Hồ Sơ Quyền Lực Gorbachev

Lượt đọc: 688 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
chính sách perestroika giai đoạn iii: 1990 1991

Điều canh cánh trong lòng Gorbachev bắt nguồn từ một bài báo trên tờ Pravda vào tháng 11/1989. Bài báo bắt đầu với tiêu đề “Tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cải tổ cách mạng”, cho rằng đây chỉ là cương lĩnh của cá nhân ông mà thôi. Ông nói rõ mình đã thay đổi cách nhìn nhận trên nhiều vấn đề:

Ông muốn chuyển đổi nền kinh tế hành chính − mệnh lệnh nhưng lại không muốn chấp nhận chủ nghĩa tư bản. Một xã hội nhân ái, tự do và lành mạnh sẽ xuất hiện qua hình ảnh công nhân làm việc trong xí nghiệp, nông dân lao động trên đồng ruộng. Mục tiêu là một xã hội dân sự, nơi mà nền dân chủ và tự do ngự trị. Quan trọng hơn, ông chỉ ra nền dân chủ thật sự là mục tiêu cuối cùng và chỉ có thể đạt được dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhưng trong khi đó nền dân chủ hình thức cũng có vị trí quan trọng, nghĩa là coi nền dân chủ hình thức của các nước tư bản chủ nghĩa là một bước đệm để đi đúng hướng. Việc phân lập các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng rất quan trọng. Ông thừa nhận Đảng đã tụt hậu trong cuộc chạy đua xây dựng dân chủ. Điều này cho thấy ông đang chủ trương xây dựng một nền dân chủ xã hội kiểu phương Tây, dù không có bất cứ biểu hiện nào chứng tỏ ông cổ vũ nền kinh tế thị trường và quyền tư hữu. Tất nhiên, trên cương vị lãnh đạo Đảng, ông không thể công khai thừa nhận các tư tưởng này.

Gorbachev tiếp tục tìm kiếm một cơ chế thị trường mà nó có thể giải quyết mọi vấn đề mà ông đang đối mặt. Chế độ độc Đảng là có lợi trong giai đoạn phức tạp hiện tại nhưng Đảng phải chấp nhận đa nguyên về tư tưởng và ngày càng dân chủ hơn. Điều gì sẽ xảy ra nếu Đảng không bắt kịp tốc độ phát triển của xã hội? Không có lời đáp cho câu hỏi này, nhưng Gorbachev nói với người Berlin rằng lịch sử sẽ trừng phạt những ai không theo kịp xu thế phát triển. Gorbachev táo bạo hơn, trong thông điệp đầu năm mới ngày 31/12/1989. Ông đã gạt bỏ những lời nhắc đến Lenin, đến chủ nghĩa cộng sản và Đảng 1 .

Mùa đông năm 1989-1990 là một trong những mùa đông kinh khủng nhất. Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu cuối cùng dẫn đến vụ hành hình Nicolai và Elena Ceaucescu, gia đình trị ở Rumani vào tháng 12/1989 khuấy động nỗi niềm hy vọng và thất vọng. Những người đòi quyền tự trị, đòi độc lập được khích lệ mạnh mẽ, trong khi các thành viên của giới cầm quyền Xô viết lại dửng dưng trước sự kiện này. Tình hình kinh tế suy thoái châm ngòi cho sự bất mãn của dân chúng và chủ trương công khai tước bỏ tính hợp pháp của Đảng. Đảng trở thành vấn đề chính đối với Gorbachev. Nhóm liên khu vực gồm các đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân, phần lớn là những người cộng sản (ngoại trừ trường hợp của Andrei Sakharov) ngày càng mạnh bạo và cấp tiến hơn, nhất là trong kỳ họp Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc. Các cuộc bầu cử vào Xô viết Tối cao các nước cộng hòa (chỉ nước Nga vẫn tuân theo hình mẫu Xô viết đề ra khi tiến hành bỏ phiếu trong và ngoài Đại hội Đại biểu Nhân dân, một đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc và một Xô viết Tối cao) diễn ra đầu năm 1990. Họ nghiêng về phe cấp tiến và những người cộng sản bảo thủ đã bị loại bỏ.

Việc này khích lệ Nhóm Liên Khu vực tin là tương lai nằm trong tay họ. Theo cuộc thăm dò dư luận mùa thu năm 1989 cho thấy đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân nào cấp tiến hơn thì càng nổi tiếng hơn trong con mắt công chúng. Nhóm Liên Khu vực muốn sửa đổi Điều 6 trong Hiến pháp 1977, điều quy định vai trò độc tôn của Đảng trong cơ cấu quyền lực chính trị. Điều này hợp pháp hóa các phe phái trong Đảng, vốn là điều cấm kỵ kể từ Đại hội lần thứ 10 năm 1921. Phái cấp tiến nghiêng nhiều về phi tập trung hóa hoạt động kinh tế nhưng Thủ tướng Ryzhkov đang cố đưa ra một đường lối nghiêng về tập trung hơn. Các đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân cũng nghiêng về quyền sở hữu tư nhân về đất đai và hoạt động kinh doanh. Điều này gần như quảng bá cho một Liên bang Xô viết, trong đó Moskva nắm quyền lãnh đạo mà các nước cộng hòa chỉ nghe theo.

Gorbachev phản đối tất cả các sáng kiến này. Ông đặc biệt nhạy cảm với Điều 6 nhưng cũng thành thật cho rằng quyền tư hữu là một bước thụt lùi. Ông lấy cương vị chủ tịch của mình để ngăn cản hoặc chí ít, tránh nổ ra thảo luận các vấn đề này trên phạm vi rộng. Việc đó gây cho mọi người ấn tượng ông đang bảo vệ đặc quyền của giới cầm quyền. Giữa ông và Andrei Sakharov đã xảy ra đụng độ đối đầu vào ngày 12/12/1989. Andrei Sakharov đề nghị tổ chức một cuộc thảo luận về quyền tư hữu đất đai và các xí nghiệp, Điều 6 trong Hiến pháp, và Hiến pháp phải được sửa lại cho phù hợp. Các vấn đề nên được bổ sung vào chương trình nghị sự. Gorbachev phản ứng như bị ong châm và xua Sakharov ra khỏi diễn đàn để không có cơ hội tranh luận. Gorbachev thóa mạ vị viện sĩ cao niên này nhưng khi đưa tin trên truyền hình quốc gia ngay tối hôm đó, chính Sakharov lại là người đã giành được phần thắng. Hai ngày sau ông qua đời vì một cơn đau tim. Những người cấp tiến ghép hai sự kiện này lại, khẳng định chính việc Gorbachev làm bẽ mặt đã đẩy Sakharov đến chỗ chết. Gorbachev không hề muốn có bất kỳ cuộc thảo luận nào về Điều 6, ông cho rằng một Hiến pháp mới có thể giải quyết vấn đề này.

Ngày 13/12, Nikolai Ryzhkov trình bày trước các đại biểu nhân dân kế hoạch chi tiết gồm hai giai đoạn tiến tới quan hệ thị trường. Mỗi giai đoạn kéo dài ba năm. Gavriil Popov, đồng Chủ tịch nhóm Liên Khu vực chế giễu kiến thức kinh tế của Ryzhkov:

Popov chỉ ra rằng kinh tế thị trường không thể được áp dụng từng đợt, giống như một chiếc ôtô cần có một động cơ và các chi tiết cấu thành cùng tương tác mới chạy được. Ông cho là cần có năm luật cơ bản: về quyền sở hữu, đất đai, xí nghiệp, các nước cộng hòa có sự độc lập kinh tế và quyền tự quản của địa phương. Tuy nhiên Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc vẫn thông qua kế hoạch xây dựng mối quan hệ thị trường của Ryzhkov với đại đa số tán thành. Họ quyết tâm tiếp tục hợp lý hóa nền kinh tế. Những người cải cách tỏ ra thất vọng và một đại biểu Ukraine bày tỏ nỗi niềm cay đắng trước sự bất công: cả một nước cộng hòa lao động cật lực bị trung ương lấy đi tới 95% sản lượng và chỉ chừa lại cho họ có 5%. Song cũng có trường hợp ngoại lệ, đó là các quốc gia vùng Baltic. Ngày 1/1/1990, họ thông qua quyền tự hạch toán, tức là họ đã giành được quyền tự quyết định về kinh tế.

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC

Lithuania là nơi Gorbachev áp dụng thử nghiệm chính sách dân tộc của mình. Tại cuộc họp thượng đỉnh Malta, Tổng thống Mỹ Bush nêu rõ, người Mỹ sẽ không làm phức tạp thêm vấn đề cho các nhà lãnh đạo Xô viết, đồng thời nói thêm ông sẽ không dùng vũ lực. Đại diện các nước cộng hòa vùng Baltic đã có cuộc gặp đại sứ Mỹ tại Moskva trước khi diễn ra hội nghị thượng đỉnh và tin chắc là Moskva và Washington sẽ không xóa bỏ thỏa thuận vấn đề Baltic. Ngày 7/12, Xô viết Tối cao Lithuania sửa đổi Điều 6 trong Hiến pháp Lithuania, là điều trao quyền độc tôn cho Đảng. Đảng Cộng sản Lithuania triệu tập Đại hội ngày 20/12 và ngay trưa hôm đó “với giọng nói tức giận khác thường”, Gorbachev gọi điện thoại cho Brazauskas để hỏi nghị quyết về việc tách Đảng Cộng sản Lithuania ra khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua chưa, ông có biết hậu quả sẽ dẫn tới đâu không? Được cảnh báo quân đội có thể đến giải tán Đại hội nếu việc này được thông qua, Brazauskas lập tức quay lại phiên họp và khuyến cáo Đảng này nên tách ra. Đương nhiên tuyên bố này đồng nghĩa với việc Lithuania thành một nước độc lập. Phái thân Moskva, chiếm khoảng 1/6 số đại biểu tách ra thành lập Đảng của riêng mình, gọi là Đảng Cộng sản Lithuania, trung thành với cương lĩnh của Moskva.

Nay Đảng của Brazauskas trở thành Đảng Cộng sản độc lập Lithuania. Tại phiên họp Đại hội Đại biểu Nhân dân ngày 21/12, Gorbachev khích bác các đại biểu Lithuania: “Các đồng chí là những người cộng sản, những người Bolshevik vô Đảng.” Khi Landsbergis bắt đầu phát biểu, Gorbachev hỏi kháy: “Bolshevik vô Đảng phải không?” Landsbergis trả lời “Vâng”, không nghe thấy từ Bolshevik. Thế là hai bên đã có lời qua tiếng lại. Sau đó, Tổng Bí thư với vẻ mặt buồn rầu, thở dài: “Algirdas 2 , anh đã cống hiến gì cho Đảng Cộng sản?” Dường như Gorbachev đã mất đi một người bạn thân. Họ thuyết phục những người Lithuania rất lâu. Ngày 24/12, cuối cùng Đại hội chấp nhận báo cáo của Yakovlev về Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, một nghị định thư kín và tất cả tài liệu khác liên quan.

Đại hội nhận thấy rõ sự đối đầu trực tiếp đầu tiên giữa Gorbachev và Shevardnadze. Ủy ban Sobchak thông báo trước Đại hội về vụ thảm sát Tbilisi, Gorbachev và Shevardnadze được miễn tội, họ đổ lỗi cho quân đội, trách nhiệm chính thuộc về người chỉ huy − Tướng Igor Rodionov. Giới quân sự mếch lòng và biện bạch vụ này mang tính tự vệ. Sau đó, Shevardnadze đòi chất vấn điều tra một số khiếu nại về giới quân sự nhưng Gorbachev không để ông can thiệp vào các vấn đề đó. Thái độ đó khiến Shevardnadze nổi đóa vì ông nghĩ đã có một thỏa thuận về báo cáo được trình ra mà không cần thảo luận. Ngày 24/12, Shevardnadze cảnh báo Gorbachev rằng ông sẽ từ chức để phản đối nhưng vị chủ tọa không muốn nghe và Ngoại trưởng chịu nhường. Gorbachev quyết định đứng về phe quân sự, đó là bằng chứng rõ rệt đầu tiên chứng minh mối quan hệ Gorbachev và Shevardnadze có nguy cơ tan rã. Nó cũng chứng tỏ sự thiếu nhạy cảm của Gorbachev trong các vấn đề dân tộc.

Trong phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương ngày 25/12, những lời xỉ vả tới tấp đổ lên đầu Brazauskas, Vadim Medvedev chứng kiến sự hợp nhất giữa Đại hội Đảng Lithuania và phong trào Sajudis. Đối với Ligachev, phong trào Sajudis lợi dụng Đảng như một công cụ nhằm đạt các mục tiêu quốc gia. Nursultan Nazarbaev, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Kazakhstan, cho rằng Đảng Cộng sản Lithuania đang cố tước bỏ vai trò là “đội quân tiên phong chính trị trong xã hội Xô viết của Đảng Cộng sản Liên Xô”. Tuy vậy, ông lại đề xuất ngay việc tái cơ cấu Bộ Chính trị làm đại diện cho toàn thể các dân tộc của Liên bang Xô viết. Gorbachev ngắt lời những người đang phát biểu say sưa chỉ trích Brazauskas. Có lúc ông đã nói, nhà lãnh đạo người Lithuania này là “một chú ngựa thành Troa”. Một nhà phê bình đã cảm nhận Brazauskas giống một nhân tố nguy hiểm vì ông là “người nhạy cảm, và có quyền lực”. Phe bảo thủ trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng được một phen chế nhạo, huýt sáo miệng thoải mái, perestroika bị mang ra xem xét.

Sau đó, Gorbachev phê bình những người ủng hộ perestroika không chịu lên tiếng. Chernyaev phân trần là họ chờ ông phát biểu trước. Nếu ông ngồi đó và chấp nhận sự chỉ trích này, những người ủng hộ ông còn biết làm gì. Gorbachev nhường Ligachev lãnh đạo phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương ngày 9/12 và ông đã tấn công perestroika. Yakovlev báo cáo sau đó, Tổng Bí thư ca ngợi Ligachev có công “bảo vệ Đảng”. Cách cư xử này khiến những người ủng hộ ông lúng túng. Chernyaev nói với Gorbachev là chừng nào mà ông còn ca ngợi Ligachev trước công chúng, dù biết ông này là kẻ thù, thì sẽ không bao giờ có perestroika trong Đảng. Yakovlev nói với Gorbachev lẽ ra ông không phải chịu sự phê phán cá nhân trước những việc ông đã làm. Lẽ ra ông phải đứng dậy và bỏ đi, ông cũng có thể lôi kéo thêm 100 người nữa theo ông ra ngoài. Trong số các nhà lãnh đạo, Yakovlev nghĩ Medvedev, Shevardnadze, Slyunkov và Kryuchkov sẽ ủng hộ Mikhail Sergeevich. Yakovlev cho rằng Gorbachev nên bỏ hẳn các vị có danh pháp lãnh đạo trong trung ương Đảng, vì perestroika không thể thành công với một đội ngũ lãnh đạo như vậy.

Phiên họp toàn thể chỉ rõ Gorbachev không chấp nhận một Đảng liên bang, như Yakovlev và những người khác khuyên. Thậm chí, dù đại đa số đảng viên của Lithuania đều muốn có một Đảng liên bang, Gorbachev coi đó là con đường dẫn đến hủy hoại. Ông cho quá trình này là quá trình tách khỏi Liên bang Xô viết và nó sẽ là sự cáo chung lịch sử đối với tất cả các dân tộc thuộc Liên bang Xô viết 3 .

Tình hình ở Lithuania ngày càng nghiêm trọng hơn và Gorbachev cảm thấy phải nghĩ cách gửi lời kêu gọi thẳng tới nhân dân không thông qua các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản. Ngày 4/1, ông gặp lãnh đạo Đảng Lithuania Brazauskas tại Moskva. Yakovlev dự đoán Lithuania có thể tạo ra hiệu ứng đôminô có thể là vấn đề chính sự tồn vong của Liên bang Xô viết. Gorbachev khuyến cáo những người cộng sản Lithuania nên chống lại tư tưởng độc lập, đồng thời cho họ hiểu nỗi khó xử của ông. Khi đến Vilnius ngày 11/1/1990, ông được phong trào Sajudis chào đón nhiệt tình, họ kêu gọi dân chúng thể hiện sự tôn trọng trước “nhà lãnh đạo của một nước láng giềng” và còn là “một nước láng giềng thân thiện”. Sau đó, ông chỉ trích Brazauskas nhưng người Lithuania đáp lại là Brazauskas không thể trả lời thay cho phong trào Sajusdis. Mikhail Sergeevich giải quyết vấn đề có nên tồn tại hai đảng ở Lithuania không. Ông được hộ tống đến khắp nơi với các nhà lãnh đạo của cả hai đảng. Ông sửng sốt về sự phản kháng mãnh liệt của công chúng Lithuania và điều này đã khiến ông nhận ra tình cảm dân tộc là tình cảm sâu sắc nhất. Ông cố từ bỏ khát vọng giành độc lập. Ông hy vọng cải cách chính trị và kinh tế sẽ đẩy lùi tư tưởng ly khai. Thấy được việc tham gia Liên bang mang lại lợi ích thật sự, người ta sẽ không còn ám ảnh bởi ý nghĩ độc lập và vấn đề này sẽ được giải quyết có lợi cho mọi người. Song, ông đưa ra hai nhân nhượng cơ bản. Một dự thảo luật đang được soạn thảo nhằm quy định cụ thể các thủ tục rút khỏi Liên bang Xô viết. Ông cũng đang tính đến một nhà nước đa đảng. Không có sự kiện bất ngờ xảy ra trong chuyến đi này và người Lithuania cho rằng thành công chủ yếu của chuyến thăm là không có gì thay đổi. Ngày 16/1, Brazauskas được bầu làm Chủ tịch Xô viết Tối cao Lithuania, được coi là người đứng đầu nhà nước. Ông đang dọn đường để gặp Gorbachev trên cương vị hai nhà lãnh đạo tối cao. Lithuania áp dụng mô hình nhà nước Xô viết. Quyền lực dịch chuyển từ Đảng sang tay Xô viết Tối cao.

Toàn thể Ban Chấp hành Trung ương nhóm họp từ ngày 5-7/2 và nghe báo cáo kết quả chuyến thăm Lithuania của Gorbachev. Ông thừa nhận xu hướng ly khai hiện đang chi phối nước cộng hòa này. Song, hai đảng ở Lithuania nên tìm giải pháp chung cho những vấn đề gây cấn. Cả hai đảng đều được mời cả hai đại biểu đi dự Đại hội Đảng lần thứ 28 ở Moskva. Tuy nhiên, những người bảo thủ lại nổi lên trong Đại hội. Họ chỉ ra “hội chứng Ceaucescu” và bày tỏ sự lo ngại một ngày nào đó chính họ bị treo lơ lửng trên các cột đèn. Nếu sự việc bắt đầu ở Lithuania thì nó sẽ kết thúc ở đâu? Phe thân Moskva trong Ban chấp hành Trung ương Đảng Lithuania tập trung chỉ trích Yakovlev, đổ hết tội lỗi cho ông vì chính ông đã khơi mào mọi chuyện và làm tình hình ở Lithuania tồi tệ hơn. Cuối cùng Gorbachev đứng về phe bảo thủ, khiển trách Đảng của Brazauskas. Ông hậu thuẫn cho Đảng thân Moskva, nhưng trên thực tế đảng này không có lực lượng ủng hộ ở Lithuania. Nó đang chơ vơ ở ngã ba đường giữa Gorbachev và Lithuania. Gorbachev không thể đưa ra một sáng kiến nào cho nước cộng hòa này nữa.

Tình trạng căng thẳng giữa Azerbaijan và Armenia về vùng Nagorno-Karabakh ngày càng tăng trong năm 1989, Moskva quyết định giao vấn đề tranh chấp vùng đất này cho các nước cộng hòa liên quan. Chính quyền đặc biệt tại Nagorno-Karabakh dưới thời Arkady Volsky giải thể ngày 28/11/1989, khi Xô viết Tối cao Liên bang bỏ phiếu ủng hộ trả lại vùng Nagorno-Karabakh thuộc về quyền quản lý của Azerbaijan. Ngày 1/12, căng thẳng ngày càng gia tăng ở thủ phủ Stepanakert, khi Xô viết Tối cao Armenia bỏ phiếu công nhận Nagorno-Karabakh là một vùng đất không thể tách rời của họ. Azerbaijan đáp trả bằng cách phong tỏa Armenia, vì vậy hầu như toàn bộ hàng hóa vận chuyển đến Armenia phải đi qua lãnh thổ Azerbaijan. Mặt trận Dân tộc Azerbaijan, lúc này được công nhận hợp pháp, đã tổ chức các đoàn biểu tình lớn phản đối. Ngày 13/1/1990, các cuộc bạo loạn đẫm máu nhất trong thời kỳ Xô viết đã xảy ra ở Baku. Người Armenia bị sát hại ở mọi nơi. Mặt trận Dân tộc nắm lấy quyền lực và giới lãnh đạo Đảng phải di chuyển về Moskva. Ngày 18/1, Mặt trận Dân tộc tuyên bố tình trạng khẩn cấp và chính quyền cộng sản bắt đầu sụp đổ. Ngày 19/1, Mặt trận đã chiếm các tòa nhà của Đảng và chính phủ.

Cùng ngày đó, Moskva tuyên bố tình trạng thiết quân luật và quân đội Xô viết tiến vào Baku nhằm khôi phục chính quyền cộng sản. Ngày 21/1, Xô viết Tối cao Azerbaijan biểu quyết tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về việc tách khỏi Liên bang Xô viết nếu quân đội Liên bang tiếp tục đóng quân trên mảnh đất này. Hơn 200 người ở Baku có thể đã bị sát hại trong cuộc đàn áp thẳng tay. Tình hình này chỉ kích thích thêm nỗi niềm khao khát của người Azeris về một nền độc lập hoàn toàn. Sự can thiệp bằng quân sự ở Baku châm ngòi cho các cuộc biểu tình ở Nga. Họ không phản đối việc quân đội tiến hành đàn áp mà họ quan tâm đến người thân, con cái đang bị đẩy vào nơi nước sôi lửa bỏng. Tuy vậy, có một tiền lệ: để giữ gìn đế chế được toàn vẹn thì phải đổ máu. Kết luận riêng của Gorbachev là chính quyền không thể tránh được việc sử dụng vũ lực trong tình huống quá khích. Chỉ có một chút hài lòng cho Gorbachev là người Mỹ không đả động gì đến vụ thảm sát ở Baku. Washington chấp nhận đó là xung đột sắc tộc nội bộ.

GORBACHEV, PHE CẤP TIẾN VÀ PHE BẢO THỦ

Hơn 400 người cấp tiến trong Đảng đã tập hợp lại ngày 20-21/1/1990 với mục đích tạo dựng nền tảng dân chủ cho Đảng Cộng sản Liên Xô. Nhiều người trong số này là đại biểu nhân dân của Nhóm Liên Khu vực. Họ nghiêng về chủ trương xây dựng một chế độ đa đảng, sự cáo chung của chế độ độc Đảng, của chế độ tập trung dân chủ và bỏ phiếu kín bầu các quan chức chính quyền. Có nhiều người tin ở lại trong Đảng sẽ tốt hơn, như Yeltsin, nhằm thay đổi tổ chức ngay từ bên trong. Song, những người khác, như Gavriil Popov, lại muốn tách ra khỏi Đảng nếu bộ máy Đảng không được xây dựng dân chủ hơn. Aleksandr Yakovlev không tham gia nhưng người ta cho rằng ông có hướng ủng hộ nhóm này.

Cuộc chiến sôi sục ở hậu trường được đăng tải trên các trang báo của tờ Le Monde. Phóng viên thường trú của báo này tại Moskva có trong tay nhiều tài liệu về chủ trương, chính sách do các cố vấn của Gorbachev soạn thảo, họ là những người ủng hộ nhóm dân chủ này. Họ tán thành cắt đứt hoàn toàn quan hệ với phe bảo thủ trong Đảng, chính những người đó bây giờ là bức rào cản lớn nhất đối với perestroika. Hơn thế nữa, họ còn đang tạo dựng các liên minh với những phần tử Sô-vanh và các thành phần yêu nước khác trong xã hội. Để thúc đẩy perestroika, Gorbachev buộc phải liên minh với những người cấp tiến này chứ không phải đứng làm trung gian giữa hai phái như trước nữa. Điều đó càng làm tăng sự nghi ngờ của phe bảo thủ, điển hình là Ligachev, về việc Gorbachev từ bỏ đấu tranh giai cấp và phản bội đất nước. Gorbachev thể hiện mình là một tài năng lớn khi thoát khỏi tình huống nguy hiểm này và Bill Keller, phóng viên đáng kính của tờ Thời báo New York, đã tóm lược kỹ năng của Gorbachev khi phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 5/2 khai mạc:

Gorbachev tạo nên một trong những điều thần kỳ tại phiên họp toàn thể. Ông nhận được sự ủng hộ đông đảo từ phía những người bảo thủ, chấp nhận chế độ bầu cử tổng thống, được đưa vào cương lĩnh mới của Đảng để trình bày tại Đại hội Đảng lần thứ 28 tháng 7/1990. Ông vận dụng hàng loạt chiến thuật nhằm đạt được kết quả. Đầu tiên, cũng có nhân tố bất ngờ. Vấn đề này không được thảo luận trong Đảng hay trong giới báo chí trước khi phiên họp diễn ra. Ông hy vọng vấn đề này được thông qua trước khi các phe phái chống ông hình thành. Ông không đưa ra quá nhiều chi tiết. Tuy vậy, ông nhân nhượng với phe bảo thủ. Ông phản đối chế độ Liên bang và bảo vệ bộ máy tập trung chuyên chế của Đảng. Không có quyền tư hữu đất đai. Tất nhiên, ông chủ trương tiếp tục thúc đẩy xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chắc chắn ông nhận ra mình không thể sử dụng quyền lực tổng thống nếu Đảng cứ khư khư vai trò tập trung của mình. Nếu được bầu làm tổng thống, ông sẽ từ bỏ vai trò lãnh đạo Đảng. Điều đó chỉ có thể diễn ra khi ông coi vai trò của Đảng chỉ mang tính chất là một diễn đàn. Hình như ông kết luận nếu ông là một nhân vật cấp tiến hơn, ông sẽ đảm bảo nền tảng quyền lực của mình trước tiên. Với cương vị tổng bí thư và chủ tịch Đại hội Đại biểu Nhân dân, ông có thể bị thuyên chuyển bất cứ lúc nào. Là tổng thống, ít ra ông cũng được đảm bảo chức vụ của mình trong nhiệm kỳ năm năm. Trong một thời gian trước mắt, thuyết phục Đảng chấp nhận hệ thống bầu cử tổng thống, ông sẵn sàng nhượng bộ. Tuy vậy, các nhượng bộ ông đưa ra làm trầm trọng thêm tình hình kinh tế đáng báo động của đất nước và lại một lần nữa, trì hoãn công cuộc cải cách kinh tế có tính quyết định.

Phiên họp cũng chấp nhận sửa đổi Điều 6 trong Hiến pháp năm 1977 ở phiên họp tới của Đại hội Đại biểu Nhân dân. Trong hồi ký của mình, Gorbachev coi đó là “Điều 6 đáng nguyền rủa”. Về nguyên tắc, quyết định bỏ chế độ độc Đảng được thừa nhận tại Hội nghị lần thứ 19, có nghĩa là chấp nhận một chế độ đa đảng và có phe đối lập chính trị. Nhưng khi nào mới áp dụng những thay đổi cơ bản này? Những người bảo thủ trong giới lãnh đạo, đứng đầu là Ligachev, không muốn từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Sự thô bạo của Gorbachev đối với Sakharov vào tháng 12/1989 dường như liên quan tới thất bại của phe cấp tiến, Gorbachev, Medvedev, Shevardnadze và Yakovlev, nhằm muốn đẩy qua Bộ Chính trị xem xét cho nhanh. Gorbachev lên kế hoạch riêng cho cải cách nhưng còn phụ thuộc vào kỹ năng chiến thuật của ông đánh bại những người bảo thủ. Mặt khác, sự phát triển xã hội nhanh hơn sự phát triển của Đảng và cần có sự thay đổi mạnh mẽ, cấp tiến hơn. Khó khăn mà Gorbachev phải đối mặt là nắm bắt nhanh nhạy và kịp thời những thay đổi, thỏa mãn hai viện, không để họ ngày càng bỏ xa nhau. Cũng có quan điểm cho rằng hoạch định mang tính chiến thuật (kế hoạch ngắn hạn) tốt hơn là hoạch định mang tính chiến lược (kế hoạch dài hạn). Cho đến lúc này, ông chưa có một tầm nhìn chiến lược rõ ràng và chưa xác định rõ là mình đang đi đâu. Một trong những điểm yếu của ông là không có khả năng dự báo được hậu quả các hành động của mình.

Gorbachev nhạy cảm lạ thường trước trào lưu chỉ trích cá nhân nổi lên khi các nhóm ủng hộ dân chủ kêu gọi tổ chức một cuộc biểu tình ở Moskva vào ngày 25/2. Ông ủng hộ cuộc biểu tình trước, vào ngày 4/2; nhưng Vladimir Kryuchkov, khéo léo khai thác điểm yếu không thích phê bình của Gorbachev, đã xuyên tạc một số lời nhận xét bình luận, thêm thắt mùi vị chống Gorbachev. Kryuchkov loan tin là những người tuần hành ngày 25/2 có ý đồ xông vào Điện Kremlin. Ryzhkov xuất hiện trên tivi khuyến cáo người dân nên ở trong nhà để tránh rơi vào tình trạng bạo lực có thể xảy ra. Người ta cũng đạt được một thỏa hiệp và đám đông hơn 100 nghìn người đã tụ họp ở Công viên Gorky và sau đó tới quảng trường Smolensk, tránh xa trung tâm. Quân đội sẵn sàng chờ lệnh phòng xa khi có người cố đến gần trung tâm. Toàn bộ việc này làm cho người của phe dân chủ tức giận, họ bắt đầu nghi ngờ về động cơ muốn trở thành tổng thống của Gorbachev. Vị tổng thống tương lai đã giải quyết không thỏa đáng trước đoàn biểu tình khiến họ cho rằng ông không hề có niềm tin vào nền dân chủ. Trong cuộc họp của Xô viết Tối cao hai ngày sau đó, Sergei Stankovich và Anatoly Sobchak kêu gọi cần có sự cân nhắc trước khi thông qua sửa đổi Hiến pháp. Gorbachev bị kết tội tập trung quá nhiều quyền lực trong tay. Điều đó làm ông bị tổn thương và những lời bình luận rời rạc của ông chứng tỏ sự bối rối trong lòng ông. Khi cuộc bỏ phiếu sắp tiến hành, đã có một số lớn ủng hộ bản sửa đổi Hiến pháp.

LẠI LÀ VẤN ĐỀ LITHUANIA

Các cuộc bỏ phiếu cho Xô viết Tối cao Lithuania hay Hội đồng diễn ra ngày 25/2/1990 và vòng hai hoàn thành để Hội đồng có thể triệu tập họp vào ngày 10/3. Các ứng cử viên ủng hộ phong trào Sajudis đã giành chiến thắng đa số áp đảo và hơn số đại biểu cam kết thúc đẩy nền độc lập tự chủ. Đảng thân Moskva tiếp nhận tài sản của Đảng và Gorbachev cảnh báo Brazauskas rằng việc ly khai sẽ làm cho Lithuania mất đi 21 tỷ rúp (tương đương 33 tỷ đôla) vì Moskva sẽ không chấp nhận thanh toán bằng tiền rúp. Lithuania có thể sẽ mất Vilnius và Klaipeda, đồng thời phải lùi về biên giới cũ năm 1939.

Các nhà lãnh đạo Sajudis, đứng đầu là Vytautas Landsbergis, đề nghị gặp đại sứ Mỹ và được chấp thuận sáng 7/3. Tuy nhiên, Shevardnadze đề nghị có cuộc gặp khẩn trước đó. Ông chuẩn bị các công hàm bằng tiếng Gruzia. Việc này quả thật nghiêm trọng. Với giọng điệu trịnh trọng, ông giải thích cuối tuần tới, ngày 10-12/3, sẽ là thời khắc quyết định đối với Liên bang Xô viết: “Kế hoạch của Gorbachev đảm nhận một nhiệm kỳ tổng thống và một liên bang gồm các nhà nước có chủ quyền lại vấp phải sự phản đối kịch liệt. Tình hình nội bộ hết sức căng thẳng, đặc biệt là giới quân sự, một động thái sai cũng có thể châm ngòi cho một cuộc nội chiến và “tạo ra một chế độ độc tài quân sự”. Nếu Đại hội Đại biểu Nhân dân mới của Lithuania tuyên bố độc lập trước khi Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc thông qua chế độ bầu cử tổng thống, chắc chắn sẽ có nội chiến. Nếu người Lithuania tuyên bố độc lập sau khi Gorbachev trở thành tổng thống, ông có thể kiểm soát được tình hình. Shevardnadze đề nghị đại sứ Mỹ trì hoãn cuộc gặp với lãnh đạo phong trào Sajudis. Việc này cũng tránh nghi ngờ Mỹ đang ”lôi kéo” Lithuania hòng làm tan rã chế độ Liên bang Xô viết. Việc này có thể xô đẩy đến hành động quân sự chống người Lithuania. Vị đại sứ nói với Shevardnadze rằng ông không thể hoãn cuộc gặp.

Landsbergis phát biểu rằng đoàn đại biểu muốn thông báo với đại sứ rằng Hội đồng Tối cao Lithuania sẽ triệu tập vào cuối tuần và có thể sẽ tuyên bố độc lập. Người Lithuania băn khoăn hai vấn đề: nước Mỹ phản ứng ra sao trước tuyên bố độc lập của họ, liệu quan hệ giữa Washington và Moskva có vì các vấn đề dân tộc mà bế tắc không? Vị đại sứ giải thích Mỹ chỉ công nhận một chính phủ có khả năng kiểm soát được chính lãnh thổ của mình. Đây không phải là trường hợp đó, Washington sẽ không công nhận Lithuania. Về vấn đề dân tộc, không có sự thông cảm giữa hai chính phủ. Người Lithuania muốn tuyên bố độc lập trước khi Gorbachev lên làm Tổng thống. Tại sao vậy? “Đơn giản chúng tôi không tin ông ta”, Landsbergis đáp, “Ông ta thích quyền lực hơn, vì vậy ông ta có thể nghiền nát chúng tôi!” Vị đại sứ đáp lại rằng: Gorbachev hiện đã thừa khả năng để nghiền nát họ rồi.

Vị đại sứ gặp Shevardnadze ngay hôm sau. Ông gợi ý là Tổng thống Bush có thể liên hệ với Landsbergis khuyên ông chờ thêm một tuần nữa trước khi tuyên bố độc lập. Song, Gorbachev phải cam kết không dùng vũ lực chống lại Lithuania. Không có chuyện gì xảy ra cả. Khi chia tay, Shevardnadze gây cho vị khách sửng sốt, ông nói: “Jack, tôi sẽ nói với anh một điều. Nếu tôi chứng kiến một chế độ độc tài đang hình thành, tôi sẽ từ chức. Tôi sẽ không nằm trong thành phần một chính phủ mà tay họ nhuốm đầy máu.” Hội đồng Tối cao Lithuania tuyên bố độc lập vào ngày 11/3, đúng năm năm sau ngày Gorbachev nhậm chức tổng bí thư. Washington tái khẳng định “quyền tự quyết hòa bình không thể bị tước bỏ của nhân dân vùng Baltic” và thúc giục chính quyền Xô viết phải sớm tham gia vào các cuộc thương lượng có tính xây dựng cùng chính phủ Lithuania”. Vytautas Landsbergis được bầu làm chủ tịch, do vậy đồng thời là người đứng đầu nhà nước. Agirdas Brazauskas là người thứ hai. Tên chính thức là nước Cộng hòa Lithuania và các đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân tuyên bố “tái thiết nền độc lập cho nhà nước Lithuania”. Kazimiera Pruskiene trở thành Thủ tướng vào ngày 17/3 và Brazauskas làm Phó Thủ tướng thứ nhất. Sự mạo hiểm của ông chia sẻ với những người bảo thủ đã đem lại kết quả tốt và sau đó ông kế nhiệm Landsbergis làm Tổng thống nước Lithuania độc lập.

VỊ TỔNG THỐNG ĐẦU TIÊN

Kết quả bầu Gorbachev làm Tổng thống ngày 13/3/1990 tại Đại hội Đại biểu Nhân dân, trên cương vị chủ tịch điều hành Liên bang Xô viết là điều đã được dự đoán. Trong phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương một ngày trước đó, ông được phê chuẩn. Sự căng thẳng giữa Gorbachev và phe cấp tiến, những người dân chủ ngày càng tăng lên rõ rệt qua bài diễn văn của Yury Afanasev, phát ngôn thay cho Nhóm Liên Khu vực. Ông tiết lộ nhóm này sẽ bỏ phiếu chống chủ trương áp dụng hệ thống bầu cử tổng thống đến chừng nào các điều kiện nhất định chưa được đáp ứng. Họ muốn có một cuộc bầu cử tổng thống dựa trên một hiệp ước Liên bang, áp dụng chế độ đa đảng, bầu ra một cơ quan lập pháp mới và bầu tổng thống rộng rãi. Tổng thống sẽ không đóng vai trò chủ chốt trong bất cứ đảng phái chính trị nào.

Rõ ràng phe cấp tiến lo ngại Gorbachev sẽ sử dụng quyền lực mới của mình chống lại họ. Afanasev không tiếc lời thóa mạ Gorbachev. Ông ta lớn tiếng tuyên bố mục đích của chế độ tổng thống chỉ nhằm hợp pháp hóa quyền lực tối cao trong tay một cá nhân, mà lúc này người đó chính là Mikhail Sergeevich Gorbachev. Các đại biểu khác lại bảo vệ Gorbachev, họ cho rằng ông đã giành được quyền lực cá nhân tuyệt đối năm năm trước. Ông cũng mong muốn các điều kiện khác nữa nhưng đơn giản vì không có thời gian để tham dự các cuộc bầu cử tổng thống. Một đại biểu khác lo sợ Gorbachev có thể sẽ thâu tóm mọi quyền lực: “Nó đe dọa tiến trình dân chủ hoá… có nguy cơ quay lại chế độ độc tài, các nguyên tắc dân chủ bị phá vỡ… không ai nghe ai cả.”

Nursultan Nazarbaev, Bí thư thứ nhất Đảng Kazakhstan đề xuất một số việc không liên quan đến Gorbachev. Ông muốn áp dụng chế độ bầu cử tổng thống ở nước cộng hòa này “nhằm loại bỏ các mâu thuẫn giữa khái niệm về nhiệm kỳ tổng thống và nguyện vọng của các nước cộng hòa muốn mở rộng thêm quyền tự trị của họ”. Trong một bài phát biểu, Nazarbaev có ý định cắt giảm quyền lực và ảnh hưởng của trung ương. Khi cuộc bỏ phiếu dừng lại, theo danh sách cử tri, 1.817 phiếu nhất trí chế độ bầu cử tổng thống, 133 phiếu chống và 61 bỏ phiếu trắng. Có ba người có tên trên lá phiếu bầu tổng thống, nhưng Nikolai Ryzhkov 4 và Vadim Bakatin rút lui, Gorbachev ở lại không có đối thủ. Ông được bầu làm Tổng thống trong một cuộc bỏ phiếu kín với 1.329 phiếu thuận, 495 phiếu chống và 313 phiếu trắng hoặc bị coi là không hợp lệ. Điều này đại diện cho 59,1% đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân, là quá bán 50% cộng một được coi là hợp lệ. Song, việc này cho thấy mức độ có thay đổi nhiều kể từ sau cuộc bỏ phiếu tháng 5/1989, khi ông được bầu vào chức Chủ tịch Xô viết Tối cao với 2.123 phiếu (95,6%) so với 87 phiếu còn lại.

Một vấn đề khác tại Đại hội là liệu “người được bầu vào chức vụ Tổng thống của Liên bang Xô viết có thể nắm các trọng trách khác trong Đảng hoặc có chức vụ trong nhà nước không”. Cả nhóm liên khu vực và những người bảo thủ đều phản đối và kiến nghị đòi sửa đổi Điều 127 (quyền Tổng thống) thất bại vì 1.303 phiếu chống và chỉ 607 phiếu thuận. Một sửa đổi trong hiến pháp cần phải có sự ủng hộ của 2/3 đa số đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân. Phe bảo thủ không đạt được mục tiêu của họ.

Có nhiều ý kiến trái ngược về việc phải chăng Gorbachev đã phạm phải một sai lầm lớn là không được bầu rộng rãi. Yeltsin xoáy vào điểm này. Được bầu chính thức hẳn là có tác dụng làm tăng hình ảnh và tính hợp pháp của Gorbachev. Tuy nhiên, sau khi cân nhắc kỹ, ông có thể kết luận mình không phải là người chiến thắng. Để được bầu làm tổng thống, ứng cử viên phải có đa số phiếu ủng hộ của các nước cộng hòa. Sự thù hận chống Mikhail Sergeevich ở Baltic và Ngoại Cavcaz chắc chắn khiến ông không nhận được đa số ủng hộ ở đây. Ông sẽ phải nhân nhượng họ rất nhiều để đổi lấy sự ủng hộ của họ trong cuộc bầu cử ở các nước cộng hòa. Hiến pháp muốn cản người Nga bầu cử cho một người Nga làm Tổng thống toàn Liên bang Xô viết, người Nga đó sẽ áp đặt ý chí của mình lên các dân tộc không phải Nga.

Tổng thống bổ nhiệm Hội đồng Bộ trưởng và trình danh sách lên Xô viết Tối cao xem xét và thông qua. Ông chủ trì Hội đồng Quốc phòng. Một Hội đồng Tổng thống, đại diện cho các khu vực bầu cử, được bổ nhiệm. Về mặt nghi thức, hội đồng này có thể thay mặt Bộ Chính trị. Như vậy, sự cân bằng về quyền lực được bảo đảm để hoạt động hiệu quả. Thành viên của Hội đồng đón tiếp các quan chức cao cấp nước ngoài trong các ngày lễ nhà nước. Một Hội đồng Liên bang cũng được bầu ra đại diện cho các nước cộng hòa. Hai hội đồng này đóng vai trò tư vấn, cùng với Tổng thống đảm trách thực hiện quyền hành pháp. Ở đây thể hiện sự phân lô quyền lực rõ ràng. Tuy nhiên, có nhiều điểm yếu trong hệ thống này, Ryzhkov lo lắng trước việc chính quyền đang trên đà suy yếu. Một số cố vấn của Gorbachev khuyên ông chống lại việc can thiệp vào quá trình quản lý kinh tế − đây là một sai lầm chết người. Không có cơ quan hành pháp mạnh nào lập ra chỉ để thực hiện các quyết định của Tổng thống. Đảng phải đứng ngoài các hoạt động nhà nước. Các Xô viết, đa số là thành viên của các cơ quan lập pháp nhưng lại không có vai trò gì trong hành pháp. Một điểm chủ yếu nữa là thất bại trong việc thiết lập một hệ thống tòa án độc lập và mạnh mẽ. Ủy ban Hiến pháp đưa ra quá ít hướng dẫn vì các quan tòa cũng giống như Solomon, tìm ra giải pháp cho cả hai bên. Kết quả là thiếu đi quyền hành pháp tập trung, các cơ quan ở dưới như các nước cộng hòa và các tổ chức mafia đang nổi lên, từng bước lấp chỗ trống này.

TRỞ LẠI BALTIC

Tại Đại hội Đại biểu Nhân dân, đại biểu Lithuania tham gia với tư cách quan sát viên và không tham gia bầu cử tổng thống. Họ kêu gọi Đại hội bình tĩnh sáng suốt đưa ra giải pháp cho các cuộc thương lượng giành độc lập. Giống như vậy, người Estonia không bỏ phiếu bầu cử tổng thống và chính thức đề nghị Gorbachev bắt đầu tiến hành đàm phán về nền độc lập. Ông cương quyết chống lại: “Không thể có vấn đề đàm phán nào với Lithuania, với Estonia hoặc Latvia.” Phản ứng của Đại hội là bác bỏ tuyên bố độc lập của Hội đồng Tối cao Lithuania. Moskva khuyến khích các dân tộc thiểu số ở Lithuania hãy thể hiện quyền lực của họ và chống lại xu hướng ly khai. Chủ trương công khai, cuối cùng chỉ là phương tiện tuyên truyền cho các quan điểm của trung ương mà thôi.

Ngày 23/3, toàn bộ các nhà ngoại giao được lệnh rời khỏi Lithuania trong vòng 12 giờ (Mỹ cũng có hai quan sát viên ở đây) và các phóng viên báo chí được thông báo hoãn các chuyến đi thăm vùng này. Căng thẳng đã bắt đầu. Người Mỹ khuyến khích đối thoại nhưng Landsbergis chỉ chấp nhận thương lượng trên tư cách một nước có chủ quyền, còn Moskva chỉ thương lượng trong trường hợp nước cộng hòa này rút lại tuyên bố về độc lập. Trong khi Washington làm ngơ trước vụ tàn sát ở Baku, tình hình đổ máu ở Lithuania sẽ đặt dấu chấm dứt quá trình hợp tác giữa hai cường quốc.

Bộ luật chờ đợi từ lâu quy định về vấn đề ly khai cuối cùng cũng được thông qua và Tổng thống Gorbachev đã ký vào ngày 3/4. Mục đích của luật này biến việc ly khai thành một thủ tục kéo dài và phức tạp đến mức trên thực tế không thể thực hiện được. Trước hết, phải tiến hành tham khảo ý kiến, có sự nhất trí của đa số 2/3, sau đó người ta mới tiến hành thương lượng. Đại hội Đại biểu Nhân dân sẽ quyết định thời gian của quá trình chuyển đổi (có thể là đến năm năm) và cuối cùng Đại hội sẽ công nhận về mặt pháp lý, nước cộng hòa được ly khai. Bằng bất cứ giá nào Gorbachev vẫn muốn duy trì chế độ liên bang.

Vào ngày 13/4, ngày thứ sáu tốt lành, Gorbachev phát đi một tối hậu thư:

Người ta tiến hành phong tỏa vào ngày 18/4. Mặt hàng đầu tiên bị cắt là dầu hỏa và khí tự nhiên, hai mặt hàng này bị cắt giảm đến 80%. Một danh sách dài các hàng hóa khác gồm cả: cà phê, đường cũng bị cấm cung cấp và Gorbachev bác bỏ đề nghị cung cấp ngoại tệ cho Lithuania. Brazauskas phải chịu trách nhiệm đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng. Ông là sự lựa chọn tuyệt vời vì ông có nhiều quan hệ trong Liên bang Xô viết. Kể từ khi Lithuania là một nước xuất khẩu lương thực, hầu như không hề xảy ra tình trạng khủng hoảng lương thực ở đây. Nguyên nhân khiến nước cộng hòa này suy yếu và lụn bại là do việc đóng cửa nhà máy năng lượng điện hạt nhân ở Ignalina. Moskva đóng cửa nhà máy hạt nhân này để sửa chữa nhưng Brazauskas đe dọa sẽ cắt điện toàn khu vực Kaliningrad, vì nhà máy ở Ignalina cung cấp đến 60% nguồn điện cho vùng này, và nhà máy điện này ngay lập tức được hoạt động trở lại. Phần lớn điện sử dụng trong khu vực Kaliningrad là dùng cho quân đội. Việc phong tỏa này cũng khiến Tổng thống Mỹ bối rối, vì trước đó ông cam kết không có hành động chống lại Gorbachev. Gorbachev cho rằng áp lực kinh tế và những cuộc diễn tập quân sự liên miên ở nước cộng hòa này sẽ buộc người Lithuania phải phục tùng.

Chẳng những có tác động đe dọa người dân Baltic, áp lực của Moskva đối với Lithuania còn có tác động ngược lại. Ngày 30/3, Xô viết Tối cao Estonia mà thành phần chủ yếu là Mặt trận Dân tộc trong các cuộc bầu cử gần đây, tuyên bố pháp luật Xô viết hiện hành là bất hợp pháp từ lúc khởi đầu và đòi phục hồi nước Cộng hòa Estonia thời kỳ trước chiến tranh. Ngày 19/4, Gorbachev gặp riêng các đại biểu từ Estonia và Latvia, hy vọng thuyết phục họ không theo gương Lithuania. Ông cam kết sẽ trao cho họ quyền tự trị trong một liên bang mới. Điều này nghe không còn mấy hấp dẫn và vào cuối tháng 4, Latvia tuyên bố việc sáp nhập vào liên bang của nước này năm 1940 không còn hiệu lực.

Ngày 16/5, Lithuania tuyên bố sẵn sàng tạm thời ngừng hoạt động cho việc tuyên bố độc lập. Landsbergis và Prunskiene gặp Gorbachev và ông chỉ rõ mình có thể nhân nhượng. Trong khi đó Prunskiene sẵn sàng tận dụng các kết quả đạt được thông qua thương lượng, Landsbergis lại kiên quyết không chịu nhượng bộ. Prunskiene tỏ ra thận trọng trước lập trường không nhượng bộ của ông này.

Khi Ngoại trưởng Mỹ James Baker thăm Moskva cuối tháng 5 để chuẩn bị cho cuộc gặp thượng đỉnh Washington, vấn đề Lithuania lại một lần nữa trở thành vấn đề nổi cộm trong chương trình nghị sự. Khi gặp Shevardnadze, Baker nói rõ địa vị hợp pháp của ba nước cộng hòa vùng Baltic khác hoàn toàn với địa vị của các nước cộng hòa khác trong Liên bang Xô viết. Shevardnadze vặn vẹo lại rằng nhân dân vùng Cavcaz đều hài lòng và mãn nguyện với việc gia nhập Liên bang, đây cũng là tâm lý chung của nhiều người dân vùng Trung Á. Ông cũng nêu rõ dù Gorbachev và ông thật sự muốn tạo lập mối quan hệ ngày càng tốt đẹp hơn với Mỹ, và nếu phải chọn lựa giữa việc giữ cho Liên bang Xô viết thống nhất một khối và có quan hệ tốt đẹp hơn với nước Mỹ, thì cả hai sẽ ưu tiên củng cố thống nhất trong nội bộ Liên bang lên hàng đầu. Nội chiến sẽ xảy ra ngay lập tức nếu họ cho phép bất cứ một nước cộng hòa nào ly khai khỏi Liên bang. Sau đó, Baker còn gặp Kazimiera Prunskiene, nhân vật mà ông cho là nhà thương thuyết tài năng hơn Landsbergis − người không thể giành thắng lợi nếu cứ gò mình vào các khẩu hiệu hô hào hay chú tâm nhiều vào vị thế đàm phán. Prunskiene muốn biết liệu việc trì hoãn tuyên bố độc lập của Lithuania có thể hiện nước này đang tự nguyện đi theo tiến trình luật pháp của Xô viết không. Baker hứa chắc chắn bất kể Lithuania hành động ra sao, Washington luôn công nhận các nước cộng hòa vùng Baltic là một bộ phận của Liên bang Xô viết. Nhu cầu của Liên Xô về việc ký một hiệp định thương mại với Mỹ ngày càng cấp bách vì nền kinh tế của họ đang trên đà trượt dốc. Washington có thể lợi dụng tình thế này để tăng sức ép chấm dứt các trừng phạt kinh tế của họ với các nước cộng hòa. Như một phần của cuộc trao đổi, người Mỹ tuyên bố họ sẽ không ký hiệp định thương mại cho đến khi Moskva thông qua luật cho phép tự do xuất cảnh.

Gorbachev tìm mọi cách thoát khỏi bãi lầy trong vấn đề Lithuania, ông nhận định nước Nga có thể còn là mối đe dọa đáng sợ hơn Lithuania. Bất chấp nỗ lực ngăn cản của ông đối với cơ hội thắng cử của Yeltsin, vào chức Chủ tịch Xô viết Tối cao Liên bang Nga, Yeltsin vẫn trở thành Chủ tịch Đại hội Đại biểu Nhân dân và giữ cương vị đứng đầu nước cộng hòa này, vào ngày 29/5. Đó cũng chính là ngày Gorbachev đi dự hội nghị thượng đỉnh ở Canada và Mỹ. Lần đầu tiên, Gorbachev bị bao phủ bằng hàng loạt các sự kiện trong nước trong khi tham gia hội nghị tại nước ngoài.

Tại hội nghị thượng đỉnh (từ 30/5-4/6), Tổng thống Bush vẫn chưa có ý định ký hiệp định thương mại, Shevardnadze cảm thấy ngao ngán khi được thông báo khả năng Tổng thống Mỹ sẽ không ký hiệp định này. Sau cùng, Gorbachev thuyết phục Bush ký Hiệp định nhưng phải có hai nhượng bộ. Liên bang Xô viết buộc phải thông qua đạo luật về tự do xuất cảnh và Gorbachev phải dỡ bỏ trừng phạt kinh tế với Lithuania, trước khi luật thương mại được trình lên Đại hội. Thỏa thuận về vấn đề Lithuania chỉ mang tính cá nhân chứ không công khai vào thời điểm đó.

Ngày 1/6, Yeltsin gặp Landsbergis thảo luận vấn đề hợp tác giữa hai chính phủ và chỉ trích lệnh phong tỏa đang được áp dụng. Trước khi đi Washington, Gorbachev kết tội Yeltsin có ý đồ làm tan rã Liên bang Xô viết. Tại hội nghị thượng đỉnh, ông cho Tổng thống Bush biết Yeltsin là kẻ phá hoại. Người dân Lithuania bị chia rẽ sâu sắc trước cách giải quyết của Moskva. Landsbergis muốn thể hiện một lập trường cứng rắn nhưng Prunskiene nghiêng về nhân nhượng thỏa thuận, thậm chí có lúc phải có những bước lùi chiến lược. Bà ý thức được cái giá kinh tế khủng khiếp mà nước cộng hòa này phải trả cho độc lập. Trong số hai nhân vật ở Moskva, bà muốn đàm phán thương lượng với Gorbachev hơn. Yeltsin quá mạo hiểm và liều lĩnh. Ngày 12/6, Landsbergis gặp Gorbachev, ngày 13/6 gặp Ryzhkov và hai người này hứa sẽ tăng số lượng cung cấp khí tự nhiên. Bế tắc được khai thông khi hai bên thống nhất giãn thời gian trả nợ. Tuyên bố độc lập sẽ dừng lại chứ không là hủy bỏ.

Ngày 29/6, Hội đồng Tối cao Lithuania chấp nhận hoãn nợ 100 ngày, Gorbachev ngay lập tức ra lệnh dỡ bỏ lệnh phong toả. Toàn bộ cách giải quyết đối với tình hình này chứng tỏ sự thất bại cay đắng của Gorbachev và làm trầm trọng thêm tình hình kinh tế trong nước vốn đã rất khó khăn. Lithuania bị cấm xuất khẩu hàng hóa sang các vùng khác thuộc Liên bang Xô viết. Theo nhận xét của Vadim Bakatin, Gorbachev không linh hoạt khi giải quyết vấn đề này: “Tổng thống sai lầm khi cho rằng chính phủ Latvia, Lithuania và Estonia không được quần chúng ủng hộ”.

Những người bảo thủ và giới quân sự liên tục ép các quốc gia vùng Baltic đi dần vào khuôn khổ. Quan điểm của Moskva và người dân vùng Baltic vẫn còn khá cách xa nhau. Trung ương hy vọng có thể thương lượng với ba nước vùng Baltic trên cơ sở các quy định về quyền ly khai và quy định trong khuôn khổ hiệp ước Liên bang mới. Tuy nhiên, Vilnius, Riga và Tallinn cho rằng quyền độc lập là thực tế hiển nhiên và điều họ cần phải làm là thương lượng để giành được nền độc lập đó.

NƯỚC NGA THỨC TỈNH

Các cuộc bầu cử vào Đại hội Đại biểu Nhân dân Liên bang Nga (RSFSR) diễn ra vào tháng 3 và tháng 4/1990, những người dân chủ − tập hợp lại dưới một tổ chức gọi là Nước Nga Dân chủ (DemRossiya) − chỉ chiếm thiểu số. Một phần do họ không thể thống nhất được với nhau. Điều này cho phép ứng cử viên Đảng Cộng sản, thường là thành viên bộ máy Đảng hoặc giám đốc xí nghiệp, giành thắng lợi trong nhiều khu vực bầu cử, phần lớn do đối phương vắng mặt. Vài người trong phe dân chủ là thành viên của Đại hội Đại biểu Nhân dân Xô viết và Nga. Có tin tiết lộ rằng 86,7% các đại biểu là đảng viên. Điều này dường như không quan trọng vì hầu hết các nhân vật cấp tiến lúc đó hãy còn ở trong Đảng. Tuy nhiên, có khoảng 1/4 số đại biểu từ các tổ chức Đảng, Xô viết và tổ chức xã hội. Thành phần phụ nữ không đáng kể chỉ chiếm 5,3% đại biểu. Một nhân tố nổi bật là 92,7% đại biểu có trình độ học vấn khá cao.

Boris Yeltsin giành được chiến thắng ngoạn mục ở Moskva. Gorbachev phát biểu ông đã đánh giá thấp hiện tượng bầu cử Yeltsin ở Moskva và tin rằng “sẽ không phải là hiện tượng phổ biến trên toàn nước Nga”. 5 Phong trào Nước Nga Dân chủ giành chiến thắng đa số ở Moskva, Leningrad, Sverdlovsk (địa bàn của Yeltsin) và nhiều thành phố lớn khác. Khi Đại hội Đại biểu Nhân dân khai mạc ngày 16/5, rõ ràng phe dân chủ chỉ chiếm thiểu số, nhưng tính ra có khoảng 40%. Những người bảo thủ chiếm tương đương 40%. Chìa khóa cho thành công trong Đại hội là khả năng thuyết phục được các đại biểu trung lập. Việc bỏ phiếu cho vị trí chủ tịch Đại hội Đại biểu Nhân dân của Xô viết Tối cao là cực kỳ quan trọng. Yeltsin phải thu hút các phiếu bầu ngay từ lúc các đại biểu cộng sản còn đang lưỡng lự chưa biết bầu cho ai.

Gorbachev ủng hộ Aleksandr Vlasov rất mạnh mẽ, nhưng ông này là một nhà diễn thuyết tồi và dường như thiếu năng động trong công việc. Gorbachev lo sợ việc bầu Yeltsin sẽ làm tăng sự đối đầu giữa nước Nga và Liên bang: “Tôi đã biết con người này bản chất là kẻ phá hoại”. Trong vòng bỏ phiếu đầu tiên, Yeltsin giành được nhiều phiếu ủng hộ hơn Vlasov nhưng lại chưa đủ đa số phiếu. Vlasov và vài đại biểu khác rút khỏi vòng hai, Yeltsin vượt qua Ivan Polozkov, sau này là một nhà lãnh đạo bảo thủ của Đảng Cộng sản Nga. Nhưng Yeltsin vẫn thiếu sự ủng hộ đa số. Polozkov rút lui và Vlasov trở lại. Lần thứ ba, Yeltsin giành đa số sít sao. Ngay lập tức, ông tuyên bố ông sẽ không liên kết với bất cứ đảng phái nào hoặc phe phái nào, nhưng ông sẽ đại diện cho toàn thể nhân dân Liên bang Nga. Quyết định này gây ra cho Yeltsin rất nhiều vấn đề sau này. Yeltsin để mắt đến nhiệm kỳ tổng thống Nga nhưng phải giành được 2/3 đa số ủng hộ của đại biểu về việc sửa đổi Hiến pháp Nga năm 1978. Việc này gây ra tình trạng hỗn loạn mùa hè năm 1990.

Việc bầu Yeltsin vào chức chủ tịch Xô viết Tối cao và cũng là người đứng đầu Liên bang Nga, lần đầu tiên đem lại cho ông một nền tảng chính trị hoàn toàn độc lập với Gorbachev. Nước Nga có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn Liên bang và còn có thể trở thành nhân tố quyết định. Tuy vậy, nước cộng hòa này đang đối mặt với nhiều vấn đề khó giải quyết trong việc xác định địa vị và quyền lợi của chính mình. Liệu nước Nga có cùng chung ranh giới với Liên bang Xô viết? Mặt khác, nước Nga chỉ đơn giản là một nước cộng hòa lớn nhất trong Liên bang Xô viết không? Đây là sự xung đột giữa “những người kiến tạo quốc gia” − cho rằng nước Nga có cùng chung biên giới với Liên bang Nga, và “những người cứu sống đế chế” − tin rằng nước Nga chính là Liên bang Xô viết, đã đập tan một phần nước Nga dân chủ. Liệu nước Nga có phải là một nhà nước dân tộc không? Ai là người Nga? Xét cho cùng, có khoảng 25 triệu người Nga sống ngoài lãnh thổ Liên bang Nga. Nước Nga không có đảng cộng sản riêng, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô giám sát hoạt động của giới trí thức khoa học Nga, Bộ Văn hóa Liên Xô chịu trách nhiệm quản lý điều hành các viện bảo tàng, các nhà hát và nhiều cơ quan khác. Trong khi đó, các nước cộng hòa khác cũng có các tổ chức như trên, nước Nga nằm dưới sự giám sát của Liên bang. Một số nhà kinh tế Nga cho rằng Liên bang Nga chiếm khoảng 3/4 tổng sản phẩm quốc nội của Liên bang Xô viết, đang bị các nước cộng hòa khác bóc lột. Nếu nước Nga giành được quyền điều hành nền kinh tế của mình, người dân đã giàu có và thịnh vượng hơn nhiều.

Rõ ràng, vấn đề chủ quyền sẽ không xảy ra. Các nước cộng hòa Baltic và Azerbaijan đã tuyên bố chủ quyền của họ. Nhưng chủ quyền được định nghĩa như thế nào? Theo Điều 76 Hiến pháp Liên Xô, “một nước cộng hòa thuộc Liên bang là một nhà nước xã hội chủ nghĩa có chủ quyền, thống nhất với các nước cộng hòa Xô viết khác trong Liên bang Các nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết”. Do vậy, tất cả các nước cộng hòa đều là nước có chủ quyền. Song trên thực tế, đó là chủ quyền giả tạo, hình thức. Lúc này, các nước cộng hòa muốn giành lại chủ quyền thật sự của mình.

Đại hội Đại biểu Nhân dân Nga mới đã đưa ra một quyết định quan trọng là tuyên bố chủ quyền của mình vào ngày 12/6/1990. Sự kiện này đã đặt luật Liên bang Nga lên trên luật pháp Liên bang Xô viết và đã đẩy mạnh cuộc chiến về mặt luật pháp. Các tổ chức Nga chỉ hành động vì các lợi ích của nhà nước cộng hòa mà không lệ thuộc vào tổ chức Liên bang. Nhiều người cộng sản bỏ phiếu ủng hộ tuyên bố này, bắt đầu tiến trình tách Nga khỏi Liên bang. Nhiều người cộng sản lại ủng hộ kế hoạch đảo chính nhằm duy trì Liên bang, nhưng kế hoạch này đã sớm chết yểu vào tháng 8/1991. Rõ ràng, họ không hiểu hàm ý của tuyên bố này. Vladimir Kryuchkov nhận thức rõ tác động của tuyên bố này. “Giai đoạn quyết định phá bỏ chế độ Liên bang bắt đầu vào mùa hè năm 1990 sau khi Đại hội Đại biểu Nhân dân Liên bang Nga thông qua tuyên bố chủ quyền của nước Nga và đặt luật pháp Nga lên trên luật pháp Liên bang.” Gorbachev nhấn mạnh: “Tôi chắc rằng nếu đây không phải là bước đi sống còn, chế độ Liên bang sẽ được bảo vệ và duy trì.” Mặt khác, ông cũng thừa nhận “một số nguyên tắc và điều khoản ghi nhận trong tuyên bố về chủ quyền của nước Nga có thể tạo cơ sở cho một Hiệp ước Liên bang mới”. Vậy sai lầm ở đâu?

Gorbachev và Yeltsin cơ bản có quan niệm trái ngược nhau về chế độ Liên bang mới. Gorbachev muốn tăng cường các cơ quan trung ương và các quyền lực về dân sự thì trao hết cho các nước cộng hòa. Ông đề cập đến một cơ quan trung ương mạnh nhưng các nước cộng hòa phản đối bằng cách đề xuất quyền lực mạnh ở trung ương và ở các nước cộng hòa cũng có quyền lực mạnh. Đề cập đến các thể chế trung ương mạnh, ông lập luận một cách logic không chấp nhận một đảng Liên bang và trao quyền quản lý kinh tế cho các nước cộng hòa. Mặt khác, Yeltsin nghiêng về quan điểm nước cộng hòa mạnh có thể tự quyết định họ sẽ chuyển giao những quyền lực nào cho trung ương. Mô hình của Gorbachev đưa ông lên vai trò quyết định trong đời sống của một liên bang mới. Mô hình của Yeltsin lại đặt vai trò Tổng thống Gorbachev xuống vị trí thứ yếu, chỉ có thể hành động khi có sự nhất trí của các nước cộng hòa. Yeltsin ngả về chiều hướng thành lập liên minh chứ không phải một liên bang. Trong mùa hè năm 1990, bức tranh vẫn được tô vẽ theo ý riêng của mỗi người nhưng không rõ ràng. Gorbachev cảm thấy xót xa về sự “phô trương chủ quyền” lại biến thành phá hoại. “Chủ quyền hoá” ở nước Nga như đang phi nước kiệu “đi tìm công thức mới cho các mối quan hệ với các nước cộng hòa Baltic trong một Liên bang cải cách”.

Tuy nhiên, mỗi nước cộng hòa đều tự tuyên bố chủ quyền nhằm khẳng định vị thế bình đẳng khi tham gia các cuộc thảo luận về một Liên bang mới. Uzbekistan và Moldova tuyên bố chủ quyền vào tháng 6; Ukraine và Belarus tuyên bố vào tháng 7, Turkmenistan, Armenia và Tajikistan tuyên bố vào tháng 7 và Kazakhstan tuyên bố vào cuối tháng 10. Cuối cùng, toàn bộ 15 nước cộng hòa đồng loạt hoặc là tuyên bố chủ quyền hoặc là tuyên bố độc lập. Các nước cộng hòa tự trị thuộc Liên bang Nga cũng tuyên bố theo. Nước cộng hòa tự trị Karelia tuyên bố chủ quyền vào tháng 8/1990, ngay sau đó chín nước tự trị nữa cũng tuyên bố chủ quyền. Nhiều vùng lãnh thổ tự nâng cấp từ quyền tự trị lên nước cộng hòa của Liên bang. Họ đang muốn kiểm soát các nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình, các tài sản kinh tế, quyền thu thuế và quyền được phép ly khai. Cơn sốt chủ quyền không thuyên giảm và tác động đến vùng lãnh thổ tự trị, trong khu vực của Liên bang Nga. Bi kịch của Gorbachev là ở chỗ chỉ ông nhận ra mặt trái của cuộc đấu tranh hiến pháp này, mà không thấu hiểu một điều là cuộc đấu tranh ấy đã mở ra một con đường tiến tới Liên bang mới.

Phản ứng của Gorbachev trước thành công của phe dân chủ trong các cuộc bầu cử là sự phản kháng. Thay vì chào đón họ, ông lại coi họ là những phần tử đe dọa quyền lực của mình. Phe cấp tiến ủng hộ lập trường dân chủ hướng tới Đại hội Đảng lần thứ 28 sắp diễn ra. Giống các cuộc bầu cử đại biểu Đại hội trước, tờ Pravda đăng một tuyên bố của Ban Chấp hành Trung ương kết tội phe dân chủ và những người đỡ đầu cho phe này. Tuyên bố kết tội phe này “đang âm mưu biến Đảng thành một tổ chức hữu danh vô thực với quyền tự do thành lập các phe phái”. Những thành phần như vậy có nên ở lại trong Đảng nữa không? Sau đó, báo này hướng các tổ chức Đảng chống lại những người “lập ra các phe phái”. Tình hình này như gợi ý tổ chức phải thanh lọc các nhân vật cấp tiến trong Đảng. Quả thật, đây là sự việc kỳ lạ phải tiến hành ngay trước một kỳ Đại hội quan trọng khi Gorbachev đang rất cần tập hợp sự ủng hộ của toàn thể các đảng viên. Một số đảng viên, chẳng hạn Yury Afanasev, đã nộp trả thẻ Đảng. Những nhân vật khác như Yeltsin lại quyết định chờ xem sao.

Hai sự kiện khác nhau nhưng đem lại cho người ta suy nghĩ chung. Gorbachev chọn Anatoly Lukyanov làm người kế nhiệm chức chủ tịch Xô viết Tối cao Liên bang Xô viết, chứ không phải một đại biểu cấp tiến. Lukyanov là người có thái độ thờ ơ với perestroika, một nhà phát ngôn tẻ nhạt mỗi khi xuất hiện trên truyền hình. Ông lại hậu thuẫn cho Aleksandr Vlasov giữ cương vị chủ tịch Xô viết Tối cao Liên bang Nga. Vlasov, một nhân vật vô vị, tẻ nhạt, bị những người cộng sản coi thường, quá yếu để bảo vệ được quyền lợi cho nước Nga. Nếu Gorbachev chọn một ứng cử viên năng động hơn, ông chắc chắn sẽ giành phần thắng. Hậu thuẫn cho Vlasov, Gorbachev đã tạo điều kiện cho Yeltsin chiến thắng dễ dàng hơn. Một xu thế mới đang xuất hiện chăng? Có phải Gorbachev quan tâm nhiều hơn đến việc ngăn cản sự nổi lên của phe cấp tiến, đặc biệt là những người ái mộ, họ có thể thách thức quyền lực của ông hơn là cản trở cải tổ? Lukyanov và Vlasov thiếu sự ủng hộ của dân chúng, họ là những người trong bộ máy Đảng. Phải chăng đây là lý do chính ông lựa chọn họ? Bất kể ai bóng gió có ý đồ đều bị coi là mối nguy cơ thật sự.

Khi các nhà dân chủ đề cập đến chủ quyền nước Nga và thậm chí nền độc lập nước Nga, chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi đảng viên tăng sức ép đối với Đảng Cộng sản Nga. “Tại sao tất cả các nước cộng hòa đều có Đảng Cộng sản riêng, Ban Chấp hành Trung ương riêng, mà nước Nga lại không?” đã trở thành câu hỏi thường được lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong các cuộc họp của Đảng. Egor Ligachev bắt đầu lập luận rằng ý muốn của dân chúng nghiêng về việc thành lập một đảng riêng. Gorbachev cố gắng ngăn cản việc thành lập Đảng Cộng sản của Liên bang Nga, tức là Đảng của Nga, tại phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương tháng 12/1989. Một cơ quan Nga được thành lập, do ông làm chủ tịch và gồm các quan chức cao cấp khác như Vitaly Vorotnikov, Aleksandr Vlasov − Thủ tướng Nga, Yury Prokofev − Bí thư thứ nhất Thành ủy Moskva và Boris Gidaspov − Bí thư thứ nhất Thành ủy Leningrad. Tất cả các thành viên này đều thuộc phe bảo thủ. Tuy nhiên, cơ quan này không hề có bất cứ ảnh hưởng nào và chính Gorbachev tự trách mình về điều đó. Đơn giản là ông không có thời gian quan tâm nhiều đến cơ quan này. Việc này khiến áp lực thành lập một đảng riêng ngày càng tăng, không chỉ từ phe bảo thủ mà còn từ những quan chức bị thất sủng trong thời kỳ chuyển đổi bộ máy trung ương của Đảng Cộng sản Liên Xô.

Mùa xuân năm 1990, trên 65% đảng viên Liên bang Nga nghiêng về việc thành lập một đảng riêng. Gorbachev cảm thấy băn khoăn về Đảng của người Nga nhưng cứ để sự việc buông trôi. Vấn đề phát sinh liên quan đến các đại biểu tham dự hội nghị của những người Cộng sản Nga, triệu tập vào ngày 19/6 trước Đại hội Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 28 hai tuần. Do thiếu thời gian chuẩn bị một cuộc bỏ phiếu mới, người ta quyết định trao quyền cho các đại biểu từ Liên bang Nga − những người đã được chọn làm đại biểu Đại hội lần thứ 28. Vì những người cộng sản Nga chiếm tới 62% trong Đảng cộng sản Liên Xô, nó sẽ là một cuộc tổng tập dượt cho Đại hội. Hội nghị của những người cộng sản Nga ngay lập tức chuyển thành Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Nga. Có đa số các nhân vật bảo thủ và điều này tạo điều kiện cho đại biểu có lập trường dân chủ và Marxist và dân chủ trong Đảng Cộng sản Liên bang Xô viết có cơ hội trình bày ý tưởng của mình. Không có nguy cơ là họ làm lay chuyển Đại hội. Các bí thư thứ nhất tỉnh ủy cùng phối hợp thăm dò dưới sự chỉ đạo của Bí thư thứ nhất khu ủy Krasnodar là Ivan Polozkov. Một số chỉ trích đều nhắm vào Tổng Bí thư. Bí thư thứ nhất tỉnh ủy Kemerovo, Melnikov, có quan hệ mật thiết với Ligachev, phàn nàn là giới lãnh đạo của Đảng như đang sống trong một thế giới khác. Sau đó điều khó chịu trở nên gay gắt:

Sau này, Melikov cho biết hội nghị Đảng ủy vùng Kuzbass vào ngày 1/6 đã thông qua một bản kiến nghị với đa số phiếu không tín nhiệm Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, yêu cầu toàn bộ các ủy viên Ban chấp hành và Bộ Chính trị từ chức.

Không phải tất cả đều bị thất cử. Nó phụ thuộc vào điều ai sẽ được bầu làm bí thư thứ nhất Đảng Liên bang Nga. Gorbachev nghĩ đến Valentin Kuptsov, một thành viên của Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương và Cơ quan Điều hành Nga. Cũng có thể là Oleg Shenin, người về sau tham gia âm mưu đảo chính. Tất nhiên, ứng cử viên quan trọng nhất là Ivan Polozkov, người công khai chống đối cải tổ. Gorbachev đã quá muộn khi nhận ra rằng Polozkov là đối thủ hàng đầu của mình và cố gắng một cách tuyệt vọng để ngăn cản việc bầu ông ta. Lúc 2 giờ sáng của ngày bỏ phiếu, Gorbachev triệu tập Ivan Antonovic Phó chủ tịch Học viện Hàn lâm Khoa học Xã hội thuộc Ban Chấp hành Trung ương. Tổng Bí thư tỏ ra mệt mỏi, sắc mặt bợt bạt. Rõ ràng ông đã mất ngủ trong nhiều ngày. Ông nói với Antonovich rằng hãy làm mọi việc có thể để ngăn cản cuộc bầu cử của Polozkov. Nhưng đã quá muộn! Sự ủng hộ của ông đã tạo đà và đơn giản là người ta không đủ thời gian để bồi dưỡng một ứng cử viên thân cải cách. Gorbachev coi Ligachev như động lực quyết định đằng sau cuộc bầu cử của Polozkov. Việc các đại biểu bác bỏ Kuptsov, sau khi ông này được Gorbachev đề cử, lần đầu tiên ý nguyện của một tổng bí thư bị coi thường kể từ khi Khrushev bị hạ bệ vào tháng 10/1964. Đây cũng là điềm gở ngay trước Đại hội lần thứ 28 của Đảng. Song, Kuptsov chính là lựa chọn tồi của Gorbachev. Năm 1997, ông là đảng viên hàng đầu trong Đảng Cộng sản của Liên bang Nga. Cuộc bầu cử của Polozkov, một người quan liêu, vô vị và tẻ nhạt, đã làm tăng xu thế xin rút khỏi Đảng của các đảng viên cao cấp. Quyền ưu tiên chọn lựa của các quan chức Đảng cũng có mặt tích cực khi Liên bang Nga đang phải đối mặt với tình hình thực tế. Việc này đẩy Gorbachev đến chỗ phải từ bỏ bộ máy Đảng vốn được coi là một cơ quan cải cách.

Tháng 6/1990, đại sứ Mỹ quyết định thăm Ruslan Khasbulatov, người được chọn làm phó cho Yeltsin và là người phát ngôn cho Xô viết Tối cao Nga. Là người Chechen đẹp trai, rất thông thạo tiếng Nga nhưng giọng nói của ông cho thấy ông không phải là người gốc Nga, nổi tiếng là người không kiên định. Vì không phù hợp với một người nào đó, ông bị đầy đi Trung Á năm 1944. Đối với gia đình và dân tộc, ông có thể là một con người thô bạo và lỗ mãng. Điều đáng nói là ông đã leo từng bước trên con đường học vấn và tốt nghiệp Học viện Kinh tế Plekhanov ở Moskva. Công việc sau khi tốt nghiệp là chuyên trách vấn đề kinh tế Canada, ở đây ông quan tâm đến việc làm cách nào để một nền kinh tế vận hành đúng chức năng và theo định hướng trong một thể chế nhà nước Liên bang. Khi gặp đại sứ, ông thể hiện toàn bộ đức tính duyên dáng khéo léo của một người gốc Chechen. Những điều ông phát biểu khiến phái viên nín thở. Ông thông báo Nga sẽ sớm là một nước kế nhiệm Liên bang Xô viết. Liên bang hiện giờ là một liên minh lỏng lẻo, không có một thể chế quản lý vì thật sự nó không phải là một nhà nước. Sẽ có một hiệp ước Liên bang rút gọn vì Liên bang chỉ có rất ít quyền lực. Chỉ các nước cộng hòa mới có quyền đánh thuế và chuyển cho Trung ương một phần theo thỏa thuận. Việc hoạch định chính sách kinh tế sẽ do chính các nước cộng hòa đảm nhận. Nước Nga muốn phát triển theo hướng kinh tế thị trường thì tư nhân hóa phải là mục tiêu được đặt lên hàng đầu, nhưng bộ máy trung ương đã gây cản trở quá trình này.

Về chính sách đối ngoại, Gorbachev tiến hành như giai đoạn trước nhưng nước Nga yêu cầu đại diện của mình trong các đại sứ quán Liên Xô trên phạm vi toàn cầu. Nga có xu hướng tiến hành các quan hệ ngoại thương riêng. Thậm chí, các đại sứ quán Xô viết trên phạm vi toàn cầu trở thành đại sứ quán Nga, vì nước Nga sẽ sớm là một nhà nước kế tục Liên bang Xô viết. Lực lượng quân sự thông thường đặt dưới sự chỉ đạo của các nước cộng hòa; vũ khí hạt nhân có thể đặt dưới quyền kiểm soát của trung ương. Có thể có một thượng viện gồm mười đại diện từ mỗi nước cộng hòa và trung ương có thể nắm quyền chỉ đạo. Nước Nga sẵn sàng chịu phần lớn nhất trong khoản nợ ngoại tệ mạnh lên tới 75%.

Đây là một kịch bản gây ngạc nhiên, đặc biệt khi Yeltsin không có cơ hội xuất hiện trước công chúng để thề bồi về bổn phận và lòng trung thành với mục tiêu Liên bang. Vị phó của ông nói với Mỹ rằng mục tiêu của nước Nga là trở thành một nhà nước kế tục Liên bang Xô viết, có quan hệ đối ngoại lỏng lẻo với các nước cộng hòa cũ. Tổng thống Gorbachev vốn ủng hộ họ phải bị trừ khử. Yeltsin theo đuổi chính sách nước đôi từ mùa hè năm 1990 đến nay: tiến hành thương lượng một hiệp ước Liên bang mới nhưng lại cố làm cho Liên bang tan rã. Vì mục tiêu mà Khasbulatov phác thảo ra gần như sự việc thật sự diễn ra tháng 12/1991, rõ ràng đó là sự lựa chọn ưa thích của ông. Nếu không xảy ra đảo chính tháng 8/1991, việc lựa chọn này có thể không đem lại kết quả. Người ta cho rằng có sự lựa chọn khác, đó là thỏa hiệp trong tiến trình đẩy chế độ Liên bang tới chỗ tan rã.

Ý nghĩ trên xuất phát từ sự thất vọng khi chứng kiến Gorbachev không chịu xây dựng một nền kinh tế thị trường thật sự. Các nước cộng hòa Baltic, Gruzia và, có thể là Moldova, cũng muốn lựa chọn lối rẽ như vậy. Ukraine hẳn là lời giải cho tương lai. Nếu Ukraine chọn kinh tế thị trường và chủ quyền độc lập, Liên bang coi như hoàn toàn sụp đổ.

ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ 28 6

Theo quan điểm của Gorbachev, Đại hội từ ngày 2 14/7/1990 được coi như một trận đấu không có bàn thắng. Không có chia rẽ và ông tái cử Tổng Bí thư. Ứng cử viên tiềm năng của ông, Vladimir Ivashko, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Ukraine, trở thành Phó Tổng Bí thư. Ligachev, người tổ chức một trận chiến quyết định để giành địa vị này đã thất bại và bị gạt ra ngoài rìa. Gorbachev chọn Ivashko vì ông ta là người Nga, ông nghĩ người số hai được bầu sẽ là một người Ukraine. Đây thật sự không phải là sự bổ nhiệm hoàn hảo. Ivashko phạm sai lầm là rời Kiev khi chủ nghĩa dân tộc đang có chiều hướng nổi lên. Leonid Kravchuk tận dụng sự vắng mặt của ông. Ivashko đã thay đổi hẳn vào tháng 8/1991.

Bộ Chính trị mới gồm 24 người (trong đó có một nữ - bà G. V. Semenova) cho biết cơ cấu Bộ Chính trị đã được chỉnh đốn hoàn toàn. Mọi thành viên đều nắm các trọng trách đứng đầu các cơ quan nhà nước như Shevardnadze và Ryzkov đều không đủ tiêu chuẩn ứng cử nữa. Những người ủng hộ cải tổ khác như Aleksandr Yakolev, cũng phải ra đi. Toàn bộ các bí thư thứ nhất trong Đảng các nước cộng hòa đều được coi là đương nhiên đủ tư cách (Chức ủy viên dự khuyết bị bãi bỏ). Yury Prokofev, Bí thư thứ nhất tỉnh ủy Moskva, giữ nguyên chức. Một số bí thư Ban Chấp hành Trung ương vẫn giữ vị trí cũ. Nhiều tên tuổi trong tổ chức hỗn tạp này chưa bao giờ xuất hiện trước đông đảo nhân dân. Cuộc bầu cử các bí thư thứ nhất các Đảng thuộc nước cộng hòa nhằm bảo đảm cho một bộ máy bảo thủ. Rõ ràng tổ chức lớn như vậy không chắc đưa ra được bất kỳ chính sách cấp tiến và cuối cùng, nó trở thành câu lạc bộ cho các quan chức hàng đầu trong Đảng. Tất nhiên, khi một người mất vị trí ủy viên thì họ không còn là lãnh đạo Đảng ở nước cộng hòa.

Tuy vậy, Tổng Bí thư đã mắc một số sai lầm nghiêm trọng. Sai lầm nghiêm trọng nhất là biến Oleg Shenin thành ủy viên Bộ Chính trị chịu trách nhiệm giám sát ban tổ chức Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cơ quan chuyên trách của Bộ Chính trị. “Do nhìn nhận sai lầm đến mức kỳ lạ, tôi đã coi đồng chí là người ủng hộ cải cách trung thành. Có lẽ xuất phát từ khả năng bắt chước, khéo léo đóng vai người có sáng kiến, có tiến bộ, trong khi vẫn bản chất thực là con người thoái hóa, không sửa đổi được.” 7 Mikhail Sergeevich luôn có ý định bổ sung những tài năng ủng hộ cải tổ tăng cường sức mạnh cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông nói rằng trong đi tới đi lui tại Đại hội và các hội nghị, chịu trách nhiệm dự thảo nghị quyết, ông đã gặp gỡ “nhiều người thú vị và sẽ đề cử họ bổ sung vào các vị trí còn khuyết trong Ban Chấp hành Trung ương, do vậy cũng có thể tiến cử họ vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên bang Xô viết”. Đây là một kiểu đề cử bổ nhiệm khá bừa bãi để chọn ê-kíp giúp ông trong công việc. Nó cũng cho thấy mức độ vô tổ chức trong các cơ quan Đảng vào mùa hè năm 1990.

Trong Đại hội, phái bảo thủ vô cùng tức giận. Họ bực bội vì Liên bang Xô viết đã phản bội các nước Đông Âu vì tiến trình thống nhất nước Đức và thái độ quỵ lụy, khúm núm trước người Mỹ, vì tình trạng hỗn loạn trong Liên bang. Gorbachev và Shevardnadze mắc phải rất nhiều sai lầm. Gorbachev xử lý khéo léo những điều xảy ra này, thậm chí ông đã thành công. Thủ thuật xưa cũ của ông dần dần càng lộ rõ. Một đảng viên nhận xét Mikhail Sergeevich tuyệt đối tin rằng ông ta có thể làm mọi người tin vào bất cứ điều gì mình nói. Có lẽ đây chính là lỗi lầm của ông. Ông đã giành chiến thắng vang dội trước Ligachev. Ông nhường quyền phát biểu cho một đại biểu muốn phát biểu chống lại Ligachev, đang giữ cương vị phó bí thư:

Không biết vô tình hay có chủ định trước, các micro vẫn được mở trong giờ giải lao của Đại hội, khi Gorbachev ở đằng sau hậu trường đang bố trí cuộc bỏ phiếu chống Ligachev.

Yeltsin được đề cử vào Ban Chấp hành Trung ương nhưng nói ông không muốn được đưa ra xem xét vì ông là Chủ tịch Xô viết Tối cao Nga và nước này đang tiến lên chế độ đa đảng. Gorbachev không giấu nổi sự hân hoan khi thấy được mặt sau của Boris Nikolaevich. Cuối cùng, các cuộc bầu cử đã kết thúc và trước khi các đại biểu giải tán, Gorbachev đã độc diễn mà không chuẩn bị trước. Đây là trường hợp xấu nhất. Ông nói khoảng nửa tiếng đồng hồ và dồn người nghe vào cảnh im lặng bối rối. Đoạn kết trong bài phát biểu của ông không khác gì một bài luận tồi trong trường đại học: không có trọng tâm, không đưa ra bất cứ ý tưởng lớn hay một phân tích xác đáng nào, không có kết luận thuyết phục. Sau đó, ông quyết định trả lời một số câu hỏi đã được đặt trên bàn phát biểu. Trò cũ lại tái diễn và lần này Mikhail Sergeevich làm tốt: sắc sảo, dí dỏm, có chủ định, nhân cách và đầy thuyết phục. Tại sao ông lại thể hiện cùng một lúc hai con người giống Jekyll và Hyde? Trong lời phát biểu đầu tiên, ông không có văn bản và sự yếu kém cũ của ông − diễn đạt không trọn câu đã bộc lộ ngay. Còn lần thứ hai có trọng tâm và ông lại là người nổi bật.

HƯỚNG TỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Hoàn toàn lầm lẫn không nhận thức được thị trường là gì và nền kinh tế thị trường trở thành hiện thực ra sao. Gorbachev đau khổ vì sự khiếm khuyết − hiểu biết hạn chế về kinh tế học và kinh tế thị trường. Thường đó là cuộc đối thoại của những người điếc vì những người tham gia hiểu thị trường với các nghĩa hoàn toàn khác nhau. Chức năng của chính phủ trong nền kinh tế thị trường biến đổi theo thời gian. Mãi cho đến năm 1960, học thuyết kinh tế của Keynes mới có sức thuyết phục thật sự. John Maynard Keynes biện luận là phó thác mọi thứ cho lực lượng thị trường có thể dẫn đến suy giảm về cầu theo đường xoáy trôn ốc và tình trạng thất nghiệp vẫn còn thường xuyên ở mức cao. Chính phủ có thể tích cực kích cầu bằng cách chi tiền cho các công trình công cộng và hạ thấp lãi suất, rồi vận dụng chính sách tiền tệ của Milton Freedman để kiểm soát. Chính sách này không chấp nhận việc quản lý cầu bằng chính sách tài chính  kích cầu bằng cách giảm thuế hoặc tăng chi tiêu công cộng để kích thích tăng trưởng kinh tế. Chính sách này thiên về kiểm soát nguồn cung cấp tiền và do đó, việc đấu tranh chống lạm phát được đưa lên hàng đầu trong chương trình nghị sự.

Vì vậy, khi Liên bang Xô viết bắt đầu nghĩ đến giải pháp kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ là hệ tư tưởng quan trọng nhất. Hệ tư tưởng này không giúp gì nhiều ở một đất nước không có thị trường tiền tệ và hệ thống ngân hàng thương mại lại đang trong giai đoạn sơ khai. Công nghiệp bị chi phối bởi các tổ hợp quân sự-công nghiệp. Trong đó, nhiều xí nghiệp là xí nghiệp độc quyền. Có chăng, phải chuyển dần trong kinh tế thị trường, thông qua sự thả nổi liên tục hoặc lao vào tình hình kinh tế vô cùng khó khăn. Ryzhkov và những người vẫn muốn duy trì quyền quản lý của trung ương nghiêng về lựa chọn đầu tiên. 8 Yavlinsky, Shatalin, Gaidar và những nhân vật cấp tiến khác lại ủng hộ sự chọn lựa thứ hai. Rốt cuộc, họ đều là những người ủng hộ chính sách tiền tệ. Về logic, họ đặt niềm tin vào tính năng động không bị kiềm chế của thị trường. Những người hám danh này đã bỏ bùa Gorbachev khi nói với ông rằng nền kinh tế Xô viết sẽ trở nên sôi nổi mạnh mẽ chỉ trong một thời gian tương đối ngắn. Một phần rắc rối của Gorbachev là ngôn ngữ của môn kinh tế tiền tệ lại là tiếng Anh, vì thế ông bị ngập lụt trong các thuật ngữ tương đương tiếng Nga, nhưng lại không có từ nào trong số này nói đến tiền tệ chung. Người ta tranh cãi liệu học thuyết kinh tế Keynes có phải là học thuyết thịnh hành cuối những năm 1980 hay không, rằng Gorbachev và giới quyền uy hẳn là thấy dễ dàng chấp nhận một nền kinh tế thị trường. Nhà nước sẽ đóng vai trò can thiệp quan trọng.

Cuộc bầu cử vào Xô viết Tối cao ở các nước cộng hòa và chính phủ họ được trao quyền càng thúc đẩy các nước cộng hòa mong muốn nắm quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế trong lãnh thổ của mình. Họ là chính phủ hợp pháp nên rất tự tin khi nêu ý kiến trung ương nên chuyển giao trách nhiệm cho họ. Trên lý thuyết, các nước cộng hòa Baltic đều có quyền tự trị kinh tế, nhưng thực tế họ hoàn toàn không có quyền này. Các bộ của Moskva không chịu nhường bất kỳ quyền nào của họ. Dân chúng vùng Baltic nhanh chóng nhận ra quyền tự trị của họ chỉ có ý nghĩa thật sự trong một nền kinh tế thị trường. Họ bắt đầu nghiêng về việc xây dựng nền kinh tế thị trường bằng cách khởi sự tiến hành tư nhân hóa.

Vấn đề chủ chốt mà quan chức Trung ương quan tâm là sở hữu. Họ phản đối mạnh mẽ việc tư hữu đất đai. Vì tư hữu các tài sản kinh tế là vấn đề gây tranh cãi và có thể dẫn tới nội chiến, tốt nhất không nên tiến hành tư hữu hóa. Quan chức đại diện cho trung ương bị chia rẽ khá sâu sắc về mặt tư tưởng, giữa những người mà sự nghiệp thành công của họ là nhờ bộ máy hoạt động của Đảng như Gorbachev, Ligachev và Yeltsin, còn những người đại diện cho xu thế kinh tế mới là các nhà quản lý xí nghiệp, quản lý hợp tác xã, nông trang tập thể như Ryzhkov. Những cải cách của Gorbachev hầu như phá hủy quyền lực lãnh đạo về mặt tư tưởng của những nhân vật tầm cỡ trong Đảng nhưng lại củng cố sức mạnh và quyền lực kinh tế cho những người nắm quyền về kinh tế. Những cải cách lấp đầy chỗ trống do các quan chức Đảng để lại, trừ vấn đề quản lý kinh tế. Rất dễ hiểu khi Ryzhkov và các quản đốc xí nghiệp hay chủ tịch nông trang nghiêng về nền kinh tế có sự giám sát chặt chẽ của trung ương. Ryzhkov ngày càng gắn bó với nền kinh tế thị trường có định hướng − những người nắm quyền thực hiện việc điều chỉnh định hướng. Tuy nhiên, ông không bao giờ biết phải điều chỉnh cái gì. Trong các nền kinh tế thị trường, bản chất độc quyền trong một số ngành sản xuất như ngành điện và nước đều cần phải điều chỉnh, nhưng toàn bộ nền kinh tế thị trường thì không thể điều chỉnh được. Vì những người nắm quyền không hiểu biết về nền kinh tế thị trường. Tranh cãi thường xoay quanh vấn đề chính sách tiền tệ, kiểm soát cung ứng tiền tệ và lạm phát; không có sự can thiệp trực tiếp của chính phủ, có nghĩa là chính phủ đứng ngoài các hoạt động kinh tế này. Họ tin về học thuyết kiểu như đảm bảo thành công trên lĩnh vực kinh tế. Với họ, điều này có vẻ giống phép màu của thế kỷ XX.

Ryzhkov, một nhân vật bảnh bao sang trọng, ít nói và trông giống một doanh nhân Mỹ, nắm cương vị lãnh đạo chính phủ, đã đấu tranh trước Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc. Sự phân chia quyền lực không rõ trong Hiến pháp đã gây khó khăn khi xác định quyền hoạch định chính sách cuối cùng. Về mặt lập pháp, Đại hội Đại biểu Nhân dân, chính phủ và tổng thống đều ban hành các nghị định. Thống nhất rằng cần có cải cách giá nhưng không ai − cả Đại hội Đại biểu Nhân dân, chính phủ lẫn cả Gorbachev muốn gánh chịu mặt trái khi áp dụng chủ trương này. Tháng 5/1990, Ryzhkov tiến một bước quan trọng khi xuất hiện trên truyền hình và đề cập với dân chúng về khả năng tăng giá bán lẻ. Không ngạc nhiên khi kết quả lời phát biểu của ông gây hoang mang, dân chúng mua hết các hàng hóa giá trị. Ông đã dọn sạch hoàn toàn các cửa hàng trong một thời gian kỷ lục và dẫn đến việc hàng hóa ngày càng khan hiếm. Ông đề xuất tăng giá cao hơn trong vòng tháng tới nhưng người dân đều cho là giá cả sẽ tăng ngay ngày mai. Nếu đây là một ví dụ về sự hiểu biết của Ryzhkov về nền kinh tế thị trường, thì sau đó cũng không ngạc nhiên là nhà lãnh đạo điển trai, có thiện chí này gieo gió phải chịu gặt bão. Đơn giản có lẽ ông muốn làm một lãnh đạo được lòng dân. Song, chỉ có Vladimir Kryuchkov − thành viên trong nhóm lãnh đạo hàng đầu − có suy nghĩ thấu đáo về tác động của nền kinh tế thị trường. Ông phát biểu trước Đại hội Đảng lần thứ 27, tháng 7/1990 rằng “sẽ sai lầm tai hại khi đẩy đất nước này vào tay các lực lượng ghê gớm của thị trường”.

Các đề xuất của Ryzhkov và chính phủ của ông đều không thỏa mãn vì nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái. Ryzhkov tiến hành cải cách dựa trên cơ sở kinh nghiệm của Đông Âu, đặc biệt là Hungary. Theo cách tiếp cận của mình, ông định tiến hành một cuộc cải cách kinh tế vừa phải. Bản chất của cải cách là phương pháp tiệm tiến cùng với việc nhà nước quyết định giá cả. Các thuật ngữ như một thị trường có điều chỉnh và một thị trường xã hội chủ nghĩa được sử dụng để gây ấn tượng là thị trường đang được tán thành. Không may cho Ryzhkov, Abalkin và những người ủng hộ kiểu cải cách này đều thất bại ở mọi nơi họ áp dụng.

Sự thất bại rõ ràng của chính phủ trong việc giải quyết các bất ổn của nền kinh tế đã biến Gorbachev trở thành trò cười. Tuy nhiên, đối với tất cả mọi người, ngoại trừ các nhà kinh tế học hàn lâm, kinh tế thị trường là một quái vật tiềm năng và khiến họ khiếp sợ. Giới lãnh đạo kinh tế cảnh báo Gorbachev hàng ngày rằng thị trường sẽ phát sinh biến động, chao đảo, thậm chí có thể xảy ra nội chiến. Ông vẫn tiếp tục hướng đi của mình. Nếu có nghi ngờ, hãy lập ra một tổ công tác. Nhóm này gồm các viện sĩ Shatalin (làm chủ tịch) và Abalkin, Petrakov, Grigory Yavlinsky, Boris Fedorov, các nhà kinh tế khác và đại diện chính phủ các nước cộng hòa. Tất cả nhóm họp tại một địa điểm bên ngoài Moskva ngày 6/8 và bắt tay làm việc. Theo cơ chế làm việc, họ thừa nhận một chương trình dự thảo do Yavlinsky và những cộng sự khác vạch ra cho nhiều tháng. Đơn giản chương trình mang tên kế hoạch 500 ngày. Tại sao lại là 500 ngày? Nghĩ đến một con số từ 1 đến 10 và thêm hai số 0! Nó chỉ mang ý nghĩa tượng trưng vì không chính phủ nào từng có thể áp dụng một nền kinh tế thị trường chỉ trong vòng 18 tháng. Đến ngày 21/8, cương lĩnh dự thảo của Shatalin đã soạn xong. Nhóm này muốn thể hiện họ hiểu những vấn đề thiết yếu của nền kinh tế thị trường. Tư hữu hóa được nhấn mạnh, cụ thể là sở hữu tư nhân. Các nước cộng hòa đều chịu trách nhiệm về mặt luật pháp cần thiết nhằm thúc đẩy hoạt động kinh tế trên vùng lãnh thổ của họ. Trung ương sẽ coi sóc tài sản của toàn Liên bang và những quyền lực được các nước cộng hòa giao phó. Tuy vậy, nhóm này không thể cưỡng lại được ý đồ thực hiện các vấn đề này trọn gói. Họ cam kết nhà nước sẽ phải trả giá cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và chỉ có dân thường được hưởng lợi từ việc chuyển đổi này. Thị trường có nghĩa là mọi người sẽ sống tốt hơn lên ngay lập tức, chứ không phải là trong tương lai mù mịt. Tất nhiên, chẳng có cơ sở gì cho lời hứa này.

Theo quan điểm của Gorbachev, chương trình Shatalin Yavlinsky có một số trở ngại. Trở ngại chính là chương trình vạch ra hoàn toàn không khả thi. Nó không phân tích được lý do dẫn đến thất bại của perestroika trong các năm trước và chỉ đề xuất được phương hướng tiến tới tương lai. Nhóm này cũng nhận ra không thể cộng tác với chính phủ Ryzhkov-Abalkin. Sau đó, Gorbachev triệu tập một cuộc họp liên tịch giữa Hội đồng Tổng thống và Hội đồng Liên bang, cùng sự góp mặt của nhiều chuyên gia và các nhà chính trị. Lãnh đạo các nước cộng hòa rất hào hứng với việc này, vì nó gỡ bỏ quyền điều hành kinh tế của trung ương. Tư nhân hóa sẽ chuyển hầu hết các tài sản kinh tế trên lãnh thổ của họ sang tay họ. Về giá cả, chương trình 500 ngày muốn chuyển sang áp dụng giá cả tự do ngay đầu năm 1991, trong khi đó theo đề nghị của Ryzhkov-Abalkin, là áp dụng cải cách giá cả từng bước một.

Kế hoạch 500 ngày là nỗ lực chung giữa Liên Xô-Nga và Yeltsin phát biểu sẽ áp dụng một chính sách chung. Tuy vậy, nước Nga biết họ không thể áp dụng một chính sách thị trường của riêng mình. Cần phải có một cơ chế kinh tế áp dụng chung cho toàn bộ các nước cộng hòa. Liệu chương trình này có tránh khỏi vấn đề then chốt? Cơ quan nào có trách nhiệm triển khai cơ chế kinh tế này? Rõ ràng trách nhiệm thuộc về chính quyền Xô viết. Song, nó sẽ phải là một chính phủ hoàn toàn khác, cấp tiến hơn so với chính phủ Xô viết đang tồn tại. Tất nhiên, Ryzhkov vô cùng tức giận và Gorbachev quyết định không để phát sinh một cuộc khủng hoảng nào trong chính phủ, ông đã không nghe theo lời khuyên của các cố vấn thân tín. Đáng lý Ryzhkov phải ra đi nhưng lúc đó Gorbachev không chịu đối mặt với vấn đề này. Ông tự an ủi mình với ý nghĩ Ryzhkov bây giờ đã nghiêng về nền kinh tế thị trường. Như trước kia, ông lại đang tự lừa dối mình.

Việc thông qua chương trình 500 ngày được làm quấy quá nhằm khuyến khích cả hai nhóm: nhóm muốn tiến hành cải cách nhanh và mạnh (nhóm nghiêng về chính sách tiền tệ) và nhóm Ryzhkov-Abalkin để đạt được sự đồng thuận, sau đó sẽ trình lên Xô viết Tối cao. Yeltsin nói rõ ông không ưa chủ trương này và chính phủ của ông sẽ tiếp tục tiến hành chương trình Shatalin Yavlinsky. Ngày 3/9, chương trình 500 ngày được đưa ra công khai bàn thảo và việc này đã tạo áp lực lên Gorbachev. Tồn tại một hố sâu ngăn cách giữa chương trình cải cách Shatalin-Yavlinsky và đề xuất của Ryzhkov. Chương trình cải cách Shatalin-Yavlinsky cho rằng nhà nước nên can thiệp ít vào nền kinh tế, còn đề xuất của Ryzhkov lại nghiêng về quan điểm ngược lại: Nhà nước nắm quyền can thiệp và kiểm soát đối với nền kinh tế. Trong chương trình Shatalin-Yavlinsky, chính phủ Liên bang có vai trò rất nhỏ, còn trong chương trình của Ryzhkov, nhà nước phải là một lực lượng mạnh mẽ và nắm vai trò trung tâm. Trong chương trình Shatalin Yavlinsky, các nước cộng hòa có quyền thu thuế và quyết định họ sẽ nộp cho trung ương bao nhiêu. Còn trong chương trình Ryzhkov, trung ương có quyền áp mức thuế cho toàn Liên bang và có quyền thu thuế.

Trung ương sẽ đóng vai trò như thế nào? Rõ ràng Gorbachev sẽ nghiêng về lựa chọn tập trung quyền lực ở trung ương. Do vậy, các vấn đề về quyền lực chính trị đã nhấn chìm sự phát triển chương trình Shatalin Yavlinsky. Chính trị phá hoại kinh tế. Ngày 4/9, Yeltsin thông báo với một nhóm thượng nghị sĩ Mỹ và đại sứ Mỹ rằng ông ta không chấp nhận hòa giải giữa hai chương trình cải cách. Ông cho rằng Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Xô viết đã vượt quá giới hạn của mình và nên dọn đường cho một Hội đồng Tổng thống có quy mô nhỏ hơn. Nga và các nước cộng hòa khác mong muốn tiến lên phía trước bằng các cải cách kinh tế và không chịu lùi bước trước sự bao vây phong tỏa của bộ máy chính quyền Xô viết trung ương quan liêu. Chỉ các bộ có chức năng như quốc phòng, viễn thông, phân phối năng lượng, đường sắt và vận tải hàng không là nằm dưới quyền quản lý và kiểm soát của chính quyền trung ương.

Gorbachev nói nước đôi và hai nhóm này họp vào ngày 4/9, dưới sự chỉ đạo của Abel Aganbegyan, để tìm ra một giải pháp thỏa mãn cả hai bên. Yeltsin đưa ra đề xuất hợp nhất hai hướng cải cách thị trường này lại, việc này giống như cố gắng hòa giải quan hệ giữa một con nhím với loài bò sát nhỏ. “Thậm chí một người không phải là chuyên gia kinh tế như Chernyaev cũng cho rằng những người không có chuyên môn ngay từ đầu còn biết không thể hợp nhất hai chương trình cải cách này lại với nhau nữa là”. Trước hết, Abalkin phải miễn cưỡng tham gia và sau đó Shatalin phải bay tới Mỹ để điều trị bệnh. Nhóm muốn tiến hành cải cách nhanh và mạnh ít đề cập đến vai trò của chính phủ nhưng Abalkin và những người theo chủ trương cải cách hợp lý thì ngược lại. Abalkin muốn cơ cấu lại chính phủ và Hội đồng Tổng thống nhằm tăng cường phạm vi lợi ích xã hội và kinh tế to lớn hơn. Vadim Medvedev và Valentin Pavlov, sau này đảm nhiệm vai trò của Ryzhkov làm thủ tướng, đề nghị quyền hành pháp nên tập trung vào tay tổng thống. Chính phủ sau này chỉ nên đóng một vai trò thứ yếu. Do Shatalin vắng mặt, Gorbachev chọn Abalkin viết dự thảo cuối cùng. Người ta đoán rằng đã có sẵn một bản chép tay về chương trình của chính phủ. Do việc này không thể tiến hành, Petrakov và Aganbegyan sau đó tham gia vào việc soạn lại kế hoạch và Gorbachev đã dành 40 giờ đồng hồ vào việc này. Khi Aganbegyan bị các nhà kinh tế phản đối vì liên quan đến một tài liệu không biết gì về kinh tế, ông chống chế là mình chỉ đồng tình đôi chút với bản dự thảo.

Ngày 11/9, Xô viết Tối cao Nga thông qua kiến nghị của Yeltsin chấp nhận chương trình cải cách Shatalin Yavlinsky về nguyên tắc. Số phiếu gây sửng sốt: 213 phiếu thuận, chỉ có một phiếu chống và bốn phiếu trắng. Điều này lý giải phần đông những người cộng sản thuộc phái cải cách kinh tế mạnh mẽ đã bỏ phiếu cho chủ trương cải cách kinh tế nhanh và mạnh. Rõ ràng họ vẫn rất mơ hồ về ý nghĩa của chương trình này. Song, lý do khiến họ chấp thuận chương trình này gần như tuyệt đối như vậy có lẽ là do nó chủ trương chuyển giao quyền kiểm soát nền kinh tế Nga sang tay nước Nga. Sau đó, cuộc thảo luận triển khai nền kinh tế thị trường bắt đầu. Hội đồng Bộ trưởng Nga dự thảo các đề xuất chi tiết cho việc triển khai trong vòng một tháng. Các cuộc thăm dò dư luận ở Nga và các vùng khác thuộc Liên bang Xô viết tiết lộ đa số ủng hộ cơ chế kinh tế thị trường. Rõ ràng, lại một lần nữa họ không hề hiểu biết về chính sách tiền tệ.

Cuối tháng 9, Gorbachev phải viện đến quyền lực đặc biệt để thoát khỏi những nghi ngờ của Xô viết Tối cao. Lúc này, nếu muốn ông có thể ban hành các sắc lệnh thúc đẩy tiến hành kinh tế thị trường trên toàn Liên bang.

Đại diện cho xu thế kinh tế siết chặt hàng ngũ trong phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương ngày 8 9/10 và ra sức công kích phe cải cách nhanh và mạnh. Cuộc xung đột cơ cấu cũng là vấn đề nổi bật trong phiên họp toàn thể. Các thành viên trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng muốn biết tại sao họ lại phải thảo luận về cải cách kinh tế, sau khi vấn đề này đã được thảo luận ở Xô viết Tối cao. Thái độ của đa số đại biểu trong bộ máy Đảng ở Xô viết Tối cao cũng giống với thái độ của các thành viên Ban Chấp hành Trung ương. Họ hình thành một nhóm liên minh, chủ yếu là những người bảo thủ, và Anatoly Lukyanov − Chủ tịch Xô viết Tối cao − tỏ ra cảm tình với quan điểm của họ. Thành viên Ban Chấp hành Trung ương kêu ca là Gorbachev nên thôi công việc tư vấn cho Bộ Chính trị và để tâm nhiều hơn đến bộ máy lãnh đạo của mình, tức là Hội đồng Tổng thống, Hội đồng Liên bang và các mối liên hệ trực tiếp với Yeltsin. Ryzhkov, người ít hưởng ứng sự can thiệp của Đảng vào quá trình quản lý kinh tế, nhận thấy ông có nhiều đồng minh trong giới lãnh đạo tư tưởng của Đảng. Họ là người phản đối phe cải cách nhanh và mạnh giống như ông. Cùng với họ, ông có thể lập ra nhóm ủng hộ Gorbachev.

Yeltsin tiếp tục tăng sức ép với trung ương. Trong bài phát biểu trước Xô viết Tối cao Nga ngày 16/10, ông tuyên bố thúc đẩy chương trình 500 ngày và kết tội Đại hội Đại biểu Nhân dân Xô viết đang cố thu hẹp chủ quyền của các nước cộng hòa, làm giảm tốc độ chuyển đổi sang kinh tế thị trường và muốn duy trì một hệ thống hành chính-mệnh lệnh. Giới lãnh đạo bị chia rẽ sâu sắc. Theo Ryzhkov, nền kinh tế suy thoái là do sự yếu ớt và thiếu quyết đoán của bộ máy trung ương. Yakovlev cho rằng rắc rối nảy sinh từ việc triển khai quá chậm chạp nền kinh tế thị trường và còn tồn tại hàng loạt vấn đề suy giảm trong sản xuất, phải tăng cường các chương trình xã hội để đền bù thiệt hại cho người dân. Việc này có thể dẫn tới lạm phát dữ dội. Nền kinh tế thị trường sẽ đi vào thực tế và có hiệu quả, không chỉ vì trung ương quyết tâm thực hiện, mà còn do hệ thống hành chính − mệnh lệnh đã sụp đổ.

Nước Nga tiến hành ký các hiệp định kinh tế với các nước cộng hòa khác, dứt bỏ xí nghiệp và nông trang tập thể do Liên bang kiểm soát. Nước Nga đơn phương tăng giá thu mua thịt. Một phần đó là phản ứng đáp trả việc các nước cộng hòa Baltic đã tăng giá, hậu quả là thịt đã tràn lên phía bắc. Rõ ràng, hoàn toàn không có hiện tượng như vậy trong nền kinh tế Xô viết trước đây.

Andranik Migranyan, chuyên gia thời sự nổi tiếng, tóm tắt tình hình vào tháng 9/1990 như sau:

Migranyan đưa ra hai luận điểm sâu sắc. Trước hết, trên thực tế, Liên bang Xô viết không còn tồn tại lâu nữa vì quyền lực ở trung ương không còn tập trung và mạnh như trước. Thứ hai, đã không còn sự gắn kết về mặt tư tưởng nữa. Mất đi hệ tư tưởng thì tính hợp pháp của hệ thống cũng chấm dứt. Hiến pháp không quy định rõ quan hệ giữa trung ương và các nước cộng hòa. Nguyên nhân là Đảng muốn tập trung toàn bộ quyền lực trong tay. Các nước cộng hòa đang trải qua thời kỳ chuyển giao quyền lực và rất quan tâm vấn đề này. Trung ương sẽ phải đưa ra một giải pháp thật hấp dẫn để kéo các nước cộng hòa trở lại. Thời gian lại không ủng hộ Gorbachev.

Sự bất lực của chính phủ Ryzhkov bộc lộ rõ khi ứng phó với khủng hoảng kinh tế và khó khăn của cải cách. Yury Semenov, Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Điện khí hóa kết luận năm 1990 rằng “chính phủ Ryzhkov thiếu một ý chí và quyết tâm đưa ra một đường lối cứng rắn trước sự công kích của Xô viết Tối cao và Tổng thống, là những người đã tỏ thái độ lưỡng lự và hốt hoảng”.

GORBACHEV NGHIÊNG VỀ PHÁI HỮU

Ngày 7/11, tại lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, một sự kiện diễn ra trên Quảng trường Đỏ đã làm Gorbachev kinh ngạc. Một thanh niên tay lăm lăm khẩu súng lục định ám sát ông và may thay, những người bảo vệ đã can thiệp kịp thời và không ai bị thương. Ngày 13/11, trong cuộc gặp riêng hơn 1 nghìn nhà quân sự được bầu vào các cơ quan đại diện, ông bị coi là đối tượng của thái độ thù địch này. Họ thẳng thắn đổ lỗi cho ông về những việc xấu đang diễn ra trên đất nước.

Ngày 14/11, Xô viết Tối cao do nhóm Liên minh lãnh đạo đã tấn công Gorbachev và chính phủ, một lần nữa kết tội ông gạt Đại hội Đại biểu Nhân dân ra rìa để có lợi thế cho các tổ chức của mình. Ngày 16/11, Gorbachev phát biểu trước các đại biểu nhân dân nhưng lại phải chịu một trận lăng mạ. Sau đó, một số nhà lãnh đạo của các nước cộng hòa, không có Yeltsin, cố thuyết phục ông tăng cường quyền lực tổng thống. Đây là cách duy nhất lập lại trật tự trong tình trạng hỗn loạn. Ngày 17/11, Hội đồng Liên bang họp để thảo luận bài phát biểu phê phán gay gắt của Yeltsin ngày 16/10. Ryzhkov phát biểu trong tình trạng hoảng loạn:

Cuối cùng Gorbachev đi đến kết luận Ryzhkov không còn phù hợp nữa. Ngày 18/11, Gorbachev phát biểu trước Xô viết Tối cao và nêu ra tám điểm. Toàn bộ các điểm này đều không rõ ràng và phải bổ sung. Song thông điệp thì đã rõ. Gorbachev muốn giảm quyền lực của Đại hội Đại biểu Nhân dân và nắm thêm quyền hành pháp. Hội đồng Tổng thống sẽ bị giải tán và thay bằng Hội đồng An ninh Quốc gia. Cần có một phó tổng thống. Nội các sẽ thay cho Hội đồng Bộ trưởng. Hội đồng Liên bang trở thành cơ quan tư vấn các quan hệ giữa trung ương và các nước cộng hòa. Gorbachev nói với Tổng thống Bush ngày 19/11: “Chúng tôi sẽ tiến hành một số thay đổi quan trọng về cơ cấu. Tôi nghĩ Văn phòng Tổng thống, hệ thống bầu cử tổng thống − trong đó quyền của cơ quan hành pháp, sẽ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của tổng thống.”

Ngày 24/11, dự thảo hiệp ước Liên bang cuối cùng được công bố nhưng tất nhiên không đáp ứng được mọi điều kiện của các nước cộng hòa. Vấn đề then chốt chỉ được đề cập rất sơ sài. Dự thảo nói đến việc kiểm soát chung trong chính sách trên nhiều lĩnh vực nhưng các nước cộng hòa nghi ngờ, với dự thảo như vậy trung ương sẽ lại là người nắm quyền chi phối các mối quan hệ. Hai nước cộng hòa chính là Nga và Ukraine. Yeltsin và những người dân chủ coi bản dự thảo là không chấp nhận được. Ở Kiev, Leonid Kravchuk, Chủ tịch Quốc hội của Xô viết Tối cao Ukraine thông báo với đại sứ Mỹ rằng Ukraine sẽ không ký một hiệp ước như vậy chừng nào nước này chưa thông qua một hiến pháp mới, dự kiến sớm nhất là giữa năm 1991. Cũng có một cuộc trưng cầu dân ý, dựa trên hiến pháp mới. Người ta cho rằng cuộc trưng cầu dân ý này có nội dung bàn đến nền độc lập. Sau đó, Yeltsin ký một hiệp định song phương giữa Nga và Ukraine. Do vậy, Nga và Ukraine có chung mục đích – nhằm chấm dứt sự tồn tại của chế độ Liên bang. Nó sẽ được thay bằng một Liên bang lỏng lẻo hơn trước. Azerbaijan cũng tuyên bố đi theo đường lối này. Armenia và Gruzia cũng quan tâm đến vấn đề độc lập và sau đó họ sẽ dự tính các mối quan hệ của mình với các nước cộng hòa thuộc Liên bang. Moldova có thể tiến hành như Ukraine. Các nước cộng hòa Baltic cũng mong muốn thoát khỏi sự giám hộ của chính quyền Liên bang. Chỉ còn lại Belarus và các nước cộng hòa vùng Trung Á. Có thể, họ sẽ có quan hệ ổn định và gần gũi hơn với trung ương nhưng họ cũng muốn có nhiều quyền lực hơn trong việc kiểm soát các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các tài sản kinh tế của mình. Vấn đề của Gorbachev là các nước cộng hòa này đều kém phát triển nhất trong Liên bang. Nga nắm vai trò quan trọng. Nước Nga quyết định thế nào đều sẽ ảnh hưởng lớn đến tương lai của Liên bang. Chiến thuật của Yeltsin là tiếp tục đàm phán thương lượng, Kravchuk cũng vậy, nhưng không bao giờ đi đến thỏa thuận. Kịch bản của Khasbulatov mùa hè 1990 dường như đang trở thành một thực tế.

Các mối quan hệ giữa Gorbachev và những người dân chủ trong Nhóm Liên Khu vực trở nên tồi tệ hơn sau khi họ công khai kêu gọi chống Gorbachev vào ngày 16/11. Họ muốn ông phải chủ trương kinh tế thị trường, trao chủ quyền thật sự cho các nước cộng hòa, đất phải trao cho nông trang viên, chấm dứt uy thế kiểm soát của Đảng vào quân đội và chính quyền địa phương, đòi có một chính phủ mới ủng hộ cải cách và một quan hệ đối tác giữa Gorbachev và Yeltsin. Điều khiến Gorbachev vô cùng giận dữ là một số đại biểu kêu gọi ông từ chức nếu ông không có ý định triển khai kinh tế thị trường. Dường như ông đang đốt cháy nhịp cầu gắn kết với các nhà dân chủ. Giờ đây, ông coi họ là các phần tử chống đối chứ không phải là đồng minh tiềm năng.

Từ giữa tháng 11, Gorbachev ngày càng biểu hiện nghiêng nhiều về phái hữu và đưa ra cảnh báo có thể sử dụng vũ lực trong các trường hợp cần thiết. Ngày 1/12, Gorbachev thay Bộ trưởng Nội vụ Vadim Bakatin bằng Boris Pugo − một người Latvia mang quan điểm cứng rắn, từng làm việc ở KGB và là lãnh đạo Đảng ở đây. Bakatin cho rằng bất kỳ ai đều có quyền hành động trong phạm vi pháp luật cho phép. Kryuchkov lại phản đối tất cả những biểu thị đó. Bakatin còn chối bỏ không chấp hành mệnh lệnh của các quan chức Đảng, biện lý là công an có nhiệm vụ bảo vệ luật pháp và nhà nước. Bakatin không bị rơi vào tình trạng bị lãng quên và sau đó được chỉ định vào ban an ninh mới. Việc sa thải Bakatin làm phần lớn các nhân vật bảo thủ cảm thấy thỏa mãn, từ quan chức trong Đảng đến giới quân sự như Tướng Viktor Alksnis và Nikolai Petrushenko. Bakatin và Kryuchkov thường đụng độ nhau về quyền được biểu tình. Tướng Boris Gromov, nguyên Tổng tư lệnh lực lượng Xô viết ở Afghanistan, trở thành Thứ trưởng thứ nhất Bộ Nội vụ. Đây là giai đoạn sử dụng vũ lực nhằm duy trì sự thống nhất trong Liên bang. Cũng vào ngày 1/12, Gorbachev ký sắc lệnh bãi bỏ toàn bộ luật quy định về quốc phòng và an ninh do Đại hội Đại biểu Nhân dân các nước cộng hòa thông qua. Pugo nhanh chóng nói rõ, ông sẽ bảo vệ Hiến pháp Xô viết hiện hành. Ngày 11/12, Kryuchkov dùng một trong những thủ đoạn quen thuộc của mình là quy mọi rắc rối đều do đe dọa từ bên ngoài và đổ cho những kẻ đang tìm cách làm suy yếu chế độ Liên bang và kẻ tay chân của chúng.

Ngày 17/12, tại phiên khai mạc Đại hội Đại biểu Nhân dân lần thứ 4, một đại biểu đề nghị vấn đề hàng đầu trong chương trình nghị sự là bỏ phiếu bất tín nhiệm Tổng thống. Phần lớn trong số 400 đại biểu đồng tình đều thuộc Nhóm Liên Khu vực và phái Liên minh là chưa đủ để đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự. Yeltsin và hầu hết đại biểu dân chủ Nga bỏ phiếu chống. Đây chính là điềm gở với Gorbachev. Tuy nhiên, thông qua Đại hội, ông kêu gọi tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý cho tương lai Liên bang, vào ngày 17/3/1991.

Sự lẫn lộn trong các quy định phân chia quyền lực dẫn đến nhu cầu cấp bách phải có quy định rõ ràng về chức năng, trách nhiệm của các tổ chức hành pháp và lập pháp và kéo dài suốt tháng 11, 12. Việc này làm tê liệt các sáng kiến trên mặt trận kinh tế, vào thời điểm cần phải đưa ra ngay hành động chữa cháy. Chính phủ sẽ tái cơ cấu, thậm chí thay đổi cả Nội các − trợ giúp cho Tổng thống, thay thế Hội đồng Bộ trưởng − trợ giúp cho Đại hội Đại biểu Nhân dân. Vì Ryzhkov chắc chắn bị Hội đồng Liên bang loại bỏ theo Hiến pháp sửa đổi, cần có sự chấp thuận của Hội đồng Liên bang tìm ra một thủ tướng mới. Ryzhkov bị một cơn đau tim nghiêm trọng vào ngày 25/12 càng tăng thêm sự cấp bách của việc bổ nhiệm mới. Thậm chí Gorbachev chọn Valentin Pavlov, mặc dù thực tế Pavlov, là Bộ trưởng Tài chính từ năm 1989, phải chịu trách nhiệm về sự gia tăng nguồn cung cấp tiền tệ gây ra lạm phát phi mã. Ông này bị gán cho biệt danh “heo độc” vì sự béo tốt đẫy đà và mái tóc húi cua. Ryzhkov cảnh báo Gorbachev rằng, Pavlov giống một kẻ nghiện rượu. Ông ta là kẻ dễ nao núng và hay thay đổi. Ông thông báo cho đại sứ Hoa Kỳ ngày 11/1 là đồng rúp thả nổi, vượt quá sức mua − là khoảng 25 tỷ rúp khi mọi nhà kinh tế cho là 100 tỷ hoặc hơn nữa. Sau đó, ông còn nói với vị phái viên này là ông đã đưa ra tỷ giá chợ đen cho đồng đôla. Ông thừa nhận Bộ Tài chính đã khai thác chợ đen kiếm lời. Bộ này đã đặt giá khoảng 40 rúp cho một đôla vào thời điểm tỷ giá chính thức là 5 rúp 60 côpếc. Povlov coi việc kinh doanh này là cách tuyệt vời để thu về đồng rúp. Không cần phải nói, việc kinh doanh đôla ở chợ đen vẫn còn là việc phạm tội.

Khi Ryzhkov khuyến cáo Pavlov là một kẻ can thiệp kiểu nhà nước, Gorbachev đã để lỡ cơ hội bổ nhiệm một người theo chủ trương cải cách nhanh và mạnh. Hội đồng Liên bang cũng chấp nhận một người, nhưng Xô viết Tối cao lại bác bỏ ngay lập tức. Các sự kiện trên chứng tỏ Pavlov là sự lựa chọn tai họa. Thủ tướng mới và các phó thủ tướng đều được Xô viết Tối cao phê chuẩn ngày 14/1/1991. Trong vòng vài tuần, các bộ trưởng khác cũng được phê chuẩn. Đây là chính phủ đầu tiên và cũng là cuối cùng nắm quyền đặt dưới sự hợp nhất giữa tổng thống và Hội đồng Liên bang và được Xô viết Tối cao phê chuẩn. Pavlov và nội các mới của ông bị báo giới được quyền tự do ngôn luận chọc tức. Gorbachev thảo luận với họ về khả năng đình chỉ luật tự do ngôn luận này.

Tại sao Gorbachev lại từ bỏ sáng kiến mùa thu năm 1990 bằng cách không tán đồng chương trình cải cách Shatalin-Yavlinsky? Trước hết ông thiếu sự hiểu biết về kinh tế thị trường. Đây là nền kinh tế dựa trên sáng kiến của cá nhân, quyền sở hữu tư nhân, còn nhà nước chỉ lập ra một cơ chế phát huy sự sáng tạo và năng động của toàn xã hội. Điều này nghĩa là tước bỏ quyền lợi kinh tế của giới quan chức. Thị trường sẽ có nghĩa là sức mạnh kinh tế, và sức mạnh chính trị sẽ được chuyển giao cho các nước cộng hòa. Nếu Gorbachev đứng về phái cải cách nhanh và mạnh, ông sẽ phải từ bỏ quyền lực và chỉ đóng vai trò điều phối ở trung ương. Ông lại quá ham muốn quyền lực nên không thể từ bỏ được. Các nhân vật bảo thủ đã không ngừng kêu gọi củng cố một chính phủ trung ương mạnh, đặc biệt là các tướng tá trong quân đội, một nhóm quân sự có thế lực trong Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc. Họ quả quyết rằng thị trường sẽ xô đẩy chế độ Liên bang tan rã và có thể xảy ra nội chiến. Gorbachev lưỡng lự, đi tới đi lui, nói quanh nói co, cố gắng đi theo đường lối trung dung và lúng túng. Nguyên do chính của tình thế khó xử này là ông thiếu sự đánh giá sáng suốt về tình hình Liên bang Xô viết. Dường như ông tin là ông có thể tìm ra một giải pháp trung lập cho cả hai nhóm cải cách. Ông từ chối lắng nghe ý kiến của những người cho rằng không tồn tại một giải pháp trung lập. Ông nửa muốn quay lại hệ thống hành chính-mệnh lệnh, nửa muốn áp dụng cơ chế thị trường. Tính cứng đầu cứng cổ buộc ông phải trả giá.

Ngày 26/12, Gennady Yanaev trở thành Phó Tổng thống. Các đại biểu nhân dân miễn cưỡng chấp nhận sự chọn lựa của Gorbachev nhưng Tổng thống thuyết phục: “Tôi muốn có một người mà tôi hoàn toàn tin cậy ở bên mình trong bước ngoặt khó khăn hơn cả trong đời.” Thời gian dần cho thấy đó là sự lựa chọn tồi. Ông đã tạo dựng một ê-kíp mới kiểu Gorbachev. Gennady Yanaev đã đi nhiều nơi trên thế giới với danh nghĩa là quan chức của Đoàn Thanh niên Cộng sản (Komsomol) và của công đoàn, nhưng lại không công bố tiểu sử công khai. Ông là người có tính nhút nhát và nói năng kém cỏi. Cuộc đối thoại của ông thường chỉ là nhắc lại quan điểm của những người khác. Rất rõ là ông lại trở thành một người được Gorbachev bổ nhiệm, người không có uy tín và lòng tin của dân chúng. Như vậy, họ sẽ không làm giảm sự chú ý của Tổng thống. Anatoly Lukyanov ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng. Là Chủ tịch của Xô viết Tối cao, hóa ra ông là nhân vật có ảnh hưởng lớn trong nhóm Soyuz, nghiêng về xu hướng duy trì chế độ Liên bang. Quan niệm về một người phát ngôn trung lập là trái với ông. Gorbachev tin tưởng ông. Khi Evgeny Primakov bắt đầu thông báo một cuộc gặp giữa Lukyanov và Nhóm Liên Khu vực, Mikhail Sergeevich ngắt lời: “Hãy đợi cho đến khi Lukyanov báo cáo cho tôi biết về cuộc gặp này đã. Ông ấy luôn nói thật.”

Khi có các cố vấn mới, Gorbachev không còn lắng nghe ý kiến của những người cũ. Trong số nhân vật ủng hộ mạnh mẽ cải tổ, Aleksandr Yakovlev là nhân vật nổi bật nhất. Khi Hội đồng Tổng thống bị giải thể, không ai thay vị trí ông này trong Hội đồng An ninh, thành lập vào tháng 3/1991. Ông vẫn tiếp tục giữ chức cố vấn, với một văn phòng tại Kremlin, nhưng ai lắng nghe ông nữa? Cuối cùng ông xin từ chức vào tháng 7/1991, khi ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng bắt đầu có những hành động chống lại ông. Có thể hiểu được ông cảm thấy phiền lòng khi Gorbachev không làm gì để bảo vệ ông. Những người ủng hộ chương trình Shatallin-Yavlinsky không còn được ưa chuộng nữa.

Shevardnadze có mối quan hệ cực kỳ mật thiết với Gorbachev, nhưng ông cảm thấy bị phơi mình ra cho người ta chỉ trích suốt mùa thu. Ông cảm thấy Gorbachev lẽ ra nên ủng hộ và hậu thuẫn cho ông nhiều hơn. Ông là mục tiêu chỉ trích khi người ta cho rằng ông là người đánh mất Đông Âu, thúc đẩy sự thống nhất nước Đức, phá nát các thành quả của Liên Xô gây dựng từ năm 1945, nhượng bộ quá nhiều với đế quốc Mỹ, tạo điều kiện cho người Mỹ cô lập Saddam Hussein − đồng minh thân cận của Liên Xô trong chiến tranh Vùng Vịnh và nhiều việc khác nữa. Năm 1990, Nguyên soái Akhromeev thông báo với Yurly Vorontsov, đại diện thường trực Xô viết tại Liên Hợp Quốc rằng một ngày nào đó giới quân sự sẽ treo cổ Shevardnadze “vì tội quy phục Mỹ”. Giới quân sự cũng tỏ rõ quan điểm này. Ngoài ra, văn phòng đại sứ Mỹ thừa nhận Washington nhận được khoảng 120% điều họ mong muốn trong các cuộc thương lượng với Shevardnadze. Thậm chí Valentin Falin, một chuyên gia Xô viết hàng đầu về Đức, sau làm việc tại Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương, cũng công kích dữ dội ông về những điều khoản trong tiến trình thống nhất nước Đức, dù biết rõ người quyết định là Gorbachev. Là Chủ tịch Đại hội Đại biểu Nhân dân, Lukyakov không bỏ lỡ cơ hội nào công kích vị Ngoại trưởng này. Shevardnadze biết sẽ gây chấn động ra sao khi phát biểu trước Đại hội Đại biểu Nhân dân ngày 20/12/1990:

Gorbachev thật sự bối rối và khó chịu trước sự từ chức này, hơn nữa ông không được thông báo trước. Việc này hoàn toàn có chủ tâm vì Shevardnadze sợ rằng ông có thể bị Gorbachev thuyết phục một lần nữa nếu ông nói trước với Gorbachev. Có nhiều đồn đại trong thời gian khoảng một năm rằng Shevardnadze sẽ bị chuyển sang một vị trí khác nhưng sự chao đảo của Gorbachev sau đó nghiêng dần về phái hữu, thì việc duy nhất ông có thể làm là xin từ chức. Gorbachev nghĩ đến viễn cảnh Shevardnadze ở cương vị phó tổng thống nhưng chức vụ này chủ yếu mang tính chất trang trí mà thôi. Tuy nhiên, Gorbachev lo ngại người như Shevardnadze sẽ khiến ông phải đứng ở vị trí thứ hai.

Ảnh hưởng ngày càng tăng của Evgeny Primakov cũng làm Shevardnadze khó chịu. Sau khi đi thăm Saddam Hussein, Primakov bay tới Washington để làm chậm lại các bước chuẩn bị của Mỹ chống Iraq. Shevardnadze cảm thấy vui khi người Mỹ lắng nghe những ý kiến của ông nhằm làm mất mặt Primakov. Lý do chính ông quyết định rời khỏi ê-kíp Gorbachev là ở Houston, Texas trong cuộc gặp với Baker, ông đã phát hiện quân đội Xô viết đang phá vỡ các điều khoản của Hiệp ước CFE. Đối với Shevardnadze, đây là điều còn đáng xấu hổ hơn vì ông không hề biết gì về sự việc này. Trong nhiều sự kiện khác nữa, Liên Xô chuyển hơn 16 nghìn xe tăng từ phía Đông Âu sang đông Ural (không có trong hiệp ước) để tránh bị phá hủy. Shevardnadze đau lòng khi xung đột liên miên với giới quân sự thể hiện rõ ràng. Trước sự thất vọng chán nản của vị Ngoại trưởng này, trong một bài phát biểu trước Xô viết Tối cao Gorbachev tỏ thái độ bảo vệ chính sách của giới quân sự. Đây có thể là cố gắng cuối cùng. Gorbachev chuyển hướng chính sách vũ trang của mình, đứng hẳn về phe quân sự và bỏ rơi Shevardnadze.

Shevardnadze cũng rất quan tâm tới việc Gorbachev kết hợp với công cụ ép buộc và ông tin rằng họ sẽ gạt ông ra tại thời điểm thích hợp. Ông không hề có bằng chứng sát thực nào về âm mưu này nhưng ông cảm thấy bạo lực sẽ diễn ra và ông không muốn tham gia vào việc đó. Sự ra đi của Shevardnadze không ngờ là một cú đấm mạnh vào Gorbachev. Ông trung thành và thẳng thắn giống Yakovlev. Tổng thống mất đi hai người thân cận có thể nói sự thật với ông. Họ được thay thế bằng những người thuộc phe khác hoàn toàn.

NƯỚC ĐỨC THỐNG NHẤT

Tháng 6/1987, khi Tổng thống Tây Đức Richard von Weizacker thăm Moskva ông bắt đầu khéo léo đề cập vấn đề tái thống nhất nước Đức. Gorbachev nhận ra vấn đề này là điều còn phải bàn thảo trong tương lai xa, sự thật là chưa đủ điều kiện chín muồi và nếu không thận trọng có thể gây tổn hại trong quan hệ hai nước. Chuyến thăm của Gorbachev tới Đông Berlin tháng 10/1989 cho ông thấy tình hình nghiêm trọng ở đây. Ngày 24/10/1989, Egon Krenz, Tổng Bí thư mới của Đảng đưa ra tổng kết về tình hình kinh tế của Cộng hòa Dân chủ Đức. Trình trước Bộ Chính trị Đông Đức ngày 31/10/1989, bản báo cáo đã tạo ra một cảm giác ảm đạm. Năng suất lao động ở Đông Đức giảm xuống ít nhất 40% so với Tây Đức. Đông Đức đang ở bờ vực của sự sụp đổ tài chính. 9

Ngày 1/11, Krenz hội đàm với Gorbachev tại Kremlin. Nhà lãnh đạo Xô viết này nói với Krenz rằng ông biết tình hình kinh tế bất ổn tại Đông Đức. Krenz thừa nhận nếu mức sống của Đông Đức dựa vào các thành tựu kinh tế đạt được, có lẽ họ đã bị giảm tới 30%. Nhưng một động thái như vậy sẽ là không thể chấp nhận được về mặt chính trị. Liên bang Xô viết có thể viện trợ cho Đông Đức, Gorbachev giải thích, vì nhiều nước cộng hòa thuộc Liên bang cung cấp nguyên liệu thô đòi hỏi tái phân phối thu nhập quốc nội với các nước cộng hòa sử dụng nguồn nguyên liệu này để sản xuất thành phẩm. Họ đang đe dọa chấm dứt nguồn cung cấp nguyên liệu thô nếu lợi ích của họ không được điều chỉnh.

Vì không nhận được sự trợ giúp kinh tế của Liên Xô, Krenz yêu cầu Gorbachev nói thẳng rằng: “Đông Đức và Tây Đức ở vị trí nào trong ngôi nhà chung châu Âu”. Krenz chỉ rõ Cộng hòa Dân chủ Đức là con đẻ của Liên bang Xô viết và “sự cầu cứu của đứa con này nhất định phải được đáp ứng”. Gorbachev giải thích Liên bang Xô viết đang phát triển quan hệ mật thiết với Cộng hòa Liên bang Đức lẫn Cộng hòa Dân chủ Đức, nhưng Liên bang Đức đang nuôi hy vọng Liên bang Xô viết đóng vai trò quan trọng trong tiến trình thống nhất nước Đức. Ông khuyên Đông Berlin nên nuôi dưỡng và không ngừng tăng cường quan hệ với Tây Đức. Nói cách khác, việc ngả mũ chào Bonn với hy vọng nhận các khoản tín dụng có thể làm chậm sự sụp đổ của Đông Đức.

Tuy nhiên, ông nói với Krenz việc thống nhất nước Đức không phải là vấn đề quốc tế. Sự sụp đổ của bức tường Berlin ngày 9/11/1989 càng khiến các sự kiện khác xảy ra nhanh hơn. 10 Thủ tướng Helmut Kohl − không cần tư vấn của Ngoại trưởng Hans-Dietrich Genscher hay các Ngoại trưởng Mỹ, Anh, Pháp – đã đưa ra chương trình gồm mười điểm cho tiến trình thống nhất nước Đức. Khi Genscher thăm Moskva đầu tháng 12, không khí cuộc gặp rất căng thẳng và cả hai đều cảm thấy không hài lòng. Genscher buộc phải bảo vệ tài liệu mà ông cảm thấy không thoải mái. Hans Modrow, Thủ tướng mới của Đông Đức thăm Moskva ngày 30/1/1990, đã không giấu nổi sự nghiêm trọng của tình hình: “Đa số người dân ở Đức không ủng hộ ý tưởng hai nhà nước Đức nữa, và dường như không thể bảo toàn được nước cộng hòa.” Gorbachev không hề ngạc nhiên vì trước đó vài ngày, ông và các cố vấn chính trị đã đi đến cùng một kết luận như vậy. Liên bang Xô viết đưa ra sáng kiến và lập một nhóm sáu nước, bốn là các cường quốc chiến thắng và hai nhà nước Đức. Tuy nhiên, đây không phải là sự lựa chọn tốt nhất. Gorbachev cố gắng và thất bại không làm cho các đồng minh nhận ra là nhóm bốn cường quốc sẽ quyết định. Washington khăng khăng đòi Moskva giải quyết trực tiếp vấn đề này với Bonn. Nguyên soái Akhromeev nên chuẩn bị sẵn sàng rút quân đội Xô viết khỏi Cộng hòa Dân chủ Đức.

Khi James Baker đến Moskva ngày 9/2, ông ta đặc biệt nhấn mạnh “cả Tổng thống và tôi đều không có ý định tìm kiếm bất kỳ lợi thế nào từ các diễn biến này”. Ngày tiếp theo, Gorbachev gặp Thủ tướng Kohl và khiến ông này yên tâm khi phát biểu mọi việc là tùy thuộc người Đức tự quyết định vận mệnh của mình. Gorbachev nghiêng về một nước Đức trung lập nhưng Kohl không chấp nhận quan điểm đó. Tháng 2, Bonn đề xuất một liên minh tiền tệ. Moskva chỉ biết việc này qua báo chí! Cộng hòa Liên bang Đức xóa nợ cho Cộng hòa Dân chủ Đức, tranh thủ các đảng phái chính trị tại Cộng hòa Dân chủ Đức, ngay trước khi tiến hành bầu cử vào tháng 3. Liên minh vì nước Đức, Đảng CDU được hậu thuẫn của Kohl đã thắng cử. Tháng 4/1990, chính phủ mới này kêu gọi thống nhất đất nước theo Điều 23 Hiến pháp Liên bang. Nói cách khác, Đông Đức ngay lập tức bị Tây Đức nuốt chửng. Khi Kohl đến Moskva vào giữa tháng 7, ông rất tin vào điều ông đòi hỏi. Ông đã nhanh chóng thiết lập được mối quan hệ nồng ấm với Gorbachev, và sau sự khởi đầu dè dặt thăm dò thái độ, ông nêu lên nhiều yêu cầu hơn cả Ngoại trưởng Genscher.

Tuy vậy, thành công trong việc tái thống nhất nước Đức ngày 3/10/1990 là nhờ nhiều hơn vào ông chủ của Nhà Trắng. Đức trở lại là một quốc gia hội tụ đủ ba yếu tố: cuộc cách mạng của Gorbachev trong Liên bang Xô viết, sự sụp đổ của nền kinh tế Đông Đức khiến nhiều người Đông Đức phải chạy sang Tây Đức và quyết tâm của George Bush biến nước Đức thành một quốc gia thống nhất được coi là một thành tích vang dội trong nhiệm kỳ tổng thống của ông. Gorbachev thỏa mãn mọi yêu cầu ông ta đưa ra. Về vấn đề liệu một nước Đức thống nhất có nên là thành viên của khối quân sự NATO hay không, dưới áp lực của Bush và Baker, Gorbachev rút cục đã nhượng bộ điểm này bằng thỏa thuận miệng, trước sự kinh ngạc của các quan chức họp cùng. Trong hồi ký của mình, ông biện minh ý tưởng cho phép Đức tự quyết các thỏa thuận an ninh của họ  đã có kết luận trước là họ sẽ gia nhập NATO  bắt nguồn từ ông chứ không phải từ Bush. Ông quả quyết mình quyết định điều đó tại cuộc gặp Bush tháng 5/1990. Nhà Trắng nhìn nhận việc này theo cách khác.

Một trong những lý do khiến Moskva chấp nhận nước Đức thống nhất gia nhập NATO là quan hệ thân mật giữa Kohl và Gorbachev. Minh họa sống động của việc này là cuộc gặp tại Archys, Bắc Cavcaz tháng 7/1990. Trong các cuộc gặp chính thức và không chính thức, hai nhà lãnh đạo đã nhất trí nhiều chi tiết của quá trình thống nhất. Không thông báo cho Shevardnadze, người luôn gánh vác công việc nặng nề trong quan hệ Xô-Đức, Gorbachev bỏ qua mọi lời phàn nàn về sự xâm chiếm và các hạn chế đối với chủ quyền nước Đức, gồm cả quyền trở thành thành viên NATO của nước Đức tương lai. Shevardnadze biết sự giận dữ của giới quân sự và phe bảo thủ khi để mất Cộng hòa Dân chủ Đức sẽ đổ xuống đầu ông. Gorbachev lờ đi không thảo luận vấn đề thống nhất nước Đức trong Bộ Chính trị. Tạm quên đi những khó khăn trong nước, Mikhail Sergeevich có thể tự an vị với ý nghĩ trên cương vị là người đồng khởi xướng sự thống nhất Đức, ông sẽ mãi mãi được công chúng Đức ái mộ.

CUỘC TRẤN ÁP Ở VILNIUS

Tháng 10/1990, khi chính phủ Lithuania gặp Gorbachev, họ cảm thấy bầu không khí dễ chịu hơn. Tháng 11, trên đài truyền hình Xô viết, các đảng viên thân Moskva cho rằng chính phủ Lithuania đã lập một danh sách đảng viên bị xử tội. Có thể hiểu vì nhiều lý do, họ không có bản danh sách gốc của tài liệu này. Tháng 12, bộ máy tuyên truyền bôi nhọ lên tiếng Lithuania đang đòi lại lãnh thổ từ các nước cộng hòa khác. Mối quan hệ mật thiết của Gorbachev với Bush và Kohl làm thất bại các cố gắng của Lithuania trong việc thoát khỏi tình trạng bị quốc tế cô lập. Tháng 11, Đại tá Viktor Alksnis, người ta thường gọi là Đại tá đen vì ông ưa mặc màu đen, yêu cầu Gorbachev trong vòng 30 ngày phải lập lại trật tự: “Tôi không muốn coi việc này như lời đe dọa, nhưng đơn giản là điều này phải được thực hiện.” Ông muốn các Ủy ban cứu quốc bảo vệ Liên bang Xô viết là một quốc gia thống nhất không thể tách rời.

Ngày 7/1/1991, quân dù Xô viết xâm nhập vào ba nước cộng hòa Baltic, lấy danh nghĩa truy sát những kẻ đào tẩu và bỏ trốn. Chính phủ Lithuania tăng mạnh giá lương thực và gây căng thẳng đáng kể. Ngày 8/1, Thủ tướng Kazimiera Prunskiene đến Moskva thảo luận về động thái quân sự. Ngày 7/1, cuộc biểu tình chống tăng giá do 5 nghìn người Edinstvo – một phong trào dân tộc người Nga, kêu gọi chính phủ từ chức. Họ bắt đầu đập phá cửa vào tòa nhà Hội đồng Tối cao, làm vỡ kính cửa sổ nhưng bị đẩy lùi bằng vòi nước chữa cháy. Các đại biểu vội vàng hủy bỏ việc tăng giá lương thực. Landsbergis kêu gọi toàn thể người dân Lithuania hãy bảo vệ nước cộng hòa của mình. Khi họ ùa vào tòa nhà Đại hội Đại biểu Nhân dân, họ xô những người Nga ra ngoài. Gorbachev không thảo luận động thái quân đội với Prunskiene mà ông nói: “Bà hãy quay về và quan tâm đến việc khôi phục trật tự, nếu không tôi không thể làm gì nổi.” Khi bà trở lại Vilnius mới phát hiện Đại hội Đại biểu Nhân dân đã sửa đổi Hiến pháp, do vậy chỉ cần đa số ủng hộ cũng có thể gạt bà khỏi bộ máy lãnh đạo. Landsbergis, một nhà dân tộc, cuối cùng thắng thế trong một chiến dịch dài chống lại Thủ tướng theo tư tưởng tự do và linh hoạt. Bà từ chức mà không hề tự bào chữa hay bảo vệ chính mình. Cũng vào ngày 7/1, Burokevicius − lãnh đạo Đảng thân Moskva, gặp một số lãnh đạo cấp cao như Kryuchkov, Pugo và Yazov. Burokevicius cho rằng thời điểm chín muồi để đưa ra luật bầu cử tổng thống mới ở nước cộng hòa này đã đến. Đại tướng Achalov, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Yazov vị lãnh đạo chịu trách nhiệm tình hình khẩn cấp, được cử tới Litthunia cùng các tùy tùng.

Ngày 8/1, Edinstvo kêu gọi một cuộc biểu tình vào lúc 16 giờ ngày hôm sau. Buổi trưa, các xe chở người của Liên Xô vào khu vực biểu tình và đỗ tại đây. Buổi chiều, quân dù Xô viết hạ cánh tại sân bay Vilnius. Một đám chống biểu tình của Lithuania tụ tập gần đó, ngay trước tòa nhà Đại hội Đại biểu Nhân dân, chỉ đứng tách ra khỏi cảnh sát Lithuania. Tại khu vực thánh địa người Thiên Chúa giáo gốc Nga ở Vilnius kêu gọi người Nga tránh bạo động, họ giải tán. Quân đội cũng rời đi.

Lúc 14 giờ 30 ngày 10/1, một bức điện của Gorbachev viết ông đã nhận được lời yêu cầu từ các tổ chức thuộc nước cộng hòa, các hợp tác xã công nghiệp và dân chúng thuộc các dân tộc đòi áp dụng luật bầu cử tổng thống. Đại hội Đại biểu Nhân dân Lithuania sẽ phải chịu trách nhiệm về mọi việc diễn ra nếu không chịu giữ nguyên trạng toàn vẹn Hiến pháp Liên bang Xô viết và Hiến pháp Lithuania, hủy bỏ các đạo luật trái hiến pháp được thông qua trước đó. 11 Trên đài phát thanh, Phó chủ tịch Hạ viện Lithuania tuyên bố thời điểm quyết định đã tới, hoặc giành được độc lập hoặc trở thành nô lệ suốt đời.

Moskva bắt đầu hành động mà không chờ đợi trả lời tối hậu thư của Gorbachev. Suốt buổi tối, sân bay Vilnius đóng cửa vì cuộc đình công của người Nga. Quân lính và xe cộ chạy quanh thành phố suốt đêm. Các cuộc biểu tình của phe đối lập tụ tập vào sáng 11/1. Vụ đổ máu đầu tiên diễn ra vào buổi trưa khi quân đội tấn công phòng họp báo. Bảy người được đưa tới bệnh viện, hai trong số đó bị thương. Những người bên trong trông đợi các công nhân Nga và họ chỉ được trang bị vòi chữa cháy. Bạo lực khiến đám biểu tình Nga tan rã và họ không quay lại phản đối chính phủ Lithuania nữa. Người Lithuania tập hợp trước phòng họp báo để gặp và phản đối các đơn vị xe tăng và quân đội. Những người khác diễu hành đến tháp truyền hình. Cuối cùng, khoảng 5 nghìn người hợp thành một vòng bao quanh tòa tháp. Landsbergis cố gắng liên hệ với Gorbachev hai lần qua điện thoại nhưng không được, Gorbachev đang dùng bữa. Suốt buổi chiều, Đảng thân Moskva thông báo thành lập ủy ban cứu quốc Lithuania và tuyên bố quyền lực nằm trong tay người dân Lithuania. Khoảng 65 thành viên đơn vị Alpha của Kryuchkov tập hợp đầy đủ tại sân bay Vilnius lúc 23 giờ.

Ngày 12/1, Hội đồng Liên bang ở Moskva quyết định cử thêm ba người nữa hỗ trợ giải quyết tình hình khủng hoảng bằng biện pháp chính trị. Các quan chức quân đội Xô viết phủ nhận việc họ lên kế hoạch tấn công quân sự. Mọi việc dường như trở lại bình thường. Kỳ quặc ở chỗ, đoàn đại biểu Liên bang không bay trực tiếp đến Vilnius mà bay tới Minsk và ở lại đó một đêm. Lúc 1 giờ sáng rạng chủ nhật ngày 13/1, các đơn vị thiết giáp lăn bánh qua thành phố Vilnius. Đơn vị Alpha chiếm đài phát thanh, đài truyền hình trung ương và tháp truyền hình.

Lúc 1 giờ 47, Landsbergis xuất hiện trên truyền hình và tuyên bố nếu đổ máu, Gorbachev phải chịu trách nhiệm. Ông lại cố gọi điện cho Gorbachev, nhưng Gorbachev đang ngủ. Quân đội Xô viết bắt đầu tấn công, dẫn đầu là đơn vị Alpha và đến 14 giờ 20 chiếm đài phát thanh đài truyền hình trung ương và tháp truyền hình. Đài phát thanh thông báo Ủy ban Cứu quốc Lithuania đã nắm chính quyền. Một cuộc tấn công vào trụ sở Đại hội Đại biểu Nhân dân có thể xảy ra nhưng không diễn ra để giảm sự căng thẳng cho các đại biểu bị kẹt lại phía trong và đám đông người biểu tình bên ngoài. Bạo lực làm

13 người chết, 165 người bị thương, trong số đó 26 người bị thương nặng. Các công dân được thông báo ủy ban này đã lên cầm quyền và một sĩ quan chỉ huy chịu trách nhiệm quản lý thành phố. Có lẽ bước tiếp theo sẽ là tuyên bố luật tổng thống.

Đoàn đại biểu Liên bang cuối cùng cũng tới nơi. Thế giới nhanh chóng biết tin về vụ bạo động này qua truyền hình. Yeltsin lập tức bay tới Tallinn 12 gặp gỡ các nhà lãnh đạo ba nước Baltic. Ông kêu gọi quân đội Nga không tuân theo lệnh chống các cơ quan hợp pháp mới thành lập và những dân thường vô tội vì “họ chỉ muốn bảo vệ thành quả dân chủ của mình”. Thực chất đây là lời kêu gọi binh biến. Ông này ủng hộ tổng thống các nước Baltic trong lời kêu gọi Liên Hợp Quốc. Sau đó, Yeltsin ký một hiệp định Nga thừa nhận chủ quyền ba nước cộng hòa Baltic và phát triển quan hệ dựa trên luật quốc tế. Nói cách khác, họ được coi là các quốc gia có chủ quyền, chứ không phải cộng hòa thuộc Liên bang. Yeltsin cho rằng nếu cuộc tấn công vào Vilnius thành công, mục tiêu tiếp theo sẽ nhằm vào Nga và bản thân ông. Ông cố gắng chuyển về Nga các quan chức và người thân cận trung thành với ông, chứ không phải với Tổng thống Gorbachev.

Levon Ter Petrosyan, thành viên trong đoàn đại biểu Liên bang, sau này là Tổng thống Armenia, đã công khai chỉ trích các hành động bất hợp pháp của chính quyền Xô viết ở Lithuania. Đoàn đại biểu chuyển đến trụ sở Đại hội Đại biểu Nhân dân và có thể đạt được thỏa thuận. Chính phủ kêu gọi người biểu tình trở về nhà và giới quân sự phải rút quân đội khỏi các đường phố. Kryuchkov không chịu từ bỏ. Ông triệu hồi một nhà ngoại giao Lithuania từ Mozambic về. Ông từng là cựu Thủ tướng Lithuania. Ông về tới Moskva ngày 12/1. Hôm sau, Kryuchkov, Oleg Shenin và Yury Maslyukov đề nghị ông giữ chức Thủ tướng Lithuania trong một chính phủ theo thể chế tổng thống. Yazov cũng ủng hộ động thái này. Nhà ngoại giao này bí mật bay tới Vilnius, thông báo tình hình; và trên đường về Moskva, ông nói với Kryuchkov và cộng sự ý định muốn quay lại Mozambic.

Toàn bộ hành động này là một thảm hoạ. Thất bại trong việc chiếm tòa nhà Đại hội Đại biểu Nhân dân, có lẽ vì trước sự có mặt của đông đảo nhà báo nước ngoài và những dân thường không vũ trang sẵn sàng liều chết để bảo vệ tòa nhà, đã là sự kiện rất hệ trọng. Không một chính quyền mới nào được thành lập cho đến khi tòa nhà bị chiếm giữ. Trong một tuyên bố trước các đại sứ nước ngoài chiều ngày 13/1, Gorbachev nhấn mạnh ông hoàn toàn không biết ai ra lệnh tấn công tháp truyền hình. Sự thừa nhận này đồng nghĩa với việc ông đã mất quyền kiểm soát đối với lực lượng an ninh. Nếu đây là sự thật, liệu ông có lên án và đòi đưa những kẻ phạm tội ra xét xử trước công lý? Ông chưa bao giờ lên án vũ lực, ngoại trừ tuyên bố đó là bị xúi giục bởi người Lithuania. Ngày 14/1, phát biểu trước Xô viết Tối cao, đầu tiên ông biết về hành động này là lúc 3 giờ sáng ngày 13/1 sau khi tháp truyền hình bị chiếm đóng. Yazov xác nhận là viên sĩ quan chỉ huy đã cho phép sử dụng vũ lực. Kryuchkov cho Gorbachev biết cả ông và Yazov đều hoàn toàn không ra lệnh dùng vũ lực”. 13 Ter-Petrosyan lý giải Gorbachev chấp nhận phe bảo thủ, gửi đi một bức điện và sau đó nhận ra việc này sẽ thất bại, đã rút lui. Một cách giải thích khác là Gorbachev, trong khi gửi điện tín đi ngày 10/1, cũng đang lên kế hoạch đàn áp thẳng tay. Có thật ông không nhận ra sự việc sẽ dẫn đến đổ máu? Yakovlev và những người khác khuyên Gorbachev tốt nhất là tới Vilnius, gặp Landsbergis và kết tội những kẻ gây ra vụ sát hại này. Ông không để tâm đến lời khuyên đó.

Như thường lệ, các cơ quan liên quan bắt đầu đổ lỗi cho nhau. Đảng đổ lỗi cho giới quân sự vụng về hấp tấp để rơi vào bẫy của Landsbergis. Gorbachev nhạo báng ý tưởng cho rằng viên sĩ quan chỉ huy thành phố đã hành động theo ý ông. Các mệnh lệnh phải được phát ra từ Bộ Quốc phòng và các tướng lĩnh. Tại sao giới quân sự không tấn công vào tòa nhà Đại hội Đại biểu Nhân dân Nga tháng 8/1991? Vì họ đã học được bài học kinh nghiệm qua vụ tấn công Vilnius, Gorbachev kết luận. Chỉ huy lực lượng Alpha, khi giải thích tại sao đơn vị ông không tấn công Nhà Trắng vào tháng 8/1991, sau này cho biết: “Vilnius là sự kiện nặng nề nhất và lòng kiên nhẫn của chúng tôi đã cạn... Nói thật, giả dụ không xảy ra sự kiện Vilinus hẳn là chúng tôi đã từ chối không đột chiếm Nhà Trắng.”

Một nhà báo so sánh hình ảnh Liên bang Xô viết như một con bạch tuộc đang bơi mò mẫm loanh quanh và không biết là các xúc tu của mình đang bị cắt dần, từng chiếc một. Sự bối rối và lúng túng còn thể hiện ngay khi Gorbachev tham dự đám tang các nạn nhân ở Vilnius. Giám mục đạo Chính thống Nga, ở Lithuania, với tư cách là người Nga, cảm thấy vô cùng xấu hổ về tình hình tội ác do người Nga gây ra và ông tuyên bố các phương tiện truyền thông Moskva đã xuyên tạc sự kiện này. Ông kết luận: “Lithuania sẽ được tự do.” Điều này cho thấy không phải toàn thể người Nga ở Lithuania đều ủng hộ các hành vi của ủy ban thân Moskva 14 .

Đơn vị Alpha rời Vilnius ngày 13/1 và di chuyển tới Riga. Cũng ngày hôm đó, một phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lithuania đã hậu thuẫn các yêu cầu của công nhân đòi giải tán Xô viết Tối cao và Xô viết địa phương ở Latvia, giải tán bộ máy chính phủ và tiến hành tổ chức tuyển cử mới. Một ủy ban cứu quốc toàn Latvia, do Alfreds Rubiks lãnh đạo, sẵn sàng lên nắm chính quyền nếu tối hậu thư của họ không được chú ý tới. Ngày 20/1, quân lính OMON 15 tấn công tòa nhà Bộ Nội vụ Latvia, giết chết bốn người rồi rút quân. Khi Thủ tướng Latvia, Ivars Goodmanis, gọi điện cho Boris Pugo, ông này nói rằng ông đã không tấn công. Việc này hóa ra là thật. Một sĩ quan của tổ chức OMON đã hành động theo ý mình.

Các bi kịch ở Vilnius và Riga thể hiện thất bại nặng nề của Gorbachev trước tính hợp pháp. Ông gặp may khi Mỹ và NATO đang dính líu với Cuộc chiến Vùng Vịnh và cần ông đứng về phía họ. Tổng thống Bush gọi điện cho ông ngày 11/1 thể hiện mối quan tâm của Mỹ trước tình hình nội bộ của Liên Xô. Phương Tây không có phản ứng trước lời kêu gọi của Landsbergis về việc công nhận cuộc đổ máu này làm tăng lòng quyết tâm của người dân Baltic muốn được tự do. Vài nước cộng hòa trong số các nước còn lại thuộc Liên bang phân vân có nên tiếp tục ở lại Liên bang, đi ngược lại ý nguyện của nhân dân có là việc đáng làm không? Thậm chí Kryuchkov còn cân nhắc lại: “Không ai chống lại quyền của Lithuania muốn rút khỏi Liên bang Xô viết nếu nhân dân nước này cho là cần thiết.”

Tuy nhiên, trước hết họ phải tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý. Còn Gorbachev thì vừa tiến hành thuyết phục, gây dựng lại lòng tin, vừa đe dọa sử dụng vũ lực. Nhưng cả hai cách của ông đều không có kết quả. Chính sách của ông với các nước cộng hòa Baltic hoàn toàn bị phá sản.

Một minh họa khác cho sự thất bại trong chính sách ngăn cản hơn là giúp đỡ của Gorbachev để tháo kíp nổ tình trạng căng thẳng về dân tộc là Gruzia. Không khí căng thẳng ở Nam Osetia khiến một số nhà lãnh đạo đưa ra đề xuất thống nhất với Bắc Osetia trong Liên bang Nga. Cuối cùng Tổng thống Zviad Gamsakhurdia đã gọi quân đội Gruzia đến. Ngày 7/1, Gorbachev ra lệnh quân đội Gruzia phải rút nếu không sẽ bị quân đội Xô viết can thiệp. Đơn giản là sự việc này đã làm tình hình trầm trọng thêm, đặc biệt hơn là hoàn toàn không có quân đội Xô viết triển khai tại đây. Gorbachev có thể đã nghe báo cáo từ những cộng sự có quan điểm cứng rắn và chính họ đã khích lệ ông khẳng định uy quyền của mình. Song, khi đưa ra lời đe dọa kiểu như vậy, ông lại không hề thực hiện được, vì vậy chính ông tự làm suy giảm quyền lực của mình.

TAN VỠ VÀ ỔN ĐỊNH

Hy vọng to lớn của những người dân chủ trong mùa thu năm 1990, về liên minh Gorbachev-Yeltsin nhằm đẩy mạnh dân chủ và kinh tế thị trường đã tan vỡ trong rất nhiều những lời cáo buộc gay gắt vào tháng 1/1991. DemRossiya − giống như người tình bị bỏ rơi − không ngớt lời đả kích Gorbachev đang dần trở thành một kẻ độc tài. Phe phái này lo ngại sự thắng thế của phe bảo thủ. Song, sự chỉ trích gay gắt nhất lại xuất phát từ phe có xu hướng cải cách nhanh và mạnh. Stanislav Shatalin tỏ thái độ bất mãn và cho mọi người biết ông không còn là thành viên trong ê-kíp của Gorbachev nữa. Ngày 19/1, chính Nikolai Petrakov viết bài đả kích cay độc như sau:

Trong số những người ký tên vào bản cáo trạng của Petrakov còn có Popov, Yury Ryzhkov (sau này trở thành đại sứ ở Pháp), Shatalin và Zaslavskaya. Ngày 20/1, một cuộc biểu tình lớn ở Moskva kêu gọi Gorbachev, Yazov và Pugo từ chức, đòi rút quân đội khỏi Lithuania và mở phiên tòa xử những kẻ liên quan đến việc sử dụng vũ lực ở Lithuania. Yeltsin không tham gia nhưng gửi điện đến. Một trong những người không rời khỏi ê-kíp Gorbachev lúc đó là Anatoly Chernyaev. Các sự kiện ở Vilnius ảnh hưởng sâu sắc tới ông, người dường như không đánh giá hết những việc họ đang làm dưới sự chỉ đạo của ông. Ông viết đơn xin từ chức với lời lẽ cay đắng và chê trách. Trong thư, ông khuyên Gorbachev hãy lắng nghe điều nhân dân nói, chứ đừng nghe lời một phía từ những phụ tá quanh mình. Ở điểm này ông đã đúng. Nhân tố chủ chốt trong ý nghĩa chính trị mới bị mất đi, đó là lòng tin. “Bây giờ không ai còn tin vào đồng chí, bất kể những việc đồng chí đã làm trước kia.” Bức thư do bà phụ tá của ông đánh máy, người phụ tá này đã phản đối mạnh mẽ quyết định từ chức của ông. Bà trì hoãn đánh máy bức thư một tuần và sau đó Chernyaev thay đổi theo cách nghĩ của bà. Ông lại quyết định tiếp tục sát cánh trong nhóm của Gorbachev.

Pavlov đưa ra một chương trình tái ổn định, chứa đựng nhiều nhân tố nhạy cảm nhưng không thể triển khai được trong bầu không khí chính trị năm 1991. Để các biện pháp ổn định khắc nghiệt được chấp nhận và áp dụng, dân chúng phải được thuyết phục về chính nhu cầu của họ, và quan trọng hơn là về sự thành công của họ trong tương lai. Vị trí của Pavlov không cao. Ông sớm đề ra việc đánh thuế giá trị gia tăng 5% đối với các hàng hóa bán lẻ, mục đích tăng doanh thu và giảm tốc độ trượt giá của đồng rúp. Người ta đã đoán trước rằng cách này cực kỳ không thích hợp, nhất là trong bối cảnh mức sống của nhân dân đang giảm sút. Áp lực từ các nhóm vận động hành lang đảm bảo các nhóm lợi ích nhất định sẽ được đền bù vì thuế này nhưng nó không thành công.

Sáng kiến đầu tiên chủ yếu liên quan đến chính sách của ông trên cương vị Thủ tướng là giải quyết vấn đề trượt giá của đồng rúp. Ông ra lệnh bằng sắc lệnh là tờ giấy bạc 50 và 100 rúp đều phải đổi sang tiền mới. Nhưng chỉ có một số lượng nhất định được đổi. Do có nhiều khoản tiết kiệm được giữ trong thời gian thực hiện chuyển đổi, sắc lệnh đó đã gây ra hoang mang và lo lắng trong dân chúng. Pavlov hạn chế nguồn cung cấp tiền đã làm tổn hại người dân. Ông cho rằng chính sách cải cách nhằm xóa bỏ lợi ích của những kẻ buôn bán chợ đen. Lẽ tất nhiên, những kẻ xảo trá này đã biết tin về chính sách cải cách và họ đã đổi tiền trước đó rồi. Quá dễ để hối lộ nhân viên ngân hàng. Dân chúng mất tin tưởng vào sự lý giải của chính phủ. Pavlov buộc phải giở ngón nghề của mình nhưng lại tiếp tục lý giải gượng gạo hơn. Cải cách này phá được kế hoạch của các ngân hàng Thụy Sĩ, Australia và Canada (ông viện đến lý do chính trị không cáo buộc các ngân hàng Mỹ) muốn gây sóng gió bằng cách tuồn 8 tỷ rúp vào thị trường Liên Xô. Khi tỷ giá giao dịch tụt xuống mức kỷ lục, các ngân hàng này có thể mua được một số lượng lớn các tài sản cố định của Xô viết với giá rẻ. Nếu các nhà kinh tế phương Tây không đánh giá cao ông vì vụ việc sai lầm này thì bây giờ đó là mục tiêu để họ giễu cợt. Ban chuyên trách về Mỹ chỉ rõ Pavlov cho in nhiều tiền rúp hơn cả lượng tiền các ngân hàng phương Tây đang nắm giữ. Thậm chí cơ quan KGB cũng thừa nhận họ không hề biết có âm mưu như vậy.

Mặc dù thất bại về tài chính tiền tệ, Pavlov vẫn đưa ra một chương trình lập lại ổn định. Các nguồn lực kinh tế đều tập trung vào tay nhà nước và sự đột phá về mặt công nghệ được thực hiện trên nền tảng này. Việc sản xuất mặt hàng công cụ sản xuất được ưu tiên hơn hàng tiêu dùng. Khu vực tập thể được chuyển xuống vai trò không đáng kể. Ông ta đã nói toạc móng heo. Nền kinh tế đang ở bờ vực sụp đổ và nếu chương trình ổn định không được triển khai, tình hình sẽ quay trở lại thời kỳ tồi tệ nhất trong giai đoạn chiến tranh của chủ nghĩa cộng sản. Rốt cuộc Thủ tướng đã giải quyết vững vàng và táo bạo việc khó khăn của cải cách giá cả bán buôn và bán lẻ. Song lại một lần nữa, các nhóm lợi ích có ảnh hưởng đến nỗi ông phải bồi thường thiệt hại cho họ. Chẳng hạn, các xí nghiệp được phép sử dụng quỹ phát triển bồi hoàn cho công nhân do việc giá cả tăng. Đây chính là phương thức dẫn đến sụp đổ. Gorbachev ký một sắc lệnh cho phép Bộ Nội vụ và cơ quan KGB can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh tế của các xí nghiệp (gồm cả các liên doanh) trên toàn Liên bang. Việc này làm giảm sự quan tâm cũng như lợi ích từ các nguồn đầu tư nước ngoài trực tiếp và quan hệ trao đổi thương mại với Liên bang Xô viết.

Thách thức nghiêm trọng nhất đối với chương trình ổn định của Pavlov bắt nguồn từ ngành khai thác mỏ. Ở nơi khác, trong ngành công nghiệp, điều kiện sống và làm việc đang giảm sút. Họ muốn có những cải thiện nhanh chóng trong cả hai ngành. Tuy nhiên, chương trình ổn định còn bao hàm cả nghĩa vụ cân bằng ngân sách. Ngân sách năm 1991 dự kiến tổng thu nhập 55 tỷ rúp trong quý I. Thu nhập thực tế chỉ ở mức 19,9 tỷ rúp còn chi tiêu lại lên tới 47 tỷ rúp. Đơn giản là các nước cộng hòa không chịu nộp thuế Liên bang cho trung ương. Giống nước Nga, các nước cộng hòa sẵn sàng tự bù đắp khoản thâm hụt ngân sách lớn của họ. Giá thịt bò tăng từ 2 lên 7 rúp một cân, thịt lợn từ 1 rúp 90 cô pếch lên đến 5 rúp 30 cô pếch, giá quần áo trẻ em tăng gấp năm lần.

Cảnh báo về cuộc đình công ngày 1/3 tại Ukraine, chủ yếu ở vùng Donbass, nêu lên nhiều yêu cầu về kinh tế và chính trị. Công nhân mỏ Karaganda ở Kazakhstan cũng tham gia. Các cuộc đình công ở Kuzbass, Tây Seberia và Vorkuta, vùng xung quanh Bắc Cực, đã gây một tác động không nhỏ. Đến giữa tháng 3, khoảng 1/3 nguồn khai thác mỏ bị cạn kiệt và đến ngày 1/4, con số này lên tới một nửa. Pavlov cố tỏ ra là một người mạnh mẽ và đe dọa xét xử những người đình công. Tuy vậy, cuối tháng 3, chính quyền Xô viết bắt đầu tiến hành thương lượng với đại diện công nhân mỏ.

Sự kiện dẫn đến giải quyết xung đột là việc ký Hiệp ước 9+1. Yeltsin đến Kuzbass và vào ngày 1/5/1991, ông đã ký một thỏa thuận chuyển giao toàn bộ mỏ than Nga đặt dưới quyền quản lý của người Nga và hứa hẹn để họ phát triển kinh tế độc lập. Đòi hỏi tăng lương không được thừa nhận, ngoại trừ ở Kazakhstan. Phản ứng của thợ mỏ tẩy chay Gorbachev thất bại vì Yeltsin không muốn gây xáo trộn trong tầng lớp cán bộ cao cấp Xô viết. Về chính trị, những người thợ mỏ Nga quyết tâm ủng hộ Yeltsin và tin lời hứa của ông về một tương lai tốt đẹp hơn. Ý đồ của công nhân mỏ muốn mở rộng cuộc đình công của họ thành tổng đình công trên toàn quốc cũng thất bại. Song, cuộc đình công này đã cho thấy tính hợp pháp của chính quyền Xô viết còn lại rất ít và ở Nga, chỉ duy nhất Yeltsin có thể giải quyết vấn đề này.

Để tạo áp lực với các nước cộng hòa, Gorbachev nảy ra ý định tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý về tương lai Liên bang. Đại hội Đại biểu Nhân dân đã thông qua đề nghị này tháng 12/1990, nhưng Gorbachev bỏ ngoài tai lời nhắc nhở là ông đang vướng chân vào một bãi mìn. Ông đã phải sắp đặt câu hỏi ở dạng làm cho người ta không thể trả lời “không”. Cách tốt nhất làm việc này là nêu câu hỏi cực kỳ phức tạp và lồng ghép với nội dung dỗ dành ngọt ngào: “Bạn nghĩ có cần thiết duy trì Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết như một liên bang đổi mới trong đó sự bình đẳng giữa các nước cộng hòa, quyền con người, quyền tự do đều được hoàn toàn đảm bảo cho tất cả các dân tộc khác không?”

Không đề cập chút nào đến một số vấn đề. Bản chất của một liên bang mới vẫn chưa được thống nhất. Bằng cách sử dụng từ “các nước cộng hòa”, chứ không phải là quốc gia, hàm ý sẽ không phải là một chế độ liên bang? Định nghĩa chi tiết thế nào về chủ quyền? Kinh nghiệm của Lithuania cho người ta thấy là điềm gở khi đề cập đến việc bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do khác. Khi cuộc trưng cầu dân ý này được tiến hành vào ngày 17/3, người ta dự đoán một số nước cộng hòa sẽ từ chối tham gia tổ chức. Đó là ba nước cộng hòa Baltic, sau đó là Gruzia, Armenia và Moldova. Ở Kazakhstan, một vấn đề khác được đưa ra: “Bạn nghĩ có cần thiết duy trì Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết là một Liên bang gồm các quốc gia có quyền bình đẳng như nhau không?” Không đề cập đến chế độ liên bang mới, nhân quyền và các quyền tự do của con người đã tiêu tan. Quan trọng là các nước cộng hòa được thay bằng các quốc gia. Ở Ukraine, câu hỏi bổ sung là: “Liệu Ukraine có nên duy trì vị trí thành viên trong một Liên bang gồm tập hợp các nhà nước có chủ quyền hay không?” Tuy vậy, người giành thắng lợi vẻ vang nhất là Liên bang Nga. Đại hội Đại biểu Nhân dân Nga liên tục khước từ sửa đổi Hiến pháp Nga, cho phép bầu ra một tổng thống hành pháp. Người Nga được mời trả lời câu hỏi bổ sung: “Bạn có muốn tham gia trực tiếp bầu cử tổng thống hành pháp không?”

Gorbachev tiến hành chiến dịch trưng cầu dân ý, và ở Nga, Yeltsin cũng tiến hành trưng cầu dân ý cho chính mình. Gorbachev nhận được 76% ý kiến mong muốn tiếp tục duy trì chế độ Liên bang. Nhưng là Liên bang nào? Ở Nga, 71% cử tri nghiêng về việc bầu cử tổng thống Liên bang Nga. Các nước cộng hòa Baltic cũng có cuộc trưng cầu dân ý riêng về nền độc lập và nhận được đa số ủng hộ. Chẳng hạn, ở Lithuania, 94% ủng hộ nền độc lập thật sự. Ngày 3/4, Xô viết Tối cao Gruzia, bỏ phiếu ủng hộ khôi phục chủ quyền quốc gia và nền độc lập của họ. Khi Armenia bỏ phiếu vào tháng 9, kết quả bầu cử đã được tiên liệu.

Hóa ra cuộc trưng cầu dân ý này lại là phản tác dụng. Nó khiến việc tiến hành thương lượng một hiệp ước Liên bang trở nên khó khăn hơn nhiều, nhưng nó còn tạo đà để Yeltsin vượt lên trên Gorbachev trong cuộc đua tranh. Trên đài truyền hình quốc gia, nhà lãnh đạo Nga đã kêu gọi Gorbachev từ chức vào ngày 19/2, giới trí thức Nga cũng nghiêng sang ủng hộ Yeltsin. Tại Minsk, ngày 27/2, Gorbachev tỏ ra vô cùng lo lắng. Ông kết tội những người dân chủ sử dụng chiến thuật Bolshevik mới − biểu tình và đình công − để làm loạn chính phủ và tạo điều kiện để giành quyền lực. Liệu Gorbachev có thật sự tin những người dân chủ này đang có ý đồ đảo chính không? Chắc chắn ý đồ này trái ngược với mọi chuẩn mực của nền chính trị dân chủ? Lại một lần nữa, ông gặp khó khăn khi phân biệt giữa tính đối lập dân chủ, hợp pháp và quan điểm chính trị của những kẻ bảo thủ, tất cả đều chỉ nhằm mục đích lập lại trật tự và tập trung quyền lực ở trung ương. Giống như trước kia, ông rất hay phật lòng vì bị phê bình. Ông coi sự phê phán nghiêm khắc của những đồng minh cũ giống lời nói của kẻ phản bội. Ông không nhận ra các chính sách của mình đang tiến hành đều sai lầm.

Trong cuộc gặp James Baker ở Moskva vào trung tuần tháng 3, Gorbachev đề cập đến một báo cáo do các cộng sự Yeltsin viết. Báo cáo này cho biết Yeltsin đang thăm dò phản ứng đại sứ Mỹ nếu ông này lên cầm quyền mà không thông qua cách thông thường. Vị đại sứ cho biết bản báo cáo hoàn toàn là sự bịa đặt. Làm sao Yeltsin có thể vượt qua Kryuchkov − lãnh đạo KGB và Yazov − lãnh đạo giới quân sự để lên cầm quyền được? Gorbachev tin vào lời biện bạch đó nhưng điều đó cho thấy KGB bịa ra bằng chứng chống Yeltsin và ủng hộ Gorbachev. Có lẽ KGB cũng làm như vậy với một loạt vấn đề khác. Liệu Gorbachev có quá tin vào KGB khi họ báo cáo lý do tấn công phái dân chủ vì họ đang chủ trương âm mưu đảo chính không? Mikhail Sergeevich không thể tuyên bố là ông nhận thông tin một chiều. Ông không tin những điều mà những kẻ chỉ trích ông nói.

Căng thẳng tăng dần trong mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương. Điển hình là sắc lệnh do Gorbachev ký ngày 29/1/1991, sáp nhập các đơn vị cảnh sát tuần tra với quân đội chính quy, tới ngày 1/2. Các chính quyền địa phương phản đối vì họ không yêu cầu, nhưng họ bị ép buộc phải chấp nhận. Sắc lệnh nêu ra một vấn đề quan trọng: ai chịu trách nhiệm bảo vệ luật pháp và trật tự trong xã hội, trung ương hay địa phương? Ở Nga, sắc lệnh được coi là cố gắng áp đặt ý chí của trung ương cho địa phương và hạn chế sức mạnh của nước Nga. Đội tuần tra ít có tác dụng và Hội đồng Hiến pháp chỉ trích sắc lệnh này là một khuyết điểm. Một ví dụ đáng lo ngại nữa là phe dân chủ tổ chức biểu tình ở Moskva vào ngày 28/3 kêu gọi ủng hộ Yeltsin.

Đại hội Đại biểu Nhân dân Nga tiến hành xem xét khả năng bầu Yeltsin vào chức chủ tịch. Chính quyền Moskva cho phép tổ chức biểu tình. Gorbachev phản ứng bằng cách ban bố sắc lệnh đặt thành phố Moskva và lực lượng công an của thành phố này phụ thuộc Bộ Nội vụ và đưa quân đội vào Moskva với mục đích giúp lực lượng cảnh sát bảo vệ trung tâm thành phố. Cuối cùng, KGB báo cáo sai rằng người của phe dân chủ sẽ tấn công đột chiếm Kremlin. Sự phản đối của chính phủ Nga và chính quyền thành phố Moskva hoàn toàn vô tác dụng. Hầu hết các đại biểu không đồng tình với cố gắng của Gorbachev muốn chỉ đạo chính quyền Nga, bỏ phiếu bãi bỏ sắc lệnh của Tổng thống và yêu cầu rút quân. Gorbachev tuyên bố nhưng họ vẫn ở lại cho đến hôm sau, Đại hội bỏ phiếu tạm ngừng hoạt động này cho đến ngày tiếp theo. Cuộc biểu tình diễn ra ngày 28/3 nhưng không có bạo lực. Nếu mục đích của Gorbachev là đe dọa, thị uy Đại hội Đại biểu Nhân dân Nga và làm yếu thế của Yeltsin thì nó lại phản tác dụng. Nhiều người cộng sản bỏ phiếu cho Yeltsin bởi họ coi hành động của Gorbachev có ý đồ nhằm làm suy yếu nước Nga.

Tình hình có nhiều chuyển biến có lợi cho Yeltsin tại Quốc hội. Aleksandr Rutskoi, một cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh Afghanistan, sau được bổ nhiệm làm Phó Tổng thống, tập hợp người cộng sản vào một phái dân chủ và đưa họ vào phe của Yeltsin. Yeltsin yêu cầu Đại hội Đại biểu Nhân dân cho mình hưởng đặc quyền trong Liên bang Nga giống như đặc quyền của Gorbachev trong Liên bang Xô viết. Ông đã đạt được mục đích vào ngày 4/4 và cũng là phần thưởng to lớn nhất: quyết định tổ chức bầu cử tổng thống vào ngày 12/6. Sau đó, ông tham dự lễ Phục sinh do Giáo chủ Aleksi II chủ trì. Sự kiện này có ý nghĩa sâu sắc về sự hòa giải giữa sức mạnh thế tục và sức mạnh tinh thần ở Nga. 16

Gorbachev rất cần sự ủng hộ của các nước cộng hòa để tiến hành các biện pháp ổn định kinh tế, ông buộc phải có nhân nhượng nhằm đạt được một hiệp ước Liên bang mới. Không có một hiệp ước như vậy, ông không thể áp dụng biện pháp ổn định tình hình kinh tế trên toàn Liên bang. Chín nhà lãnh đạo từ các nước cộng hòa (ba nước Baltic là Armenia, Gruzia và Moldova không tham dự) và Gorbachev gặp họ ngày 23/4 tại một biệt thự chính phủ ở Novo-Ogarevo, ngoại ô Moskva, nhằm thảo luận những chi tiết cuối cùng. Những dự thảo trước kia của hiệp ước này không được các nước cộng hòa thông qua vì còn tồn tại hai vấn đề chính. Trước hết, việc thành lập một kiểu Liên bang mới gồm các nước cộng hòa có chủ quyền hay Liên bang gồm các quốc gia có chủ quyền? Gorbachev nghiêng về việc thành lập liên bang gồm các nước cộng hòa có chủ quyền, còn liên bang gồm các quốc gia có chủ quyền chỉ là một tập hợp lỏng lẻo nhưng lại là kiểu liên bang mà phần đông các nước cộng hòa muốn xây dựng. Vấn đề còn lại là sức mạnh kinh tế. Toàn bộ của cải tài sản Liên bang đều đặt dưới sự kiểm soát của trung ương hay cả trung ương lẫn cộng hòa? Các nước cộng hòa muốn kiểm soát các cơ sở và tài sản kinh tế và tự hoạch định chính sách của mình. Gorbachev muốn nhà nước trung ương can thiệp mạnh vào các nước cộng hòa. Lý do chủ yếu buộc Gorbachev miễn cưỡng chấp nhận nhân nhượng điều khoản các nước cộng hòa tự hoạch định chính sách kinh tế là vì ông cho rằng nếu các tổ hợp công nghiệp quân sự mất đi sẽ là một tổn thất lớn. Không chắc xảy ra việc các nước cộng hòa sẽ phân bổ nhiều thu nhập của ngân sách cho khu vực quốc phòng.

Những nước có vai trò lớn trong cuộc chơi Liên bang này bắt đầu xích lại gần nhau, hợp tác với nhau đề ra một hiệp ước Liên bang mới. Ngày 18/4, lãnh đạo Nga, Ukraine, Belarus, Kazakhstan và Uzbekistan nhóm họp tại Kiev để thống nhất một lập trường chung. Họ bác bỏ đề nghị của Gorbachev, trao quy chế cộng hòa Liên bang cho các nước cộng hòa tự trị, chủ yếu trong Liên bang Nga như Tatarstan và Sakha-Yakutia. Mikhail Sergeevich đã đưa ra cách này nhằm chơi trội hơn Yeltsin để lấy lại lòng tin, sự trung thành của các nước trong khu vực này. Hiệp ước ngày 23/4 dấy lên hy vọng có thể đạt được một thỏa thuận cuối cùng. Gorbachev gọi là Hiệp ước 1+9 nhưng các nước cộng hòa lại nhanh chóng đòi ông phải thừa nhận đây là Hiệp ước Chín cộng Một. Những nước ký hiệp ước sẽ được hưởng quy chế đặc biệt. Điều này có nghĩa là những nước từ chối ký hiệp ước này về nguyên trạng vẫn có thể xin ly khai hay sẽ phải thương lượng một hiệp ước mới với Liên bang mới.

Hiệp ước dự thảo được Gorbachev ra hiệu quay ngược 180°. Ông quay về vị trí cũ mà ông nắm giữ hồi tháng 10/1990. Lúc đó, ông tán thành một cơ chế Liên bang nới lỏng và làm như vậy, ông mới tranh thủ được phe cải cách cấp tiến. Đó là lúc ông cần loại bỏ các đồng minh bảo thủ của mình. Xô viết Tối cao thông qua Hiệp định Chín cộng Một là một sự khuyến khích với ông.

Phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào ngày 24-25/4 phản ứng ra sao trước Hiệp định này? Việc ký Hiệp định có nghĩa là kết thúc vai trò lãnh đạo của Đảng trên toàn Liên bang Xô viết, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ trích gay gắt Gorbachev và có lẽ còn cho ông mất chức vụ lãnh đạo Đảng nữa. Ngày đầu, kiến nghị mạnh mẽ lên án Gorbachev không có hiệu quả. Ngày thứ hai, mọi việc hoàn toàn thay đổi. Gorbachev phát cáu và hét lớn rằng ông chỉ hoàn thành trọng trách nếu có sự ủng hộ từ phía họ. Nếu không có được sự ủng hộ này, ông sẽ ra đi. Ivashko − cấp phó của ông − đã can thiệp và xin tạm ngừng cuộc họp. Các ủy viên lại gần Gorbachev và tuyên bố nếu ông ra đi, họ cũng ra đi cùng ông. Sau đó Bộ Chính trị họp và sự thật tồi tệ hé lộ trong nội bộ ủy viên Bộ Chính trị. Nếu Gorbachev ra đi có nghĩa là Đảng sẽ giải thể. Chính quyền sẽ tiếp nhận tài sản từ tay Đảng, giống như tình hình ở Armenia. Phiên họp củng cố, xiết chặt lại đội ngũ và giữ Gorbachev ở lại. Sau này người ta mới tiết lộ, sự thật là có âm mưu hạ bệ Gorbachev trong phiên họp toàn thể này. Một ủy viên đã thu xếp một cuộc vận động gửi điện cho ban chấp hành trung ương ngay trước phiên họp toàn thể ban chấp hành trung ương yêu cầu lập lại trật tự trong nền kinh tế. Mục đích là thuyết phục phiên họp toàn thể hạ bệ Gorbachev và lập ra một ủy ban khẩn cấp cứu lấy đất nước, tương tự như ủy bản sau này được thành lập vào tháng 8/1991. Trường hợp chống lại Gorbachev có thể thành công chỉ khi những người phát biểu chống Tổng Bí thư được phép phát biểu trong phiên họp. Sau đó ủy ban này cố gắng tạo dựng lại quyền lực của Đảng, giống ở giai đoạn tháng 3/1985. Những người thuộc phe bảo thủ không bao giờ từ bỏ đấu tranh nhưng để hứng chịu một kết thúc cay đắng như ở tháng 8/1991 thì chỉ phản tác dụng và mang tính hình thức mà thôi.

Liệu Gorbachev có nên nắm lấy cơ hội tại phiên họp toàn thể này xin từ chức? Nếu ông làm như vậy, ông có thể lôi kéo được phe dân chủ trong Đảng đứng về phía mình và sẽ gây chia rẽ trong bộ máy Đảng. Những người bảo thủ buộc lập ra một đảng riêng của họ còn Gorbachev có thể ban bố sắc lệnh tất cả tài sản của Đảng phải được chuyển giao cho những người dân chủ. Bằng cách ở lại vị trí lãnh đạo Đảng, Gorbachev sẽ mời các nhân vật bảo thủ phải quay trở lại cơ chế cũ. Ông có lý do cho rằng ông đã tiến bộ hơn trong việc lãnh đạo Đảng cho đến khi hiệp ước Liên bang được ký kết. Sau đó nó có thể chia ra thành các đảng của nước cộng hòa. Có thể ông cũng đã thuyết phục họ chấp nhận nền dân chủ và kinh tế thị trường. Các nhân vật bảo thủ sẽ phải tính đến bước lùi trước ông. Không có ai trong họ có thể kế nhiệm Gorbachev. Yeltsin còn đang chờ đợi thời cơ chín muồi. Ký Hiệp ước Novo-Ogarevo, Yeltsin muốn đảm bảo để Gorbachev vẫn tiếp tục nắm quyền lãnh đạo. Một Gorbachev yếu đuối sẽ vô cùng thích hợp cho đến khi Yeltsin có thể phát động thách thức thì loại bỏ ông ta.

NƯỚC NGA BẦU CỬ TỔNG THỐNG

Luật bầu cử tổng thống và phó tổng thống Nga đã quy định một nhiệm kỳ kéo dài năm năm. Cuộc bầu cử yêu cầu cắt bỏ vị trí thành viên của tổng thống trong các đảng phái chính trị và các tổ chức xã hội. Tổng thống này có thể bị bãi miễn trong khi đang đương chức nếu vi phạm Hiến pháp Nga, Luật pháp Nga và lời thề khi nhậm chức, nếu bị 2/3 trên tổng số phiếu bầu của các thành viên thuộc Đại hội Đại biểu Nga bỏ phiếu chống. Tòa án Hiến pháp thành lập để phán quyết sự hợp pháp trong quyết định này. Điều khoản này gây ra những hậu quả thảm hại cho Tổng thống Yeltsin và nước Nga trong suốt hai năm tới. Vì yêu cầu này cũng trùng với yêu cầu đối với Tổng thống Liên bang Xô viết − Gorbachev − nên người ta không coi đó là nguyên nhân gây ra bất ổn trong thời điểm chuyển giao nguy hiểm.

Để được bầu, tổng thống phải giành được tỷ lệ tối thiểu là 50% cộng thêm một phiếu bầu nữa, trong vòng một. Nếu không ai đạt được như vậy trong vòng một, hai ứng cử viên đứng đầu sẽ cùng nhau tranh đua ở vòng hai. Thắng lợi sẽ thuộc về người có số phiếu bầu nhiều hơn. Các luật sư muốn bảo đảm tổng thống Nga đầu tiên, trực tiếp được bầu phải được công nhận là hợp pháp. Người đó phải là sự lựa chọn của đa số cử tri. Yeltsin chọn Aleksandr Rutskoi cùng là người cùng ứng cử. Là sĩ quan xuất sắc của lực lượng không quân, Rutskoi có thể thu hút được một số phiếu bầu trong quân đội. Yeltsin không được giới quân sự ưa chuộng, nhất là trong vấn đề với Lithuania và chủ trương thúc đẩy một Liên bang có cơ chế lỏng lẻo gồm các quốc gia có chủ quyền. Các ứng cử viên cho chức phó tổng thống có tiến hành bầu như ở Mỹ hay không thì còn chưa rõ. Rutskoi không phải là con nhà nòi về chính trị, vì vậy ông dường như không phải là mối nguy cơ của Yeltsin. Phong trào Nước Nga Dân chủ thất vọng khi một trong những thành viên của họ lại không được ứng cử vị trí này. Người ta cho rằng Yeltsin muốn tránh bị gây áp lực từ thành viên số hai thuộc phái dân chủ của mình.

Yeltsin giành thắng lợi trong vòng bầu cử đầu tiên, với 57,3% số phiếu bầu. Ông vận động bầu cử tốt trong các thành phố lớn nhưng không suôn sẻ ở các vùng nông thôn, vì ở đây đa số người cộng sản còn có ảnh hưởng lớn. Nikolai Ryzhkov trở lại sau khi điều trị bệnh tim, đứng thứ hai, nhưng chỉ giành hơn 16% số phiếu bầu. Người kín đáo là Vladimir Zhirinovsky giành được hơn 6 triệu phiếu bầu, tức là chiếm hơn 7%. Tiếp theo là Trung tướng Albert Makashov, một người yêu nước chân chính, đã làm cho Gorbachev bị choáng váng tại Đại hội Đảng lần thứ 28 bằng việc tấn công trực diện vào perestroika và chủ trương công khai đòi Tổng Bí thư phải quay về với các chuẩn mực Leninist. Sau đó là Amangeldy Tuleev, đến từ Kemerovo thuộc vùng Kuzbass, và cuối cùng là Vadim Bakatin. Nhân vật cuối cùng này xứng đáng có vị trí tốt hơn vì lý lịch của ông là Bộ trưởng Bộ Nội vụ không thuộc phe phái nào, nhưng có lẽ việc ông có quan hệ mật thiết với Gorbachev khiến người dân Nga cảm thấy khó chịu.

Khi Yeltsin tuyên thệ nhậm chức, trong một buổi lễ trang trọng ngày 10/7/1991, Gorbachev cũng có mặt. Yeltsin thề trước Hiến pháp Nga và tuyên bố Nga là một quốc gia có chủ quyền. Ông cũng công bố bắt đầu một kỷ nguyên mới trên toàn nước Nga. Điều quan trọng hơn, ông nhận được lời ban phước từ Giáo chủ Aleksi II. Ông là nhà lãnh đạo Nga đầu tiên làm vậy kể từ sau khi Sa hoàng Nicholais II lên ngôi ở Moskva vào tháng 5/1896. Yeltsin nhận được hai lời ban phước, từ nhà thờ và từ nhân dân vì là người lãnh đạo lần đầu tiên do phổ thông bầu cử bầu ra. Gorbachev phải thán phục năng khiếu tự nhiên của đối thủ, về khía cạnh chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa tượng trưng.

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI

Việc Saddam Hussein xâm lược Kuwait ngày 1/8/1990 và sáp nhập nước này vào Iraq là thử thách lớn đối với quan hệ Xô-Mỹ. Cũng có những giá trị nhân văn toàn cầu mà Gorbachev coi là có tầm quan trọng. Gorbachev rơi vào tình thế khó xử. Iraq là đồng minh và còn có hàng nghìn quân lính Xô viết đang đóng tại Iraq. James Baker và Shevardnadze hội đàm tại phi trường Vnukovo 2. Họ nhất trí đưa ra tuyên bố kết tội hành vi xâm chiếm của Iraq, coi đó như một dấu ấn trong nỗ lực chung của hai bên tại Liên Hợp Quốc. Gorbachev và Bush gặp nhau ở Helsinki ngày 9/9 và hội đàm cả ngày hôm đó. Nhà lãnh đạo Xô viết muốn có đảm bảo trên hai điểm: áp lực quân sự đưa ra buộc Saddam phải rút quân khỏi Kuwait mà không xảy ra chiến tranh, và quân đội Mỹ sẽ phải rời khỏi Kuwait khi nước này được giải phóng. Gorbachev bắt đầu đề cập tới chủ đề ủng hộ tài chính cho nền kinh tế Xô viết. Ông không nêu trực tiếp mà ám chỉ vấn đề Kuwait phải gắn với kinh tế.

Hợp tác về tiến trình thống nhất nước Đức đã gắn chặt hơn nữa quan hệ giữa Moskva-Washington. Các sự kiện tại Lithuania hầu như đã gây ra một vết rạn nứt. Cuộc chiến tranh chống Saddam tạo thành một tiền lệ ở Washington nhưng Bush nhắc đi nhắc lại việc sử dụng quân sự ở các nước cộng hòa Baltic sẽ đe dọa đến các mong muốn của Gorbachev về việc trợ giúp kinh tế và làm xói mòn quan hệ thân thiện của hai bên. Gorbachev đảm bảo với Bush rằng ông đã suy nghĩ thấu đáo các vấn đề này nhưng Liên bang Xô viết đang đứng trước bờ vực của một cuộc nội chiến. Song ông vẫn giữ lời hứa đã đưa ra với Bush tại Helsinki, ông sẽ tiếp tục hợp tác với Mỹ trong việc ngăn chặn sự thù địch của Iraq. Năm 1991, quan hệ Gorbachev-Bush phát triển gắn bó. Họ hội đàm qua điện thoại hầu như hàng tuần và các ngoại trưởng gặp nhau vài lần trong một tháng.

Tổng thống Bush dự định thăm Moskva vào tháng 2/1991 để tham dự hội nghị thượng đỉnh, nhưng căng thẳng vùng Baltic đã phá vỡ cuộc gặp. Giới quân sự Xô viết không thực hiện các điều khoản về lực lượng vũ khí thông thường trong Hiệp ước châu Âu (CFE) ký tại Paris tháng 11/1990, Hiệp ước sẽ làm giảm hẳn ưu thế của quân đội Xô viết. Vì Gorbachev không thể hay không muốn buộc giới quân sự trong nước thực hiện hiệp ước này, Tướng Mikhail Moiseev, Tổng tư lệnh, sẽ được cử đến Mỹ để hòa giải sự hiểu lầm trong quan hệ hai bên.

Khi đại sứ Mỹ gặp Gorbachev vào ngày 7/5/1991, nhà lãnh đạo Xô viết đã tiếp ông ta bằng những lời độc thoại rầu rĩ về nỗi lo lắng là Tổng thống Bush đang xem xét để đánh giá lại mối quan hệ giữa hai nước. Vị Tổng thống Mỹ không ngần ngại nói thẳng ý nghĩ riêng của ông về nền an ninh bất ổn. Mikhail Sergeevich cảm thấy mình không còn được yêu mến như trước. Ông cần Bush và ông cũng cần tiền. Vị đại sứ xin chấm dứt nhiệm kỳ vì lý do cá nhân. Gorbachev hỏi: “Có lẽ ông nghĩ con tàu của chúng tôi sẽ chìm sao?” Ngày hôm sau, khi gặp Rupert Murdoch − một người kiệt xuất trong phương tiện thông tin, ông cảm thấy mọi việc được phơi bày rõ ràng hơn. Ông nói với Murdoch rằng có phải Bush đang dấn thân vào một cuộc Chiến tranh Lạnh mới. Điều này khiêu khích Bush hành động và khẳng định hùng hồn với Mikhail Sergeevich là ông chưa bao giờ có ý nghĩ làm nguôi đi quan hệ giữa họ. Với tiến bộ trong Hiệp ước CFE, Bush có thể trình hiệp ước này lên Thượng viện đề nghị phê chuẩn. Thậm chí, ngày 11/6, Gorbachev còn được thông báo người Mỹ chấp nhận yêu cầu của ông về khoản tín dụng đảm bảo 1,5 tỷ đôla chủ yếu dung để mua lương thực.

Việc thâm hụt ngân sách của Liên Xô gia tăng đáng kể và không có thị trường tiền tệ ở Liên bang Xô viết để cung cấp các khoản vay. Nguồn tài chính duy nhất là thế giới tư bản. Gorbachev bắt đầu mơ phương Tây sẽ giúp ông khoảng 100 tỷ đôla để duy trì sự tồn tại của Liên bang. Đây là thời điểm khi khoản nợ bằng ngoại tệ mạnh của Liên bang Xô viết lên tới con số 100 tỷ đôla. Gorbachev nói với mọi quan chức nước ngoài mà ông gặp rằng Chiến tranh Vùng Vịnh đã ngốn một chi phí khoảng 100 tỷ đôla. Người ta vẫn tìm ra số tiền. Tại sao một khoản tương đương số tiền này lại không tìm được để tài trợ cho cải tổ, trong khi chương trình này có tầm quan trọng hơn gấp mười hay hàng trăm lần so với cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh? Câu lạc bộ các nước giàu có G7 nhóm họp ở London tháng 7. Liên bang Xô viết có thể tham dự cuộc họp này chăng? 17 Lần đầu tiên Gorbachev được mời. Người Mỹ nói ông cần phải có một kế hoạch tài chính, kế hoạch có thể trình bày rõ sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.

Một tài liệu, do Thủ tướng Pavlov soạn thảo, chỉ khiến người ta buồn cười và chế giễu. Người ta sẽ phải tìm ra những người có tư tưởng ủng hộ thị trường. Grigory Yavlinsky là người lý tưởng nhất. Tháng 5, Yavlinsky tham dự một cuộc họp nội các và Gorbachev rất coi thường kế hoạch bình ổn của Pavlov. Ông thông báo với các bộ trưởng rằng mọi nguyên thủ quốc gia mà ông gặp ở nước ngoài đều nói rằng chương trình bình ổn này hoàn toàn vô tác dụng. “Thậm chí đại sứ Mỹ còn cho tôi biết chương trình này không khả thi, và ông ta còn biết rất rõ vấn đề của đất nước chúng ta.” Tuần sau, Yavlinsky bay tới Harvard tham khảo ý kiến của Graham Allison. Mục tiêu là soạn thảo một chương trình kết nối giữa mô hình kinh tế của Yavlinsky với mô hình chính trị của Allison. Yavlinsky gọi chương trình này là “cửa sổ của cơ hội” và Allison gọi đó là “một món hời vĩ đại”. Phương Tây sẽ trợ giúp tiền nếu Liên bang Xô viết dịch chuyển theo nền chính trị dân chủ và trở thành đối tác.

Gorbachev quyết định dồn toàn bộ sức lực thúc đẩy sự chuyển đổi này nhằm nhận được một khoản viện trợ lớn. Vì vậy, ông mời bà Thatcher tới Liên bang Xô viết vào cuối tháng 5. Khi từ biệt thự của Gorbachev trở về, bà thật sự rất hào hứng. Bà nói với đại sứ Mỹ:

Ai có thể chống lại một lời kêu gọi như vậy? Đặc biệt từ khi Thatcher đoán được tình huống chính trị của ông đang thật sự tuyệt vọng. Vị đại sứ Mỹ chỉ ra một số khó khăn khi soạn thảo một chương trình như vậy, cũng giống như thất bại của Gorbachev, khi thông qua các chính sách hướng tới thị trường, bà đưa mắt cho ông và trả lời: “Ông đang nói như một nhà ngoại giao. Như đang tìm những lý do để không làm gì cả. Tại sao ông không thể nghĩ theo cách nghĩ của một chính khách?” 18

Ngày 17/6, Valentin Pavlov phát biểu trước Xô viết Tối cao thảo luận khả năng tuyên bố tình trạng khẩn cấp trên toàn đất nước hay tại những khu vực nhất định trong nền kinh tế. Lukyanov, trên cương vị chủ tịch, không phản đối. Pavlov yêu cầu Đại hội Đại biểu Nhân dân nên giao cho ông một vài đặc quyền của tổng thống ngay từ bây giờ, chủ yếu trong việc đưa ra quyết sách kinh tế. Ông cũng muốn có quyền đề xướng luật lệ mới. Việc này có thể phải trả giá bằng chủ quyền của Nga và các nước cộng hòa khác. Kryuchkov, Yazov và Pugo ủng hộ rất nhiệt tình sáng kiến này của Thủ tướng. Khi các đại biểu khác chất vấn liệu ông này có thể giải quyết triệt để vấn đề với chức trách Tổng thống không, ông ta trả lời là không thể.

Ngày 20/6, Gavriil Popov, thị trưởng mới được bổ nhiệm của Moskva, có chuyến thăm đại sứ Mỹ để nói lời chia tay khi vị đại sứ này quay trở lại Washington vào tháng 8. Khi họ vào chỗ ngồi ổn định, Popov bắt đầu viết một tờ giấy và sau đó trao nó cho vị đại sứ. Dòng chữ gây ấn tượng mạnh: “Người ta đang được tổ chức một cuộc đảo chính nhằm hạ bệ Gorbachev. Chúng tôi phải chuyển lời đến Boris Nikolaevich [Yeltsin].” Vị đại sứ này vội viết trả lời: “Tôi sẽ gửi lời nhắn. Nhưng ai đứng sau vụ này?” Popov liệt kê tên Pavlov, Kryuchkov, Yazov, Lukyanov. Sau đó, hội đàm tiếp tục trong vòng 10-15 phút nữa. Kiểu thông báo này cần thiết và quan trọng vì tổ chức KGB thường đặt các thiết bị nghe trộm sẽ phát hiện ra bất cứ điều gì trong quá trình trao đổi miệng. Lời nhắn được chuyển tới Washington và Tổng thống Bush đã thông báo cho Yeltsin. Ông có thể tiết lộ lời nhắn là của Popov nhưng không đề cập đến những người khác. Đại sứ Mỹ làm cách nào để thông báo với Tổng thống rằng đang có âm mưu nhằm hạ bệ ông? Gorbachev có coi đó là một sự xúc phạm không? Ông tìm được cách khiến Tổng thống Bush có thông tin về âm mưu nhằm hạ bệ Gorbachev, thậm chí trong tuần đó. Song nó chỉ dựa trên tin đồn, chứ không phải thông tin đáng tin cậy. Gorbachev ngả người về phía sau và cười rất thoải mái:

Ông nói tất nhiên ông không thể ổn định tình hình chỉ trong một thời gian. Pavlov − nhà kinh tế tài ba nhưng lại là một chính trị gia tồi − thừa nhận ông đã có hành động thiếu suy nghĩ vào ngày 17/6. Sự hòa giải chính trị vẫn còn chưa đâu vào đâu. Hiệp ước Liên bang sẽ được ký kết ngay lập tức và thậm chí Yeltsin có thể hợp tác về vấn đề này. Có một số người trong Đại hội Đại biểu Nhân dân, đặc biệt nhóm Liên minh, là nhóm có nhiều khả năng muốn lật đổ chính phủ nhất.

Người Mỹ quyết định không nói cho Gorbachev biết tên những người có mưu đồ. Tuy vậy, khi James Baker gặp Ngoại trưởng Aleksandr Bessmertnykh ở Berlin ngày 20/6, ông cho biết tên những kẻ âm mưu, nhưng không cung cấp nguồn gốc tin và yêu cầu Ngoại trưởng hãy chuyển thông tin gấp tới Gorbachev. Baker lẽ ra phải biết tất cả phương tiện thông tin của Xô viết đều do cơ quan KGB giám sát và quản lý. Do vậy lời nhắn này đã không đến tay Gorbachev vì lãnh đạo cơ quan KGB cũng nằm trong số người lập kế hoạch đảo chính. Bessmertnykh nói với Baker rằng ông không thể chuyển một lời nhắn như vậy. Ít ra ông cũng là người thật thà và kín đáo. Ông đề nghị đại sứ Mỹ trực tiếp chuyển lời tới Gorbachev. Tổng thống Bush cuối cùng đã thông báo cho Gorbachev về chuyến thăm của Yeltsin tới Washington, ông đã bật mí cho biết nguồn của tin này là từ Popov. Việc này phá vỡ thỏa thuận giữa đại sứ và nhân viên Nhà Trắng rằng không được để lộ nguồn tin, ngoại trừ cho Yeltsin. Nó cũng hé lộ cho cơ quan KGB là người đã ngăn chặn họ lại.

Tiếp đó, Gorbachev gặp Popov, chỉ tay vào ông và hỏi tại sao lại tiết lộ bí mật cho Mỹ? Khi vẫn nhóm người ấy chống đối Gorbachev vào tháng 8, tên của Popov lại nằm ngay gần đầu danh sách những người bị bắt. Ngày 21/6, Bessmertnykh quay lại Moskva và nói với Gorbachev điều mà Baker cho biết ở Berlin, hỏi xem liệu vị đại sứ này đã thông báo tin tức gì cho ông chưa. Tổng thống trả lời ông đã biết và ông đã trách cứ các quan chức đó rồi. Ông còn hỏi xem Baker đề cập đến thời gian không và vị Ngoại trưởng này trả lời lúng túng rằng “nó có thể xảy ra bất cứ ngày nào”. Bessmertnykh cho rằng Gorbachev đã biết những người liên quan đến âm mưu này, nhưng khi hồi tưởng việc đã xảy ra, ông nghĩ đến nhóm lãnh đạo Liên minh là nhóm đã chỉ trích ông ở Xô viết Tối cao.

Ngày 21/6, Gorbachev xuất hiện ở Xô viết Tối cao và không mấy khó khăn giành lại quyền lực của mình. Gorbachev đã làm gì? Đoán chừng ông sẽ tống cổ bốn người có âm mưu hạ bệ ông. Ông chỉ tự hạn chế phát biểu rằng ông không đồng tình với biện pháp chính trị! Tính vô tâm 19 hay sự thiếu thận trọng của Gorbachev làm người ta hồi tưởng đến cuộc đảo chính chống Nikita Khrushchev vào tháng 10/1964. Trong trường hợp đó, con trai của Khrushchev có tên cụ thể của những kẻ âm mưu đảo chính. Sau đó Khruschev hỏi một trong số họ liệu có âm mưu chống lại ông không − tất nhiên sự phủ nhận thẳng thắn của kẻ này khiến ông hài lòng.

Đại sứ Mỹ rất quan tâm khi phát hiện Moskva đang yêu cầu Vladimir Sherbakov, Phó Thủ tướng thứ nhất và Pavlov, người thứ hai, cùng Evgeny Primakov, được Tổng thống Bush và Ngoại trưởng Baker tiếp. Đây là điềm báo từ Grigory Yavlinsky − một nhân vật quan trọng trong các đề xuất kinh tế của Xô viết − trong cuộc họp thượng đỉnh của G7. Vị đại sứ đã thông báo với Primakov, hiện phụ trách các quan hệ kinh tế đối ngoại trong Hội đồng An ninh, rằng Bush và Baker đều rất quan tâm đến điều Yavlinsky nói. Nếu Sherbakov ở đó để bổ sung sự ủng hộ thì mọi việc coi như tốt đẹp. Tuy vậy, nếu Sherbakov được ưu tiên và cố gắng thuyết phục được chương trình bình ổn của Pavlov, toàn bộ cuộc phiêu lưu này sẽ thất bại. Primakov trả lời rằng Gorbachev sẽ không chấp nhận bất kỳ một chương trình nào mà chính phủ của ông không thông qua. Cải cách kinh tế sẽ phải đạt được sự nhất trí và do Pavlov cùng nhóm của ông triển khai. Khi cuộc họp diễn ra vào ngày 31/5, Bush kết luận là Gorbachev hoàn toàn chưa có một cương lĩnh thị trường đúng đắn. Ông bắt đầu băn khoăn liệu Gorbachev có đang lãng phí thời gian khi đến London tham dự hội nghị G7 hay không. Kohl và Mitterrand từng bước hợp tác và Gorbachev nhận lời mời của Thủ tướng John Major vào trung tuần tháng 6.

Yavlinsky được thông báo rằng Baker sẽ diễn đạt rành mạch trong bài diễn văn đọc ở Berlin để báo hiệu là ông Bush chấp nhận chương trình này. Ông đã làm như vậy. Gorbachev chuyển bài báo cáo cho Vadim Medvedev chuẩn bị cho chuyến đi London. Ngày 6/7, đêm trước chuyến đi London của Gorbachev, đại sứ Mỹ cũng chuyển một lời nhắn khẩn của Bush cho Gorbachev. Baker thấy vị Tổng thống đang trong tâm trạng thư thái ở một biệt thự ngoại ô Moskva. Có một điều gì đó tác động đến ông. Các quan chức làm việc cùng ông, chuẩn bị tài liệu để ông tham dự cuộc gặp thượng đỉnh London, không có nhà kinh tế cải cách tài năng, thậm chí không có cả Yavlinsky. Gorbachev đã không mang theo lời cảnh báo là muốn chương trình thành công thì phải vạch ra lộ trình thực hiện kinh tế thị trường rõ ràng.

Hội nghị G7 lắng nghe ông một cách lịch sự nhưng khi ông đề cập đến kinh doanh và báo chí, lời mời đầu tư của ông vào Liên bang Xô viết chỉ nhận được sự thờ ơ. Việc đầu tư vào Liên bang Xô viết thời gian này quả thật quá ư mạo hiểm, chủ yếu vì Moskva không hiểu thấu đáo kinh tế thị trường. Người ta đề nghị Gorbachev gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới, thông qua đó sẽ nhận được sự trợ giúp về kỹ thuật. Ông đã lờ đi sự xúc phạm này và nộp đơn xin là thành viên chính thức vào ngày 23/7/1991. Bất chấp sự nghi ngại, cuối cùng đơn xin gia nhập của Liên Xô cũng được chấp nhận. Ông phải quay về Moskva mà không nhận được khoản tiền mặt nào. Kế hoạch tài chính ở London là thất bại đầu tiên và quan trọng về mặt đối ngoại kể từ khi quan hệ Xô-Mỹ trở nên thân thiện. Có kết cục như vậy là do sự thiếu hiểu biết của ông về kinh tế thị trường.

Gorbachev làm mọi vấn đề trở nên tồi tệ hơn khi gặp Bush ở London ngày 17/7. Vẫn còn bực mình vì bị từ chối không được đồng tiền nào, ông cố nói với Bush:

Sự công kích này làm Bush tổn thương và ông đáp lại không khách sáo rằng đó là lỗi của ông ta vì tự mình không hiểu rõ hơn.

Chernyaev không hiểu nổi tại sao Gorbachev lại đặt vấn đề như vậy, đặc biệt là các câu trả lời của Bush đã rõ. Có thể do bản báo cáo của Kryuchkov về việc chính quyền Mỹ đang tiến hành mọi việc chống lại Gorbachev đã đánh vào tình cảm của ông, sau thất bại của cuộc gặp nhóm G7. Một lần nữa ông cảm thấy mình lại chịu cảnh xôi hỏng bỏng không trong việc phát triển các quan hệ mới. Bush cũng không thể hiểu hết Gorbachev. Khi trở về Washington, ông nhận xét: “Thật buồn cười! Ông ta luôn là một người chào hàng tốt nhất nhưng lại không đúng lúc. Tôi không biết ông có phải là người không nắm được thông tin.”

CÁO TỪ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Tháng 10/1990, Gorbachev được giải thưởng Nobel Hòa bình. Ông quyết định không đi nhận giải thưởng này vào tháng 12 và Thứ trưởng Ngoại giao thay mặt ông đi nhận. Các sự kiện ở Vilnius ngày 1/1991 khiến nhiều nhà quan sát nước ngoài quay lại chống Gorbachev và dẫn tới yêu cầu ủy ban cần xem xét lại quyết định trao giải. Một số công dân Xô viết cảm thấy bị tổn thương. Người ta chúc mừng Tổng thống với “giải thưởng đế quốc”. Ông dành thời gian đi Oslo vào tháng 6/1991 và mỗi người nhận giải thưởng phải có bài phát biểu truyền thống. Đáng chú ý là ông phát biểu như một người theo trường phái Leninist. Ông đã tự giải phóng chính mình khỏi hệ tư tưởng chính thống của Đảng đó là tư tưởng Marxist-Leninist.

Đáng chú ý hơn là cương lĩnh dự thảo của Đảng với tiêu đề “Chủ nghĩa xã hội, dân chủ và tiến bộ”. Lựa chọn chủ nghĩa xã hội, một thuật ngữ thường được Gorbachev trích dẫn, được lấy từ bản dự thảo cuối cùng. Đảng không còn là Đảng của giai cấp công nhân, nhưng tất cả trong số họ đều có công ăn việc làm. Cơ sở giai cấp của Đảng cuối cùng bị từ bỏ. Lý tưởng của Đảng bây giờ là “chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân văn”, bắt nguồn từ chủ nghĩa Marx nhưng cũng từ những khái niệm khác của tư duy “nhân văn”. Tư tưởng mới không rõ ràng để người sau có thể phát triển nó cho kịp thời đại. Phần nhiều được xuất phát từ các cam kết của Đảng đối với các quy định của luật pháp, các thể chế dân chủ, sự phân lập quyền lực và Liên bang mới gồm các quốc gia có chủ quyền. Chủ nghĩa cộng sản được tình cờ nêu lên nhưng chẳng ai nghĩ là nó có tính khả thi trong tương lai gần.

Phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương cuối cùng miễn cưỡng thông qua cương lĩnh mới này. Đảng ra đời với đường lối mới nhưng, chính xác hơn, là nó chết yểu. Ngày 20/7, ngay trước khi phiên họp được triệu tập, Yeltsin ký một sắc lệnh cấm các hoạt động chính trị của bất cứ đảng phái nào trong các tổ chức chính quyền trên lãnh thổ Liên bang Nga. Điều này bao gồm KGB, giới quân sự và cảnh sát. Nếu sắc lệnh này được triển khai, nó sẽ làm tê liệt bộ máy Đảng ở Nga. Mặc cho nhiều đảng viên vận động, Gorbachev từ chối không ban hành một sắc lệnh hủy bỏ mệnh lệnh của Yeltsin. Ông tuyên bố ông chỉ hành động nếu ủy ban hiến pháp xét thấy hành động của Yeltsin là trái hiến pháp. Phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lên án sắc lệnh của Yeltsin nhưng nó lại không có hiệu lực pháp lý. Cuối cùng Gorbachev hóa ra phải từ bỏ Đảng.

Dù có những mâu thuẫn trong nội bộ, những người dân chủ đã nỗ lực lập ra một tổ chức dân chủ mới thay thế tổ chức Đảng, gọi là phong trào cải cách dân chủ. Nhiều nhân vật có uy tín lớn thuộc phái dân chủ tham gia phong trào này, điều quan trọng là Gorbachev không hề đả kích họ. Có thể nói phong trào này hoạt động đã thu hút được các đảng viên ủng hộ dân chủ, nó có thể là phương tiện cho Tổng thống nếu ông phá bỏ các mối liên hệ chính thức với Đảng trong Đại hội sắp diễn ra vào mùa thu 1991. Người ta có cảm giác Đảng sẽ tan rã và chia rẽ thành nhiều phe phái tại Đại hội. Gavriil Popov nghĩ nên để người dân chủ nắm quyền trong 3-5 năm tới trước khi họ có thể đảm nhiệm được chính quyền. Song với Popov, một vài người như Vladimir Zhirinovsky là mối đe dọa lớn. Tình hình kinh tế khó khăn sẽ khiến Đảng của ông này thêm hấp dẫn không chỉ với dân chúng mà còn cả với giới quân sự và cảnh sát. Đây là một phân tích có ý nghĩa tiên tri vào mùa hè năm 1991.

TỔNG THỐNG BUSH THĂM LIÊN BANG XÔ VIẾT

Ngày 29/7/1991, George Bush đến Moskva tham dự hội nghị thượng đỉnh đầu tiên trên cương vị Tổng thống. Đây là lần gặp mặt thứ tư và cũng là lần cuối cùng giữa Bush và Gorbachev. Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược (START I) đã có thể được ký sau mười năm thương lượng. Hiệp ước CFE được trình lên Thượng viện phê chuẩn. Cuối cùng Moskva đã thông qua một đạo luật dự thảo chính thức chấp nhận quyền xuất cảnh. Hiệp định thương mại được ký năm 1990 cũng đã trình lên Quốc hội. Hiệp định này công nhận Liên bang Xô viết được hưởng quy chế Tối huệ quốc. Tình hình căng thẳng trong nước là chủ đề chiếm phần lớn cuộc nói chuyện giữa hai vị tổng thống. Ông Bush khuyến khích Gorbachev nên có thái độ hòa giải hơn với các nước vùng Baltic và tiến nhanh hơn nữa tới nền kinh tế thị trường. Cũng có một thỏa thuận thăm dò về hội nghị hòa bình ở Trung Đông. Một tình huống khó xử diễn ra ngày 31/7 tại nhà nghỉ Novo-Ogarevo trong khi Gorbachev và Bush đang tiến hành thương lượng. Một bản thông báo được chuyển cho Bush về việc sáu quan chức hải quan Lithuania bị sát hại vào đêm hôm đó. Gorbachev hoàn toàn không hay biết, đặc biệt khi Bush chất vấn ông về sự việc này, ông cho biết ông chưa từng được báo cáo về nó. Sau này, sự việc được tiết lộ là do thành viên thuộc đơn vị OMON Riga tiến hành. Người ta cho rằng sự việc này diễn ra nhằm mục đích làm gián đoạn hội nghị thượng đỉnh. Điều này chứng tỏ Bush có nguồn thông tin tốt hơn Gorbachev về các sự việc đang diễn ra ở Liên bang Xô viết. Gorbachev đã không còn nắm được quyền kiểm soát lực lượng cảnh sát của mình.

Lần đầu tiên uy tín của các nhà lãnh đạo các nước cộng hòa ngày càng tăng, được đề cập đến trong hội nghị thượng đỉnh. Gorbachev mời Yeltsin và Nursultan Nazarbaev, lãnh đạo Kazakhstan, tham dự bữa trưa với ông cùng Tổng thống Bush và tham gia đoàn đàm phán Xô viết trong một số phiên họp. Yeltsin đáp ông muốn đón tiếp Tổng thống Bush tại văn phòng riêng của ông hơn, chỉ có Tổng thống với Tổng thống, chứ không có sự tham gia của những người khác. Bush có ý định thăm Kiev sau cuộc họp thượng đỉnh, sẽ chính thức gặp Yeltsin và mời một số lãnh đạo các nước cộng hòa cùng ăn tối. Yeltsin đón tiếp Bush tại Kremlin, trong văn phòng Gorbachev sử dụng khi ông còn là Chủ tịch Xô viết Tối cao. Yeltsin đi xa tới mức bắt Bush chờ khoảng mười phút và cuộc họp đã kéo dài hơn dự kiến. Người Mỹ chẳng thấy ấn tượng gì. Trong bữa tối do Gorbachev tổ chức, Yeltsin cử phu nhân của mình đi trước và đợi đến lúc Barbara Bush đến, ông mới vào. Sau đó ông tháp tùng bà này lên bàn trên như thể ông là chủ của bữa tiệc đó. Trong một bữa tiệc đáp lại do Bush tổ chức, không có các hớ hênh ngoại giao như vậy. Nazarbaev tiến tới chỗ Yeltsin và Ter-Petrosyan − nhà lãnh đạo Armenia, đang ngồi và mời họ cùng với ông đến bàn danh dự để nâng cốc chúc mừng Gorbachev và Bush.

Ông Bush thích ý tưởng tới thăm thủ đô một nước cộng hòa sau cuộc họp thượng đỉnh Moskva. Kiev là nơi thích hợp nhất vì nó thoát khỏi sự rối loạn của vùng Cavcaz. Các nước vùng Baltic hiện đang không có vấn đề và Trung Á đang khó khăn trước việc chuyển đổi sang một nền dân chủ. Bộ Ngoại giao Xô viết không phản đối. Ngày 21/7, người Mỹ hết sức ngạc nhiên khi đại diện lâm thời Xô viết ở Washington chuyển cho họ một thông điệp từ văn phòng Gorbachev. Nội dung thông điệp là trong khi căng thẳng đang diễn ra ở đây, tốt nhất Tổng thống Bush không nên tới Kiev. Thay vào đó, Tổng thống Bush được mời đi nghỉ cùng Gorbachev ở vùng Stavropol. Có nguy cơ về một vụ bê bối làm lu mờ thành quả tại hội nghị thượng đỉnh. Người Mỹ buộc phải thông báo cho người Ukraine rằng Gorbachev không muốn Tổng thống Bush thăm Kiev. Sau khi thảo luận những mặt trái của quyết định khai thông đường điện thoại, bảo đảm cơ quan KGB nhận được thông tin, Văn phòng Tổng thống đã bớt gay gắt và cho triển khai. Có lẽ Gorbachev đã quá bực mình về việc Tổng thống Bush muốn thăm Kiev mà không được, một lần nữa, ông phải xem xét thấu đáo hậu quả của sự phủ quyết.

Ở Kiev, Tổng thống Bush gặp riêng Leonid Kravchuk, Chủ tịch Quốc hội. Không một quan chức Xô viết nào được tham dự. Các bài phát biểu và các lời chúc mừng đều bằng tiếng Anh và tiếng Ukraine. Tiếng Nga không được sử dụng. Bush chỉ rõ với người dân Ukraine rằng, độc lập không giống với nền dân chủ và tự do. Một quốc gia độc lập có thể bị áp bức. Mục tiêu trước tiên phải là dân chủ bởi vì khi có sự tự do chọn lựa, người ta mới có thể giành độc lập. Tuy vậy, tất cả chỉ là nước đổ lá khoai. Điều mà người dân Ukraine quan tâm trước hết và chủ yếu chính là nền độc lập.

SẴN SÀNG MỘT HIỆP ƯỚC LIÊN BANG MỚI

Tháng 6, Xô viết Tối cao Ukraine thông qua nghị quyết nước cộng hòa này sẽ đảm nhận toàn bộ xí nghiệp trên lãnh thổ Ukraine, từ tay Moskva. Khó mà có thể xác định được liệu Nga có ký nghị quyết này hay không. Gorbachev phải tốn nhiều công sức để đưa ra một thỏa thuận tốt nhất mà ông có thể thương lượng. Cho đến mùa hè năm 1991, sáng kiến này được chuyển đến các nước cộng hòa. Vị Tổng thống này thật sự cần một Hiệp định để có được nguồn viện trợ quốc tế nhằm củng cố chương trình ổn định.

Điềm gở đối với Gorbachev là thực tế đã có một liên minh trong các nước cộng hòa này. Phe đại diện cho xu hướng kinh tế và các nhà dân tộc cùng đòi kiểm soát nền kinh tế thuộc các nước cộng hòa. Tuy nhiên, ngày 26/6, Đại hội Đại biểu Nhân dân Ukraine đã bỏ phiếu tán thành tuyệt đối hiệp ước Liên bang dự thảo. Sau đó dự thảo này được gửi lên ủy ban Đại hội Đại biểu Nhân dân để báo cáo vào tháng 9. Ukraine sẽ thông báo các điều kiện của mình khi gia nhập Liên bang mới. Ngày 2/8, Gorbachev công bố trên truyền hình là hiệp ước này sẽ được ký vào ngày 20/8, Liên bang Nga, Kazakhstan và Uzbekistan sẽ ký hiệp ước cùng một ngày. Gorbachev kêu gọi thành lập một Liên bang mới, một tập hợp mới đích thực tự nguyện bao gồm các quốc gia có chủ quyền. Nhiều nhân vật dân chủ cố thuyết phục Yeltsin không ký, nhưng khi ông gặp Nazarbaev ở Almaty ngày 18/8, dường như họ đã ngầm thỏa thuận ký hiệp ước này rồi.

« Lùi
Tiến »