Những đám mây đen kịt và cơn mưa nặng hạt từ lâu đã xua đuổi toàn bộ các du khách đến bãi Seven Mile khi vợ chồng McDeere - ướt sũng và mệt mỏi - về đến căn hộ chung cư hai tầng sang trọng. Mitch de chiếc jeep thuê vào đoạn đường cong bên kia thảm cỏ nhỏ rồi lái đến cửa trước. Khu B. Lần viếng thăm đầu của anh là ở Khu A. Chúng có vẻ như nhau, ngoại trừ nước sơn và trang trí. Chìa khóa khớp vào ổ, họ tóm rồi lẳng những hành lý khi các đám mây vỡ ra và mưa rơi nặng hạt hơn.
Khi đã vào trong và khô ráo, họ tháo dỡ hành lý trong căn phòng ngủ đồ sộ ở trên gác với ban công hướng ra bãi biển ngập nước. Thận trọng từng lời, họ thám thính căn “khách sạn mini” kiểm tra từng căn phòng, từng nhà vệ sinh. Tủ lạnh trống rỗng, nhưng quầy bar thì được tích trữ rất dồi dào. Mitch trộn hai món thức uống, Rum và Coca, để vinh danh các đảo. Họ ngồi ở ban công, chân thò ra mưa, ngắm đại dương đang cuồn cuộn dâng trào, tiến vào bờ. Rumheads im ắng và thấp thoáng ở xa xa. Hai người bản địa ngồi ở quầy bar, uống rượu và nhìn ra biển.
“Rumheads ở đằng kia,” Mitch nói, trỏ bằng cánh tay cầm ly.
“Rumsheads?”
“Anh kể cho em rồi mà. Đó là một điểm nóng, nơi du khách uống rượu và dân địa phương chơi domino.”
“Em hiểu rồi.” Abby không thấy ấn tượng. Cô ngáp và ngồi ngập sâu hơn trong chiếc ghế nhựa. Cô nhắm mắt lại.
“Ồ, hay thật đấy, Abby. Chuyến đi ra nước ngoài đầu tiên của chúng ta, chuyến đi trăng mật đích thực đầu tiên. Thế mà mới đặt chân đến nơi chưa được mười phút mà em đã buồn ngủ.”
“Em mệt, Mitch ạ. Em đã soạn hành lý suốt cả đêm trong khi anh ngủ.”
“Em gói ghém tám chiếc va li sáu chiếc là của em, của anh chỉ có hai. Em mang theo toàn bộ quần áo mà chúng ta có. Em thức trắng đêm là phải rồi.”
“Em không muốn bị thiếu quần áo.”
“Thiếu ư? Em mang theo bao nhiêu bộ bikini vậy? Mười à? Hay hai mươi?”
“Sáu.”
“Tuyệt. Mỗi ngày một bộ. Sao em không mặc vào một bộ luôn đi?”
“Sao cơ?”
“Nghe anh nè. Hãy mặc chiếc bikini be bé màu xanh với vớ dài và đôi ba sợi dây cài ở phía trước, cái mà nặng nửa gam và trị giá sáu mươi đô ấy. Rồi hãy xõa tóc ra khi em bước. Anh muốn thấy cảnh đó.”
“Mitch, trời đang mưa. Anh đã đưa em đến hòn đảo này vào giữa mùa mưa. Hãy nhìn những đám mây kia kìa. Chúng đen, dày và cực kỳ ổn định. Em sẽ chẳng cần đến chiếc bikini nào suốt tuần này.”
Mitch mỉm cười rồi bắt đầu vuốt chân cô. “Anh rất thích mưa. Thực sự, anh chỉ mong cho trời mưa suốt tuần. Nó sẽ cầm chân chúng ta trong nhà và trên giường. Chúng ta sẽ nhấp Rum và làm cho nhau đau.”
“Anh làm em sốc đấy. Anh thực sự muốn tình dục sao? Ta đã làm chuyện đó một lần trong tháng này rồi mà.”
“Hai lần.”
“Em tưởng anh muốn lặn bình và lặn ống thở suốt cả tuần chứ.”
“Không hề. Có thể một con cá mập đang chờ anh ngoài kia.” Gió thổi mạnh hơn và ban công bắt đầu sũng nước. “Ta đi thay quần áo nhé,” Mitch nói.
Một giờ sau, cơn bão bắt đầu di chuyển. Mưa thưa hạt dần rồi trở nên lất phất và chấm dứt. Bầu trời quang đãng hơn khi những đám mây đen thấp rời khỏi hòn đảo nhỏ để đi lên phía đông bắc theo hướng Cuba. Ít lâu trước sự ra đi lớp lang của những đám mây về phía chân trời, mặt trời đột nhiên ló dạng trong một màn trình diễn ngắn ngủi. Nó làm trống huếch hoác những lều tranh, nhà ở, chung cư, phòng khách sạn khi du khách tràn ra bãi cát, lao ra biển. Rumheads đột nhiên chật cứng những tay phóng phi tiêu và những người tắm biển khát nước. Trò chơi domino được vực dậy từ điểm mà nó bị bỏ dở. Băng nhạc giậm giật tại Palms ở kế bên bắt đầu cất tiếng.
Mitch và Abby đi vẩn vơ dọc mép nước theo một hướng chung chung đến Georgetown. Cách xa cái nơi mà cô gái xuất hiện. Thi thoảng anh lại nghĩ đến cô ta và những tấm ảnh. Anh xác định đó là một cô ả chuyên nghiệp được DeVasher thuê để quyến rũ và chinh phục anh trước các camera giấu kín. Anh không định sẽ gặp lại cô lần này.
Như được hẹn trước, âm nhạc chợt dừng lại, những người đi dạo trên bãi biển chợt đóng băng và ngước nhìn, tiếng ồn tại Rumheads chợt lắng đọng khi mọi cặp mắt xoay chuyển để chiêm ngưỡng cảnh mặt trời đang tiếp nước. Những đám mây xám trắng rơi rớt của cơn bão hạ thấp dần ở đường chân trời rồi chìm xuống cùng vầng dương. Chúng từ từ làm xoay chuyển những sắc cam, vàng và đỏ, thoạt tiên chuyển thành màu xanh xám, rồi bất chợt là những tông tươi sáng. Trong một khoảnh khắc ngắn, bầu trời là một tấm vải bạt mà mặt trời vấy lên đó những sắc màu tuyệt mỹ bằng những nét mạnh bạo. Rồi quả cầu màu cam sáng chạm mặt nước và, chỉ trong tích tắc, nó biến mất. Những đám mây trở lại với màu đen và tản mác dần. Đó là khung cảnh mặt trời lặn ở Cayman.
Sợ hãi và thận trọng, Abby chầm chậm lái chiếc jeep giữa luồng giao thông buổi sáng sớm ở khu vực mua sắm. Cô đến từ Kentucky và chưa bao giờ lái xe bên lề trái trong bất kỳ khoảng thời gian đáng kể nào. Mitch chỉ đường và quan sát gương chiếu hậu. Những con đường và vỉa hè hẹp chưa chi đã chật ních du khách đi mua sắm hàng sành sứ, hàng pha lê, nước hoa, máy ảnh và đồ nữ trang miễn thuế.
Mitch trỏ vào một con đường hông ở một chỗ khuất, và chiếc jeep len vào giữa hai nhóm du khách. Anh hôn lên má cô. “Anh sẽ gặp lại em đúng chỗ này vào lúc năm giờ.”
“Cẩn thận đấy,” cô nói. “Em sẽ đi đến ngân hàng rồi ra bãi biển gần chung cư.”
Anh sập cửa rồi biến mất giữa hai cửa tiệm nhỏ. Con hẻm hẹp dẫn ra một con đường rộng hơn đi đến vịnh Hogsty Bat. Anh chui vào một cửa tiệm áo thun đông nghẹt người, với hàng kệ, hàng dãy những áo thun du lịch, nón rơm và kính mát. Anh lựa ra một chiếc áo hoa hòe màu xanh và cam và một chiếc nón Panama. Hai phút sau, anh thoát nhanh khỏi cửa hiệu, lao vào băng ghế sau của một chiếc taxi đi ngang. “Sân bay,” anh nói. “Và nhanh lên nhé. Coi chừng sau đuôi. Ai đó có thể đang bám theo.”
Người tài xế không phản ứng gì, chỉ băng qua các tòa nhà ngân hàng rồi ra khỏi thành phố. Mười phút sau, anh ta dừng xe trước ga hàng không.
“Có ai bám theo chúng ta không?” Mitch hỏi, rút tiền trong túi ra.
“Không đâu, mon. Bốn đô la và mười cent.”
Mitch ném tờ năm đô la lên ghế rồi bước vội vào nhà ga sân bay. Chuyến đi của hãng Cayman Airways đến Cayman Brac sẽ cất cánh vào lúc chín giờ. Tại một cửa hàng quà tặng, Mitch mua một ly cà phê rồi nấp giữa hai dãy kệ chứa đầy hàng lưu niệm. Anh quan sát khu vực chờ và không thấy ai khả nghi. Dĩ nhiên, anh chẳng có ý niệm họ trông ra sao, nhưng anh không thấy có ai đang lảng vảng như tìm kiếm người thất lạc. Có lẽ họ đang bám theo chiếc jeep hoặc đang xới tung khu mua sắm để tìm anh. Có lẽ thôi.
Với giá bảy mươi lăm đô la Cayman, anh đã đặt chỗ ở dãy ghế cuối trên chiếc Trislander - ba động cơ, mười hành khách. Abby đã đặt chỗ qua điện thoại trả tiền vào cái đêm mà họ đến. Vào những giây muộn nhất có thể, anh điềm tĩnh đi từ sân ga ra chiếc xe đưa đón rồi leo lên máy bay. Người phi công sập cửa, khóa lại rồi cho chiếc máy bay lăn bánh đến phi đạo. Không thấy có chiếc máy bay nào khác. Một nhà chứa máy bay nhỏ nằm ở bên phải. Mười du khách đang ngắm nghía mặt nước xanh trong và chỉ nói rất ít trong chuyến bay hai mươi phút. Khi đến gần Cayman Brac, người phi công bỗng trở thành hướng dẫn viên du lịch. Ông đánh một vòng rộng quanh hòn đảo nhỏ, đặc biệt lưu ý cái dốc đứng đổ xuống biển ở đầu phía đông. Nếu không có cái dốc đứng này thì hòn đảo cũng dẹt như Grand Cayman, ông nói vậy. Ông đáp máy bay êm ru trên dải băng hẹp tráng nhựa đường.
Cạnh một tòa nhà nhỏ khung trắng với dòng chữ PHI TRƯỜNG sơn ở cả bốn mặt, một người Caucasus trông bảnh bao đã chờ sẵn, quan sát các hành khách đang nhanh chóng rời máy bay. Anh ta là Rick Acklin, đặc vụ. Mồ hôi nhỏ tong tỏng từ mũi anh ta và khiến cho chiếc sơ mi dán chặt vào lưng. Anh ta hơi dấn tới. “Mitch,” anh ta nói, hầu như với chính mình.
Mitch ngập ngừng rồi bước đến.
“Xe ở phía trước,” Acklin nói.
“Tarrance đâu?” Mitch nhìn quanh quất.
“Anh ta đang đợi.”
“Xe có điều hòa không vậy?”
“E rằng không. Xin lỗi.”
Chiếc xe kém tiện nghi, thiếu cả không khí lẫn điện đóm và đèn tín hiệu. Đó là một chiếc 1974 LTD. Khi xe đi trên một con đường bụi bặm, Acklin biện bạch rằng ở Cayman Brac này đơn giản chẳng có bao nhiêu xe cho thuê để mà lựa chọn. Và lý do để chính phủ Hoa Kỳ phải thuê xe là vì anh ta và Tarrance không tài nào tìm ra được một chiếc taxi. Do đăng ký muộn như thế nên họ phải may mắn lắm mới tìm được một căn phòng. Những ngôi nhà nhỏ tươm tất nằm san sát nhau, và rồi biển xuất hiện. Họ đậu trong bãi cát của một nhà lặn có tên là Brac Divers. Một cầu tàu cũ kỹ nhô lên khỏi mặt nước đang neo giữ hàng trăm tàu thuyền đủ mọi kích cỡ. Dọc bãi biển về phía tây, một chục nhà tranh mái rạ mọc lên cách mặt cát chừng hai sáu tấc, chứa chấp những người đi lặn từ khắp nơi trên thế giới đổ về. Gần cầu tàu có một quán bar ngoài trời. Quán không tên, nhưng có đầy đủ domino và bảng phóng phi tiêu. Có những chiếc quạt trần bằng gỗ sồi bọc đồng treo trên xà nhà. Chúng quay chầm chậm và im ắng, tạo ra gió mát cho các tay chơi domino và gã phục vụ quầy.
Wayne Tarrance ngồi uống Coca một mình tại bàn, theo dõi một tổ lặn đang chất từ cầu tàu lên hàng ngàn những chiếc bình màu vàng giống hệt nhau. Ngay cả với du khách, cách ăn mặc của anh cũng có phần quá trớn. Kính râm với gọng màu vàng, dép rơm màu nâu rõ ràng còn mới cứng, vớ đen, áo luau ôm sát của người Hawaii với hai mươi sắc màu ầm ĩ và một chiếc quần lửng thể thao màu vàng kim vừa cũ lại vừa ngắn, chẳng che phủ được là bao đôi chân trắng hếu đến bệnh hoạn đang thò dưới gầm bàn. Anh vung lon Coca trỏ về phía hai chiếc ghế trống.
“Áo đẹp đấy, Tarrance,” Mitch nói với vẻ giễu cợt không che giấu.
“Cảm ơn. Như vậy mới nổi bật.”
“Nước da cũng đẹp nữa.”
“Đúng, như vậy mới là phong cách, anh biết đấy.”
Người phục vụ lảng vảng ở gần đó, chờ họ gọi. Acklin gọi một Coca, Mitch nói anh muốn một Coca pha với chút ít Rum. Cả ba trở nên say đắm chiếc tàu lặn và những người đi lặn đang chất lên tàu những chiếc bình dưỡng khí cồng kềnh.
“Chuyện gì đã xảy ra ở Holly Springs?” Mitch cuối cùng hỏi.
“Xin lỗi, chúng tôi đã không làm gì được. Chúng bám theo vợ chồng anh khi anh và cô ta ra khỏi Memphis, và chúng có hai chiếc xe đón sẵn ở Holly Springs. Chúng tôi không thể tiếp cận anh.”
“Trước khi đi, anh và vợ anh có bàn bạc về chuyến nghỉ mát không?” Acklin hỏi.
“Tôi nghĩ là có. Có lẽ chúng tôi có nhắc đến nó vài lần ở trong nhà.”
Acklin có vẻ thỏa mãn. “Chúng chắc chắn đã chuẩn bị để bám theo vợ chồng anh. Một chiếc Skylard đã bám đuôi anh trong khoảng hai hay ba mươi cây số rồi biến mất. Chúng tôi đành phải rút.”
Tarrance nhấp Coca rồi nói, “Vào đêm muộn hôm thứ Bảy, chiếc Lear đã rời Memphis, bay thẳng đến Grand Cayman. Chúng tôi nghĩ có hai hoặc ba tên lưu manh ở trên đó. Chiếc máy bay lại rời đi vào sáng sớm Chủ nhật và quay về Memphis.”
“Vậy là họ đang ở đây và theo dõi chúng tôi?”
“Dĩ nhiên. Có lẽ chúng có một hoặc hai người ngồi trên cùng chuyến bay với anh và Abby. Có thể là nam, nữ hay cả nam lẫn nữ. Có thể là một gã da đen hay một người phụ nữ phương đông. Ai biết được chứ? Nhớ đi, Mitch, chúng có hàng đống tiền. Chúng tôi đã nhận ra hai tên. Một tên ở Washington lúc anh ở đó. Gã này tóc vàng trạc bốn mươi, sinh năm sáu mốt hoặc sáu hai. Tóc hắn cực ngắn, gần như húi sát, và trông hắn cực khỏe, dáng dấp như người Bắc Âu. Hắn di chuyển rất nhanh. Mới hôm qua tôi thấy hắn lái một chiếc Escort đỏ ra khỏi cơ sở cho thuê xe Coconut Car ở trên đảo.”
“Tôi nghĩ tôi đã thấy hắn,” Mitch nói.
“Ở đâu?” Acklin hỏi.
“Trong quán bar ở sân bay Memphis vào cái đêm tôi từ Washington về. Tôi bắt gặp hắn đang nhìn tôi, lúc đó tôi nghĩ tôi đã thấy hắn ở Washington.”
“Chính là hắn đấy. Hắn đang ở đây.”
“Gã kia là ai?”
“Tony Verkler, hay Tony Hai-Tấn như người ta thường gọi. Hắn là một tên lưu manh với một kỷ lục bị truy tố rất ấn tượng, hầu hết ở Chicago. Hắn làm việc cho nhà Morolto từ lâu lắm rồi. Hắn nặng chừng một trăm ba mươi lăm ký, và hắn chuyên trách cái công việc tuyệt vời là theo dõi người khác vì không ai có thể nghi ngờ hắn.”
“Tối qua hắn ở Rumheads,” Acklin bổ sung.
Với một nghi lễ long trọng, chiếc tàu lặn được đẩy khỏi cầu tàu để đi ra biển khơi. Bên kia cầu tàu, dân chài trên các thuyền buồm đang quăng lưới. Các thủy thủ đang dong những chiếc bè đôi sặc sỡ rời khỏi đất liền. Sau một khởi đầu hiền hòa và mơ màng, hòn đảo nay đã thức giấc. Một nửa số tàu neo ở cầu tàu đã rời đi hoặc chuẩn bị ra đi.
“Vậy khi nào đám các anh mới vào thành phố?” Mitch hỏi, nhấp cái món thức uống nhiều Rum hơn cả Coca.
“Tối Chủ nhật,” Tarrance đáp trong khi quan sát chiếc tàu lặn từ từ biến mất.
“Chỉ là tò mò thôi nhé, các anh có bao nhiêu người trên các đảo vậy?”
“Bốn nam, hai nữ,” Tarrance đáp. Acklin trở nên nín lặng, phó mặc toàn bộ cuộc trò chuyện cho cấp trên của mình.
“Và tại sao người của các anh lại ở đây?” Mitch hỏi.
“Ồ, có nhiều lý do lắm. Thứ nhất, chúng tôi muốn nói chuyện với anh và gút lại cái thỏa thuận be bé của chúng ta. Giám đốc Voyles đang lo lắng khủng khiếp về việc đạt đến một thỏa thuận mà anh có thể chấp nhận. Thứ hai, chúng tôi muốn quan sát chúng để xác định xem có bao nhiêu tên lưu manh đang ở nơi đây. Chúng tôi sẽ dành nguyên tuần để điểm mặt từng tên. Hòn đào này có chút tẹo nên sẽ là một nơi tốt để quan sát.”
“Và thứ ba là anh muốn làm cho da mình rám nắng?”
Acklin khẽ khúc khích. Tarrance mỉm cười rồi chau mày. “Không, không hẳn thế. Chúng tôi ở đây là để bảo vệ cho anh đó.”
“Bảo vệ tôi?”
“Đúng. Lần cuối mà tôi ngồi ở ngay chính chiếc bàn này, ấy là khi tôi nói chuyện với Joe Hodge và Marty Kozinski. Đã khoảng chín tháng rồi. Chính xác là cái ngày trước khi họ bị giết.”
“Và anh cho rằng tôi sắp sửa bị giết?”
“Chưa. Chưa đâu.”
Mitch ra hiệu cho người phục vụ quầy mang ra thêm thức uống. Sòng domino trở nên nóng hơn. Anh nhìn những người bản địa đang cãi cọ và uống bia.
“Này, các bác, trong khi chúng ta nói chuyện ở đây, bọn lưu manh - như cách các anh hay gọi - có lẽ đang bám theo vợ tôi đi khắp Grand Cayman đấy. Tôi kiểu như sẽ khá bồn chồn khi nào còn chưa về lại. Giờ thì, thỏa thuận ra sao rồi?”
Tarrance rời mắt khỏi biển và con tàu lặn để quay sang Mitch. “Hai triệu là được, và...”
“Dĩ nhiên là được mà, Tarrance. Chúng ta đã thỏa thuận được, đúng không?”
“Thư giãn đi, Mitch. Chúng tôi sẽ trả một triệu khi nào anh chuyển giao toàn bộ các hồ sơ của anh. Đến lúc đó sẽ không còn đường lui nữa, như cách người ta vẫn nói. Anh sẽ bị lún sâu tận cổ.”
“Tarrance, tôi hiểu chuyện đó. Đó là gợi ý của tôi mà, nhớ chưa?”
“Nhưng đó mới chỉ là phần dễ. Chúng tôi thực sự không muốn các hồ sơ của anh vì chúng là những hồ sơ sạch, những hồ sơ tốt, những hồ sơ hợp pháp. Chúng tôi muốn những hồ sơ xấu, Mitch ạ, những hồ sơ có thể đóng dấu nhan nhản lệnh truy tố ấy. Các hồ sơ này sẽ khó kiếm hơn rất nhiều. Nhưng nếu anh kiếm được thì chúng tôi sẽ trả thêm nửa triệu nữa. Phần còn lại là sau phiên tòa cuối cùng.”
“Còn anh trai tôi thì sao?”
“Chúng tôi sẽ cố.”
“Nói vậy không đủ đâu, Tarrance. Tôi muốn có cam kết.”
“Chúng tôi không thể hứa thả anh trai anh. Trời ạ, anh ta còn phải ngồi ít nhất bảy năm nữa.”
“Nhưng anh ấy là anh trai tôi, Tarrance. Tôi không quan tâm anh ấy có phải là tên giết người hàng loạt đang chờ tử hình hay không. Anh ấy là anh trai tôi, và nếu các anh muốn tôi thì phải thả anh ấy ra.”
“Tôi đã nói chúng tôi sẽ cố rồi mà, nhưng chúng tôi không thể cam kết điều gì được. Không có phương cách hợp thức, chính thức hay hợp pháp nào để đưa anh ta ra ngoài, cho nên chúng tôi phải thử những phương cách khác. Ngộ nhỡ anh ta bị bắn trong khi đang vượt ngục thì sao?”
“Hãy đưa anh ấy ra, Tarrance.”
“Chúng tôi sẽ cố.”
“Các anh có thể dùng quyền năng và các nguồn lực của FBI để giúp anh trai tôi vượt ngục phải không, Tarrance?”
“Anh đã có cam kết của tôi rồi đấy thôi.”
Mitch ngồi lại vào chiếc ghế của anh và hớp một ngụm dài. Giờ thì thỏa thuận đã hoàn tất, anh cảm thấy dễ thở hơn và mỉm cười nhìn về hướng biển Caribe lộng lẫy.
“Vậy khi nào chúng tôi có các hồ sơ của anh?” Tarrance hỏi.
“Tôi tưởng anh không muốn chúng cơ mà. Chúng quá sạch sẽ, nhớ không?”
“Chúng tôi muốn các hồ sơ, Mitch ạ. Bởi lẽ khi chúng tôi nhận chúng thì có nghĩa chúng tôi đã nắm thóp được anh. Anh sẽ tự chứng tỏ mình khi trao cho chúng tôi các hồ sơ của anh, hay nói nôm na là giấy phép hành nghề của anh đấy.”
“Mười đến mười lăm ngày.”
“Bao nhiêu hồ sơ?”
“Từ bốn mươi đến năm mươi. Các hồ sơ nhỏ cũng dày đến cả mấy phân. Các hồ sơ lớn thì có thể chất đầy chiếc bàn này. Tôi không thể sử dụng máy photocopy ở văn phòng, nên tôi phải thu xếp những cách khác.”
“Có lẽ chúng tôi có thể hỗ trợ anh việc sao chép.” Acklin nói.
“Có lẽ là không. Nếu tôi cần các anh giúp thì tôi sẽ nhờ.”
“Anh đề xuất sẽ trao cho chúng tôi như thế nào?” Tarrance hỏi. Acklin một lần nữa rút lui.
“Rất đơn giản, Wayne. Một khi chúng tôi sao chép xong toàn bộ, một khi tôi lấy được một triệu ở nơi nào tôi muốn, khi đó tôi sẽ trao cho các anh chìa khóa để đi vào một căn phòng nhỏ nào đó trong khu vực Memphis, và các anh có thể khuân chúng vào chiếc bán tải của các anh.”
“Tôi đã nói rồi mà, chúng tôi sẽ gửi tiền vào một tài khoản ngân hàng Thụy Sĩ,” Tarrance nói.
“Nhưng bây giờ tôi không muốn gửi tiền vào một ngân hàng Thụy Sĩ nữa, được chứ? Tôi sẽ áp đặt các điều khoản chuyển giao, và nó sẽ phải được thực hiện chính xác như tôi nói. Từ nay tôi đã bị mắc cái thòng lọng vào cổ rồi đó, các bồ tèo, cho nên tôi phải là người quyết định mọi việc. Ít ra là phần lớn mọi việc.”
Tarrance mỉm cười rồi làu bàu nhìn ra cầu tàu.
“Vậy té ra anh không tin ngân hàng Thụy Sĩ?”
“Hãy chỉ nói là tôi đang nghĩ đến một ngân hàng khác. Tôi làm việc cho đám rửa tiền mà, nhớ lại đi, Wayne, cho nên tôi đã trở thành một chuyên gia giấu tiền trong các tài khoản hải ngoại.”
“Chúng tôi sẽ xem xét.”
“Khi nào thì tôi có được cuốn sổ tay đó về đám Morolto?”
“Sau khi chúng tôi nhận các hồ sơ của anh và trả khoản cọc đầu tiên. Chúng tôi sẽ ghé thăm anh nhiều nhất trong chừng mực có thể, nhưng chủ yếu là anh phải tự lo cho bản thân. Anh và tôi sẽ phải gặp nhau rất nhiều, và dĩ nhiên việc đó rất nguy hiểm. Có thể chúng ta sẽ phải làm vài chuyến xe buýt nữa.”
“Được rồi, nhưng lần sau tôi lấy ghế ở lối đi đấy nhé.”
“Dĩ nhiên, dĩ nhiên. Người nào mà trị giá hai triệu thì chắc chắn có quyền chọn chỗ trên một chiếc Greyhound rồi.”
“Tôi sẽ chẳng sống nổi để thụ hưởng cái quyền đó, Wayne. Anh cũng biết vậy mà.”
Ra khỏi Georgetown năm cây số trên con đường hẹp và ngoằn ngoèo dẫn đến Bodden Town, Mitch nhìn thấy hắn. Gã đàn ông đang ngồi chồm hổm sau một chiếc Vokswagen Beetle với mui kéo lên, như thể đang phải dừng xe do máy hỏng. Hắn ăn mặc như người bản địa chứ không như du khách. Có thể dễ dàng lầm tưởng hắn là một trong những người Anh đang làm việc cho chính phủ hoặc cho các ngân hàng. Da hắn rám nắng. Hắn đang cầm một chiếc cờ lê hay chỉ đó, ra vẻ như đang săm soi nó, nhưng thật ra lại đang quan sát chiếc Jeep của Mitsubishi vào lúc nó nổ máy ở bên tay trái con đường. Hắn là một người Bắc Âu.
Hắn nghĩ mình không bị ai để ý.
Theo bản năng, Mitch đi chậm lại, giảm tốc xuống còn năm mươi cây số mỗi giờ để chờ hắn. Abby quay lại nhìn đường. Con đường cao tốc hẹp dẫn đến Bodden Town chạy men theo bờ tám cây số rồi rẽ nhánh, và đại dương biến mất. Chỉ trong ít phút, chiếc VW xanh lục của gã Bắc Âu đã xuất hiện, phóng qua một khúc lượn ngắn. Chiếc Jeep của McDeere ở gần hơn so với dự đoán của gã Bắc Âu. Thấy nó, hắn đột ngột giảm tốc rồi rẽ vào lối đi đá trắng đầu tiên phía đại dương. Mitch đạp ga chiếc Jeep, phóng nhanh đến Bodden Town. Ở phía tây một khu dân cư, anh ngoặt sang hướng nam và chưa đầy một cây số đã ra đến biển.
Lúc này là mười giờ sáng và bãi đậu của khu nhà lặn Abanks đã đầy phân nửa. Các tàu lặn buổi sáng đã lên đường từ ba mươi phút trước. Vợ chồng McDeere bước nhanh đến quầy bar, nơi Henry chưa gì đã dúi bia và thuốc lá cho các tay chơi domino. Barry Abanks đứng tựa vào cây cột chống dàn mái tranh của quán bar, nhìn hai chiếc tàu lặn của ông biến mất quanh góc đảo. Mỗi tàu sẽ thực hiện hai cuốc lặn tại những điểm như Bonnies Arch, Devils Grotto, Eden Rock và Roger’s Wreck Point. Đó là những điểm mà ông đã từng lặn, từng đưa khách đến, từng hướng dẫn dễ đến hàng ngàn lần. Một số điểm là do chính ông khám phá ra.
Vợ chồng McDeere tiến đến gần, và Mitch nhỏ nhẹ giới thiệu vợ với “ông Abanks”, người tuy không lịch sự nhưng cũng không đến nỗi lỗ mãng. Họ bắt đầu đi đến chiếc cầu tàu nhỏ, nơi một hoa tiêu đang chuẩn bị cho một tàu đánh cá dài mười mét. Abanks phun ra một chuỗi mệnh lệnh không cách chỉ giải mã được theo một hướng chung chung nhắm vào anh chàng hoa tiêu, người có vẻ hoặc là điếc đặc hoặc là không biết sợ chủ.
Mitch đứng cạnh Abanks - lúc này đã là đội trưởng - trỏ tay về phía quầy bar cách cầu tàu năm mươi mét. “Ông có biết tất cả những người ở quầy bar không?” anh hỏi.
Abanks chau mày.
“Chúng đã tìm cách bám theo chúng tôi đến đây. Chỉ tò mò chút thôi,” Mitch nói.
“Là băng thường lệ,” Abanks nói. “Không có người lạ.”
“Sáng nay ông có để ý thấy người lạ nào quanh đây không?”
“Này anh, nơi đây thu hút nhiều người lạ lắm. Tôi không ghi sổ người nào lạ, người nào không.”
“Ông có thấy một người Mỹ to béo, tóc hung, nặng ít nhất một trăm ba mươi cân?”
Abanks lắc đầu. Anh chàng hoa tiêu đẩy con tàu lui ra, tách khỏi cầu tàu rồi hướng nó đến chân trời. Abby ngồi lên một băng ghế nhỏ bọc nệm, nhìn khu nhà lặn biến mất dần. Trong chiếc túi nhựa dẻo giữa hai chân cô là hai bộ ống thở và mặt nạ lặn còn mới nguyên. Đây được mặc định là một chuyến đi câu cá nhỏ, nếu như lũ cá chịu cắn câu. Người đàn ông tuyệt vời này đã đồng ý đích thân tháp tùng họ, nhưng đó chỉ là sau khi Mitch nài nỉ, bảo ông rằng vợ chồng anh cần bàn bạc chuyện riêng. Chuyện riêng, nhưng lại có liên quan đến cái chết của con trai ông.
Từ một ban công được chắn sáng trên tầng hai của tòa nhà Cayman Kai bên bãi biển, gã Bắc Âu quan sát những chiếc đầu đeo ống thở đang hụp lặn quanh tàu cá. Hắn trao ống nhòm cho Tony Hai-Tấn. Nhanh chóng nhàm chán, Tony Verkler trả nó lại. Đứng sau gã Bắc Âu là một cô ả tóc vàng nóng bỏng trong chiếc áo bơi một mảnh màu đen để lộ đôi chân dài miên man. Cô ả đón lấy chiếc ống nhòm. Mối quan tâm đặc biệt của cô ả chính là anh hoa tiêu.
Tony lên tiếng. “Tôi không hiểu. Nếu chúng nó nói chuyện nghiêm túc thì thằng kia là để làm gì? Sao lại cho phép một đôi tai nữa ở quanh đó?”
“Phải chăng chúng bàn chuyện lặn ống thở và câu cá?” gã Bắc Âu hỏi.
“Em không biết,” cô ả tóc vàng nói. “Việc Abanks dành thời gian đi câu cá là một điều bất thường. Lão thích đi theo những người lặn bình. Phải có lý do quan trọng nào đó thì lão mới chịu mất cả ngày cho hai người mới biết lặn ống thở. Có gì đó khả nghi ở đây.”
“Thằng nhóc kia là ai?” Tony hỏi.
“Chỉ là một gã sai vặt thôi,” cô ta nói. “Lão đó có hàng tá những gã như thế.”
“Lát nữa em nói chuyện với hắn có được không?” gã Bắc Âu hỏi. “Phải đó,” Tony nói. “Cho hắn xem chút da thịt, hít chút bột là hắn sẽ phun ra ngay thôi mà.”
“Để em thử,” cô ta nói.
“Tên hắn là gì?” gã Bắc Âu hỏi.
“Keith Rook.”
Keith Rook lái con tàu dọc theo chiếc cầu tàu ở Rum Point. Mitch, Abby và Abanks leo ra khỏi tàu rồi đi thẳng ra bãi biển. Keith không được mời ăn trưa. Anh ở lại tàu, biếng nhác lau mặt boong.
Quán Shipwreck nằm cách bãi biển chừng một trăm mét, dưới những tán cây rậm rạp hiếm hoi. Quán vừa tối vừa ẩm, với các cửa sổ lồng kính và những chiếc quạt trần cọt kẹt. Không có nhạc rập rình, domino hay bảng phi tiêu. Đám đông nay im ắng trong giấc trưa, mỗi bàn đều chăm chú vào những câu chuyện riêng tư. Cảnh quan từ những chiếc bàn của họ nhìn ra biển, hướng lên phía bắc. Họ gọi bánh mì phô mai và bia – bữa ăn chính ở đảo.
“Quán này hơi khang khác,” Mitch khẽ nhận xét.
“Rất khác,” Abanks nói. “Và nó có lý do của nó. Đây là nơi lui tới của đám buôn ma túy. Chúng có nhiều ngôi nhà và chung cư đẹp ở quanh đây. Chúng bay đến bằng máy bay riêng, bỏ tiền bạc của chúng vào nhiều ngân hàng tốt của chúng tôi, và dành ra vài ngày quanh đây để đi kiểm tra các bất động sản của chúng.”
“Một khu vực đẹp.”
“Rất đẹp phải không? Chúng có hàng triệu đô và chúng giữ rịt cho riêng chúng.”
Cô phục vụ - một người lai vạm vỡ - thả lên bàn ba chai Jamaican Red Stripe, không nói một lời nào. Abanks khom tới, chống trên hai cùi chỏ, đầu hạ thấp. Một động tác đã thành lệ khi trò chuyện ở Shipwreck. “Mấy người nghĩ có thể bước ra được hay sao?” ông hỏi
Mitch và Abby khom đầu xuống cùng một lúc, và cả ba đầu người gặp nhau ở giữa bàn, chỉ vừa vặn cao hơn các chai bia. “Không phải bước mà là chạy. Chạy trối chết! Nhưng chúng tôi sẽ thoát được. Và chúng tôi cần sự trợ giúp của ông.”
Ông suy nghĩ một lúc rồi ngước đầu lên và nhún vai. “Nhưng tôi phải làm gì?” Ông nhấp ngụm Red Stripe đầu tiên của mình.
Abby thấy ả ta trước tiên. Phải là một phụ nữ thì mới chộp được một phụ nữ khác đang cố gắng một cách lịch lãm để nghe trộm cuộc trò chuyện nhỏ của họ. Cô ả ngồi đâu lưng lại Abanks. Đó là một ả tóc vàng hoe. Cô ả giấu một phần khuôn mặt bằng cặp kính mát nhựa đen loại rẻ tiền. Nó che khuất hầu hết khuôn mặt, và cô ả đang ngắm nhìn đại dương, nghe ngóng có phần hơi ráng sức. Khi ba người họ khom xuống, cô ả ngồi thẳng lưng lên và nghe ngóng một cách khá lộ liễu. Cô ả ngồi một mình ở chiếc bàn dành cho hai người.
Abby bấu các móng tay vào đùi chồng. Cô ả tóc vàng áo tắm đen nghe ngóng một hồi rồi quay về với cái bàn và món thức uống của mình.
Wayne Tarrance đã cải thiện tủ quần áo của anh ta vào hôm thứ Sáu trong Tuần lễ Cayman. Không còn đôi dép rơm, chiếc quần lửng bó sát và cặp mắt kính con nít. Không còn cặp giò trắng hếu đến bịnh hoạn. Bây giờ chúng đã thành màu hồng tươi, đến mức không ai nhận ra nổi. Sau ba ngày ở cái chốn nhiệt đới khỉ ho cò gáy có tên là Cayman Brac, anh và Acklin đã hành động nhân danh chính phủ Hoa Kỳ khi đáp xuống một căn phòng rẻ mạt tại Grand Cayman, cách bãi Seven Mile nhiều cây số và không nằm trong tầm đi bộ đến bất cứ địa điểm xa xôi nào trên các đảo. Tại đây họ đã thiết lập một trạm chỉ huy để giám sát việc đi ra đi vào của vợ chồng McDeere và những nhân vật thú vị khác. Tại đây, ở nhà nghỉ Coconut, họ chia sẻ một căn phòng nhỏ với hai chiếc giường đơn và một vòi sen nước lạnh. Sáng thứ Tư, họ bắt liên lạc với “đối tượng” McDeere, và yêu cầu một cuộc gặp càng sớm cành tốt. McDeere nói không. Anh nói anh quá bận. Nói anh và vợ đang hưởng tuần trăng mật và không có thời gian cho một cuộc gặp như thế. Để sau đi, anh chỉ nói có vậy.
Rồi, vào tối muộn ngày thứ Năm, trong khi Mitch và Abby đang thưởng thức cá mú nướng tại quán Lighthouse trên con đường dẫn đến Bodden Town, Laney – đặc vụ Laney – trong trang phục phù hợp của dân đảo và trông rất giống một anh chàng bản địa da đen, đã dừng lại trước chiếc bàn của họ và đưa ra bản “thánh chỉ.” Tarrance đòi một cuộc gặp.
Gà phải được nhập khẩu mới vào được Cayman, và đó không phải là những con ngon nhất. Chỉ là mấy con gà cỡ tầm tầm, không dành cho dân bản địa tiêu thụ mà dành cho dân Mỹ xa nhà đang thiếu thốn cái món ăn cơ bản nhất này. Đại tá Sanders đã có một thời gian khốn khổ dạy dỗ các cô gái đảo da đen (hay gần như da đen) cách thức để rán gà. Với họ, đó là một món ăn ngoại lai. Thế nên đặc vụ Wayne Tarrance, từ Bronx, đã thu xếp một cuộc gặp chớp nhoáng tại chi nhánh nhượng quyền của Kentucky Fried Chicken trên đảo Grand Cayman. Chi nhánh nhượng quyền độc nhất. Anh ta nghĩ nơi này sẽ trống lốc, và anh ta đã sai bét.
Hàng trăm du khách đói ngấu từ Georgia, Alabama, Texas và Mississippi nêm chật kín nơi đó, ngốn ngấu món da gà siêu giòn dùng với salad bắp cải và khoai tây sốt kem. Ở Tupelo có vị ngon hơn, nhưng ở đây cũng ổn. Tarrance và Acklin ngồi trong một khoang của nhà hàng đông nghẹt, bồn chồn nhìn ra cửa trước. Hủy hẹn chưa phải là quá muộn, chỉ khốn nỗi nơi đây quá đông đúc. Cuối cùng Mitch bước vào, đi một mình. Anh đứng vào một hàng dài. Anh bưng một hộp be bé màu đỏ ra bàn của họ và ngồi xuống. Anh chẳng hỏi gì cả. Anh bắt đầu ăn bữa tối với ba khúc thịt gà, tốn của anh 4,89 đô la, đô la Cayman. Thịt gà nhập khẩu.
“Mấy bữa nay anh ở đâu?” Tarrance hỏi.
Mitch tấn công một khúc đùi. “Trên đảo chứ đâu. Gặp ở đây thì đúng là ngu thật đó, Tarrance. Quá đông người.”
“Chúng tôi biết mình đang làm gì.”
“Phải rồi, cũng giống như ở cái tiệm giày Triều Tiên ấy mà.”
“Ăn nói có duyên ghê. Tại sao anh không muốn gặp tôi hôm thứ Tư?”
“Thứ Tư tôi bận. Tôi có sạch không đấy?”
“Dĩ nhiên anh sạch. Anh mà không sạch thì Laney đã cảnh báo cho anh ở ngoài cửa trước.”
“Nơi này làm tôi thấy lo lắng, Tarrance ạ.”
“Anh đến chỗ Abanks làm quái gì vậy?”
Mitch chùi miệng rồi cầm lên cái đùi ăn giở. Một cái đùi khá là bé. “Ông ta có con tàu. Tôi muốn đi câu cá và lặn ống thở. Thế là chúng tôi đạt thỏa thuận. Còn anh thì ở đâu, Tarrance? Trong một chiếc tàu ngầm kéo chúng tôi đi quanh đảo hả?”
“Abanks nói gì?”
“Ồ, ông ta nói nhiều lắm. Xin chào. Đưa tôi lon bia. Ai đang bám theo chúng ta? Tùm lum tá lả.”
“Chúng đang bám theo anh đấy, anh có biết không?”
“Chúng! Chúng nào? Chúng các anh hay chúng họ? Tôi đang bị bám theo đông đến mức còn gây ra cả nạn kẹt xe nữa đấy.”
“Những gã xấu, Mitch ạ. Những tay từ Memphis, Chicago và New York. Những tay sẽ giết anh ngày mai nếu anh cứ có duyên như thế.”
“Cảm động ghê. Vậy ra họ đang bám theo tôi. Tôi đưa họ đi đâu vậy? Lặn ống thở ư? Câu cá ư? Thôi nào, Tarrance. Họ theo tôi, anh theo họ, anh theo tôi, họ theo anh. Tôi mà đạp thắng thì chắc là có hai chục cái mũi dán vào mông tôi quá. Tại sao chúng ta lại gặp nhau ở đây, Tarrance? Nơi này đông như quỷ.”
Tarrance ngượng nghịu nhìn quanh.
Mitch đóng hộp thịt gà lại. “Này, Tarrance, tôi đang cáu tiết và mất hết cả khẩu vị đây nè.”
“Thư giãn đi. Từ chung cư đến đây anh sạch mà.”
“Tôi lúc nào mà chả sạch, Tarrance. Tôi nghĩ rằng mỗi lần Hodge và Kozinski di chuyển họ lúc nào cũng sạch cả. Sạch ở chỗ Abanks. Sạch trên con tàu lặn. Sạch tại các lễ tang. Đó không phải là một ý hay đâu, Tarrance. Tôi sắp đi rồi đó.”
“Được rồi, khi nào thì máy bay của anh rời khỏi đây?”
“Hỏi chi vậy? Đám các anh định bám theo à? Các anh theo dõi tôi hay theo dõi họ vậy? Lỡ họ đang theo dõi các anh thì sao? Lỡ tất cả đều rối như canh hẹ và hóa ra tôi đang theo dõi tất cả mọi người thì sao?”
“Thôi nào, Mitch.”
“Chín giờ bốn mươi sáng. Tôi sẽ cố giữ một ghế cho anh. Anh có thể lấy ghế ngồi cạnh cửa số, ở kế bên Tony Hai-Tấn ấy.”
“Khi nào thì chúng tôi mới có các hồ sơ của anh?”
Mitch đứng dậy, cầm theo hộp thịt gà. “Trong khoảng một tuần nữa. Cứ cho tôi mười ngày đi. Và, Tarrance này, không được gặp nơi công cộng lần nữa nhé. Họ giết luật sư, nhớ không? Họ đâu có giết các đặc vụ FBI ngu xuẩn.