơn. “Tôi không tin chuyện đó. Anh ta không thực sự... Anh ta không thể...”
“Anh ta đã chết.” Bricky tàn nhẫn nói. “Thực sự đã chết.”
Âm thanh của những từ này dường như đã gây ra điều gì đó ở Helen Kirsch. Cô ta bất thần cúi gục về trước, như thể bị một cơn đau dữ dội; cô ta ôm mặt. Lần này thì những giọt nước mắt thực sự trào ra; nóng hổi và nặng trĩu. “Tôi không cố ý!” Cô ta nghẹn ngào. “Tôi không cố ý! Ôi, tôi không cố ý, tôi thề đấy!”
“Cô đã ở một mình trong phòng với anh ta, phải không?”
Cô thấy cô ta miễn cưỡng gật đầu giữa bóng tối lờ mờ trong xe.
“Cô có súng trên tay chứ?”
Cái gật đầu chậm chạp hơn, nhưng vẫn tới một lần nữa.
“Cô có bắn anh ta không?”
“Khẩu súng tự nổ...”
“Chúng vẫn luôn thế. Thật tức cười là chúng luôn thế với những cô nàng như cô. Luôn tự nhả đạn, và lại chính xác một cách chết tiệt. Anh ta có gục xuống khi nó nhả đạn không? Trả lời tôi đi. Có hay không?”
“Có.” Cô ta rùng mình khi hồi tưởng lại. “Anh ta ngã xuống và kéo tôi ngã theo. Tôi không thể vùng ra được trong cả một phút. Tôi vùng vẫy thoát khỏi anh ta, rồi nhổm dậy và bỏ chạy.”
“Nhưng anh ta thì không. Có phải anh ta đã nằm đó sau khi ngã xuống không? Có phải anh ta đã nằm im đó, hay anh ta đã nhổm dậy đuổi theo cô?”
“Anh ta... anh ta không nhổm dậy đuổi theo tôi.”
“Cô chĩa súng vào anh ta. Anh ta ngã xuống. Anh ta nằm đó. Tất cả sự trốn tránh của cô cũng không làm thay đổi được điều đã xảy ra. Cô gái thân mến, cô đã tự đeo cho mình tội giết người rồi đấy.”
Helen Kirsch kêu ré lên như một con lợn bị chọc tiết, hay như một con cún con vô tình bị giẫm phải. Cô ta quay ra sau, úp mặt vào góc khoang xe, như thể đang cố tìm đường thoát qua cái góc đó bằng cách làm nó thủng toác ra. Bàn tay cô ta đấm lên lớp đệm như thể đang phản đối.
“Tôi không cố ý! Ôi Chúa ơi, xin hãy nghe tôi! Tôi không hề cố ý! Tôi đã không muốn tới bữa tiệc đó. Chính cô ta, cô gái ở chỗ tôi làm, đã thuyết phục tôi! Tôi đã không muốn đi. Tôi chưa bao giờ làm chuyện gì như thế trước đây, sau lưng Harry. Thế rồi khi tôi tới bữa tiệc và thấy chỉ có bốn người chúng tôi, chỉ hai đôi, tôi đã không thích và định bỏ về. Sau đó đôi kia lại lỉnh đi trước khi tôi kịp nhận ra, và tôi chỉ còn một mình với anh ta.”
Bricky cố làm cô ta phấn chấn lên theo cách duy nhất mà cô biết. “Vậy thì có gì mà cô phải sợ chứ?” Cô cộc cằn nói. “Nhiều khả năng cô sẽ chẳng bị sao hết. Cô có lý do phòng vệ chính đáng hoàn hảo. Người ta luôn tin lời khai của phụ nữ trong những vụ thế này. Và lần này chẳng có nhân chứng nào khác, ngoài cô.”
Đầu cô gái vẫn không nhấc lên. Nếu có nhúc nhích thì nó lại gục xuống thấp hơn nữa, trong vẻ suy sụp tột cùng.
“Không phải việc đó... không phải như vậy... Làm sao tôi có thể sống tiếp với Harry được nữa, sau chuyện đó? Anh ấy sẽ không chấp nhận tôi.”
“Anh ta sẽ tha thứ cho cô, vì cô đã tới nơi mà cô vốn nghĩ chỉ là một bữa tiệc vô hại.”
“Họ không bao giờ làm thế, không bao giờ... với lý do đó.”
Đột nhiên Bricky hiểu ra, hoàn toàn, bàng hoàng.
“Ồ”, cô nói với giọng lạc đi. “Cô đã bắn anh ta...”
“Tôi đã bắn vào anh ta sau đó.”
Chiếc taxi chạy chậm dần, chuẩn bị dừng hẳn.
Bricky trả tiền người lái xe, rồi hai cô gái bước ra. Cô nắm lấy cổ tay cô ta, nói, “Đứng đây một chút, đợi taxi đi khỏi đã.”
Họ đứng im ở đó; chiếc taxi lăn bánh rời đi, để lại hồn ma của nó trong vệt khói xả xanh mờ phả vào màn đêm. Làn khói xả của chiếc xe phả tới váy họ, làm chúng xòe ra một chút. Rồi chỉ còn hai người họ đứng đó, bên rìa đường.
“Giờ cô định làm gì tôi?” Helen Kirsch run rẩy trong bộ dạng bất lực đáng thương hại.
“Chỉ cho tôi thấy chỗ cô vứt khẩu súng. Đó là điều đầu tiên tôi muốn biết. Dẫn đường đi.”
Con tin của cô đi xuống con phố, hướng về phía Đông; Bricky đi sát bên cạnh cô ta như một cái bóng dựng đứng.
Đầu tiên cô ta đi chệch khỏi lối về nhà để vứt khẩu súng, Bricky nghĩ, sau đó quay ngược lại theo cùng tuyến đường trở lại đại lộ rồi lên taxi. Một lộ trình được chăng hay chớ. Cô không bình phẩm về điều này mà chỉ đi theo cô ta, không hỏi han gì.
Họ băng qua khoảng không gian cằn cỗi mênh mông của đại lộ Park, với lòng đường rộng chia thành hai nửa và gờ phân cách an toàn có bậc nhô lên ở giữa; tĩnh lặng đến chết chóc giữa thế gian, hầu như chẳng có chút ánh sáng nào tỏa ra từ những ô cửa sổ của chừng hai mươi dãy nhà suốt dọc chiều dài của nó. Dù sao thì phần lớn phòng ngủ của các tòa nhà dọc theo đại lộ đều nằm ở phía sau. Tuyến đường được đánh giá quá mức nhất thế giới.
Họ tiếp tục đi. Họ tới phố Lexington, hẹp hơn, đông đúc hơn, hay ít ra là sống động hơn. Họ vẫn tiếp tục đi, hướng tới đại lộ Ba. Họ băng qua đại lộ này, dưới những thanh ray sắt của tuyến tàu điện trên cao, rồi về phía đại lộ Hai.
Cuối cùng Bricky lên tiếng, “Cái gì đã khiến cô đi xa đến vậy hả?”
“Tôi đã đi nhầm đường. Ban đầu tôi không biết mình đang ở đâu nữa. Tôi cứ như bị hoa mắt khi mới rời khỏi đó vậy.”
Phải rồi, Bricky thầm nghĩ, hẳn ai cũng sẽ thế thôi, sau khi vừa lấy đi mạng một người.
Cô nàng Kirsch lại lên tiếng, sau vài giây. “Chỗ đó nằm trong một con hẻm giữa các tòa nhà dọc theo phố này. Có một dãy thùng rác đang chờ được mang đi đổ. Cái thùng rác đầu tiên có nắp đậy. Tôi đã nhấc cái nắp lên và liệng khẩu súng vào đó.” Rồi cô ta nói, “Có khi mấy cái thùng đó đã được đổ đi rồi.”
“Họ sẽ không tới trước khi trời sáng đâu”, Bricky nói.
“Tôi nghĩ là cái thùng rác kia. Nó ở đó, trong cái thùng ấy. Cô thấy chúng không? Có một dãy sáu cái.”
“Hãy ở sát bên tôi.” Bricky cảnh cáo. “Đến đó đứng cạnh tôi trong khi tôi xem xét.”
Tất cả những gì cô gái kia trả lời là, “Tôi đang thực hiện phần của mình. Cô đã thực hiện phần của cô ở nhà tôi.”
Họ rẽ vào một con hẻm và bị bóng của các tòa nhà che khuất hoàn toàn. Ta chỉ còn nghe thấy giọng nói thì thầm đầy cảnh giác. Âm thanh đó, cùng với tiếng lạch cạch khe khẽ của một cái nắp thùng rác được nhấc lên.
“Tìm thấy chưa?”
Có một khoảng ngừng cho thấy rõ tình hình. Rồi Bricky làu bàu, “Cô đang thành thật về chuyện này đấy chứ?”
“Ai đó đã tìm thấy nó! Ai đó đã mang nó đi rồi!”
“Cô chắc chắn là đúng chỗ này chứ?”
“Ở trong con hẻm này, không thể là chỗ nào khác. Tôi nhớ khung cảnh trông thế nào khi rẽ và quay mặt ra phố từ chỗ này. Những ô cửa sổ ở phía đằng kia, với những cái khe màu trắng trên khung của chúng. Và đây là cái thùng rác đầu tiên ở chỗ này. Nó đầy những vỏ chai Coca.”
Bricky im lặng.
“Tôi xin thề là tôi đang nói thật. Tại sao giờ tôi lại muốn đổi ý, sau khi đã dẫn cô tới tận đây cơ chứ?”
“Cô nói về chuyện này nghe có vẻ thật đấy. Đừng bận tâm, không cần phải sục cánh tay xuống đám rác đó đâu. Khẩu súng chắc chắn phải nằm phía trên, nếu nó ở trong này. Một người nhặt rác chắc đã đi qua đây và tìm ra nó. Có thể ai đó đã thấy cô rẽ vào trong này rồi lại đi ra.”
Hai người đột ngột trở lại màn đêm ít tối sẫm hơn ở vỉa hè ngoài phố.
“Được rồi, giờ chúng ta hãy tới đó.” Bricky khẽ nói.
Cô gái dừng phắt lại và nhìn cô khẩn khoản. “Tôi có cần phải làm thế không?”
“Cô nhất định phải tới nơi mà chuyện đó xảy ra. Đó là lý do tôi lôi cô ra khỏi nhà. Đó là nhiệm vụ chính, chứ không phải việc tìm khẩu súng. Mặc xác khẩu súng.”
Họ bắt đầu quay trở lại. Họ băng trở lại qua đại lộ Ba. Đột nhiên cô gái đứng sững lại. Toàn thân cô ta run lẩy bẩy; Bricky dám chắc điều đó ngay cả trong bóng tối.
“Thôi than vãn đi.” Cô bắt đầu nói. “Cô đang do dự vì...?”
Không nói một lời, cô ta quay sang bên và bước vào con ngõ hôi hám mà họ đang đứng đối diện. Trong giây lát, Bricky nghĩ cô ta đang tìm cách tránh khỏi cô, đang cố bỏ chạy. Cánh tay cô bắt đầu vươn ra, tóm lấy cô ta kéo lại. Rồi cô buông tay xuống, kìm lại tiếng quát đã dâng tới tận môi. Một cảm giác kỳ cục, kinh hoàng và giá lạnh chạy khắp người cô.
Cô đuổi theo cô ta. “Cô làm gì thế hả, bỡn tôi chắc?” Giọng cô không còn bình tình nữa.
Trong thứ ánh sáng lờ mờ ở chỗ đó, cô thấy cô ta đang nhìn mình như thể không hiểu, không biết cô có ý gì khi hỏi như vậy.
Cô bỏ qua câu hỏi. Cô ta đang đi lên các bậc cầu thang ở phía sau. Cô bám sát gót cô ta. Lúc này cô không dám chắc trong hai người, ai mới là người hoảng sợ hơn. Nỗi sợ hãi của cô là một cảm giác nôn nao, mất tinh thần.
Đi lên được nửa chừng, cô ta lại dừng bước. “Tôi không thể... Tại sao tôi phải làm thế chứ?”
Bricky dùng ngón tay chỉ về phía trước. “Tiếp tục đi, dù cô đang đi đâu.” Cô nói cộc lốc.
Cái bóng của họ dần leo lên cao trên bức tường bẩn thỉu.
Lúc này họ đang đứng trước một cánh cửa.
Cô vợ của Harry Kirsch nhìn khắp bốn góc vuông vắn của nó, như thể cánh cửa đó là không thể vượt qua.
“Mở nó ra.” Bricky nói, biết rõ đây là đích đến của họ, qua vẻ ác cảm của cô ta.
Cô khẽ đưa tay ra chạm vào nắm đấm cửa, như thể sợ nó sẽ làm đau mình. Cô xoay nhanh một vòng, rồi vội thu tay về. Cánh cửa lập tức hé mở.
“Cô vào trước đi.” Bricky nói.
Khuôn mặt cô gái là vẻ mặt của một kẻ bị kết án khi cô ta bước vào bên trong trước cô. Bricky nhớ lại điều cô ta đã nói lúc trước, trong chính căn hộ của cô ta. Phải, điều này cũng giống như chết hai lần, đúng vậy. Nhưng cô ta đang không chỉ chết một mình, mà có điều gì đó trong Bricky cũng đang chết cùng với cô ta... Đã là như vậy, từ khi họ còn ở ngoài phố.
Đèn đang sáng. Ở trong đó, trước tiên là một hành lang hẹp như trong nhà tù. Họ đi vào theo hành lang đó, bước qua ngưỡng cửa để mở ra một căn phòng tối om. Trong phòng, các tấm ván gỗ sơn trắng sáng lên mờ mờ. Nhiều khả năng là một căn bếp. Họ đi qua một căn phòng thứ hai, cũng để cửa mở, cũng tối om. Rồi hành lang dẫn thẳng vào một căn phòng sáng đèn ngay phía trước; họ bước vào đó, rồi dừng lại.
Đây là một căn phòng thật khó xếp loại; hẳn là nó được thuê chỉ để dành cho bữa tiệc, chỉ cho tối nay, chỉ để làm nơi hẹn hò. Được thuê trọn gói với đồ đạc đã có sẵn. Trông căn phòng không có vẻ gì là có người ở thường xuyên, hoặc được sử dụng nhằm mục đích đó.
Trong phòng không có ai. Trước đó đã từng có người ở trong này, ăn uống phè phỡn trong này, quậy phá om sòm trong này, làm những chuyện điên khùng trong này. Những chiếc ly rải rác bừa bãi khắp nơi; đầu tiên chỉ có bốn chiếc, nhưng nhiều gấp bốn, gấp sáu lần là số lượng những vết chân ly vẫn còn ẩm ở xung quanh, nơi những chiếc ly được nhấc lên rồi đặt xuống hết lần này tới lần khác. Một cái đĩa hát vỡ tan tành trên đệm ngồi của một chiếc ghế. Bricky cầm lên một mảnh vỡ ở phần giữa đĩa, nơi có nhãn hiệu và xem qua. Cô nàng đeo súng. Cô cau mày trước sự trùng hợp đầy ác ý, rồi ném mảnh vỡ qua một bên.
Kirsch dừng lại, đưa tay chỉ về phía một cửa thông không có cánh mở sang căn phòng phía sau. Cô ta đứng đó, đờ người ra như mọc rễ; cô ta không thể tiến thêm xa hơn được nữa. Bricky đành bước tiếp một mình.
Cô dừng lại nơi ngưỡng cửa, đứng nhìn vào trong. Không có thêm chỗ nào để tới nữa. Cũng không cần thiết phải bước thêm nữa.
Căn phòng phía sau có một ô cửa sổ, nhưng rèm che đã được kéo xuống hết cỡ, khép chặt. Trong này có thêm hai chiếc ly nữa. Một vẫn còn đầy, như thể đã được dúi vào tay ai đó, người đã lập tức đặt nó xuống mà không động đến bởi viễn cảnh của một mối nguy hiểm lớn hơn đang hiển hiện.
Người đàn ông đang nằm đó, ở góc đằng xa của căn phòng, duỗi dài trong tư thế nằm nghỉ không hề ngay ngắn. Im lìm, bất động.
Bricky bước lại gần anh ta, cúi xuống. Rồi cô đột ngột lùi lại, ngoảnh mặt đi, đưa tay phây phẩy trước mặt. Cô đứng dậy, dùng bàn chân đá nhẹ vào thân hình đang nằm, như thể cảm thấy tò mò.
Rồi cô quay lại ngưỡng cửa, nhìn ra ngoài.
Helen Kirsch đứng đó như bị đóng băng, hai tay ôm lấy khuôn mặt trong bộ dạng bi thảm tột cùng. Bricky chỉ nhìn cô ta chằm chằm.
Thời gian trôi qua trong im lặng.
Thế rồi cô ta dần phát hiện ra điều gì đó trên khuôn mặt Bricky. “Cô nhìn tôi như thế làm gì? Sao cô cứ nhìn tôi mãi thế?”
“Lại đây chút nào. Tôi muốn cho cô thấy cái này.” Helen Kirsch run rẩy lắc đầu.
Bricky lôi cô ta đi bất chấp sự phản đối, giữ lấy cô ta, bắt cô ta nhìn vào căn phòng thứ hai.
Có tiếng làu bàu gì đó vang lên ở góc đằng xa. Thân hình vốn nãy giờ nằm đơ như khúc gỗ giờ đang cựa quậy không ngừng. Ngay khi hai cô gái đang quan sát, nó loay hoay nhổm dậy với cử động loạng choạng đặc trưng của một kẻ say khướt đã nằm bất tỉnh hồi lâu.
“Anh ta chưa chết.” Bricky nói. “Chỉ say như chết thôi. Hoàn toàn chỉ là sự nhầm lẫn. Có một cái lỗ ở đằng kia, trên tường, nơi viên đạn trúng vào.”
Tiếng thét bị kìm lại giữa chừng của Helen Kirsch thu hút sự chú ý đang chao đảo của anh ta về phía họ. Anh ta hướng ánh mắt đờ đẫn nhìn chằm chằm vào cô ta. Dường như anh ta có nhớ lơ mơ về cô nàng.
“Bạn em đâu?” Anh ta lẩm bẩm. “Chúng ta sẽ cạn một ly nữa, em, tôi và cô ấy.”
Cả hai cô gái đứng nhìn anh ta chằm chằm không rời mắt, cho tới khi anh ta đứng hẳn dậy như một con gấu. Rồi họ bừng tỉnh.
“Hãy rời khỏi đây”, Bricky nói cộc lốc, “trước khi tất cả bắt đầu trở lại.”
Helen Kirsch hẳn đã có thể đứng đó đến hết đêm. Như thể có điều gì đó đã làm cô ta đờ đẫn, tước đi toàn bộ khả năng cử động. Bricky đành phải lôi cô ta đi, đẩy cô ta về phía trước. Cô đẩy cô ta đi trước, ngang qua căn phòng ở giữa, dọc theo hành lang, rồi ra cầu thang bên ngoài.
Đằng sau họ, có thứ gì đó nặng nề đổ ập về vị trí cũ, nằm im tại đó.
Bricky đóng sập cánh cửa lại cho thêm phần an toàn.
“Đi nào.” Cô nói với người bạn đồng hành đang ngơ ngẩn. “Đi khỏi đây. Đừng đứng đó như thế.” Họ chạy một mạch xuống cầu thang, nắm tay nhau, một người nức nở nhẹ nhõm, người kia thất vọng cay đắng.
Họ hối hả lao ra ngoài, cuống cuồng chạy ra vỉa hè trước khi giảm nhịp xuống, chững lại. Rồi Bricky dừng phắt lại, quay sang cô ta.
“Cô yêu anh ta chứ, cái anh chàng George hay Harry hay gì đó ấy?”
Helen Kirsch gật đầu, không thể nói lên lời. Đôi mắt cô ta long lanh chực như lại sắp òa khóc.
“Vậy thì còn chờ gì nữa hả, đồ ngốc?” Cô giơ tay vẫy một chiếc taxi chạy ngang qua. “Hãy trở lại đó. Trở lại đó thật nhanh!” Chiếc taxi quay đầu, dừng lại. “Vào xe đi.”
Bricky đóng sập cánh cửa xe lại chắn giữa họ. Khuôn mặt tái nhợt câm lặng nhìn về phía cô trong giây lát. Bricky ra hiệu cho tài xế chuyển bánh.
“Giờ thì cô có đoạn kết có hậu của mình rồi; đừng thách thức vận may thái quá. Hãy ở lại bên anh chàng Harry của cô, nơi cô thuộc về... và hãy biết kín miệng, để mắt đến bản thân và giữ các ngón tay tránh xa cò súng sau chuyện này.”