Trước khi kể những chuyện xảy ra, tôi tưởng cần phải nói cho anh biết qua về gia-thế tôi.
Cha tôi quê ở Hà-đông, con nhà nho. Nhưng thời buổi Tây Tầu, bút nghiên đành xếp xó. Việc tảo-tần mặc một tay mẹ già tôi. Mẹ già tôi người đanh-thép, buôn bán đảm. Xét thấy việc làm ruộng ở nhà quê vất-vả, chẳng lợi-lộc là bao, mẹ già tôi khuyên thầy tôi bán hết ruộng lấy vốn lên Bắc-giang buôn bán. Tỉnh Bắc-giang lúc ấy mới mở, kẻ buôn bán còn ít, mà dân quê ngu-dốt phần nhiều, nên trong hơn hai-mươi năm đặt đỗi và cho vay mượn, nhà tôi đã trở nên giầu có. Vì nhà nhiều việc lại neo người, nên mẹ già tôi định lấy nàng hầu cho thầy tôi để giúp đỡ công việc. Nàng hầu ! Hai chữ nàng hầu, cứ nghĩ đến là tôi ghê mình!
Ông ngoại tôi mất sớm. Bà ngoại tôi đem mẹ tôi và cậu tôi lên Lục-nam buôn-bán. Mẹ con tảo-tần, hôm sớm nuôi nhau, dẫu chẳng sung-túc nhưng lần-hòi cũng đủ ăn tiêu. Cái cảnh mẹ góa con côi được như thế cũng tạm lấy làm mát mặt. Nhưng chẳng may đến năm mẹ tôi mười-bẩy tuổi vì cậu tôi ốm, rồi dấp luôn vài việc, thành ra sa-sút. Bà ngoại tôi có vay mượn của mẹ già tôi ít nhiều. Mẹ già tôi xem tình-thế bà ngoại tôi không thể giả được mà xét thấy mẹ tôi là người nết-na hiền-hậu bèn tính cách: mất của thì ta lấy người. Mẹ già tôi liền dỗ ngọt bà ngoại tôi:
– Cụ chẳng may phải lúc vận áo xám, buôn-bán thua lỗ, lại túng thiếu. Thôi thì cụ cho em nó về ở đây với tôi cho có chị, có em. Rồi tôi giúp thêm cho cụ út vốn mà buôn-bán may ra trời trông lại… biết đâu.
Nuôi con những ước về sau….
Bà ngoại tôi trước còn không nghe, sau tình-thế quẫn-bách quá bèn bàn với mẹ tôi. Mẹ tôi thấy mẹ già thiếu-thốn mà em giai thì không chỗ nương-dựa, nên cũng liều nhắm mắt để cứu-vãn vận nhà.
Một hôm, mẹ già tôi và vài người nữa đi ba cái xe lên Lục-nam đón mẹ tôi về. Thế là mẹ tôi đương là con gái yêu-quý của bà tôi, người chị hiền của cậu tôi đã phải xả thân vào làm tôi-tớ nhà người. Tự đấy cái đời mẹ tôi đã gặp bao nhiêu cơn mưa gió phũ-phàng. Ông ngoại tôi trước kia làm ông đồ nên cũng dạy mẹ tôi được ít nhiều chữ nghĩa. Cũng bởi mẹ tôi là người thông-tninh lại lắm tình-cảm, nên những cảnh ngứa ghẻ đòn ghen lại càng làm cho mẹ tôi đau-đớn.
Tự hồi tôi lên sáu là hồi tôi đã bắt đầu có trí nhớ thì những sự ngược-đãi của mẹ già tôi đối với mẹ tôi đã khiến tôi phải não-lòng. Chẳng biết trước kia ra sao, nhưng đại-để chắc cũng là những cảnh-tượng thê-thảm.
Bữa cơm thì mẹ già tôi cho tôi cùng ngồi ăn, nhưng bắt mẹ tôi phải đứng quạt hầu và xới cơm. Tôi còn nhớ một hôm đang ngồi ăn, tôi bỗng thấy một con sâu đo lẫn vào bát canh cải. Tôi đã gắp gần bỏ vào miệng mới thấy, tôi sợ-hãi la ầm lên. Nếu tôi có biết vì câu nói ấy mà mẹ tôi bị tàn-tật thì con sâu đo kia dù ghê-gớm đến đâu, tôi cũng có can-đảm nuốt nó đi. Trông thấy con sâu, mẹ già tôi liền hỏi:
– Đứa nào nhặt rau ?
– Thưa bà, con.
Mẹ tôi vừa nói dứt lời thì liền bị một bát canh nóng sôi đổ táp ngay vào mặt.
Tôi thấy cách cử-chỉ tàn-nhẫn của mẹ già tôi đối với mẹ tôi, lại thấy thân hình mẹ tôi lúc bấy giờ thật là tiều-tụy : đầu tóc bù rối, hai mắt nhắm nghiền, lại tự nghĩ vì mình mà gây ra cái thảm-kịch ấy, tôi vừa tức, vừa thương, vừa hối-hận. Trong một khắc đồng-hồ ấy, người tôi sôi-nổi không biết bao nhiêu cảm-giác. Tôi trợn trắng mắt nhìn mẹ tôi, rồi ngất người đi.
Tôi ốm không biết mấy tháng, đến khi tinh-thần tôi đã lại, tôi đã biết phân-biệt các sự vật xung-quanh mình, tôi thấy một người đàn-bà da mặt nửa trắng, nửa đỏ, một bên mắt sâu như cái lỗ đáo, còn một mắt đăm-đăm nhìn tôi mới âu-yếm dịu-dàng làm sao ! Hình như hào-quang của hai con mắt nhập vào làm một nên mới có những tia sáng chói-lọi tỏ rõ sự thương yêu một cách rõ-rệt đến thế.
Người ấy là ai ? Nội nhà này, có ai là người thương tôi đến thế. Có ai nhìn tôi bằng một con mắt âu-yếm như thế ? Tôi bỗng nhớ đến bát canh cải, con sâu đo. Người ngồi đó tức là mẹ tôi. Nhưng sao thân hình tiều-tụy thế.
Cái mặt trắng trẻo hiền-hậu xưa kia sao bây giờ trông ghê-gớm thế? Đôi con mắt bồ-câu nhu-mì sao hỏng một? Tôi bỗng hiểu…. Lòng tôi chan-chứa xót-thương. Tôi tung chăn ra vùng dậy, ôm lấy cổ mẹ tôi hôn lấy hôn để. Rồi tôi ôm ghì lấy mẹ tôi sẽ gọi :
– Chị Hai, chị Hai của em.
Chị Hai! Tại làm sao người dứt ruột đẻ ra tôi, tại làm sao người nuôi-nấng tôi trong khi sài-đẹn, tại làm sao cái người khi tôi buồn thì buồn, khi tôi ốm thì lo, khi tôi cười thì vui-vẻ cười theo tôi, khi tôi khóc thì âu-yếm dỗ-dành tôi mà tôi không được quyền gọi bằng mẹ? Mà tôi lại phải đem cái tên quý-hóa ấy đi gọi con người chỉ tìm cách hành-hạ và làm cho đau-đớn cái người đã sinh ra tôi ? ? ?
Sự trái ngược ấy tự trời đặt ra hay tự cái tập-quán xấu-xa của xã-hội gây nên ?
Tôi nhìn rõ sự giả-dối của xã-hội tự đấy, tôi ghét cái lao-tù trưởng-giả từ đấy. Lao-tù thật, lao-tù thành-kiến, lao-tù chứa toàn sự bất-công, hèn-hạ, ác-độc, giả-dối, ích-kỷ.
Mẹ già tôi có quyền gì bắt tôi phải gọi bằng mẹ? Có phải chỉ vì có tiền bỏ ra mua mẹ tôi mà có cái quyền ấy không?
Mẹ, mẹ, chữ ấy hồi bấy giờ đối với tôi thật là vô-nghĩa. Tôi gọi mẹ cũng như tôi gọi con chim, cái mũ, cái áo, chẳng có cảm-tình gì.
Tôi mới yếu khỏi nên ghì cổ mẹ tôi một lát đã đuối sức mệt nhoài ra, thở hồng-hộc. Mẹ tôi sẽ bế tôi đặt xuống giường rồi nhìn tôi chòng-chọc. Rồi ở trên mí mắt kia có một giọt nước mắt hiện lên, rồi giọt nước mắt ấy cứ từ-từ mà chảy xuống má tôi. Có lẽ vì thấy tôi sống sót, mẹ tôi mừng mà khóc, hay thấy tôi gầy còm như con mắm mà khóc ?
Sau đấy một ít lâu, u-già kể chuyện cho tôi biệt trong khi tôi ốm thập-tử, nhất-sinh, thầy thuốc nói không còn phần nào phần sống thì mẹ tôi đã thắt cổ tự-tử. Sau người nhà biết hô-hoán lên, cứu chữa mãi mới khỏi. Có lẽ mẹ tôi đinh-ninh rằng tôi chết thì cái nguồn an-ủi cuối cùng, cái lẽ sống độc nhất đã mất, còn kéo dài cái đời sống khổ, sống não ra làm gì.
Mẹ già tôi đánh mẹ tôi luôn, lắm trận thật đau. Nhưng không khi nào mẹ tôi kêu van khóc-lóc cả. Khóc cũng khổ mà không khóc cũng khổ. Khóc thì mẹ già tôi chửi bù-lu bù-loa bảo rằng định gieo vạ, mà không khóc thì diếc mắt rắn-ráo. Đằng nào mẹ già tôi nói cũng được. .
Nhiều đêm, tôi nằm thấy hai má tôi ướt-ướt. Thì ra nhiều đêm thanh-vắng, mẹ tôi nghĩ đến nguồn-cơn, mẹ tôi bùi-ngùi thương thân ôm tôi mà khóc. Mỗi khi tôi thấy mẹ tôi khóc, tôi chỉ ôm chặt lấy mẹ tôi. Mẹ tôi lại vuốt-ve tôi rồi tiếng khóc cũng im dần. Mẹ tôi chỉ vì tôi mà sống. Nếu không có tôi thì cảnh-tình ấy, bước sang cõi đời khác chẳng là đỡ thảm-đạm và nhục-nhằn hơn là sống khổ, sống sở như thế sao.
Có tôi, mẹ tôi phải cố nuốt hận mà sống để đem lại cho đời tôi một chút an-ủi.
Đời sống của mẹ tôi là những tràng ngày nhẫn-nại và hi-sinh.
Tôi còn nhớ mãi cái thảm-kịch gây ra bởi con sâu đo cũng như tôi còn nhớ mãi cái thảm-kịch gây ra bởi con quay (Đã trích đăng thành truyện ngắn ở quyển Trước cảnh Hoang-tàn Đế Thiên – Đế-Thích.).
Hồi ấy tôi lên chín. Anh tôi lắm đồ chơi lắm mà tôi thì chẳng có một thứ gì. Nội các thứ đồ chơi của anh tôi, nào ô-tô, nào tầu hỏa, nào búp-bê… tôi chẳng ưa thứ nào cả, chỉ thích nhất con quay sừng.
Mỗi khi tôi thấy anh tôi quấn dây, rồi xoay mình vươn vai đánh, con quay nó vùn-vụt ở trong tay bay ra, quay tít thò-Iò, tiếng kêu vo-vo, nó chạy, nó lượn, nó mới đậu làm sao!
Tôi ao-ước :
« – Giá tôi cũng có một con quay sừng như của anh tôi»
Tôi đương chăm-chú nhìn con quay thì ở đằng xa mẹ tôi cũng chăm-chú nhìn tôi, mà có lẽ mẹ tôi đoán biết sự mong-ước của tôi bởi vì chỉ có người mẹ mới thấy biết những bí-ẩn của lòng con, chỉ có những người nào thương yêu nhau mới tỏ rõ tâm-sự nhau.
Tôi chạy lại vồn-vã bảo mẹ tôi:
– Em thích con quay sừng kia quá, chị Hai mua cho em một con nhé,
– Chị Hai làm gì có tiền, hở em !
Tiếng mẹ tôi nói có vẻ buồn-rầu thất-vọng : vật-thử con quay sừng kia chỉ có một hào bạc, mà không làm sao kiếm ra để mua cho đứa con cưng được vui lòng!
Tôi nghe mẹ tôi nói, ngoảnh mặt nhìn con quay mà tôi cũng buồn.
Hồi ấy, tôi còn đi học chữ nho. Một hôm, tôi đi học về, mẹ tôi đưa cho tôi một con quay. Con quay này không phải là con quay sừng, cũng không phải là con quay tiện. Nó chỉ là một con quay đẽo, mà lại là con quay mẹ tôi đẽo cho tôi. Tôi đánh dẫu nó không tít, không đậu bằng con quay của anh tôi, nhưng tôi yêu-quý nó hơn hết cả các con quay sừng ở trên trần-thế.
Tôi có con quay thích quá, lúc nào cũng đánh, ngoài sân, sau vườn, dưới bếp, nhà ngang. Mẹ tôi nhìn tôi đánh quay, thấy tôi vui-sướng mà mẹ tôi cũng vui-sướng: mẹ tôi vui-sướng cái vui-sướng của tôi.
Một hôm ở trong bếp, tôi muốn khoe tài với mẹ tôi, tôi bảo :
– Em đánh quay giỏi lắm, để em đánh cho chị Hai coi.
Rồi tôi quấn dây, giang thẳng cánh, bổ một cái thật mạnh, thì ôi thôi! cái dây vướng phải rổ bát đĩa lôi đổ ụp xuống, kêu đánh ầm một tiếng: bát đĩa vỡ tung-tóe. Tôi tái xanh cả mặt, sợ run lập-cập.
Mẹ già tôi đang quét tước ở trên nhà ngang sồng-sộc chạy xuống hỏi:
– Đứa nào đánh vỡ gì ?
– Thưa bà, tôi trót nhỡ tay.
Mẹ tôi nói chưa dứt lời thì mẹ già tôi túm lấy đầu dầm xuống, sẵn cái chổi cầm tay, đánh túi bụi.
Mẹ tôi thấy tôi bé nhỏ, không nỡ để mẹ già tôi đánh tôi, nên nhận cái lỗi của tôi làm lỗi của mình để chịu đòn thay cho tôi.
Từ đấy, tôi không đánh quay nữa mà tôi thấy ai đánh quay, tôi cũng chẳng buồn nhìn.
Nhưng con quay mẹ tôi đẽo cho tôi, tôi không đành lòng vứt nó đi. Tôi giữ, tôi giữ mãi cho đến ngày nay để kỷ-niệm cái đời đau-đớn và lòng hy-sinh của mẹ tôi đối với tôi.
Năm tôi lên mười, mẹ tôi ốm. Một là vì ít thuốc-thang, hai là vì buồn-rầu lo-nghĩ quá mà bệnh một ngày một nặng.
Rồi một ngày kia đi qua đầu chợ Thương một cái đám ma chỉ lơ-thơ vài người đi đưa. Và chỉ có một thằng bé con mặc đồ trắng.
Thằng bé không khóc. Nó rũ-rượi đi theo chiếc áo quan, cúi mặt nhìn xuống đất, lâu-lâu lại ngẩng đầu lên nhìn cái quan-tài.
Không biết lúc ấy trong đầu nó nghĩ những gì, nhưng tròng mắt nó thì cũng đủ rõ toàn những buồn-thảm. Nó nghe thấy người đi đường thì-thầm :
– Ô, đám ma không có người chống gậy nhỉ.
– Có con giai đâu mà chống gậy.
Thằng bé ngơ-ngác nhìn người đi xem rồi nó tự hỏi :
– Làm sao nó không chống gậy cho mẹ nó? Ai cấm nó không cho nó chống gậy cho mẹ nó?
Đã buồn-thảm, nó lại buồn-thảm thêm.
Đám ma đến nghĩa-địa. Nó thấy một cái hố sâu-sâu, rộng-rộng. Rồi mấy người đem cái quan-tài của mẹ nó đặt xuống, lấy xẻng lấp đất lên. Nó ngơ-ngác, rồi nhẩy choàng xuống ôm lấy cái quan-tài, hình như nó muốn lấy cái thân-thể bé nhỏ của nó để che chỗ của mẹ nó khỏi bị sự vùi-lấp… của loài người. Nó ôm ghì lấy cái quan-tài, nhưng quan-tài to, tay nó ngắn, ôm làm sao cho xuể. Lúc ấy, nó mới khóc, nó khóc nhiều lắm, nó khóc đến mất cả tiếng. Người ta nhẩy xuống lôi nó lên. Nó gầy như cái que, sức vóc là bao, nó bị người ta lôi xềnh-xệch như con ếch. Thằng bé thấy hình như một nửa người nó rời-rụng… chết hẳn đi, rồi «chạy» vào trong quan-tài nằm chung với mẹ nó. Nó thấy hình như ruột gan tan-tác ra từng mảnh, đầu óc như vỡ nát. Người ta vất nó lên xe đem về nhà lúc nào nó cũng không hay.
Từ đấy, thằng bé đã nhút-nhát lại nhút-nhát thêm, đã ít nói lại càng ít nói. Vết thương của linh-hồn hình như lúc nào cũng hiện ra trên sắc mặt tai-tái của nó.
Rồi… ngày hai buổi nó đi học, lủi-thủi đi, lủi- thủi về như con chó người ta chặt đuôi. Nó chẳng chuyện-trò với ai. Ai gọi thì nó thưa, ai hỏi thì nó giả nhời. Trẻ con người ta khi đi đường thì trông ngang, trông ngửa, nó chỉ cúi gầm mặt mà đi hình như trước mặt nó lúc nào cũng hiện ra một nấm mồ, hình như có cái gì nặng đè trĩu lên cổ nên nó không cất đầu lên được.
Tình cờ, một hôm nó đi học về, nó thấy u-già cầm một cái lược và một mớ tóc rối. U-già thấy nó liền giơ bảo :
– Cái lược và mớ tóc này là của cô Mai, bà thấy ở mái nhà bảo tôi đem vất đi.
Xưa nay, thằng bé ăn nói rất vụng, sao hôm ấy nó lại ứng-khẩu nói được khéo thế :
– U-già đưa em xem, rồi em đem vất giùm hộ u.
U-già đưa cho nó. Nó cầm đến nắm tóc tơ hơi hung-hung đen kia rõ-ràng là tóc của mẹ nó, nó bỗng xúc-động trào nước mắt. Nó giả- lảng ra sau vườn để u-già yên-trí là nó đem vất đi. Nhưng kỳ-thực nó giấu tất cả vào trong túi nó.
Rồi một hôm vắng người, nó ra sau vườn, nó đào một cái hố thật sâu, nó đem nắm tóc của mẹ nó vùi xuống. Giá lúc ấy có ai tò-mò trông trộm thì thấy một cảnh-tượng rất nực cười : Một thằng bé chống cái gậy cúi lom-khom đi chung quanh một đống đất nhỏ.
Thằng bé làm gì? Thằng bé chống gậy cho mẹ nó, bởi vì trước kia người ta đã cấm nó, nên nó phải giấu.
Ngày ngày đi học về, thằng bé thế nào cũng phải chạy ra sau vườn thăm nom đống đất. Nó vun, nó đắp, nó trồng cỏ lên, bởi vì trong ý-tưởng ngây-thơ của nó, cái mả này mới chính thực là cái mả của mẹ nó : nó đã lấy tấm lòng làm con xây đắp nên.
Thế rồi không biết tại làm sao, một hôm mẹ già nó biết. Mẹ già nó sai thằng bếp lấy cuốc đào lên vất bỏ cả đi. Thằng bé đứng trông tưởng chừng như những nhát cuốc kia cuốc vào ngực nó.
Mẹ nó tuy chết, nhưng vẫn sống ở trong lòng nó. Mỗi khi nó đem cái lược của mẹ nó ra ngắm-nghía, nó chải lên tóc nó thì nó lại tưởng như bàn tay nõn-nà của mẹ nó vuốt-ve lên đầu nó.
Nó giữ cái lược rất cẩn-thận cũng như nó đã giữ con quay, vì đời nó chỉ còn hai cái kỷ-niệm ấy là nhắc-nhở cho nó một vài phút sống êm-đềm và ấm-áp.