Các kết quả kinh tế năm 1987 hóa ra còn tồi tệ hơn cả giai đoạn năm 1986. Trong khu vực công nghiệp, người ta nhận thấy rất khó điều chỉnh giá cả, tự hạch toán và tự quản lý. Gorbachev tin đây là khi mối bất hòa giữa các cơ quan Đảng ở địa phương và trung ương xuất hiện. Hầu hết các tổ chức đảng ủy địa phương đều không thể hay không muốn điều chỉnh theo cơ chế làm việc mới dựa trên chủ trương công khai và dân chủ hóa. Người ta cần một kiểu tổ chức Đảng mới, một tổ chức có thể phát huy sáng kiến, phản ứng nhanh nhạy và tích cực trong môi trường mới. Các quan chức thuộc cơ quan Đảng trước kia chỉ tập trung vào việc giữ quyền giữ chức. Bộ máy đảng ủy địa phương càng được đảm bảo bao nhiêu thì nguy cơ phát sinh chống đối trong và ngoài Đảng càng tăng lên bấy nhiêu. Bộ máy này cực kỳ trơn tru dưới thời Brezhnev. Thời kỳ ổn định và bình lặng không tạo ra động lực cho người ta phát huy sáng kiến. Nay Gorbachev hy vọng bộ máy này sẽ chứng tỏ một vai trò hoàn toàn khác trước và trở thành nhân tố tích cực trong quá trình cải cách ở cấp địa phương. Không mấy ngạc nhiên khi hầu hết các nhà chức trách địa phương lại bực tức trước điều này vì họ cảm thấy bất lực. Gorbachev nhận ra sự thay đổi đã không theo kịp hy vọng của dân chúng và điều đó đã dẫn đến việc đẩy lùi vai trò lãnh đạo của Đảng về phía sau.
Lễ kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Mười chính là cơ hội cho Gorbachev đề cập đến chủ nghĩa xét lại. Ông diễn giải lại tiến trình các sự kiện diễn ra từ năm 1917 nhằm mục đích tuyên truyền đẩy mạnh cho perestroika. Bài diễn văn của ông vào ngày 2/11/1987 làm cho nhiều người cảm thấy thất vọng vì quá dè dặt. Tuy nhiên, người ta vẫn nhớ đến sự ràng buộc mà Gorbachev phải gánh chịu. Bài diễn văn làm nhẹ đi sự lên án Stalin, bất chấp sự chống đối trong Bộ Chính trị.
Tháng 1/1988, đáp ứng sự chỉ trích rộng rãi về các đặc quyền đặc lợi mà giới quan chức được hưởng từ chính quyền, Gorbachev thông qua sắc lệnh cắt giảm mạnh số lượng quan chức, những người được cấp một xe Volga đen và một nhân viên lái xe. Ngày 1/7/1988, hơn 400 nghìn quan chức bị cắt giảm và mất đi các đặc quyền này. Những chiếc Volga được bán công khai hoặc bổ sung vào đội ngũ tắc xi. Cũng từ ngày 1/7, các công dân Xô viết có ngoại tệ mạnh không được sử dụng để mua bán trong các cửa hàng ở Moskva.
Chủ trương công khai dẫn đến làn sóng xuất bản các tài liệu, phần lớn là các bài chỉ trích Đảng và thành tích của Đảng. 1 Ligachev là người phản đối kịch liệt sự “soi mói” này và kêu gọi cần chấm dứt ngay. Tham gia cùng ông còn có Mikhail Solomentsev, Viktor Chebrikov, Dmitry Yazov và thậm chí cả Nikolai Ryzhkov. Trong phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương tháng 2/1988, Gorbachev đề cao các giá trị của Đảng Cộng sản. Giá trị quan trọng nhất lại không phải là các giá trị mà người ta được biết đến trong nhiều thập niên: quyền tối cao của Đảng, quyền sở hữu nhà nước và cơ chế kinh tế kế hoạch. Ông cho rằng vai trò lãnh đạo của Đảng “không nên giao hẳn vào tay một người nào đó ở trên và nắm giữ quá lâu”. Con người chính là trung tâm của thế giới xã hội chủ nghĩa và tuyên bố này nhằm đề cao giá trị, con người trong vũ trụ. Không có gì ngạc nhiên nếu tuyên bố này gây ra sự phẫn nộ trong các nhà tư tưởng bảo thủ và họ lại lao vào cuộc chiến nhằm bảo vệ quyền lợi và địa vị của mình. Nói cách khác, họ nhận thấy kiểu sống sung túc của họ có nguy cơ bị đe dọa.
Ngày 13/3/1988, Gorbachev bay đi Nam Tư và Yakovlev bay đi Mông Cổ. Ligachev là người duy nhất được quyền điều hành Ban Bí thư Trung ương Đảng, cơ quan vẫn giám sát chặt chẽ giới báo chí. Khi Gorbachev đọc các báo hàng ngày, Georgy Shakhnazanov, phụ tá của ông khuyên ông nên chú ý đặc biệt vào bài báo của Nina Andreeva, với tiêu đề “Tôi không thể từ bỏ những nguyên tắc của mình” trên tờ Sovetskaya Rossiya (Nước Nga Xô viết). Đây là tờ báo có tiếng về mối quan hệ chặt chẽ với phe bảo thủ. Bài báo này chính là cuộc tấn công trực diện và toàn diện vào perestroika và khiến những người có xu hướng cải cách cũng thấy ngán ngẩm. Bức thư của một giáo viên dạy hóa viết kín trang giấy với ngôn ngữ ca ngợi thời kỳ Stalin. Bà bảo vệ Stalin và dùng lời châm chọc chua cay theo lối bài Do Thái, trích dẫn nguyên văn từ các bài phát biểu của Andrei Zhdanov trong chiến dịch chống những người theo chủ nghĩa thế giới năm 1948.
Ligachev phủ nhận vai trò giật dây dư luận nhưng lại thừa nhận ông cũng có những tình cảm như một số người trong bài báo. Việc này bao hàm các cuộc tấn công vào giai đoạn lịch sử coi thời kỳ Stalin là một thời kỳ đen tối và ảm đạm. Theo Gorbachev, bức thư không thể được viết ra bởi một đảng viên bình thường vì nó chứa đựng thông tin mà chỉ một số người mới có quyền biết. Thành ủy Leningrad đặc biệt có thái độ sốt sắng khi được giao điều tra bài báo này. Không thấy nêu ra chứng cứ bác bỏ cho đến khi Gorbachev trở về ngày 18/3. Ông phát hiện ngay ra là một số ủy viên Bộ Chính trị, bao gồm Ligachev, Vorotnikov, Gromyko và Solomentsev, đều đứng về phía Andreeva.
Ông triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị vào ngày 24/3 và nhận thấy Viktor Chebrikov, thủ trưởng cơ quan KGB, và Anatoly Lukyanov cũng đứng về phe những người bảo thủ. Sự thật là Lukyanov, người bạn học tại trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva, đã đứng về phe đối lập khiến Gorbachev choáng váng. Đối với Gorbachev, bài báo thể hiện rõ nét tư tưởng chống perestroika . Điều làm ông tức giận là việc các quan chức trong Đảng và chính quyền lại có thái độ ủng hộ bức thư này. Yakovlev, Ryzhkov (một phần vì ông bực mình trước những cố gắng của Ligachev trong Ban Bí thư Đảng can thiệp vào công việc của chính quyền), Shevardnadze và Medvedev tấn công vào các quan điểm mà lá thư đã nêu.
Viktor Afanasev, chủ biên tờ Pravda , và nhân viên cấp dưới đã ngay lập tức có câu trả lời nhưng Gorbachev bác bỏ vì nó quá vô vị và nhạt nhẽo. Ngày 5/4, tờ Pravda đã đăng một bài báo không ký tên (chủ yếu là do Yakovlev viết) đập lại quan điểm trong lá thư của Andreeva nhưng lại không nêu tên của bà này nhằm tấn công tư tưởng bảo thủ. Gorbachev và Yakovlev coi lá thư như một đòn đánh mở màn cho chiến dịch đưa bằng được perestroika trở lại phương thức cũ ở giai đoạn trước năm 1987. Gorbachev nói với đại sứ Mỹ năm 1992 là ông không lựa chọn giải pháp tăng tốc nhanh hơn, mạnh hơn như ở giai đoạn 1988-1989. “Họ phản đối tôi trên mỗi bước đi. Tôi có thể nhận được sự ủng hộ đối với các cải cách từng phần năm 1987. Điều gì sẽ xảy ra sau đó? Tôi vừa quay lưng lại, họ đã phản công tôi bằng bài báo của Nina Andreeva!” Ligachev đã bị thuyên chuyển không phụ trách mặt tư tưởng và Yakovlev đảm nhận trách nhiệm chính. Rõ ràng, sự chia rẽ sâu sắc đã bao trùm trong Bộ Chính trị.
Về mặt chiến thuật, Gorbachev có hai lựa chọn vì thực tế rõ ràng nhiều nhà lãnh đạo Đảng có thái độ thờ ơ đối với cải cách. Ông có quyền thuyên chuyển công tác của họ khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng hoặc có thể lập ra một cơ chế, quy định khuôn khổ hoạt động nhằm phá bỏ sự chống đối của họ. Ông đã chọn phương pháp cũ. Đại hội Đảng không diễn ra như kế hoạch mà hoãn mãi đến năm 1991, vì thế ông bắt kịp ý kiến của Đại hội Đảng. Khi ông đang lưỡng lự trước đề nghị tổ chức một hội nghị tại phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương tháng 1/1987, đề nghị này không được thông qua, nhưng ông đã đạt được điều mình muốn tại phiên họp toàn thể tháng 6. Tuy vậy, ông thua trong một cuộc tranh luận quan trọng vì cuộc tranh luận này quyết định những ủy viên mới chỉ được bầu ra tại Đại hội Đảng. Đại hội này là cơ hội khuyến khích các ứng viên dự khuyết mới trở thành ủy viên chính thức. Yakovlev chịu trách nhiệm về mặt tư tưởng trong Ban Bí thư, người ta cuối cùng cũng đề ra một lối thoát cho tình trạng bế tắc bằng một suy nghĩ đổi mới. Hội nghị là một nguy cơ vì hầu hết các ủy viên đều phản đối cải cách. Hội nghị cần phải hủy bỏ, nếu không thì phái bảo thủ sẽ nổi loạn. Lý do chính để sự kiện này không diễn ra là kỷ luật Đảng vẫn được duy trì và quyền lực Tổng Bí thư bao giờ cũng là tối cao. Các ủy viên buộc phải chấp nhận các quyết định do lãnh đạo Đảng đưa ra, còn việc triển khai và áp dụng các quyết định đó vào thực tế ra sao lại là chuyện khác.
Các luận cương hay các kiến nghị dự thảo được trình bày trong phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương ngày 23/5 và được thông qua tương đối thuận buồm xuôi gió. Các văn kiện đó được đăng trên tờ Pravda ngày 27/5 đã gây xáo động mạnh mẽ. Chúng đánh dấu bước chuyển từ chế độ xã hội chủ nghĩa theo kiểu Xô viết sang một mô hình giống kiểu xã hội dân chủ của Tây Âu. Điểm then chốt trong các văn kiện này là đề ra bầu cử tự do, đa ứng cử viên vào các vị trí của Xô viết, bỏ phiếu kín, đảm bảo quyền tự do báo chí, ngôn luận, tự do hội họp và cam kết được luật pháp bảo vệ. Thẩm phán phải được độc lập. Công bằng xã hội là nguyên tắc quan trọng hàng đầu. Gorbachev cố gắng đưa cải cách đi xa hơn nữa. Ông chủ trương đa nguyên chính trị và sửa đổi Hiếp pháp Xô viết nhằm hợp pháp hóa hệ thống chính trị. Bộ Chính trị phản đối đề nghị này, riêng chỉ có Yakovlev, Shevardnadze và Vorotnikov ủng hộ chủ trương này. Mãi đến năm 1990, Đảng mới chấp nhận chấm dứt sự độc quyền về chính trị của mình.
HỘI NGHỊ ĐẢNG LẦN THỨ 19
Trong diễn văn khai mạc ngày 28/6, Gorbachev khiến các đại biểu ngạc nhiên bằng việc đề nghị chỉ nên có một người vừa nắm vị trí lãnh đạo Đảng vừa nắm quyền lãnh đạo chính quyền trên toàn đất nước, từ các Xô viết địa phương đến trung ương. Người cải cách bị kéo ngược trở lại. Một mặt, Gorbachev thiên về hạn chế sự can thiệp của Đảng vào các công việc nhà nước, nhưng mặt khác, có thể trao quyền cho họ thông qua các Xô viết. Việc này có thể được coi như sự củng cố lại tổ chức, mà phần lớn là những thành viên phản đối perestroika .
Nhưng cũng có thể hiểu sự việc theo một khía cạnh khác. Kể từ khi có các cuộc bầu cử tự do các Xô viết địa phương hay các đảng viên phải chiến thắng trước khi họ có thể củng cố quyền lực của mình. Gorbachev đặt lòng tin vào nhân dân. Họ sẽ là người lựa chọn những ứng cử viên xứng đáng để thực hiện perestroika . Đây chính là một chiến thuật nổi bật mà vị tổng bí thư này sử dụng. Đây là cách duy nhất buộc các đảng viên phải trao quyền cho Xô viết. Theo cách này, ông có thể tiến hành một cuộc cách mạng thầm lặng như nó không hề diễn ra vì hầu như các đảng viên đều thất bại trong các cuộc bỏ phiếu. Bài phát biểu khai mạc là sự kết hợp thận trọng giữa những người theo đường lối chính thống với những người có đầu óc cấp tiến. Ông ca ngợi vai trò lãnh đạo, dẫn dắt của Đảng và chủ nghĩa Marx-Lenin giống như nền tảng khoa học vững chắc cho các công việc của Đảng. Tuy nhiên, ông nói thêm, cuộc cạnh tranh tự do của những người trí thức cũng là một trong những nguyên lý cơ bản của perestroika .
Giới lãnh đạo ngồi nhìn các đại biểu và một vài người phát ngôn dùng thuật ngữ “những con khủng long” trong Đảng để chỉ những người trở thành mục tiêu công kích. Người bị đối xử cứng rắn là Andrei Gromyko, và những nhân vật khác như Solomentsev, Afanasev − chủ biên tờ Pravda , và Arbatov. “Hiện nay, đồng chí Gromyko không theo kịp sự phát triển của tình hình… đồng chí đã hoàn thành trách nhiệm của mình”. Cách cư xử không đoán trước được này khiến Gorbachev cảm thấy đã nảy sinh mầm mống của nguy cơ. Nếu các vị lãnh đạo Đảng không còn được bảo vệ thì sớm hay muộn ông cũng bị họ lôi vào cuộc chiến. Ông cảm giác đang có một liên minh giữa những người bảo thủ trong Đảng chống đối ông ngay tại Hội nghị. Một sự rạn nứt đang ngầm hình thành trong Đảng và thái độ chỉ trích, chống đối perestroika ngày càng tăng rõ rệt. Sau này, thái độ đó phát triển thành trào lưu phá hoại ngầm trực tiếp của một số lớn các bí thư Đảng và những người đương chức trong bộ máy Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Với người dân và dư luận thế giới − tiến trình Hội nghị được truyền hình trực tiếp − thể hiện sự đối đầu mạnh mẽ nhất trong Hội nghị là giữa Ligachev và Yeltsin. Vào ngày bế mạc Hội nghị, Yeltsin, trước giờ nghỉ trưa đã rời khỏi ghế trên ban công và đứng lên như một diễn viên chính trên sân khấu kịch. Ông không xuống để phát biểu mà lại xin phép Gorbachev được phát biểu. Trong diễn văn chuẩn bị sẵn, ông quyết định trở thành nhà dân túy và phát động một cuộc công kích mạnh mẽ hơn vào Đảng và perestroika . Ông lên tiếng cảnh báo về nạn tham nhũng trong Đảng và kết tội Mikhail Solomentsev, Chủ tịch Ủy ban Kiểm tra của Đảng, phải chịu trách nhiệm về hành vi các đảng viên, khi đã có một cuộc điều tra quá hời hợt trước những lời cáo buộc và cố tình lờ đi thói tham nhũng của các đảng viên cao cấp. Tố cáo thẳng thắn của ông còn nhằm vào chính các đặc quyền đặc lợi của Đảng. Ông cũng ám chỉ các sự kiện trong phiên họp toàn thể Ban chấp hành Trung ương tháng 10/1987 chưa được đăng công khai trước dân chúng, với mục đích biện minh cho mình trong sự kiện này. Bằng lời châm biếm, ông nhận xét là Đảng có tục lệ phục hồi các đồng chí của mình sau 50 năm. Ông muốn được phục hồi trong khi ông vẫn còn đang sống. Yeltsin đề nghị Hội nghị bãi bỏ những quyết định đưa ra trong phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đề nghị của ông trở thành chủ đề thảo luận sôi nổi sau giờ nghỉ trưa.
Nhiều người phát biểu liên tiếp tấn công Boris Nikolaevich, rõ ràng họ đã mất thời gian suy nghĩ cân nhắc suốt cả giờ nghỉ trưa về điều xúc phạm họ và bây giờ họ đã xổ ra. Ligachev đã dành cả buổi trưa để viết ra những lời nhạo báng và đọc lên không khác gì một nhà hùng biện: “Mọi việc Boris làm đều sai toét, thậm chí khi đồng chí ấy còn làm lãnh đạo Đảng tỉnh Sverdlovsk.” Với giọng nói sang sảng, ông lên tiếng: “Boris, cậu sai rồi!” Ông này sử dụng ngôi thứ hai số ít thân mật thay cho cách gọi trang trọng ngôi thứ hai số nhiều. Đây là biểu hiện sự chiếu cố và cả ý công kích mạnh mẽ, tựa như Ligachev đang mắng con vật cưng của mình. Ligachev phản đối kịch liệt sự chăm sóc ưu ái của Đảng đối với Yeltsin. Ông say sưa nói về cuộc sống khổ cực khi ở Siberia và đặc quyền duy nhất ông được hưởng là làm việc khô xương chết xác. Các đại biểu đều đứng về phía Ligachev trong Hội nghị, nhưng nhân dân lại ủng hộ Yeltsin. Họ biết những người giàu có và quyền thế sống ra sao. Những người thích đùa trong lúc này nói lời quen biết: “Egor, anh sai rồi!”
Tài lãnh đạo của Gorbachev thể hiện trọn vẹn trong Hội nghị. Rất có thể ông sẽ tổ chức một hội nghị chỉ gồm những người bảo thủ để thông qua các nghị quyết làm yếu đi sức mạnh bộ máy Đảng và chấp nhận bầu cử tự do − Đại hội Đại biểu Nhân dân − năm 1989. Chiến thuật ông sử dụng là chia rẽ phe đối lập, cố hòa giải nhưng có mức độ và sử dụng quyền lực của Tổng Bí thư. Hội nghị, thật ra là Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, chấp nhận hầu như bất cứ thỏa hiệp nào để tránh sự chia rẽ. Là chủ tọa Hội nghị, Gorbachev sử dụng dè dặt cương vị của mình nhằm đảm bảo cuộc bầu cử đi theo đường hướng ông muốn. Hội nghị này đặt Mikhail Sergeevich vào hoàn cảnh “một liều ba bảy cũng liều”. Ông đã đẩy lùi Liên bang Xô viết cũ về phía sau và bắt tay tiến hành xây dựng một xã hội mới, hợp xu thế và có cơ cấu chặt chẽ. Cam kết của ông đối với perestroika đã thuyết phục một số người chỉ trích ông, trong đó có Anatoly Sobchak − sau này là Thị trưởng Leningrad, và Sergei Stankevich − sau gia nhập Đảng. Điều này cho thấy những người có tư tưởng cải cách đã coi Đảng là đội quân tiên phong của cải cách.
Hội nghị nhấn mạnh mục tiêu phải tách hai tổ chức Đảng và Nhà nước. Nhưng Đảng vẫn nắm quyền lãnh đạo tối cao. Gorbachev khuyến khích chủ nghĩa đa nguyên, đa chính kiến nhưng tất cả những quan điểm này đều phục vụ cho chủ nghĩa xã hội. Phe bảo thủ trong Bộ Chính trị phản ứng ra sao? Liệu có tồn tại các mâu thuẫn căng thẳng tới mức dẫn đến chia rẽ? Không, chỉ có “những lợi ích tạm thời”.
Gorbachev giải quyết rất khéo các vấn đề nhạy cảm trong Bộ Chính trị. Nguyên tắc chung và cơ bản là giao cho phái bảo thủ những nhiệm vụ không thích và giao nhiệm vụ dễ dàng cho phe cải cách. Một ví dụ là việc đặt lại tên cho con tàu phá băng L. Brezhnev. Con tàu đang hoạt động được lấy lại tên cũ là Arktika. Một con tàu mới sẽ được đặt tên là L. Brezhnev. Người ta quyết định buổi nghi lễ sẽ diễn ra mà không cần phải truyền hình trực tiếp. Ligachev và Zaikov được giao nhiệm vụ điều hành các hoạt động này. Một trường hợp khác là lời đề nghị của Svetlana Aliluyeva, con gái của Stalin. Một số người phỏng vấn bà nhằm phát hiện ra điều mà bà thật sự đang nghĩ. Gorbachev lại không muốn tiến hành việc này:
Nếu tôi phải làm việc này, tôi sẽ phải đánh giá con người Stalin, Stalingrad 2 và tất cả mọi việc ông đã làm. Tôi xuất thân từ một gia đình mà đời bác tôi bị hủy hoại. Mẹ tôi sinh ra trong một gia đình rất nghèo lại phải cáng đáng năm anh em. Tôi đã được thưởng một huy chương về bài luận “Stalin là niềm vinh quang anh dũng, Stalin là động lực cho thanh niên”. Có lẽ đồng chí Solomentsev nên tiến hành cuộc phỏng vấn này.
Sau đó, Gromyko đề nghị E. K. Ligachev làm việc này. Gorbachev cuối cùng cho ý kiến: “Hãy để đồng chí Ligachev tiến hành phỏng vấn!”
CÁC HÌNH THỨC CHỐNG ĐỐI
Trong khi những người cải cách ủng hộ chủ trương của Mikhail Sergeevich, các đối thủ của ông cũng đang ngấm ngầm tổ chức chiến dịch riêng của họ. Liên minh Dân chủ thành lập tháng 5/1988 là tổ chức đầu tiên chống đối Đảng Cộng sản Liên Xô. Nó tập hợp khoảng 2 nghìn thành viên và người giữ vai trò lãnh đạo là Valeriya Novodvorskaya, sinh năm 1950. Năm 1968, cô đã thành lập một hội sinh viên bí mật với mục đích hành động là lật đổ chính quyền Xô viết, lần đầu bị bắt tháng 12/1967 và bị kết tội về các hoạt động bất đồng chính kiến trong các năm 1978, 1985 và 1986. Cô tốt nghiệp tại Pháp, dưới một hộ chiếu giả. Trong thời kỳ bị giam cầm, cô phải điều trị trong bệnh viện tâm thần khép kín ba tháng. Khi Gorbachev lên cầm quyền, Valeriya bị bắt 17 lần và mỗi lần bị bắt đều tuyệt thực. Rất nhiều các đảng phái và tổ chức chính trị khác đã ra đời vào năm 1989. Phong trào Dân chủ Thiên Chúa giáo Nga là tập hợp giữa Liên đoàn Dân chủ Thiên Chúa giáo Nga và Liên đoàn Dân chủ Thiên Chúa của người Nga, đây là tổ chức của những tín đồ Thiên Chúa giáo bảo thủ. Đảng Dân chủ Tự do Nga và ba Đảng Dân chủ Lập hiến (Đảng Dân chủ Lập hiến và Đảng của những người dân chủ hợp hiến − sự khác nhau cơ bản giữa họ là cách giải thích về sự kế thừa từ Đảng Dân chủ Lập hiến (Kadet) và Liên đoàn Những người dân chủ hợp hiến). Đây cũng là tập hợp của những người có tư tưởng bảo thủ. Đảng Dân chủ Nga, đứng đầu là Nikolai Travkin được thành lập vào tháng 5/1990, bắt đầu chuyển thành đảng tự do nhưng sau đó dần ngả sang phe chính trị bảo thủ. Đảng Cộng hòa của Liên bang Nga thành lập và hoạt động vào tháng 11/1990 và tập hợp được 30 nghìn thành viên. Đảng nước Nga dân chủ, tổ chức hoạt động dựa trên tư tưởng dân chủ tự do xuất hiện vào tháng 10/1990. Có hai Đảng Dân chủ Xã hội (Đảng chủ chốt nhất là Đảng Dân chủ Xã hội Nga, thành lập vào tháng 5/1990) và có sự liên minh giữa người lao động, công đoàn và Liên hiệp Cách mạng Cộng sản Arnacho. Các đảng phái dân tộc bảo thủ khác đều xuất hiện vào mùa thu năm 1990, như Đảng Dân chủ Quốc gia Nga. Những người theo chế độ quân chủ, chủ trương quay về thời kỳ Nga hoàng Romanov, cũng lập ra một đảng của mình.
Dần dần hai nhóm chính trị chủ đạo hợp nhất lại: nhóm cộng sản và nhóm dân chủ. Nhóm cộng sản do Gorbachev lãnh đạo, chủ trương cải tổ chế độ xã hội chủ nghĩa, thiên về sự phát triển sở hữu xã hội chủ nghĩa, các hình thức tập thể trong các mối quan hệ xã hội, chế độ tự quản và hoạt động xoay quanh nhân tố con người. Nhóm dân chủ muốn tư hữu hóa tài sản nhà nước, tiến hành một cơ chế kinh tế thị trường, một hệ thống nghị viện hoàn chỉnh và đảm bảo nhân quyền.
Khi Gorbachev đi nghỉ vào ngày 1/8, Ligachev chịu trách nhiệm công việc tại Kremlin đã nắm lấy cơ hội đưa ý tưởng của mình vào chính sách perestroika. Ông ta công khai phản đối nền kinh tế thị trường và bảo vệ bản chất giai cấp trong các mối quan hệ quốc tế. Quan điểm này hoàn toàn mâu thuẫn với bài phát biểu của Eduard Shevardnadze đọc trước một hội nghị gồm các nhà ngoại giao và các chuyên gia hồi tháng 7. Trong bài diễn văn này, Shevardnadze nhấn mạnh “chúng ta không thể không chấp nhận môi trường cùng tồn tại hòa bình, một kiểu đấu tranh giai cấp đặc biệt… Cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống đối lập không còn là xu thế quyết định trong thời đại ngày nay”. Đó là tuyên bố dứt khoát đăng trên báo Đảng, rằng Liên bang Xô viết đã từ bỏ nguyên lý quan trọng nhất của chủ nghĩa Marx-Lenin.
Trong bài phát biểu ở Vilnius, Yakovlev thể hiện câu chữ lắt léo, hầu như xảo quyệt tinh vi, đáp trả lại những nhà cải cách. Ông này đặt lợi ích chung của nhân loại lên trên lợi ích quốc gia cũng như lợi ích các dân tộc thiểu số. Không còn nghi ngờ gì nữa, đã xuất hiện sự hỗn loạn. Theo quan điểm Gorbachev, Ligachev đang chuyển hóa perestroika sang một phương thức mới. Cũng có giải pháp khác. Đảng nên chuyển giao toàn bộ quyền quản lý kinh tế và chỉ nên quan tâm đến các công việc nội bộ trong hệ thống Đảng mà thôi. Do vậy, Gorbachev có thể đương đầu với sự phản đối trong Đảng về cải cách kinh tế.
NHỮNG THAY ĐỔI TRONG ĐẢNG
Gorbachev quyết định lập ra các tổ chức quá độ đến khi các Xô viết và các cơ quan chính quyền củng cố được sức mạnh và tích lũy được kinh nghiệm. Trong bản thông báo gửi Bộ Chính trị ngày 24/8/1988, Gorbachev đề nghị giảm số lượng các ban ngành trong Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương từ 20 xuống 9. Chỉ có hai ban chuyên trách kinh tế được giữ lại: ban phụ trách nông nghiệp và một ban mới phụ trách vấn đề kinh tế − xã hội. Các thành viên chính phủ trong Bộ Chính trị rất hào hứng với việc này. Tựa như trong một nước đa đảng, các bộ thuộc chính phủ sẽ do Hiến pháp điều chỉnh và giám sát. Ban phụ trách quan hệ với các đảng cộng sản và đảng công nhân các nước xã hội chủ nghĩa bị hạ cấp và sáp nhập thành một bộ phận của Ban Quốc tế. Sự chuyển đổi có ý nghĩa báo hiệu các nước xã hội chủ nghĩa khác không còn được đối xử như con riêng nữa mà trở thành quốc gia thật sự có chủ quyền. Valentin Falin, chuyên gia về các vấn đề Đức, đảm nhiệm công việc của Anatoly Dobrynin, người đã bị Shevardnadze loại khỏi ê-kíp khi giữ chức lãnh đạo Ban Quốc tế thuộc Ban Bí thư. Andrei Gromyko và Anatoly Dobrynin đều bị gạt ra rìa cùng một lúc vào tháng 10/1988.
Vào tháng 9, Gorbachev tiến xa hơn một bước và Ban Bí thư được tái cơ cấu thành sáu ủy ban. Chủ tịch mỗi ủy ban chuyên trách chịu trách nhiệm về chính sách của lĩnh vực đó trong Đảng. Vadim Medvedev được giao nhiệm vụ phụ trách tư tưởng và sự thừa hưởng chính của chức vụ này là Ligachev không còn được giao phụ trách lĩnh vực nhạy cảm này nữa. Medvedev không cấp tiến như Yakovlev, nhưng Yakovlev lại được chỉ định làm chủ tịch Ban Đối ngoại, vậy là hợp với sở trường của ông. Ligachev làm chủ tịch ban chuyên trách vấn đề nông nghiệp. Việc này có nghĩa là hy sinh khu vực nông thôn vì không hề có sự tiến triển nào tiến tới thị trường dưới thời Ligachev. Georgy Razumovsky phụ trách chính sách nhân sự và Nikolai Slyunkov phụ trách chính sách kinh tế xã hội. Viktor Chebrikov chuyển từ cơ quan KGB sang làm chủ tịch Ban Luật pháp. Nhiệm vụ ban này là giám sát Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng và cơ quan KGB. Rất khó để tìm ra một người thích hợp hơn Chebrikov sau Hội nghị Đảng lần thứ 19. Gorbachev hoàn toàn đặt niềm tin vào KGB và cũng có thể ông đã cảnh giác xa lánh một con người như vậy.
Mối quan hệ của Gorbachev với KGB cho thấy ông không bao giờ tin cơ quan KGB lại có những hoạt động chống lại ông. Ông quen với việc đọc các bản báo cáo cá nhân do Chebrikov gửi tới. Ngày 19/2/1986, lãnh đạo KGB đã báo cáo các hoạt động của tổ chức này trong năm 1985 như sau:
Mạng lưới KGB đã đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống lại những sai lệch về mặt tư tưởng và chống các kẻ thù giai cấp. Ở khắp nơi, các an ninh viên đã tham gia vào công việc của các tổ chức Đảng nhằm loại bỏ các hiện tượng tiêu cực... và tăng cường các hoạt động ngăn ngừa… Ở Moskva, Leningrad và ở các thủ đô các nước cộng hòa và các thành phố khác, các hoạt động chống phá về mặt tư tưởng, gây ra bởi hàng trăm phái viên và nhân viên các tổ chức nước ngoài chống Liên Xô, bọn dân tộc chủ nghĩa, bọn chủ nghĩa phục quốc Do Thái và các giáo sĩ đều bị phát hiện và loại bỏ. Trong số các phần tử này, 300 kẻ bị trục xuất và 322 kẻ bị cấm nhập cảnh vào Liên bang Xô viết. Ở Ukraine, các nước cộng hòa vùng Baltic và những nơi khác nữa, 25 nhóm dân tộc bất hợp pháp đã bị phát hiện và xử lý khi các nhóm này mới chỉ trong thời kỳ trứng nước… 1.275 tác giả và những kẻ phân phát tài liệu nặc danh, bất hợp pháp có nội dung chống phá Liên Xô, 97 người trong số đó bị xử trước tòa… Các biện pháp ngăn ngừa được tiến hành nhằm đối phó với 15.271 phần tử khác.
Ngày 25/9/1986, tại cuộc họp Bộ Chính trị, Gorbachev hỏi Chebrikov rằng theo định nghĩa phương Tây thì hiện nay có bao nhiêu tù chính trị. Ông trả lời ngay có 240 người. Họ bị kết tội vì tiến hành các hoạt động tình báo, vượt biên giới Liên Xô bất hợp pháp, phân phát tài liệu phản động, buôn bán ngoại tệ mạnh… Vì một số người không chịu thừa nhận hành vi của mình, có thể sẽ phải thả một phần ba trong số này, sau đó thả một nửa. Hai người bị hành quyết vì tội tiến hành các hoạt động gián điệp. Gorbachev thông báo một trong số họ là nhân viên người Mỹ, ra giá 2 triệu rúp. Chebrikov cho biết người này đã chuyển nhiều bí mật quân sự cho phía Mỹ.
Bộ Chính trị rất quan tâm đến ảnh hưởng của vụ tù nhân Tolya Marchenko chết, người đã tuyệt thực ba tháng liền trước khi chết. Ngày 4/2/1987, người ta đã thông báo lên giới lãnh đạo về cái chết của tù nhân này. Cần giảm số lượng tù chính trị xuống nhằm làm dịu đi hình ảnh của Liên bang Xô viết trong con mắt phương Tây. Ngày 15/1/1987, KGB thông báo có khoảng 288 tù nhân đang bị giam cầm, trong số đó có 114 người bị kết tội tuyên truyền phản động chống lại nhà nước Xô viết (Điều 70 trong Bộ luật Dân sự Liên bang Nga), 119 người đã có thái độ phỉ báng hệ thống xã hội và nền chính trị Xô viết (Điều 190-1) và 55 người phạm các tội khác. Một chiến thuật được chấp nhận là khuyến khích tù nhân ký vào các bản kháng cáo không thừa nhận hành vi phi pháp của mình. Có 51 tù nhân đã làm như vậy và được ân xá. Ngày 1/5/1987, vẫn còn 98 nguời bị kết án theo các điều khoản trên. Luật tội phạm dự thảo được công bố tháng 12/1988, xóa bỏ các tội được quy định trong Điều 70 và 190-1 của Luật tội phạm Liên bang Nga và các tội quy định trong luật pháp của các nước cộng hòa khác. Những người bị kết án và những người không chịu thừa nhận hành vi phi pháp của mình vẫn phải ở trong tù. Tháng 2/1992, Tổng thống Boris Yeltsin ra lệnh trả tự do cho toàn bộ tù chính trị.
Lãnh đạo mới của cơ quan KGB là Vladimir Kryuchkov, một sự lựa chọn tồi tệ hơn so với việc bổ nhiệm Chebrikov. Bào chữa cho hành động này, Gorbachev cho biết Kryuchkov là người thân tín, đồng minh lâu năm và thân cận của Andropov. Lập ra hàng loạt các ủy ban là một bước khôn ngoan đầy toan tính vì không ai để ý tới các cuộc tranh cãi của họ. Quyết sách chính trị đã thay đổi ở nhiều điểm khác. Tuy nhiên, một trở ngại quan trọng là xác định vai trò của Ban Bí thư. Ban Bí thư chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị. Không ai thay thế được ban này. Gorbachev phải lập ra một cơ quan mới để đảm bảo mọi quyết định tối cao đều phải được thực hiện.
Phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương ngày 30/9 cho phép các phần tử chống đối trong giới lãnh đạo có quyền thanh minh bào chữa. Andrei Gromyko ngủ gà ngủ gật trong phiên họp, tỉnh giấc và đã có những lời phát biểu không thích đáng. Petr Demichev, Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô (đồng thời là Phó Chủ tịch nước) đã quá tuổi nghỉ hưu. Anatoly Lukyanov lên thay Petr Demichev và để trả ơn Gorbachev, chính ông ta đã lập mưu lật đổ Gorbachev vào tháng 8/1991. Mikhail Solomentsev nhường cho Boris Pugo làm Chủ tịch Ban Thanh tra Đảng. Gorbachev coi Pugo là “một người chính trực”. Đây là nhận định không thỏa đáng vì Pugo là một kẻ mưu đồ trong tháng 8/1991. Vitaly Voronikov bị chuyển sang làm Chủ tịch Đoàn Xô viết Tối cao Liên bang Nga và lãnh đạo Nhà nước Nga (đây chỉ là chức danh tôn vinh lúc đó). Ai sẽ thay Gromyko đứng đầu Nhà nước? Chính Mikhail Sergeevich đã đề cử Ligachev. Nhưng Gorbachev cho rằng khôn ngoan là không gạt bỏ Ligachev, mặc dù ông ta có thái độ bất bình trước tiến trình cải cách. Nguy cơ là ông ta sẽ đứng đầu phe bảo thủ chống đối perestroika . Có sự ủng hộ tiềm năng rộng lớn. Theo ước tính của Gorbachev, có khoảng 18 triệu công chức quản lý khoảng 127 triệu công nhân. Trong số các công chức này, có 2,5 triệu người làm việc trong các bộ và các cơ quan nhà nước, số còn lại làm trong xí nghiệp. Chính cơ cấu hành chính này làm người ta phát điên, vì cứ bảy người lao động thì có một người giữ vai trò chỉ huy. 3
Đã xuất hiện ý nghĩ Ban Chấp hành Trung ương cũng chỉ là một tổ chức bảo thủ và có nguy cơ phá vỡ tham vọng của mình, Gorbachev quyết tâm loại bỏ tổ chức hữu danh vô thực này và cả những nhân vật chống đối lại mình tại Hội nghị lần thứ 19 sắp tới nhưng không thành. 4 Sau phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương tháng 1/1987, các bí thư Đảng đã phải đối mặt với các cuộc bỏ phiếu cạnh tranh và có nhiều người trong số họ đã bị gạt ra ngoài. Các nhà lãnh đạo Đảng đều phát huy hết công suất bộ máy tuyên truyền thông qua phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có tác dụng. Đây chính là điểm Gorbachev tính đến, quyền lực của bộ máy Đảng sẽ giảm sút vì các đảng viên không còn sợ uy quyền đó. Các quan chức bây giờ được đánh giá theo công việc thực hiện, chứ không theo địa vị cao thấp. Các đảng viên trở nên thờ ơ với bộ máy quan liêu của Đảng. Tâm lý này lan ra trong đại đa số quần chúng và ngày càng rõ nét trong các cuộc bầu cử vào Đại hội đồng Nhân dân tháng 3/1989. Người dân mất lòng tin vào Đảng nhưng điều quan trọng hơn là họ không còn tin vào cơ quan KGB. Chủ trương công khai khiến họ không ngại lên tiếng và đến lúc này, các nhân vật có quyền được bảo vệ hay tổng bí thư đều không còn là những người bất khả xâm phạm nữa.
Điều này làm chuyển đổi nền chính trị. Năng lực của công chức được đánh giá dựa trên kết quả công việc chứ không phải theo là lời hứa. Khi các vấn đề kinh tế chồng chất năm 1989, giới quyền uy mới vào cuộc bằng việc chỉ trích phê bình, càng ngày càng gay gắt. Đây là một kinh nghiệm mới cho các đảng viên và công chức nhà nước, những người trước kia chỉ biết ra lệnh và chờ đợi sự phục tùng. Bây giờ họ phải tự bảo vệ trước hàng loạt các khiếu nại, một số bào chữa được, một số không thể nhưng cuối cùng họ cũng làm tròn bổn phận của mình một cách kém cỏi. Họ học các nền chính trị dân chủ đang tồn tại trên thế giới, họ phàn nàn và đổ lỗi cho Gorbachev về tình trạng bất công tràn lan trong xã hội. Một làn sóng các nhà luận chiến tài ba nổi lên và những bài viết ra không xứng với tầm của họ. Các cây bút này nắm lấy cơ hội trả đũa những người làm khó dễ cho họ trước kia.
Cuối cùng, Gorbachev công khai gạt bỏ các phần tử này khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào tháng 4/1989 khi đồng loạt 74 ủy viên chính thức từ chức và 24 ủy viên dự khuyết xin rút. Theo ước tính của Gorbachev, trong số 303 ủy viên chính thức được bầu tại Đại hội Đảng lần thứ 27 thì có 84 người đã ở độ tuổi nghỉ hưu, như vậy chỉ còn 27 người trong số 157 người ra ứng cử. Do vậy ông đi đến quyết định gạt toàn bộ những người này khỏi Ban Chấp hành Trung ương. Người nào nghỉ hưu sẽ được hưởng chế độ ưu đãi về lương, nhà ở, dịch vụ chăm sóc y tế và nhiều chế độ khác, tuy nhiên một vài chế độ ưu đãi đã không thể thực hiện được.
Trong số đó có những cây đại thụ chính trị phải ra đi có Andrei Gromyko, Nikolai Tikhonov và Boris Ponomarev. Trong số những người được chuyển từ ủy viên dự khuyết lên ủy viên chính thức có nhà khoa học Evgeny Velikhov và Valentin Stalin − lãnh đạo Ban Quốc tế thuộc Ban Bí thư. Tuy vậy, như một phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương thông thường, không có ủy viên mới được bầu. Phải đợi đến kỳ họp Đại hội Đảng sau. Không chỉ có một đội hình khao khát thực hiện perestroika đang đứng sau cánh gà. Gorbachev buồn rầu khi đi đến kết luận rằng cuộc bầu cử trong Đảng mang tính cạnh tranh đơn giản chỉ tạo ra một hình thức bầu cử mới chứ không làm thay đổi bản chất sự việc. Thậm chí nhiều cuộc bầu cử diễn ra sau này, kết quả vẫn thế mà thôi: chỉ là bầu cử hình thức. Họ đều ăn mặc chỉnh tề, cùng chung một lý tưởng chủ nghĩa Stalinist và với tư tưởng đó, họ được đào tạo để thi hành mệnh lệnh chứ không được đào tạo để phát huy sáng kiến và chịu trách nhiệm trước dân chúng.
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN VÀ XÔ VIẾT TỐI CAO
Các cuộc bầu cử vào Đại hội Đại biểu Nhân dân diễn ra ngày 26/3/1989, đây là một bước ngoặt chính trị. Những người Bolshevik lần đầu tiên tổ chức một cuộc bầu cử tranh cử trên toàn quốc. Khái niệm Đại hội làm cho người ta nhớ lại những năm đầu của cách mạng. Có 2.250 đại biểu trong Đại hội Đại biểu Nhân dân, trong đó 750 đại biểu đại diện cho các tổ chức xã hội, 750 người đại biểu cho cử tri các vùng, lãnh thổ và 750 đại diện cho các dân tộc trên toàn Liên bang. Như vậy, một phần ba đại biểu không được bầu trực tiếp. Trong số các tổ chức xã hội, 100 ghế dành riêng cho Đảng, một số ghế được dành cho Viện Hàn lâm Khoa học, Hội Điện ảnh và các tổ chức đại loại như vậy. Gorbachev quyết định để lại 100 người trong danh sách của Đảng. Ông lo ngại nếu danh sánh là 200 người, mà người nào cũng có tư tưởng cấp tiến, bao gồm cả ông, thì sẽ là một thất bại.
Đại hội tiến hành bầu ra một Xô viết Tối cao mới, gồm hai viện là Xô viết Liên bang và Xô viết các dân tộc, mỗi viện có 271 đại biểu nhân dân. Đây là hình thức lặp lại Xô viết Tối cao trước đây nhưng khác ở chỗ bầu cử trực tiếp. Điều thú vị là số đại biểu của hai viện này là vừa bằng số nghị sĩ của Thượng và Hạ viện Mỹ.
Bộ máy Đảng tin là có thể điều hành việc bổ nhiệm theo cách này để đảm bảo nền dân chủ giả hiệu. Đảng tin chắc là các đại biểu nam hay nữ của Đảng sẽ thắng cử. Tất cả những người có quan điểm độc lập hoặc không chính thống đều bị loại. Người bị loại số một là Boris Yeltsin. Yeltsin đã rất thận trọng khi ứng cử trong khu vực cử tri ở vùng nông thôn tỉnh Sverdlovsk, sân nhà của mình. Ông đã không thông báo trước với Đảng ủy mà xuất hiện bất ngờ. Tuy nhiên, mục tiêu của ông là giành một vị trí cao hơn. Ông muốn có tên trong phiếu bầu tại khu vực hành chính số một là Moskva. Còn lại 10 ứng cử viên vào ngày 22/2 khi quyết định cuối cùng được đưa ra xem ai có thể được ghi tên trong phiếu bầu. Đảng quyết định những người đó là Yury Brukov − giám đốc nhà máy sản xuất ôtô ZIL và Georgy Grechko − nhà du hành vũ trụ nổi tiếng. Các nhà chức trách cũng bảo đảm họ đã sắp xếp tiến trình bầu cử được truyền hình trực tiếp trên đài truyền hình Moskva. Boris Nikolaevich chắc chắn sẽ có màn thất cử ngoạn mục.
Yeltsin đã bị các đại biểu chỉ trích nặng nề và yêu cầu rút khỏi danh sách ứng cử. Ông đã đáp trả những câu hỏi mang tính thù địch khi bị chất vấn. Tuy vậy, ông cũng biết không ai khác mà chính là Grechko chủ định rút Yeltsin khỏi danh sách ứng cử. Grechko thông báo điều đó với Yeltsin và Yeltsin thuyết phục Grechko giữ kín chuyện này cho đến khi hoàn thành việc kiểm phiếu. Sau đó, ông có thể từ chức, rời khỏi Đảng mà không cần phải đề cử ứng cử viên khác thay thế. Sau 12 giờ, các đại biểu sẵn sàng bỏ phiếu. Người ta đoán Brakov sẽ bỏ phiếu đầu tiên, Grechko thứ hai và bỏ ngoài tai sự phản đối, Yeltsin vẫn là người thứ ba. Ngay sau đó Grechko phản ứng mạnh mẽ bằng cách tuyên bố mình sẽ rút lui. Đảng lại rơi vào tình thế khó xử. Nếu chấp nhận Yeltsin có nghĩa là chấp nhận một thất bại đau đớn, nếu Đảng tuyên bố bổ nhiệm ứng cử viên khác vào để lấp chỗ trống, thì điều đó sẽ biến tiến trình bầu cử, ứng cử trở thành một trò cười. Đảng buộc phải chấp nhận và để Yeltsin lại trong danh sách ứng cử.
Ngày 26/3, kết quả kiểm phiếu cho thấy Yeltsin giành được tỷ lệ bầu khá cao – 89,4% số phiếu, trong khi Brakov có một kết quả đáng thất vọng là 6,9%. Gorbachev đạo diễn màn kịch này nhằm loại bỏ Boris Nikolaevich nhưng quan trọng là ông đã không phá được kết quả bầu cử. Thắng lợi khá cao này chứng tỏ quá trình kiểm phiếu diễn ra công bằng và điều đó thể hiện sự thắng thế của nền dân chủ sơ khai. Người chiến sĩ của nhân dân đã quay trở lại trên sân khấu chính trị quốc gia. Mối quan tâm của công chúng đối với đời sống chính trị rất cao thể hiện ở tỷ lệ phiếu bầu 89,8%.
Có những thất bại khác cho những người cảm tình Đảng. Thất bại to lớn nhất là thất bại của Bí thư thứ nhất Thành ủy Leningrad, Yury Solovev, ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị. Ông này chắc đến mười mươi vì chỉ có mỗi tên ông trong danh sách ứng cử. Ông chắc chắn không thể thất cử. Theo luật, để chiến thắng trong vòng đầu tiên, ứng cử viên phải dành được ít nhất 50% số phiếu bầu cộng một phiếu. Theo luật bầu cử Nga, một người có thể không bầu cho một ứng cử viên hoặc không bầu cho tất cả ứng cử viên bằng cách gạch toàn bộ tên họ trong danh sách. Solovev không chỉ thất cử mà còn phải từ chức lãnh đạo Đảng ở thành phố Leningrad. Nguyên tắc này được Đảng chấp thuận, họ vô tình không nhận ra là nguyên tắc đó đã trở thành hiện thực. Theo một nhà quan sát, người có tài năng cũng thất cử ngay cả khi không vấp phải sự chống đối nào, nhưng tài năng này sẽ là nguồn cán bộ cho đội ngũ lãnh đạo cao cấp của Đảng.
Những người cấp tiến đã thắng lợi ở Moskva và Leningrad, trong số ứng cử viên được bầu có những người trở thành ưu tú trong tương lai như Sergei Stankevich − chuyên gia sử học về Mỹ, Anatoly Sobchak − luật sư lành nghề và sau này là thị trưởng Leningrad, nhà sử học Yury Afanasev và Nikolai Shmelev − nhà phê bình kinh tế. Oleg Bogomolov, một nhà cải cách kinh tế tài ba cũng thắng cử ở Moskva, dù Đảng đã áp dụng các tiểu xảo nhằm loại bỏ ông. Sau đó ông phát biểu một cách châm biếm: “Tôi không có ý kiến gì, đây là lợi thế chống lại Đảng”. Andrei Sakharov và Roald Sagdeev, nhà nghiên cứu vũ trụ nổi tiếng, được bầu là những đại biểu của đoàn Viện Hàn lâm Khoa học. Lần đầu tiên, Ủy ban Đảng của Viện Hàn lâm đưa các vị gạo cội vào danh sách. Điều này gây chấn động như là buộc phải chấp nhận các ứng cử viên mà các viện sĩ đề nghị. Hiệp hội Điện ảnh, nổi tiếng là tổ chức theo chủ nghĩa cấp tiến, dự đoán sẽ có một ứng cử viên thân cải cách. Gavriil Popov, tổng biên tập tờ báo kinh tế hàng đầu Voprosy Ekonomiki (Các vấn đề kinh tế), có quan điểm nghiêng về cơ chế thị trường, và nhà xã hội học nổi tiếng Tatyana Zaslavskaya, cũng được dự đoán trong danh sách ứng cử đại diện cho các tổ chức xã hội. Galina Starovoitara, một phụ nữ giành chiến thắng trực tiếp trong các cuộc bầu cử ở Evevan, Cộng hòa Armenia, chuyên gia hàng đầu về các vấn đề dân tộc và sau này trở thành nhà lãnh đạo phong trào Nước Nga Dân chủ. Khác là phụ nữ không có khả năng đảm đương công việc, Đại hội Đại biểu Nhân dân đa phần dựa vào phái mày râu nhiều hơn cơ quan Xô viết Tối cao cũ. Sự việc này dẫn đến một cuộc tranh cãi liên miên trong lịch sử Xô viết.
Liệu Đảng thắng hay thua trong cuộc bầu cử này? Gorbachev quả quyết Đảng giành thắng lợi vì có tới 87% đại biểu được bầu là người cộng sản. Ryzhkov phản đối đánh giá này, chỉ ra rằng 30 quan chức lãnh đạo Đảng các địa phương quan trọng đã bị đánh bại và nhiều đảng viên giành thắng lợi bất chấp Đảng đã tiến hành chiến dịch ủng hộ những nhân vật có quyền uy hơn. Điều đáng nói, Đảng không làm tròn trách nhiệm của mình ở các thành phố công nghiệp hàng đầu và ở các trung tâm văn hóa xã hội. Đây là một điềm xấu đối với Đảng. Lời cảnh báo rõ ràng là: nếu Đảng không tham gia chính sách perestroika và bản thân công cuộc cải cách không bắt kịp với xu thế thay đổi của xã hội, thì sẽ không còn là một Đảng tiên phong nữa và phải cố gắng không để tuột mất quyền lãnh đạo. Lần đầu tiên, kể từ những năm 1920 1921, nền chính trị trở lại phù hợp luật định. Đảng bây giờ phải tranh đấu với những phe phái khác để giành được sự ủng hộ của công chúng. Những người Bolshevik giành thắng lợi năm 1917 là do họ cấp tiến hơn đối thủ của mình. Nguy cơ hiện nay là những người khác sẽ giành được sự ủng hộ của nhân dân bởi họ cấp tiến hơn Đảng.
Gorbachev tham gia Đại hội Đại biểu Nhân dân để lấy lại quyền lãnh đạo Đảng. Trong suốt bài phát biểu trên cương vị chủ tịch hoặc diễn giả, ông nói: “Tôi biết mọi việc. Thậm chí tôi còn biết nhiều hơn các đồng chí.” Ông đã nhắc đến một số nguyên tắc. “Cải cách vẫn đang tiến về phía trước… tiến trình cải cách chính trị cũng đang ở phía trước… đã đến lúc cần phải đoàn kết vì những lợi ích tối cao.” Về các dân tộc, ông đã nghiêm khắc cảnh báo: “Nếu chúng ta bắt đầu tách mình với các dân tộc khác… nếu chúng ta lại vẽ lại đường biên giới, tôi chắc chúng ta sẽ phải chịu thảm họa.” Vấn đề Nagorno-Karabakh khiến ông băn khoăn trăn trở. Một số đại biểu tiếp tục tranh cãi với chủ tịch mới. Brazauskas bộc bạch: “Đoàn đại biểu chúng tôi đến Moskva để tham gia Đại hội Đại biểu Nhân dân chứ không phải có ý định thù địch chống lại Moskva hay thậm chí cá nhân Gorbachev”. Tuy vậy, tất cả đều bỏ phiếu cho Gorbachev là chủ tịch.
Thái độ Gorbachev đối với việc bầu chủ tịch Đại hội Đại biểu Nhân dân ngay khi khai mạc Đại hội đã phản ánh ông không có khả năng nắm bắt nền chính trị dân chủ − cần phải thể hiện thái độ cầu thị, sẵn sàng chấp nhận phe đối lập. Andrei Sakharov đề nghị cuộc bỏ phiếu bầu chủ tịch Xô viết Tối cao (đồng thời là người đứng đầu chính quyền) sẽ hoãn lại cho đến khi mọi vấn đề tranh luận được giải quyết thấu đáo, chứ không phải là mục đầu tiên trong chương trình nghị sự. Hiển nhiên Gorbachev sẽ được bầu nhưng ông kêu gọi bỏ phiếu và ngầm nhắc Đại hội điều này − Đại hội bác bỏ đề nghị này. Gorbachev khuyến khích các đảng viên chấp nhận cuộc bầu cử cạnh tranh nhưng ông lại không cho phép bất cứ người nào chống lại mình trên cương vị chủ tịch Đại hội Đại biểu Nhân dân. Gennady Burbulis, sau này trở thành một thành viên sáng giá trong chính phủ Yeltsin, đã đề cử Yeltsin nhưng ông ta từ chối. Aleksandr Obolensky, kỹ sư vùng Murmansk, quan tâm tới chức danh chủ tịch Đại hội Đại biểu Nhân dân đã tự đề cử. Các đại biểu tiến hành bỏ phiếu như Gorbachev mong muốn nhưng khoảng một phần ba bầu cho Obolensky. Mikhail Sergeevich mất cơ hội trở thành một chính trị gia dân chủ và ông nhắc lại việc mình nghiêng về quan điểm bầu cử cạnh tranh, tên của Obolensky được thêm vào danh sách ứng cử, khi đi đến quyết định, Gorbachev nhận được 95,6% phiếu bầu và chỉ có 87 phiếu chống. Theo dõi sát sao cuộc bỏ phiếu này, vị đại sứ Mỹ kết luận Mikhail Sergeevich là một tay chơi cờ kém.
Nếu ông để lộ quyết định sai lầm ở đây, ông chỉ là một người giỏi trong các cuộc đàm phán sau cánh gà ở Đại hội. Ông là người có khả năng thương lượng. Tuy vậy, khả năng này cũng không thể bảo vệ ông thoát khỏi sự chỉ trích của đồng sự. Trong nhiều ngày (Đại hội Đại biểu Nhân dân diễn ra từ 25/5 đến 9/6) ông trở thành tâm điểm của những chỉ trích mạnh mẽ từ các đoàn đại biểu, nhiều người trong số họ là người cộng sản bảo thủ, còn dân chúng đặt dấu chấm hỏi đối với các chương trình chiếu trên truyền hình buổi tối và đầu giờ sáng. Những người cộng sản bảo thủ phản đối việc bầu Sakharov và các nhà cấp tiến cũng thể hiện quan điểm, sự phê bình của họ lại không bị tuyệt đối bác bỏ. Phe cấp tiến cho rằng họ không đủ thời gian. Mikhail Sergeevich bị rơi vào giữa hai làn đạn và chắc chắn sẽ mất những gì ông đã quyết định. Một đại biểu lên tiếng chất vấn có thật là ông có một biệt thự ở Crime xây bằng tiền nhà nước hay không. Nhiều người trong số họ cũng cho rằng Gorbachev không nên đồng thời vừa là Chủ tịch Đại hội Đại biểu Nhân dân vừa là Tổng Bí thư Đảng.
Một vấn đề nhạy cảm trong Đại hội Đại biểu Nhân dân là vấn đề dân tộc đang hết sức căng thẳng và phức tạp, liên quan đến vụ thảm sát đám biểu tình không trang bị vũ khí ở Tbilisi, Gruzia ngày 9/4/1989. Sakharov chỉ trích trách nhiệm thuộc về Quân đội Xô viết, do Tướng Igor Rodionov chỉ huy (Bộ trưởng Quốc phòng Nga từ tháng 7/1996 đến 5/1997). Vì sự kiện này, ông đã bị nhiều đại biểu chỉ trích, họ là những người coi tấn công vào quân đội như để chứng tỏ sức mạnh của mình. Những người khác muốn biết ai ở Moskva ra lệnh tấn công Tbilisi (lúc đó Gorbachev không có mặt). Gorbachev có trách nhiệm phải giải thích rõ vụ việc này. Tiếng tăm và uy tín của Gorbachev nổi lên rất cao vào cuối năm 1988. Trong một cuộc trưng cầu ý kiến về các chính trị gia hàng đầu, ông nhận được 55% sự ủng hộ, trong khi đó Yeltsin chỉ nhận được 4%. Tuy nhiên, tỷ lệ ủng hộ bắt đầu trượt giảm vào năm 1989 khi sự chỉ trích và phê bình ngày càng dội lên. Không ai có quyền chỉ trích hay phê bình Tổng Bí thư. Cho đến năm 1989, ông mới chứng tỏ là một nhà lãnh đạo mạnh mẽ tự tin, nhưng giờ đây ông lại thấy mình ở thế yếu.
Các cuộc bầu cử vào Xô viết Tối cao mới đã diễn ra trong Đại hội Đại biểu Nhân dân và được triệu tập khi Đại hội Đại biểu Nhân dân đề ra những quyết sách cuối cùng. Trong khi đại biểu Đại hội có thể kiêm nhiệm, thì các đại biểu Xô viết Tối cao phải là các chính trị gia chuyên nghiệp, tham dự toàn bộ các cuộc họp của Xô viết Tối cao khoảng 40 tuần một năm. Do cơ chế của Đại hội, chắc chắn những người cấp tiến có thể hoàn thành nhiệm vụ suốt cả nhiệm kỳ. Nga được chấp nhận có 11 thành viên trong Cơ quan Xô viết về vấn đề dân tộc. Yeltsin là số 12 trong danh sách này. Đại hội phản đối số đại biểu lớn nhất ở Nga. Aleksei Kazanik, một luật sư từ vùng Omsk, thoát khỏi tình huống này là người thứ 11 và kế tiếp danh sách sau ông là Boris Nikolaevich, đã phát biểu ông không thể đối mặt với các cử tri nếu rốt cuộc ông lại là người chịu trách nhiệm về việc loại bỏ Yeltsin. Gorbachev, là luật sư nhưng đã quên hầu hết kiến thức về luật, ông đã hỏi ý kiến luật sư Lukyanov và không tìm thấy điều gì trong sách luật để ngăn chặn việc này. Gorbachev đã chủ tọa các phiên họp đầu tiên của Xô viết Tối cao, nhưng sau đó do áp lực công việc, chức này được giao cho Anatoly Lukyanov, người mà ông bổ nhiệm vào vị trí phó chủ tịch.
Theo quy định của Hiến pháp, Thủ tướng Ryzhkov phải đệ trình danh sách đề cử của các bộ trưởng trước Xô viết Tối cao để được xác nhận. Các đại biểu có quyền thoải mái bác bỏ danh sách đề cử. Các bộ trưởng có tiếng tăm có thể bị tấn công bằng lời nói và bị gạt ra ngoài.
Chính phủ mới bày tỏ niềm tin là không có khủng hoảng trong tương lai. Nó là sự kết hợp các lợi ích kinh tế (tổ hợp công nghiệp-quốc phòng, nhiên liệu, năng lượng và nhóm vận động nông nghiệp), các nhà chức trách có đầu óc cải cách (như Valentin Pavlov, người sau này kế nhiệm chức thủ tướng trong chính quyền Gorbachev) cùng các nhà cải cách kinh tế (như Leonid Abalkin). Sự cân bằng quyền lực trong chính phủ thể hiện không có dấu hiệu tiến tới cải cách cấp tiến. Nó vẫn đang trong quá trình tìm kiếm nhằm cải thiện cơ chế kinh tế mà thôi. Khái niệm thị trường được hiểu là thị trường có kế hoạch và có điều tiết. Cải cách theo hướng sinh lợi, từng bước một. Trong một môi trường chính trị ổn định, cải cách như vậy là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, đất nước này đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng hệ thống, trong đó các cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội có nguy cơ bùng phát cùng một lúc. Chính phủ không có khả năng ứng phó với tình hình như vậy. Đã qua rồi thời mà chính phủ có thể làm mưa làm gió. Điều đó còn ảnh hưởng tới Đảng trên phạm vi rộng lớn hơn. Với tâm lý do dự, Đảng đẩy gánh nặng lên vai chính quyền mới, còn chính quyền mới lại đang trong giai đoạn điều chỉnh ban đầu.
Trong các cuộc bầu cử Đại hội, phe cấp tiến đảm nhiệm tốt vai trò và nhiệm vụ của mình ở Moskva, Leningrad, Sverdlovsk (nay là Ekaterinburg, quê hương của Yeltsin), vùng Cavcaz và các nước cộng hòa Baltic. Làm sao họ duy trì được cái đà này? Nhà lãnh đạo vẫn là Yeltsin. Ông không thuộc tầng lớp trí thức nhưng lại rất nổi tiếng ở Moskva.
Các nhà trí thức đã gạt bỏ nghi ngờ về khả năng cải cách của Boris Nikolaevich và bắt đầu lập ra một nhóm ủng hộ cải cách trong Đại hội Đại biểu Nhân dân. Là Bộ trưởng, Yeltsin được phân một căn hộ cao cấp tại Khách sạn Moskva, chỉ cách Quảng trường Đỏ một quãng ngắn. Phần lớn các đại biểu không phải là đại biểu Moskva đều ở đây. Nơi ở của Yeltsin tự nhiên trở thành nơi họp để thảo ra các kiến nghị và thảo luận các sách lược. Hầu hết họ là đảng viên cộng sản và trong tình trạng bị cấm thành lập phe phái. Liệu họ có lập ra một đảng đối lập với Đảng cầm quyền không? Không bao giờ, vì phản ứng thông thường của người Nga sẽ là: “Thêm một đảng nữa ư? Xin Chúa tha cho, một đảng còn chưa đủ hay sao?
Ngày 19/7, Yeltsin thông báo với Xô viết Tối cao về việc thành lập một cơ quan điều phối nhằm tổ chức các nhóm đại biểu liên vùng và đại hội thành lập này diễn ra vào cuối tháng 7. Nhóm này tuyên bố mục đích hoạt động là đẩy mạnh perestroika . Vì là nhóm thiểu số, có thể nó sẽ trở thành nhóm chống đối và đề xuất định chế khác. Sự việc này cho thấy các đại biểu đã phá vỡ những quy định cấm họ chính thức thành lập phe đối lập. Nhóm ủng hộ perestroika công khai đầu tiên được thành lập.
Nhóm thiểu số này có sức nặng ra sao trong nền chính trị của Liên bang Xô viết? Họ đã thông qua những sách lược tạo nên thành công ở nhiều nơi khác – như hình thức biểu tình chẳng hạn. Họ tiến hành tổ chức các cuộc biểu tình ở Moskva và nhiều nơi khác mà họ nắm được tâm tư, nguyện vọng của công chúng và cho phát trực tiếp trên truyền hình. Điều này đã phản bác lời phê phán của phe bảo thủ, rằng các đề nghị của phe cấp tiến ít được dân chúng ủng hộ. Các thành viên trong nhóm đại biểu Liên khu vực không coi mình thuộc phe chống đối Gorbachev, mà chỉ là một lực lượng trợ giúp ông đưa perestroika tiến xa hơn nữa. Khi tiếp đại sứ Mỹ, Yeltsin bày tỏ hài lòng với điều họ đã đạt được. Họ đã đi được khoảng một phần tư chặng đường cải cách. Ông không bình luận gièm pha Mikhail Sergeevich, nhưng lại có những lời nhận xét không mấy thiện chí về Raisa. 5 Vị đại sứ này đánh giá Yeltsin là một người hết lòng ủng hộ Gorbachev, chứ hoàn toàn không có ý tranh chấp quyền lực với ông. Sự kình địch chính trị căng thẳng, ẩn chứa trong sự căm thù cá nhân sau này mới hé lộ.
NHỮNG THAY ĐỔI TRONG NỀN CHÍNH TRỊ
Bản chất cấp tiến của các yêu cầu tại Đại hội Đại biểu Nhân dân và Xô viết Tối cao cùng việc thành lập một số đảng phái và các phong trào đối lập đã làm thay đổi bức tranh chính trị. Lần đầu tiên Mikhail Sergeevich để tuột khỏi tay sự chủ động. Tại phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương tháng 7/1989, ông thừa nhận còn nhiều người cho rằng điều cần thiết chỉ là truyền bá những chân lý già cỗi: chủ nghĩa xã hội, lợi ích của nhân dân, dân chủ, chủ trương công khai và Đảng − người khởi xướng các ý tưởng và là lực lượng tổ chức xã hội. Đảng và công cụ cưỡng ép − cảnh sát và quân đội − có thể vẫn nắm quyền nhưng perestroika từ bên dưới và chủ trương công khai đang dần phá vỡ tính hợp pháp của trật tự hiện hành. Gorbachev cảm nhận sâu sắc được sự suy giảm sức mạnh của Đảng. Làm thế nào để tiến hành chính sách perestroika, nếu không tiến hành dưới sự chỉ đạo của Đảng? Rõ ràng, quyền lực của cá nhân ông cũng giảm theo sự sút giảm sức mạnh của Đảng. Nikolai Ryzhkov cho rằng “mọi thứ ngày càng tồi tệ hơn, ông không còn sáng suốt và do vậy cũng mất đi sức mạnh và quyền lực ngay trên đất nước này”. Ông phải vật lộn đấu tranh với hệ thống mệnh lệnh hành chính và không thể giải quyết trọn vẹn các vấn đề phát sinh. Nội bộ Đảng đang bị chia rẽ. Điều duy nhất níu chân ông là Đại hội Đại biểu Nhân dân, ở đây ông là người phát ngôn và cũng là người lãnh đạo chính quyền. Nền kinh tế kế hoạch đang tan rã nhưng chẳng có gì thay thế. Có tài thoát khỏi những tình huống khó khăn nguy hiểm, ông cũng cần phải giống Houdini, biết cách tránh cơn giông tố đang kéo đến.
Một thiếu sót cơ bản khi soạn thảo những sửa đổi Hiến pháp để phục vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân và Xô viết Tối cao vẫn chưa được nêu rõ. Đó là quên không thấy sự cần thiết phải phân biệt rõ giữa lập pháp và hành pháp, hay nói cách khác, là sự tách biệt các quyền lực. Người ta đã bỏ qua một điều là Đại hội Đại biểu Nhân dân có quyền ban bố các sắc lệnh cho cơ quan hành pháp, chính phủ, nếu hai phần ba đa số đồng thuận. Việc này gây ra hậu quả nghiêm trọng cho chính sách kinh tế, đặc biệt là cuộc chiến kiềm chế lạm phát. Nhược điểm nguy hại này cũng thể hiện trong Đại hội Đại biểu Nhân dân Nga và vì cuộc xung đột giữa hành pháp và lập pháp không thể giải quyết được, đã dẫn đến một loạt sự kiện thảm khốc vào tháng 10/1993.
Trong một chừng mực nào đó, cái mác chủ nghĩa xã hội của Gorbachev đang trở thành cũ rích, có thể lượm lặt từ số người đặt mua những tờ báo nhà nước. Số lượng tờ Pravda , dưới quyền biên tập của Ivan Frolov, thân cận của Gorbachev, giảm từ 9,5 triệu xuống còn 6,5 triệu bản trong thời gian từ đầu năm 1989 và đầu năm 1990. Các cuộc tranh luận cấp tiến nhiều hơn trên tờ Argumenty i Fakty (Bình luận và Sự kiện), nổi tiếng nhờ những bài báo chân thực về tình hình thực tại Liên Xô, với số lượng bán khoảng 33 triệu bản tính đến đầu năm 1990. Một bước ngoặt vào năm 1988 khi Vladislav Starkov, chủ biên, đã thực hiện một cuộc phỏng vấn đại sứ Mỹ. Ông dám đặt một câu hỏi rất nhạy cảm: “Liệu những người Xô viết có đặt máy nghe trộm ở Đại sứ quán Mỹ?” “Có, các ông có đặt và tôi cũng có bằng chứng.” Đây là một phát giác gây chấn động độc giả Nga. Sự nhạy cảm của Gorbachev về sự việc này ngày càng rõ ràng vào tháng 10/1989, khi tờ Argumenty i Fakty tóm tắt kết quả thư độc giả. Điều này cho thấy các đại biểu cấp tiến nhất trong Đại hội Đại biểu Nhân dân phần lớn là những người được yêu mến nhất. Trật tự từ trên xuống dưới là Andrei Sakharov, Gavriil Popov, Boris Yeltsin và Yury Afanasev. Starkov, Ivan Laptev − chủ biên tờ Izvestia , và bản thân Afanasev đã bị Gorbachev trách mắng nghiêm khắc ngày 13/10/1989 và bị kết tội phá hoại ngầm perestroika .
Ngày tiếp theo, Vadim Medvedev, người đảm nhận công việc điểm báo từ Yakolev, đòi Starkov từ chức và giao cho ông công việc biên tập tạp chí World Marxist Review (Chủ nghĩa Marx thế giới) ở Praha hay bản tin Xô viết Tối cao. Starkov đưa vấn đề ra trước ban lãnh đạo và họ đã ủng hộ ông với tỷ lệ 47 phiếu thuận và 2 phiếu chống. Xét theo kinh nghiệm đã qua, lẽ ra Gorbachev đã làm được điều mình muốn. Tuy nhiên, các nhà báo đang chiêm nghiệm xem chủ trương công khai đi đến đâu. Gorbachev liệu có chuyển sang sử dụng cách thức ở giai đoạn đầu perestroika : sa thải Starkov hay giữ ông này lại? Ông đã trở lại. Starkov phản ứng bằng cách lần đầu tiên đăng kết quả bầu cử về thứ tự các chính trị gia trong nước. Gorbachev nhận được 66% sự ủng hộ. Mikhail Sergeevich cho rằng mình đã phạm một sai lầm nghiêm trọng. Ông khiến Starkov, một nhân vật chủ trương ủng hộ perestroika , biến thành kẻ chống đối và vị tổng biên tập này không bao giờ tha thứ cho Mikhail Sergeevich vì đã ra sức loại ông ra chỉ do ông viết sự thật. 6 Sau sự việc này, tổng biên tập ở các tờ báo khác đẩy mạnh chiến dịch công kích ngành luật pháp nhằm bảo vệ tự do báo chí. Sự kiện này dường như là một bước ngoặt đối với Mikhail Sergeevich và báo giới. Mối quan hệ thắm thiết này đã qua.
Các cuộc trưng cầu ý kiến ngày càng phát triển dưới thời perestroika và Trung tâm Nghiên cứu toàn Liên bang chuyên tiến hành nghiên cứu thăm dò dư luận về các vấn đề kinh tế − xã hội được thành lập vào năm 1988. Tatyana Zaslavskaya là giám đốc đầu tiên của trung tâm này. Người dân có thể nói lên quan điểm, ý kiến của mình và đây chính là chủ trương công khai từ bên dưới. Gorbachev tưởng rằng việc này sẽ mang lại tín hiệu tốt nhưng đến năm 1989, sự phản hồi sâu sắc lại chính là tâm trạng bi quan về perestroika . Theo Ogonek , cuối năm 1989 chỉ có một trong tám người tin là perestroika sẽ cải thiện được mức sống của nhân dân trong tương lai gần. Hầu hết ba phần tư thì cho rằng perestroika sẽ chẳng cải thiện được gì nhiều. Các cuộc thăm dò dư luận phơi bày rõ sự phân hóa ngày một tăng trong xã hội Xô viết, đặc biệt là khoảng cách giữa người Nga và các dân tộc khác trong tương lai của Liên bang. Một trong những hậu quả nặng nề nhất của việc phát giác lịch sử thời đại Stalin là quyết định đưa ra năm 1988 nhằm tiêu hủy toàn bộ sách lịch sử hiện có. Các bài thi môn lịch sử bị bãi bỏ trong năm này. Nhiệm vụ bổ sung một số bí mật bị che giấu để có được một cách nhìn tổng thể về giai đoạn trước đã bắt đầu. 7
Từng là một luật sư, Gorbachev đánh giá cao một nhà nước được điều hành bằng pháp luật ( Rechtsstaat ). Nhà nước này sẽ giúp các công chức có trách nhiệm hơn và đấu tranh hiệu quả với nạn tham nhũng. Ông tin cơ quan KGB có khả năng giám sát chuyển biến này vì Andropov đã cải tổ cơ cấu tổ chức cơ quan này rất hiệu quả. Một ủy ban đặc biệt thuộc Đại hội Đại biểu Nhân dân được lập ra để giám sát cơ quan KGB và giới quân sự. Việc các tổ chức này lạm dụng quyền lực đến đâu thể hiện rõ vào giữa năm 1988 khi Bộ Nội vụ (MVD), do Yury Vlasov đứng đầu, tự ý thành lập một đội chống bạo động đàn áp các cuộc biểu tình chính trị. Dự thảo luật hình sự mới xóa bỏ tội phạm đi đày trong nước và giảm các tội phạm có áp dụng bản án tử hình. Một loạt các điều luật răn đe được nêu ra trước cuộc họp Đại hội Đại biểu Nhân dân và Xô viết Tối cao mùa thu năm 1989. Hiến pháp cuối cùng quy định về tự do báo chí, tự do tín ngưỡng và các dự luật về các vấn đề kinh tế, như các hợp tác xã, các tổ chức liên doanh với nước ngoài, việc thành lập các ngân hàng thương mại mới.
CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ
Trước khi Gorbachev trở thành lãnh đạo, ông vô tình không nắm rõ thực trạng ngân sách nhà nước. Giống những người khác, ông tin ngân sách đang thặng dư. Nhưng sự thật lại không phải vậy. Vào giai đoạn cuối của chính quyền Brezhnev, sự thâm hụt ngân sách được khắc phục bằng cách viện đến biện pháp in thêm tiền và sử dụng tiền tiết kiệm của nhân dân, tất nhiên không cho họ biết. Năm 1985, con số thâm hụt là 37 tỷ rúp. Năm 1986, con số này tăng lên 47,9 tỷ, năm 1987 là 57,1 tỷ; năm 1988 là 90,1 tỷ (chiếm 19,1% ngân sách) và năm 1989 là gần 100 tỷ (chiếm 19,5 %). 8 Trên quy mô rộng, việc quản lý kinh tế như vậy cuối cùng được thừa nhận năm 1988. Tại sao lại xảy ra tình hình này? Nguồn thu ngân sách giảm bắt nguồn từ chiến dịch chống rượu mạnh, việc tụt giảm giá dầu trên thế giới và việc giảm sút các mặt hàng tiêu dùng nhập khẩu, các mặt hàng này bán lẻ với giá cao hơn. Chi tiêu ngân sách tăng vì phải tăng trợ cấp, đặc biệt là trợ cấp lương thực (giá nông phẩm tăng nhưng giá bán lẻ lại chỉ tăng năm 1991), những chi phí cao và phát sinh bất thường về việc đền bù giải quyết hậu quả của vụ Chernobyl và động đất ở Armenia tháng 12/1988, dự luật chi tiêu cho quân sự tiếp tục tăng. Nguồn cung cấp tiền tăng (tiền đưa vào lưu thông năm 1987 tăng 7,8%, vào năm 1988 là 13,6% và năm 1989 là 19,5%) tạo ra một thực tế hiển nhiên: tăng lạm phát, khan hiếm hàng hóa và mức sống giảm sút. Thâm hụt ngân sách là chuyện xảy ra như cơm bữa trong các nền kinh tế thị trường phát triển. Mọi vấn đề được giải quyết bằng vay mượn trên các thị trường tiền tệ. Moskva không còn sự lựa chọn nào vì nó không có kiểu thị trường tiền tệ như vậy.
Một bản thông báo do Otto Latsis và Egor Gaida soạn được chuyển tới Bộ Chính trị về vấn đề này vào cuối năm 1988. Bộ Chính trị đưa vấn đề này ra thảo luận vào tháng 12/1988 và lại tiếp tục thảo luận vào đầu năm 1989. Trong ngân sách năm 1989, chi phí văn hóa xã hội gồm khoa học và giáo dục, phúc lợi xã hội, an ninh và y tế đã bị cắt giảm. Tuy nhiên Đại hội Đại biểu Nhân dân phản đối mạnh mẽ sự cắt giảm này, họ cho rằng việc cắt giảm này không thể chấp nhận trong lúc mức sống giảm sút. Trong ngân sách năm 1990, các nhà kế hoạch đã tăng chi tiêu lên trên mức của năm 1988 để bù vào việc cắt giảm năm 1989. Điều này nhấn mạnh đến quyền lực mới của Hội đồng Nhân dân. Trên thực tế, Đại hội Đại biểu Nhân dân phóng đại quá mức vấn đề tiền tệ và tài chính nhưng chỉ có một số ít đại biểu hiểu được vấn đề.
Một trong những đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân hiểu rõ đúng mức tình hình này và nêu lên cái giá về mặt xã hội của công cuộc cải cách là Nikolai Shmelev. Ông đề xuất một số biện pháp ngăn chặn thâm hụt ngân sách và dần dần áp dụng cơ chế thị trường. Phải trả giá cho cải cách là đương nhiên, một trong những hệ quả đó là nợ nước ngoài tăng. Ông là một nhà tiên tri nhưng Đại hội Đại biểu Nhân dân lại là mảnh đất hoang dã. Các đại biểu phản ứng kịch liệt trước các đề nghị của ông. Trong số đó Thủ tướng Nikolai Ryzhkov chỉ trích mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, ông nặng về chỉ trích mà không đưa ra được giải pháp thay thế nào. Đại hội Đại biểu Nhân dân đặt dấu ấn của mình trên mặt trận này. Cho đến nay, câu chuyện viễn tưởng này vẫn được nhắc đến, perestroika biến mọi người thành người chiến thắng. Lần đầu tiên, một quan điểm được đưa ra khá rõ ràng là phải có kẻ thua cuộc và tiến trình cải cách là đau đớn.
Luật Doanh nghiệp Nhà nước (có khoảng 46 nghìn xí nghiệp) đã trao quyền kiểm soát tài chính cho các xí nghiệp. Dưới sự kiểm soát của trung ương, mức lương tăng mạnh và người quản lý đã dồn hết tâm lực để tìm nguồn lương cho nhân công. Quỹ đầu tư cho xí nghiệp đều được kiểm soát gắt gao. Tình hình này càng trầm trọng do sự miễn cưỡng của giới lãnh đạo chấp nhận cải cách giá cả. Xí nghiệp tăng giá các mặt hàng, sử dụng một phần nguồn thu này trả lương cho nhân công và thậm chí còn để triển khai dự án xây dựng mới. Người ta tính toán là nhà nước lại phải cấp vốn tiếp cho dự án.
Theo tính toán của Egor Gaidar, trung ương phong tỏa 24 nghìn dự án đầu tư năm 1989, nhưng cùng thời gian đó, đã triển khai 146 nghìn dự án mới. Phải đảo ngược trật tự mong muốn, trung ương chỉ tập trung đầu tư vào các dự án khả thi. Không có cải cách giá cả cân bằng cung và cầu thì nền kinh tế thị trường không thể hình thành. Đồng thời, khả năng trung ương can thiệp vào nền kinh tế giảm sút vì các cơ chế điều hành dần bị tháo gỡ. Nền kinh tế vẫn còn hoạt động trong năm 1988 và 1989, tựa như theo quán tính, nhưng con tàu kinh tế chạy tiếp là nhờ vào các bộ giảm sóc.
Công nhân nhanh chóng nắm bắt điểm cốt yếu của việc dân chủ hóa. Dân chủ hóa cho phép họ có quyền tổ chức, đình công và cải thiện địa vị trong bộ máy quản lý và nhà nước. Theo số liệu chính thức nền kinh tế Xô viết, năm 1989 mất 7,3 triệu ngày công do công nhân biểu tình − phần lớn tham gia các cuộc biểu tình là công nhân mỏ, và bạo loạn dân tộc ở vùng Gruzia, Armenia và Azerbaijan. Năm 1990, số ngày công bị mất tăng 2,5 lần. Các cuộc bãi công lớn đầu tiên dưới thời kỳ perestroika (có một cuộc tổng bãi công ở Armenia vào năm 1988 nhưng nó mang tính chính trị, phản đối tình hình ở Nagorno-Karabakh) là cuộc biểu tình của công nhân mỏ vào mùa hè năm 1989. Họ bắt đầu bằng các cuộc bãi công kinh tế, phản đối mức lương và mức sống thấp, điều kiện sống nghèo nàn, điều kiện sinh hoạt kém, thiếu các phương tiện chăm sóc sức khỏe và nhiều vấn đề khác. Những đòi hỏi của họ không được chính quyền địa phương hay bất cứ một tổ chức công đoàn nào đứng ra giải quyết. Chỉ có chính quyền trung ương mới có thể giải quyết cho họ.
Luật Xí nghiệp Quốc doanh cho phép các xí nghiệp điều chỉnh quỹ lương. Họ có quyền tự quản và tự hạch toán. Việc này khiến công nhân muốn nhận được nhiều lợi ích hơn. Do thiếu nhân công, xí nghiệp không thể thải những người đình công để thay thế bằng các công nhân biết nhún nhường hơn. Cuộc đình công tháng 7/1989 đã tác động không nhỏ đến bốn hoặc năm vùng khai thác mỏ chủ yếu, liên quan đến 400 nghìn thợ mỏ và kéo dài trong hai tuần. Một tổ chức công đoàn độc lập Liên hiệp Công nhân mỏ độc lập đã lên tiếng, nhưng không giống như các tổ chức tiền nhiệm, tổ chức này không bị đàn áp thô bạo. Bắt đầu ở Kuzbass, miền Tây Seberia, sau đó lan rộng hơn. M. I. Shchadov, Bộ trưởng Công nghiệp Than đã đến thương lượng. Các thợ mỏ yêu cầu Gorbachev và Ryzhkov tham dự cuộc thương lượng này. Slyunkov được cử đến làm đại diện. Những người đình công lúc đó đòi bổ sung những yêu sách về chính trị: chuyển giao quyền lực cho Xô viết, bầu cử các chủ tịch Xô viết Tối cao và các Xô viết địa phương trực tiếp và bầu kín, bỏ Điều 6 trong Hiến pháp bảo đảm Đảng là một tổ chức quyền lực tối cao duy nhất, bãi bỏ các đặc quyền của các quan chức và soạn thảo một hiến pháp Liên bang mới.
Họ cũng yêu cầu mỗi khu mỏ là một pháp nhân kinh tế tự do và được phép bán sản phẩm của mình ra thị trường. Chính phủ chấp nhận ký vào thỏa ước dài gần 400 đoạn mục. Việc Ryzhkov ký vào thỏa ước được truyền hình trực tiếp vì thợ mỏ không tin chính quyền giữ lời. Việc này khiến Ryzhkov nghĩ đến sự sa sút thảm hại quyền lực của Đảng. Ông lo ngại điều này không thể đảo ngược. Tranh cãi vấn đề này, ông đề xuất Ban Bí thư và Bộ Chính trị cần được cải cách và phần công việc của Gorbachev nên giao bớt cho người khác, vì như vậy Gorbachev mới có thể tập trung vào việc tái cơ cấu Đảng. Những người thợ mỏ cho biết chính quyền đã suy yếu và không có tác dụng. Các cuộc đình công lại là hợp pháp theo quy định của luật mới ban hành ngày 9/10/1989. Tình hình này không xảy ra trong các ngành công nghiệp dịch vụ, đường sắt, vận tải, viễn thông, năng lượng và quốc phòng. Nhưng luật này được áp dụng đến đâu? Một khó khăn mới đối với chính quyền là niềm tin ngây thơ của công nhân vào việc họ sẽ được lợi khi chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường.
Vấn đề chính đối với giới lãnh đạo là làm sao tận dụng hiệu quả nhân tố con người. Năm 1987, Gavriil Popov, đồng chủ tịch nhóm đại biểu nhân dân liên khu vực và sau này là thị trưởng Moskva, đã nói rõ là “tính tiên phong chính trị của một số người đi liền với tính thụ động của những kẻ lạc hậu” và ông chỉ trích những kẻ chỉ biết ăn sẵn, đợi người khác thực hiện perestroika . Ông cũng lập luận chống lại perestroika không hàm ý là sự trợ cấp. Nhà tâm lý học Igor Kon đã nêu ra vấn đề trì trệ trong xã hội. Ông coi nhiệm vụ hàng đầu là loại bỏ hình ảnh nổi bật, lý tưởng hóa một vĩ nhân mới của Xô viết và tập trung giải quyết trì trệ trong xã hội. Ông cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này chính trong bản chất chống cá nhân hóa trong đời sống công chúng Xô viết và không đề cao cá nhân. Hiện tượng như vậy thường kèm với các cảm giác về sự bất lực của cá nhân và mặc cảm trước xã hội, chính những nhân tố này làm cho tính cách con người trở thành thụ động. Thụ động, tầm thường và chán ngán là những từ khắc họa cho chính quyền Xô viết, để trả giá cho sáng kiến và xí nghiệp, chất lượng là những thứ cần phải có trong perestroika .
Kon phê phán hệ thống giáo dục Xô viết, nền giáo dục chỉ tập trung vào việc truyền đạt thông tin thụ động cho sinh viên. Ông coi vấn đề chủ chốt của perestroika là làm sao để người ta phải cảm thấy mình có trách nhiệm xã hội. Cách duy nhất để thúc đẩy vấn đề này là tăng cường dân chủ và tự quản. Ông nhận thấy bốn hội chứng: hội chứng tuổi thanh niên (thanh niên thể hiện sự tối đa luận và không khoan dung cũng thấy có ở người trưởng thành), triệu chứng độc đoán, hội chứng đố kỵ và hiện tượng học thụ động. Một nhà tâm lý học khác, A. I. Kitov, tìm ra bốn nguyên nhân khiến người ta phản đối perestroika : tư duy trì trệ, chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ và tư duy phòng thủ. Người dân thường đơn giản đổ hết mọi tội lỗi lên đầu Gorbachev. Họ còn sáng tác một bài hát ngắn có nội dung như sau:
Giá xúc xích tăng gấp đôi
Biết mua vodka nơi nào?
Chỉ còn cách ngồi ở nhà
Xem Gorby ề à phát biểu.
Một lời bình luận cay độc khác là “Bạn dịch perestroika sang tiếng Anh thế nào?” “Quá dễ. Khoa học viễn tưởng!” Trong một bộ phim hoạt hình chiếu cảnh một giám đốc xí nghiệp đọc bức điện gửi về Moskva: “Chúng tôi đã triển khai rất thành công perestroika . Hãy chờ hướng dẫn tiếp.”
CÁC DÂN TỘC
Cuộc xung đột đẫm máu nhất diễn ra dưới thời kỳ perestroika là ở miền nam Cavcaz và liên quan đến tín đồ Thiên Chúa giáo vùng Armenia và tín đồ Hồi giáo Azerbaijan. Nó kéo dài trong nhiều năm mà không có cách giải quyết. Armenia cho rằng Nagorno-Karabakh là một bộ phận lãnh thổ của mình bị biến thành của Azerbaijan dưới thời Stalin năm 1923. Một vùng đệm khác, Nakhichevan, cũng bị biến thành lãnh thổ của Azerbaijan. Qua nhiều năm, ở Nakhichevan đa phần là người Azeris sinh sống. Đến những năm 1980, ở vùng Nagorno-Karabakh, 85% cư dân ở đây là người Armenia. Vùng này bị tách khỏi Armenia bằng một dải lãnh thổ nhỏ. Nhiều năm trôi qua, Armenia khiếu nại lên Moskva về tình hình này nhưng không được trả lời. Chủ trương công khai cho phép người dân Armenia có cơ hội bày tỏ khát vọng của mình và suốt mùa đông năm 1987-1988, nhiều cuộc biểu tình lớn được tổ chức ở Armenia và Nagorno-Karabakh đòi trả lại Nagorno-Karabakh cho Armenia.
Người dân Armenia ở Nagorno-Karabakh cử nhiều đoàn đại biểu tới Moskva ba lần trong suốt mùa đông để bày tỏ nguyện vọng của mình. Không may cho Gorbachev, họ lại có ấn tượng là đòi hỏi của họ được chấp nhận. Sở dĩ có sự hiểu lầm này là do lỗi của Abel Aganbegyan, một người Armenia và là nhà cải cách kinh tế hàng đầu ở Moskva. Tháng 2/1988, Xô viết vùng Nagorno-Karabakh bỏ phiếu về yêu cầu sáp nhập vào Armenia. Xô viết Tối cao ở Moskva phản đối cuộc bỏ phiếu này và các đảng cộng sản ở Azerbaijan và Armenia được chỉ thị lập lại trật tự ở đây. Bộ Chính trị cử Ligachev và Razumovsky tới Baku, còn Yakovlev và Dolgikh tới Erevan làm sáng tỏ vấn đề. Người Armenia không chịu từ bỏ đề nghị của họ nhưng lại có cảm tưởng rằng Gorbachev nghiêng về phía Azerbaijan hơn. Người Azeris tin ông sẽ đứng về phía họ. Các cuộc biểu tình vẫn tiếp tục diễn ra ở Nagorno-Karabakh và Armenia, Moskva không lường hết mức độ nghiêm trọng của tình hình này.
Khi lời đồn đại lan rộng rằng người Azeris bị người Armenia giết hại, người Azeris đã tấn công người Armenia tại thị trấn Sumgait của người Azerbaijan ngày 27/2. Khi vụ bạo động được dẹp yên, có 26 người Armenia và sáu người Azeris thiệt mạng. Lo ngại sẽ có nhiều cuộc tấn công nữa, người Armenia ở Azerbaijan bắt đầu rời đi và dẫn tới việc chính quyền Armenia phải áp dụng hành động cụ thể buộc người Azeris trở lại Azerbaijan. Các nhà lãnh đạo Đảng ở hai nước cộng hòa này bị thay vào ngày 21/5 và Moskva không nhận sai lầm là đã bổ nhiệm người Nga để đảm nhiệm chức vụ này ở đây. Người được lựa chọn là Abdulrakhman Vezirov ở Azerbaijan, và Suren Arutyunyan (Harutiunian tiếng Armenia) ở Armenia, là những người đứng ngoài không có mối liên hệ trực tiếp nào với các tổ chức Đảng trong hai nước cộng hòa này. Gorbachev bắt đầu nhìn nhận cuộc xung đột này như một quả mìn nổ chậm khi thực hiện perestroika. Trong cuộc họp Bộ Chính trị vào tháng 6/1988, ông phát biểu rằng ”một số người ở chức vụ cao trong hai nước cộng hòa này đang thổi bùng lên ngọn lửa và châm ngòi cho bạo lực”. 9
Ngày 15/6/1988, Xô viết Tối cao Armenia bỏ phiếu về việc sáp nhập Nagorno-Karabakh. Tháng 7/1988, sân bay ở Erevan bị phong tỏa, Xô viết vùng Nagorno-Karabakh thông qua một nghị quyết nữa là rút quân đội khỏi Azerbaijan, và ở Baku, Xô viết Tối cao tuyên bố nghị quyết này không có hiệu lực. Bộ Chính trị đã tư vấn cho Gorbachev ra sao? Gromyko, khi gặp vấn đề như vậy, lúc nào cũng chỉ kiến nghị mỗi một điều: “Quân đội phải giám sát các đường phố và trật tự phải được lặp lại ngay lập tức.” Yakovlev đề nghị đặt Nagorno-Karabakh dưới sự kiểm soát của Moskva. Shevardnadze cho rằng nên công nhận Nagorno-Karabakh là một nước cộng hòa tự trị. Ligachev phản đối và cho rằng “Chúng ta phải cho quân đội tiến vào khu vực này, dỡ bỏ các nhà máy, giải tán các tổ chức Đảng và ủy ban điều hành Xô viết và lập lại trật tự ở đây”. Không còn nghi ngờ gì, Gorbachev rất lúng túng trước nhiều ý kiến nêu ra. Vấn đề này đã gây chia rẽ sâu sắc trong Bộ Chính trị. Điều quan trọng là một số ủy viên cấp cao của Bộ Chính trị vẫn ủng hộ chủ trương sử dụng vũ lực, bất chấp việc Gorbachev lặp đi lặp lại rất nhiều lần rằng vũ lực không phải là cách duy nhất để giải quyết các vấn đề nội bộ.
Một ủy ban đặc biệt được lập ra trong khuôn khổ Xô viết các dân tộc ở Moskva và ủy ban này nhận sự chỉ đạo trực tiếp từ trung ương. Tháng 7, Arkady Volsky được cử đến Nagorno-Karabakh như một đặc phái viên nhưng ông cũng không làm nên điều thần kỳ. Tháng 12, Gorbachev gặp gỡ các đại biểu từ Azerbaijan và Armenia. Ông nói thẳng với họ sự thật: “Chúng ta đang ở bên bờ vực thảm họa.”
Tháng 12/1988, với lời chúc tốt đẹp của Moskva, Andrei Sakharov và vợ, Elena Bonner, đã lên đường tới Erevan − thủ đô của Armenia, Baku − thủ đô của Azerbaijan và Stepanaker − Thủ phủ của Nagorno Karabakh để làm trung gian hòa giải. Họ không thể tìm ra tiếng nói chung và đã kết luận lơ mơ rằng quan điểm của hai bên còn quá xa nhau. Sau đó, một trận động đất lớn đã tàn phá Armenia. Giải pháp về trao quyền tự trị cho Nagorno-Karabakh và Nakhichevan hầu như đạt được nhưng người Armenia đã vô hiệu hóa nó. Phong trào dân tộc Armenia đang lên muốn tách Nagorno-Karabakh và Erevan lại bỏ phiếu sáp nhập vùng đất. Nếu họ có thêm thời gian, các nhà lãnh đạo Đảng có thể tìm ra giải pháp. Vì Gorbachev không có ý định sử dụng vũ lực, các nhà dân tộc Armenia lại càng được khuyến khích đẩy mạnh việc thôn tính vùng đất này. Gorbachev thấu hiểu căn nguyên vấn đề dân tộc đang nổi lên ở Trung Á, các nước vùng Baltic, Ukraine và Moldova. Ông không thể ủng hộ bất cứ sự thay đổi nào liên quan đến vùng lãnh thổ. Nếu Armenia hay Azerbaijan bắt đầu yêu sách đòi quyền độc lập khỏi Liên bang Xô viết, đây sẽ là vấn đề thúc bách Moskva tìm ra một giải pháp thích hợp. Thái độ của Moskva về vấn đề này bị coi là thụ động tai hại.
Nếu miền Nam Cavcaz không nghĩ đến ly khai thì vấn đề này nổi lên ở Estonia, Latvia và Lithuania. Quan điểm chính thức của Xô viết là các quốc gia vùng Baltic tự nguyện gia nhập Liên bang và lại một lần nữa, Moskva đang tự lừa gạt mình. Chính phủ các nước phương Tây không bao giờ chấp nhận tính hợp pháp của việc gia nhập Liên bang và điều này càng nuôi hy vọng cho những người theo tư tưởng dân tộc ở những nước này, một ngày nào đó họ có thể đòi lại vùng lãnh thổ của mình. Ngày 23/8/1987, kỷ niệm lần thứ 48 Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, theo hiệp ước này các nước vùng Baltic gia nhập Liên bang với Moskva, những người Estonia, Latvia và Lithuania quyết định thẩm định lại chủ trương công khai bằng cách tổ chức các cuộc biểu tình phản đối hiệp ước. Chính quyền địa phương đã không can thiệp. Sự phẫn nộ của dân chúng thể hiện mạnh mẽ nhất ở Estonia, nơi người ta e ngại người Nga có thể nhanh chóng chiếm đại đa số. Vào tháng 1/1988, chương trình thành lập một đảng độc lập được đưa ra ở Tallinn. Chương trình này chủ trương hồi phục tiếng Estonia thành ngôn ngữ chính thay cho tiếng Nga và người Estonia cần phải nắm các vị trí quan trọng trong bộ máy chính quyền. Các vấn đề môi trường phải được giải quyết. Kinh tế thị trường sẽ thay thế nền kinh tế kế hoạch và sứ mạng ngoại giao của Estonia ở nước ngoài sẽ được tái thiết lập. Độc lập được coi là mục đích tối quan trọng chứ không phải là mục tiêu trước mắt.
Vì các tổ chức chính trị không thể tự gọi mình là Đảng, vì sẽ bị coi là Đảng đối lập với Đảng Cộng sản, người ta quyết định thành lập các mặt trận nhân dân. Rất khôn khéo, các tổ chức này lúc đầu được coi là phong trào ủng hộ perestroika . Việc này tạo ra ấn tượng họ đang ủng hộ Mikhail Sergeevich. Estonia đi đầu trong phong trào này và vào tháng 4/1988, một mặt trận nhân dân ủng hộ perestroika được thành lập. Vào tháng 6, ở Lithuania, Sajudis (có nghĩa là phong trào) được thành lập. Sau đó Latvia cũng theo hướng này. Các đại hội thành lập được tổ chức và đến tháng 10, tất cả các tổ chức đã thông qua các chương trình giống với chương trình của phong trào ở Estonia, lập ra một đảng độc lập, rất nhiều thành viên trong Đảng Cộng sản tham gia các mặt trận nhân dân.
Sự bất lực của các quan chức Đảng trước làn sóng chủ nghĩa dân tộc dâng cao thể hiện ngay trong nội bộ Đảng Cộng sản Lithuania. Ringaudas Songaila, được bầu làm lãnh đạo Đảng tháng 10/1987, không có một bài phát biểu nào trước công chúng cho đến mùa xuân năm 1988. Nhiệm vụ này được trao cho Bí thư Ban Chấp hành Trung ương phụ trách tư tưởng, Lionginas Sepetys. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn thẳng thắn trên tờ Moskovskie novosti , ra ngày 24/4/1988, ông cho rằng “vấn đề dân tộc đã được giải quyết trên nguyên tắc, thực tế vấn đề này đã được giải quyết rồi”. Bằng việc che giấu sự thật, hệ thống Xô viết đã nuôi dưỡng tư tưởng cực đoan trong các thành phần theo chủ nghĩa dân tộc. Quan trọng hơn, ông còn cho rằng “tự hào dân tộc” là một trong những khía cạnh chính yếu nhất của thế giới quan. Vài tháng sau, ông phát biểu rằng Lithuania nổi lên là một vấn đề căng thẳng.
Vấn đề chính đối với giới lãnh đạo Đảng ở Lithuania là thiếu các chỉ thị cứng rắn của Moskva. Lá thư của Nina Andreeva khiến người ta tin là Moskva đã ra lệnh, như sau này có bài công kích bức thư đã gieo rắc sự rắc rối và xích mích. Bất chấp sự công kích Andreeva trên tờ Pravda ngày 5/4, một bài phản bác xuất hiện ngày 14/4 viết rằng hàng chục nghìn người Lithuania phải ra đi dưới thời Stalin và họ xứng đáng nhận lại những gì thuộc về họ. Ngày 20/4, một triết gia vốn không liên quan tới bất kỳ tổ chức dân tộc nào đã tố cáo sự xuyên tạc lịch sử này và nhấn mạnh Lithuania là bức tường thành của chủ nghĩa Stalin trong vùng Baltic. Như đổ thêm dầu vào lửa, tờ báo Đảng Tiesa đăng một bài nữa ngày 30/4 nhằm bảo vệ những người ra đi này. Các nhà quan sát coi những sự kiện này như một bước ngoặt ở Lithuania. Khi danh sách các đại biểu tham dự Hội nghị Đảng lần thứ 19 được công bố, vào ngày 28/5, nó vấp phải sự giễu cợt. Đơn giản vì danh sách này gồm toàn những người làm thuê hay bảo vệ già cả. Sự việc này càng thôi thúc đẩy mạnh phong trào ủng hộ perestroika ở Lithuania, Sajudis. Các nhà lãnh đạo phong trào thể hiện sự ủng hộ của họ đối với Gorbachev, còn vị Tổng Bí thư này cảm thấy rất hài lòng. Cũng có phàn nàn rằng phong trào này được coi là sáng kiến của tổ chức KGB với ý định nắm quyền kiểm soát phong trào những người theo tư tưởng dân tộc. Tuy vậy, lãnh đạo KGB ở Lithuania sau này than vãn: “Dù chúng tôi đã cài nhiều người vào cơ cấu của phong trào này, nhưng chúng tôi đã bỏ lỡ cơ hội ngay khi phong trào mới bắt đầu hình thành”. Phong trào tập hợp được 20 nghìn người tiễn đưa các đại biểu đại diện cho Đảng vào ngày 24/6 và 100 nghìn người chào đón họ trở lại ngày 9/7. Lại một lần nữa, cờ và quốc ca của một nhà nước độc lập được treo lên và hát vang.
Chuyến thăm Vilnius của Aleksandr Yakovlev từ ngày 11 đến ngày 14/8/1988 là một bước ngoặt. Ông dành phần lớn thời gian bàn bạc với những người đại diện phong trào Sajudis và công khai đối đầu với Nikolai Mitkin, Bí thư thứ hai Đảng Lithuania về các động thái của Lithuania và Moskva. Mitkin tiết lộ ông không kiểm soát được tình hình bằng cách đổ lỗi cho Yakovlev là Sajudis cảm thông với những tình cảm bày tỏ trên tờ Moskovskie novosti . Yakovlev công khai tuyên bố là Đảng nên chấp nhận phong trào Sajudis. Ông còn khẳng định rằng “ perestroika mở đầu với sự bùng nổ của tầng lớp trí thức và giới trí thức đã biểu lộ ý thức của nhân dân”. Điều Yakovlev nói đã làm cho phong trào Sajudis sửng sốt. Ông vẫn cho rằng Lenin xác định chính sách quốc phòng và ngoại giao là mối quan tâm duy nhất và hàng đầu, chính quyền trung ương phải nắm quyền chỉ đạo hai lĩnh vực này.
Ligachev phụ trách các công việc của Bộ Chính trị khi Gorbachev đi nghỉ ở Crime. Đầu tháng 9, ông giật mình khi đọc một báo cáo của Yakovlev về tình hình Lithuania. Yakovlev nhận định và đánh giá hoàn toàn khác: “Chẳng có gì nghiêm trọng đang diễn ra. Đó chỉ là quá trình bình thường của perestroika mà thôi.” Tại một cuộc họp đặc biệt của Bộ Chính trị, Yakovlev nhắc lại quan điểm này. Có rất nhiều vấn đề phức tạp, nhưng chủ yếu nảy sinh do trung ương ban hành nhiều chỉ thị đến nỗi “có nguy cơ hủy hoại nước cộng hòa này”. Tuy nhiên, “người Nga đang đổ xô về đây” và dẫn tới nhiều “đụng độ”. Ông đề nghị giải quyết dứt điểm tình trạng nhập cư, vì “tình hình ở Lithuania” không mấy “nghiêm trọng”. Nước cộng hòa này sẽ giải quyết được những vấn đề của mình trong “quá trình thực hiện perestroika”. Ligachev rất tức giận trước phát biểu của Yakovlev. “Một cuộc phân tích xã hội và dựa trên cơ sở giai cấp các diễn biến ở Lithuania được thay thế bằng một cuộc phân tích kín có chủ định”. Ông và những người bảo thủ trong Bộ Chính trị nghĩ rằng Yakovlev lẽ ra tới Lithuania giống như Diêm vương và bóp nghẹt phong trào Sajudis ngay từ giai đoạn trứng nước. Chỉ có làm như vậy vấn đề Lithuania mới được giải quyết triệt để.
Song, Yakovlev nói rõ với nhân dân Lithuania rằng không thể phục hồi các sứ mệnh ngoại giao với bên ngoài. Đây là điểm khó chấp nhận. Thái độ dửng dưng của ông khiến nhiều người tin Gorbachev có cùng quan điểm về tương lai cho vùng này. Khi Gorbachev trở lại Moskva, Yakovlev giãi bày với ông cách tốt nhất là nên công nhận quyền tự trị của nước cộng hòa này trong khuôn khổ Liên bang Xô viết. Gorbachev và các thành viên khác trong Bộ Chính trị gạt phắt ngay ý định đó.
Gorbachev không cảm nhận được cơn bão đang tới và tại phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 9/1988, vấn đề dân tộc được chính quyền coi là vấn đề quan trọng thứ yếu trong hàng loạt các vấn đề họ đang phải đối mặt. Tháng 5/1992, khi được hỏi vấn đề làm cho ông ngạc nhiên và mất nhiều công sức nhất, ông cho biết chính là vấn đề dân tộc. Ông chỉ thừa nhận sự nghiêm trọng của vấn đề này vào mùa thu năm 1990, khi các nước cộng hòa không chịu đóng thuế. Cùng chung quan điểm với nhiều người Nga khác, ông cho rằng vấn đề dân tộc đã được giải quyết. Tháng 9/1992, khi tranh luận với các học giả Xô viết, Arkady Volsky đã đưa ra bằng chứng di truyền học về sự tồn tại một con người mới người đàn ông Xô viết và người phụ nữ Xô viết.
Tháng 12/1988, Yakovlev thừa nhận: “Chúng ta thật sự có rắc rối với vấn đề dân tộc.” Moskva coi các dân tộc này đang tồn tại trong các nước cộng hòa và Moskva là người kiến tạo hòa bình mà không nhìn nhận vấn đề này đang lan rộng thành một hiện tượng ở khắp các nước cộng hòa; do vậy, nó là mâu thuẫn tiềm tàng giữa nước cộng hòa và trung ương. Khi trung ương cho rằng người Lithuania đang đẩy mạnh xung đột giữa các dân tộc vào năm 1989, có nghĩa trung ương khuyến khích các dân tộc khác, người Nga và các dân tộc khác ở vùng Bắc bán cầu đứng dậy đấu tranh cho mình, oán trách hành vi và tham vọng của người Lithuania. Cơ quan KGB đóng vai trò chủ đạo. Các nước cộng hòa đã thành lập mặt trận nhân dân và các mặt trận này ngày càng vượt khỏi tầm kiểm soát trong quan hệ của họ với trung ương.
Người dân vùng Baltic học được tác động mạnh mẽ của các cuộc biểu tình phản đối từ người Nga dân chủ. Biểu tình trở thành một cách sống và có tác dụng thúc đẩy triệt để dư luận quần chúng. Các cuộc biểu tình ngày 23/8/1988, kỷ niệm ngày ký Hiệp ước Molotov Ribbentrop, là sự kiện chính thu hút 150 nghìn người tham gia ở Vilnius và hàng nghìn người ở Riga và Tallinn. Điểm chính đề cập đến nghị định thư mật có nội dung trao Lithuania cho Liên bang Xô viết. Chỉ một vài người bảo thủ trong Đảng vẫn cho đây là chuyện hoang đường.
Gorbachev lâm vào tình thế khó xử trước những diễn biến tại các nước vùng Baltic. Ông vui mừng trước sự ủng hộ perestroika , nhưng chủ nghĩa dân tộc lại là vật cản chủ trương này. Ông hoảng sợ thấy đạn dược được cung cấp cho Ligachev và những người bảo thủ đòi đàn áp thẳng tay. Trong thời gian từ tháng 6-10/1988, tất cả ba vị lãnh đạo Đảng tại ba nước cộng hòa này đều đã bị thay thế bằng các nhân vật có khả năng đối phó với phong trào dân tộc bắt đầu phát triển nhanh. Nhiệm vụ của họ là tiếp nhận vai trò lãnh đạo phong trào cải cách trong các nước cộng hòa. Đảng Lithuania lựa chọn Algirdas Brazauskas. Gorbachev không hề hay biết việc bổ nhiệm này. Vào lúc đó Đảng Lithuania tiến hành các hoạt động của mình tại Lithuania và cờ ba màu của Lithuania bay phấp phới trên tòa tháp Gediminas ở Vilnius. Brazauskas tham gia Đại hội thành lập của Sajudis từ ngày 22-24/10 và nhận lời chúc mừng nồng ấm từ Gorbachev. Brazaukas biến mình thành một trong những nhân vật nổi tiếng nhất tại Đại hội khi tuyên bố trao lại Nhà thờ lớn Vilnius cho Nhà thờ đạo Thiên Chúa giáo La Mã. Ông ra lệnh thả tù chính trị và công khai đứng về phía các nhà lãnh đạo Sajudis.
Phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương tháng 9/1988 chứng kiến Gorbachev trở thành Tổng thống, Kryuchkov thay Chebrikov làm lãnh đạo cơ quan KGB, Boris Pugo trở thành lãnh đạo ủy ban Kiểm tra Đảng, Ligachev chuyển từ phụ trách về tư tưởng sang phụ trách vấn đề đất đai và Yakovlev chuyển từ công tác tư tưởng sang công tác quốc tế. Vadim Medvedev nắm chức vụ chuyên trách về tư tưởng. Sự thay đổi này xem như phần nào nắm bắt được tình hình ở Baltic. Lithuania mất một đồng sự ở trung ương. Yakovlev không muốn chuyển sang chuyên trách các vấn đề quốc tế và đề cử Chernyaev nếu Gorbachev có ý định tăng thêm vây cánh cho mình bằng cách bổ nhiệm những người ủng hộ perestroika. Chernyaev ngây thơ cho rằng bất đồng cá nhân không ảnh hưởng tới Mikhail Sergeevich. Ông chỉ thay những người không còn vai trò tích cực trong bộ máy cải cách. Yakovlev cần điều chỉnh thái độ bảo thủ của mình. Trong một cuộc phỏng vấn, ông chỉ trích người dân Baltic theo đuổi quá nhiều ý tưởng không thể thực hiện được. Ông nhấn mạnh với các nhà lãnh đạo Sajudis rằng họ phải vừa là người biểu diễn vừa là nhạc trưởng điều khiển khán giả theo ý mình. Cá nhân Yakovlev không ủng hộ quan điểm này, nhưng ông cảm thấy cần phải bảo vệ hậu phương của mình chống lại phe bảo thủ. Ngày 28/9, quân đội từ Minsk đã dẹp tan cuộc nổi loạn của Liên minh Tự do, do Vytautas Landsbergis lãnh đạo. Chính sự kiện này làm Liên minh Tự do và phong trào Sajudis xích lại gần nhau hơn.
Bằng chứng cho thấy Gorbachev đang suy nghĩ giao bớt quyền của trung ương cho địa phương rõ ràng nhất là tại Hội nghị Đảng lần thứ 19, ông đưa ra các sửa đổi dự thảo đối với Hiến pháp Xô viết được Đại hội Đại biểu Nhân dân thông qua và ban hành vào tháng 10. Người dân Baltic cảm thấy thất vọng khi Xô viết Tối cao Liên bang Xô viết lại có quyền quyết định những vấn đề như vậy. Người ta cũng có quyền tuyên bố hiến pháp để ban bố trong các nước cộng hòa mà mâu thuẫn với luật Xô viết là không có hiệu lực. Thay vì làm dịu tình hình, luật dự thảo giống hình ảnh người ta giương một tấm vải đỏ trước mặt một chú bò tót vùng Baltic. Tất nhiên, các mặt trận nhân dân lên án việc này và hàng triệu người đã ký tên phản đối. Cú giáng mạnh vào Gorbachev là ba cơ quan Xô viết Tối cao ở ba nước cộng hòa, Đại hội Đại biểu Nhân dân cũng lên tiếng chỉ trích những cố gắng nhằm vô hiệu hóa quyền lực các nước cộng hòa, được quy định trong Hiến pháp, là quyền ly khai. Động thái đáng báo động này hé lộ đa số những người cộng sản đã hùa theo những người có tư tưởng dân tộc ngay khi các Đại hội Đại biểu Nhân dân được bầu vào những ngày trước khi có chủ trương perestroika .
Moskva cử các quan chức cao cấp tới các quốc gia vùng Baltic trong thời gian từ 11-14/11/1988. Khi đến Vilnius vào ngày 11/11, Nikolai Slyunkov thể hiện mình hoàn toàn khác hẳn với hình ảnh của Yakovlev. Ông cố che mắt Lithuania bằng cách khăng khăng rằng những thay đổi trong hiến pháp sẽ mở rộng quyền cho các nước cộng hòa. Ông cũng làm người Lithuania nổi giận khi nhấn mạnh nước cộng hòa này là một vùng một lãnh thổ thuộc Liên bang. Brazaukas quyết định phản đối sửa đổi hiến pháp, vì nó không đáp ứng quyền cơ bản trong luật pháp Lithuania. Mặc dù vậy, Đại hội Đại biểu Nhân dân vẫn thông qua hiến pháp sửa đổi này.
Ngày 16/11, Xô viết Tối cao Estonia đi một bước xa hơn, đưa ra một bản tuyên bố về chủ quyền là luật Xô viết nào trái với luật của Estonia đều bị bãi bỏ. Gorbachev phải đích thân can thiệp và triệu tập Đoàn Chủ tịch Xô viết Tối cao Liên bang Xô viết ra tuyên bố: bác bỏ lời tuyên bố của Estonia. Trong một giờ đối thoại, Gorbachev công khai chỉ trích các đại biểu nhân dân vùng Baltic về tình trạng rối loạn trong các nước cộng hòa. Ông đi một bước nữa và tập trung chỉ trích quyền sở hữu tư nhân, quyền lợi sát sườn của người dân Estonia. Ông phát biểu rằng “quyền tư hữu… là cơ sở của bóc lột giữa con người với con người và cuộc cách mạng của chúng ta hoàn thành nhằm phá bỏ quyền đó và chuyển sang hình thức sở hữu nhân dân”. “Mưu đồ phục hồi quyền tư hữu” là “thoái hoá” và là một “lỗi lầm rất nghiêm trọng”. Đây không phải là giọng điệu của một con người từng giương cao khẩu hiệu kinh tế thị trường. Các nước cộng hòa khác cũng phản đối dự thảo sửa đổi hiến pháp và việc sửa đổi này đã bị hoãn lại. Giải quyết không có hiệu quả vấn đề sửa đổi hiến pháp khiến số phiếu phe đối lập trong cuộc bầu cử Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc vào tháng 3/1989 tăng đáng kể. Ông cho rằng những sửa đổi này là bước đầu của cải cách nhưng người dân Baltic lại nhận thức những sửa đổi đó là tiếng nói cuối cùng. Họ không nghe phân trần.
Các cuộc bầu cử vào Đại hội Đại biểu Nhân dân cho phép mặt trận nhân dân ở các nước cộng hòa chính thức ra tuyên ngôn bầu cử của họ. Chẳng hạn, người Estonia yêu cầu triển khai các nghị quyết của Xô viết Tối cao về chủ quyền, phong trào áp dụng kinh tế thị trường và quyền tư hữu (Hiến pháp Xô viết chỉ mới xem xét quyền tư hữu), và kiến tạo các thể chế mới dựa trên ý chí của nhân dân. 10 Đảng đối phó với những yêu sách này ra sao? Gorbachev cho rằng Đảng đơn giản không thể điều hành trong điều kiện dân chủ. Các nhà lãnh đạo Đảng quen giải quyết các vấn đề kinh tế trở nên lúng túng khi họ phải tham gia giải quyết các vấn đề chính trị dân chủ. Đây là một cách nói lịch sự, Đảng ở các nước cộng hòa Baltic trở nên không thích hợp. Năm 1989, Đảng đã mất quyền lực trong các nước cộng hòa. Căn bệnh ủ từ lâu bùng phát cùng với sự ra đời chính thức của các tổ chức. Họ tuyên bố đối lập với Đảng. Trung ương dựa vào cơ quan KGB giải quyết các phong trào này. Gorbachev than vãn rằng thực tế đã mất thời gian quý báu; rồi các tổ chức mới này cũng sẽ biến mất, tan rã, giống như cơn ác mộng mà thôi.
Các mặt trận nhân dân giành được thắng lợi trong Đại hội Đại biểu Nhân dân và dường như số phận của Đảng đã được định đoạt. Ở Vilnius, cá nhân Algirdas Brazaukas giành thắng lợi trong khi Đảng ở đây bị thất bại hoàn toàn. Trớ trêu thay, hầu hết các đại biểu nhân dân Sajudis đều là đảng viên. Sự thành công nhanh chóng của mặt trận nhân dân đánh dấu bằng việc tăng nhanh chóng số lượng thành viên. Giữa năm 1989, Mặt trận Nhân dân Estonia có 60 nghìn thành viên, Latvia có 115.000 thành viên và Sajudis có 180 nghìn. Sự thành công của mặt trận nhân dân ở những nước cộng hòa này khuyến khích các nước cộng hòa khác làm theo. Chẳng hạn, mặt trận bình dân nổi lên ở Gruzia và Rukh ở Ukraine.
Ngày 22/8/1989, Xô viết Tối cao Lithuania tuyên bố việc sáp nhập Lithuania vào Liên bang Xô viết năm 1940 là bất hợp pháp. Ngày hôm sau, trong lễ kỷ niệm lần thứ 50 của Hiệp ước Liên bang, đoàn người tuần hành kéo dài từ đồi Gediminas ở Vilnius tới thủ phủ Tompea ở Tallinn, gọi là con đường Baltic. Ngày 26/8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô lên án hành động này ở Lithuania, Latvia và Estonia bằng những lời lẽ sắc bén và mạnh mẽ nhất: “Kẻ theo chủ nghĩa dân tộc, các nhóm cực đoan đã thao túng các vấn đề dân tộc. Số phận người dân vùng Baltic đang bị đe doạ… Hậu quả sẽ nghiêm trọng khôn lường.” Tầng lớp lao động và nông dân được kêu gọi bảo vệ cuộc cách mạng mới; bảo vệ perestroika và lãnh đạo phong trào này lại là các đảng viên. Các đảng ở Baltic gặp nhau thảo luận cách đối phó. Tuy nhiên, các bí thư phụ trách tư tưởng Estonia và Đảng Lithuania công khai kết tội văn kiện này. Các mặt trận bình dân ngày càng thô bạo hơn. Tất cả đều đợi phản ứng kịch liệt từ Moskva nhưng không ai ở Moskva đến cả. Gorbachev không có mặt ở Moskva nhưng rõ ràng ông nhận được tuyên bố này.
Sau đó, Vadim Medvedev, Bí thư phụ trách tư tưởng, biện bạch rằng ông ký vào văn kiện này mà không hề đọc nó. Ngày 4/9, Brazuakas thông báo trước một cuộc họp báo ở Vilnius về cuộc trao đổi qua điện thoại gần đây với Gorbachev. Vị Tổng Bí thư đã có thông điệp cho phong trào Sajudis: “Nếu mọi việc vẫn diễn ra theo chiều hướng cực đoan, tôi sẽ không còn là bạn của các đồng chí nữa”. Nhiều tháng trôi qua, trung ương có lời cảnh tỉnh nhưng lại không đi kèm hành động, quyền lực đã mất. Phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương về vấn đề các dân tộc tháng 9/1989 đề ra một chế độ Liên bang mạnh mẽ hơn, thông qua việc thành lập các thể chế dựa trên cơ sở tôn trọng các giá trị và lợi ích quốc gia và quốc tế, trong khi vẫn tôn trọng chủ quyền. Bài phát biểu của Brazauskas cảnh tỉnh Đảng nên chuyển biến nhanh hơn những thay đổi trong xã hội, đã rơi vào câm lặng.
Tình thế tiến thoái lưỡng nan của Đảng được đưa ra thảo luận tại Bộ Chính trị, trước sự chứng kiến của các nhà lãnh đạo Đảng vùng Baltic vào ngày 16/11. Không thay đổi thái độ, Ligachev nói thẳng. Chẳng có gì phải thảo luận với các nhà lãnh đạo vùng Baltic. Họ thừa nhận luật pháp của họ dựa trên quy định của luật pháp Liên Xô. Bộ Chính trị cho rằng Lithuania là nước khó đối phó nhất. Nước này vẫn chà đạp lên quyền tự do của công dân. Nước này đi xa đến nỗi tuyên bố Đảng Cộng sản Lithuania là “một tổ chức của nhà cầm quyền nước ngoài”. Một tuyên bố gây sửng sốt sau đó, không phải việc giải tán Đảng Lithuania mà là Vadim Medvedev đi thăm Vilnius. Nhiệm vụ của ông là cải tâm người Lithuania đi theo chủ nghĩa Marx-Lenin chính thống. Medvedev cảnh báo cuộc trao đổi về nền độc lập tách khỏi Liên bang Xô viết đã khiến Moskva không chịu đựng được. Brazauskas nói rõ Đảng Lithuania chỉ có thể là một đảng của toàn thể nhân dân Lithuania nếu nó được cắt bỏ các ràng buộc với Moskva. Giống các nhân vật trong kịch của Chekhov, Medvedev và người Lithuania chỉ truyền cho nhau ý kiến mà không đạt được nội dung gì. Moskva sau đó khuyến khích người Belarus đòi lại vùng Vilnius và tuyên bố Belarus có quyền tách Klaipeda khỏi Lithuania. Gorbachev sau này nói thêm về đầu tư của Liên Xô ở Lithuania và cảnh báo Vilnius có thể phải hoàn trả mọi thứ bằng đôla nếu Lithuania muốn độc lập. Tuy nhiên, ông không đe dọa dùng vũ lực. Mặc sự phản đối của Ryzhkov và những người bảo thủ, ông chấp nhận quyền tự trị về kinh tế của các quốc gia Baltic từ 1/1/1990.
Belarus, Moldova và Ukraine không trải qua bạo lực như vùng Baltic và Ngoại Cavcaz. Các vùng cấp tiến nhất đều là những vùng đã sáp nhập vào Liên bang Xô viết từ 1939-1940. Điều này đúng với Moldova, các vùng phía tây Ukraina và Belarus. Trong ba vùng này, ngôn ngữ nổi lên là vấn đề quan trọng nhất đối với quan chức phụ trách văn hóa. Ở Moldova, họ muốn quay lại dùng bảng chữ cái Latin vì đa số người Moldova là người Rumani viết hệ chữ Cyrillic. Một phong trào dân chủ ủng hộ perestroika được thành lập ở Kishinev (hiện này là Chisinau). Ở Tây Ukraine, các nhà bất đồng chính kiến cũ như Vyacheslav Chornovil lãnh đạo nhiều hoạt động. Ông viết một bức thư ngỏ cho Gorbachev năm 1987, tờ Ukraine Herald và Nhóm Helsinki-Ukraine (đổi tên thành Liên đoàn Ukraine Helsinki năm 1988) khởi động trở lại. Chornovil bị Levko Lukianenko hạ bệ, quay lại lãnh đạo Liên bang vào tháng 1/1989. Năm 1988, cảnh sát thường xuyên giải tán các cuộc mít tinh và biểu tình, nhưng tình hình này đã thay đổi vào năm 1989 khi một tổ chức có phạm vi quốc gia hình thành. Ở Belarus, giới trí thức tập hợp lại trong một tổ chức gọi là Adradzhennye (Tái sinh) nhằm thúc đẩy sử dụng tiếng Belarus. Khi ngôi mộ tập thể các nạn nhân thời Stalin được phát hiện, tính hợp pháp của Đảng bị đặt thành vấn đề. Chính quyền giải tán các cuộc biểu tình và miễn cưỡng thừa nhận các nhóm tổ chức và một mặt trận nhân dân. Người Belarus có lý chỉ ra rằng các hoạt động ấy là chính đáng trong các nước cộng hòa Baltic, tại sao lại không hợp pháp ở Belarus?
Đầu tháng 4/1989, tình hình ở Gruzia trở nên căng thẳng khi các đảng và phong trào mới biểu tình. Ngày 7/4, Dzhumber Patiashvili, nhà lãnh đạo Đảng Gruzia, đề nghị tiến hành các biện pháp đặc biệt chống lại các phần tử quá khích và tuyên bố các sự kiện này đang vượt quá tầm kiểm soát. Ông yêu cầu Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng cử quân đội đến Tbilisi và ra lệnh giới nghiêm. Một cuộc họp Bộ Chính trị do Ligachev chủ trì lập tức được triệu tập chấp nhận yêu cầu của Patiashvili. Ligachev tiếp tục đi nghỉ ngày 8/4 và Chebrikov chịu trách nhiệm. Chính ông này đã thông báo vắn tắt cho Gorbachev và Shevardnadze khi hai người trở về từ London ngày 7/4. Họ được thông báo là đã triển khai quân đội tại Gruzia để bảo vệ các “công trình quan trọng”. Gorbachev nhắc đi nhắc lại các xung đột phải được giải quyết bằng biện pháp chính trị. Ông đề nghị Shevardnadze và Razumovsky bay tới Tbilisi đánh giá tình hình tại chỗ. Song Bí thư thứ nhất Gruzia thông báo với Shevardnadze qua điện thoại rằng tình hình đã trở lại bình thường và ông không cần đến Tbilisi nữa. Shevardnadze có một quyết định định mệnh: không đáp máy bay tới Tbilisi. Sau đó, đêm ngày 8-9/4, quân đội dùng vũ khí lạnh, hơi độc đàn áp đoàn biểu tình không trang bị vũ khí, giết chết 19 người và làm vài trăm người bị thương. Phần lớn nạn nhân là phụ nữ bị ngạt do hơi độc. Lực lượng cảnh sát địa phương cố kiềm chế hành động quá tay của quân đội nhưng bất thành. Ở Tbilisi, Shevardnadze lên án cách hành xử của quân đội là không thể chấp nhận trong xã hội đang tiến hành cải tổ và chủ trương công khai. Nhưng ông can thiệp vào sự kiện bi thảm này quá muộn.
Năm ngày sau, lãnh đạo Đảng Gruzia, tổng thống và thủ tướng đều bị sa thải. Nhưng hậu quả vẫn còn đó. Ai ra lệnh tấn công đám biểu tình? Do Moskva thông qua hay Ban chấp hành Trung ương Đảng Gruzia thông qua? Không có câu trả lời rõ ràng. Bất kể ai chịu trách nhiệm, Gorbachev bị những người theo tư tưởng dân tộc và dân chủ lên án khắp mọi nơi. Ông liên tục nhắc đi nhắc lại rằng ông không hề biết quyết định này và điều này cần phải xem lại. Nếu giới quân sự và cơ quan KGB tự ý hành động nhằm lập lại trật tự mà không cần tham khảo ý kiến Gorbachev thì chứng tỏ ông không thể kiểm soát nổi hai cơ quan này. Những người tham gia vụ thảm sát ở Tbilisi không phải chịu bất cứ sự trừng phạt nào và Gorbachev kết luận “họ đã gây ra tác động có hại ảnh hưởng đến những nỗ lực của chúng ta nhằm hòa giải mối quan hệ giữa các phần tử dân tộc và quốc gia trong một thời gian dài”. Quyền lực của tổng thống bị xói mòn nghiêm trọng. Cuộc tàn sát này dọn đường cho cuộc bầu cử của Zviad Gamsakhurdia, một nhà dân tộc theo xu hướng bạo động ở Gruzia, trở thành lãnh đạo nhà nước Gruzia chống cộng năm 1990 và được bầu làm tổng thống Gruzia vào tháng 5/1992. Gruzia dưới thời Gamsakhurdia chìm trong nội chiến liên miên. 11
Bạo lực của các dân tộc thiểu số nổi lên vào tháng 6 ở Trung Á, vùng thung lũng Fergana thuộc Uzbekistan. Uzbekistan chìm trong các cuộc trả thù đẫm máu ở Meskhetia, lý do là Stalin tách vùng này khỏi Gruzia vì lo ngại họ có thể không trung thành với chính quyền Liên bang. Không có nguyên nhân rõ ràng nào cho các cuộc bạo loạn nổi lên ở đây nhưng nó đều vượt quá tầm kiểm soát của chính quyền địa phương. Cũng trong tháng 6, tại vùng Novy Uzen, thuộc miền tây Kazakhstan, người Kazakhstan tấn công Chechen và những người đến từ Bắc Cavcaz. Lại một lần nữa, vấn đề kinh tế là nguyên nhân chính. Các nhà chức trách Xô viết phản ứng trước sự kiện này khác với các sự kiện ở Tbilisi. Họ không can thiệp và cho phép những người gây bạo loạn tự giải quyết với nhau. Điều này dẫn tới việc một số nhà quan sát địa phương kết luận là chính quyền Moskva không còn quan tâm đến sự sống chết của tín đồ Hồi giáo. Sau đó, người Meskhetia gốc Thổ bị chuyển tới vùng Krasnodar và những vùng khác thuộc Nga.
Năm 1989 đánh dấu bước ngoặt trong thái độ của nhiều công dân Xô viết đối với chế độ đang tồn tại. Chủ trương công khai bị che lấp do tình trạng tội phạm lan tràn mà nguyên nhân bắt nguồn từ sự xói mòn nghiêm trọng trong nền tảng của hệ thống này. Tháng 11, sự thật về cuộc thảm sát quan chức Ba Lan tại Katyn được chính thức thừa nhận. Chính cơ quan NKVD sát hại họ chứ không phải người Đức, họ bị oan suốt 48 năm. Một đột phá quan trọng nữa là Đại hội Đại biểu Nhân dân đưa ra nghị quyết tháng 12, tuyên bố nghị định thư mật, bổ sung Hiệp ước Molotov-Ribbentrop tháng 8/1939 không có giá trị. Sự thật về thảm họa Chernobyl phản ánh sự bất lực của các tổ chức Đảng tại Ukraine và Belarus. Một bản đồ chi tiết về mức độ nhiễm xạ được xuất bản lần đầu vào năm 1989 cho thấy người dân trong một số các khu vực xung quanh hầu hết bị tác động nghiêm trọng. Họ đã không được cảnh báo và di dời. Càng gây thêm tác hại bởi sự ngu xuẩn này, các dụng cụ đo phóng xạ được cung cấp cho dân chúng như dụng cụ bảo vệ lại bị chính quyền tịch thu khiến người dân không thể tiến hành đo được mức độ phóng xạ. Khi được hỏi bao giờ thì ông quyết định quyền độc lập cho Ukraine, Tổng thống Leonid Kravchuk đáp: Năm 1989. Bằng chứng cụ thể về các hành động tàn bạo và quan điểm của họ dần rõ ràng trong năm đó. Kết luận của ông là chỉ có nền độc lập mới có thể bảo vệ được Ukraine khỏi tình trạng tội phạm trong tương lai.
Thái độ của Đảng ra sao đối với vấn đề dân tộc ngày càng có chiều hướng gia tăng này? “Chính sách dân tộc của Đảng thời hiện đại” được công bố ngày 17/8/1989. Chính sách này được đổi mới triệt để, mọi người dân thuộc các dân tộc đều được hưởng quyền bình đẳng và bảo đảm về văn hóa, ngôn ngữ, mỗi dân tộc đều được tạo điều kiện phát triển. Lần đầu tiên vấn đề ký hiệp ước Liên bang mới được nêu ra. Vai trò của Nga được đề cập nhiều hơn. Vấn đề này trở thành chính sách của Đảng vào tháng 9 nhưng đã quá muộn. Đảng đã bỏ lỡ cơ hội của mình.
ĐÔNG ÂU
Trong bài diễn văn đọc trước Liên Hợp Quốc tháng 12/1988, Gorbachev thể hiện sự hiểu biết của mình về các giá trị con người trên thế giới. Trong số những giá trị đó, con người có quyền lựa chọn chính quyền cho họ, và ông nhấn mạnh không hề có ngoại lệ. Điều này chỉ được áp dụng cho người dân ở các nước tư bản hay nó cũng được áp dụng ở các nước xã hội chủ nghĩa? Suy cho cùng, chính sách đối ngoại của Liên Xô ủng hộ quyền tự quyết của các dân tộc ở nước ngoài chứ không áp dụng ở trong nước. Sau lễ tang Chernenko tháng 3/1985, Gorbachev gặp gỡ các nhà lãnh đạo ở các quốc gia Đông Âu. Ông giải thích với họ rằng học thuyết Brezhnev (quyền của Liên bang Xô viết can thiệp vào công việc nội bộ của các nước xã hội chủ nghĩa khác nếu chủ nghĩa xã hội ở những nước đó đang có nguy cơ bị đe dọa) không còn hiệu lực, từ nay về sau các nước xã hội chủ nghĩa có quyền lựa chọn người lãnh đạo của mình và đề ra chính sách riêng cho mình. Ông cũng nhấn mạnh quân đội Xô viết sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước xã hội chủ nghĩa. Ông nhắc đi nhắc lại điều này tại cuộc họp gia hạn liên minh thêm 20 năm của Hiệp ước Warsaw tháng 4/1985.
Đây là một lập trường hoàn toàn cấp tiến, khác hẳn với tuyên bố mà ông từng đưa ra vào cuối tháng 4/1984. Trong cuộc họp của Bộ Chính trị ngày 26/4/1984, thảo luận báo cáo về các cuộc gặp giữa Ustinov, Gromyko và Jaruzelski, Gorbachev từng phát biểu:
Báo cáo về các cuộc gặp... cho thấy các cuộc gặp này đang cố gắng trình bày tình hình với sự nhìn nhận sáng sủa hơn. Tôi cho rằng chúng ta lại một lần nữa phát hiện ra những mục tiêu đích thực của Jaruzelski. Chúng ta cố gắng tìm hiểu liệu ông có thật sự muốn lập một chính phủ đa đảng ở Ba Lan hay không. Cùng lúc đó, rõ ràng tình hình của Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan đang suy yếu nghiêm trọng, đặc biệt là mối quan hệ giữa nhà nước và các tầng lớp lao động… Trong cuộc gặp giữa chúng ta với Jaruzelski, chính sách của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô phải được đẩy mạnh.
Moskva nhận định tình hình ở Ba Lan rất nghiêm trọng và Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan hoàn toàn không kiểm soát được tình hình. Bộ Chính trị đánh giá tầng lớp lãnh đạo Ba Lan không đủ mạnh để chống lại phong trào đoàn kết của phe phản cách mạng.
Phần lớn các nhà lãnh đạo nghĩ rất khó đánh giá chính sách mới vì chế độ của họ đều phụ thuộc vào sự hiện diện của quân đội Xô viết, đảm bảo cho họ nắm chính quyền. Gorbachev bị thuyết phục rằng người dân ở các nước Đông Âu đều có sự lựa chọn riêng của họ và họ muốn đi theo chủ nghĩa xã hội. Cải cách trong khu vực sẽ là cải cách xã hội chủ nghĩa và do vậy là củng cố chế độ chủ nghĩa xã hội. Các quan chức Đảng được bố trí làm việc tại các đại sứ quán của Liên Xô ở các nước xã hội chủ nghĩa không xếp vào hàng cán bộ làm việc ở nước ngoài mà là ở đất nước anh em. Họ và các lực lượng an ninh thông báo với Moskva những điều mà Moskva muốn nghe. Mọi thứ trong vườn hoa đều đẹp và dễ thương. Nếu có một vài cọng cỏ dại, chúng sẽ bị nhổ bỏ ngay. Nếu có nguy cơ xuất hiện rắc rối, đại sứ Xô viết lập tức điện ngay về Moskva và thông báo vừa có cuộc hội đàm với Honecker, Husak hay một số nhà lãnh đạo khác, tất cả cam kết mọi việc đều ổn và nằm trong tầm kiểm soát. Thông tin xấu hoặc ngược lại với thông báo của họ chỉ là thông tin tuyên truyền phương Tây.
Việc này không có nghĩa là người Nga hoàn toàn bị che mắt trước thực tế về sự yếu kém trong nền kinh tế của các quốc gia Đông Âu. Trường hợp điển hình nhất là Ba Lan. Năm 1981, Jaruzelski yêu cầu viện trợ cho Ba Lan 700 triệu đôla Mỹ giúp nước này giải quyết khoản nợ nước ngoài. Moskva không đáp ứng nhưng cùng lúc đó đã cung cấp 13 triệu tấn dầu với giá 90 rúp/tấn, trong khi giá dầu trên thị trường thế giới là 170 rúp/tấn. Trong những ngày khó khăn trước khi ra lệnh thiết quân luật ở Ba Lan, Liên bang Xô viết cố hết sức để làm dịu tình hình lương thực ở nước này bằng cách viện trợ cho Warsaw 30 nghìn tấn thịt. Phải tốn nhiều thời gian để có đủ lượng thịt và Bộ Chính trị phải thảo luận vấn đề này rất nhiều trong các cuộc họp. Sau đó, ngày 10/12/1981, ba ngày trước khi ra lệnh thiết quân luật, Nikolai Babaikov, đứng đầu ủy ban Kế hoạch Liên bang Xô viết, tường trình với Bộ Chính trị về chuyến thăm của mình tới Warsaw:
Như các đồng chí biết, theo chỉ thị của Bộ Chính trị và yêu cầu của các đồng chí Ba Lan, chúng ta phải cung cấp cho họ 30 nghìn tấn thịt. 16 nghìn tấn thịt đã được chở qua biên giới. Cũng phải thừa nhận thịt được chở trên những toa trần rất bẩn, đó là những toa xe mà chúng ta dùng chở quặng trước đây và không cọ rửa sạch sẽ, trông khá thảm hại. Sự phá hoại ngầm diễn ra khi chúng ta bốc dỡ lượng thịt này xuống các trạm ở Ba Lan. Người Ba Lan thể hiện thái độ bất hợp tác với Liên bang Xô viết và người dân Xô viết, họ không cho dỡ thịt xuống các trạm. Không thể kể hết những lời nhục mạ ném như mưa vào mặt chúng tôi.
Ước tính chi phí viện trợ cho Ba Lan bằng tiền của Liên Xô lên tới 2.934 tỷ đôla Mỹ năm 1981. Chi phí này dường như không có chiều hướng giảm trong những năm tiếp theo. Vấn đề Liên Xô can thiệp quân sự có thể được Tổng tư lệnh phụ trách quân đội Hiệp ước Warsaw – Nguyên soái Kulikov − đưa ra thảo luận. Song, Bộ Chính trị phản đối việc sử dụng lực lượng quân sự. Liên bang Xô viết đã đầu tư quá nhiều vào cuộc đấu tranh giành hòa bình rồi lại vứt bỏ những thành quả của mình bằng việc tấn công Ba Lan hay sao? Andropov và Suslov nhận thức rất rõ vấn đề này. Trong thông cáo gửi các đại sứ Xô viết có nhấn mạnh: “dư luận thế giới sẽ không hiểu chúng ta nếu chúng ta sử dụng vũ lực”. Ba Lan có cách riêng của họ, với sự giúp đỡ của Liên bang Xô viết về kinh tế và chính trị, họ sẽ có cách giải quyết. Điều này hàm ý Moskva sẵn sàng để phong trào đoàn kết nắm quyền lãnh đạo ở Ba Lan năm 1981. Sau đó, Moskva cố gây ảnh hưởng đối với chính sách của Jaruzelski bằng cách khuyên nhà lãnh đạo Ba Lan này nên nghe lời họ để đổi lấy việc trợ kinh tế mà ông muốn. Với cương vị lãnh đạo, quyết định không sử dụng vũ lực ở Đông Âu của Gorbachev cũng trùng hợp với quyết định của Bộ Chính trị đưa ra vào năm 1981. Việc này cho thấy sự can thiệp thô bạo vào Afghanistan tháng 12/1979 đã làm tê liệt ý định can thiệp quân sự của Moskva vào các nước khác.
Có thể tha thứ cho Gorbachev trong việc đánh giá sai tình hình thực tế ở khu vực này vì ông hoàn toàn bị bịt mắt ở bất kỳ nơi nào ông đến. Khi sự thật hé lộ năm 1989, Bộ Ngoại giao Liên Xô mới thật sự sửng sốt. Tác động đối với Đảng còn mạnh hơn. Các nhà lãnh đạo Đông Âu bị đánh thức bởi perestroika, chủ trương công khai, dân chủ hóa và Mikhail Sergeevich như được cảnh báo về hậu quả làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng. Gorbachev rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Quan hệ đối ngoại của ông với Mỹ đang trong giai đoạn nhạy cảm nhất vào năm 1989. Nếu ông tiến hành trừng phạt các nước Đông Âu bằng vũ lực, điều đó có thể là dấu chấm hết cho hy vọng chấm dứt Chiến tranh Lạnh. Dường như ông không nhận thức được hết hậu quả trong lời nói và hành động của mình ở Đông Âu. Ví dụ điển hình nhất là ở Cộng hòa Dân chủ Đức − Đông Đức.
Lãnh đạo Đông Đức Erich Honeker cầm quyền từ năm 1971 và tỏ lòng thương tiếc trước sự ra đi của Brezhnev. Ông rất tự hào về thành quả mà Đông Đức đạt được và cho rằng không có lý do chính đáng nào buộc ông phải áp dụng chính sách perestroika. Sau tháng 1/1987, trong phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, bàn về chính sách đẩy mạnh dân chủ hóa, Honeker phát biểu cải tổ không phù hợp với Đông Đức. Các bài phát biểu trong phiên họp đều bị cấm phát ở Đông Đức nhưng người ta lại có thể mua báo Pravda ở chợ đen. Sau đó toàn bộ tin tức của Liên Xô đều bị kiểm duyệt. Việc này là thất sách vì người dân Đông Đức có thể theo dõi các sự kiện ở Moskva trên truyền hình Tây Đức. Honeker hành động, đơn giản lờ đi thông tin mà ông cho là không phù hợp. Gorbachev nhận thấy ông này là một người đối thoại gây thất vọng vì không thể thuyết phục ông ta theo cách thông thường. Honeker có nhiều bài diễn văn ca ngợi rằng mọi chuyện thật tuyệt vời.
Ngay từ đầu, Gorbachev không muốn tham dự lễ kỷ niệm lần thứ 40 của Đông Đức vào tháng 10/1989. Tuy nhiên, ông có cảm tưởng sự vắng mặt của mình sẽ làm cho đảng viên Đông Đức cảm thấy bị xúc phạm. Song, nếu ông tham gia nghĩa là ông đã chấp nhận chế độ cầm quyền của Honeker. Ông không có ý định lật đổ Honeker, điều đó tùy thuộc vào giới lãnh đạo Đức. Ngay trong đoàn tuần hành của phong trào thanh niên ở Đông Berlin và các thành phố thuộc Đông Đức, có nhiều tiếng kêu gào đòi cải cách. Lãnh đạo Ba Lan Mieczyslaws Rakowski hướng về phía Gorbachev và nói:
Mikhail Sergeevich, đồng chí không hiểu họ đang gào thét điều gì nhưng tôi hiểu. Họ đang nói rằng: Gorbachev hãy cứu chúng tôi. Nhưng đây là các đảng viên, họ đang cầu xin đồng chí. Đây chính là sự kết thúc.
Lúc ấy, Honeker đứng ngay cạnh Gorbachev, mặt lạnh như tiền. Cũng vào buổi chiều hôm đó, thanh niên kêu gọi Gorbachev hãy cứu họ. Trên các đường phố Đông Berlin, Mikhail Sergeevich đã nói là lịch sử sẽ trừng phạt kẻ nào muốn kéo lùi lịch sử. Ông cũng cảnh báo giới lãnh đạo Đông Đức về việc này. Ông thông báo toàn bộ sự việc với Bộ Chính trị khi trở lại Moskva và cho rằng chế độ này sắp sập đến nơi rồi. Những chỉ trích của ông nhằm lật đổ Honeker nhưng việc thay thế bằng Egon Krenz lại là một lỗi nghiêm trọng của những người cộng sản. Cái nhìn hấp háy của Krenz và quầng mắt của ông này là đề tài cho các nhà làm phim hoạt hình. Ngày càng có nhiều công dân Đông Đức nhập cư sang Tây Đức qua Czechoslovakia và Hungary (Honeker kêu gọi Gorbachev phải thực hiện các điều khoản trong hiệp ước giữa hai nước để ngăn tình hình này lại) và gây áp lực với Berlin khi dọa việc chọc thủng bức tường ngăn cách hai miền. Gunter Schabowski, một quan chức cao cấp, gọi điện cho Gorbachev cảnh báo người dân Đông Đức đang tìm mọi cách phá bỏ bức tường ngăn cách sang Tây Berlin, chế độ Đông Đức không thể làm gì để ngăn cản họ. Cuối cùng bức tường ngăn cách hai miền cũng bị dỡ bỏ vào ngày 9/11/1989. Karoly Groz, lãnh đạo Đảng Hungary, trong chuyến thăm Moskva vào tháng 3/1989, đã giải thích nguyên nhân người dân Hungary muốn lập một chế độ đa đảng. Không có bất cứ sự phản đối nào vì đây được coi là công việc nội bộ của Hungary. Tháng 7/1989, những người cộng sản Ba Lan thất bại trong cuộc bầu cử và vị thủ tướng đầu tiên của Ba Lan không phải là cộng sản lên nắm quyền. Cũng trong tháng 7, Gorbachev phát biểu trước Hội đồng Châu Âu: “Bất cứ sự can thiệp nào vào công việc nội bộ các nước khác dưới bất cứ hình thức nào, bằng bất cứ nỗ lực nào nhằm kiểm soát chủ quyền của các nước khác, dù là bạn hay đồng minh, dù cho đó là nước nào đều không được phép”. Mục đích của Liên Xô là thúc đẩy chính sách cải cách perestroika ở Đông Âu với lòng tin các nước này chung một lựa chọn: chủ nghĩa xã hội. Cải cách diễn ra rất chậm như Shevardnadze phát biểu tại Đại hội Đảng lần thứ 28 tháng 7/1990, các đại sứ Xô viết thông báo từ Đông Âu các sự kiện nghiêm trọng đang xảy ra đến nơi nếu cải cách không được tiến hành ngay. Gorbachev hoàn toàn không hay biết nên cứ để cho các sự kiện này diễn ra mà không có bất cứ sự can thiệp hay kiểm soát nào.
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
Mặc dù tán thành các nguyên lý nhân văn toàn cầu, Liên bang Xô viết tiếp tục trợ giúp các đảng cộng sản trên toàn thế giới cho đến năm 1990. Ngày 14/2/1990 Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương tán thành đề nghị của các Đảng Cộng sản Argentina và Đảng cộng sản Chilê về việc đào tạo các kỹ năng công tác an ninh của Đảng cho năm đảng viên Argentina và bốn đảng viên Chilê trong vòng ba tháng. Ban Quốc tế được giao nhiệm vụ chăm lo cho các đảng viên này và cơ quan KGB chịu trách nhiệm đào tạo, trang bị chuyên môn. Ít ra đối với bên ngoài, nhân vật hài lòng nhất là Luis Corvalan, cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Chilê, người đã cư trú bất hợp pháp ở Chile từ năm 1983, dưới một diện mạo khác, trong khi tiến hành đấu tranh chống lại Tướng Pinochet. Corvalan yêu cầu Ban Chấp hành Trung ương giúp mình có cơ sở đấu tranh hợp pháp, không cần phải sống chui lủi trong khi Pinochet đang kêu gọi bầu cử. Song vấn đề là Corvalan đã trải qua một cuộc phẫu thuật thẩm mỹ nhằm làm biến dạng bộ mặt của mình để có thể cư trú tại Chilê. Ông cần phải bí mật quay lại Liên bang Xô viết, tiến hành một cuộc phẫu thuật khác để phục hồi nguyên dạng hình hài cũ và nhận hộ chiếu hợp pháp. Đảng Cộng sản Chilê yêu cầu Ban Chấp hành Trung ương bố trí cho Corvalan được dừng chân tại một nước Tây Âu để có thể tới đại sứ quán Chilê lấy hộ chiếu hợp pháp. Trong khi chờ đợi, ông phải bí mật rời Chilê, vì vậy ông cũng cần phải có một khuôn mặt mới khi rời đi. Một quyết định ít được bàn cãi do Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương đưa ra ngày 18/1/1989. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phải tiếp nhận 20 người làm công tác khủng bố người Liberia cho khóa huấn luyện quân sự đặc biệt năm 1990. Tháng 4/1989, có một bản tin tiết lộ việc huấn luyện mở rộng cho các nhân vật từ các quốc gia phi cộng sản:
Giới lãnh đạo một số đảng anh em ở các nước phi cộng sản hàng năm đề nghị Ban Chấp hành Trung ương tiếp nhận mở khóa đào tạo đặc biệt cho các nhà hoạt động của họ. Trong suốt mười năm qua, trên 500 thành viên chính thức từ 40 đảng cộng sản và lao động (gồm các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị) đã dự các khóa đào tạo này. Theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương, Ban Quốc tế chịu trách nhiệm đón tiếp và chăm sóc họ còn cơ quan KGB chịu trách nhiệm về nội dung các khóa đào tạo.
Reagan và Gorbachev dự định gặp mặt tại cuộc họp thượng đỉnh tháng 12/1997. Tổng thống Reagan đề ra bốn mục tiêu trong cuộc gặp Gorbachev: giảm thiểu số lượng vũ khí, rút khỏi các đối đầu quân sự tại các nước thuộc thế giới thứ ba, tạo dựng tôn trọng nhân quyền và vén bức màn sắt. Dần dần phía Xô viết nhận ra rằng tiến bộ trong các vấn đề này sẽ đem lại lợi ích cho cả hai bên. Nếu họ đạt được tiến bộ về một vấn đề, nó không có nghĩa là Liên bang Xô viết thua Mỹ, nhưng nếu không đạt được tiến bộ thì cả hai đều không có lợi gì. Chính sách “được ăn cả ngã về không” gần như không còn tác dụng trong giai đoạn này. Đột phá xuất hiện vào cuối năm 1987 khi Gorbachev đến thăm Mỹ lần đầu tiên vào tháng 12, ông và Tổng thống Reagan ký một hiệp ước loại bỏ một số lượng vũ khí hạt nhân, chủ yếu là loại có gắn đầu đạn hạt nhân tầm trung (Hiệp ước INF). Đây là hiệp ước đầu tiên về vấn đề vũ khí được hai bên ký kết kể từ năm 1979. Chuyến thăm của Gorbachev đánh dấu bước ngoặt trong nhận thức của ông về nước Mỹ. Vào ngày cuối của chuyến thăm, ngày 10/12, trên đường tới Nhà Trắng, Gorbachev bất ngờ đề nghị lái xe dừng lại. Ông bước ra ngoài xe và bắt tay mọi người trong đám đông. Họ có thái độ nhiệt tình nồng ấm chào đón ông. Trong bữa trưa, ông nói với mọi người rằng, ông có ấn tượng sâu sắc trước sự đón tiếp nồng nhiệt này. Trong khi KGB thông báo với ông đó là một đám người dè dặt và kín đáo.
Về tâm lý, đây là khoảnh khắc quan trọng đối với ông. Khi về nước, ông gặp khó khăn khi đối mặt với Boris Yeltsin. Trong nước, thậm chí trong cả giới lãnh đạo, làn sóng phản đối chủ trương perestroika ngày càng cao. Mọi việc trong nước bắt đầu trở nên khó giải quyết, trong khi tình hình đối ngoại đã gặt hái được một số thành công. Người ta cho rằng Gorbachev được “sinh ra” ở Washington vào ngày 12/1987. Ông được sùng bái và ông thích thú với điều đó. Sau này, mỗi khi cảm thấy thất vọng, khó khăn trước các công việc nội bộ, để lấy lại tinh thần ông nghĩ là phải đi nước ngoài, đắm mình trong lời hoan hô ca ngợi của công chúng. Ở nước ngoài, những người có thái độ hoài nghi đều không lên tiếng. Trong nước, số người đó có chiều hướng gia tăng. Cuộc họp thượng đỉnh Washington coi Mỹ là đối tác và đưa ra tiến trình chấm dứt Chiến tranh Lạnh.
Tháng 2/1988, Gorbachev thông báo Liên bang Xô viết sẽ rút quân khỏi Afghanistan. Một hiệp định về vấn đề này được ký kết vào tháng 4. Tháng 5/1988, Tổng thống Mỹ Reagan đi Moskva để dự cuộc họp thượng đỉnh cuối cùng với Gorbachev. Ngày 1/6, họ trao đổi các văn kiện phê chuẩn để triển khai Hiệp ước INF. Hai cường quốc nhất trí thông báo cho nhau số lượng tên lửa gắn đầu đạn hạt nhân. Họ cũng đạt được tiến bộ trong việc giảm bớt số lượng vũ khí chiến lược. Tổng thống Reagan phát biểu trước nhân dân Liên Xô và mạnh mẽ khẳng định việc hai bên cùng có lợi từ các quyền dân chủ, tự do và bình đẳng. Tháng 6, mọi việc đối với các công dân Xô viết trở nên dễ dàng hơn vì họ có thể ra nước ngoài, nhập cư và du lịch. Tháng 7, Shevardnadze triệu tập hội nghị các nhà ngoại giao để làm sáng tỏ chính sách về giá trị con người. Gorbachev bắt đầu thăm Tây Âu thường xuyên hơn và tiếp đón các chính khách từ các nước Tây Âu nhiều hơn. Tháng 12/1988, tại Liên Hợp Quốc, Gorbachev tuyên bố Liên bang Xô viết sẽ giảm bớt quân đội xuống 500 nghìn người trong vòng hai năm mà không cần đợi động thái đáp trả của người Mỹ hay của các nước Đồng Minh. Điểm đáng chú ý trong tuyên bố này là cả Gorbachev và Shevardnadze đều không tham khảo ý kiến Bộ Quốc phòng trước khi tuyên bố cắt giảm quân đội. Phản ứng trước tuyên bố này, Tổng tư lệnh − Nguyên soái Akhromeev tuyên bố từ chức ngay hôm đó. Akhromeev đồng ý với các đề xuất về giải trừ quân bị nhưng chủ trương cắt giảm quân đội thông thường mà không tiến hành song phương là điều không thể chấp nhận.
Gorbachev đã trình bày chi tiết quan điểm của mình về các giá trị con người, cho rằng đây là nền tảng của chính sách đối ngoại Xô viết và tự do lựa chọn là một nguyên tắc phổ biến. Sẽ không có trường hợp ngoại lệ. Sau đó ông gặp Tổng thống Mỹ Reagan và Tổng thống kế nhiệm George Bush trên đảo Governors. Ông phải rút ngắn chuyến thăm sau khi nhận được tin tức về trận động đất ở Armenia. Điều này có nghĩa là ông không thể đi thăm Cuba. Động lực trong các quan hệ Xô-Mỹ bị bỏ lỡ vì Tổng thống Mỹ George Bush nhận định lại các lựa chọn trong chính sách đối ngoại. Bush cảm thấy Tổng thống tiền nhiệm Reagan sẵn sàng giải quyết với Moskva mọi vấn đề. Tháng 5/1989, Marlon Fitzwater, người phát ngôn Nhà Trắng, ví Gorbachev như “một người bán thuốc”. Sự thay đổi ý định của George Bush thể hiện rõ trong suốt chuyến thăm kéo dài đến Đông và Tây Âu tháng 7/1989. Mọi người khuyên ông nên gặp Gorbachev vì sẽ có những diễn biến quan trọng sắp xảy ra.
Bước ngoặt trong mối quan hệ giữa James Baker Ngoại trưởng Hoa Kỳ và Eduard Shevardnadze diễn ra vào tháng 9/1989 khi Shevardnadze chấp nhận lời mời tới thăm khu trang trại của Baker tại Jackson Hole Wyoming. Trước khi rời Moskva, Shevardnadze bị chỉ trích nặng nề về việc chấp nhận các cuộc đàm phán vũ khí với chính quyền Mỹ. Shevardnadze ở lại đây hai tuần và xây dựng một mối quan hệ khá mật thiết với Baker cũng như mối quan hệ mật thiết với Shultz. Khi đến nơi, thị trưởng vùng Wyoming giới thiệu với Shevardnadze về một chiếc mũ cao bồi hiệu Stetson. Khi được hỏi, ông đội mũ cỡ nào, sứ quán Xô viết ở Washington lâm vào thế bí. Người Mỹ chớp lấy câu trả lời: “Đầu của Shevardnadze: thật là to!” Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô được khắc họa bằng hình ảnh đội mũ rộng 10 gallon, chân đi giày cao bồi và mặc bộ comlê. Để có thể nói với Baker về tính nghiêm trọng của một cuộc khủng hoảng kinh tế, Shavardnadze cho Nikolai Shmelev − một nhà kinh tế ủng hộ cơ chế kinh tế thị trường, đi cùng. Vị Bộ trưởng Ngoại giao rất mong khả năng làm đối tác với Mỹ có thể thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước. Không đạt được bất kỳ điều gì khi trở về nước, ông thừa nhận Moskva sẵn sàng ký Hiệp ước START mà không cần có một hiệp định riêng về hạn chế vũ khí tầm trung. Ông cũng thừa nhận trạm phát sóng khổng lồ ở Krasnodarsk là vi phạm Hiệp ước ABM và cam kết sẽ cho dỡ bỏ trạm này.
Trên đường về Moskva, ông đã có một số nhân nhượng khác, thừa nhận với Washington có 880 tên lửa phóng từ tàu ngầm (SLCM). Akhromeev, Kornienko và những người khác không tiếc lời chỉ trích ông đã không đạt được một nhân nhượng song phương nào với Mỹ về vấn đề này. Chỉ một chút thỏa mãn Shevardnadze nhận được khi trở về là ý định của Bush vượt quá đề xuất của Liên Xô: loại trừ 80% vũ khí hóa học và tiến tới loại bỏ hoàn toàn thứ vũ khí này.
Cuộc họp thượng đỉnh đầu tiên Gorbachev-Bush diễn ra ở Malta, tháng 12/1989. Nó không đưa ra được nhiều thỏa thuận rõ ràng, nhưng đó là một bước tiến quan trọng trong quan hệ Xô-Mỹ. Trong khi thăm Mỹ vào tháng 7/1989, Nguyên soái Akhromeev nhận được công hàm của Tổng thống Bush, muốn mời Gorbachev tới Mỹ vào tháng 12. Tuy vậy, sự việc này không được tiết lộ vào thời điểm đó và chỉ có một số quan chức biết về nó. Chính quyền Bush đang vấp phải những khó khăn trong việc thương lượng kiểm soát vũ khí. Tháng 11/1989, trong một báo cáo mật, Shevardnadze khuyên Gorbachev khéo léo để Tổng thống Bush “có lời cam kết công khai về chương trình cải cách”, đồng thời cảnh báo rằng Tổng thống Mỹ cũng là “một nhà lãnh đạo không quyết đoán”.
Vào thời điểm Bush đến vào ngày 1/12, ông suy nghĩ nhiều đến cải tổ. Đó là một lý tưởng không tồi và mọi người nên ủng hộ chính sách đó. Ông vấp phải sự chỉ trích nghiêm trọng trong nước và cả bên ngoài vì chậm trễ nắm bắt sáng kiến, đến Malta với một loạt các đề nghị về hợp tác kinh tế. Nhằm ngăn cản Gorbachev phàn nàn về sự trì hoãn, Bush quyết định đưa chính sách cải cách ra thảo luận ngay trong lần gặp đầu tiên. Người Mỹ cảnh báo Gorbachev đừng bao giờ tỏ ra trội hơn Bush bằng việc đưa ra một loạt các sáng kiến giống như ở Reykjavik. Gorbachev lĩnh hội lời khuyên này.
Bush đề xuất một chính sách hợp tác kinh tế. Về kinh tế thị trường, Tổng thống Bush và James Baker hơi ngạc nhiên trước sự thiếu hiểu biết của Gorbachev. Ông tiếp tục trình bày về của cải dồi dào trong nền kinh tế thị trường cần phải đặt dưới sự quản lý của tập thể, chẳng hạn như các công ty cổ phần. Ông hoàn toàn không có kiến thức về thị trường chứng khoán hay ám chỉ nhẹ nhàng rằng ông đang thay đổi quan điểm về nền kinh tế Xô viết. Cho đến lúc này, ông vẫn khăng khăng rằng sở hữu tập thể ưu việt hơn bất cứ hình thức sở hữu nào. Nhận thức về quyền tư hữu luôn tắc nghẹn trong cổ họng. Gorbachev tiết lộ ông đang trong giai đoạn chuẩn bị cho các xí nghiệp chuyển thành các hợp tác xã. Mặc dù không có hiệp định chính thức nào được ký kết, nhưng cũng có một số hiệp định không chính thức về Đông Âu, Đức và các nước cộng hòa vùng Baltic. Đông Âu không đại diện cho một vấn đề vì Gorbachev và Shevardnadze từ trước đã tuyên bố nhiều lần rằng họ sẽ không sử dụng vũ lực để ngăn cản nhân dân trong khu vực này quyết định tương lai của họ. Gorbachev cho Tổng thống Bush biết ông hy vọng Hiệp ước Warsaw có thể được gia hạn. Bush thông báo với Mikhail Sergeevich chừng nào Liên Xô chưa sử dụng vũ lực, Mỹ không lợi dụng tình hình gây khó cho Liên bang Xô viết. Về việc thống nhất nước Đức, Gorbachev tuyên bố việc thống nhất là một sự kiện hệ trọng và đòi đưa ra một giải pháp thận trọng. Chưa đến mức phải thúc đẩy nhanh và mạnh các sự kiện này.
Gorbachev ít đề cập đến các nước cộng hòa vùng Baltic, ông hy vọng tránh được sử dụng vũ lực vì nếu xảy ra điều đó đồng nghĩa với chấm dứt chính sách cải tổ. Ông sẵn sàng xem xét bất kỳ hình thức liên kết nào trong các nước cộng hòa vùng Baltic, không dẫn đến ly khai triệt để. Mỹ sẽ không gây khó dễ cho Gorbachev trong khi giải quyết vấn đề ở khu vực này và cam kết không sử dụng vũ lực ở đây. Sau đó, nhiều lời đồn cho rằng thỏa thuận này không được thực hiện. Mỹ sẽ đứng ngoài vấn đề Đông Âu và các nước vùng Baltic nếu Liên bang Xô viết chấp nhận việc thống nhất nước Đức. Không một hiệp định nào kiểu như vậy đạt được kết quả. Về vấn đề vũ khí, thỏa thuận được việc cắt giảm lực lượng vũ khí thông thường trong Hiệp ước châu Âu năm 1990. Một hiệp ước về cắt giảm vũ khí chiến lược (START) có thể sẽ tiếp tục được thảo luận trong hội nghị thượng đỉnh tiếp theo, do Washington khởi xướng mùa hè năm 1990.
Cũng có bất đồng sâu sắc. Bush chỉ trích Liên Xô cung cấp vũ khí cho khu vực Mỹ Latin và cách đối xử của đồng minh Liên Xô là Cu ba. Gorbachev đáp trả Liên Xô đã thỏa thuận không cung cấp súng đạn cho Nicaragoa và luôn giữ lời hứa. Vấn đề Cuba, cách tốt nhất xóa bỏ hết mọi bất đồng là gặp mặt trực tiếp Fidel Castro. Trước hội nghị thượng đỉnh, nhà lãnh đạo Cuba yêu cầu Gorbachev giúp đỡ bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Liên Xô sẵn sàng đứng ra dàn xếp một cuộc đối thoại. Bush gạt phắt lời đề nghị này và sẽ không hợp tác nếu Liên Xô tiếp tục có mối quan hệ thương mại với Cuba. Suy cho cùng, Cuba lên án cải tổ. Một điểm nhức nhối khác là thái độ khẳng định của Bush rằng các giá trị phương Tây đang vượt trội hơn hẳn. Gorbachev không thích thuật ngữ “các giá trị phương Tây” vì nó hàm ý rằng Liên bang Xô viết đang đầu hàng phương Tây. Ông nhấn mạnh đến các giá trị dân chủ rộng lớn. Hai bên thống nhất sử dụng từ “các giá trị dân chủ”. Hội nghị Malta đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ Xô-Mỹ. Gorbachev quả quyết với Bush: “Chúng tôi không còn coi ông là kẻ thù nữa”. Shevardnadze nói thêm: “Hai cường quốc đã chôn vùi Chiến tranh Lạnh xuống dưới đáy biển Địa Trung Hải”.
Tháng 10/1985, Gorbachev chọn Pháp làm điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến thăm các nước phương Tây vì Pháp cũng là một cường quốc hạt nhân và đất nước này cổ vũ cho ý tưởng về sự hòa nhập toàn Châu Âu trong quá khứ. Quan hệ Đông Tây vào thời điểm đó diễn ra khá lạnh nhạt. Gorbachev dùng thuật ngữ “vừa đủ”, nói về quốc phòng, lần đầu tiên và phản đối việc lấy tư tưởng này làm cơ sở cho chính sách đối ngoại. Phản ánh tình hình châu Âu, ông có một cách diễn đạt mới: “Châu Âu là một ngôi nhà chung.” Ông đề nghị loại bỏ vũ khí hạt nhân đến năm 2000. Tây Âu biết quá rõ tính ưu việt của vũ khí thông thường của Liên Xô. Khi Mitterrand thăm Moskva đáp lại chuyến thăm Gorbachev tới Paris, Tổng thống Pháp thông báo với Gorbachev rằng ông phản đối Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược (SDI hay Chiến tranh giữa các vì sao), coi đây như một hành vi khởi động lại cuộc chạy đua vũ trang. Ông đã gặp Tổng thống Reagan trước khi tới Moskva và cho rằng các lý sự của Tổng thống Mỹ ủng hộ chiến lược phòng thủ này là chuyện hoang đường. Tuy vậy, người Pháp sẽ có quan điểm đường lối cứng rắn nhất chống lại việc loại bỏ vũ khí hạt nhân chiến thuật và cho rằng việc giải trừ quân bị sai ngay từ khi bắt đầu. Lẽ ra Liên bang Xô viết phải bắt đầu thực hiện rồi. Quốc hội Pháp thậm chí đã bỏ phiếu nâng cấp lực lượng vũ trang của họ. Không nản lòng, ở Tiệp Khắc, tháng 4/1987, Gorbachev đã dùng tài hùng biện của mình nói về khía cạnh đạo đức trong việc giải trừ quân bị và quan niệm về một ngôi nhà chung châu Âu. Trong nhiều cuộc gặp với các chính khách Tây Âu ở Moskva, Gorbachev luôn tỏ thái độ rõ ràng ông không cố gắng chia rẽ châu Âu và Bắc Mỹ. Quả thật, Mỹ và Canađa cũng thuộc ngôi nhà chung châu Âu. Bà Thatcher có chuyến thăm Moskva vào tháng 3/1987 và hai nhà lãnh đạo tiếp tục các cuộc luận chiến. Thủ tướng Anh nói thẳng: “Chúng tôi tin vào phòng thủ hạt nhân và chúng tôi không coi việc loại bỏ vũ khí hạt nhân thực hiện được.” Bà luôn giữ lập trường và quan điểm của mình trong cuộc tranh luận, cho rằng “vũ khí hạt nhân là cách duy nhất bảo vệ an ninh nước Anh trong trường hợp châu Âu xảy ra một cuộc chiến tranh thông thường”. Mikhail Sergeevich phản đối quan điểm này và cả hai không đạt được tiến bộ nào. Tháng 12/1987 đã có một cơ hội tiếp tục đàm phán tại Brize Norton, trên tuyến đường dự hội nghị thượng đỉnh Washington ký Hiệp ước INF. Sau đó, họ lại rất hòa hợp và Geoffrey Howe. Ngoại trưởng Anh đã nói về Gorbachev: “Các cuộc nói chuyện của ông với bà Thatcher diễn ra thật hấp dẫn. Ông ta làm việc giống như hai người công nhân trong phong trào thi đua cố gắng hoàn thành kế hoạch với một tốc độ chưa từng có và có thể thảo luận trơn tru bất cứ chủ đề nào.”
Chuyến thăm chính thức nhiều ngày đầu tiên của Gorbachev tới Anh diễn ra vào tháng 4/1989 và lần đầu tiên vào nhà số 10 phố Downing. Bà Thatcher rất quan tâm tới tiến trình perestroika và đặt nhiều câu hỏi với nhà lãnh đạo Xô viết về kết quả của nó. Đáp lại mối nghi ngờ của Gorbachev về sự tiếp nhận Perestroika ở phương Tây, Thủ tướng Anh dẹp hết những lời phê phán và cam kết chắc chắn rằng tất cả các nước phương Tây rất nhiệt tình với chủ trương này.
Gorbachev chọn đến thăm Pháp và Anh trước Cộng hòa Liên bang Đức. Tất nhiên, họ là các cường quốc hạt nhân. Sau đó, vào tháng 6/1989, ông mới đi thăm các nước có sức mạnh nhất về kinh tế ở Tây Âu. Thật ra, người Đức đang rất lo lắng về mối quan hệ với Moskva. Sau đám tang Chernenko, khi Gorbachev gặp Thủ tướng Kohl, ông có hỏi (bằng tiếng Nga): “Kuđa driftreet Federalnaia Respublika?” (Nước Cộng hòa Liên bang đang trôi về đâu?). Thứ trưởng Ngoại giao Đức nói được tiếng Nga, nhưng lúng túng bởi Gorbachev dùng động từ “driftovat”, tiếng Anh “to drift” (trôi đi), lạ là từ này không thấy có trong bất kỳ từ điển tiếng Nga nào.
Kohl là vị chính khách đầu tiên nghe một từ mới như vậy và đó là đặc trưng của ngôn ngữ diễn văn của Gorbachev. Ông thích thêm mắm thêm muối vào lời phát biểu của mình bằng cách dùng các từ ngữ tiếng Anh mới lạ. Kohl rất có ấn tượng trước kỹ năng giao tiếp và ví Gorbachev với Josef Goebbles. Goebbles là người tuyên truyền cho chủ nghĩa Đức Quốc xã nổi tiếng. Gorbachev cảm thấy bị mất thể diện khi họ ví ông với nhân vật này. Không ngạc nhiên, việc này làm xấu đi quan hệ giữa hai nhà lãnh đạo. Thủ tướng Đức Kohl dùng cách tiếp cận khác với cách mà bà Thatcher từng sử dụng. Ông không cố gắng thuyết phục Mikhail Sergeevich thay đổi ý nghĩ mà nhất trí bất đồng trên một số điểm. Việc giải trừ hạt nhân là vấn đề quan trọng trong chương trình nghị sự và ông rất lạc quan khi đạt được một bước đột phá ở châu Âu.
Bất cứ nơi nào đặt chân đến, Mikhail Sergeevich đều được đón tiếp tưng bừng như thể ông vừa trở về từ Sao Hỏa. Tháng 7, ông lại đến Paris và thông báo với Tổng thống Pháp Mitterrand rằng thời kỳ hậu chiến đến hồi kết thúc. Một điềm lành là Pháp quyết định cắt giảm ngân sách quốc phòng. Tại Sorbonne, Gorbachev nói với giới trí thức Pháp: Thiếu tính duy linh và chủ nghĩa chống trí thức là những nguy cơ đáng sợ nhất. Trí tuệ thuần túy bị tách rời khỏi nền tảng đạo đức khác nào là mối đe dọa nguy hiểm cho thế giới ngày nay. Sau đó, ông đến Shasbourg phát biểu trước Hội đồng Châu Âu. Ông đến Helsinki vào tháng 10. Tiếp đến là thăm Italia vào Tháng 11/1989. Sự đón tiếp ở Milan là một kỷ niệm khó quên nhất trong sự nghiệp chính trị của ông. Ngày 1/12, lần đầu tiên có một chuyến viếng thăm của nhà lãnh đạo cao cấp Xô viết tới Vatican, yết kiến Đức Giáo hoàng John Paul II. Gorbachev thông báo với Giáo hoàng rằng một sắc luật về quyền tự do tín ngưỡng đang được soạn thảo. Ông còn nói với Giáo hoàng là sau khi cân nhắc kỹ, ông phải đi đến kết luận rằng dân chủ vẫn là chưa đủ:
Chúng ta cũng cần có đạo lý. Dân chủ có thể mang lại điều tốt và cả điều xấu nữa… Đối với chúng ta, cốt yếu là đạo lý phải được củng cố vững chắc trong xã hội cho mọi người và vĩnh hằng như phúc lành và tình thương, sự tương trợ. Chúng ta phải bắt đầu từ nguyên tắc là lòng tin của các tín đồ phải được tôn trọng.