Tỉnh Hanoi thật đã hiện ra ngoài sự tưởng-tượng của tôi.
Cái nhà ga khổng-lồ nó sừng-sững như hút hết cả các con đường sắt la-liệt vào trong lòng. Cái cầu Sông Cái dài dằng-dặc; mới vĩ-đại và «bạo dạn» làm sao. Nhà cửa, xe cộ đủ hạng, người đi lại làm rối cả mắt. Tôi mải trông mà quên cả sự buồn rầu.
Tôi thuê xe đến ở nhà một người quen. Hôm sau tôi đi thi. Tôi được vào vấn-đáp. Rồi tôi đỗ. Nhà người quen ở xa trường lắm. Nếu ở ngoài thì những đi cùng về đã hết thì giờ, còn thì giờ đâu học. Mà lấy «các» tầu điện thì tôi đâu có tiền. Lúc tôi đi, thầy tôi đã dặn cho mỗi tháng mười đồng. Làm thế nào cho đủ thì làm.
Tôi liền xin vào ở trong trường. Một tháng tôi phải trả tám đồng, còn hai đồng bút giấy đủ chán. Xưa nay, tôi không có một xu tiền túi, nay một tháng có hai đồng, tôi đã lấy làm giầu lắm lắm rồi.
Trường Bảo-hộ ở trên một khu đất rất rộng, cây-cối um-tùm. Cái phong-cảnh thứ nhất nó tô-điểm cho trường này thêm vẻ mỹ-quan là hồ Lãng-bạc, hay hồ Tây cũng thế !
Ba ngôi nhà ba tầng làm quay lưng ra hồ, trên một hàng chữ nhật. Còn chung-quanh thì có những gian nhà một tầng chạy dài bao bọc cả lấy.
Nhà ông đốc là một tòa lâu-đài làm ở ngay bên hồ.
Chẳng biết đối với con nhà giàu, xưa nay được bố mẹ nâng-niu thì một khi vào ở trong trường, họ có cái cảm-giác gì, chứ tôi cho cách ăn ở của lưu-học-sinh thật vừa rất tiện-lợi để mở-mang tinh-thần, lại rất thích-hợp phương pháp vệ sinh để bồi-bổ cho thân-thể. Có lẽ vì tôi bị khổ-sở, thiếu-thốn, kiềm-thúc từ tấm bé, nên bây giờ đến đây, tôi đem so-sánh mà tôi lấy làm thỏa-mãn cũng chưa biết chừng.
Tôi ở trong trường thật là sung-sướng. Tôi rất chăm học. Giờ chơi thì tôi chuyên về thể-dục. Chạy, nhẩy, leo dây, đá bóng, khoa nào tôi cũng khá. Chẳng bao lâu, đương là một thằng bé gầy còm, yếu-đuối, nhút-nhát, tôi bỗng trở nên một cậu con giai mạnh khỏe, cứng-cáp và bạo-dạn.
Trước kia ở nhà, người và vật như xúm nhau lại để làm cho đời tôi đen tối thì ở đây, trái lại, người và vật đã làm cho tôi sáng-suốt vui-vẻ. Tôi đã biết lấy sống làm vui. Tôi đối với bè-bạn một niềm nhũn-nhặn, nhưng không thân-mật với ai. Các thị-dịch mà bè-bạn xưa nay vẫn ghét bỏ, đặt cho những cái tên khả-ố đối với tôi, cũng chẳng thấy ghê-gớm gì. Ghê-gớm đâu bằng được mẹ già tôi đối với tôi kia chứ ?
Chủ-nhật, chúng bạn phần nhiều có họ hàng ở ngoài phố, nên xin ra từ sớm, còn tôi thì bao giờ cũng ăn cơm buổi sáng rồi mới ra, mà liệu đến giờ lại vào sớm để ăn cơm chiều. Tôi ra thì cũng chẳng biết đi đâu xa, chỉ thẩn-thơ ở Bách-thú xem khỉ, xem hổ, xem nước, xem cây, mãi rồi cũng chán. Không có óc thi-sĩ thì làm sao biết cảm-xúc đối với những vẻ đẹp huyền-bí của cảnh-vật. Những chủ-nhật sau, tôi đem sách ra đọc. Đọc chán rồi lại đi quanh quẩn, cũng chẳng biết đi đâu. Tôi còn nhớ một hôm, có anh em bạn rủ tôi lên phố, rồi đi xem tuồng Quảng-Lạc ban ngày. Nhưng tôi nhất-định từ chối. Anh em mời mình tất-nhiên lần sau mình phải mời lại. Mà mời lại thì mình không có tiền. Ăn không giả thì thật khó coi. Ở đời, người ta nhiều khi bị hoàn-cảnh trói buộc chẳng kể, chứ tự mình thì không nên trói buộc mình vào những hoàn-cảnh éo-le.
Anh em họ cho tôi là khoảnh, là kiêu-điệu. Họ có xét đến đâu những điều u-uẩn trong tâm-sự tôi. Họ nói sao cũng mặc. Tôi nhất-định từ-chối. Tôi thơ-thẩn đi xem các phố, rồi tôi lại kéo bộ từ hàng Bạc về tận trường. Phỏng thử ba xu đi tầu điện lúc ấy tôi cũng có, nhưng tôi tự nghĩ: nếu muốn giữ toàn giá-trị mình không để cho đồng-tiền nó làm mờ ám, thì không nên tiêu phí. Cái gì có thể đừng được thi đừng. Tiết-kiệm không phải là biển-lận. Tôi sở-dĩ có những ý-tưởng ấy mà thực-hành theo được là vì sống trong lao-tù trưởng-giả, tôi đã nhìn thấy cái mặt trái của xã-hội, nhìn thấy những cái nhục-nhã xấu-xa gây ra bởi đồng tiền.
Đến Tết. Tôi đã nhất-định không về, nên trước Tết mấy ngày, tôi liền viết giấy về nhà nói dối rằng bây giờ bài vở nhiều lắm, tôi phải ở ngoài này để ôn lại, chứ về thì vừa mất thì giờ, vừa tốn tiền.
Thấy chúng bạn náo-nức mong về mà tôi rối ruột. Họ về thì anh em cha mẹ vui mừng đón tiếp, chứ tôi về nhà thì chỉ chuốc cho mình cái tủi, cái buồn và cái nhục.
Nghỉ Tết, các lưu-học-sinh về hết, trường vắng tanh chỉ có mấy người học-trò Lào và Cao- mên, vì nhà xa quá không về được mà thôi.
Tôi còn nhớ mãi cái đêm giao-thừa đầu-tiên mà tôi không ở nhà ấy.
Hanoi đang ngủ say như chồm dậy bằng những tiếng pháo liên-thanh vang động cả một góc trời. Tôi nằm ở trên tầng gác thượng, chung-quanh toàn là màn và giường la-liệt. Tôi tưởng-tượng ngày hôm nay nhà nào cũng cúng bái, mà tôi chạnh lòng nhớ tới mẹ tôi lúc này đang nằm ở bãi tha-ma hiu-quạnh kia. Chẳng biết thầy tôi lúc cúng có nhắc-nhỏm đến mẹ tôi không ? Cái không thì đã nắm phần chắc. Nhưng dù sao, không có cái bàn thờ nào có thể sánh được với quả tim tôi. Tôi đã đem cái hình-ảnh mẹ tôi đặt vào, không cứ gì ngày giỗ hay ngày Tết, lúc nào quả tim tôi cũng nhắc-nhỏm đến mẹ tôi bằng những cảm-giác yêu-thương. Cái bàn thờ ấy, tôi dám chắc, mẹ tôi còn quý hơn hết các bàn thờ khác vì cái bàn thờ ấy gây nên bởi sự kính-cẩn của đứa con.
Nghỉ Tết đã qua, nghỉ hè lại gần đến. Một điều khiến cho tôi băn-khoăn là nếu ba tháng hè tôi cũng không về nhà nữa thì ở Hanoi, ăn ở vào đâu ? Tuy trước kia, tôi ăn tiêu bỏn-xẻn, trong số tiền tháng hai đồng, tôi có để dành được hơn mười đồng, nhưng sống ở Hanoi ba tháng giời sao cho đủ. Mà tưởng-tượng đến phải về nhà thì tôi rùng mình. Tôi đã nhất-định không về thì dù có phải sống ở Hanoi trong ba tháng bằng mười đồng, tôi cũng cố xoay cách để sống.
Tôi còn đương bối rối chưa biết liệu ra sao thì vừa may, anh Vân là tại-ngoại học-sinh nói chuyện cho tôi biết có người ở phố hàng Bạc ngỏ ý muốn nhờ anh ta trong ba tháng hè về dạy mấy đứa cháu, nhưng anh ta không thể nhận lời được vì thầy mẹ anh ta nhớ anh ta lắm, bắt phải về quê ở.
Tôi khẩn-khoản nhờ anh giới-thiệu hộ. Anh vui lòng nhận tôi ngay.
Hôm chủ-nhật, trước nghỉ hè, anh Vân đến trường đón tôi đến hàng Bạc để trình diện với cụ Liên-Mỹ. Nhà cụ Liên-Mỹ ở giữa phố, cái nhà ngoài thấp dùng làm cửa hàng, còn nhà trong là chỗ để thờ tự và tiếp khách. Trong cùng là chỗ dọn cho tôi ở và dạy học-trò. Nhà làm theo lối cổ, mái thấp, nên trong nhà khí tối. Gia-tư cụ cũng bình-thường. Cụ bà và người con dâu trông coi cửa hàng bạc, còn con trai cụ thì phải bổ đi làm việc ở tỉnh xa.
Anh Vân đưa tôi vào nhà cụ. Cụ đương ngồi trên sập, thấy khách, vội-vàng bước xuống mời khách ngồi và gọi đầy-tớ pha nước.
Trông cách bày-biện cũng đủ biết là một nhà ngăn-nắp. Trên bàn thờ, đồ đồng sáng-loáng thấp thoáng sau cái màn the điều. Ngoài chiếc màn the là chiếc tủ chè kê liền với cái sập cụ ngồi. Ngoài sập là một cái bàn và bốn cái ghế gụ, mặt đá, làm theo lối tầu.
Tất cả đồ-đạc bóng-bẩy sạch-sẽ như ngày nào cũng có người lau chùi.
Nước xong, anh Vân cung-kính thưa với cụ :
– Bẩm cụ, đây là anh Cung bạn học với con. Anh học rất giỏi, nếu cụ bằng lòng thì nghỉ hè này, anh ấy ra đây để bảo các cậu em.
– Vâng, tôi cũng muốn tìm một người kèm dạy các cháu trong kỳ hè, chứ để chúng nó chơi lêu-lổng sợ hư người và quên cả chữ.
Nói xong, cụ nhìn tôi xem có phải là người đủ tư cách để giao-phó cái trọng-trách ấy không. Cuộc xét nghiệm đã làm vừa ý cụ, cụ liền nói:
– Nếu cậu Cung không bận mà muốn lại đây dạy giúp các cháu cho tôi thì còn gì bằng. Ngoài sự cơm nước, giặt-giũ, tôi xin đưa một tháng giăm đồng để tiêu vặt. Ông Huấn ở hàng Ngang cũng có ba, bốn đứa nữa muốn cho lại đây học, tiền nong thế nào thì tùy ở cậu.
Tôi vội-vàng thưa :
– Bẩm cụ, con bây giờ về nhà thì cũng đến chơi, nếu cụ có lòng thương, giao các cậu ấy cho con dậy thì con xin hết sức, còn tiền nong thì con không quản…
Cụ Liên-Mỹ hỏi đến gia-thế, quê-hương, tôi cũng cứ thực mà nói, nhưng không đả-động một câu gì đến mẹ tôi.
Ở nhà cụ Liên-Mỹ ra, anh Vân đưa tôi đi may ít quần áo và sắm ít đồ vặt, vì đến nhà người ta, mình cũng phải cho tươm-tất. Anh bảo tôi :
– Thế-gian phần nhiều chỉ xét người ở cái áo, mấy ai đã có con mắt xét người qua được cái áo đâu. Anh đừng có ngại tốn mới được.
Điều tôi lo nhất là thầy tôi và mẹ già tôi không bằng lòng. Nhưng may, tôi viết thơ về, xin phép thì mấy hôm sau nhận được giấy giả nhời rằng thuận.
Đến hôm nghỉ hè, cụ Liên-Mỹ sai người lên tận trường đón tôi.
Trời về tháng năm, Hanoi như ở trong lò. Ngoài đường xe chạy rất nhiều. Một trận gió thổi qua là làm cho đất Thăng-Long như chìm trong đám bụi.
Về đến nhà, cụ Liên-Mỹ đã chờ sẵn. Cụ dắt tôi đi xem chỗ ăn, chỗ nằm. Cụ đối với tôi cỏ vẻ trân-trọng quá khiến tôi phải e-lệ.
Sau tôi hỏi ra mới biết cụ trước kia cũng là học-trò nghèo, nên ngày nay cụ thấy cậu học-trò nghèo liền đem lòng thương.
Ba cháu cụ, đứa nào trông mặt mũi cũng sáng-sủa, ăn mặc sạch-sẽ, nhưng không xa-hoa. Chúng nói-năng ngoan-ngoãn tỏ ra con nhà có giáo-dục, cái giáo-dục tôi nói đây là gia-đình giáo-dục, nó còn cần cho người ta hơn trí-dục, thể-dục nhiều. Cái gia-đình giáo-dục tôi nói đây không phải là cách dạy-dỗ rất nghiêm-khắc, động một chút là đánh, là chửi đâu. Trái lại, tôi thấy lắm nhà nuông con một cách vô-lý, đứa trẻ muốn gì cũng chiều theo.
Người làm cha mẹ phải có thiên-trách dạy-dỗ uốn nắn con, chứ không phải cứ nuôi cho sống là đã đầy đủ thiên-trách đâu. Cha mẹ phải lấy ý-trí sáng suốt mà uốn nắn tinh-thần còn măng sữa của đứa trẻ, phải lợi-dụng tình máu mủ thiêng-liêng để cảm-hóa nó, phải biết theo tình-tình từng đứa mà khai-thông những xu-hướng tiềm-tàng trong lòng nó. Gia-đình giáo-dục tóm tắt ở hai chữ giáo-hóa. Lấy cái lẽ phải mà dạy cho nó, lấy lòng âu-yếm mà cảm-hóa nó. Cha mẹ mà khắc-nghiệt quá thì trẻ không dám gần, suồng-sã quá thì nó nhờn.
Trước ngày khai giảng, cụ Huấn phố hàng Ngang sang chơi, ngỏ ý nhờ tôi dạy hộ cô con gái và hai đứa cháu giai. Tôi nhận lời.
Lớp học : một thầy và sáu trò, năm cậu thì sức học còn kém, chỉ có cô Thuần năm ấy lên lớp nhất là học khá hơn cả. Cô mười lăm tuổi. Người tầm thước, nước da thật trắng, trắng quá, cái trắng của kẻ ở thành-thị, ít vận-động, ít được hô-hấp khí giời trong sạch. Hai mắt hơi to, đen nháy, lông-mi khá dài. Mặt lúc nào cũng tươi đủ tỏ trong đời cô chưa gặp sự gì bất-như-ý. Cái miệng hơi hẹp. Đôi má hơi gầy nhưng mỗi khi cô cười thì người ta chỉ trông thấy một núng đồng tiền mà quên hẳn đôi má. Cái cổ trắng nõn, khí dài quá. Hai bàn tay búp măng rất trắng nhưng gầy.
Cả thân-thể cô là một quả đào còn non, nhưng một ngày kia nó đủ sức-lực rồi thì nó sẽ đầy-đặn, hồng-hào, đẹp-đẽ.
Nét mặt, đôi con mắt, dáng đi đứng, lời ăn tiếng nói tỏ ra cô là một người rất nhu-mì, phải chăng.
Sự lễ-phép của cô khiến cho tôi nhiều phen phải tự hỏi sao cô sinh vào nơi giàu sang mà không kiêu-căng, tự-đắc như phần nhiều người.
Cô học rất chóng thuộc, chữ viết rất tốt, nhưng dốt tính lắm. Cô thường nói với tôi sang năm đi thi chỉ sợ hỏng tính.
Tôi an-ủi cô :
– Người ta mỗi người có khiếu riêng. Có người giỏi luận, có người giỏi tính. Nhưng nếu biết chỗ kém của mình thì bồi-bổ thêm vào cũng không là việc khó. Cô kém tính, chăm làm tính là tự khắc giỏi.
– Cậu bảo thế nghĩa là tôi lười ư ? Không, ngày nào tôi cũng cố làm, nhưng những cái tính rất xoàng, tôi vẫn không làm được.
– Làm tính cũng như làm luận. Đọc xong đầu-đề phải điềm-tĩnh suy-nghĩ. Hễ rối-trí làm hay sai.
– Thế như ý cậu thì tính khó hay luận khó?
– Tôi không thể giả nhời. Nhưng đi thi, tính cần lắm. Tính làm cho đúng nghĩa là hoàn-toàn, thầy giáo thường cho mười điểm. Một bài luận biết thế nào là hoàn-toàn, cô có thấy ai làm luận được mười điểm không ?
– Không. Thế thì luận khó hơn tính. Tôi dốt tính cũng không đáng xấu-hổ là mấy.
– Dốt không là xấu. Xấu là biết mình dốt mà không cố làm thế nào cho mình khỏi dốt.
Chuyện-trò tôi nói với cô, đại-để như thế cả, nghĩa là chỉ toàn chuyện một người anh hơn tuổi nói với người em nhỏ, không phân-biệt là trai hay gái.
Học-trò rất quyến-luyến tôi, vì thế mà cụ Liên-Mỹ và cụ Huấn đối với tôi cũng rất chu-đáo. Ngày hai buổi dạy học-trò, lúc nào nhàn rỗi tôi lại đánh cờ với cụ Liên-Mỹ. Cờ tôi thấp, đánh thua luôn. Cụ Huấn cũng là một tay sính cờ. Từ ngày có tôi ở đấy, cụ thời thường lại chơi luôn. Cụ rất cao cờ. Cụ đem các trận-thế của Khuất-trung-Bí chỉ dẫn cho tôi, chẳng bao lâu tôi cũng khá.
Cũng vì cuộc cờ, tôi được quen biết cụ cử Tốn là một cử-võ xuất-thân. Tôi ngỏ ý muốn nhập-môn cụ để học một vài bài quyền cho thân-thể được cứng-cáp. Cụ vui lòng nhận tôi ngay. Từ đấy, cứ tối đến, tôi lại xuống phố Sinh-Từ học võ.
Cụ cử thấy tôi nhanh-nhẹn lại có sức-lực, khuyên tôi nên cố luyện-tập cho đến đầu đến đũa. Tôi thưa với cụ rằng tôi sắp phải vào trường, rất tiếc rằng không thể gần-gũi cụ lâu để luyện-tập. Cụ bảo tôi:
– Việc đời biết đâu mà lường. Những sự bất-ngờ xẩy ra hàng ngày. Nếu biết một đôi miếng để phòng-thân cũng là một cái hay.
Tôi cũng nghĩ thế, nên gần đến thời-kỳ vào trường, tôi rất lấy làm tiếc.
Còn năm hôm nữa là hết hè. Tôi xin phép cụ Liên-Mỹ cho học-trò nghỉ.
Học-trò thấy tôi sắp đi rất lấy làm mến tiếc. Thứ nhất là cô Thuần. Cô thường nói với tôi:
– Nếu cậu ở đây mà dạy tính cho tôi ít tháng nữa thì tôi có thể giỏi được.
Có lẽ cô cũng đem cái ý-kiến ấy nói với cụ Huấn, nên một hôm cụ Huấn bảo tôi :
– Nhà tôi cũng rộng-rãi, tĩnh-mịch, giá cậu đến ở chung với tôi rồi khi đi học về kèm các cháu cho tôi thì hay lắm.
– Con cũng rất lấy làm tiếc, nhưng ở đây xa lắm. Những đi về còn thì giờ đâu mà học.
– Từ hàng Ngang lên trường Bưởi đi tầu điện cũng chẳng lâu là mấy.
Tôi đương phân-vân chưa biết giả nhời ra sao thì thằng Ân, cháu cụ, đã chạy lại vồn-vã bảo:
– Cậu về ở với con, nghe không, rồi con bảo thằng xe nó kéo cậu đi học.
Thằng bé mới dễ yêu làm sao. Tôi ngửng đầu nhìn cô Thuần thì thấy cô đăm-đăm nhìn tôi như chiều van-vỉ. Tôi bèn nói thật với cụ Huấn :
– Cụ có lòng yêu, con cũng đa-tạ, nhưng vì mỗi tháng thầy mẹ con chỉ cho có mười đồng tiền cơm, tiền học, còn tiền đâu mà lấy «các» tầu.
Cô Thuần nghe tôi nói có vẻ ngạc-nhiên. Mãi bây giờ, tôi mới hiểu. Cô sinh vào nơi đài-các, phú-quý, cái gì cũng sẵn có, không phải mong ước một thứ gì, nên cô không biết những trói-buộc của đồng tiền. Cô không ngờ rằng ở trên đời lại có người chỉ vì thiếu hai đồng mà không thể đến ở nhà cô.
Cụ Huấn nghe tôi nói, sốt-sắng bảo tôi
– Không, cậu đến ở tôi không lấy tiền cơm cậu đâu. Tôi còn đãi cậu mỗi tháng sáu đồng để trả tiền học và «các» tầu điện.
– Cụ xử với con như thế thật là quá rộng-rãi, con không còn biết nói làm sao.
Hai anh em thằng Ân thấy tôi bằng lòng, mừng quýnh, vội chạy lại nắm tay tôi:
– Thế cậu đi ngay lại nhà con đi.
Tôi xoa đầu chúng nó :
– Cậu còn phải thu xếp đồ-đạc đã chứ !
Tôi trông sang cô Thuần thì thấy cô mỉm một nụ cười.