Càn Long đăm đăm nhìn Hòa Thân khôi ngô tuấn tú hoạt bát nhanh nhẹn, thầm nghĩ : phải chăng người tình yêu dấu của ta hóa thân vào người này.
- Hòa Thân không quyền không tiền, nhưng biết vượt qua đoạn đường đó là nhờ a dua nịnh bợ.
Trong xã hội này, không biết a dua nịnh hót là tự diệt, dù cho anh tài ba đến mấy. Chỉ có học cách a dua nịnh hót, mới tạo được thuận lợi cho bản thân. Hòa Thân biết rằng, nếu chỉ biết nịnh bợ mà không có tài thực sự, không cần cù làm việc, thì sẽ không có tiền đồ rộng lớn. Tài năng bản thân là không thể nghi ngờ, trên cơ sở đó cần cù làm việc, chiều lòng cấp trên, mới nhanh chóng thăng quan tiến chức, huống hồ hoàn cảnh bản thân thuận lợi thế này, ông vợ Anh Liêm là Tể tướng đương triều.
Càn Long năm thứ bốn mươi. Hòa Thân hai mươi sáu tuổi nhờ nỗ lực bản thân mà được chức Ngự tiền thị vệ. Thời gian không quay lại, cơ hội không thể để mất. Dịp may khó có, nếu có, quyết không thể buông tay, huống chi Hòa Thân đã bỏ ra bao nhiêu công sức vượt qua bao nhiêu gian khổ mới tạo ra cho mình một cơ hội tốt. Hòa Thân lần đầu tiên ở bên cạnh Hoàng đế, khiến Hoàng đế Càn Long suốt đời không thể rời anh ta, chỉ trừ khi Càn Long trút hơi thở cuối cùng mà thôi.
Dưới ánh sáng chói chang của mặt trời, đình đài lầu các trong vườn hoa Viên Minh ánh lên màu sắc rực rỡ, nước hồ tựa như mặt gương vừa mới lau xong lấp lánh phát sóng. Mấy con tử yến bay qua bay lại nhảy nhót trên cành liễu thướt tha, từng đàn ong bướm rập rờn quấn quýt bên những chùm hoa tuyệt đẹp.
Càn Long ngồi trong kiệu nhìn ra cảnh xuân bên ngoài, truyền bảo thị vệ bước nhanh, đến Bắc Hải thưởng thức cảnh xuân. Đang đi, bỗng thấy một thị vệ vội vàng đến trước kiệu tấu báo:
- Vân Nam cấp tấu, tội phạm trọng yếu Miến Điện trốn thoát.
Càn Long lệnh dừng kiệu, cầm lấy bản tấu, chau mày, giận dữ:
- Đồ vô dụng!
Càn Long bước xuống kiệu đứng đấy. Tất cả thị vệ thấy thế đều quỳ mọp xuống đất, không dám ngẩng đầu lên. Chỉ nghe Càn Long thét:
- Hùm beo sổng cũi, cá chim sổ lồng, là tội của ai? - Nói xong quay người lại hỏi đám thị vệ: - Là tội của ai? Tội của ai?
Càn Long hỏi liền mấy câu. Đám tùy tùng ai nấy đều thất kinh, không biết Hoàng thượng nói gì, nào ai dám mở miệng. Bỗng nhiên có một người lên tiếng:
- Người trông giữ không thể trốn tránh trách nhiệm.
- Ai nói đấy, hãy đứng dậy. Càn Long bảo.
- Nô tài Hòa Thân mạo phạm Hoàng thượng, tội đáng muôn chết.
- Quả đáng khen, sao gọi là mạo phạm? Ngươi hãy đứng dậy.
Càn Long vừa nói vừa nhìn chàng trai đứng dậy như cây thông trước gió, hiên ngang sừng sững; mặt trắng như ngọc, môi tựa thoa son, mắt long lanh, mày rậm đen, quả thực khiến người khác mến mộ. Đặc biệt nốt ruồi đỏ trên trán Hòa Thân, khiến Càn Long ngẩn ngơ hồi lâu...
Càn Long khi còn là Bảo thân vương, một lần đến cung của Thái hậu, thấy một cô gái thướt tha yểu điệu, như Lạc Thần tái thế. Từ phía sau, Bảo thân vương nhìn thấy cổ nàng nõn nà trắng tựa ngọc ngà, lòng kiềm chế không nổi bèn bước tới đưa tay sờ soạng. Nào ngờ, nàng tưởng là một tiểu thái giám nào đó nghịch đùa, nên quay người lại, nắm tay định đánh, nhưng bị giữ chặt lại, định thần nhìn kỹ; té ra là Bảo thân vương, vội vàng cúi đầu cáo lỗi. Nàng là Mã Giai Thị, ái phi của Ung Chính. Bảo thân vương nhìn thấy đôi mắt nàng như làn thu thủy, mặt như hoa đào, hồn phách như bị cô ta nuốt mất. Từ đó Bảo thân vương ngày ngày nằm mơ gặp nàng, đóng vai Sở Vương - Thần Nữ mây mưa trăng gió. Do vậy, Bảo thân vương luôn luôn tìm dịp, kiếm cớ để gặp nàng. Dần dà, hai người tình nồng ý thắm. Một hôm, hai người đang cười đùa, Mã Giai Thị vô tình chạm vào đuôi mày của Bảo thân vương, ngay lúc đó bị Hoàng hậu Nữu Kiết Lộc Thị nhìn thấy, cho là Mã Giai Thị cợt nhả với Bảo thân vương, bèn ra lệnh treo cổ Mã Giai Thị tại Nguyệt Hoa Môn. Bảo Thân Vương nghe tin, vội vàng đến Nguyệt Hoa Môn, chỉ thấy cổ Mã Giai Thị đang treo trên dây thừng, thở thoi thóp. Mã Giai Thị nhìn thấy Bảo thân vương đến, hai giống lệ tuôn rơi, nhưng giữa đôi mày như hé nở nụ cười. Bảo thân vương lòng đau như dao cắt, lệ rơi đầm đìa:
- Ta, ta đã hại nàng, ta hôm nay không cứu được nàng, nhưng ta nguyện nếu nàng sống lại ta sẽ cùng nàng chung sống. Nói xong cắn đầu ngón tay, lấy máu chấm một chấm lên trán Mã Giai Thị và nói: - Nàng hãy nhắm mắt yên nghỉ, nếu nàng có sống lại, ta sẽ nhận ra cái chấm đỏ này.
Nhớ lại chuyện cũ, nhìn Hòa Thân đứng trước mặt, Càn Long tí chút nữa thì rơi lệ, bỗng đâm yêu mến Hòa Thân, rồi hỏi:
- Nhà ngươi năm nay bao nhiêu tuổi?
- Kính bẩm Hoàng thượng, nô tài năm nay hai mươi sáu tuổi.
Càn Long nhớ Mã Giai Thị cũng chết vừa đúng hai mươi sáu năm. Chàng trai kia lẽ nào lại là nàng đầu thai? Càn Long hỏi tiếp:
- Vừa rồi ngươi nói, ngươi là Hòa Thân, là một nghi vệ sai dịch, vậy chắc cũng thuộc chương từ “Luận ngữ”, ngày thường có ham đọc sách không?
- Nô tài trước học tư thục, sau vào học ở Hàm An Cung Quan Học, vốn là văn sinh.
Càn Long rất mừng, không ngờ người này không những có tài mà còn là học sinh trường Hàm An Cung Quan Học, nên nói:
- Ngươi là văn sinh, vậy hãy nói ý nghĩa trong chương “Quý Thị Tương Phạt Chương Du”.
Hòa Thân đáp:
- Trong giáo hóa, tu văn đức sẽ được lòng người, nếu không đất nước tan nát đổ vỡ, họa từ trong nhà ra, cách nhìn của bậc thánh nhân đúng như vậy. Cuộc đời đổi thay, ví như nay chưa có thánh nhân, nơi xa nhiều người không chịu giáo hoá, sau khi giáo hóa văn đức, nếu không tiếp tục dùng lực dùng uy, họ sinh ra xằng bậy. Như vậy, đất nước trước hết phải trọng giáo hóa, tu văn đức, lấy đức thuyết phục người, khiến kẻ xa đến với ta, người đến an tâm, và phải dùng uy lực để phòng bất trắc, không thì giống như “hùm beo sổng cũi, cá chim sổ lồng”.
Càn Long nghe xong rất hài lòng, nói:
- Ngươi sung vào đội khiêng kiệu này, hơi oan uổng. Trẫm cho người làm Tổng quản trong cung. Tùy thị tả hữu, kiêm Phó đô thống lam kỳ, ngươi xem có được không?
- Đa tạ long ân. Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế! Hòa Thân vội vàng quỳ xuống hô.
Càn Long đã hơn sáu mươi tuổi, các lão thần trước đây đã lần lượt ra đi, trong triều xuất hiện nhiều gương mặt mới, các Hoàng tử Hoàng tôn phần lớn kính sợ Càn Long, thiếu thân tình; Hoàng hậu Hiếu Hiền thì buông tay bỏ mặc, vì bản thân là đế vương, Càn Long cảm thấy cô độc, bây giờ có Hòa Thân bên cạnh, có thêm nhiều hoan lạc. Hòa Thân không những lo liệu những việc lớn trong ngoài, mà còn làm vừa lòng Càn Long cả những chuyện nhỏ trong sinh hoạt: Hoàng thượng đau lưng, Hòa Thân hiểu được, có mặt ngay đấm bóp cho Hoàng thượng; Hoàng thượng sắp nhổ nước bọt, Hòa Thân vội vàng mang ống nhổ đến trước Hoàng thượng. Thường thường, Hòa Thân như quên cả lễ nghi vua tôi, cười đùa, dùng lời lẽ không tục không nhả kể những câu chuyện ngoài phố phường để Càn Long vui cười thoải mái. Càn Long rất thích làm thơ viết chữ, Hòa Thân họa thơ viết chữ rất hợp với Hoàng thượng.
Một lần, Càn Long ngồi ở thủy tạ trong vườn hoa Viên Minh xem sách, bất chợt mặt trời lặn xuống sau dãy núi phía tây. Càn Long đang xem mấy câu thơ chú thích của Chu Hi trong cuốn “Mạnh Tử”, nhìn thế nào cũng không rõ, bèn truyền:
- Hòa Thân, mang đèn lại đây. Mấy hàng chú thích này Trẫm xem không rõ.
- Hoàng thượng xem câu nào?
- Đạo làm người, ăn no, mặc ấm, ở yên mà không có giáo dục, thì gần như cầm thú. Đức vua đã lo xa, cho ông Tiết làm quan Tư đồ, dạy dân biết luân thường đạo lý. Chú giải ở phía dưới không thấy rõ.
Hòa Thân đọc:
- Đất nước yên ổn, mới dạy dân cày cấy, áo cơm no đủ mới giáo hóa dân chúng. Hậu Tắc làm quan bỏ bê công việc, vậy mà gọi là dạy dân, như thế chẳng khác gì không cày cấy. Cây có trồng mới có, nghề có dạy mới nên. Ông Khiết, ông Tiết đều là bề tôi của vua Thuấn, đều là quan Tư đồ. Người có học ăn nói đúng phép tắc, nếu không học hoặc buông thả hay lười nhác sẽ không được như vậy. Vua đặt ra chức quan để dạy dân biết luân thường đạo lý. Đó là chuyện xưa nhân tiện nói ra. Kinh Thư có nói: Trời đất có quy luật, quốc gia có phép tắc. Đúng như vậy.
Hòa Thân đọc xong, Càn Long nói:
- Không ngờ ái khanh học vấn cao siêu như vậy.
Thế là Càn Long đọc sách, Hòa Thân đọc lời chú giải. Cứ vậy hai người thi nhau đọc và bình luận.
Hòa Thân thầm nghĩ: Chẳng lẽ Hoàng thượng không thuộc những đoạn thế này ư? Hoàng thượng nay đọc những đoạn này có lẽ không hiểu được ý tứ sâu xa ở đấy. Ta sao không nhân đây dâng lời để vừa lòng Hoàng thượng?
- Khởi tấu Hoàng thượng, như nay các vùng Kim - Xuyên đã được bình định, thiên hạ yên ổn, Hoàng thượng nên tiến hành giáo hóa thiên hạ, Khổng Tử là cội nguồn của văn hóa Trung Hoa, Hoàng thượng nên đi bái Khổng miếu, đến thăm Lễ Phủ, viếng Khổng Lâm, tỏ rõ phong độ lấy văn đức an thiên hạ của Hoàng thượng, đó là điều thứ nhất nô tài bẩm tấu; Mạnh Tử nói: “mưa thuận gió hòa, ngũ cốc dồi dào”, hiện nay các vùng Hoài-Tứ-Giang-Triết không chỉ là vựa lương thực của triều đại Thanh, mà còn là vùng văn học thịnh vượng, Hoàng thượng ngự đến vùng đó là lấy đức cảm hoá, thể hiện nam-bắc thống nhất thật sự là cái gốc của sự ổn định quốc gia, mong Hoàng thượng tiến hành cuộc tuần du phương nam đúng lúc, đó là điều thứ hai nô tài muốn bẩm tấu.
Mấy câu nói đánh trúng suy nghĩ của Càn Long.
- Trẫm muốn mấy hôm nữa tuần du miền đông, đến Khúc Phụ nói chuyện đạo lý Khổng Mạnh, để con dân thiên hạ hiểu được “tình thân cha con, lễ nghĩa vua tôi, khác biệt vợ chồng, thứ tự già trẻ, lòng tin bạn bè”; để người trong thiên hạ sống có tình có nghĩa, có thủy, có chung. Trẫm nghĩ, chuyến tuần du phương nam phải đi, nhưng tạm hoãn, để dân chúng nghỉ ngơi.
Do vậy Càn Long ban chiếu, miễn thuế ruộng đất khắp nơi trong thiên hạ.
Đây là lần thứ ba Càn Long miễn thuế cho các tỉnh, cộng cả thảy hơn hai mươi bảy triệu năm trăm chín mươi ngàn lạng bạc.
Không bao lâu, Hòa Thân được thăng lên chức Hữu thị lang bộ Hộ. Nhưng cái vui mừng lớn hơn từ trên trời rơi xuống là phu nhân Phùng Thị sinh ra cho ông một cậu con trai !
Những ngày sau đó, Hòa Thân ít vào triều. Lúc này ông ta tựa người vào lòng Phùng Thị, nhìn đứa con thân yêu của mình. Cậu con trai đã ngủ ngon, Hòa Thân vẫn nhìn đứa con trai trìu mến đầy mãn nguyện. Phùng Thị rờ tai, xoa tóc, vuốt ve đôi má của Hòa Thân, thỉnh thoảng hôn nốt ruồi đỏ trên trán Hòa Thân. Từ sau đêm động phòng hoa chúc, hai vợ chồng Hòa Thân sống chung nhau và thường âu yếm như vậy. Phùng Thị nói:
- Rất giống chàng, chỉ thiếu nốt ruồi đỏ trên trán.
- Nàng xem, con cười kìa, không biết giấc mộng gì mà đẹp vậy?
- Lấy vợ đấy!
- Lấy công chúa ư?
Đúng. Hòa Thân nhìn cậu con trai, cảm thấy mình có sức mạnh vô cùng, cảm thấy cuộc đời toàn màu hồng, Hòa Thân cần phải xây dựng cho cậu con trai một tiền đồ sán lạn huy hoàng.
Càn Long sai thị vệ mang lễ vật biếu Hòa Thân, chúc mừng Hòa Thân sinh con trai, sau đó triệu Hòa Thân cùng đi đông tuần đến Sơn Đông. Hòa Thân lưu luyến không muốn rời cậu con trai.
Càn Long tuần du Sơn Đông, Hòa Thân theo hầu không rời nửa bước. Càn Long bảo:
- Khanh nên nghỉ ngơi đôi chút.
- Nô tài chỉ sợ các thị vệ chăm sóc Hoàng thượng không được chu đáo, nô tài không an tâm. Hơn nữa nô tài còn trẻ khỏe, chẳng thấy mệt mỏi tí nào.
Một hôm trên đường đi, Càn Long hỏi:
- Khanh là khóa sinh, sao không đi thi?
- Đã có lần nô tài đi thi, thi hương ở Thuận Thiên năm Canh Dần, nhưng không đậu.
- Vì sao không đậu? Đề thi như thế nào?
Hòa Thân liền đọc một mạch bài thi năm ấy. Càn Long nói:
- Những viên quan chấm thi này quả là hại dân hại nước, khanh đáng ra phải đậu rồi. Ta thấy khanh tuấn tú hơn người, giỏi đoán ý người khác, quả là văn võ toàn tài, theo khanh, Trẫm với Hoàng phụ và Hoàng tổ có gì khác nhau?
- Nô tài sao dám mạo phạm uy trời? Nô tài không dám.
- Người khác muốn nói, Trẫm không cho nói. Khanh là tri kỷ của Trẫm, có gì cứ nói, đối với Trẫm, lẽ nào không thể giãi bày tâm huyết?
- Nô tài to gan, nói sai, xin Hoàng thượng tha tội.
- Trẫm tha tội cho khanh.
- Hoàng đế Khang Hy là đức vua anh minh, trước nay chưa từng có, văn công võ lược, người xưa chưa ai bằng, mở đường cho người sau. Hoàng đế Khang Hy thư giản sức dân, khiến mọi người đều giàu có, dân số ngày càng đông, đó là cái gốc của sự ổn định quốc gia, nhưng lại thiếu sự khoan dung, triều cương có phần nới lỏng. Hoàng đế Ung Chính, văn công võ lược không sánh được với đại đế Khang Hy, nhưng chia đất cho dân, coi trọng quốc kế dân sinh, chỉnh đốn triều cương, trên dưới chỉnh tề, ngăn nắp, có phần hơn trước. Nô tài thật khó nói ra câu này, Hoàng đế Ung Chính vì củng cố đất nước mà gạt bỏ lòng nghi kị, nhưng đôi khi quá cẩn thận, mà thực ra là quá nghiêm. Nô tài xin phơi bày ruột gan những điều nói trên, không dám che dấu, xin Đức vạn tuế minh xét.
Càn Long thầm nghĩ: Tổ phụ khoan dung sức dân, hậu đãi bề dưới, quá là tốt, nhưng quá rộng rãi; Phụ hoàng xoá bỏ nghi kị, lại quá nghiêm, ta cần coi trọng cả hai ân-uy, kết hợp cứng-mềm, kết hợp sở trường của ông và cha.
- Khanh nói rất hợp ý ta. Khanh có tài kinh bang tế thế, đáng được nhận trách nhiệm quan trọng. Trẫm cho khanh làm đại thần quân cơ, chiếu dụ thiên hạ.
Chưa đầy hai tháng, Hòa Thân từ Thị lang bộ Hộ được thăng làm đại thần quân cơ, mọi người đều kinh ngạc.
Từ việc ăn ở đi lại vui chơi, mọi việc lớn bé của Càn Long, Hòa Thân đều để ý đến. Trước đây Càn Long mỗi khi ra khỏi cung, làm gì có những chuyện khoái lạc như bây giờ. Càn Long định làm việc gì thì Hòa Thân đã làm xong việc đó rồi. Càn Long chưa nghĩ đến việc phải làm thì Hòa Thân đã nghĩ ra rồi, và làm cho Càn Long vui sướng bất ngờ.
Càn Long dừng chân ở Tế Nam, tiếp kiến viên đốc phủ, hỏi thăm công việc chính sự, rồi đi xem phong cảnh non xanh nước biếc. Hôm đó Càn Long hơi mệt, Hòa Thân chải tóc cho Càn Long, Càn Long thấy dễ chịu và rồi buồn ngủ... Chải tóc xong, Hòa Thân tâu:
- Nô tài đã chuẩn bị sẵn ngự thiện cho Hoàng thượng.
Nói xong bước đi.
Một lát sau ngự thiện đã dọn ra. Không thấy bóng dáng Hòa Thân đâu, Càn Long hỏi thị vệ. Thị vệ tâu:
- Hòa đại nhân vừa ra ngoài, nói lát nữa sẽ quay lại.
Càn Long ăn chẳng thấy ngon, đang không vui, bỗng nghe báo Hòa Thân đại nhân đã trở về, lên tiếng hỏi:
- Hoàng thượng ăn có ngon không?
- Đã no rồi.
- Nô tài muốn đưa Hoàng thượng đi xem phong tục tập quán, không biết Hoàng thượng thấy thế nào?
Nói xong mang mấy bộ áo quần.
Càn Long biết ý, nhớ đến mấy lần tuần du phương nam, cũng từng ăn mặc thường phục ra ngoài, bèn nói:
- Chỉ có ngươi biết được ý Trẫm.
Nói xong đứng dậy thay quần áo, và trở thành một thương nhân, Hòa Thân là người quản gia, hai thị vệ trở thành người hầu.
Càn Long lệnh cho những thị vệ đi theo, không được nói cho ai biết, mấy người lặng lẽ ra khỏi hành cung.
Hòa Thân đỡ Càn Long lên một chiếc xe vừa mới tìm về, tự mình và hai thị vệ cưỡi ngựa, đi theo hướng hồ Đại Minh. Hòa Thân tâu:
- Chúng ta đến hồ Đại Minh, nghe ngâm thơ trước, Hoàng thượng thấy thế nào?
- Rất hợp ý Trẫm.
Càn Long rất thích xem kịch và nghe thơ. Sở thích đó, Càn Long được hun đúc từ Hoàng tổ và Thái hậu.
Bãi ngâm thơ bên hồ Đại Minh ồn ào náo nhiệt. Càn Long và mấy người đi theo vừa vào bãi ngâm thơ thì đã có nhiều cặp mắt đổ dồn vào họ, tưởng đó là một nhà buôn giàu có. Nhìn cung cách của mấy gã tùy tùng thì nhất định đây là một nhà buôn giàu có, sang trọng. Người quản sự bãi ngâm thơ vội vàng đi đến, nói:
- Các vị đến chậm, bàn phía trước đã có người ngồi rồi, xin các vị chịu khó ngồi ghế vậy. Thật sự xin lỗi.
- Bình thường người đến đây cũng đông như thế này ư? Hòa Thân hỏi.
- Bình thường cũng rất đông, nhưng hiện nay nghe nói Hoàng thượng dừng chân ở đây, nên ai nấy gần xa đều muốn nhìn thấy mặt rồng, tụ tập tại đây, do đó hôm nay đông nhất. Song hôm nay người trong phủ quan không ai đến, có thể sợ Hoàng thượng ăn mặc thường phục đi tuần thú bắt gặp. Khi Hoàng thượng xuống Giang Nam rất thích ăn mặc thường phục đi tuần thú.
- Bác bớt nói đi, mau mang bàn lại đây.
Nói xong, Hòa Thân đưa cho anh ta hai lạng bạc.
Người quản sự cầm hai lạng bạc, quay mình bước đi lát sau trở lại mang theo một cái bàn, nói:
- Khó lắm mới tìm được bàn, đông như thế này, xin các ngài chịu khó ngồi vậy.
Càn Long ngồi xuống. Hai thị vệ đứng sát hai bên. Có người ở phía sau hét bảo hai thị vệ ngồi xuống. Càn Long bảo:
- Ngồi xuống không ngại.
Hai thị vệ mỗi người ngồi một bên phải trái, mắt không dám nhìn thẳng, cứ đảo qua đảo lại khắp bãi ngâm thơ.
Những người ngồi ở đấy kháo chuyện Càn Long, có người nói:
- Nhìn Hoàng thượng như người ba bốn mươi tuổi, chứ không giống người đã ngoài sáu mươi, mặt không một nếp nhăn.
- Bác làm sao mà thấy được Hoàng thượng? Có người hỏi.
- Hôm nay tôi bắt được giỏ cá, người đầu bếp của Hoàng thượng nhìn thấy cá của tôi ưng ý, gọi tôi mang đến, tôi đi ngang qua bên cạnh Hoàng thượng, nên nhìn thấy.
Những người khác, chẳng ai muốn biết thật hư, người nói người nghe đều say sưa hứng thú. Bỗng có người lên tiếng:
- Hoàng thượng đặc biệt thích đến Sơn Đông, vì Sơn Đông là quê hương của Khổng Phu Tử, người ở đấy có văn hóa, biết lễ nghĩa..
Càn Long lắng tai nghe tỉ mỉ mọi người có mặt tại bãi ngâm thơ đều bàn tán về mình, bàn tán công tích của mình, kháo nhau về phong cách của mình. Càn Long vô cùng đắc ý. Bỗng nhiên cả bãi ngâm thơ im phăng phắc, tưởng chừng nghe được tiếng kim rơi. Trên đài, một nghệ sĩ đàn đã an tọa, đứng bên cạnh là một cô gái, tay trái cầm chiếc phách màu ngà, tay phải cầm dùi trống, người dỏng cao, mặt tròn quả dưa, khoác chiếc áo dài, thân hình yểu điệu, đôi mắt chớp chớp, hướng xuống phía dưới khán đài, khẽ đánh dùi trống, cả bãi nghe thấy rõ. Cô gái lên tiếng:
- Hôm nay tôi xin hiến quý vị một ca khúc mới: “Càn Long xuống Giang Nam”.
Lời vừa dứt, cả bãi vang lên như sấm, thét to:
- Hay đấy!
Cô gái từ từ giơ tay trái lên, lắc nhẹ, gõ chiếc phách màu ngà, tiếng phách thong thả vang lên, âm thanh lanh lảnh trùm lên tiếng gào thét. Tiếng đàn của nghệ sĩ bắt đầu réo rắt. Cô gái như cánh én mùa xuân cất giọng:
Càn Long, Người xuống Giang Nam
Nhân dân cả tỉnh ngàn lần reo vui.
Thương dân Người đến với dân,
Vua Nghiêu vua Thuấn đức ân truyền đời.
Tiểu nữ xin hiến tiếp quý vị câu chuyện Đức Vạn Tuế Càn Long mặc thường phục đi tuần thú, trừ bạo an dân. Chuyện rằng...
Càn Long suốt ngày ở trong cung, dẫu có ra ngoài tuần du, cũng chỉ thấy toàn quan lại, có bao giờ được gần gũi dân chúng như thế này. Câu chuyện mặc thường phục đi tuần thú rõ ràng là bịa đặt, nhưng mọi người đều xem như thật, vô cùng vừa ý. Những người có mặt ở bãi ngâm thơ đều ca ngợi Càn Long, hơn nữa, câu chuyện tuần du Giang Nam được sáng tác thành bài hát ca tụng, khiến nỗi mệt nhọc của Càn Long vụt tan biến, miếng dưa đang ăn thơm ngọt gấp bao nhiêu lần so với trong cung.
Nhìn thấy Càn Long mặt mày tươi cười, Hòa Thân tâu:
- Cô gái sáng tác thật nhanh. Lại nhìn thấy Càn Long gật gù đắc ý, càng phấn khởi, thầm nghĩ, gãi đúng chỗ ngứa rồi. Đang lúc Càn Long đắc ý, Hòa Thân ghé tai Càn Long tâu: - Đợi khúc ca này hát xong, nô tài xin đưa Hoàng thượng đến một nơi khác.
- Nơi nào..
- Đi gặp một vị “Nã vân thủ”.
- Sao gọi là Nã vân thủ?
- Hoàng thượng đến nơi rồi sẽ biết.
Càn Long không từ chối, biết rằng việc này, Hòa Thân đã chuẩn bị tốt, việc xong như dê rừng treo sừng, dấu vết xóa sạch.
Bài hát vừa dứt, cả bãi ngâm thơ reo hò như sấm. Hòa Thân dìu Càn Long ra khỏi bãi. Lúc này đã gần canh hai, đường vắng người đi lại. Hòa Thân đi trước dẫn đường, Càn Long ngồi trong xe, thị vệ theo hầu hai bên. Một lát sau đến trước một cửa lầu, trước cửa treo chiếc đèn đỏ. Một người trạc bốn mươi tuổi đứng giữa hai tiểu sinh, ăn mặc sang trọng, mặt đầy phấn son, thấy xe ngựa đến vội quỳ xuống, ngẩng đầu thưa với Hòa Thân:
- Đại nhân đến, Hàn Đại Phát hèn mọn vô cùng vinh hạnh, kẻ hèn mọn này đã chờ đợi khá lâu.
- Không nên khách sáo, hãy đứng dậy. Hòa Thân cúi xuống bảo.
- Kính mời đại nhân! Hàn Đại Phát đứng lên, khúm núm nói, nhưng lại thấy từ trên xe bước xuống một người đứng tuổi, Hòa Thân chạy tới dìu vào cổng. Hàn Đại Phát nghĩ bụng: Hòa Thân nói chỉ đến một mình, cớ sao lại đưa đến một người chức tước còn cao hơn ông ta? Hàn Đại Phát vội vàng quỳ xuống bái lễ. Người kia không nói năng gì. Hòa Thân bảo ông ta đứng dậy.
Hàn Đại Phát, lòng nghi hoặc, nhưng không dám nhiều lời, theo Hòa Thân bước vào cổng, đến trước tiền đình. Hòa Thân bảo Hàn Đại Phát, cho các người phục vụ lui ra, rồi nói:
- Hoàng thượng giá lâm.
Nghe vậy, Hàn Đại Phát giật nảy mình, bừng tỉnh: Ta thật ngu ngốc, không phải Hoàng thượng thì còn ai vào đây? Vội quỳ xuống khấu đầu, khấu đi khấu lại chín lần:
- Nô tài đáng chết, nô tài đáng chết, tiếp đón Hoàng thượng thật vô lễ, xin Hoàng thượng xét xử.
- Người không biết không có tội, ngươi đứng dậy.
- Tạ ân Hoàng thượng, kính chúc Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế! Nói xong, Hàn Đại Phát đứng dậy.
Yến tiệc đã bày sẵn. Hàn Đại Phát định đi vào, Hòa Thân bảo:
- Coi chúng ta như nhà buôn.
- Chuyện vặt ấy lẽ nào không hiểu. Hàn Đại Phát đáp rồi gọi thị nữ vào hầu rượu Hoàng thượng và Hòa Thân, đương nhiên có đủ cả nhạc, ca, múa. Cặp mắt Hòa Thân dán chặt vào những thứ để trên bàn, hết nhìn cái này đến ngắm cái kia. Trên bàn bày sẵn bốn chén ngọc, bát đũa vàng, chén ngọc thuộc loại bích ngọc lam điền, mài nhẵn trong suốt; đĩa bằng vàng ròng chạm trổ hình tôm cua rất sinh động. Hòa Thân nhìn thấy những chén ngọc đĩa vàng đó thèm muốn hỏi:
- Hàn huynh, chén đĩa kia, không những lần đầu tiên ta mới trông thấy, mà nếu ở trong cung nó cũng là vật quí hiếm.
Hàn Đại Phát nghe Hòa Thân gọi mình là “huynh”, và nhìn thấy vẻ mặt Hòa Thân là biết tỏng lòng dạ của Hòa Thân, nên nói:
- Nếu hai ngài không chê thô thiển, kẻ hèn này xin hiến dâng cho hai ngài.
- Trong cung đã có rồi. Càn Long nói.
- Đã chuẩn bị sẵn chỗ cho ngài chưa? Hòa Thân hỏi.
- Đã sắp đặt xong rồi. Hàn Đại Phát đáp.
- Ngài suốt ngày bận rộn vất vả, nhanh nhanh mời ngài nghỉ ngơi. Hòa Thân nói.
Hàn Đại Phát đưa Càn Long đến một căn phòng ấm áp dễ chịu như buổi đầu hạ, một mùi thơm thoang thoảng xông vào mũi.
- Mời Hoàng thượng nghỉ ngơi, thần xin đứng bên ngoài phòng hầu hạ. Hòa Thân nói xong khép cửa lại.
Càn Long đang lúc nghi hoặc, chợt thấy một cô gái từ phòng trong bước ra, và biết rằng trong căn phòng này còn có một căn phòng nữa. Cô gái khoảng mười sáu mười bảy tuổi, trên người khoác chiếc áo choàng voan mỏng trong suốt, lả lướt yểu điệu, thân mình đầy đặn, được tấm áo voan mỏng che phủ, càng hấp dẫn, càng gợi tình. Cô gái đến trước mặt Càn Long, cất tiếng:
- Ngài gọi em đến !
Nói xong cô gái dìu Càn Long đến phía trước một bức tường, ấn chốt cửa mở, hai người tiến vào, cửa đóng lại. Trong phòng, hơi nước bốc lên cuồn cuộn, đèn đỏ chiếu mờ ảo. Cô gái vứt bỏ chiếc áo khoác ra, đưa tay cởi tất áo quần của Càn Long, đỡ Càn Long đến bên một bể nước trong, xanh vắt. Trong phòng, một chiếc cột to sừng sững đứng chính giữa, xung quanh là bốn cái bể nhỏ hình bầu dục, nước trong xanh, gợn lên những làn sóng lăn tăn, nước chảy luôn đổi mới. Càn Long toàn thân đầm đìa mồ hôi, cảm thấy vô cùng khoan khoái dễ chịu. Cô gái dìu Càn Long vào bể tắm và nói:
- Có lẽ ngài chưa tắm hơi lần nào.
Càn Long khoan khoái dễ chịu, không đáp một lời. Cô gái kéo Càn Long đến nằm trên một chiếc giường tre, hai bàn tay mềm mại xoa xoa bóp bóp lên người Càn Long từ đầu đến chân, sau đó lật Càn Long nằm úp, đứng lên lưng Càn Long, dùng đôi chân dẫm đạp, Càn Long thấy từng đốt xương ê ẩm mềm nhũn, ai biết được cô gái có thủ pháp cao siêu hơn nữa, cô gái nằm úp xuống dùng sức dàn hồi của đôi vú ngọc ngà và sức mạnh của đôi bàn tay mềm mại cọ xát xoa bóp vào ngực, vào lưng,... của Càn Long, Càn Long để mặc cô gái lật qua lật lại làm gì thì làm, khoái chí như bồng bềnh trên mây, lơ lửng giữa không trung, như bước vào chốn bồng lai tiên cảnh. Lúc này, Càn Long cảm thấy mỗi một chân lông, mỗi một giây thần kinh, mỗi một thớ thịt, mỗi một mạch máu khoan khoái dễ chịu, trong mông lung, Càn Long hiểu ra, cô ta chẳng phải là “nã vân thủ” đấy ư?
Hàn Đại Phát vốn là một tay tẩm quất của nhà tắm, nên anh ta rất hiểu ý khách, rất chiều khách, đáp ứng những thích thú của các quan lớn. Không bao lâu sau, anh ta tự mở nhà tắm, kinh doanh phát đạt, tiền của dồi dào. Nhưng cảm thấy mở nhà tắm không danh giá lắm, lại kiếm chẳng được nhiều tiền, nên kinh doanh cả nghề vàng bạc đá quí, do đó anh ta phát tài. Anh ta đào tạo thêm một số “nã vân thủ”, truyền lại kỹ nghệ của bản thân cho họ, và chỉ phục vụ cho những người trong phủ quan và khách giàu sang. Một lần, làm ăn với người phương Tây tại Ninh Ba, người phương Tây thấy ở Trung Quốc rất ít nhà tắm, nếu có chăng nữa thì cũng rất thô sơ. Hàn Đại Phát bắt đầu từ đó hỏi han cách thức nhà tắm phương Tây. Người bạn phương Tây nọ nói rất tỉ mỉ. Trở về Sơn Đông, Hàn Đại Phát liền xây dựng ngay một nhà tắm trong vườn hoa của mình, chuyên phục vụ các vị tai to mặt lớn và cho riêng mình. Nhà tắm mà Càn Long dùng chính là nhà tắm đó.
Càn Long không biết mình vì sao nằm trong chiếc chăn gấm lúc nào, bên cạnh là một cô gái trắng như tuyết, cô nã vân thủ. Thân phận đế vương, lần đầu tiên Càn Long được tắm gội như thế này. Càn Long là con người hay nói về đạo dưỡng sinh, ông ta ý thức được kiểu tắm gội thế này vô cùng tốt cho thân thể, sau này, trong Hoàng cung cũng phải có phòng tắm thế này, và cũng phải có “nã vân thủ”.
Sáng sớm, Hòa Thân đánh thức Càn Long, lặng lẽ đưa về hành cung.
Hôm sau, Càn Long trở về kinh.
Vừa về đến nhà, Hòa Thân đã được Lưu Toàn báo:
- Nhà buôn Hàn Đại Phát ở Tế Nam, đưa đến một cái hòm.
Hòa Thân mở ra xem, quả nhiên toàn là chén ngọc đĩa vàng, một trăm đôi đũa ngà voi, một trăm chiếc cốc bằng bạc. Hòa Thân nghĩ bụng, sau này Phủ nội vụ muốn mua đồ châu báu, có thể nhờ người này lo liệu.
Hòa Thân về Kinh đi thẳng đến Cục quân cơ, ngày đầu gặp phải một việc không khỏi lúng túng. Tuần phủ Giang Tây, Hải Thành về kinh báo cáo công việc, đến Cục quân cơ, chắp tay vái chào mọi người, riêng đối với Hòa Thân thì không thi lễ, chẳng những thế, Hải Thành còn nói với Cục quân cơ, cố ý cho Hòa Thân nghe:
- Thật không ngờ, chỉ mấy ngày mà có thêm một đại thần quân cơ, có người ngồi trên quả pháo thăng thiên, chịu được khá đây? Có lẽ tướng mạo tuấn tú, cái nốt ruồi đỏ, ngay đến tôi cũng thích nữa là!
Hải Thành vốn là người có chút ít công lao, ăn nói không kiêng nể, càng nói càng không e dè. Thực ra, lời của Hải Thành là tâm sự của mọi người. Mọi người đều không phục vị đại thần quân cơ đó, đúng ra là coi thường, nhưng không mở mồm nói ra như Hải Thành.
Hòa Thân cũng cảm thấy mọi người xung quanh chẳng để ý đến mình, coi thường mình. Hòa Thân nghĩ, A Quế đứng đầu quân cơ, công thần, trọng thần quốc gia, ngạo mạn như vậy mà còn đổ nhào, huống hồ bọn quan này, có gì mà kiêu ngạo, ra vẻ kẻ cả trước mặt ta. Hòa Thân không vui, nghĩ cách đập tan khí thế của họ, nhất là Hải Thành.
Tháng tám, Hòa Thân kiêm nhiệm chức Phó đô thống chánh Hoàng kỳ; tháng mười một, sung chức Phó tổng tài quốc sứ quán, đội mũ nhất phẩm triều đình; tháng mười hai, Tổng quản Phủ nội vụ, được ban hưởng tước Kỵ mã Tử Cấm Thành; sau đó không lâu, kiêm nhiệm chức Thị lang bộ Hộ, Hòa Thân lại được công nhận vào Chánh Hoàng kỳ.
Sau khi quân dân Bát kỳ tiến vào cửa ải, người Mãn Châu ở trong nội thành. Thuận Trị năm thứ mười có một quy định, quan chức binh lính Bát kỳ đều cư trú theo vùng đất đã phân định. Nội thành lập ra hai mươi bốn ngọ môn đô thống phân chia theo kỳ tịch. Mỗi kỳ đều có riêng lãnh địa trú phòng và giáo trường ổn định. Gia đình ở theo kỳ tịch. Nếu có thay đổi kỳ hoặc đất, vẫn được ở nguyên tại chỗ, nếu muốn bán nhà dời chỗ thì cũng tùy ý. Nếu muốn xây dựng nhà ở phải được Đô thống hoặc Phó đô thống của kỳ đó cấp đất cho phép xây dựng. Theo quy định đất đai cư trú của Bát kỳ được phân chia như sau:
Tương Hoàng kỳ ở trong An Định Môn
Chánh Hoàng kỳ ở trong Đức Thắng Môn
Chánh bạch kỳ ở trong Đông Trực Môn
( Đó là ba kỳ trên)
Tương Bạch kỳ ở trong Triều Dương Môn
Chánh hồng kỳ ở trong Tây Trực Môn
Tương hồng kỳ ở trong Phụ Thành Môn
Chánh lam kỳ ở trong Sùng Văn Môn
Tương lam kỳ ở trong Tuyên Vũ Môn
( Đó là năm kỳ dưới)
Hòa Thân và cả nhà sau khi được công nhận vào chánh Hoàng kỳ, bèn tìm cách đi khỏi ngõ Lư Nhục, nơi ở trước đây, khôn khéo tâu với Càn Long ý định đó. Càn Long nghĩ rằng hai anh em cùng ở chung một phủ, thực ra cũng bất tiện, và theo quy định cũng cần phải có một phủ đệ tương xứng với địa vị thân phận của Hòa Thân, nên cắt một phần đất Thập Sa Hải ban cho Hòa Thân để xây phủ đệ mới.
Hòa Thân đã nắm trong tay quyền to về quân sự, chính quyền và tài chánh, nên nghĩ rằng phải xây phủ đệ thật to lớn đàng hoàng, phải tỏ rõ uy quyền của mình: “Ta phải làm cho tất cả mọi người phải cúi đầu nghe ta. Những người thân thích như ông cậu ta, anh họ ta và những bạn cũ của phụ thân ta, tuy đáng ghét nhưng không đáng để ta động chân động tay vào người họ, phải cho Hải Thành, tên quan đầu tỉnh nọ biết tay, giết một đe trăm, phải cho những kẻ hễ thấy ta là vênh vênh váo váo biết thế nào là lễ độ, đánh gục khí thế chúng. Họ đều là bọn đê tiện, anh không đánh họ, khách sáo với họ, họ sẽ nói xấu anh, lừa dối anh, nếu anh tát vào mặt họ, đánh đạp họ, họ sẽ nhìn anh, vui cười với anh, họ sẽ nói anh là người tốt, rất tốt. Trong bọn họ, người đáng ghét nhất là Tri Phủ Trực Lệ, Tri Phủ Bảo Định! Trước hết, ta phải chém đầu họ, cắt cổ họ”.
Sau khi suy tính kỹ, Hòa Thân vạch ra một kế hoạch hoàn mỹ, gọi Lưu Toàn đến, thì thầm trao đổi, và nói: “Đây là trận đầu, phải trơn tru, trót lọt, đẹp đẽ, toàn thắng”. Lưu Toàn nhận lệnh của Hòa Thân, nắm chắc kế hoạch của Hòa Thân, dẫn người trông nom sổ sách và mấy tên nô bộc, đi đến Bảo Định.
Lưu Toàn dẫn mấy tên nô bộc, diễu võ dương oai đến trang trại Lại Ngũ, nhìn thấy Lại Ngũ, vừa quất roi vừa chửi:
- Mẹ mày, đồ vong ân bội nghĩa, có nghĩ đến ngày hôm nay không? Hôm nay thừa lệnh lão gia và lệnh của Tổng đốc, bắt ngươi và tên Tri phủ kia tính sổ.
Vừa nói vừa quất mấy roi.
Lại Ngũ vội quỳ xuống đất cúi đầu lạy như tế sao:
- Nô tài đáng chết, nô tài đáng chết, xin bác nể tôi tuổi già sức yếu, chúng ta trước đây đã nhiều năm từng là bè bạn với nhau, xin đại quản gia giúp nô tài này nói khéo đôi lời với lão gia, xin tha thứ cho lão già vô dụng này.
Nói xong tự tát và mặt “bốp bốp”.
Lưu Toàn trợn mắt nghiến răng thét:
- Ngươi còn nhận ta là bạn cũ của ngươi ư? Ngươi còn gọi tướng gia là lão gia ư?
- Tôi hận tôi, hận tôi, nhẽ ra tôi phải đến xin lỗi lão gia, nhưng vì chẳng còn mặt mũi nào để đến gặp lão gia, bây giờ xin hoàn trả tất cả cho lão gia, cả nhà tôi đều là nô lệ của lão gia.
Lại Ngũ vừa nói vừa tát và mặt, máu chảy ra từ mép miệng.
- Việc này đã đưa lên quan phủ đâu phải chuyện riêng tư, ngươi xem, giấy tờ đất đai do Hoàng thượng thụ phong năm ấy vẫn còn đây, ngươi mù rồi ư, đất này, ngươi làm sao chiếm đoạt được ?
Lưu Toàn vừa nói vừa vẫy tay.
Mấy tên nô bộc lôi Lại Ngũ đi. Lại Ngũ gào khóc, nằm lăn trên mặt đất:
- Tôi làm thế nào gây chuyện động trời như vậy, giờ tôi chỉ có chết mà thôi! Vừa nói vừa lao người đập đầu vào bức tường, may có mấy lên nô bộc kéo lại.
Lúc đó, người trong trang trại vây quanh đứng xem, chẳng có người nào đồng tình với Lại Ngũ. Họ, không ai không biết đất đó là của ông cha Hòa Thân, không ai là không biết Lại Ngũ đã chịu ân đức mấy đời gia đình Hòa Thân, không ai là không biết Lại Ngũ đã thông đồng với tri phủ chiếm đoạt đất đai của Hòa Thân.
Lưu Toàn nhìn đám người đang vây quanh:
- Bà con cô bác đều biết tôi là Lưu Toàn và cũng biết ân đức của nhà họ Hòa đối với bà con cô bác, bây giờ xin các vị viết lại đầu đuôi sự việc Hòa lão gia bán đất như thế nào viết thế ấy, quyết không được bịa ra, các vị đồng ý không?
- Đồng ý! Mọi người đồng thanh trả lời.
Lưu Toàn bảo người trông nom sổ sách viết đầu đuôi sự việc Lại Ngũ phản chủ cướp đất, và sự tình tri phủ đe dọa ép buộc. Viết xong, mọi người trong trang trại cùng ký tên và điểm chỉ.
Lại Ngũ thấy mọi người như vậy, biết là mình đã tận số, nghĩ đến tương lai đáng sợ đang chờ, Lại Ngũ đầu tóc bạc phơ, cỏ rác dính đầy người, nước mắt bê bết cả mặt, nước mũi lòng thòng tận ngực, nước bọt nước mũi quện lẫn với nhau, người co rúm lại trông thật đáng thương. Bỗng có người lên tiếng:
- Lưu quản gia, xin Hòa lão gia tha tội cho lão già chết tiệt này, trông lão ta cũng tội nghiệp.
Lưu Toàn tựa như động lòng, lại thêm có cả con cháu của Lại Ngũ kéo đến quỳ xuống đất, có cả cô dâu đang bế đứa con nhỏ đang bú. Lưu Toàn nhìn lại Lại Ngũ. Lại Ngũ lúc này, đôi mắt sưng húp bầm tím, lồng ngực để trần, thật đáng thương. Lưu Toàn cất tiếng:
- Ngươi tạm viết ngươi đã hại chủ như thế nào, ví thử có ai bức ngươi, có ai ép ngươi, thiết tưởng lão gia còn có thể dung thứ cho ngươi.
Nghe mấy câu đó, Lại Ngũ như tìm thấy lối thoát, khóc òa lên:
- Đều do Mục Liễn Chương, tri phủ tán tận lương tâm kia bức tôi mua đất cho ông ta. Lưu lão gia, ngài thử nghĩ, tôi làm gì có tiền mua đất, chính ông ta mua... chính ông ta ép tôi, dọa tôi, lừa tôi.
- Nếu quả có oan khúc ngươi hãy viết ra, với tình bạn nhiều năm, ta có thể thưa với lão gia tha tội. Lưu Toàn nói và bảo mọi người giải tán.
- Nếu ngài vì kẻ tiểu nhân này nói khéo đôi lời, con cháu kẻ tiểu nhân này nguyện làm nô lệ cho ngài.
Nói xong Lại Ngũ lấy giấy bút ra viết lại chuyện hãm hại chủ, thực ra đều là do tri phủ Mục Liễn Chương ép buộc, và còn nói tri phủ đã ăn của ông ta mấy trăm lạng bạc, mười lăm khoảnh đất đó, phần lớn cũng bị ông ta chiếm đoạt. Lại Ngũ tự mình chỉ cày cấy mấy khoảnh mà thôi, viết rất cụ thể. Cuối cùng Lại Ngũ điểm chỉ.
- Ngươi cùng ta đến gặp viên tri phủ đó để mắng hắn một trận, thực ra lão gia không bảo ta đến đấy, chỉ bảo ta bắt ngươi đem về, ta tức lắm, không chửi mắng viên tri phủ đó không được. Lưu Toàn bảo.
- Ngài về đi, đâu dám làm trái ý lão gia...
Không đợi Lại Ngũ nói hết lời, Lưu Toàn nói:
- Ta nén giận đã mười mấy năm rồi, hôm nay không nói cho hả giận không được.
Tri phủ Mục Liễn Chương, lúc đầu nhận được hai trăm lạng bạc của Lại Ngũ, và chỉ dùng có mấy trăm lạng bạc đã mua được mười lăm khoảnh đất màu mỡ, giá rẻ như bèo, lòng vô cùng sung sướng. Nhưng mấy năm qua, nghe Hòa Thân đã trở thành cháu rể của đại học sĩ Anh Liêm, nên suốt ngày lo ngay ngáy: Ta sao lại ép buộc một quan học sĩ chỉ vì cho rằng lúc ấy anh ta nghèo nàn, thật không nghĩ rằng sau này anh ta giàu sang quyền thế. Sao ta lại ngốc như vậy, anh ta là quan học sĩ, lại là con em Bát kỳ, không thể đem so với những quan lại thuộc hạ, với những người giàu sang ở địa phương, người thanh niên này, tiền đồ rất rộng lớn ! Ta thật đã bị tiền bạc làm mê muội, bây giờ nên như thế nào cho tốt? Anh Liêm nguyên là Tổng đốc Trực Lệ, nên có quen biết chút ít ông ta. Nhưng Anh Liêm vốn rất thanh liêm, ruộng đất mà ta tìm cách ép bán là của cháu rể ông ta, sao có thể đến cầu cứu ông ta được. Sau khi Hòa Thân làm đại thần quân cơ, Mục Liễn Chương như kiến bò miệng chảo, lo lắng không yên, cảm thấy họa lớn đang giáng xuống đầu.
Chiều tối hôm đó, đang lúc ngồi trong thư phòng, bỗng nghe người nhà báo:
- Lão gia, bên ngoài có người xin gặp, xưng là Lưu Toàn, quản gia của tướng gia Hòa Thân.
Mục Liễn Chương giật mình, như rơi vào hố băng, đầu tê dại, cố trấn tĩnh nói:
- Mời... mời.... Vội vàng bước ra.
Vừa ra khỏi thư phòng, nhìn thấy Lưu Toàn như cơn lốc cuốn đến. Lưu Toàn thấy Mục Liễn Chương chửi mắng té tát:
- Ngươi là tên chó má, chuyên đe dọa ức hiếp, ngươi không biết ư, mảnh đất của Hòa lão gia là do Hoàng thượng phong cho đấy. Đây là giấy tờ do Tiên Hoàng phong, ngươi bỏ ra mấy trăm lạng bạc mua, không sợ ăn nhiều vỡ bụng chết ư? Bây giờ bà con làng xóm và cả Lại Ngũ đã viết đơn tố cáo, có chữ ký có điểm chỉ, tố cáo ngươi là tên quan chó má, để xem ngươi, tên quan chó má nói thế nào.
Vừa nói vừa quất chiếc roi.
Bọn nha dịch chẳng dám ngăn trở. Còn Mục Liễn Chương, tuy là tri phủ, nhưng nhìn thấy người của tướng phủ, nên đâu dám lên tiếng, chỉ thầm oán Lại Ngũ: “Lại Ngũ, tên nô tài chó má, cùng mưu mô với ta, nay lại tố cáo ta, đổ hết tội lỗi lên đầu ta”. Lòng nghĩ như vậy, nét mặt vẫn trấn tĩnh, tỏ ra rất cung kính:
- Xin mời vào, mời vào, mời vào, do hạ quan hồ đồ nhất thời nghe theo bọn tiểu nhân xúi bẩy.
Lưu Toàn bước vào nhà cất tiếng:
- Ta mang đơn tố cáo này trao lại cho tướng gia, xem tên quan chó má nhà ngươi còn ngồi yên được không? Không tội chết thì cũng bị đày đi biệt xứ.
Viên tri phủ thầm nghĩ: “Hắn ta không nói đùa: mười lăm khoảnh đất do Hoàng thượng ban, ta chỉ mua với hai trăm lạng bạc, lại là đất màu mỡ, đất này không mua bán vụng trộm lén lút, thì làm sao với mấy trăm lạng bạc có thể mua được, không cưỡng ép mua bán thì là cái gì? Lại có cả cáo trạng liên danh của dân làng và tờ khai báo của Lại Ngũ, tính mạng ta khó bảo toàn, cả nhà chín họ sẽ liên luỵ khổ sở, ối dà, ta thật ngốc nghếch ngu đần”. Nghĩ đến đây, tự tát mấy cái vào má: Đồ ngốc, đồ ngốc ! Nhất thời tay chân lúng túng, định thần trở lại, nghĩ ra một kế, bảo mọi người lui ra ngoài, kể cả Lại Ngũ, rồi nói:
- Tôi xin quỳ trước đại quản gia. Vừa nói vừa quỳ khấu lạy Lưu Toàn: - Hạ quan nhất thời hồ đồ lẩm cẩm, bị Lại Ngũ xúi bẩy, gây ra tội, cầu xin đại quản gia minh xét.
- Đứng dậy nói. Lưu Toàn thét.
Tri phủ Mạc Liễn Chương đứng dậy, lấy ra một vật, viên kim cương, đưa cho Lưu Toàn và nói:
- Đây là vật hiếm vô giá, xin đại quản gia nhận cho. Nói xong, gọi viên thư lại: - Đem trăm lạng vàng biếu Lưu quản gia và bày tiệc rượu... Gọi Đào Nhi đến gặp đại quản gia.
- Ta làm việc cho chủ, làm sao có thể nhận lễ vật của ngươi, hôm nay ta phải về, ta đến đây đã là không nên, nhận lễ vật của ngươi là phản bội chủ ta! Quân chó má như ngươi chỉ dạy người làm bậy.
Tri phủ Mục Liễn Chương nắm tay Lưu Toàn tát vào mặt mình:
- Chỉ tại tiểu nhân lúc đầu bị chiếc lá che khuất núi Thái Sơn. Nói xong quỳ mọp xuống trước mặt Lưu Toàn: - Ngài là cha mẹ tái sinh ra tôi, xin ngài thương thằng già lẩm cẩm này, cầu xin ngài nói khéo với Hòa đại nhân. Và phủ phục dưới chân Lưu Toàn khóc òa.
Lưu Toàn như động lòng:
- Lão gia nhà ta đã nói chuyện này với Tổng quản đại nhân, lão gia nhà ta rất hận, chỉ e ta nói không chuyển nổi.
- Hạ quan biết, đại quản gia vẫn là tâm phúc của Hòa đại nhân, từ nhỏ đã cùng với Hòa đại nhân đội gió dầm mưa, hoạn nạn có nhau, lời nói của ngài chắc chắn Hòa đại nhân sẽ nghe, thế nào ngài cũng có cách, cầu xin đại quản gia cứu tôi. Nói xong lại khóc hu hu.
- Ta rất ghét khóc, ngươi đứng dậy.
- Ngài không giúp, hạ quan không đứng đậy.
- Ta giúp ngươi, ta sẽ nói hộ ngươi. Lưu Toàn quay người nói.
Tri phủ Mục Liễn Chương vô cùng mừng rỡ, ông biết rằng, nếu không có Lưu Toàn, năm ấy Hòa Thân làm sao có thể sống được, có Lưu Toàn nói giúp, số ta vẫn còn. Mục Liễn Chương đứng dậy, vội vàng gọi bày tiệc, bảo tay chân bắt giữ Lại Ngũ.
Lúc này, một cô gái nét mặt sầu não, tha thướt hước vào, môi son má phấn như hoa đào ngày xuân; mười ngón tay thon như búp măng. Lưu Toàn đang định bước đi, nhìn thấy cô gái, cũng không muốn thoái từ. Tri phủ Mục Liễn Chương biết ý nói:
- Hương Đào, lại đây ra mắt Lưu quản gia. Đây là con gái tôi, nghĩ rằng ngài không phải là người ngoài, nên đến ngồi cùng bàn.
Hương Đào bước đến chào.
Lưu Toàn ngồi bên bàn, chỉ biết ngồi nghe, rượu được ba tuần, cặp mắt không rời Hương Đào. Hương Đào né tránh, chỉ cúi đầu coi như không biết gì. Mục Liễn Chương bảo con gái thay cốc rót rượu cho Lưu Toàn. Lưu Toàn ngày thường chạy ngược chạy xuôi lo việc phục vụ, đâu có dịp được nhìn thấy một cô gái trong trắng xinh đẹp thế này, nghĩ đến bà vợ của mình, da thô thịt nhão, giọng nói ồ ồ, không đáng xách giày cho cô gái này. Cô gái này trông sầu não, càng thấy dễ thương. Lưu Toàn lúc này lửa dục nổi lên, chịu không nổi, lập tức ôm cô gái vào lòng, cắn mấy cái. Tri phủ Liễn Chương nói:
- Hương Đào, con còn chưa chuốc rượu Lưu đại quản gia ư?
Hương Đào đứng lên, đôi tay ngọc trắng nõn nà. Lưu Toàn cầm cốc rượu đứng dậy:
- Cám ơn cô nương, cám ơn cô nương. Rồi vô ý chạm phải đôi bàn tay ngọc, cảm thấy bóng láng, toàn thân mềm nhũn, và chỉ nghe Tri phủ Mục Liễn Chương nói:
- Lưu đại gia thứ lỗi, tôi ra ngoài rồi trở lại ngay.
- Xin tùy ý, xin tùy ý! Lưu Toàn vừa nói vừa thầm nguyền rủa: Quân chó má nhà ngươi nên cút sớm đi.
Viên Tri phủ bước ra, đóng chặt cửa lại. Lưu Toàn ôm lấy Hương Đào vào lòng, siết thật chặt. Hương Đào như vô tri vô giác, để mặc Lưu Toàn. Lưu Toàn bỗng ngửi thấy mùi hương ngào ngạt, bèn nói: “Thơm thật, thơm thật! “ Những chiếc râu cứng xù xì cọ lên khuôn mặt non nớt, một bàn tay thô kệch nắn bóp cặp vú non căng tròn như quả trứng gà... Lưu Toàn đang hứng thú bỗng nghe thấy tiếng ho húng hắng, cửa mở toang ra. Tri phủ Mạc Liễn Chương bước vào, nhìn thấy Hương Đào còn nằm trong lòng Lưu Toàn, áo quần xộc xệch, đầu tóc rối tung. Lưu Toàn buông Hương Đào ra, bụng nghĩ : Đúng là tên quan chó má.
Hai hàng nước mắt tuôn rơi xuống đôi má Hương Đào. Hương Đào tê dại ngồi trên ghế. Nào ngờ Tri phủ Mục Liễn Chương lại nói:
- Thật không ngờ, đại quản gia yêu mến con gái tôi như vậy, nếu không chê xin gả nó cho ngài.
Lưu Toàn quỳ ngay tại chỗ:
- Nhạc phụ đại nhân, nhận con rể này một lạy.
- Vừa rồi tôi thấy nó là người của ngài rồi, mong ngài đối xử tử tế với nó. Nói xong, Mục Liễn Chương nước mắt ròng ròng. Những giọt nước mắt này xem chừng là chân thật.
- Nếu tôi đối xử không tốt với Hương Đào, dòi bọ sẽ đục ruỗng thân tôi, cắn chết tôi. Chỉ xin nhạc phụ đại nhân sớm tổ chức hôn lễ. Lưu Toàn khấu đầu nói.
- Đã là người của ngài rồi, thì tối nay... Liễn Chương nói tiếp: - Hương Đào, con vào phòng bên cạnh nghỉ.
Hương Đào ngồi im. Lưu Toàn nói:
- Nhạc phụ đại nhân, Hương Đào và tôi đã là vợ chồng, tôi cũng chẳng phải kiêng dè. Nổi xong bế Hương Đào vào phòng bên, một lát sau trở ra.
- Tôi và ngài đã là cha vợ và con rể, không còn là người ngoài nữa, vậy việc này bây giờ nên giải quyết thế nào cho tốt?
- Nhạc phụ viết một bản cáo trạng trút tội lỗi lên đầu Lại Ngũ. Ngày mai tôi sẽ xé bản cáo trạng của dân làng và Lại Ngũ. Chỉ còn chỗ Hòa lão gia, nhạc phụ chịu tốn kém một ít, nhưng quá ít, tôi cũng khó nói. Nếu Hòa lão gia nhận được số bạc hơn hẳn số tổn thất trong những năm qua, và trả lại số đất, với tình sâu nghĩa nặng giữa tôi và Hòa lão gia, tôi nói một tiếng còn tác dụng hơn Hoàng thượng.
Mục Liễn Chương nghĩ rằng: Lúc thường đi kiện cáo, không bỏ tiền ra không được. Ta bỏ tiền ra, ông ta động lòng, lại có Lưu Toàn khuyên giải, tội của ta có thể được giảm nhẹ nhiều, cũng có thể không bị mất chức, Hòa Thân được tiền bạc, hết hận, nếu không vậy, khó thoát chết.
Tối hôm đó, ở lại phủ Mục Liễn Chương.
Sáng hôm sau, tri phủ Mục Liễn Chương đưa bảng danh mục lễ vật cho Lưu Toàn xem, trong đó có ghi mười vạn lạng bạc, ngọc ngà châu báu, tranh vẽ quý hiếm, lụa là gấm vóc, v.v... Lưu Toàn vui mừng:
- Mục đại nhân, trở về tôi sẽ cố nói khéo.
- Lễ vật tôi đã chất lên mấy xe, xin quản gia kiểm tra kỹ .
- Ngài và tôi là nhạc phụ và con rể, kiểm tra cái gì.
Lưu Toàn nói nhỏ với người coi giữ sổ sách và bọn nô bộc:
- Các người giao cho lão gia tờ cáo trạng và các đồ vật này, đi đường phải cẩn thận, không được để lộ ra ngoài. Đây rất gần với kinh thành, các người đi nhanh về nhanh, xem lão gia còn sai bảo gì nữa không.
Lưu Toàn vẫn ở lại nhà trọ, cùng với mấy người nữa trò chuyện tán gẫu, chẳng bao lâu, mọi người trong thành Bảo Định đều biết ngài đại quản gia của Hòa Thân, đến lấy lại đất bị cưỡng đoạt mười mấy năm trước đây. Ngày hôm sau nữa, trong vòng trăm dặm, đều biết tin này. Hôm đó, bọn nô bộc cũng từ kinh thành trở lại, các đồ vật đều được đưa đến nơi an toàn. Lưu Toàn yên tâm lưu tại nhà trọ đến năm ngày.
Tri phủ Mục Liễn Chương thấy Lưu Toàn không trở về kinh, mà cứ ở riết tại nhà trọ, tim như đau thắt lại. Trong lúc bọn quan lại lớn nhỏ ở phủ Bảo Định dò la biết được Lưu Toàn trú tại nhà trọ Bảo Định, tranh nhau đến gặp, kể lể nỗi căm ghét của mình như thế nào với tri phủ Mục Liễn Chương, sợ có liên lụy chút ít với ông ta, các đơn tố cáo tri phủ Liễn Chương đều đưa cho Lưu Toàn và ghi rõ tên tuổi. Đơn tố cáo và ngân phiếu đều nhiều như nhau. Tri phủ Mục Liễn Chương tìm mọi cách để gặp Lưu Toàn nhưng chẳng thể nào gặp được, ngồi nhà ôm cô con gái khóc lóc thảm thiết:
- Không phải cha ép con, bây giờ cả nhà chúng ta, có lẽ chỉ mình con được sống mà thôi.
Đến ngày thứ năm, Lưu Toàn mới trở về kinh thành, giao nộp tất cả đơn tố cáo và ngân phiếu cho Hòa Thân. Hòa Thân nói:
- Bác đã làm tốt hơn là tôi tưởng. Hết lời khen ngợi Lưu Toàn. Không ngờ Lưu Toàn lại mách:
- Tên quan ấy có một cô gái tên gọi Hương Đào, khá đẹp.
- Nghe tên cũng ngon lành rồi, bác thưởng thức chưa? Hòa Thân cười.
Hòa Thân chuyển các đơn tố cáo cho Tổng đốc Trực Lệ, và tường trình sự việc lên Hoàng thượng:
- Việc gia đình của nô tài xin muôn tâu lên Đức vạn tuế biết, để tránh sự hiểu lầm đối với nô tài.
Càn Long nghe xong tức giận:
- Chiếm đoạt của cải của dân, làm sao có thể tha thứ được! Lệnh cho Tổng đốc Trực Lệ nghiêm trị.
Đáng thương cho viên tri phủ Liễn Chương đã bỏ ra cả gia tài mấy mươi vạn lạng góp nhặt trước nay, như giọt nước bỏ biển, chẳng được tích sự gì. Không bao lâu, Tổng đốc bố cáo: Xử trảm tri phủ Mục Liễn Chương, tịch thu gia sản, con cháu dày đến Y Lê, vợ đem bán. Lại Ngũ xử lăng trì, con xử chém, vợ và cháu đem bán làm nô lệ. Các thuộc lại của tri phủ Bảo Định đã biết điều tố giác nên miễn truy cứu.
Lưu Toàn thì cười hì hì vừa được thưởng bạc, vừa được Hương Đào.
Ngày tám tháng giêng Càn Long năm thứ bốn mươi hai. Ngày này đúng là ngày thuận tinh, tức là ngày chư tinh hạ giới. Hòa Thân không có thời giờ để ngắm nhìn những chiếc đèn ông sao của nhà mình, vì phải đến vườn hoa Viên Minh chuẩn bị cho lễ hội hoa đăng nguyên tiêu. Lễ hội hoa đăng nguyên tiêu năm nay bắt đầu sớm hơn, vì Càn Long muốn Thái hậu được ngắm nhìn sớm trước mấy hôm, vui vẻ trước mấy hôm. Thái hậu đã tám mươi sáu tuổi, gần đây không được khỏe lắm. Càn Long hàng ngày đến Trường Xuân Tiên Quán thăm nom, đương nhiên Hòa Thân phải đi theo. Hòa Thân biết rằng, Càn Long là một người con rất chân thành hiếu thảo với mẹ, trong thiên hạ ít có người như vậy. Hòa Thân chú ý, mỗi dịp lễ tết Càn Long đều có làm thơ ghi lại cảnh những lúc Càn Long cùng Thái hậu hưởng niềm vui thiêng liêng tình mẫu tử, bày tỏ tình yêu thương nồng nàn và niềm quyến luyến vô bờ bến đối với mẹ. Trong tập thơ “Tân Chánh Trọng Hoa Cung Thị Hoàng Thái hậu” có viết:
Gác rồng đón xe phượng,
Niềm vui theo xuân sang.
Sân cung tràn vui vẻ,
Đồng xanh ngập ánh dương.
Vui đón ngày xuân sang,
Chén mừng vạn thọ nâng.
Ngát hương lan bách hợp,
Thiếp vui én song hàng.
Ríu rít đàn cháu chắt,
Vui tháng ngày mênh mang.
Trong cung vui phụng dưỡng,
Để giáo hóa muôn dân.
Sau yến tiệc, các tiết mục chào mừng năm mới được biểu diễn liên tục, nhưng hội hoa đăng nguyên tiêu là náo nhiệt nhất. Càn Long lại viết trong tập “Thượng Nguyên Tịch Cung Phụng Hoàng Thái hậu Quang Đăng Hoa” như sau:
Hàng năm chúc thọ ở trên lầu,
Thái hậu năm nay mạnh khỏe nhiều.
Trò diễn hề vui nghe vở trước,
Kiếm xem múa đẹp nơi màn sau.
Đèn chen muôn ngọc lung linh sáng,
Vàng dát ngàn hoa lấp lánh màu.
Nhẹ bước lên thềm nơi Thái hậu,
Dám khoe bốn biển lặng lo âu.
Tháng năm hoa lựu nở rộ. Tiết Đoan dương lại đến, Càn Long đưa Thái hậu đến Phước Hải trong vườn Viên Minh xem hội Long đăng, viết một bài thơ:
Trong trẻo không gian cảnh sắc bừng.
Ai ai cũng bảo lợi nhà nông.
Bóng che trời cạnh ngoài song cửa,
Thuyền lướt ngày dài nẻo bến sông.
Chuối biếc tàu nghiêng bên điếm vắng,
Cành kia lựu nở mặt ao hồng.
Năm màu giải lụa tung theo gió,
Thái hậu thọ dài, dạ những mong.
Tiết đoàn viên Trung thu Càn Long lại có thơ:
Nam Thọ về chầu chúc Nam Cực,
Ngày vui ải Bắc nhớ ao Tây.
Lo cho thiên hạ vui sao lớn,
Gặp đúng ngày thu đẹp lắm thay,
Lan quế xôn xao đây đó bận,
Trời thu rộn rã tiết thêm hay.
Phép nhà vẫn vững từ xưa giữ,
Tùng hạc tuổi trời thơ chúc hay.
Tiết Trùng dương thường tổ chức yến tiệc tại Mộc Lan Vĩ Trường để chúc mừng Thái hậu. Càn Long làm bài thơ:
Nay là chín tháng chín,
Ngàn vui sao hững hờ.
Số dương ngày và tháng,
Mọi ngả về đế đô.
Lên cao tầm mắt rộng,
Chúc thọ tuổi non cao.
Triều đình cùng biên ải,
Chúc Thái hậu ngàn thu.
Càn Long coi Thái hậu ở tuổi sáu mươi là đại thọ, bảy mươi là thượng thọ, tám mươi là đại thượng thọ. Tuổi thọ như vậy là ít có trong thiên hạ.
Hòa Thân nhớ lại một đoạn văn tả lúc Thái hậu thọ sáu mươi tuổi, cảnh tượng các vương công đại thần, tuần phủ các tỉnh được bố trí từ Cao Lương Kiều đến Tây Hoa Môn trong đại nội.
“Trong vòng hơn mười dặm, nơi nào cũng treo đèn kết hoa, trang hoàng nhà cửa. Đường phố thênh thang, hai bên lề đường không thấy bóng dáng lều quán. Non sông gấm vóc, cung điện vàng son rực rỡ muôn màu, trăm hồng ngàn tía, không thể tả xiết. Cứ mấy mươi bộ lại có một sân khấu biểu diễn, nhạc nam có bắc có, bốn phương đều không thiếu, nơi này múa hát, nơi kia làm xiếc, chỗ này chưa dứt chỗ khác nổi lên, nơi nào cũng tưng bừng náo nhiệt, du khách như bước vào chốn bồng lai tiên cảnh, ngồi trong cung điện nguy nga, nghe khúc hát nghê thường, xem điệu múa áo lông vũ. Cảnh tượng vô cùng đẹp, trang trí kỳ công. Dùng lụa màu làm hình núi non, lấy giấy thiếc làm gợn sóng, một ngôi nhà giữa vườn đào tiên. Đó là chỉ kể sơ qua, không thể tả hết. Đình Phỉ Thúy do tỉnh Quảng Đông dựng, rộng hai ba trượng, toàn lợp bằng lông đuôi chim công. Lầu Hoàng Hạc của tỉnh Sở, mái hiên ba tầng. Tường vách đều làm bằng kính cao bảy tám thước. Gương xứ Hồ của tỉnh Triết, tỏa rộng ánh sáng, chính giữa là một mặt gương tròn to, xung quanh trang trí hàng vạn chiếc gương nhỏ, ai bước vào đấy đều nhìn thấy hàng ngàn vạn hình ảnh mình hiện ra trong đó, thật là kỳ lạ!”
Hòa Thân bận rộn với lễ hội hoa đăng hôm nay, nghĩ đến những bài thơ của Càn Long, nghĩ đến sự hiếu thuận của Càn Long đối với mẹ, không khỏi buồn rầu rơi lệ. Nếu mẹ ta còn sống thì tốt biết bao! Ta nhất định phải như Càn Long hiếu kính với mẹ ta, mời mẹ ta xem kịch, xem hoa đăng, chúc thọ mẹ ta, dù không hào hoa phú quý bằng Hoàng gia, nhưng ta nhất định để mẹ ta tận hưởng những hạnh phúc của đời này. Nhưng mẹ ta đã qua đời khi ta mới bốn tuổi. Hòa Thân không có nhiều ký ức về người mẹ. Bà có bộ mặt hiền từ, đôi mắt dịu hiền. Hòa Thân nhớ rõ lúc lâm chung bà kéo tay Hòa Thân, xoa lên đầu Hòa Thân và Hòa Lâm, khá lâu vẫn không chịu nhắm mắt, quyết không chịu xa rời những đứa con của bà!
Tình cảm của Hòa Thân đối với Thái hậu đúng là chân thành thiết tha, không chỉ đối với Thái hậu mà cả đối với các bà mẹ nhiều tuổi khác, Hòa Thân cũng có tình cảm quyến luyến như vậy, cho nên Hòa Thân thành tâm thành ý, tận tâm tận lực vì Thái hậu mà bận rộn, cố sao vừa lòng Thái hậu, chứ không phải chỉ vì mong muốn được Thái hậu ngợi khen.
Trời chiều, vương công đại thần, quí tộc Mông Cổ, sứ thần nước ngoài lục tục kéo đến. Hòa Thân đến Trường Xuân Tiên Quán. Càn Long dẫn Thái hậu đến đấy chuẩn bị lên lầu Thanh Huy xem hoa đăng. Hòa Thân tự mình cùng với các thị vệ khiêng kiệu, đi hàng đầu để điều chỉnh bước đi của những người khác. Càn Long vốn không muốn để Hòa Thân khiêng kiệu, vừa định nói ra thì lại nghĩ, chỉ có Hòa Thân ông ta mới thực sự an tâm, vì Thái hậu đã tám mươi sáu tuổi rồi, cần phải được phục vụ hết sức chu đáo. Khi đến lầu Thanh Huy, Hòa Thân đỡ Thái hậu xuống kiệu, ngồi lên một cái sạp mềm, rồi khiêng chiếc sạp lên, đặt Thái hậu ngồi lên bảo toạ. Hội hoa đăng đêm nay đặc sắc hơn mọi năm, từ đầu đến cuối Thái hậu đều vui cười. Lễ hội kết thúc, Hòa Thân lại tự mình khiêng kiệu đưa Thái hậu về Trường Xuân Tiên Quán. Việc này thực ra không cần phải một viên đại thần quân cơ mó tay vào. Càn Long thấy Thái hậu mạnh khỏe, vui vẻ nên làm một bài thơ và đó cũng là bài thơ cuối cùng của Càn Long tả lại cảnh mẹ xem hoa đăng:
Ngắm đèn đặt tiệc lệ trong nhà,
Một dãy lầu tiên sang tỏa ra.
Lời chúc thọ cao vui vạn phúc,
Đuốc soi đèn chiếu rạng ngàn hoa.
Cháu con cung kính năm đời chúc,
Mẫu tử thêm thương lúc tuổi già.
Nâng giấc ngồi yên trên đệm gấm,
An khang phụng dưỡng chẳng lơ là.
Ngày mười bốn tháng giêng, Thái hậu bệnh nặng. Giờ sửu ngày hai mươi ba tháng giêng, Hoàng Thái hậu Sùng Khánh băng hà. Càn Long khóc than sầu thảm bên cạnh mẹ. Sau lễ tang, về cung cắt tóc bận áo tang lụa trắng, ăn chay nằm đất, suốt ngày không ăn uống. Hòa Thân lúc nào cũng bên cạnh Càn Long, buồn đau cùng Càn Long, vô cùng thông cảm với nỗi lòng đau thương vì mất mẹ của Càn Long, xem nỗi đau thương đối với Thái hậu như đối với mẹ mình, khóc thật thương tâm, thật chân thành. Càn Long nửa đêm tỉnh giấc, buồn thương vô hạn làm bài thơ “Bi mộng”:
Nhắc đến buồn vui thật não nùng,
Tiễn đưa cung kính vẫn ung dung.
Tiệc hầu cháu chắt năm đời đủ,
Ca múa xem vui tất cả cùng.
Chợt tỉnh giấc ra sao vắng vẻ,
Bỗng sa lệ thấm thấy buồn thương.
Nghĩ như ngày trước cho là thật,
Chẳng mộng, cũng là giấc mộng chung.
Thái hậu qua đời, lúc ấy Càn Long sáu mươi bảy tuổi. Càn Long tuổi cao lại không được cùng mẹ chung hưởng niềm vui mẫu tử, lòng thấy trống trải cô đơn. Hòa Thân sớm tối bên cạnh, tìm mọi cách giúp Càn Long giải sầu, bù đắp vào chỗ thiếu hụt tình cảm. Càn Long hết sức cảm kích, không để Hòa Thân kiêm nhiệm thống lĩnh bộ binh nữa. Từ đó, trong quân đội, Hòa Thân đảm nhiệm chức vụ tương đương với lư lệnh cảnh bị kinh đô của sau này. Hòa Thân bắt đầu tổ chức huấn luyện đội ngũ đặc vụ của mình, rải khắp cả nước, làm tai mắt cho mình.
Hòa Thân tìm hiểu sâu những nhược điểm của người đời, anh càng có uy quyền, càng có lẽ phải, càng cao sang, càng là người tốt, thiên hạ càng phục tùng. Anh càng không có quyền không có thế, thì càng sai trái, càng xấu xa. từ xưa đến nay, những người đọc sách, không có nhân cách, đã khuất phục trước uy quyền, họ cam làm con đom đóm dưới ánh sáng của uy quyền. Vì vậy, phải để họ phục tùng, để họ củng cố địa vị của họ, trước tiên phải thể hiện uy quyền của mình. Uy quyền của bản thân đến từ hai cách: một, được lòng vua chúa, là sủng thần của vua chúa, nên có quyền uy; hai, tự mình thể hiện, vận dụng, khuất phục những kẻ đối lập mà xuất hiện. Hai cách đó có ảnh hưởng lẫn nhau. Nếu có ai đó tự cho rằng cả đời liêm chính, suốt ngày kể lể trước mặt Hoàng thượng, Hoàng thượng không thể không chịu ảnh hưởng của người đó; nếu có kẻ chẳng biết trời cao đất dày, lên mặt ta đây, có thể lây truyền cho người khác, đối với hạng người này phải đả kích không thương tiếc, khi tỏ rõ quyền uy bản thân, dứt khoát không nương tay.
Một lần, Hòa Thân có dịp tỏ rõ quyền uy của mình.
Hòa Thân tay cầm cuốn “Tự Quán”, đang lật đến trang mười của cuốn một có đoạn “thể lệ chung”, bỗng hớn hở cười: “Hải Thành chắc chết”. Tác giả cuốn “Tự Quán” là Vương Tích Hầu, tên thật là Vương Hầu, sợ tên của mình phạm điều kỵ úy, nên đổi là Vương Tích Hầu. Thi đậu lúc ba mươi tám tuổi, trước sau đã chín lần đi thi, nhưng không đỗ. Thấy không có hy vọng, bèn tính chuyện viết sách, một là để có cách sinh sống, hai là để lưu danh hậu thế. Càn Long năm thứ bốn mươi, Vương Tích Hầu cho ra đời cuốn “Tự Quán”. Ông đã bỏ bảy năm trời để viết cuốn sách này. Đây là bộ tự điển biên soạn đơn giản, rõ ràng về trời, đất, người, vật. Lời tựa cuốn sách nói: “Chữ nghĩa trong thiên hạ muốn thông hiểu cực khó; vần thơ không cần vạn chữ, kẻ học có nhiều nhưng chưa biết và không biết dùng. Tự điển Khang Hy ngày nay đã tăng lên đến bốn mươi sáu ngàn chữ, kẻ học tra cái này mất cái nọ, có một mất mười, khổ nỗi khó hiểu”. Thực ra người viết tự khen, mấy câu đó cũng chẳng có gì đáng nói, thế nhưng lại có tên Vương Lung Nam đồng tộc muốn lấy đó đưa người ta đến chỗ chết.
Vương Lung Nam vốn là một tên lưu manh côn đồ bị quan phủ bắt lưu đày đến Vân Nam. Hắn không cam chịu chết già ở chốn rừng thiêng nước độc, nên trốn về quê cũ. Lúc bấy giờ, Vương Tích Hầu đang lúc tuổi trẻ hăng hái, cùng mấy người trong làng bắt Vương Lung Nam giao nộp cho quan phủ. Sau đó nhiều năm, Vương Lung Nam được xá trở về quê, tìm dịp để báo thù Vương Tích Hầu. Sau khi cuốn “Tự Quán” được in ấn, Vương Lung Nam hí hửng, vu cáo Vương Tích Hầu phản nghịch, miệt thị Hoàng đế Khang Hy, tố cáo lên quan phủ. Huyện lệnh thấy việc này quan trọng, báo cáo lên Tuần vũ Hải Thành. Sau đó lại báo lên Hoàng thượng. Càn Long lệnh cho Hải Thành điều tra. Hải Thành và các bộ hạ cho rằng, tuy sách đó có ý tứ phần nào bất kính đối với Hoàng đế Khang Hy, nhưng không thể gọi là phản nghịch, nên viết bản tấu xin xóa bỏ học vị cử nhân của Vương Tích Hầu, và để tiện tra cứu, cử người đưa bó “Tự Quán” gồm bốn mươi cuốn về kinh. Càn Long xem xong, chẳng thấy có vấn đề gì, nên cũng gác việc ấy đi.
Có lẽ Vương Tích Hầu không gặp vận may, ở nhà gặp tên vô lại, trong triều gặp tên lưu manh chính trị. Sách rơi vào tay Hòa Thân. Hòa Thân lật đến đoạn “thể lệ chung” trang mười, cuốn một. Cuốn từ điển liệt kê tất cả những điều kiêng kị trong miếu thờ Thánh tổ, Thế Tông và cả tên huý của Càn Long. Hòa Thân cả cười: con rùa Hải Thành kia chắc phải chết, không nghi ngờ gì nữa.
Càn Long rất sợ người Hán không tôn trọng Mãn Thanh, Giang -Triết là nơi tụ họp văn nhân, quan lại cuối đời nhà Minh cũng tập trung tại đó, do đó thái độ của Càn Long đối với lớp văn nhân ở vùng Giang - Triết rất chi nhạy cảm. Vừa nghe Hòa Thân tâu, rồi xem trang mười, quả nhiên có những điều kiêng kị trong miếu thờ của Thánh Tổ, Thánh Tông và cả của bản thân, tức giận lồng lên: “Quả thực ngỗ nghịch bất chấp luật pháp, vì sao trước nay không ai phát hiện, tội không thể dung thứ, phải chiếu theo luật đại nghịch mà xét xử, coi như quốc phạm”.
Hòa Thân nhân lúc Càn Long tức giận, tâu thêm:
- Nô tài thấy phía sau có cả tên húy Hoàng Thái hậu Đại Hành. Hòa Thân đọc thật rõ to ba chữ “Hoàng Thái hậu”.
Trong lúc chưa nguôi nỗi đau buồn về người mẹ vừa qua đời, Càn Long lại nghe thấy mấy chữ bất kính đó càng tức giận, tức giận cực điểm:
- Lệnh chỉ bắt Vương Tích Hầu, xử chém, tịch thu toàn gia, đày vợ con biệt xứ.
Hòa Thân lại tâu:
- Nghĩ rằng Tuần Vũ Hải Thành, là một quan tỉnh trưởng, không thấy sự phản nghịch vô đạo trong cuốn “Tự Quán”, rõ ràng là bao che cho Vương Tích Hầu, đáng cách chức, quan lại xung quanh không thoát khỏi trách nhiệm. Những hạng quan lại đó rõ là lười nhác, nếu không trừng trị, chúng sẽ là một bọn tai điếc mắt mù, trong thiên hạ sinh ra càng nhiều tên ngông nghênh, chẳng biết kiêng nể ai! Nếu để chúng ăn nói bừa bãi, giả câm giả điếc, thì còn gì cái uy nghiêm của triều đại Thanh?
Càn Long vừa nghe xong đã dậm chân, quát mắng Hải Thành, và chiếu dụ cho thiên hạ: “Hải Thành có mắt như mù trước chuyện phản nghịch như vậy, mù tịt chẳng biết, chỉ xin hủy bỏ học vị cử nhân của Vương Tích Hầu, đúng là mất hết lương tâm, quên hết ân nghĩa của Trẫm”.
Cuối cùng triều đình quyết định: Hòa Thân nhanh chóng liệt kê những điều cấm kị để ban hành cho thiên hạ biết. Tuần Vũ Giang Tây Hải Thành, tội chém; hai quan thuộc hạ Giang Tây ngu dốt bất tài, không thoát khỏi trách nhiệm, cho họ về làm thứ dân; Tổng đốc Giang Tây, Cao Phổ, giáng một cấp, lưu nhiệm.
Uy quyền của vua chúa phong kiến vốn là tối cao. Tên tuổi của vua chúa, con dân phải kiêng kị, từ xưa đã như vậy, lẽ nào Vương Tích Hầu không biết? Nhưng sách ông viết là một bộ tự điển, làm sao tránh được điều kiêng kị? Hơn nữa, Vương Tích Hầu xuất phát từ ý tốt, sợ rằng lớp người trẻ không biết tránh những điều kiêng kị, nên cố ý viết vào sách, để mọi người hiểu rõ, quả thực không có chuyện mưu đồ làm phản. Càn Long vốn khoan dung đối với chuyện kỵ úy từng nói: “Nói đến chuyện né tránh tên tuổi, ngay đến từng chi tiết trong văn tự, Trẫm trước nay chưa hề để xảy ra, cũng không để ý những điều kiêng kị mới đưa vào mà người dân thôn dã không biết để tránh”. Nhưng Hòa Thân muốn mượn cớ giết gà dọa khỉ, tỏ rõ uy phong của mình, nên cố ý kích động cơn giận của Càn Long.
Trong lúc Hòa Thân khoái chí vì địch thủ toi mạng, uy phong bản thân lừng lẫy, thì lại bị dội lên đầu một chậu nước lạnh bị giáng hai cấp do bao che tội lỗi. Vì sao Hòa Thân bị xử như vậy? Chuyện kéo dài như sau.
Bộ Hộ nắm quyền quản lý tiền bạc, lương thực, thu thuế, chủ trì tài chính cả nước, là một bộ quan trọng. Trong Bộ Hộ có quan Tư vụ cai quản Dinh tư vụ, tên là An Minh. An Minh quản lý mấy mươi phân tư phân cục ông ta đã giữ vị trí này sáu năm, nhưng không muốn thăng cấp, chỉ muốn mãi mãi giữ chức vụ này. Theo ông ta, dù là Thị lang hoặc Thượng thư đi nữa, cũng không có được lợi lộc bằng chức vụ hiện tại của ông ta. Để giữ được vị trí của mình, dẫu có vị Thượng thư hay Thị lang nào thay đổi, ông ta vẫn một mực chăm chỉ, bợ đỡ. Mọi việc lớn nhỏ trong nhà quan trên, ông ta đều biết rõ, giúp làm suôn sẻ. Bất cứ một vị Thượng thư hay Thị lang mới đến đều yêu thích An Minh, cảm thấy không thể thiếu được An Minh.
Nhưng, người giỏi đến đâu cũng có lúc sai lầm.
Năm đó vị Thượng thư cũ bị điều đi, thay vào một vị Thượng thư mới. Các Thị lang không muốn giao thực quyền cho vị Thượng thư mới, nên cùng với thuộc hạ kết thành một nhóm. Vị Thượng thư mới có bàn bạc, giao việc gì, các thuộc hạ cũng vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện, không hé lộ cho ông ta biết một tí gì. Ngày thường An Minh cùng hai vị Thị lang ăn một chỗ, vị Thượng thư mới đến hỏi quan tư vụ. An Minh làm ra vẻ phục tùng, chỉ nói mà không làm.Vị Thượng thư mới này lại là một người đầy thủ đoạn. Thấy mọi người như vậy, ông ta ngoài mặt như bó tay đành chịu, nhũn nhặn hết mức, nhưng thực ra lặng lẽ tìm mấy chủ sự giám đốc, kế toán. Lúc đầu chỉ là quan hệ tình cảm, sau đó để cho họ từng người bày tỏ thái độ, cuối cùng hứa hẹn nâng chức cho họ. Chớ xem họ khi ngồi lại với nhau vững như sắt đá, nhưng sau khi vị Thượng thư mới chuyện trò mấy lần, họ trở mặt dao động. Rốt cục để tỏ lòng trung thành với vị Thượng thư mới, nói đúng hơn là để được chức quan cao hơn như lời hứa của vị Thượng thư mới, họ tiết lộ những tội lỗi của các vị Thị lang. Họ biết rất rõ sự thật. Vị Thượng thư mới nắm lấy bằng chứng thật, tâu lên Hoàng thượng, nhẹ nhàng tống cổ hai vị Thị lang ra khỏi Bộ Hộ, An Minh cũng bị giáng chức. Vị Thượng thư mới thưởng cho chiến tướng xung phong của ông ta chức vụ Tư vụ Dinh tư vụ.
Hòa Thân biết rằng, nếu muốn có tiền trong tay, trước tiên phải nắm lấy bộ Hộ, đúng lúc bấy giờ bộ Hộ đang thiếu chức Thị lang. Hòa Thân xin làm chức này.
An Minh bị mất chức tư vụ, làm kế toán, các tỉnh không nhờ cậy ông ta, không biếu lễ vật cho ông ta nữa. An Minh túng bấn, suy nghĩ tìm cách làm thế nào đoạt lại chức vụ cũ. Vì vậy An Minh quay đầu lại bợ hót với vị Thượng thư mới. Tiếc rằng, trước đây An Minh chơi khăm ông ta, dẫu sao đi nữa cũng phải tươi cười với ông ta. Nhưng vị Thượng thư vẫn quay lưng. An Minh chuyển sang nịnh hót cậu con, người nhà và cả những người thân thích của vị Thượng thư. Nhưng vị Thượng thư vẫn không hề lay chuyển. An Minh thấy nịnh bợ vô vọng, đang nản chí, bỗng nhiên trong đầu nảy ra một tia hy vọng. Vị Thị lang Hòa Thân vừa mới đến nhậm chức không phải là cho có thể dựa sao? Hòa Thân còn trẻ như vậy, lại là đại thần quân cơ, Tổng quản Phủ nội vụ, Chủ quản quân vụ kinh thành, bây giờ lại đến làm ở bộ Hộ, nếu không được Hoàng thượng sủng ái, thì sao có thể thăng tiến nhanh như vậy? Ông ta, công lao quân sự không có, thành tích chính trị cũng không, mà được ân huệ như thế, con đường đi nhất định không phải là con đường chính đáng. Đã như vậy, thì phải có cách gần gũi ông ta. An Minh đã ngắm đúng mục tiêu, thận trọng, mạnh dạn hành động. Hòa Thân mỗi lần đến bộ Hộ đều thấy một người khom lưng gật đầu chào ông ta. Trên đường đi nếu gặp, ông ta cũng cúi bái làm đại lễ. Dần dần, Hòa Thân nhớ được tên anh ta, hai người thân nhau. Ở nơi làm việc của bộ Hộ, mỗi khi Hòa Thân rảnh rỗi, An Minh liền xuất hiện chuyện gẫu với Hòa Thân mấy câu. Về sau, An Minh thường xuyên đến phủ của Hòa Thân, nhìn thấy đứa bé tí xíu cũng chào hỏi, không cần biết đó là người ở hay người nhà gia đình. Hơn nữa, mỗi lần đến nhà Hòa Thân hễ thấy có việc là lăn vào làm, không việc cũng tìm ra việc để giúp, chỉ cần có mặt ở đấy. Mỗi lần đến là mang theo quà cáp thỏa đáng, nhưng không để người ta hiểu là có ý nịnh bợ lo lót tựa như nhân tiện mang theo chút ít quà cáp.
Một hôm An Minh nói với Hòa Thân:
- Đại nhân mua vật liệu làm nhà sao không nói với tôi một tiếng? Ngài mua gỗ đắt, tiền vận chuyển cũng tốn kém nhiều, tôi khá thạo nhiều việc, trước khi làm nên bảo tôi, tôi nhất định tiết kiệm được nhiều tiền bạc cho đại nhân.
- Đã rẻ hơn người khác nhiều, còn có thể rẻ hơn nữa ư? Hòa Thân hỏi.
- Việc này đại nhân không thông thạo, về sau thuộc hạ sẽ giúp đại nhân.
- Vậy nhờ anh giúp, tôi xin cám ơn anh trước.
An Minh đem của tích góp trước nay ra, không tiếc một tí nào, nhượng cho Hòa Thân nào gỗ, cước phí vận chuyển với giá rẻ một nửa. Gỗ chuyển về, Hòa Thân vui mừng hỏi:
- Vì sao bị giáng chức?
- Vì thượng thư và Thị lang bất hòa nhau. Thị lang bị điều đi, thuộc hạ bị liên đới giáng chức.
- Không phạm lỗi, việc thăng cấp vẫn có hy vọng, chỉ cần chăm chỉ cố gắng.
- Thuộc hạ rất thông thạo chức tư vụ, đã làm năm sáu năm rồi, Tư cục ở các tỉnh không ai là không biết tôi. Thuộc hạ có nhiều bạn bè, hiểu biết họ, cần việc gì thuộc hạ chỉ mở miệng là xong tất, do vậy giá gỗ và tiền vận chuyển rẻ nhiều.
- Anh phải là đồng tâm hợp lực với Thượng thư mới được.
- Nói thực, trong lòng tôi chỉ có đại nhân thôi, tôi và đại nhân mới có thể đồng tâm hợp lực.
- Anh và Thượng thư nên dung hợp. Không lâu nữa sẽ cần kinh sát (quan khảo sát), tôi sẽ đề cử anh, năm tới có thể đề bạt anh.
An Minh mừng rỡ, nhiều việc của gia đình Hòa Thân, An Minh đều chủ động làm hộ, ví như đá Thái Hồ, gạch Đại Phương, sư tử đá đặt trước cửa v.v... đều do An Minh tìm người đến làm. Hòa Thân phấn khởi cho rằng con người này quả là một nhân tài, nên nhất định cất nhắc anh ta. An Minh lĩnh hội ý kiến Hòa Thân, cũng bỏ ra chút ít công sức làm hộ Thượng thư. Quả nhiên tìm được dịp tốt, nhân cậu con của Thượng thư bị bệnh đã nhiều ngày chưa khỏi, An Minh chạy khắp nơi tìm thầy, dốc sức chạy mua loại linh chi thượng đẳng. Sau khi uống linh chi, cậu con của Thượng thư bình phục. Thượng thư nhìn thấy An Minh, mặt tươi lên một tí.
Một hôm Hòa Thân nói với Thượng thư:
- Công việc kinh sát đã bắt đầu, tôi thấy An Minh làm việc cần cù, có thể giao việc ấy cho anh ta.
Biết Hòa Thân là người tâm phúc của Hoàng thượng, Thượng thư không dám trái ý, nghe sao làm vậy nói lấy lòng:
- Hòa đại nhân nói như vậy, tôi xin đề bạt anh ta trở lại chức tư vụ nhưng nghẹt vì viên tư vụ hiện tại chưa biết điều đi đâu.
- Đề bạt anh ta lên làm chủ sự phòng lưu trữ há không tốt lắm sao?
- Vậy xin làm theo ý đại nhân.
Công việc kinh sát kết thúc, An Minh được xếp vào loại nhất. Không lâu, viên tư vụ nọ được đề bạt làm chủ sự, và An Minh nghiễm nhiên trở về chức vụ cũ. Nào ngờ đâu vận số An Minh không gặp may.
Đúng lúc này, phụ thân anh ta ốm nặng qua đời. Theo lễ chế của triều Thanh, quan lại nào có bố mẹ chết, phải ở nhà chịu tang ba năm. Trong thời gian đó, nếu không được Hoàng thượng cho phép thì không được làm quan. An Minh trải qua hai năm phấn đấu, thật không dễ gì trở lại chức vụ cũ, chẳng lẽ đành chịu mất ư. Do đó dấu chuyện cha bệnh mất. An Minh vì muốn trở lại địa vị cũ mà lú lẫn, chứ việc này đâu có thể ỉm đi được.
Viên chủ sự mới được thăng chức cho rằng mình được thăng chức nhưng thực ra là bị giáng chức, vẫn luyến tiếc chức cũ, suốt ngày lục tìm những thiếu sót của An Minh, và biết được An Minh đã dấu diếm không báo việc cha mất, nên đã trình lên thượng thư. Thượng thư bảo: “Anh tìm hiểu kỹ sự việc và báo lên ngài Vĩnh Quí, Thượng thư bộ Lại, trong văn võ triều Mãn chỉ có A Quế và Vĩnh Quí mới có thể vạch tội được Hòa Thân, nhưng A Quế thì đi vắng, nên việc này phải mật báo với Vĩnh Quí, anh không nên trực tiếp ra mặt”. Viên chủ sự mới được thăng chức liên hệ với mấy người cùng nhau tố giác việc của An Minh, viết thành văn bản trình lên Thượng thư bộ Lại, ngài Vĩnh Quí, nhưng không trình lên Cục quân cơ. Vĩnh Quí lãng lẽ điều tra mấy hôm, biết rõ quả thực có việc như vậy, nên viết bản tấu vạch tội An Minh, và cả Hòa Thân, nói rằng trong thời gian kinh sát, không phát hiện tội đại nghịch bất hiếu của An Minh, lại đề nghị nâng cho An Minh một bậc. Như vậy Hòa Thân quả là vì tình riêng mà bao che, cả hai cùng một duộc xấu xa
Bản tấu được đệ tâu lên Hoàng thượng. Hòa Thân nghe tin mình bị vạch tội.
Vĩnh Quí có cậu con trai tên là Y Giang A, làm việc tại Quốc Sử Quán. Hòa Thân làm tổng tài Quốc Sử Quán, anh ta cho rằng bố tuy có công lớn, làm quan cao, nhưng tuổi đã cao, không thể nhờ cậy lâu dài; còn Hòa Thân tuổi trẻ, tiền đồ rộng lớn, đúng là chỗ dựa vững chắc cho mình. Do vậy, ngày thường hay đến chơi với Hòa Thân, còn Hòa Thân cho cậu ta là con trai của Vĩnh Quí, nên cũng vui lòng qua lại với cậu ta, tình cảm hai người ngày càng thắm thiết, thường thường đến quán ăn nhậu, chuyện trò. Y Giang A cũng là người kiến thức dồi dào, nên hai người thường xuyên làm thơ xướng hoạ.
Hôm đó, Vĩnh Quí hỏi cậu con trai về Hòa Thân. Y Giang A khoe khoang khoác lác về Hòa Thân, nghe xong Vĩnh Quí nói: “Ta đã lâu bận việc, vừa vào triều, đến Cục quân cơ không lâu, nhưng về con người Hòa Thân, cũng có nghe qua, việc Hòa Thân đề cử thăng chức cho một người cha chết mà không báo, vậy có thể là người tốt không? A Quế không có trong triều, ta không vạch tội Hoà Thân thì ai làm việc này?” Y Giang A cả kinh, hỏi lại cha sự thật thế nào, Vĩnh Quí im lặng không nói về chuyện vạch tội Hòa Thân, quở trách con trai là không phân biệt tốt xấu. Y Giang A thầm nghĩ: “Chỉ sợ cha không đánh đổ được ông ta, mà còn làm liên luỵ đến con. Ta phải tìm cách mới được”.
Tối hôm ấy, Y Giang A đến phủ Hòa Thân, nói là có việc cần gặp. Hòa Thân bảo vào thư phòng rồi hỏi:
- Có việc gì cần vậy?
- Cha tôi muốn vạch tội đại nhân.
- Vì sao? Hòa Thân kinh ngạc hỏi.
- Đại nhân có một thuộc hạ cha chết không báo, bị cha tôi phát hiện người đó ở trong kinh sát, lại được thăng một bậc, chính do đại nhân đề cử.
- An Minh hại ta, nếu không có Y Giang A đến báo ta làm sao thu xếp việc này? Hòa Thân giật mình thầm nghĩ. Vội vàng cám ơn Y Giang A, nói tiếp: - Trong kinh sát quả thật ta có đề cử một người thăng lên một bậc, nhưng cha người ấy sống chết thế nào ta đâu có biết, nếu đúng như vậy, hiền đệ đã ra ân cứu mạng ta.
- Sao đại nhân nói thế. Thuộc hạ thường được đại nhân quan tâm chiếu cố rất nhiều, đang không biết lấy gì báo đáp, việc hôm nay, lẽ phải như thế.
Đêm khuya hôm ấy, Hòa Thân cho người gọi An Minh đến trách mắng:
- Cha anh qua đời sao không nói với ta, tí nữa hỏng cả việc lớn!
- Đại nhân biết như thế nào? An Minh quỳ xuống đất hỏi.
- Vĩnh Quí đã tâu lên Hoàng thượng. Hoàng thượng cả giận, ngày mai ắt sẽ gọi ta, việc này thành to chuyện rồi.
- Xin đại nhân cứu tôi.
- Anh nói sớm với ta, ta có thể tìm cách cứu anh, thậm chí có thể giữ được cái ghế cho anh, anh ngốc nghếch đến thế này, việc cha anh mất có thể che mắt mọi người sao?
- Tội của tiểu nhân khó thoát, cầu xin đại nhân hãy vì vợ con tiểu nhân nói khéo đôi lời, sau khi tiểu nhân chết, cầu xin đại nhân nhớ lấy lòng trung thành của tiểu nhân đã phục vụ đại nhân, quan tâm đến gia đình tiểu nhân.
Đêm đó An Minh đem những đồ quý giá đến phủ Hòa Thân.
Hôm sau, Hòa Thân đến triều sớm. Vĩnh Quí tâu:
- Khởi tấu Hoàng thượng, thần có bản tấu vạch tội Hòa Thân đã dối trá trong khi kinh sát, vị tình bao che.
- Bao che cho ai về việc gì? Càn Long hỏi.
- Hiện có tờ trình liên danh của ngự sử và tư viện thuộc lại bộ Hộ: An Minh, tư vụ Dinh tư vụ bộ, vốn bị giáng chức xuống làm tư viên, được lưu làm kế toán, đã táng tận lương tâm, cha chết không khai báo. Lần trước kinh sát, Hòa Thân thị lang bộ Hộ, đại thần quân cơ đã đề cử người này lên một bậc và đề nghị phục nguyên chức.
- Hòa Thân có chuyện ấy ư? Càn Long phẫn nộ hỏi.
- Đúng có việc ấy, xin Hoàng thượng trị tội nô tài, nô tài đã viết bản tấu về An Minh và tội của y, không nghĩ rằng Vĩnh đại nhân đã tâu trước nô tài. Hòa Thân đệ trình bản tấu lên Càn Long.
Vĩnh Quí ngạc nhiên, vốn muốn nhân dịp này loại trừ Hòa Thân, không ngờ Hòa Thân lại có bản tấu, vậy là y coi mình đứng ngoài việc này hay sao? Nhưng việc này đâu có thể lờ đi được. Vĩnh Quí tâu:
- Hoàng thượng. Hòa Thân cố tình bao che không tố giác, mong Hoàng thượng chớ để y mê hoặc. Thuộc lại bộ Hộ đều biết việc này, Hòa Thân lẽ nào không biết cha An Minh chết? Việc này, một là: cha chết dấu không khai báo, thực làm tổn thương đạo lý làm người. An Minh đúng là kẻ tiểu nhân gian tà, bất trung bất hiếu; hai là: Hòa Thân đề cử thăng một bậc cho y trong kinh sát, đó không phải là vì không kiểm tra, mà là bao che tư tình, coi thường luật pháp. Xin Hoàng thượng minh xét.
Trong buổi chầu triều lúc ấy cũng có mấy người tiếp tục đứng ra, cùng tâu, đây là do Hòa Thân tư tình bao che coi thường luật pháp. Lúc thường những triều thần này hay do dự, tuy a dua với Hòa Thân nhưng thực ra không phục. Nhưng khi có người khác tố giác Hòa Thân, vạch tội Hòa Thân, bấy giờ thấy có người cầm đầu, mà người ấy lại là Vĩnh Quí, nên cho rằng phải đánh đổ Hòa Thân, cùng phụ họa với Vĩnh Quí.
Vĩnh Quí trước đây là Tuần Vũ Triết Giang, nổi tiếng thanh liêm. Sau đó đến Tân Cương xây dựng đồn điền, nhiều phen dẹp loạn. Mấy năm gần đây trở về triều, nhận chức Thượng thư bộ Lại, đại thần tham tán, trực Cục quân cơ, tên cùng âm với A Quế, người ta gọi là “Nhị Quế”. Vĩnh Quí từng được Càn Long khen thưởng, và chỉ dụ: “Trời mở mắt cho Trẫm, để Trẫm hiểu hết lòng trung thành của Vĩnh Quí”. Do vậy, Vĩnh Quí không những quyền cao chức trọng, lại còn có danh vọng, và được Càn Long tin dùng. Cả đám quan lại chỉ biết gió chiều nào theo chiều nấy. Thấy Vĩnh Quí vạch tội Hòa Thân, đều cho rằng Hòa Thân không phải là đối thủ của Vĩnh Quí. Ai biết đâu họ đã nghĩ nhầm, chọn nhầm phe cánh.
Hòa Thân vốn cho rằng việc An Minh có thể nhẹ nhàng trôi qua, không ngờ có khá nhiều địch thủ, nên lo lắng không yên, chờ nghe Càn Long phán xét.
- Hòa Thân bị An Minh che dấu, nếu có ý thiên vị, sao có thể tự mình tố cáo hắn? Huống hồ Hòa Thân cùng với khanh cùng lúc tấu trình. Hòa Thân không cố ý che dấu tội lỗi. Việc này đúng như mọi người và khanh đã nói, Hòa Thân tội không thể tha. Trẫm giáng chức Hòa Thân, lưu dụng. Càn Long phán.
Hôm sau, An Minh bị xử lăng trì, cả nhà bị tịch thu.
Hòa Thân tuy bị giáng hai bậc, nhưng Hoàng thượng vẫn sủng ái như thường, suốt ngày cho theo bên cạnh. Bọn quan lại, xô người không ngã, đều quay đầu lại phụ họa Hòa Thân. Hòa Thân cảm thấy địa vị của mình vẫn chưa được vững. Đối với số người này, ngoài mặt thì ứng phó cho qua chuyện, nhưng trong lòng quyết tìm cơ hội diệt trừ tận gốc, đập tan xương thịt của họ.
Huyện Đông Đài phủ Dương Châu có một thư sinh Từ Thuận Quì, tên cũ là Canh Nha, tự là Hiếu Văn, Càn Long năm thứ ba đậu cử nhân, đã từng làm tri huyện. Nhưng ông tự phụ tài cao, nói nếu mình sinh ra dưới triều Minh, tất có danh vọng như Đường Thuận Chi, Đổng Kỳ Xương, lại được đọc một số tác phẩm của Lữ Lưu Lương, do vậy rất phẫn nộ với Mãn Thanh: “Cạo đầu có gì là đẹp, thật xấu xí, phía trước cạo phía sau để đuôi sam lòng thòng, giống hệt đuôi con lừa”, và nói: “Đầu tóc là một phần của thân thể, do cha mẹ truyền lại, sao lại có thể tuỳ tiện cắt bỏ?”, do đó mới đặt tên cho một cậu học sinh là Từ Đầu Phát. Từ Thuật Quì suốt ngày ngâm thơ, để lộ nỗi bất mãn đối với triều đình lúc ấy, muốn quay lại sống với triều Minh, nhưng thật ra chưa sống với triều Minh ngày nào. Than thở: “Giang Bắc từ lâu không đất sạch” và nói: “Ngày xưa trời đất tràn đầy mộng mơ, giờ đây thế sự càng nhiều ngẩn ngơ”. Cứ như vậy, tránh được cái họa tự sát đã là may mắn lắm rồi, thế mà con trai ông ta Từ Hoài Tổ cũng bước theo vết chân người cha, biên tập lại những thơ ca của ông thành tập “Nhất Trụ Lầu Thư” và in ra phát hành.
Càn Long năm thứ bốn mươi hai, Từ Hoài Tổ qua đời. Trước khi qua đời, Từ Hoài Tổ đã dùng hai ngàn bốn trăm lạng bạc mua mấy khoảnh đất của nhà Thái Vân bên cạnh. Sau khi Từ Hoài Tổ chết, Thái Vân và người anh em họ là Thái Gia Thọ bỗng nhiên nói rằng đất nhà họ vừa mua có mộ tổ của họ Thái, nên xin chuộc lại nhưng chỉ với giá tiền chín trăm sáu mươi lạng, vì vậy không chuộc lại được, và dọa: “Nếu không đồng ý, sẽ tố giác cuốn “Nhật Trụ Lầu Thư”. Hai người con của Từ Hoài Tổ là Từ Thực Điền và Từ Thực Thư, có lẽ suốt ngày chỉ biết có “thực điền”, “thực thư” mà không biết “thực nhân”, “thực thế” nên bàn bạc với nhau một cách ngây thơ rằng: “Để người khác tố giác chi bằng tự mình đi báo trước”. Do vậy đem nộp cả sách in và nguyên bản chép tay cho quan huyện. Quan huyện Đông Đài cho rằng việc này không có gì nghiêm trọng, nên xử qua loa. Nào ngờ Thái Vân và Thái Gia Thọ đều là người có học am hiểu, biết rằng việc này có thể giành lại khoảnh đất, có thể lập công lãnh thưởng. Thái Gia Thọ tố giác việc này lên tỉnh. Lúc ấy Lưu Dung làm học chính Giang Tây, xem xong lập thư, cho rằng đại nghịch, viết tấu tâu ngay lên Hoàng thượng. Hoàng thượng xem xong đưa cho Hòa Thân. Hòa Thân thầm nghĩ, phải đoạt công từ tay Lưu Dung, ít nhất cũng được một phần, và qua việc này để tỏ rõ bản lĩnh, uy phong của mình, nên càng đọc kỹ tập thơ, phát hiện câu: “Đại Minh thiên tử trùng tương kiến, thư bá hồ nhi các bán biên”, “Minh triều kì chấn cách, nhất cử khứ Thanh đô” (tạm dịch: Vui mừng gặp lại vua Minh, rượu ngon cũng gác một bên cóc cần. Bình minh vút cánh bay cao, thoáng qua một lúc đến thành nhà Thanh - ND). Hòa Thân tâu: “Đại Minh thiên tử trùng tương kiến, thư bá hồ nhi các bán biên”, rõ ràng là ý đồ phản nghịch, “hồ nhi” tức là “hồ nhi (hai từ đồng âm dị nghĩa chữ viết khác nhau, chữ hồ nhi thứ nhất là bình rượu, chữ hồ nhi thứ hai chỉ dân tộc phương bắc là người Mãn - ND). “Các bán biên” tức là lật đổ triều Thanh, rõ ràng đây là chống triều Thanh, muốn khôi phục triều Minh “Minh triều kì chấn cách, nhất cử khứ Thanh đô”. “Minh triều” vốn nghĩa là bình minh hôm sau, “kì chấn cách” là cất cánh bay cao, “khứ Thanh đô” là đến kinh đô nhà Thanh. Nhưng Hòa Thân lại giải ra rằng: “Minh triều là triều Minh, “kì chấn cách” là chờ đợi khôi phục triều Minh, “khứ Thanh đô” là xóa bỏ kinh đô triều Thanh, lật đổ nhà Thanh. Hòa Thân tâu lên Càn Long xin chỉ dụ trừng phạt.
Càn Long ban chỉ nghiêm trị: Câu “Minh triều kì chấn cách, nhất cử khứ Thanh đô”, v.v... rõ ràng là có ý muốn khôi phục triều Minh. Từ Thuận Quì đại nghịch vô đạo, phạt roi đánh lên thi hài để thị chúng; Từ Hoài Tổ in sách phản nghịch của cha, xử trảm thi hài thị chúng; Tư Thực Điền và Từ Thực Thư tàng trữ sách phản nghịch của ông cha, tội xử chém; Tri châu Dương Châu khó thoát tội chểnh mảng, phát vãng đến Quân Đài; Đào Dịch, viên quan Ninh Giang cố tình che dấu, xử chém. Lạc Diễm, trợ lý của Đào Dịch bỏ qua vụ án, xử chém; Tri huyện Đông Đài, Từ Diệu không nghiêm sử sách cấm, phạt đánh trăm trượng, tù ba năm”.
Càn Long còn dụ: “Lưu Dung và Hòa Thân trung thành với Trẫm, có công trong vụ án, đáng được khen thưởng”.
Hòa Thân, không bao lâu lại được nhận một chức quan béo bở, tổng đốc thuế vụ Sùng Văn Môn. Sùng Văn Môn là một trong vốn nơi thuế quan lớn trong thiên hạ, được chức này, cũng bằng được một kho bạc. Không lâu, Hòa Thân lại làm Tổng lý hành dinh sự vụ, đại thần ngự tiền, rồi làm Đô thống Lam kỳ Mãn Châu, sau đó là Đô thống chánh Bạch kỳ.
Hòa Thân hưởng lợi danh, để tỏ lòng trung thành với chủ, thể hiện tài cán của mình hơn Lưu Dung, suốt ngày chú ý đọc sách đọc thơ. Một hôm đọc một bài thơ phát hiện trong đó có hai câu:
“Thanh phong bất thức tự, hà tất loạn phiên thư”
(Tạm dịch: Gió mát không biết chữ, giở sách để làm gì - ND)
Hòa Thân tâu với Càn Long: “Đây không phải là miệt thị Đại Thanh ta không biết văn chương chữ nghĩa hay sao?”. Càn Long tức giận, ra lệnh xử trảm tác giả bài thơ đó. Hòa Thân đương nhiên được khen thưởng và càng được nước. Một hôm đọc bài “Tái Thượng Ngâm” do một bối tử người Mãn viết, trong đó gọi người Mông Cổ là “hồ nhi”. Hòa Thân cho rằng: “Các từ Di, Địch, Hồ, là miệt thị người Mãn Mông chúng ta, sao lại dùng bậy thế này?”. Càn Long tức giận: “Thế này là mất gốc, xử trảm không tha, nể vì là bối tử, nên cho chết toàn thân, được phép tự vẫn”.
Hòa Thân thừa gió bẻ măng, kiểm tra, thiêu hủy sách thơ, như điên cuồng, và tâu rằng: “Sách thơ nói xấu bôi nhọ triều Thanh cần phải kiểm tra, thu thập, hủy đốt, các tự điển cũng phải sửa đổi hoặc thiêu hủy”'.
Càn Long ra lệnh: “Thư tịch có câu chữ kỵ úy, các tỉnh phải tra xét thật kỹ, nộp về kinh thiêu hủy. Nội dung các vở tuồng kịch chưa hẳn không phạm vào điều kỵ úy, kiên quyết kiểm tra kĩ những câu chữ có liên quan đến triều Thanh nói về các sự việc cuối triều Minh. Kể ra những tứ khúc liên quan đến triều đại Nam Tống và triều đại Kim, kịch bản nước ngoài, biểu diễn quá mức, không đúng sự thật; lưu truyền lâu dài; vô tình hoặc chuyển từ kịch bản thành sự thật, nếu có liên quan đều phải kiểm tra kỹ. Các kịch bản loại ấy, tập trung ở Tô Dương chờ xử lý, truyền cho Y Linh A, Toàn Đức, chú ý kiểm tra, nếu có phải cắt bỏ sửa chữa, cân nhắc cho thỏa đáng. Niêm phong đưa về kinh các nguyên bản đã sửa chữa để xét duyệt. Nhưng phải bình tĩnh không ồn ào”.
Không bao lâu, cuộc tra xét cấm đoán lan ra cả nước. Triều Càn Long đã cấm hủy hơn ba ngàn một trăm loại thư tịch, một trăm năm mươi ngàn bộ sách, tiêu hủy trên tám trăm ngàn sách. Nhân dân lo sợ, đua nhau thiêu hủy các thư tịch bị cấm và không bị cấm để tránh tai hoạ. Một số văn nhân học sĩ cũng đốt hủy không ít thư tịch. Hòa Thân là kẻ hiến kế, kẻ ủng hộ, kẻ thừa gió bẻ măng, gây ra cái họa kiểm tra, cấm đoán thư tịch sách vở lần ấy.
Cùng với tai họa nói trên, Hòa Thân càng được trọng dụng, nhận chức Tổng tài quán “Tứ khố toàn thư”. Hòa Thân mua chuộc bọn tiểu nhân chỉ biết chạy theo thế lực lợi lộc, không dám hé răng bàn tán Hòa Thân. Còn những người “ngạo mạn” thì bị Hòa Thân loại trừ tất tật. Nhiều người tranh nhau bợ đỡ Hòa Thân, trong số đó, kì quái nhất là Lưu Quốc Thái và Tô Lăng A.