Hận Nghìn Đời

Lượt đọc: 7637 | 3 Đánh giá: 9,3/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 4 -

Đã gần đến ngày học-trò thi vào trường Bảo-hộ. Tôi cũng xếp hành-lý để đi thi.

Nói đến hành-lý mà chán ngắt. Ít quyển sách, vài bộ quần áo cũ của anh cả tôi không mặc nữa, nên đem chữa cho tôi. Có lẽ từ bé đến giờ, tôi chỉ toàn mặc quần áo thừa của anh tôi. Tôi lấy một cái hộp kính-cẩn để con quay và cái lược vào rồi tôi đem giấu ở đáy chiếc va-li nan. Tôi quyết chí chuyến này ra Hanoi, thi đỗ hay không tôi cũng không về nữa. Ngày ấy, tôi đã lớn, tôi thấy những cách quá tàn-ngược của gia-đình đối với tôi, tôi không thể nào chịu nổi.

Bốn phương đâu chẳng là nhà. Con người ta hể có can-đảm, có nghị-lực, và thứ nhất có chí tiến-thủ, lại có thể chịu đói rét, thiếu- thốn, kham-khổ được thì đi đến đâu mà chết đói. Cái chí bỏ nhà ra đi phát sinh trong óc tôi đã lâu, nhưng chưa có dịp thực-hành được.

Ngày nay, tôi sắp từ bỏ cái nhà này bước chân ra đi, tôi sực nghĩ đến phần mộ mẹ tôi, mà có lẽ tự nay không bao giờ tôi còn trông thấy nữa, tôi quyết đi thăm một lần trước khi vĩnh-biệt.

Tôi đi thăm mộ mà tôi chẳng đem hương, đem vàng gì. Nhưng có vàng hương nào khiến cho mẹ tôi vui lòng bằng những yêu kính thiết-tha tôi ấp ủ ở trong lòng.

Đứng trước mồ mẹ tôi, tôi không thể không tưởng-tượng đến những sự đọa-đày mà mẹ tôi đã phải chịu, không thể không nhớ đến tấm lòng yêu tha-thiết của mẹ tôi đối với tôi .

Có lẽ nhiều người lúc còn nhỏ sung-sướng hơn tôi, nhưng vị-tất ai đã được một người mẹ yêu quý như là mẹ tôi đã yêu quý tôi.

Thảm-thiết cho lòng tôi hơn nữa là tôi không phải là kết-quả của một cuộc tình-ái. Tôi chỉ là kết-cấu của một nhục-dục đê-hèn. Mẹ tôi khổ-sở mà sinh ra tôi, đau-đớn mà có tôi. Do thế cái kỷ-niệm của mẹ tôi đối với tôi lại muôn phần thiết-tha hơn nữa.

Tôi đứng trước mồ mẹ tôi, tôi thấy như tôi bé lại, tôi tưởng chừng như mẹ tôi sống lại mà ôm lấy tôi như hồi nào. Tôi tưởng chừng như hồi nào mẹ con đang lui-lủi với nhau ở dưới xó bếp.

Cái xó bếp, cái xó bếp. Ba tiếng ấy hồi-sinh lại bao nhiêu kỷ-niệm êm-đềm.

Trước kia, mẹ tôi phải làm vần-vật cả ngày mà cả ngày mẹ già tôi cứ long lên sòng-sọc, nên không bao giờ tôi được đứng gần mẹ tôi cả.

Chỉ có lúc buổi sáng là lúc cả nhà còn đương ngủ mà mẹ tôi đã phải dậy làm-lụng rồi là tôi mới được tự-do âu-yếm mẹ tôi mà thôi. Những thời-khắc ấy là những thời-khắc sung-sướng nhất nên tôi không bỏ phí bao giờ.

Trời rét như cắt ruột, tôi thấy mẹ tôi dậy là tôi cũng bò dậy. Mẹ tôi cản thế nào, tôi cũng không nghe.

– Em ngủ nữa đi cho khỏe, sáng còn đi học.

Tôi phụng-phịu :

– Không, con dậy với chị Hai cơ.

– Chị Hai phải dậy sớm dọn-dẹp, em dậy sớm làm gì ?

– Em dọn-dẹp với chị Hai.

– Em bé-bỏng đã dọn-dẹp gì được. Ngủ đi chóng ngoan.

Tôi cũng muốn là đứa con ngoan của mẹ tôi mà tôi cũng lại muốn dậy sớm để gần-gụi mẹ tôi, tôi kiếm cớ :

– Cụ Đồ bảo dậy sớm học chóng thuộc, em dậy em học, em quên chữ nào chị em nhắc em.

Ở dưới xó bếp, mẹ tôi ngồi đun nước, tôi lặng-lẽ ngồi một bên. Tôi trông ngọn lửa cháy đỏ ối mà tôi vui, tôi nghe tiếng củi nổ mà tôi sướng, tôi nhìn bức tường đen kịt đầy những khói mà ánh lửa chiếu mà tôi tưởng chừng như ánh lửa vui cười vì tôi. Tôi coi những nồi, niêu, xanh, chảo treo ở xung-quanh như những người bạn rất thân đến mục-kích và chứng-thực cho sự sung-sướng của mẹ con tôi. Tôi ngồi chồm-chỗm cạnh mẹ tôi chẳng biết mỏi, biết chán là gì. Mẹ tôi bảo tôi học thì tôi cũng nghe lời giở sách học, chứ theo ý tôi thì cứ ngồi nhìn mẹ tôi, nhìn ngọn lửa còn sướng hơn,

Tôi học, thỉnh-thoảng, tôi lại giả vờ hỏi nghĩa, chứ kỳ-tình tôi đã thuộc làu như cháo.

Nhân chi sơ là gì hở chị Hai ?

– Là người chưng xưa.

– Không phải, không phải, là sờ vú mẹ.

Rồi tôi sà vào lòng mẹ tôi, tôi vạch yếm, tôi sờ vú. Cũng có lúc tôi giả bộ làm em bé, tôi bú tí.

Tôi nằm thon-lỏn vào lòng mẹ tôi, tôi nhắm mắt lại. Những lúc ấy, tôi sung-sướng cực-kỳ mà mẹ tôi cũng cực-kỳ sung-sướng.

Nhiều lần, mẹ tôi bắt tôi chắp tay mà mẹ tôi cũng chắp tay, miệng thì lâm-râm khấn vái :

– Lậy trời phù-hộ cho mẹ con tôi.

Mỗi khi tôi nghe thấy mẹ tôi khấn như thế, tôi tưởng chừng như ông trời – một ông trời của riêng những kẻ khổ-sở – đã bước chân ngay xuống cái xó bếp này dùng phép mầu mà biến thành ra một cảnh bồng-lai đầy-dẫy những lạc-thú.

Cái xó bếp ấy là một thế-giới thần-tiên của mẹ con tôi.

Những người lòng dạ khô-khan ở nơi lầu son gác tía bao giờ biết được những cái thú «xó bếp» ấy. Cái thú không mất tiền mua mà dù có tiền, mua cũng không được.

Muốn biết những thú thần-tiên ấy, phải có một trái tim trong-sạch, phải trải qua những cảnh đau-thương đọa-đày như mẹ con tôi, phải lấy một trái tim yêu-đương để hiểu một trái tim yêu-đương.

Than ôi! những thứ ấy ngày nay đã không còn nữa.

Những ký-ức ấy tuy đã xa lắc, xa lơ, nhưng khi tôi đứng trước mồ mẹ tôi thì tôi tưởng chừng như chúng sống cả lại. Tôi tưởng chừng như người chết ngồi dậy gọi tôi. Tôi vội phục xuống trước mồ mà khóc.

Thần hôn định tỉnh, tôi đã không báo nghĩa mẹ. Thì nay dương-danh hiển thân là cái hy-vọng cuối cùng để cho mẹ tôi có thể ngậm cười nơi chín suối.

Trước mồ, tôi phát một lời thề : quyết-chí tu-tính học-hành để cho thành một người xứng-đáng với tấm lòng mà mẹ tôi đã kỳ-vọng cho tôi.

Tôi đau-đớn từ-giã mộ đất đã vùi sâu nắm xương của mẹ tôi, nhưng tim gan thấy nổi lên một nghị-lực dồi-dào, mãnh-liệt.

Ngày hôm sau, tôi lên chào thầy tôi, mẹ già tôi, các anh các chị tôi rồi xách va-li ra ga.

Tôi quay lại nhìn cái nhà tôi ở, cái chỗ chôn rau cắt rốn mà chẳng có chút tình gì để cho tôi mến tiếc. Tôi lại thấy sung-sướng được rời khỏi ngục-hình ấy.

Xưa kia, hồi mẹ tôi còn sống, mỗi khi tan học, tôi ba chân bốn cẳng chạy về cho chóng tới nhà. Bây giờ vẫn cái nhà ấy, tôi lại muốn mau-mau cho chóng xa đi.

Trước kia, ở trong cái nhà ấy, có một người mong thấy mặt tôi, thiết-tha đối với tôi.

Ngày nay, người ấy đã không còn nữa thì cái nhà ngói năm gian kia, cái cổng kia, cái nhà ngang kia, cái vườn kia, cái ao kia đối với tôi còn có nghĩa gì. Hay chúng chỉ nhắc-nhở cho tôi những đau xót. Thì ra lúc thiếu-thời tôi yêu cái nhà kia, không phải vì nó đẹp, không phải vì nó mát, không phải vì nó to, không phải vì tôi đuợc sum-họp với anh em tôi, mà chỉ tại trong cái nhà ấy có một trái tim yêu tôi.

Con chim kia, ngày đi kiếm ăn, đêm còn tìm đường về tổ. Sinh ra người, ai lại không có tấm lòng cố-quốc tha-hương. Nhưng tổ chim kia là chỗ vợ chồng con cái sum-họp chứa-chan bao nhiêu lạc-thú, chứ cái nhà này đối với tôi ghê-sợ hơn cái nhà tù.

Có phải ở đời chỉ có lâu-đài vàng ngọc mới có thể quyến được lòng ta đâu. Một sợi tơ lòng ở chốn lều gianh thắt chặt lòng ta hơn là lầu son gác tía.

Tôi ra đến ga, gặp mấy anh em bạn cùng đỗ một khoa họ cũng đi thi. Anh Mão thì quần là trắng tinh, áo cũng mới, mũ cũng mới, giầy cũng mới. Mẹ anh ấy tiễn chân ra tận tầu, lại còn căn-dặn mãi :

– Con ra Hanoi, đi đường phải cẩn-thận nhìn trước nhìn sau, hễ đỗ thì đánh ngay giây thép về cho u, nghe không?

Anh Minh thi bố theo ra. Ông cụ đã gần bẩy mươi, đầu bạc trắng, lưng đã còng, cũng lóp-ngóp chống gậy theo ra tận ngoài «ke» dặn đi, dặn lại :

– Đi tầu, đi đường, lên xe, xuống xe, phải coi chừng cho lắm, không nhỡ một cái thì khốn đấy.

Anh em, bà con họ tiễn chân nhau ra tầu, nào khuyên lơn, nào dặn bảo ríu-ra, ríu-rít. Riêng tôi thi thui-thủi một mình. Nào có ai lo sợ, mừng vui với mình!

Nhưng tôi thì không cần phải ai dặn. Những điều ấy, cái đời khổ-sở của tôi đã mở con mắt cho tôi biết tự bao giờ. Lúc ấy, tôi có thể tự-phụ rằng tôi biết việc đời hơn những bạn tôi nhiều. Bây giờ tôi di đây thì tự mình bảo-hộ lấy mình, tự mình giác-ngộ lấy mình. Tôi tự nghĩ thế mà trong lòng cũng được vui-vẻ.

Còi tầu rúc. Tôi quay nhìn tỉnh Bắc-giang một lần cuối cùng như thằng tù được phóng-thích nhìn cái nhà pha đã giam nó.

« Lùi
Tiến »