Quê hương Dư Mĩ Phần nằm ở khu vực miền núi xa xôi của tỉnh h lân cận, cách thành phố J hơn 800 ki-lô-mét.
Để tiết kiệm thời gian, Sở Công an phê chuẩn cấp cho Diệp Hi một chiếc xe Jeep đi đường trường. Trước tiên hai người đi theo đường cao tốc đến thành phố L của tỉnh H trong hơn sáu tiếng đồng hồ. Sau đó họ lại từ thành phố L đến huyện D, và phải mất hơn 50 ki-lô-mét để từ huyện D để đến thị trấn Liễu Thụ. Nhưng hơn 50 ki-lô-mét hầu hết là đường núi, suốt chặng hành trình gập ghềnh khó đi. Mãi cho đến chập tối, mới thấy bóng dáng của thị trấn.
Hai người đến Đồn Công an thị trấn để kiểm tra hộ khẩu. Đúng là có một người tên Dư Mĩ Phần. Sau khi đăng kí chuyển hộ khẩu vào năm 1995 thì không thấy trở lại. Hai người nhẩm tính, đoán là hộ khẩu của Dư Mĩ Phần vẫn còn lưu trong hồ sơ của Trung tâm Trao đổi Nguồn nhân lực thành phố J.
Bản đăng kí hộ gia đình cho thấy Dư Mĩ Phần sống ở bản Kim Cương thuộc thị trấn Liễu Thụ. Bản Kim Cương được đặt theo tên của núi, nằm ở phía Bắc của thị trấn, cách trung tâm thị trấn khoảng 10 ki-lô-mét. Bản nằm phía sau ngọn núi, không có đường nhựa hay đường bê tông, tất cả đều là đường mòn. Họ chỉ có thể đi bộ và phải mất gần tám tiếng để đi và về. Đường núi rất hiểm trở và có thú hoang trong đêm, vì vậy Đồn Công an khuyên họ nên ở lại thị trấn một đêm, sáng mai hẵng đi.
Đồn Công an địa phương đã bố trí một sĩ quan cảnh sát hơn 40 tuổi họ Lưu chịu trách nhiệm hỗ trợ hai người phá án. Sĩ quan cảnh sát Lưu đã sắp xếp chỗ ở cho hai người tại nhà nghỉ nhỏ và đem đến chút đồ ăn. Anh dặn họ sau khi ăn xong, ngủ một giấc, dưỡng sức để mai thức dậy còn vượt đường núi cheo leo.
---❊ ❖ ❊---
Buổi sáng trước khi đi, Diệp Hi đã sắp xếp công việc hợp lí, lệnh cho Khang Tiểu Bắc cử người theo dõi giám sát Phùng Văn Hạo suốt 24 giờ. Khang Tiểu Bắc sợ xảy ra sơ suất gì nên dứt khoát tự mình lâm trận.
Suốt cả ngày, Phùng Văn Hạo ở trong bệnh viện không rời nửa bước. Sau giờ làm việc, anh ta trực tiếp lái xe chở mẹ về nơi ở. Có vẻ như người đàn ông này ngoài công việc thì chỉ có nơi duy nhất là nhà.
Mẹ con Phùng Văn Hạo sống trong một khu nhà khép kín cao cấp cách bệnh viện không xa. Lối vào và lối ra đều có các nhân viên bảo vệ, ngoài ra còn có hệ thống camera giám sát. Khang Tiểu Bắc tìm đến các nhân viên bảo vệ trực ban và tiết lộ danh tính, chức trách của mình. Anh muốn xem video giám sát từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 4 tháng 1. Tiếc là, dữ liệu video của khu nhà chỉ được lưu trong một tháng nên những video ghi hình tháng 1 đã bị xóa sạch.
Khang Tiểu Bắc hỏi han nhân viên bảo vệ xong, đỗ xe trước tòa nhà nơi Phùng Văn Hạo sống. Khoảng hơn 7 giờ, Đỗ Quân kết thúc công việc của mình bèn tới hỗ trợ. Anh ta mang theo một ít thức ăn, hai người họ ăn xong thì luân phiên ngủ một lúc.
Khang Tiểu Bắc để Đỗ Quân ngủ trước. Anh canh chừng đến nửa đêm. Đỗ Quân cả một ngày vất vả mệt mỏi, nên đã ngáy khò khò, nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Khang Tiểu Bắc lấy điện thoại di động ra, chat với bạn gái.
Mối quan hệ giữa Khang Tiểu Bắc và Hạ Tinh Tinh rất suôn sẻ. Giống như những người trẻ tuổi vừa mới say nắng nhau, họ có nhiều lời yêu thương muốn gửi trao. Hai người chat qua lại bằng tin nhắn. Thấm thoắt gần nửa đêm, Khang Tiểu Bắc và Hạ Tinh Tinh mới tạm biệt nhau, out khỏi mạng.
Ánh sáng trong các tòa nhà đã tắt ngấm, cả khu dân cư yên tĩnh. Dưới ánh đèn đường vàng vọt, những bóng cây xanh thấp thoáng, nước chảy róc rách, Khang Tiểu Bắc cảm thấy lòng mình khoan khoái lạ thường và không có cảm giác buồn ngủ, nhưng trong nháy mắt, anh bỗng thấy vô cùng tủi thân: Làm một cảnh sát quèn, e rằng suốt đời anh cũng không thể mua nổi ngôi nhà trong khu này.
Khang Tiểu Bắc đang thấy hơi tủi phận thì đèn cảm ứng trong hành lang đột nhiên sáng lên, bóng Phùng Văn Hạo thấp thoáng từ trong cánh cửa đi ra.
Anh ta mặc một chiếc áo khoác màu đen, hai tay đút túi quần, co ro thân mình, lén la lén lút đi về phía cổng khu dân cư. Khang Tiểu Bắc đang tự hỏi Phùng Văn Hạo đi đâu, tại sao không lái xe. Phùng Văn Hạo đã vẫy một chiếc taxi ở lối vào khu dân cư. Khang Tiểu Bắc nhanh chóng lay Đỗ Quân tỉnh dậy và khởi động xe đuổi theo.
Theo dõi vào lúc nửa đêm, tầm nhìn rộng, không bị mất dấu, nhưng cũng rất dễ bị lộ. Khang Tiểu Bắc luôn duy trì khoảng cách hơn 50 mét, theo sát từ từ sau xe taxi.
Mười lăm phút sau, chiếc taxi dừng lại ở quảng trường Tân Giới Khẩu. Phùng Văn Hạo xuống xe, chần chừ đôi lát. Anh ta bước vào quảng trường và ngồi xuống chiếc ghế gỗ còn trống. Anh ta quan sát xung quanh như thể đang đợi ai đó, lại dường như đang nhàn nhã ngắm cảnh.
“Nửa đêm, gã ta ra đây ngồi làm gì nhỉ? Chọn một con mồi mới? Hay là gã ta đang chơi xỏ chúng ta?” Đỗ Quân vừa hỏi vừa dụi mắt ngái ngủ.
Khang Tiểu Bắc lắc đầu, sắc mặt hoài nghi.
Phùng Văn Hạo ngồi một lúc, giơ tay nhìn đồng hồ, cuối cùng đứng dậy, ra khỏi quảng trường và đi về phía Trung tâm Chiếu phim Vạn Đại đối diện.
Đi đến cửa Trung tâm, anh ta dừng lại và liếc nhìn đồng hồ. Lúc này, các cánh cửa kính lớn của Trung tâm Chiếu phim đột nhiên mở toang, một đám đông đổ ra từ bên trong.
“Thôi chết rồi, chắc hẳn đã phát hiện ra chúng ta, muốn trà trộn vào đám đông coi phim lúc nửa đêm để cắt đuôi chúng ta.” Khang Tiểu Bắc hét lên, vội vàng xuống xe và lao vào đám đông. Chạy một quãng không xa, Khang Tiểu Bắc quay đầu lại, dặn với Đỗ Quân ở phía sau, “Xem phim nửa đêm thường là các đôi nam nữ yêu đương, chỉ cần chú ý những nhân vật đi một mình. Khi nhắm đúng được mục tiêu rồi thì cứ theo sát không rời, đừng rút dây động dừng.”
Hai người phân nhau lùng sục, tìm kiếm một vòng trong đám đông, nhưng không thấy bóng dáng Phùng Văn Hạo đâu. Gặp nhau ở quảng trường, Khang Tiểu Bắc vô thức liếc nhìn về phía Nam, chỉ thấy bóng dáng liêu xiêu của Phùng Văn Hạo thoáng qua trước một quán bar và biến mất.
Khang Tiểu Bắc nhếch mép cười mỉa, “Chết tiệt, đi đến quán bar để tìm gái, có cần bày binh bố trận như vậy không?”
“Cậu thấy hắn bước vào quán bar à?” Đỗ Quân hỏi, hướng theo tầm nhìn của Khang Tiểu Bắc.
“Được rồi, biết hắn ở đâu là ổn rồi, chúng ta ôm cây đợi thỏ vậy.”
---❊ ❖ ❊---
Ngồi trong xe hơn một tiếng đồng hồ, hai cặp mắt nhìn chòng chọc vào cửa quán bar Manly mà Phùng Văn Hạo bước vào khi nãy. Phùng Văn Hạo vẫn chưa xuất hiện. Đỗ Quân không thể nhẫn nại thêm, liền nói, “Hắn biết mặt cậu, cậu ngồi yên trong xe đi, tôi sẽ vào trong.”
Khang Tiểu Bắc suy nghĩ một lúc rồi gật đầu đồng ý.
Đỗ Quân xuống xe, hất tóc ra sau, ngang nhiên đi thẳng vào quán bar.
Sau nửa đêm là khoảnh khắc điên rồ nhất trong quán bar, nhạc nhảy nóng bỏng và điếc tai, đàn ông lẫn phụ nữ quấn lấy nhau, lắc lư theo nhạc, như thể rất phấn khích.
Đỗ Quân vờ lắc đầu lắc cổ, đung đưa thân mình, loanh quanh một vòng, nhưng không thấy bóng dáng của Phùng Văn Hạo. Anh lo lắng, lách người khỏi đám đông và chạy vào phòng vệ sinh. Anh mở cửa tất cả các buồng trong đó, nhưng vẫn không tìm thấy Phùng Văn Hạo. Đỗ Quân nhận ra là có vấn đề. Anh ra khỏi phòng vệ sinh và chộp lấy người phục vụ đi ngang qua, hỏi quầy bar có lối ra nào nữa không.
Người phục vụ chỉ vào bên cạnh phòng vệ sinh, Đỗ Quân nhìn thấy một cánh cửa nhỏ không hề bắt mắt có hộp đèn xanh treo phía trên với dòng chữ “lối thoát hiểm”.
Đỗ Quân vội chạy đến và đẩy cửa ra. Bên ngoài cánh cửa là một con hẻm đen ngòm, vắng hoe không một bóng người. Anh lấy điện thoại di động ra, gọi cho Khang Tiểu Bắc, nghiến răng ken két, “Má nó, thằng cha đó chuồn theo cửa sau!”
“Đợi ở đó!” Khang Tiểu Bắc nói như hét lên, lập tức cúp máy.
Không lâu sau, Khang Tiểu Bắc chạy vội đến phía sau quán bar để gặp Đỗ Quân, mặc dù hi vọng không lớn, nhưng hai người quyết định tìm kiếm cẩn thận xung quanh.
Thành phố J là một thành phố cổ, nhưng có tốc độ phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây. Các tòa nhà hiện đại, thời thượng và các khu thương mại sầm uất mọc lên như nấm, nhưng những dấu tích cũ vẫn chưa bị xóa sổ. Những con hẻm yên tĩnh, những khoảng sân cũ và căn nhà cấp bốn vẫn nằm rải rác sau các tòa nhà cao tầng. Đằng sau con phố của quán bar này, có rất nhiều nhà dân, những tòa nhà cũ và các khoảng sân nhỏ hẹp cho thuê. Nếu Phùng Văn Hạo đang ẩn mình trong đó, e rằng sẽ khó mà xuất hiện lại ngay.
Khang Tiểu Bắc và Đỗ Quân tìm kiếm thất bại, bàn bạc với nhau quay trở lại khu dân cư Phùng Văn Hạo sống. Khoảng 4 giờ sáng, bóng dáng của Phùng Văn Hạo cuối cùng cũng xuất hiện trước tầm mắt họ. Anh ta bước xuống từ taxi, trông tinh thần phơi phới. Dáng đi thẳng hơn trước rất nhiều.
Sau khi cân nhắc một chút, hai người không vội lao tới chất vấn, họ đợi sau khi Phùng Văn Hạo vào khu dân cư, thì khởi động xe đuổi theo chiếc taxi anh ta vừa đi.
Theo tài xế, Phùng Văn Hạo bắt taxi tại đầu một con đường phía sau quán bar. Như vậy, Phùng Văn Hạo có thể đã thuê một cái “ổ” cho mình. Lòng Khang Tiểu Bắc bỗng dấy lên một dự cảm chẳng lành.
Phùng Văn Hạo đã làm gì trong hai tiếng biến mất? Liệu có xuất hiện thêm một cái xác nữa sau khi trời sáng?
---❊ ❖ ❊---
Vào buổi sáng, chỉ vừa quá 6 giờ, cảnh sát Lưu lái xe chở Hàn Ấn và Diệp Hi đã đến chân núi. Cả ba xuống xe và bắt đầu lên núi. Lúc này, mặt trời chưa mọc, cả núi phủ màu xám xịt và khí lạnh phả ra buốt giá. Mặc dù nghe theo lời cảnh sát Lưu khuyên nhủ, hai người đã mặc quần áo bông của cảnh sát, nhưng họ vẫn cảm nhận được cái giá lạnh bất thường. Hai người co rúm lại và dán mắt vào con đường núi hiểm trở, nối gót đi theo cảnh sát Lưu.
Sau hơn một giờ di chuyển, hai người vốn ít vận động lâu đã thở hổn hển, bước chân ngày càng nặng nề. Diệp Hi là phụ nữ nên không thể chịu đựng được thêm. Cô đề nghị nghỉ ngơi một chút rồi đi tiếp, Hàn Ấn giơ cả hai tay lên tán đồng. Cảnh sát Lưu có kinh nghiệm đi đường núi khuyên hai người nên kiên trì. Vào buổi sáng, nhiệt độ trên núi thấp, khi ngồi xuống nghỉ, họ sẽ bị nhiễm lạnh, dễ trúng cảm và rất khó di chuyển tiếp. Anh ta còn nói rằng họ đang ở giới hạn của trạng thái vận động, vượt qua ngưỡng chướng ngại này, cơ thể tự nhiên sẽ thoải mái.
Nhờ anh Lưu động viên, hai người cắn răng chịu đựng đến cùng. Để phân tán sự chú ý của họ, anh Lưu đã kể câu chuyện về núi Kim Cương.
“Theo truyền thuyết, vào xa xưa, núi Kim Cương vốn là một vùng biển bao la, những cơn sóng cả hối hả đổ về, xa ngút tận chân trời. Xung quanh mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Sau đó, Long Vương đã cử một con Bạch Long tới đây trấn giữ. Khi mới tới, Bạch Long khá chăm chỉ cần mẫn, cho mưa đúng lúc, vì vậy mưa thuận gió hòa, bách tính an vui. Nhưng lâu dần, hắn tỏ ra ngạo mạn, cả ngày chỉ lo ngủ vùi, không quan tâm cho mưa xuống, trở thành một con rồng lười biếng. Cứ thế vài năm, hạn hán liên miên, đất đai nứt nẻ, ngũ cốc không sinh trưởng nổi, bách tính thống khổ vì tên rồng lười nhác. Khi Ngọc Hoàng thượng để biết chuyện của Bạch Long, nổi giận lôi đình, dịch chuyển cả một khối đá Kim Cương đè lên người Bạch Long, bốn bên còn trồng bốn cái cọc găm lại, vì thế mà có đài Kim Cương. Núi Kim Cương thế núi cao, dễ phòng thủ và khó tấn công, nên từ thời cổ đại, nó đã là một vùng đất hiểm yếu cho nhà cầm binh. Trong thời Chiến Quốc…”
Câu chuyện như những bức tranh sống động của cảnh sát Lưu đã khiến cho hai người quên đi nỗi mệt mỏi về thể xác, đôi chân của họ nhanh nhẹn hơn nhiều. Sau khoảng hai giờ, cuối cùng họ đã lên đến đỉnh núi.
Đứng trên đỉnh núi, bầu trời dường như có thể với được trong tầm tay. Dưới bầu trời xanh mây trắng, những vạt cây xanh và nước trong vắt, hoa đỗ quyên nở rộ, đỏ tươi khoe sắc khắp ngọn núi. Nhìn xuống lưng chừng núi, những thửa ruộng bậc thang dài xanh mơn mởn, uốn lượn như những con rồng nhấp nhô theo sóng lạ kì. Nhìn xuống dưới nữa, có gần chục ngôi nhà ngói đen tường đất, kích thước kiểu cách gần như hệt nhau.
Cảnh sát Lưu cho biết: Các thế hệ trong bản Kim Cương kiếm sống bằng cách trồng trà, những ruộng bậc thang xanh rì đó là những nương chè. Bây giờ là vào giữa tháng Ba, thời điểm hái trà xuân, có lẽ dân trong bản đang bận rộn trên các nương chè. Còn nữa, không có trường học trong bản, chỉ có một lớp học nhỏ, chủ yếu dành cho các em bé trong bản học lớp một, lớp hai. Những đứa trẻ lớn hơn phải đến trường tiểu học nội trú trước núi. Anh ấy đã từng gặp một nữ giáo viên trẻ ở lớp học này, nhưng không biết đó có phải là người mà Hàn Ấn và Diệp Hi đang tìm không.
Thân mang nhiệm vụ trên vai, nhìn thấy cảnh sắc tươi đẹp như vậy, cả hai cũng chỉ dừng chân giây lát, rồi tiếp tục lên đường.
Xuống núi ít tốn sức hơn, chưa đầy một tiếng, ba người đã ở gần nương chè, và quả nhiên, rất nhiều người dân trong bản đang thu hoạch trà. Có vẻ như dân bản và cảnh sát Lưu rất thân thiết với nhau, họ ngừng tay, chào hỏi cảnh sát Lưu.
Cảnh sát Lưu cũng đáp lại và đến chỗ một phụ nữ trung niên đội khăn trùm đầu màu trắng, thân hình mảnh khảnh, hỏi, “Trưởng bản đâu hả chị?”
Chị ta đảo mắt nhìn một lượt Hàn Ấn và Diệp Hi đứng phía sau cảnh sát Lưu, rồi nói, “Ông ấy đang dạy học cho bọn trẻ.”
“Trưởng bản sao lại lên lớp, tưởng có một giáo viên nữ cơ mà?” Viên cảnh sát Lưu ngạc nhiên hỏi.
“Anh nói con bé cháu tôi Mĩ Phần hả, nó đã rời khỏi bản rồi.” Người phụ nữ nói.
“Mĩ Phần đi khỏi bản ư? Khi nào vậy?” Hàn Ấn và Diệp Hi không thể kìm được cùng buột miệng hỏi.
Người phụ nữ đưa mắt nhìn Hàn Ấn và Diệp Hi rồi quay sang hỏi anh Lưu, “Hai người này là ai?”
Anh Lưu đang muốn nói rõ thì Diệp Hi đã đưa mắt ra hiệu, vội vàng cướp lời, “Chúng cháu là bạn cùng lớp đại học của Dư Mĩ Phần, đi công tác gần đây nên tiện đường ghé thăm cô ấy. Cô ấy đi ra khỏi bản từ khi nào ạ?”
“Từ sau ngày Quốc khánh năm ngoái, không có tin tức gì trong suốt một thời gian dài. Ở bản chỗ chúng tôi, liên lạc rất bất tiện, tôi không biết Mĩ Phần hiện đang ở đâu và dạo này sống thế nào.” Nỗi lo lắng hiển hiện trên khuôn mặt của người phụ nữ.
“Cô ấy đã đi đâu ạ?” Diệp Hi hỏi lại.
“Hừm.” Người phụ nữ lắc lắc đầu, miệng xuýt xoa hai tiếng, “Ở thành phố vẫn sướng hơn, trông cô thì biết, trắng trẻo, nõn nà, không giống Mĩ Phần nhà chúng tôi…” Người phụ nữ như nghẹn ngào, “Nhiều năm qua, cháu tôi sống khổ lắm. Bố mẹ nó bị bệnh không thể lên nương nên nó làm tất cả việc nương rẫy, lại còn phải quản lí dạy dỗ hơn một chục đứa trẻ trong bản, đến giờ vẫn chưa gả cho ai. Năm trước và năm ngoái, bố mẹ nó lần lượt qua đời, tiền chữa trị và mai táng tốn một khoản rất lớn. Gánh nợ nhiều, túng quẫn, con bé cũng không còn cách nào khác đành phải bỏ bản đi kiếm tiền. Nó nói là mấy năm qua đã viết xong một cuốn sách, muốn mang bản thảo đi bán rồi về.”
“Trước khi cô ấy rời bản, tâm trạng thế nào ạ?” Hàn Ấn hỏi.
“Không tốt lắm, thường hoảng hốt.” Người phụ nữ nói.
Hàn Ấn và Diệp Hi nhìn nhau, rồi quay sang an ủi người phụ nữ vài lời. Họ cũng nhìn cảnh sát Lưu ngầm ra hiệu, “Vì Mĩ Phần không ở trong bản, nên chúng cháu không vào bản nữa, chúng cháu quay về vậy ạ.””
Mặc dù đã chuẩn bị sẵn tâm lí là Dư Mĩ Phần không còn ở trong bản nhưng đường xa nghìn trùng, vượt núi vượt sông mà không tìm thấy mục tiêu, cả Diệp Hi và Hàn Ấn có chút thất vọng. Tuy nhiên, chuyến đi này vẫn có chút thu hoạch, đó là tình trạng tâm lí của Dư Mĩ Phần rất đáng lo ngại và cũng biết rõ thời gian cụ thể cô rời khỏi bản. Ngay sau khi Dư Mĩ Phần rời khỏi bản không lâu, vụ án phân xác đã xảy ra ở thành phố J. Không biết đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay có mối liên hệ nào.
Vào khoảng 2 giờ chiều, cảnh sát Lưu trở về thị trấn với hai người. Hàn Ấn và Diệp Hi đã đến Đồn Công an để nhận xe. Sau khi nói lời tạm biệt với trưởng đồn và cảnh sát Lưu, họ lập tức quay trở về.
---❊ ❖ ❊---
Họ đi trên đường cao tốc, tạm dừng tại thành phố L phút chốc để đổ xăng, ăn gì đó lót dạ rồi lại tiếp tục vội vã ra đi.
Khi xe đang trên đường cao tốc, Diệp Hi nhận được một cú điện thoại từ lãnh đạo Sở Công an thành phố J, yêu cầu cô ngay lập tức đưa Hàn Ấn đến thành phố T để giúp cảnh sát địa phương phá một vụ giết người hàng loạt. Nghe chỉ thị của cấp trên, Diệp Hi có phần mù mờ, không hiểu. Vụ án 4.1 hiện đang trong giai đoạn bế tắc, tại sao lại bàn giao Hàn Ấn cho các đơn vị khác? Hơn nữa, Hàn Ấn chỉ hỗ trợ thành phố J xử lí án với tư cách là một cố vấn. Sở Công an thành phố đâu có quyền điều chuyển nhân sự? Ngay cả khi thực sự muốn điều chuyển, cũng nên hỏi ý kiến của người ta trước chứ? Diệp Hi bỗng nộ khí xung thiên. Nhưng cô chưa kịp nổi nóng thì giám đốc Sở ở đầu dây bên kia đã nhấn mạnh, đây là quyết định của Bộ, cô đành phải nuốt giận mà miễn cưỡng phục tùng mệnh lệnh.
Thành phố T cũng thuộc tỉnh H, liền kề thành phố L. Thị trấn nhỏ mang tên Thái Bình nằm ở vùng ngoại ô phía Nam thành phố, có kẻ giết người hàng loạt ẩn mình trong nhiều năm. Cho đến nay, hắn ta đã gây ra mười một vụ án đẫm máu, khiến ba người bị thương nặng và tám người chết. Xét đến tính chất nghiêm trọng của án, vụ án này đã được liệt kê là vụ án số một do Bộ đôn đốc, giám sát. Bộ đặc biệt chỉ định ban Cố vấn gồm nhiều chuyên gia điều tra tội phạm hỏa tốc đến thị trấn Thái Bình để hướng dẫn Ban Chuyên án địa phương xử lí vụ việc. Bởi vì kẻ giết người vô cùng xảo quyệt, nên trong suốt quá trình chín năm tội ác, hắn không để lại bất cứ dấu vết hay bằng chứng nào. Những nạn nhân sống sót sau vụ án cũng không thể cung cấp đặc điểm nhận dạng của kẻ giết người. Điều đó có nghĩa là phá vụ án chỉ có thể dựa vào đặc trưng hành vi của hung thủ. Vì vậy, Bộ Công an mong có một chuyên gia tâm lí học tội phạm tham gia ban Cố vấn. Tuy nhiên, các chuyên gia có liên quan hiện không thể rời khỏi những nhiệm vụ quan trọng đang được Bộ giao phó. Bộ đành phải hướng tới nhân sự ở địa phương, vì vậy Hàn Ấn, một nhà tâm lí học tội phạm đã có biểu hiện xuất sắc trong vụ ấu dâm trẻ em ở thành phố J vài ngày trước, đã lọt vào mắt của lãnh đạo Bộ.
Lãnh đạo Bộ tìm hiểu tình hình của Hàn Ấn từ thành phố J. Lãnh đạo thành phố J nói rằng Hàn Ấn đến từ một Học viện Cảnh sát miền Bắc và được mời để hỗ trợ phá một vụ án giết người phân xác với tư cách cố vấn. Sau đó, lãnh đạo Bộ biết rằng Hàn Ấn đưa ra báo cáo phân tích về vụ án phân xác và giúp cảnh sát thành phố J xây dựng một loạt chiến lược điều tra, sàng lọc, vì vậy đề nghị tạm thời điều chuyển Hàn Ấn một thời gian. Đây rõ ràng là cưỡng chế điều chuyển. Mặc dù thành phố J có phần miễn cưỡng, nhưng đành phải đồng ý điều chuyển. Hơn nữa, họ tin rằng cứ triển khai theo một loạt các bước và chiến lược mà Hàn Ấn đề ra thì dựa vào khả năng của chính mình, họ hoàn toàn có thể phá được vụ án.