Năm, tháng qua. Tôi mải bận về sinh-kế nên chưa có dịp đến bắt anh Cung kể câu chuyện bí-mật của đời anh cho tôi nghe thì bỗng một hôm tôi nhận được một bức thư của bạn cho mời đến ngay, có việc cần. Tôi đến đã thấy mấy cái va-li để đấy. Bạn bắt tay tôi rồi bảo :
– Tôi có việc phải đi xa một thời-hạn rất lâu và cũng chưa biết sống chết thế nào, bởi ai mà có thể nói trước được với ngày mai. Tôi xin đem hai ngày còn ở lại xứ này, kể cho anh nghe cái đời tôi và khối-tình nó đè trĩu trên tim lôi. Rồi tôi nhờ anh viết thành sách để gọi là… anh muốn gọi là để làm gì thì làm, nhưng tôi yêu-cầu anh phải viết ra và viết cho đúng. Anh là người bạn thân-yêu nhất, tôi xin giao cho anh cái trách-nhiệm thiêng-liêng ấy. Anh có hiểu tại làm sao tôi phải kể cả cái đời tôi cho anh biết không? Vì có biết rõ cái đời ấy mới hiểu được mối tình ấy. Mà có hiểu được mối tình ấy mới hiểu những hành-vi của tôi. Những hành-vi của đời người cứ liên-tiếp nhau như những cái vòng của một dây xích, thiếu một vòng thì…
– Tôi hiểu cái luật nhân-quả ấy rồi, anh cứ kể đi.
« …………
tôi còn nhớ lắm năm 1920, là năm tôi mười bẩy tôi đương ngồi ở dưới nhà ngang thì nghe tiếng mẹ già tôi gọi :
– Có đứa nào dưới ấy, gọi thằng Ba lên đây.
Tôi giật nẩy mình, vì thủa nay, mỗi khi thầy tôi, hoặc mẹ già tôi gọi đến tôi thì phi phải đánh, tất phải chửi. Mà ít ra cũng phải nghe những lời đay-nghiến đau-đớn hơn là roi đòn. Nó là cái dùi lửa xiên vào lòng tự-ái. Nó thấm-thía đến tim gan vì những câu đay-nghiến ấy nào phải chỉ riêng cho tôi, còn móc máy đến mẹ tôi là người đã khuất bóng từ hồi tôi mới lên mười.
Nghe tiếng mẹ già tôi gọi, tôi còn chưa dám chạy lên ngay vì lên ngay thì mẹ già tôi diếc :
– Quân ăn cướp, đi đâu mà vội-vàng thế ?
Còn lên chậm thì :
– Đồ điếc lòi, ngồi đâu mọc rễ ra đấy, gọi tám trống canh chưa thấy mặt.
Mẹ tôi đã sớm mất. Ở cái gia-đình này, còn ai thương yêu tôi nữa. Còn tôi thì biết thương-yêu ai bây giờ ? Hồi ấy, cha tôi đối với tôi lúc nào cũng gắt-gỏng, động một chút là đấm, là tát, là chửi, là mắng. Mẹ già tôi coi tôi như cái gai trước mặt, nào lườm, nào nguýt, thôi thì xỉ-vả không còn chỗ nói. Anh cả tôi thì coi tôi như người dưng. Nhưng người dưng tuy đối với mình, không yêu nhưng cũng không ghét, còn kẻ đồng-tính đối với mình mà nhạt-nhẽo như người dưng thì phần thương đã không có mà phần ghét bỏ lại tăng tiến lên nhiều. Anh hai tôi năm ấy lên mười, kém tôi năm tuổi, vì là con mẹ già, nên tôi phải gọi bằng anh. Trong cái tuổi ngây-thơ ấy, linh-hồn đâu đã có những điều hiểm-độc, nhưng vì thấy cả nhà ghét bỏ tôi, nên cũng hùa theo. Nhiều lần chỉ vì anh hai tôi mà tôi bị lắm trận đòn nên thân. Hai chị tôi đối với tôi rất là ghẻ lạnh, còn đầy-tớ trong nhà cũng khinh-khi tôi nốt vì tôi cũng gần như chúng nó.
Mẹ già tôi gọi tôi. Tôi chờ đến cái thời-kỳ vừa phải, nghĩa là không gần lúc gọi mà cùng không xa lắm, mới dám lên :
– Thưa mẹ, cho gọi con.
Mẹ già tôi cứ thấy mặt tôi là đã đổ ghét bèn ngoảnh bảo thầy tôi:
– Đấy nó đã vác cái mặt dày lên đấy, ông bảo gì nó thì bảo đi.
Tôi vẫn cúi mặt chưa dám nhìn. Thầy tôi cũng chưa kịp nói gì thì mẹ già tôi lại nói tiếp:
– Bảo-hộ với bảo-hiếc gì nó. Năm nay đỗ cái bằng tốt-nghiệp chẳng qua chó ngáp phải ruồi. Người gì mà mặt lúc nào cũng lầm-lầm như chó ăn vụng bột. Đầu tóc thì rũ-rượi như đứa chết trôi.
Thật là tức có thể ứa máu cổ. Tôi mà chải-chuốt thì mẹ già tôi chửi là làm dáng. Còn để tóc không chải thì lại chửi là đứa chết trôi.
Đằng nào mẹ già tôi cũng chửi, ở vào cải cảnh tôi lúc bấy giờ, thật không còn biết thế nào là phải trái. Tôi cho đời người rất nhiều cái khổ, nhưng không cái khổ nào bằng lúc linh-hồn bị phân-vân, vất-va vất-vưởng chẳng biết bám víu vào đâu để tim nguồn sống.
Có khi việc tôi làm là phải cho thầy tôi mà lại không là phải đối với mẹ già tôi. Cũng có lúc là phải đối với mẹ già tôi lại không là phải đối với thầy tôi.
Tôi còn nhớ một buổi chiều ở trường thầy giáo dạy về luân-lý, có khuyên học-trò phải sạch-sẽ. Tôi yên-trí lời thầy dạy là phải. Sớm hôm sau thức dậy, tôi vội-vàng ra ao, tắm rửa kỳ-cọ. Vì mải «sạch-sẽ» quá, nên tôi tắm lâu, quên rằng không đánh thức anh Hai tôi. Anh Hai tôi chợt dậy trông đồng-hồ đã gần đến giờ đi học mà chưa kịp rửa mặt, mặc quần áo, bỗng khóc vang nhà.
Mẹ già tôi đang ngủ chồm dậy hỏi :
– Vân, ai làm gì con mà con khóc thế ?
Giọng nói mới êm-ái âu-yếm làm sao! Tôi còn nhớ mấy năm về trước kia cũng có một người nói với tôi bằng thứ giọng âu-yếm, êm-ái như thế. Nhưng người ấy lúc bấy giờ đã chết, đau-đớn mà chết, ức-uất mà chết. Tôi nghĩ đến lúc nào là ứa nước mắt. Nhưng tôi không có quyền khóc như anh Hai tôi. Vì mỗi khi mẹ già tôi thấy tôi có nước mắt lại chửi :
– Rõ giống con đĩ mẹ mày, động một chút là chảy nước đái ra.
Vì tôi không muốn cho ai động đến linh-hồn mẹ tôi, nên tôi không khóc ra nước mắt. Tôi chỉ nuốt… Nuốt nước mắt? Cái câu rất thường nhưng ý-nghĩa rất chua cay, tôi đã hiểu từ khi tấm bé, từ khi mà những trẻ con cùng tuổi với tôi còn đang vui đùa với con bướm, ông giăng.
Anh Hai tôi kể-lể, mẹ già tôi bèn gắt :
– Thằng ông mãnh kia, sao mày không đánh thức anh ?
Con u-em mách-lẻo, tâng công :
– Thưa bà, cậu ấy tắm giặt từ mờ-mờ sáng đến giờ chưa xong.
Mẹ già tôi đùng-đùng nổi giận, ngồi dậy vấn tóc, vớ lấy cái phất-trần ở vách vụt tôi tối-tăm mặt mũi. Vừa đánh, vừa diếc :
– Người không đáng đồng kẽm mà chải-chuốt. Này…, chải-chuốt với bà này…, chải-chuốt với bà !
Hôm ấy ra trường, tôi đầu bù, tóc rối, mặt mũi lem-nhem, thầy giáo liền mắng :
– Sao hôm qua, tôi dạy anh người ta phải ăn ở sạch-sẽ mà anh để đầu tóc, quần áo thế kia, anh là đứa học-trò hư !
Rồi thầy giáo lại vụt tôi chừng mười thước kẻ nữa. Đâu là chân-lý? Chân-lý lúc ấy đối với tôi chỉ là sự đểu-giả và bất-công của loài người. Sinh vào một gia-đình nào mà cha mẹ biết lấy cái tình thiêng-liêng mà cảm-hóa lòng ta, biết lấy cái ý-trí sáng suốt mà dẫn-dụ cho ta, đó là hạnh-phúc đệ nhất của niên-thiếu. Đối với tôi, hạnh-phúc ấy đã không có. Người ta đã chẳng dẫn-dụ, chẳng yêu-thương thì thôi, người ta lại kiếm hết cách làm cho linh-hồn tôi ung-độc.
Một vết thương ở linh-hồn lúc còn ấu-trĩ nào có phải một trận gió thoảng qua, một cơn giông đổ lại, bảo mau-mau cùng với thời-gian qua mà tiêu-tán. Nó in sâu vào tim gan, nó thâm-nhập vào cốt-tủy. Đấy cái lý-do mà bạn-bè trông tôi thường bảo tôi giống con «cú sầu vạn-niên». À, tôi kể đến đâu rồi nhỉ ?
– Đến chỗ mẹ già anh gọi anh lên rồi đang diếc anh.
– Tôi đang tê-tái vì những nhời diếc của mẹ già thì thầy tôi bảo:
– Thầy định cho con ra Hanoi học, vậy từ nay đến hết hè, con phải cố học để thi vào trường Bảo-hộ.
Ra Hanoi học? một điều bấy nay, tôi không hề bao giờ dám mơ-tưởng đến. Tôi nghe thầy tôi nói mà choáng-váng cả người. Tôi vẫn đinh-ninh rằng đường công-danh tôi đến cái bằng tốt-nghiệp là cùng, ai ngờ lại có sự may-mắn ấy. Tôi mừng quýnh vội quả-quyết giả nhời ngay :
– Thầy cho con ra học, con xin cố.
Rồi quay sang thấy mẹ già tôi có vẻ bất-bình, tôi liền nói thêm :
– Thầy mẹ có bụng thương cho con đi học thêm, con xin cố, nhưng vị-tất con đã thi đậu vào trường Bưởi được.
Mẹ già tôi nói một giọng chế-nhạo, chua-chát:
– Phải học mà làm ông Tham ông Phán. Tham, Phán thì ấm vào xác, chứ bà đây bà chẳng thèm nhờ.
Tôi nghẹn họng không biết nói làm sao. Anh cả tôi ngồi một bên trường-kỷ, nhìn tôi một cách khó-chịu rồi bảo :
– Chú ấy có tài thì chú ấy đỗ, hơi đâu mẹ nói lôi-thôi.
Giọng nói chứa đầy sự tức-tối, giận-dỗi chỉ rình cơ-hội để trút bớt ra. Thì chẳng may cho con mực. Nó đang ở đâu bỗng đâm choàng vào gần chân anh tôi mà nằm. Anh tôi mắm môi đạp con mực kêu cái «oẳng» :
– Gớm, chó cũng muốn sang, cứ lên chỗ cao-ráo mới chịu nằm.
Vì tôi thành con mực phải đánh oan. Cái thân tôi lúc ấy còn khổ hơn con mực. Con mực còn được yên-ổn sống coi nhà, chứ tôi có được yên-ổn sống như nó đâu.
Tôi xuống nhà. Trên nhà còn xì-xào to nhỏ, chắc là chỉ có nói chuyện tôi, mà toàn là những chuyện không hay cho tôi cả. Tôi tuy không nghe, nhưng cũng đoán rằng mẹ tôi và anh tôi đương bới lông tìm vết để nói xấu tôi với thầy tôi..
Mọi khi, những cử-chỉ ấy làm cho tôi buồn-rầu lắm. Nhưng hôm ấy thì không. Hai chữ Hanoi như đã cuốn hút hết sầu-não mà vất đi. Tôi tưởng-tượng đến một tỉnh-thành rực-rỡ và sự tự-do của tôi ở trong cái tỉnh-thành đầy hoa mộng ấy. Tôi chưa được ra Hanoi bao giờ.
Tôi còn nhớ năm nào mẹ già tôi, hai anh tôi, hai chị tôi đi chùa Hương về nói chuyện Hanoi. Nào nhà ngói như bát úp, đường đi như bàn cờ, nào nhà hát, nào xe điện, nào cao-lâu, nào hồ Gươm, nào hàng Đào con gái đẹp như tiên, nào hàng Ngang những chú khách béo như chum, nào hàng Buồm, thơm ngát những mùi xá-xíu và lê, táo, còn vô-số là những vui-thú… Lại nói đến chợ Đồng-xuân, kẻ bán, người mua như nêm cối, ăn-cắp như rươi.
Nói đến ăn-cắp, tôi ngớ-ngẩn hỏi u-già :
– Ở Hanoi, cũng có ăn-cắp ư ?
U-già chẩu mỏ có vẻ trân-trọng, bảo tôi:
– Cậu chưa biết, kẻ-cắp chợ Đồng-xuân nó nhanh như cắt. Tiền thắt vào dùi tượng, nó cũng cắt được. Ngoảnh đi, ngoảnh lại, vô ý một tí là mất ngay. Cậu bao giờ được đi Hanoi, có cái gì phải coi chừng không nó lấy hết.
– Thế làm thế nào mà biết được là ăn-cắp?
– Nó cũng ăn mặc lôi-thôi lếch-thếch như cậu.
Câu nói của u-già làm cho tôi chán-ngán.Tôi ngoảnh lại ngắm thân-hình : quần vải lịm một manh vá ống, áo vải tây thâm rách tay, cái mũ rơm của anh cả tôi cho đã cũ. Có cái gi đáng tiền mà sợ ăn-cắp lấy! U-già nhận xét đúng : có lẽ ăn-cắp trông thấy tôi nó cũng tưởng tôi cùng một phường với chúng nó.
Tôi nghe lỏm những học-trò đi học ở Hanoi về nói con gái hàng Ngang, hàng Đào đẹp và lịch-sự lắm. Các bà mẹ ông Thông, ông Phán ở tỉnh tôi chỉ ao-ước cho con lấy được vợ hàng Ngang, hàng Đào, nhưng ít ai được cái vinh-dự ấy. Bà điều Liêm người tỉnh tôi cưới vợ cho con là người hàng Đào, đón dâu bằng những sáu bẩy chiếc ô-tô, pháo đốt tưởng chừng như vỡ tỉnh. Ai hỏi con dâu bà người đâu thì bà nói một cách vênh-váo :
– Cháu người hàng Đào.
Tự đấy, nói đến con gái hàng Đào là tôi tưởng-tượng ngay đến những thiên-kim tiểu-thơ, da trắng như trứng gà bóc, vàng đeo đầy mình, chân tay nõn-nà như ngọc, miệng cười tươi như hoa…. Cứ tưởng-tượng ngần ấy cái đẹp-đẽ, tôi đâm ra hy-vọng hão-huyền. Rồi tôi tưởng-tượng tôi cũng đỗ ông Phán, tôi cũng lấy con gái hàng Đào. Nhưng ngán thay, trận gió độc-địa thổi qua làm bay tà áo, tôi trông thấy cái áo vải thâm cũ rích, tôi liền bị mất hứng ngay.
Hanoi ? Tôi sẽ về Hanoi. Tôi sẽ được xa cha, xa mẹ già, xa anh em là những người coi tôi như cừu-thù này. Cái hy-vọng công-danh còn mịt-mù chưa biết, nhưng được xa nơi ngục hình này lòng tôi rất lấy làm khoan-khoái.