Hòa Thân - Đại Thần Tham Nhũng (Tập I)

Lượt đọc: 13777 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
mua quan bán tước theo ta thì sống

Quốc Thái hỏi: “Xin nhạc phụ đại nhân dạy bảo; chức quan này nên thực hiện như thế nào? Tô Lăng A đáp: “Năm thứ nhất phải trong sạch, năm thứ hai trong sạch một nửa, năm thứ ba thì đục cả. Quốc Thái nói: Như con làm thế nào chịu đựng được ba năm!”.

- Nạp Lan béo mập đẫy đà hoạt bát nhận Hòa Thân làm cha nuôi. Nhưng nào ai biết được, Nạp Lan lại...

Cách phủ đệ Hòa Thân không xa có một cửa hiệu hàng da. Chủ hiệu là Lưu Quốc Thái, tuổi ngoài hai mươi, ngoài kinh doanh hàng da, còn có mấy cửa hiệu khác, tài sản trong tay có mấy mươi vạn lạng bạc. Mới hai mươi tuổi làm sao có được một gia sản đồ sộ như vậy?

Hai mươi năm trước, trong một ngõ nhỏ ở Bắc Kinh có một người tên là Lưu Tồn Hậu, vốn là một gã bán dầu, suốt ngày gánh dầu đi bán, tay gõ mõ, lang thang khắp kinh thành Bắc Kinh. Suốt ngày lang thang, chẳng bận rộn, thấy người khác ngật ngưỡng trên lưng ngựa, mình đầy vàng bạc, vợ con cả đống, kẻ ở cả bầy, hết sức oai phong, hết sức sung sướng. Còn mình thì năm canh không chợp mắt, chạy đông chạy tây, đế giày mòn vẹt, mồm toạc, mép rách, vậy mà ba năm cũng chẳng sắm được chiếc áo mới, mười ngày không có lấy một miếng thịt vào bụng, không kiếm được một cô vợ, hễ nhìn thấy cô gái nào ngực nở mông tròn, chỉ biết rơi nước giãi thèm khát. Hôm nọ, nhân đùa vui, mó rờ vào một cô gái, bị cô ta nửa đùa nửa thật cho một cái tát thật đau. Suốt ngày gã suy đi tính lại và nghĩ ra một cách, phải có tiền mới được. Bỗng một hôm, gã cười hì hì, vỗ vào mông nói: “Được rồi !”, rồi nhảy xộc vào nhà, thò tay xuống dưới bức chiếu rách lôi ra một cái bọc, nhấc lên thấy nằng nặng, nắn bóp thấy cứng cứng, rất thoải mái tự nhiên. Gã đã nghĩ ra cách vừa lấy được vợ vừa phát tài. Hôm nay, tại Thiên Kiều nghe người ta đọc sách kể một câu chuyện “gã bán dầu độc chiếm hoa khôi”. Chuyện rằng, một gã bán dầu đến một nhà chứa, để lấy một hoa khôi, người kỹ nữ nọ không những đẹp như tiên mà còn có một hòm đầy vàng ngọc! Sau khi lấy được hoa khôi, gã bán dầu từ đó không bận tâm đến chuyện ăn mặc. Lưu Tồn Hậu nghĩ rằng, phải chăng là nói ta? Ta phải đoạt được “hoa khôi” đó. Không những tiền cũng có mà vợ cũng có. Gã bèn đem hết số tiền tích luỹ trước nay đổi lấy một bộ quần áo vừa mới giặt hồ, bôi ít dầu đay lên tóc bện thành chiếc đuôi sam mượt mà óng ánh, hớn hở đi đến nhà chứa nọ. Vừa bước vào sân, mụ chủ nhà chứa đã chạy ra đon đả:

- Ái dà, mời vào, mời vào!

Gã bán dầu họ Lưu đặt cái bọc lên bàn đánh keng một tiếng. Mụ chủ nhà chứa mặt mày rạng rỡ nhoẻn cười:

- Ái dà, quan gia thật hào hoa, mời lên lầu!

- Hoa khôi đâu? Gã hỏi.

- Có, đang đợi trên lầu!

Gã theo mụ chủ nhà chứa vào trong một phòng, sực nức mùi thơm. Mụ chủ nhà chứa nói:

- Quan gia thoải mái. Nói xong mụ đi ngay.

Một cô gái bước vào, tuy không giống người đẹp như chuyện nghe hôm nọ, nhưng mặt mày cũng trắng, ngực cũng nở nang, cánh tay cũng béo tròn. Gã họ Lưu rất chi vừa ý, chỉ có điều là không có nâng cốc mời rượu. Cô gái hết “ối” bên trái lại “ối” bên phải, mở cúc áo để lộ “ruột gan” và “của quý”, đôi vú nõn nà núng nính, tựa vào khuôn mặt gã bán dầu. Gã vốn muốn bắt chước gã bán dầu trong câu chuyện, tỏ ra thật thà, nhưng lúc đó làm sao chịu nổi. Đây là chuyện ngày đêm gã ước mơ. Gã ôm cặp vú, lúc đầu nâng lên, cô gái theo đà nằm sóng soài lên giường...

Tối đến, cả hai đều mệt nhoài. Gã họ Lưu còn nghĩ chuyện cưới xin, cả gan hỏi:

- Cô nàng, ta muốn lấy cô nàng?

- Ha ha, chàng là một chàng trai tốt bụng.

- Ta muốn lấy nàng! Cô nàng, ta muốn lấy nàng! Gã họ Lưu trở mình, trần như nhộng, quỳ trên giường nói.

Bấy giờ, cô gái mới biết gã nói thật, ngồi dậy, da bụng dày hằn những nếp nhăn, hỏi:

- Chàng thật sự cần thiếp ư?

- Thật mà?

- Sau này thật sự yêu thiếp không?

- Yêu lắm chứ!

Cô gái thả mình xuống giường “phịch” một tiếng, ôm chặt đầu gã họ Lưu bán dầu, nước mắt ràn rụa:

- Quả thật không ghét bỏ thiếp, muốn sống chung với thiếp ư?

- Cô nàng, ta đâu dám chê cô nàng!

Cô gái tươi cười ôm chặt gã họ Lưu, “ruột gan”, “của quý” quyện vào nhau.

Cô gái tên gọi Xuân Hồng, vốn là con gái của mụ chủ nhà chứa. Mụ định gửi cô ra ngoài nhờ nuôi, nhưng không ai chịu nhận, nên cô gái đành ở lại kỹ viện. Lúc đầu mụ chủ không cho cô gái tiếp khách, chẳng khác nào mèo cái động đực, chạy khắp nơi kêu gào loạn xạ, nay đã quá ba mươi tuổi, tuy còn trẻ, nhưng hai má đã xệ, mí mắt dã húp xuống, ai lại chịu phí tiền bạc cho của ấy? Hôm nay được mẹ gọi, cô mừng hết cỡ, lại gặp chàng trai khỏe mạnh, nên càng phấn khởi vô cùng. Đến khi nghe chàng trai trẻ khỏe như thế muốn lấy cô, cô cảm động nước mắt tuôn ra đầm đìa đôi má.

Ăn sáng xong, gã bán dầu họ Lưu nói:

- Nàng thưa chuyện với mẹ, mang chiếc hòm đi cùng tôi.

- Chàng phải thật sự yêu thiếp cơ, không phải hỏi mẹ, thiếp cũng là chủ, chỉ có rương hòm là chưa chuẩn bị.

Lưu Tồn Hậu nghe nói không có rương hòm, cả người tê tái:

- Không có rương hòm gì ư ?

- Thật ra thiếp chẳng quan tâm, muốn thì có thôi.

- Vậy nàng chớ quên, ta chỉ cần nàng và cái hòm thôi, những thứ khác cóc cần.

- Chỉ cần một cái hòm, quá dễ, đợi thiếp thưa chuyện với mẹ.

Hôm sau, Xuân Hồng đến nhà Lưu Tồn Hậu, mai mối cưới xin đàng hoàng, cũng bày tiệc rượu thết đãi láng giềng. Xuân Hồng vui mừng và theo ý của Lưu Tồn Hậu chỉ khiêng về một chiếc hòm làm của hồi môn.

Khi khách khứa đã về hết. Gã Lưu bán dầu vội vàng mở chiếc hòm ra, lật đi lật lại, chẳng thấy vàng, chẳng thấy trắng, cũng chẳng thấy ngọc ngà châu báu. Gã kêu lên:

- Đâu nhỉ, đâu nhỉ?

- Cái gì đâu nhỉ? Xuân Hồng hỏi.

- Vàng bạc châu báu!

- Làm gì có vàng bạc châu báu!

Gã bán dầu họ Lưu nghe Xuân Hồng nói vậy ngồi thừ xuống đất, nghe Xuân Hồng nói tiếp:

- Châu báu không thể bỏ vào đó được! Nói xong mở thắt lưng ra, để lộ một chiếc gối, nói: - Chàng làm sao biết thiếp dấu châu báu ở đâu, ngay cả mẹ cũng không biết.

Gã họ Lưu vùng đứng dậy, chồm tới chụp lấy chiếc gối xé ra xem, một khối vàng sáng óng ánh.

Gã bán dầu họ Lưu cũng không còn là gã bán dầu nữa. Gã thấy những người có tiền đặc biệt là người Mãn rất thích hàng da, nên gã bắt đầu kinh doanh hàng da. Quả nhiên càng ngày càng giàu, càng phát đạt. Một năm sau, Xuân Hồng sinh ra một cậu con trai, đến xin vị kể chuyện ở Thiên Cầu dạo nọ đặt tên cho con, gọi là Quốc Thái.

Lên năm tuổi, Lưu Tồn Hậu mời thầy về dạy Quốc Thái. Quốc Thái tuy mặt mày bình thường, nhưng đầu óc không ngu muội. Thầy dạy nói, cậu nhỏ này sẽ có tiền đồ rạng rỡ, khiến Tồn Hậu và Xuân Hồng vô cùng mừng rỡ.

Thấm thoắt mười mấy năm trôi qua. Quốc Thái đã khôn lớn, đặc biệt to béo. Mười lăm mười sáu tuổi mà bụng phệ, tự mình cũng khó nhìn được gót chân của mình, hai má nhô lên, hai mắt híp lại, không cần tả tỉ mỉ, nếu bạn ra chợ, nhìn thấy cái đầu lợn luộc thế nào thì Quốc Thái thế ấy.

Một hôm, Lưu Tồn Hậu định tìm người đưa hàng đến Thừa Đức, nhưng chưa tìm ra người. Quốc Thái xin đi. Lưu Tồn Hậu không còn cách nào, bèn cử Lưu Nhị là người nhà cùng đi với Quốc Thái, coi như đi chơi một chuyến. Quốc Thái đến Thừa Đức, giao hàng xong, bỗng thấy một đống da lông vụn nát bị vứt bỏ, toàn là chân, móng, lông. Quốc Thái như bắt được vàng, vội chất hết lên xe, dù Lưu Nhị khuyên bảo thế nào, cậu ta cũng không nghe. Người đi đường đều cười chê Quốc Thái lẩn thẩn. Quốc Thái cũng chẳng cần quan tâm, bỏ ra mấy chục lạng bạc mua mấy tấm da thuộc loại tốt, kéo xe ra chỗ vắng người ngoài đồng, lôi đống da vụn xuống, dùng mấy tấm da thuộc buộc chặt đống da vụn thành từng bó, đánh xe đến Thiên Tân, xuống xe, vỗ đôi tay đầy bụi rồi xoa lên mặt mình và mặt Lưu Nhị, rồi đẩy xe đến một hiệu hàng da phía trước. Quốc Thái vừa bước vào cửa hiệu hỏi:

- Đây là nhà bác Trương...Trương Thế Thúc phải không?

- Ai hỏi đó, tôi họ Lý. Từ phía trong có người đáp ra.

- Tìm bác Trương Thế Thúc mấy ngày rồi mà chẳng tìm thấy để giao hàng... hàng da, làm thế... thế nào đây? Quốc Thái khóc thút thít.

- Hàng da gì? Từ trong vọng ra. Một người trạc năm mươi tuổi đứng lên, đưa mắt nhìn người đứng trước mặt và chiếc xe bên ngoài hỏi: - Có việc gì vậy?

- Cha tôi bảo... tôi đưa hàng da đến giao cho bác Trương... Trương Thế Thúc, toàn là hàng tốt, nhưng tìm mất hai ngày mà chẳng tìm được, cha tôi lại bệnh... bệnh nặng, chờ tiền mua thuốc. làm... làm thế nào đây? Nói xong khóc òa.

Chủ cửa hàng vội bước ra, lấy tay sờ bó da :

- Da tốt, đúng là da tốt... ái dà, hai chú em, xem ra hai chú em thật đáng thương, vào đây ăn thứ gì đã.

- Tôi... tôi đói lắm rồi. cho tôi bốn chiếc màn thầu, một bát nước nóng. Quốc Thái cũng chẳng khách sáo.

- Hai chú vào đi, vào đi!

Lưu Nhị đầu óc choáng váng, theo Quốc Thái bước vào. Chủ hiệu bày ra một bàn thức ăn.

- Chắc hai chú đói lắm, ai ra khỏi nhà mà không gặp khó khăn? Ăn đi!

Hai người ăn vội ăn vàng. Đợi hai người ăn xong, chủ hiệu nói:

- Này, hai chú em, tôi là người từ bi, thấy hai chú thật tội nghiệp, khóc rất thương tâm, ai lại không động lòng trắc ẩn? Thế này nhé, tôi mua giúp xe da này với giá một trăm lạng bạc được không?

- Không... không, tôi phải tìm cho được bác Trương Thế Thúc.

- Trương Thế Thúc, chẳng phải không tìm được sao? Biết đâu đã dời nhà đi nơi khác rồi... Chủ hiệu nói chưa dứt lời, Quốc Thái lại khóc. Chủ hiệu thấy con người này có phần đần độn nên nói với Lưu Nhị: - Có lẽ cậu là người giúp đẩy xe, hãy khuyên anh ta.

Lưu Nhị đâu dám mở miệng. Quốc Thái thì khóc hu hu, chủ hiệu vỗ tay nói:

- Này đừng khóc nữa, ta không thích nghe người khác khóc. Một trăm năm mươi lạng nhé, các chú về đi không rõ bệnh tình cha anh bây giờ thế nào.

- Cha tôi bảo, bán ba... ba trăm lạng. Quốc Thái nói.

- Số da này không đáng giá một trăm năm mươi lạng, chỉ vì ta thấy hai chú tội nghiệp. Ở nhà có người ốm đau, nên chẳng lẽ không giơ tay giúp dỡ? Ai mà không có lúc gặp khó khăn? Thực ra ta cũng chẳng cần số da này. Cửa hàng của ta đã đầy ắp rồi.

- Thế, thế cũng được.

- Chuyển! Chủ hiệu ra lệnh.

Mấy người giúp việc chuyển số da đó vào nhà.

Chủ hiệu trả tiền cho Quốc Thái, dặn:

- Cất kỹ số bạc này, chớ để rơi mất dọc đường.

- Tôi... tôi về ngay - Cha tôi đang ốm nặng. Quốc Thái toại nguyện. Lưu Nhị kinh ngạc, há hốc mồm ra.

Nào ngờ, Quốc Thái về đến Bắc Kinh, cha bệnh thật, ít lâu sau thì qua đời, mẹ anh ta cũng mất tiếp theo. Sau khi đậu tú tài Quốc Thái chẳng dòm ngó đến “Tứ thư”, “Ngũ kinh”, chỉ chuyên tâm vào việc kinh doanh. Nhưng, dù anh ta bịp bợm lừa đảo thế nào chăng nữa, công việc buôn bán cũng không thuận lợi như trước. Hôm nay thuế sưu, ngày mai quyên góp, hôm nay cống nộp cho quan này, ngày mai biếu xén cho quan kia, lo lót hối lộ cho các nha môn quan phủ. Bỏ ra thì nhiều, thu vào thì ít, Quốc Thái vô cùng buồn rầu, dần dần tỉnh ngộ: hễ là quan thì bức dân, làm quan là chắc ăn, không phải dầm mưa dãi nắng, mà túi tiền cứ phồng lên. Càng oai phong, người đời càng vì nể. Thế là Quốc Thái quyết chí tìm cách làm quan, mà phải là quan to. Nhưng làm thế nào đây?

Một hôm Hòa Thân cùng cô con gái nuôi Nạp Lan ngồi kiệu về nhà, bất ngờ một phu kiệu phía trước dẫm vào vỏ dưa trượt ngã. Hòa Thân không kịp đề phòng, từ trong kiệu rơi xuống, đang lúc bực mình, nhìn thấy phía trước một cục thịt núc ních lăn qua lăn lại. Người phu kiệu và Hòa Thân ôm bụng cười ha ha, bởi vì con người ở phía trước là một quái vật béo tròn, kì dị khó tưởng, một thân hình béo tròn như vậy lại bắt chước điệu bộ trượt ngã của người phu kiệu, tuy là đùa cợt cho vui: nhưng cũng rất tuyệt vời. Người đó đứng lên rồi ngã xuống, liên tiếp mấy lần, trông nhẹ nhàng lanh lẹ vô cùng. Cô con gái nuôi của Hòa Thân, Nạp Lan không biết bước ra khỏi kiệu lúc nào, nhìn thấy động tác buồn cười của quả cầu thịt đó, cười rúc rích. Ai ngờ quả cầu thịt đó cũng bắt chước giọng cười, thần thái động tác của Nạp Lan, rất chi tài tình. Hòa Thân và Nạp Lan rất thích thú, trước nay trong thiên hạ chưa có ai béo ú như vậy mà lại lanh lẹ khéo léo đến vậy làm trò cười hay như vậy, nên cười tức cả bụng. Quả cầu thịt cũng bắt chước điệu bộ Hòa Thân và Nạp Lan ôm bụng cười rũ rượi. Cười mãi, cười mãi, bỗng nhiên Hòa Thân động lòng, bước lên hỏi:

- Anh bạn trẻ, trú ngụ ở đâu? Họ tên là gì ..

- Tôi là Lưu Quốc Thái, cửa hàng đồ da kia là nhà tôi. Quả cầu thịt đáp.

- Ồ ! Ta quen biết cha anh, Lưu Tồn Hậu, ông ấy thường mang đến cho ta những hàng da quí, nên ta có ấn tượng sâu sắc. Vậy chúng ta là láng giềng cùng phố. Đến nhà ta chơi một lát.

- Có gì ngon ăn không?

- Có

- Đừng lừa tôi.

- Không lừa đâu, đi thôi, có rất nhiều rất nhiều thức ăn. Nạp Lan vừa đỡ anh ta vừa nói.

Đến nhà, Hòa Thân bảo anh ta vào một cái đình. Vợ con cùng tì nữ của Hòa Thân thấy có người ngớ ngẩn, lại pha trò hay như vậy,vây quanh lại, cười rúc rích. Hòa Thân bảo dọn thức ăn. Thoáng một cái, thức ăn đã đặt lên bàn, mùi thơm ngào ngạt vô cùng hấp dẫn. Lưu Quốc Thái thèm nhỏ dãi, vỗ tay, xoa ngực nói: “Nhiều thức ăn ngon thế”. Mọi người thấy anh ta như vậy, cười đến đứt hơi. Quốc Thái đưa tay lấy thức ăn trên bàn, bất ngờ Nạp Lan lấy tay ngăn lại, nói:

- Ái dà! Nếu muốn ăn phải làm một bài thơ.

- Không ăn làm sao có “phân”? Ăn xong mới có “phân” (thơ). Quốc Thái nghẹo đầu nói.

Mọi người cười ồ. Nạp Lan nói:

- Không làm thơ thì kể chuyện, kể phải lưu loát.

- Vậy thì tôi làm được. “Tiểu Hồng Hài, Mao Quai Quai...”

- Không, không được. Các vị yên lặng tí nào, bài thơ phải có bốn chữ: to, nhỏ, nhiều, ít. Câu thứ nhất phải có chữ “to”, câu thứ hai phải có chữ “nhỏ”, câu thứ ba phải có chữ “nhiều”, câu cuối cùng phải có chữ “ít”. Quốc Thái, anh nghe rõ chưa?

- Rõ rồi !

Hòa Thân cười:

- Như vậy càng tốt.

- Con nói trước, rồi đến dì, Quốc Thái nói sau cùng, nếu nói không được thì không được ăn. Nạp Lan nhìn chiếc quạt trong tay Hòa Thân nói: - Quạt trong tay lão gia, mở thì to, gấp thì nhỏ, lão gia dùng nhiều, người khác dùng ít.

Nói xong ngồi xuống ăn cơm uống rượu.

- Chăn trên giường lão gia, trải thì to, xếp thì nhỏ, lão gia dùng nhiều, người cạnh dùng ít. Vợ bé của Hòa Thân nói.

- Quốc Thái, anh nói đi! Nạp Lan bảo.

- To... nhỏ... nhiều... ít.

Mọi người thấy vậy ôm bụng cười phì. Nạp Lan phun bắn cả một miệng thức ăn ra khá xa, gục người lên bàn không dậy nổi. Bỗng Quốc Thái cười, nói:

- Có rồi, có rồi... Anh ta thấy bà vợ bé của Hòa Thân cười đến xịu xuống đất bèn nói: - “Cái kia” của dì bên cạnh lão gia, ngồi thì to, đứng thì nhỏ, lão gia dùng nhiều, người khác dùng ít.

Mọi người cười đến tức thở. Hòa Thân cũng không hề phiền lòng, cười hồi lâu mới ngẩng đầu lên được.

Hòa Thân định thần trở lại, thấy Quốc Thái đang ăn, dầu mỡ dính đầy mồm, bỗng nghĩ rằng: Trên đời này có rất nhiều người ngu đần, nhưng lại cực thông minh; có rất nhiều người được gọi là thông minh nhưng lại cực ngu đần. Hiện tại Quốc Thái là người tài còn ẩn dật, nghĩ đến đấy, giật mình, rồi nghĩ tiếp: Hắn cực ranh ma, cực thông minh, lẽ nào có thể lấn át được ta? Ta phải sử dụng hắn, hắn có tài hơn người. Ăn xong, Hòa Thân dò hỏi Quốc Thái rất tỉ mỉ, Quốc Thái cũng chẳng dấu diếm, trả lời tường tận, nói thật rằng:

- Nô tài chủ muốn làm trò mua vui cho lão gia và mọi người, không có ý vô lễ bất kính, nô tài thật sự kính phục Hòa đại nhân, cúi đầu bái phục, nô tài nguyện làm trâu ngựa cho đại nhân, tùy ý đại nhân sai khiến.

Đương nhiên, Hòa Thân biết nhà Quốc Thái giàu có nghe nói y là người có học, tổ tiên cũng là người dòng Bát kỳ, càng quan trọng là lòng trung thành của y đối với mình, rồi nói:

- Ta gả cô gái trêu anh cho anh, anh thấy thế nào?

Quốc Thái không thể tưởng tượng được, rất đỗi vui mừng như được của trên trời rơi xuống, quỳ ngay xuống đất nói:

- Tạ ơn đại nhân, nếu Quốc Thái này thay lòng đổi dạ với đại nhân, trời sẽ đánh thánh sẽ vật.

Hai người to nhỏ thì thầm nhưng Nạp Lan tuy đứng xa vẫn nghe rõ. Cô ta biết ý đồ gả cô cho người này, lòng cảm thấy không vui.

Vì sao Hòa Thân chịu gả Nạp Lan đẹp như Quý Phi Ngọc Hoàn cho Quốc Thái đần độn, mà Nạp Lan lại không phản đối?

Tô Lăng A là người chánh Bạch kỳ Mãn Châu. Càn Long năm thứ sáu, thi đậu cử nhân phiên dịch, được phong chức trung thư nội các. Sau đó rời kinh đô đến Nhiêu Quảng, Giang Tây làm một đạo đài. Đối với Tô Lăng A bất tài, thì chức đạo đài đó vừa sức anh ta. Nhưng anh ta ngại Giang Tây ruộng đất ít, núi non nhiều, đầy chướng khí, người Mãn người Hán sống lẫn lộn, nên ngày đêm tìm cách thoát khỏi nơi khốn khổ đó và cố leo lên chức quan to. Với Tô Lăng A, quan càng to càng dễ làm, nhiều ông quan, tài cán có hơn gì Tô Lăng A này. Tô Lăng A cũng không có ham muốn gì to lớn, nhưng đó là sự thật. Anh ta muốn mình được làm quan lớn ở kinh thành, nếu làm quan ngoài kinh đô thì cũng phải là viên quan lớn của địa phương. Có cách nào ngoi lên cao đây? Làm sao để Hoàng thượng thấy được tài năng của mình? Tóm cổ mấy tên phản nghịch ư? Sưu tầm mấy câu thơ bất kính đối với triều Đại Thanh ư? Những thứ đó anh ta không làm được. Như vậy không thể đi bằng con đường ra mắt Hoàng thượng, chỉ còn có con đường làm thân với các sủng thần, quyền thần bên cạnh Hoàng thượng mà thôi. Bỗng nhiên mắt anh ta chớp sáng, nghĩ đến một người, người đó không phải Hòa Thân thì là ai?

Tô Lăng A tìm cớ xin nghỉ về thăm nhà, “mượn” một ít tiền bạc trong kho phủ, trở về kinh đô. Ông nội của Tô Lặng A đã từng làm Tổng đốc, cha làm tiểu đầu mục nghề dệt Giang Nam, có một phủ đệ ở kinh thành, nhà cũng có của cải và đồ cổ quý hiếm.

Sau khi về kinh, thường đến người bạn đồng sự cũ là Hòa Lâm thăm chơi, biếu tặng đồ quý, tiền bạc, dần dần rất thân với Hòa Lâm, gọi Hòa Lâm anh anh em em. Một hôm nghe nói con trai Hòa Thân tổ chức mừng sinh nhật, bèn đi cùng Hòa Lâm đến gặp Hòa Thân, biếu bốn ngàn lạng bạc chúc cậu ấm vạn sự như ý, một tượng phật bằng vàng phù hộ cậu ấm bình an suốt đời. Tô Lăng A tưởng biếu tặng như vậy là nhiều, nhưng thấy vẻ mặt Hòa Thân không thèm để ý. Tô Lăng A không nản lòng, nghĩ rằng thế nào Hòa Thân cũng sẽ có ấn tượng sâu sắc với mình. Một hôm Tô Lăng A nói với Hòa Lâm:

- Tôi có hai chậu cảnh phỉ thúy, cha tôi bảo đó là vật quý nhưng tôi thì dốt mù đặc, chẳng biết quý thật hay quý giả. Lệnh huynh và đại nhân, biết nhiều hiểu rộng, nhất định nhận ra giả thật, muốn huynh mời Hòa đại nhân đến xem, không biết ngài có vui lòng không?

Hòa Lâm nói chuyện lại với Hòa Thân, không ngờ Hòa Thân hết sức vui mừng nói:

- Đi ngay bây giờ.

Tô Lăng A đang ở trong phòng ngắm nghía chậu cảnh bích ngọc yêu thích của mình. Ngày nào cũng ngắm nghía như vậy. Bỗng nhiên nghe người nhà báo: “Tướng gia Hòa Thân đến”. Tô Lăng A nghe xong, đằng hắng một tiếng rồi quỳ xuống đất, dập đầu bái lạy ba lần chậu bích ngọc, khấn: “Hoàng thiên không phụ kẻ thành tâm, tổ tiên phù hộ tôi”. Khấn xong ra đón Hòa Thân, đứng trước Hòa Thân vò đầu vò cổ tỏ vẻ xin lỗi:

- Hòa đại nhân sao không báo trước với hạ quan một tiếng, hạ quan lại không ra tận cổng nghênh tiếp, mong đại nhân tha lỗi.

- Anh và Hòa Lâm đã gọi nhau là anh em, vậy với ta cũng là anh em, không cần lễ nghĩa nhiều, không cần khách sáo.

- Hạ quan cả gan kết tình anh em với hiền đệ Hòa Lâm, hạ quan vô cùng lo sợ. Hôm nay gặp đại nhân sao có thể vứt bỏ lễ nghĩa trên dưới?

Nói xong quỳ xuống khấu đầu lạy Hòa Thân ba lạy. Tô Lăng A béo mập, mắt híp như mắt lợn. Lúc ấy vào mùa hè, Tô Lăng A đứng dậy, đất dưới chân nơi quỳ ướt đẫm.

Một đoàn người đang bước vào phòng khách, bỗng một cô gái độ mười ba mười bốn tuổi, tóc xõa nhảy tưng tưng đến trước mặt Hòa Thân, cười khanh khách, cặp mắt long lanh nhìn đăm đăm Hòa Thân:

- Ông là Hòa đại nhân ư? Cha cháu thường nói, ông là quan lớn, có tài, cháu cứ tưởng ông là một cụ già cơ... trông thật dễ mến, thật đấy!

- Trẻ con không biết trên dưới, sao lại vô lễ như vậy, cút ngay! Tô Lăng A thấy con gái sàm sỡ vô lễ, sợ hết hồn, liền mắng.

- Đây là lệnh ái phải không? Hòa Thân hỏi.

- Vâng ạ, Nạp Lan, con gái của hạ quan, rất nghịch ngợm.

Hòa Thân xoa đầu Nạp Lan, nhớ đến câu văn miêu tả Trương Lệ Hoa, một phi tần của Trần Hậu thời Nam Triều: “Tóc dài bảy thước, đen như mực sơn, óng ánh dễ thương”. Lòng lại nghĩ: đen óng ánh dễ thương, trắng óng ánh cũng dễ thương chứ. Bụng nghĩ miệng nói:

- Tô đạo đài quả có phước, trời đã ban tặng cho một cô con gái đẹp như ngọc ngà. Ta mà có cô con gái như vậy, chắc suốt ngày hết sức vui mừng.

Cặp mắt tinh ranh của Tô Lãng A đã nhìn thấy những động tác tinh tế của cái ngón tay và ánh mắt long lanh của Hòa Thân, vội nói:

- Nếu Hòa đại nhân yêu thích cháu như vậy, không chê cháu nghịch ngợm sàm sỡ, cháu xin nhận đại nhân là cha nuôi được không?

- Con gái nuôi, đồng ý không? Hòa Thân cúi người dùng tay nâng mặt Nạp Lan hỏi.

- Nạp Lan, con chưa khấu đầu gọi cha nuôi ư!

Nạp Lan vừa rờ vào đầu vào trán Hòa Thân vừa nói :

- Cha đẻ có râu, cha nuôi không có râu, lại có nốt ruồi đỏ, rất đẹp.

Hòa Thân thấy Nạp Lan sờ vào nốt ruồi đỏ, không né tránh, chỉ thấy mát lạnh, trơn lịm, toàn thân như chạm phải điện. Hòa Thân nói:

- Đã gọi ta là cha nuôi, sau này hàng ngày ta để cho con nhìn.

Nạp Lan thích thú vỗ tay.

Tô Lăng A thầm nghĩ: Thế là tốt rồi. Cha nuôi sao lại không yêu con gái nuôi. Ta có thể vút tận trời xanh.

Tô Lăng A bê hai chậu cảnh bích ngọc vào phòng khách, bỗng nhiên cả phòng mát rượi. Hòa Thân không ngớt trầm trồ tán thưởng, lấy tay sờ vào chậu cảnh như sờ lên mặt Nạp Lan, nói:

- Người ta nói ấm nhuận như ngọc, đông ấm hè mát, hôm nay ta mới nghiệm được, đúng là vật quý!

Không biết ông nói chậu ngọc hay nói Nạp Lan.

Tô Lăng A nói:

- Nếu là vật quý xin tặng đại nhân. Tôi nhìn nó như nhìn tảng đá.

Tô Lăng A bày yến tiệc trong dinh, Hòa Thân vô cùng phấn khởi, vừa được đôi chậu bích ngọc phỉ thúy, vừa được cô gái nuôi. Đêm đó, Hòa Thân về phủ, Nạp Lan đòi về theo. Tô Lăng A sợ Hòa Thân không vui, nhưng nào ngờ Hòa Thân vui vẻ đồng ý.

Đêm đó, Tô Làng A nằm lăn tròn trên thảm, thét to: “Ta sẽ làm quan to, ta sẽ nhanh chóng làm quan to rồi ! “

Một hôm Hòa Thân đang ở trong thư phòng xem sách, nghe thấy mùi thơm thoang thoảng, đôi bàn tay ấm áp mịn màng bịt kín cặp mắt của mình, cười hì hì không ngớt. Hòa Thân cảm thấy từng khúc xương, từng mạch máu trong người nhũn như bông. Ông cố ý hỏi cô gái là ai, cô gái cười rũ rượi, một làn hơi ấm thổi vào cổ Hòa Thân. Hòa Thân xoay người, ôm chầm cô gái, lấy tay sờ lên cổ thọc vào nách cô gái, cô gái nằm gọn trong lòng Hòa Thân cười khúc khích. Lúc ấy vào mùa hè, Nạp Lan mặc chiếc áo dài mỏng tanh, bộ ngực nhô lên mềm mại đầy sức đàn hồi, Nạp Lan vẫn cười không dứt, cặp vú nõn nà cứ rung lên, Hòa Thân không chịu nổi. Hòa Thân lại thấy Nạp Lan, mặt trắng như ngọc, hai mắt long lanh, thân hình quyến rũ, nơi đáng béo thì béo, nơi đáng tròn thì tròn, tuy béo, nhưng không phì nộn tí nào. Hai người đùa nghịch với nhau một lát, Hòa Thân bảo Nạp Lan ra ngoài, Nạp Lan không chịu, rồi đứng bên cạnh xem sách.

Từ đó, Nạp Lan thường đến phòng Hòa Thân xem sách. Một hôm, Hòa Thân đứng bên bàn xem sách, mất cả buổi chẳng xem hết một trang, không nghe sau lưng có động tĩnh gì. Chờ lâu, Hòa Thân hỏi: “Nạp Lan, con làm gì đấy?”, phía sau chẳng có ai lên tiếng. Hòa Thân tiếp tục hỏi mấy lần, Nạp Lan cũng chẳng đáp lại, Hòa Thân quay người lại, nhìn thấy Nạp Lan đang nằm sấp trên giường của mình chăm chú xem sách, Hòa Thân hỏi:

- Con xem sách gì đấy, có hấp dẫn không?

- Đây đây.. Nạp Lan vội gấp sách lại, mặt đỏ gay.

Hòa Thân đến bên cạnh, Nạp Lan vội nhét cuốn sách dưới người. Hòa Thân hỏi:

- Con xem sách gì của cha đó?

Nạp Lan vẫn không trả lời, chỉ nhìn chằm chằm Hòa Thân, đôi mắt như khiêu khích đợi chờ. Đợi lúc Hòa Thân lật người cô để lấy cuốn sách Nạp Lan vùng ghì chặt cổ Hòa Thân. Hòa Thân lảo đảo ngã đè lên tấm thân Nạp Lan. Nạp Lan như điên, õng ẹo nói:

- Con muốn... Con muốn cái vẽ trong sách, tả trong sách cơ!

Không rõ thế nào, các cúc áo đều tung ra, chiếc lưng ong uốn éo, cái mông núng nính. Hòa Thân nhìn thấy cặp đùi ngà ngọc, thế rồi... áo quần Hòa Thân cũng bị cởi tuột. Hai người ôm cuộn lại với nhau. Trước nay Hòa Thân chưa hề gặp phải một người đàn bà nào mãnh liệt như vậy, cào cắn, hôn hít, lăn qua lật lại.. sức lực tràn trề. Nạp Lan là cô gái non trẻ, đầu tiên cả gan trắng trợn chẳng chút e dè. Nằm trên người Nạp Lan, Hòa Thân như trẻ ra, sung sức và cuồng nhiệt.

Từ đó, Hòa Thân không rời Nạp Lan một bước, hai người suốt ngày quấn quýt nhau, cùng đi cùng về. Người trong phủ Hòa Thân đều nói Nạp Lan là con gái nuôi của Hòa Thân, thoạt đầu cũng không nghĩ đến chuyện xấu xa như vậy. Về sau dần dần mới biết rõ sự tình, nhưng đố ai dám đả động đến Hòa Thân.

Ngày tháng trôi qua, Hòa Thân sợ người ta bàn tán, để tránh tai tiếng, không gì hơn, gả quách cô ta cho người khác, cóc cần con nuôi nữa. Nếu gả cô ta, Tô Lăng A lẽ nào không đồng ý? Hơn nữa, Nạp Lan tình dục quá mức, có lần làm cho cậu con của Hòa Thân cả người ướt đẫm mồ hôi, khiến mọi người kinh sợ, không lâu thì qua đời, Hòa Thân đau đứt ruột.

Hòa Thân đã nghĩ cách tìm cho Nạp Lan người chồng. Đến nay nhìn thấy Quốc Thái, nghĩ rằng: “Ta rất thích ngươi giả đần giả dại, nếu ngu đần thật thì không tốt, không ngu đần càng không tốt, hạng người như Quốc Thái lúc cần ngu đần thì ngu đần, lúc cần thông minh thì thông minh là tốt nhất”.

Tô Lăng A lúc đầu cũng không hài lòng lắm về cuộc hôn nhân này, sau cũng hiểu ra, đây là “kiểu” tính toán của Hòa Thân; sau khi gặp gỡ nói chuyện với Quốc Thái. Tô Lăng A đoán chắc rằng Quốc Thái đại phú đại quý, nên rất hài lòng vui mừng.

Không bao lâu, việc hôn nhân giữa Quốc Thái và Nạp Lan đã hoàn tất. Nhân dân cả thành Bắc Kinh đều nói Tô Lăng A là một tên quan tham lam, ham của nên đem con gái gả cho một kẻ đần độn. Có người nói là vì gia tài Quốc Thái đồ sộ, có người nói đó là ý đồ của Hòa Thân. Con gái của Tô Lăng A nhận Hòa Thân làm cha nuôi, nên Hòa Thân gả con gái của Tô Lăng A cho một thằng đần, ý của Hòa Thân là dễ tiện chuyện thông dâm; có người lại nói gả con gái cho một tên đần là chỗ sáng suốt của Hòa Thân và Tô Lăng A, bạn xem trên đời này bao kẻ thông minh rốt cục như thế nào? Còn kẻ đần độn, suốt đời yên ổn, những người biết được nội tình thì đều cho rằng, Tô Lăng A là con người rất tinh.

Luật lệ trong kinh thành qui định, con gái lấy chồng sau sáu ngày phải về nhà, thế mà người đi đón Nạp Lan lại không phải là người của nhà Tô Lăng A, mà là Hòa Thân tự đến đón Nạp Lan. Hòa Thân ngồi xe đến trước cổng nhà Quốc Thái. Quốc Thái đã đứng chờ sẵn ở đấy, quỳ xuống nghênh tiếp. Hòa Thân nghĩ rằng, Quốc Thái vui vẻ giả vờ đần độn, ta phải nhắc nhở hắn, bắt hắn phục tùng, cái gì nên xem thì xem, cái gì không nên xem thì không xem; cái gì nên nói thì nói, không nên nói thì không nói. Hòa Thân nghĩ : Nên dùng cách nào để hắn hiểu được lý lẽ đây?

Hòa Thân xuống xe. Quốc Thái thưa:

- Nhạc phụ đại nhân hạ cố đến tệ xá, quả khiến con rể cảm thấy vô cùng vinh dự.

- Nạp Lan tuy là con nuôi của ta, nhưng ta rất yêu mến nó, từ nay về sau, vợ chồng ân ái, chớ quên hiếu kính cha nuôi, anh phải hiểu được nỗi lòng yêu thương của ta đối với đứa con gái.

- Con rể đâu dám không nghe lời dạy bảo, từ nay con đã là con của cha rồi. Cả đời chỉ biết hiếu kính, ngoài ra không biết gì nữa.

- Trông anh phúc hậu thật thà, tất có đầy lòng hiếu thảo, nhất định là đứa con hiếu thảo của ta.

Lưu Quốc Thái mời Hòa Thân bước vào cổng. Khi đến bên cổng thứ hai, Hòa Thân lại nghĩ rằng, tại sao ta không lấy câu chuyện Triệu Cao chỉ hươu thành ngựa để phù phép hắn. Hòa Thân chỉ vào cái cây bên phía đông cửa hỏi:

- Đây là cây đào phải không?

Lưu Quốc Thái biết đó là cây táo, nghĩ bụng, lẽ nào Hòa Thân không phân biệt được cây đào với táo? Suy đi nghĩ lại rồi hiểu ra rằng: đây là lấy câu chuyện Triệu Cao chỉ hươu thành ngựa để phù phép ta. Năm nọ, Triệu Cao chỉ hươu nói là ngựa, ai trái ý Triệu Cao, nói hươu là hươu đều bị giết cả. Nghĩ đến đây, Quốc Thái đáp:

- Nhạc phụ đại nhân, đấy đúng là cây đào, mùa xuân năm nay ra quả trĩu cành, quả nào cũng vừa to vừa ngọt, rất ngon, con định đem biếu lão gia một làn, nhưng vì vừa qua một cơn gió lớn thổi qua làm rơi rụng tất cả xuống bùn, lão gia chưa được thưởng thức.

Hòa Thân nghĩ thầm, cậu này quả là thông minh, rồi chỉ vào cây đào phía bên tây nói:

- Đây là cây táo phải không?

- Nhạc phụ đại nhân, đó đúng là cây táo, mùa thu năm nay ra quả trĩu cành, quả nào cũng to cũng ngọt, rất ngon, con định đem biếu lão gia một làn, nào ngờ một cơn gió lớn thổi qua, làm rơi rụng tất cả xuống bùn, lão gia chưa được thưởng thức.

Hòa Thân nghĩ bụng: người ta cần phải là người như thế này, khi cần ngu đần thì phải ngu đần. Đang suy nghĩ thì đã đến nhà khác, ở đấy có một cây hòe, ngọn cây cao vút, Hòa Thân nghĩ, ta đùa với hắn một lần nữa xem hắn ứng phó thế nào, chỉ vào cây hòe:

- Đây là cây gì?

Quốc Thái thật sự bối rối, nghĩ không biết nói là cây gì cho phải.

Lúc này Nạp Lan đứng trước cửa nhà khách thấy Quốc Thái lúng túng, liền đằng hắng một tiếng, đặt tay trước bụng ra hiệu, bảo Quốc Thái nói là cây hòe. Quốc Thái nhận ra, nghĩ bụng: ta sao không đùa được với Hòa Thân, để tỏ lúc ta cần ngu đần thì nhất định ngu đần:

- Nhạc phụ đại nhân, đấy là cây vú sữa, hè năm nay ra nhiều quả trĩu cành, quả nào quả nấy cũng to cũng ngọt, rất ngon, con định đem biếu lão gia một làn, nào ngờ một trận gió lớn thổi qua, làm rơi rụng tất cả xuống đất bùn, lão gia chưa được thưởng thức.

Hòa Thân và Nạp Lan cười đến vỡ bụng.

Từ đó, Hòa Thân mỗi khi ở triều đình về đều đi ngang qua nhà Quốc Thái. Quốc Thái cũng thường vắng nhà vào lúc ấy. Nạp Lan và cha nuôi Hòa Thân mặc sức vui vẻ với nhau. Ở thư phòng nhà mình, Hòa Thân có phần dè dặt, không dám nói to không dám động mạnh. Còn ở đây, không ngại, có gì là hưởng tất. Cách năm ba hôm, Quốc Thái lại mang hàng da đến biếu Hòa Thân, toàn là những thứ quý hiếm như da báo, da tuyết báo, còn khó kiếm hơn là vàng ngọc.

Bỗng một hôm, Nạp Lan nói với Hòa Thân:

- Quốc Thái muốn làm quan, cha xem anh ấy có làm được không?

- Nếu nó thật sự muốn thì làm được, có gì mà được với không, nói được là được, không được cũng được; nói không được là không được, có được cũng không được.

Hòa Thân cho gọi Quốc Thái đến hỏi:

- Con muốn làm quan thật ư?

- Nhạc phụ đại nhân, đúng con muốn làm quan.

- Thế Nạp Lan có đi theo không?

- Tốt nhất là ở nhà trông nom cửa hàng, nhạc phụ đại nhân cũng ở gần đây, có thể cử người thỉnh thoảng đến trông nom hộ, nếu buôn có lãi thì tốt, bèn không thì nghỉ cũng được.

- Vậy thì được, cho anh làm huyện lệnh huyện Tứ Dương ở Sơn Đông. Anh chuẩn bị đi nhận chức.

- Cảm ơn nhạc phụ đại nhân. Quốc Thái quỳ xuống cúi đầu tạ ơn.

Hôm sau, Quốc Thái mang một số hàng da đến nhà nhạc phụ đại nhân sinh ra Nạp Lan, Tô Lăng A càng thích cậu con rể hơn trước kia, Quốc Thái quả là con người rất tinh, tầm mắt Hòa Thân còn cao hơn mọi người. Mỗi lần đến, Quốc Thái đều mang biếu những hàng da quý hiếm, khó kiếm trên đời, anh ta càng được săn đón. Tô Lăng A bảo Quốc Thái ngồi, Quốc Thái không ngồi, bước đến trước mặt Tô Lăng A, đứng nghiêm nói:

- Con sẽ đi làm quan, xin nhạc phụ đại nhân dạy bảo, chức quan ấy nên làm như thế nào?

- Năm đầu phải trong, năm thứ hai trong một nửa đục một nửa, năm thứ ba đục tất.

- Vậy làm sao con chịu đựng được ba năm!

- Làm quan bây giờ, khi đã ngồi lên ghế là phải vơ vét, không vơ vét thì ai chịu làm quan? Anh là người có triển vọng, nên nhẫn nhục chịu đựng thời gian, rồi sẽ được làm quan to, vơ vét được nhiều tiền của.

- Dẫu sao làm quan cũng hơn nghề mua bán của con, vơ tiền nhanh mà lại đơn giản.

- Anh đi, Nạp Lan cũng đi theo anh chứ? Ta rất thích nó, anh định sắp xếp thế nào?

- Trước hết con để Nạp Lan ở nhà trông nom việc mua bán. Hơn nữa Hòa đại nhân ở gần nhà con, có thể tuỳ lúc chăm nom hộ. Đợi một năm rưỡi nữa, khi nào Nạp Lan muốn đi, con sẽ đón cũng không muộn.

- Như vậy càng tốt.

Nhưng Nạp Lan không muốn xa Quốc Thái. Lần đầu gặp Quốc Thái, tuy thấy anh ta xấu xí, nhưng không ghét bỏ anh ta, ngược lại thấy đáng thương, sau đêm động phòng hoa chúc, Quốc Thái ôn hòa mềm mỏng, pha trò đùa nghịch gây khoái lạc cho cô ta hơn Hòa Thân. Suốt ngày, Quốc Thái luôn mồm cười nói, luôn luôn trêu đùa. Nạp Lan từ nhỏ đã thích náo động, phóng túng buông thả, Quốc Thái quả hợp khẩu vị cô ta. Nhưng Nạp Lan là cô gái thông minh, biết tiền đồ của cha và chồng đều nhờ vào cô ta, cô và cha nuôi tốt với nhau, mọi người đều sống bình an, hơn nữa Hòa Thân đúng là hơn hẳn Quốc Thái, việc phòng khuê ý vị kín đáo, vóc dáng càng dài càng khỏi phải nói, do đó tuy không muốn rời Quốc Thái, nhưng lại muốn Hòa Thân bên cạnh.

Lưu Quốc Thái vô cùng phấn khởi đến nhậm chức ở thành Tứ Dương. Tô Lăng A làm thị lang bộ Lại, không phải trở lại chốn hoang vu hẻo lánh trước đây, đúng là có tiền mua tiên cũng được, đúng là... mua tiên. Hòa Thân cho Tô Lăng A làm thị lang bộ Lại, vì ông cho rằng bộ Lại rất quan trọng, bộ Lại tuyển chọn văn nhân trong thiên hạ, quản lý các quan văn trong cả nước, phải có người thân tín của mình ở đấy, huống hồ Thượng thư bộ Lại, Vĩnh Quý tố giác việc của Hòa Thân đến nay vẫn còn ám ảnh trong tâm khảm, Hòa Thân ngẫm nghĩ: “Bộ Lại này, sớm muộn ta nắm”.

Một hôm Càn Long gọi Hòa Thân đến nói: “Cam Túc năm nào cũng xảy ra hạn hán, nhân dân nghèo khổ, Trẫm không an tâm. Nghe nói Cam Túc thu được sáu triệu thạch lương thực, Trẫm e rằng không đúng. Trẫm cho rằng việc này nghiêm trọng, khanh thay Trẫm đi tuần tra vùng Thiểm - Cam”. Hòa Thân lãnh mệnh đến Thiểm - Cam.

Càn Long năm thứ ba mươi chín, Tổng đốc Thiểm - Cam, Lặc Nhĩ Cẩn tâu lên Càn Long rằng: “Hai tỉnh Thiểm - Cam hàng năm không có mưa, hạn hán nhiều hơn nơi khác, đất đai cằn cỗi, nhân dân nghèo khổ quẫn bách, nhà không mái che, bếp không gạo nấu”. Càn Long xem bản tấu xong, lòng như lửa đốt, vua lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm trời, dân nghèo tất sinh gian tà. Đất nước ổn định gốc ở nhân dân. Do vậy đã nhanh chóng phát phiếu gạo cứu tế, và lệnh cho Tổng đốc Thiểm - Cam chăm lo công việc cai trị, phát chẩn cứu tế, phát triển sản xuất.

Không lâu, Lặc Nhĩ Cẩn lại tâu: “Thiểm - Cam hàng năm đại hán, nếu năm nào cũng dựa vào nhà nước, gây phiền hà đến tiền của nhà nước, thần thật áy náy xấu hổ, chi bằng cho Thiểm - Cam tuyển giám sinh, lệnh cho dân nộp thóc đậu để đổi lấy chức quốc tử giám sinh, được thi làm quan”. Ý định của Lặc Nhĩ Cẩn là các đồng sinh, tú tài có thể nộp lương thực cho nhà nước đổi lấy chức giám sinh như vậy khỏi dùng tiền của nhà nước để phát chẩn cứu tế. Sau này các giám sinh và chức quan có thể đổi bằng cách giao nộp lương thực. Càn Long phê chuẩn bản tấu của Lặc Nhĩ Cẩn, và điều Bố Chánh sứ tỉnh Triết Giang, Vương Đảm Vọng đến Thiểm - Cam chủ trì công việc đó.

Vì vậy, từ Càn Long năm thứ ba mươi chín bắt đầu có việc “tuyển giám”, chỉ trong ba năm, đã có mười lăm vạn giám sinh được tuyển theo kiểu quyên góp lương thực. Theo sổ sách, đã thu được hơn sáu triệu thạch lương thực. Từ đó về sau, năm nào Cam Túc cũng báo có hạn hán, để quyên góp lương thực cứu tế. Thực tế, hạn hán hàng năm là giả, các cấp quan lại từ Tổng đốc Lặc Nhĩ Cẩn, Bố chánh sứ Vương Đảm Vọng trở xuống cho đến các huyện lệnh châu phủ đều lấy danh nghĩa cứu tế nuốt chửng số “lương thực” tuyển giám. Từ khi có chuyện tuyển giám, quan lại các cấp tranh nhau vơ vét tiền bạc, trên dưới cấu kết, gọi là “quyên góp” nhưng thực tế là vơ vét.

Thậm chí, Bố Chánh sứ Vương Đảm Vọng cả gan che dấu Hoàng thượng, tâu lên Càn Long rằng: “Số lương thực tuyển giám trong mấy năm liền quá nhiều, kho tàng hiện có không đủ chứa, đề nghị lập thêm hai mươi sáu kho mới, tấu xin Hoàng thượng cấp tiền làm kho chứa”. Càn Long chuẩn y, lệnh cấp cho tỉnh Cam Túc mười sáu vạn lạng bạc để làm kho chứa. Thực ra, lương thực không có, làm kho chứa cái gì? Mười sáu vạn lạng bạc đó đều vào túi riêng tất.

Hòa Thân lãnh chỉ đến Cam Túc, kiểm tra sự tình “Giám lương”.

Lặc Nhĩ Cẩn vội truyền cho Vương Đảm Vọng và Tri phủ Lan Châu là Tưởng Toàn Địch đến, cùng nhau bàn bạc. Lặc Nhĩ Cẩn nói:

- Hoàng thượng đã phái Thượng thư bộ Hình là Viên Tôn Đồng, Tả thị lang bộ Hình là A Dương A đến đây kiểm tra một lần rồi, bây giờ cử Quân cơ đại thần Hòa Thân đến, xem ra Hoàng thượng có phần không an tâm với Cam Túc, vậy nên ứng phó thế nào đây?

Vương Đảm Vọng nói:

- Không có chó nào không ăn cứt, dê nào không ăn lúa non. Ví như Thượng thư bộ Hình, Viên Tôn Đồng, Thị lang A Dương A, chẳng phải tự cho là thanh cao ư? Nhưng cũng thấy tiền là híp mắt. Huống chi Hòa Thân, tôi biết rõ, con người này tham tài hiếu sắc, ham thích của quý, thậm chí đến mức nghiện rồi. Nếu chúng la vỗ béo ông ta, chẳng lo gì ông ta không vì chúng ta.

Thế là mọi người chia nhau lo liệu.

Hòa Thân vừa bước đến địa phận Cam Túc, đã có ngay huyện lệnh, tri phủ quỳ bái đón tiếp, hai bên đường đầy hoa, lại thêm mấy cổng chào màu sắc rực rỡ, cử hành nghi lễ đón tiếp đơn giản. Sau đó tiến về phía thành Lan Châu, trên đường đi qua hết phủ này đến huyện nọ, đâu đâu cũng tiền hô hậu ủng, nước trong rượu trắng, nhà cửa quét vôi trắng xoá, đương nhiên không thiếu những bữa ăn đầy sơn hào hải vị, những tặng phẩm như trân châu bảo ngọc. Hòa Thân gần đến thành Lan Châu, phía ngoài cửa đông thành đã dựng cổng chào màu sắc sặc sỡ, trên cửa thành cắm đầy cờ hoa, những tấm biểu ngữ trương lên, tung bay giữa trời xanh mây trắng: “Cung nghinh Hòa đại nhân đến tỉnh ta thị sát”, “Làm quan ban phước bốn phương”, “Phát chẩn cứu dân ơn vua to lớn”... Người đứng chật hai bên đường, tay cầm cờ hoa, hô to khẩu hiệu với nội dung như đã viết trên biểu ngữ.

Lặc Nhĩ Cẩn dẫn mấy trăm quan lại và thân hào bước lên tới trước chào hỏi: “Hòa đại nhân đi đường vất vả”. Hai người làm đại lễ chào nhau: lúc làm lễ, hai người đứng thẳng đối diện nhau, hai vai chạm nhau, trái trước phải sau; tay phải ôm eo lưng, tay trái vỗ lưng nhau, chạm mặt chạm cổ, cuối cùng chắp tay vấn an nhau. Lễ xong hai người nắm tay nhau bước đi. Lúc này một đội trống cơm tiến đến nhảy múa đón chào, tất cả đều y phục màu đen, đầu chít khăn trắng, thắt lưng màu hồng, tiếng trống vang lên nhịp nhàng tiết tấu bước nhảy uy phong lẫm liệt. Đội trống cơm đi qua, tiếp đến là một đoàn thiếu nữ xinh đẹp áo quần sặc sỡ đứng thành khối vuông, cất giọng hát khúc ương ca. Hòa Thân như lơ lửng bồng bềnh. Sau đội ương ca là đội hình vuông kèn sáo, nam thổi kèn nữ thổi sáo, duyên dáng phấn chấn, màu sắc rực rỡ. Lồng ngực Hòa Thân ưỡn cao, đầu ngẩng lên đầy thần khí, bước đi vững chắc. Ông cảm thấy mình oai phong làm sao, cao quý làm sao, vĩ đại làm sao. Lại đến cổng chào, ở đây một cái lễ đài cao được dựng lên bằng những khúc gỗ to, trên đài cờ bay phất phới. Hòa Thân cùng với Tổng đốc Lặc Nhĩ Cẩn, Bố chánh sứ Vương Đảm Vọng bước lên lễ đài. Vương Đảm Vọng chủ trì lễ đón tiếp, Lặc Nhĩ Cẩn đọc lời chúc mừng:

“Tôi thay mặt mấy chục triệu dân hai tỉnh Thiểm - Cam nhiệt liệt hoan nghênh Hòa đại nhân đến đây (phía dưới vỗ tay như sấm, chẳng khác nào mưa to gió lớn vượt biển cả, ngàn vạn tuấn mã băng qua sa mạc mênh mông). Hòa đại nhân lần này đến Thiểm - Cam, mang theo ân đức của Hoàng thượng, mang theo tấm lòng yêu thương của Hòa đại nhân, Hòa đại nhân tài trí, trung thành son sắc với Hoàng thượng, vì quốc gia cúc cung tận tuỵ, vì trăm họ mà dốc hết tâm huyết, thật là tấm gương quan trên yêu dân, đúng là cột trụ của triều đình. Thiểm - Cam chúng ta năm nào cũng gặp thiên tai, nhưng nhờ có Hòa đại nhân thương yêu trăm họ, một đại thần yêu thương dân chúng, Thiểm - Cam chúng ta mới vượt được tai nạn. Lần này, Hòa đại nhân không ngại vất vả, tự thân đến Thiểm - Cam thị sát mang đến cho Thiểm - Cam tôi niềm hạnh phúc, xin thay mặt trăm họ, và các tầng lớp dân chúng Thiểm - Cam một lần nữa nhiệt liệt hoan nghênh Hòa đại nhân đến đây!”

Tiếp theo, Hòa Thân phát biểu dài dài. Ông đứng trên đài cao, nhìn một lượt hàng ngũ quan lại phía dưới, rồi nhìn trăm họ dân chúng đứng dưới. Ông ta, lần đầu tiên thật sự và cụ thể thấy địa vị của mình được tôn sùng như thế nào. Ông nói:

“Các vị phụ lão hương thân, các vị quan chức địa phương, trước tiên tôi xin thành kính tấm lòng yêu quý và trung thành của các vị đối với Hoàng thượng (tiếng vỗ tay rào rào như ngàn vạn thác nước từ núi cao đổ xuống). Xin cám ơn sự tiếp đón thịnh tình của các vị! Hai tỉnh Thiểm - Cam, năm nào cũng hạn hán, trăm họ khổ sở, Hoàng thượng thương dân như con, triều đình cảm thương trăm họ. Lần này đến Thiểm - Cam, bản quan thấy khắp nơi, dưới sự cai trị cần mẫn của các quan, trăm họ an cư lạc nghiệp...”

Lặc Nhĩ Cẩn, Vương Đảm Vọng,.. nghe Hòa Thân nói như vậy khấp khởi mừng thầm.

Nghi lễ xong, Hòa Thân và Lặc Nhĩ Cẩn bỏ kiệu lên ngựa, sóng đôi vào thành.

Dẫn đầu là đội kỵ binh, tiếp đến là đội cờ quạt, rồi đội kèn tấu khúc nhạc hùng tráng, rồi đội sáo, đội cờ ngũ sắc, với những tấm biển mang chữ “Khâm sai” “Chẩn tế”, sau đó là Hòa Thân và Lặc Nhĩ Cẩn cưỡi ngựa đi theo. Sau hai người là các quan trực thuộc tỉnh và các quan phủ Lan Châu, tiếp đến là đội trống cơm, đội ương ca. Khắp phố treo đầy biểu ngữ màu sắc rực rỡ, hai bên đường là những dải lụa điều, những bó hoa tươi quần chúng đứng chào, nhà nhà treo đèn kết hoa, khắp nơi tưng bừng náo nhiệt.

Cam Túc tổ chức đại tiệc chào mừng Hòa Thân. Khách chủ vào tiệc, đọc chúc từ ngắn gọn, một trăm mâm tiệc bày ra khiến Hòa Thân cũng kinh ngạc, nhưng toàn là bướu lạc đà, chế biến thành nhiều món.

- Lặc Nhĩ Cẩn đại nhân, hàng năm ngài báo về triều đình, Thiểm - Cam hạn hán, nhưng bản quan xem ra, Thiểm - Cam khá giàu. Hòa Thân lên tiếng trước.

Lặc Nhĩ Cẩn nghĩ bụng: có thể qua bữa ăn này đổi trắng thay đen nên đáp ngay:

- Thiểm - Cam tuy năm nào cũng hạn hán, nhưng vì muốn tẩy trần cho Hòa đại nhân sau chặng đường vất vả, tạ ân Hòa đại nhân đã đem lòng thương yêu trăm họ ở hai tỉnh Thiểm - Cam, dẫu Thiểm - Cam có phung phí chút ít để bày tỏ tấm lòng, cũng là điều nên làm.

- Đây phải chẳng là, nên ăn mà không ăn là không đúng? Mọi người đều cười, Hòa Thân nói tiếp: - Ta không thích phô trương hình thức.

Lặc Nhĩ Cẩn, Vương Đảm Vọng nghĩ bụng: đúng là tham lam, vừa mới đến đã vòi quà cáp. Vương Đảm Vọng liền đáp:

- “Giám lương” trong toàn tỉnh đều đã chuẩn bị sẵn sàng, kính mời đại nhân kiểm tra nghiệm thu.

- Không nói việc công trên bàn tiệc. Nói xong cầm đũa lên: - Xin mời.

Tất cả các quan lớn bé trong tỉnh đều đến chúc rượu Hòa Thân, mời Hòa đại nhân về địa phương mình thị sát, đến chiều tối, thì tiệc xong. Lặc Nhĩ Cẩn nói: “Ca múa ở Thiểm - Cam chúng tôi không giống ở Trung Nguyên, Giang Nam, Quảng Đông. Mời đại nhân vào điện cùng thưởng thức” . Hòa Thân theo Lặc Nhĩ Cẩn, Vương Đảm Vọng bước vào đại điện, ngồi phía trên. Trước bàn Hòa Thân, một thiếu nữ đang quỳ một tay rót rượu, một tay nâng cốc mời rượu. Hòa Thân bảo lấy trà thay rượu. Phía sau Hòa Thân là hai thiếu nữ, bóp vai đấm lưng cho Hòa Thân. Giữa điện, ba thiếu nữ miền Tây múa điệu “phi thiên”, để hở cả rốn và bộ ngực nở nang. Cặp vú đồ sộ nhưng căng phồng không sệ, eo bụng tuy to khỏe nhưng rất linh hoạt. Vũ nữ mặc váy, đôi vai trần ngọc ngà quàng dải lụa màu, lượn bay theo điệu múa, như tượng gỗ đang luân chuyển, thân hình to béo nhưng mềm dẻo vô cùng, biểu diễn những động tác uốn éo vặn vẹo, tưởng chừng toàn thân đều là thịt không có xương. Càng hấp dẫn hơn, cặp mắt long lanh bên sóng mũi dọc dừa, chuyển động liên tục theo động tác tay chân... Hòa Thân trước nay chưa từng thấy điệu múa nào như vậy, không ngớt lời khen, tình dục dâng lên. Lặc Nhĩ Cẩn thấy thế, vẫy tay ra hiệu, vũ đạo âm nhạc đều dừng lại. Lặc Nhĩ Cẩn nói: “Đại nhân đi đường vất vả nên nghỉ sớm một tí”. Ba cô vũ nữ đưa Hòa Thân vào phòng trong.

Vào phòng ngủ, ba cô gái cúi người đứng nghiêm, Hòa Thân đang sốt ruột, thì thấy cửa trong tiến ra một thiếu nữ, da trắng như ngọc, từ từ hiện ra, ba cô vũ nữ kia còn kém xa, đôi mắt cô này long lanh sắc xuân, thân hình cao lớn đẫy đà. Ba cô vũ nữ thay áo quần cho Hòa Thân. Cô thiếu nữ kia cũng cởi cả áo quần, giang đôi cánh tay ôm chặt Hòa Thân vào lòng, đôi chân ngọc ngà kẹp chặt đôi chân Hòa Thân. Hòa Thân cảm thấy cả người cô ta nóng bỏng, lòng dạ khát khao vô hạn, đang muốn cử động, đột nhiên cô gái ôm bổng Hòa Thân đặt nằm lên giường. Thế là Hòa Thân đè lên tấm thân ngọc ngà của người đẹp, tựa như nằm trên chiếc đệm bông mềm mại láng mát...

Lần đầu được thưởng thức mùi vị của gái miền Tây, Hòa Thân vô cùng thỏa mãn. Hôm sau, lúc ăn sáng, cô gái đó, chân đeo lục lạc, lại đến múa, đẹp hơn ba cô vũ nữ múa điệu “phi thiên” tối qua. Thế là Hòa Thân còn đâu nghĩ đến việc đi kiểm tra, suốt hai ngày vui đùa với ả. Đến hôm thứ ba, gặp lại Lặc Nhĩ Cẩn và Vương Đảm Vọng. Vương Đảm Vọng nói:

- Đại nhân yêu thích mấy cô gái miền Tây đó như vậy, thuộc hạ đã chuẩn bị xe ngựa sẵn sàng, hôm nay đưa bốn cô ấy đến phủ. Thuộc hạ cho rằng hôm nay là tốt nhất.

- Không vội, không vội, để các cô ấy ở lại thêm mấy ngày.

- Đại nhân chỉ biết cô gái miền Tây, chứ chưa biết cô gái phương Tây, hấp dẫn hơn. Đại nhân để hạ quan đưa bốn cô gái ấy đi.

Tổng đốc, Bố Chánh sứ và Tri phủ đưa Hòa Thân đi xem sổ sách, và đến xem một kho thóc. Xem xong, Hòa Thân nói:

- Sổ sách rõ ràng, kho đầy thóc, rất tốt. Không biết dưới các châu huyện thế nào?

- Hạ quan cho rằng, đại nhân ở Lan Châu mấy ngày, giờ lại xuống đó không biết nên chăng? Vương Đảm Vọng nói.

- Thế cũng được. Hòa Thân đồng ý.

Tối hôm ấy, Vương Đảm Vọng thết tiệc đãi Hòa Thân. Hòa Thân đến dự, ngồi bên bàn tiệc, nghe giới thiệu các món ăn dưới đây mà tròn xoe mắt ếch:

“Bao tử thủy tinh, linh đài thất khổng, linh chi thái vấn, long nhãn trân châu, kim táo sao hồng, mũi kỳ lân hầm, nhung hươu hong, môi vượn nướng vàng, cúc hoa bách ngọc, tú cầu tơ vàng, bầu trăm hạt, gan rồng ướp rượu, hỉ vọng phong pha, thiên khai thái thương, trụ vàng cột ngọc, cát tường như ý, sợi ngọc điểm hồng, gân hươu hầm rượu, mắt hổ cắt lát, băng tuyết màu xanh, phước lộc đầy nhà, tuyết đả ngân hoa, trẻ mãi không già, phật đội trân chân, thiên ngọc kim đỉnh, lá vàng ngậm mây, quạt ngọc đón gió, vạn năm xanh biết, song long bảo châu, cổng bạc cột vàng, phú quý kim tiền...”

Vương Đảm Vọng thấy Hòa Thân không biết ăn các món ăn như thế nào, bèn nói:

- Đại nhân, “đây là đại tiệc toàn dê”, đặc sản của Cam Túc, tuy tên gọi không có một từ dê nào cả, nhưng mỗi món ăn đều là thịt dê cả đấy.

Nói xong, gắp cho Hòa Thân một món ăn: - Đây là món “thiên tầng thê tử”, làm từ xương mềm ở cổ họng con dê, đại nhân nếm thử xem sao?

- Khá, khá lắm, vừa dòn vừa mềm. Hòa Thân vừa nhai vừa khen.

- Đây là món “linh chi thái vấn”. Vương Đảm Vọng lại gắp một món khác và giới thiệu: - Món này là cục thịt nhỏ ở mũi con dê, là món ăn quý. Tương truyền Mao Tị Cương không những dùng gái đẹp nổi tiếng mà ăn uống cũng rất cầu kỳ. Có một lần ông ta tổ chức đại tiệc tại Thủy Hội Viên chiêu đãi các danh sĩ. Ông mời một bà đầu bếp nổi liếng ở kinh đến, hỏi bà ta cần những nguyên liệu gì. Bà ta đáp: tiệc có ba hạng, chủ nhân muốn loại nào? Mao Tị Cương hỏi, ba hạng khác nhau thế nào? Bà đáp: Loại một phải dùng năm trăm con dê, loại hai ba trăm, loại ba một trăm, các thứ khác cần gì lấy nấy. Mao Tị Cương cho rằng, loại một thì lãng phí, loại ba thì quá tồi nên bảo: loại hai là vừa. Theo yêu cầu của bà đầu bếp, dê và các vật phẩm khác được chuẩn bị sẵn. Mọi người đều muốn xem bà đầu bếp này làm thế nào. Đến ngày bà đến đúng hẹn, cùng đến với bà có hơn trăm người giúp việc Bà ăn mặc sang trọng, ngồi trên cao chỉ huy, mọi người vào bếp chuẩn bị dao thớt theo lệnh điều khiển. Ba trăm con dê, con nào cũng chỉ bị cắt một cục thịt ở dưới môi, các bộ phận khác đều vứt bỏ. Có người thấy lạ hỏi, bà ta đáp: vị ngon của dê, đều tập trung ở nơi này, các chỗ khác đều tanh hôi không dùng được. Nhưng cục thịt tròn ở đầu mút mũi con dê còn ngon hơn cả cục thịt dưới môi dê, món này rất quý.

Hòa Thân nghe nói, ngớ người ra một lúc, chỉ đến khi Tổng đốc Lặc Nhĩ Cẩn mời ông ăn, ông mới định thần lại. Một lát sau, ông ta hiểu rõ một số món ăn, “hỉ vọng phong pha” là thịt hai bên sườn mũi dê, “thiên khai thái thương” là hai dái tai con dê, “ẩm gián đài tử” là cục thịt dưới má con dê,...

Vương Đảm Vọng giới thiệu xong các món ăn thịt dê, rồi nâng cốc:

- Ở kinh đô chỉ có Tuyết Tửu là còn khả dĩ, đại nhân xem thứ rượu này, mùi thơm sực nức, trong suốt màu vàng, để dưới hầm trọn năm năm mới lấy ra.

- Ta cứ cho ở kinh đô phồn hoa không đâu sánh, thế mà đến đây mới biết, còn hào hoa hơn cả kinh đô, đi chuyến này không thiệt, cũng không thể nói là thiệt. Hòa Thân ngẫm nghĩ.

Tối hôm đó, yến tiệc, múa hát xong. Vương Đảm Vọng nói với Hòa Thân:

- Đại nhân từ xa đến, không có gì để tỏ lòng thành kính, vật trong hòm này, chỉ là chút lòng của Tổng đốc đại nhân và hạ quan.

- Sao có thể phiền hà đến hai vị đại nhân? Như vậy quả không dám.

- Vậy là đại nhân coi thường Tổng đốc đại nhân và hạ quan rồi.

- Thực là nhận thì hổ thẹn, không nhận thì bất kính.

Vương Đảm Vọng bảo mấy người khiêng hai cái hòm vào phòng Hòa Thân.

Hòa Thân bước vào phòng, vội mở hai cái hòm ra, há hốc mồm trợn tròn mắt. Trong hòm này có mười tám vị la hán bằng mã não, hòm kia mười tám vị la hán bằng vàng. Không nói đến giá trị của vàng và mã não, chỉ riêng nghệ thuật tạo hình, điêu khắc cũng cực kỳ tinh xảo: mười tám vị la hán, thần thái khác nhau, nét mặt cũng khác nhau, sinh động như thật.

Hòa Thân đang say mê các la hán trong hòm, một tiếng “Hòa đại nhân” vang lên làm ông bừng tỉnh. Ông quay đầu nhìn, thấy một thiếu nữ như thiên thần đứng cạnh một thị nữ, tóc vàng xoén, dày mềm mại, mặt trắng như ngọc, dáng vẻ thông minh, sóng mũi thanh hơi cao, gò má hơi nhô, trán rộng, mắt hơi sâu, con ngươi xanh biết như nước mùa thu, như trời xanh, như thảo nguyên, như rừng rậm, như thơ, như mộng, như mật ngọt, như hương thơm, như dục vọng, như nồng nhiệt, như trong trắng. Hòa Thân bị cuốn hút bởi cô gái trước mặt. Đây chắc là cô gái châu Âu đã được Vương Đảm Vọng tuyển chọn. Cô ta cởi váy, để lộ những đường nét tuyệt đẹp, làn da trắng như tuyết, khiến Hòa Thân mê mẩn, say đắm. Cặp vú ngọc ngà của cô ta cao tròn căng phồng hơn của Nạp Lan, đôi vai tròn lẳn của cô ta đẹp hơn nhiều của Nạp Lan, co lưng nhỏ nhắn mềm mại hơn của Nạp Lan, đôi chân của cô ta dài thon đều đặn, hai bàn tay nhỏ với mười ngón tay búp măng càng tăng thêm vẻ mềm dịu. Hòa Thân than thở: đời người như vậy đó, thật không uổng phí chuyến đi. Cô ta run rẩy đứng đấy. Hòa Thân kéo nhẹ cô ta, sợ làm rách da, nát thịt cô ta. Nào ngờ vừa mới lọt vào lòng Hòa Thân, cô ta còn khao khát hơn Nạp Lan. Đôi mắt nhắm lại, đôi môi điên cuồng hôn hít, đầu lưỡi mềm mại nhỏ nhắn đưa qua đưa lại trong mồm Hòa Thân, chuyển động cùng với đầu lưỡi Hòa Thân.

Hòa Thân lại mấy ngày liền không ra khỏi nhà, cảm thấy nơi đây là thần tiên, là địa linh nhân kiệt.

Hòa Thân ở trong phủ Vương Đảm Vọng ba ngày. Không ngờ ngày thứ ba, Tổng đốc Lặc Nhĩ Cẩn nói nhỏ với Hòa Thân rằng: “Trong phủ Vương đại nhân có một khanh lân (người hầu - ND) thực là “Thanh Liên” (hoa sen thanh khiết. Hai từ khanh lân và Thanh Liên, tiếng Trung phát âm giống nhau - ND) do Vương Đảm Vọng bỏ ra một vạn lạng bạc mua lại từ tay một lái buôn ở Tô Châu. Cô gái này đẹp tựa non nước Giang Nam, kiều diễm hơn cô gái châu Âu, giỏi ca hát đàn sáo”.

Hòa Thân nghe nói như mở cờ trong bụng.

Chiều đến, Vương Đảm Vọng mời cơm trên lầu. Bên ngoài là hồ nước xanh biếc, hoa sen sắp tan. Hòa Thân nói:

- Ta muốn thưởng thức hoa sen chớm nở, nhưng không ngờ không đúng lúc.

- Vương đại nhân lẽ nào không để Hòa đại nhân thưởng thức một khúc nhạc? Lặc Nhĩ Cẩn nói.

Vương Đảm Vọng do dự một lát rồi đứng dậy đi, sau đó trở về ngồi lại chỗ cũ. Hòa Thân nhìn thấy một cô gái theo sau Vương Đảm Vọng, tay cầm cây đàn che khuất nửa mặt, ngồi kề bên đàn. Ba vị mời rượu với nhau một lúc, Vương Đảm Vọng và Lặc Nhĩ Cẩn xin cáo lui.

Hòa Thân nhìn kỹ cô gái trước mặt, đẹp như đóa hoa sen, đang soi mình trên mặt nước xanh biếc. Nhìn dáng vẻ yểu điệu, nghe giọng hát du dương, tiếng đàn tì bà réo rắt của cô ta, tựa hồ đang tận hưởng cảnh đẹp của non nước Tô Châu.

Một đêm mây mưa trăng gió, đầu gối tay ấp. Ôm nàng vào lòng, Hòa Thân rủ rỉ bên tay nàng:

- Nàng đúng là một đóa hoa sen. “Thanh Liên”, cái tên này thật hợp với nàng.

- Nô tì chỉ là người hầu của dì Thanh Liên. Người xứ “Thanh Liên” cũng gọi dì là “khanh lân”. Ngài nhầm rồi.

Hòa Thân giật mình, ngẫm nghĩ, khanh lân này là cô gái thế nào nhỉ, như vậy hợp với Vương Đảm Vọng không? Cô ta phải là nghiêng nước nghiêng thành, hoa hờn nguyệt thẹn, chim sa cá lặn.

Từ đó, Hòa Thân tơ tưởng đến khanh lân.

Như vậy đó, Hòa Thân có thể tâu lên Hoàng thượng được những gì?

Lại ăn, lại chơi, lại lấy, vậy làm sao không bao che cho kẻ dưới !

Càn Long tuỵ là ông vua anh minh, nhưng những năm cuối đời, dần dần lẩm cẩm. Đây cũng là quy luật phổ biến của các vị vua Trung Quốc. Những năm cuối đời Đường Thái Tông bảo thủ, cố chấp, Đường Huyền Tông chút nữa thì để mất nước, Khang Hi thì mê muội trong việc chọn người. Ngoài ra, vua chúa trước nay luôn thích xa xỉ hưởng lạc, khoe khoang giàu có cường thịnh. Đó là tâm lý chung của vua chúa Trung Quốc. Một ông vua như Đường Thái Tông Lý Thế Dân, tuy sống trong yên ổn nhưng vẫn nghĩ đến lúc gian nguy, hiểu sâu sắc về đạo lý an nhàn thì mất nước, cũng thích xa hoa. Càn Long đã bảy mươi tuổi, tuy vẫn cố sức giữ gìn đất nước ổn định, nỗ lực vì sự nghiệp thống nhất cường thịnh của quốc gia, nhưng dục vọng xa hoa hưởng lạc cũng dần dần lớn lên. Càn Long vốn thích tuần du, săn bắn, sưu tập vật quí hiếm, đến khi tuổi già, càng say mê hơn. Nhưng hàng năm việc chi tiêu trong nội phủ cứ thiếu hụt, Càn Long cũng không dám mạnh tay mạnh chân. Đúng lúc ấy, Hòa Thân xuất hiện. Chỉ một năm sau khi Hòa Thân quản lý nội phủ, tình hình xoay chuyển. Hòa Thân làm thị lang bộ Hộ, kho bạc nhà nước tăng lên. Càn Long thấy Hòa Thân có năng lực tài chính, và sau đó không lâu giao chức thượng thư bộ Hộ cho ông ta.

Hòa Thân biết rõ, Càn Long rất thích phô trương sự hào hoa và khí thế Hoàng gia của một nước lớn hùng mạnh, muốn xa hoa nhưng sợ người ta cho là hoang phí, muốn hưởng thụ nhưng lại sợ người ta nói là tham lam hưởng lạc. Hơn nữa chiến tranh liên miên khiến Càn Long cảm thấy túng thiếu. Hòa Thân sau khi chủ trì Phủ nội vụ, liền tìm nhiều biện pháp để tăng ngân sách, làm cho túi tiền của Càn Long dần dần căng phồng lên. Đương nhiên ngân sách tăng thì Hòa Thân cũng béo theo. Buộc chặt Càn Long với mình lại, bảo đảm chắc chắn mình vô tội. Càn Long ban chỉ cấm cống nộp, Hòa Thân lại xúi dục các đốc phủ, các thương nhân cống nộp càng nhiều. Càn Long : ra lệnh không cần phô trương mỗi khi có việc riêng của mình, Hòa Thân lại lấy cớ xây dựng công trình cho Hoàng gia nên cần phải sang trọng, không được tạm bợ, cẩu thả. Hầu bao của Càn Long càng đầy, các công trình trong cung và vườn Viên Minh không ngừng mở rộng, mà lại tỏ rằng Càn Long tự nghiêm khắc với mình, là một vị vua nghiêm minh cần kiệm.

Một trong những cách thu được tiền nhiều nhất là “chế độ dùng tiền chuộc tội” do sáng kiến của Hòa Thân. Phàm quan chức nào có tội, đều có thể nộp tiền chuộc tội, khỏi bị phạt. Thực tế đây là một cách vơ vét biến tướng được Càn Long mặc nhiên cho phép Hòa Thân thi hành. Bạn nói xem, quan lại thần dân ai là người có tội, ai là người không có tội? Họ nói bạn có tội, thì họ có thể tìm ra tội của anh dù anh không có. Càn Long và Hòa Thân muốn lấy tiền dân nghèo không phải dễ; nhưng với các quan lại, tiền đầy thắt lưng, nếu buộc họ có tội, bị chém đầu, thì họ sẽ tranh nhau đem tiền nộp lên trên.

Hầu bao của Hoàng thượng đã căng lên, thì lại bàn đến chuyện đi tuần du Giang Nam.

Nếu nói Càn Long tuần du phương nam chỉ đơn thuần để du ngoạn hưởng lạc thì thật là sai lầm. “Trên có thiên đường, dưới có Tô - Hàng” . Không phải chỉ để nói núi non xinh đẹp, cảnh sắc mê người ở những nơi đó, điều quan trọng hơn là những nơi đó sản vật phong phú, nhân văn thịnh hành. Từ thời Tống - Minh trở lại, câu “Tô - Hàng thục, thiện hạ túc” (Tô Châu và Hàng Châu giàu có, mọi. người no ấm - ND) đã trở thành thành ngữ dân gian. Những nơi cuộc nam tuần đi qua như Giang - Triết, Trực Lệ, Sơn Đông, Lưỡng Hoài là những vựa thóc của Đại Thanh, là huyết mạch sống còn của Đại Thanh. Trong xã hội tự cấp tự túc, nông nghiệp là cái bảo đảm căn bản nhất cho sự ổn định của quốc gia. Nếu những nơi đó lũ lụt thường xuyên, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, lương thực trong cả nước sẽ thiếu hụt. Người ta thường nói: dân lấy ăn làm trời. Nếu lương thực thiếu, sẽ sinh ra gian tà, khiến xã hội không ổn định. Cho nên Càn Long đi nam tuần là để xem xét hệ thống sông rạch ở đó, nhằm chế ngự nạn lũ lụt, phát triển nông nghiệp. Việc phát triển nông nghiệp được bảo đảm, quốc gia mới có thể ổn định.

Điều thứ hai, Sơn Đông là quê hương của Khổng Tử, nam tuần tế viếng Khổng Tử không những nhằm đề cao tư tưởng nhân luân vua - cha, hơn nữa Khổng Tử là thủy tổ các văn nhân người Hán, qua đó có thế an lòng các văn nhân trong thiên hạ.

Càn Long đi nam tuần còn có mục đích khác là nhằm lấy lòng các nhân tài, thân sĩ ở Giang - Triết. Vùng Giang - Triết không chỉ là nơi nhân văn thịnh hành mà cũng là đất nổi tiếng chống Thanh. Qua chuyến nam tuần này có thể đè bẹp tinh thần chống Thanh, tạo dựng tình cảm dân tộc thống nhất Mãn - Hán.

Một vùng đất đai quan trọng như vậy, chẳng lẽ Càn Long không tự mình đi thị sát để tìm hiểu tình hình ư?

Hòa Thân hiểu rõ ý đồ này. Năm ấy Càn Long hỏi Hòa Thân phương sách trị nước. Hòa Thân tâu rõ những điều nói trên. Thực tế, Càn Long đã biết những điều đó rồi. Thế nhưng vì có một số người không thức thời khuyên ngăn Càn Long nam tuần, nói là ngân sách thiếu hụt, trăm họ cực khổ, Hoàng thượng lẽ nào không tức giận họ? Khi Hòa Thân dâng sớ khuyên đi nam tuần, Càn Long giao tất cả việc lớn bé trong cuộc đi nam tuần cho Hòa Thân lo liệu và để Hòa Thân hộ giá nam tuần.

Hòa Thân định đóng thuyền mới, nhưng Càn Long ra lệnh cứ dùng loại thuyền “an phước” đã dùng trong các chuyến nam tuần trước đây. Hòa Thân lại cho đóng nhiều long thuyền, neo đậu đầy sông, có đến mấy ngàn chiếc. Và truyền lệnh cho các đốc phủ, diêm chính, hà đốc,... xây dựng hoặc sửa chữa các hành cung. Họ và Hòa Thân cũng cùng một duộc, làm mấy công trình, vừa kiếm được tiền, vừa làm vừa lòng Hoàng thượng; nói một cách khác: vừa lòng Hoàng thượng vừa vơ được tiền, sao lại không làm. Rất nhanh chóng, đường thủy đã thông suốt, hành cung đã hoàn thành.

Năm Càn Long thứ bốn mươi bốn (1780), ngày mùng hai tháng giêng, Càn Long rời khỏi kinh đô, bắt đầu chuyến nam tuần lần thứ năm. Hòa Thân và vương công đại thần, vương công đài các Mông Cổ, quan viên Trực Lệ, quận vương đài các bốn bộ, thổ ti Tứ Xuyên... cùng đi hộ giá. Ai ai cũng đem lòng hâm mộ Hòa Thân, riêng chỉ có Hòa Thân mới được tùy ý tiếp cận Hoàng thượng, chỉ có Hòa Thân suốt ngày đi cạnh Hoàng thượng như hình với bóng, một bước không rời. Hoàng thượng đến đâu, từ đốc phủ trở xuống, đều quỳ đón, Hòa Thân đứng bên cạnh Càn Long, càng oai phong lẫm liệt. Những vật cung phụng của các nơi, đều do Hòa Thân giám sát, đều do Hòa Thân chuyển. Càn Long nam tuần nơi nào, Họa Thân kiểm tra nơi ấy.

Chuyến nam tuần lần này, Càn Long phấn khởi hơn bốn lần trước. Bốn lần trước, Càn Long tốn hết bốn mươi vạn lạng bạc. Lần này Phủ nội vụ chỉ chi một ít tiền cho việc ngự giá thường ngày, phần lớn tiền chi dùng là do Hòa Thân bỏ ra. Càn Long chẳng cần biết đấy là “lông dê này nhổ từ thân con dê”, và cũng không biết Hòa Thân, chỉ qua việc đóng long thuyền, hầu bao ông ta đã có được mấy mươi vạn bạc. Càn Long không cần biết không cần hỏi, chỉ cần ông không bỏ tiền ra là được.

Càn Long trong chuyến nam tuần lần này, tuy vẫn dùng thuyền đã sử dụng qua bốn lần trước đây, nhưng được sửa chữa trang hoàng cực đẹp. Càn Long rất đắc ý. Thuyền to thuyền nhỏ đi theo, kéo dài mấy dặm, cơ man thuyền bè màu sắc rực rỡ nối đuôi dọc sông. Đúng là khí thế Đại Thanh ta, hai bên bờ sông đầy những sân khấu, cổng chào, thảm đỏ trải dọc đường đi. Đúng là Đại Thanh ta phồn vinh, hàng vạn nam nữ thanh niên, ăn mặc đẹp, sắp hàng hai bên bờ sông, tay cầm dải lụa gọi là “râu rồng”, nam nữ ca hát đối đáp nhau, tiếng hát lanh lảnh vút tận trời xanh, con trai con gái Đại Thanh ta đông nhiều, hùng dũng, oai phong. Càn Long với tuổi bảy mươi nhìn thấy cảnh đó vô cùng hài lòng: Trẫm hơn hẳn Hán Võ Đường Tông, không kém Hoàng tổ Khang Hy.

Càn Long nam tuần, khi đến Sơn Đông, bái yết Thái Sơn cúng tế Khổng lâm, Khổng miếu, viếng bái Khổng phủ, bày tỏ tôn sư trọng đạo, thực hiện nhân chính, thi hành giáo hóa. Sau đó, đi giữa hai hàng tùng bách xanh rì, nghe tiếng suối reo đâu đó, và một dòng nước suối từ trên khe núi đổ xuống, một tia nắng xuyên qua ngọn cây chiếu xuống, Càn Long bất giác thốt ra: “Cảnh đẹp thay!” và đọc ngay câu thơ của Vương Hỗ Na được mọi người khen hay: “Minh nguyệt tùng gian chiếu, thanh tuyền thạch thượng lưu (tạm dịch: ánh trăng xen giữa rừng tùng, băng qua núi đá một dòng suối trong - ND) và nói: Trong tranh có thơ, trong thơ có tranh, nhưng ta thấy thơ của ông ta hơi buồn, không giống ở đây, cảnh vật tươi đẹp, ánh nắng chói chang, chiếu xuyên giữa hàng tùng bách, nước suối trong vắt, chảy qua những tảng đá xám xanh. Đúng là cảnh như vẽ.

Hòa Thân nói: “Phía trước là hành cung, huyện lệnh Tứ Dương là Lưu Quốc Thái, đã vẽ sơ đồ hành cung cho thần xem, thực là thần tiên. Bây giờ chưa đến hành cung, đang ở dưới hàng tùng xanh bách biếc, nước trong đá xanh, khiến người ta vô cùng lưu luyến, đến hành cung, cảnh sắc nhất định càng quyến rũ hơn”.

Đang nói thì trước mặt đã hiện ra một cảnh đẹp như tranh, tựa hồ đang bước vào động tiên. Chỉ nhìn thấy mấy mươi dòng suối dọc ngang đan chéo, quanh co uốn khúc, có dòng chạy qua rừng tùng bách, có dòng luồn qua núi đá lúc ẩn lúc hiện; cầu gỗ khắp nơi, nối liền các con đường nhỏ vòng vèo quanh co, có đoạn mất hút sau cầu, có đoạn bị núi che khuất; phóng mắt nhìn về phương nam, đồi núi nhấp nhô cao vút tầng mây, vầng dương sáng chói chiếu rọi bốn phương. Bên kia dãy núi mờ ảo, ánh lên một dải sông đang vươn tới nơi xa xôi mênh mông bát ngát.

Hòa Thân đưa Càn Long bước lên một nhà thủy tạ hình bát giác, trông như đóa hoa sen treo ngược, dưới lầu nước trong như gương, soi thấy bóng người, đáy nước một lớp đá sỏi to nhỏ hình trứng ngỗng, óng ánh năm màu. Càn Long hỏi:

- Nhà thủy tạ này tên gì?

- Xin Hoàng thượng đặt tên. Hòa Thân tâu.

- Cầm bút lại đây?

Hòa Thân mài mực. Càn Long viết: “Kính Lan Tạ”.

Hòa Thân tâu:

- Nơi đây có mấy mươi dòng suối to nhỏ, tụ hội, đan chéo dọc ngang, nên gọi Tuyền Lâm (rừng suối - ND).

Phía trước mấy dòng suối nhỏ, bao quanh một cái lầu con, ánh nắng long lanh từ dòng suối phản chiếu lên cả trong lẫn ngoài lầu, Càn Long nói: “Hoa viên không có hơi hướng núi non đồng ruộng, như người đẹp không có tinh thần tình cảm. Ở đây mới cảm nhận được vườn hoa cây cảnh của đô thành, thực tế là những đóa hoa thêu trên lụa là, có màu sắc nhưng chẳng có mùi thơm”. Trưa đó ăn cơm ngay tại lầu. Cơm xong, Càn Long nói: “Huyện Tứ Dương xây vườn hoa cây cảnh này giữa núi non đồng ruộng, có hồn núi, có tình sông, chắc huyện lệnh Tứ Dương phải là người rất tâm lý hiểu đời, truyền cho ông ta đến yết kiến”. Hòa Thân vội vàng truyền cho huyện lệnh Tứ Dương là Lưu Quốc Thái đến.

Quốc Thái đến huyện Tứ Dương không bao lâu nhận được thư của Hòa Thân, viết rằng: “Hoàng thượng nam tuần, sẽ đi tế Khổng Tử, sau đó đi qua địa giới huyện Tứ Dương, cách đông nam thành huyện năm mươi dặm, nơi ấy có Tuyền Lâm, nên xây dựng hành cung tại đó, đợi Hoàng thượng đến. Ta sẽ đến cùng anh vạch kế hoạch xây dựng. Nạp Lan bình yên, mong anh thăng tiến, việc nhà, ta đã sắp xếp”.

Quốc Thái khấu đầu lạy bức thư: “Ông là cha tôi, cha thân yêu của tôi”. Lòng này trong sáng như gương. Người tiền nhiệm tham lam, năm nay lại mất mùa, hiện nay Tứ Dương đang đói. Quốc Thái nghĩ: Muốn xây dựng vườn hoa cây cảnh ở đó, lấy tiền ở đâu? Sau một ngày suy nghĩ, cuối cùng nhớ ra câu danh ngôn: “Thả con tôm tép bắt con cá chép”. Giống như câu cá, nếu không có mồi thì làm sao có cá cắn câu, nên nghĩ ra một cách câu con cá lớn.

Càn Long tưởng tượng, viên huyện lệnh Tứ Dương này chắc phải là con người tương tự Hòa Thân, cao to, tuấn tú, nho nhã. Nào ngờ, khi nhìn thấy Quốc Thái, đầu to tai lớn, bụng phệ, eo phì, đần độn. Nhưng Càn Long hết sức kinh dị, thấy động tác quỳ của Quốc Thái nhanh nhẹn khéo léo, thật là khó tưởng tượng.

- Huyện lệnh Tứ Dương Lưu Quốc Thái bái kiến Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!

- Bình thân! Càn Long truyền.

Quốc Thái nhanh nhẹn đứng dậy, đến nỗi không ai biết rõ Quốc Thái đứng lên như thế nào. Càn Long nhìn Quốc Thái, ngạc nhiên hồi lâu. Bỗng Quốc Thái tâu:

- Nô tài biết Hoàng thượng đang nghĩ gì.

- Ngươi nói xem nào.

- Hoàng thượng đang nghĩ rằng: tay này thoạt nhìn tướng mạo chẳng ra làm sao, nhưng nhìn kỹ, không như lúc mới đầu.

Càn Long cả cười, mọi người trong phòng cùng cười vang. Cười xong lại xem Lưu Quốc Thái bày trò khôi hài, không một ai có thể nhịn cười được và cũng không thấy ông ta xấu xí. Càn Long truyền:

- Nhìn dáng của ngươi, béo phì khác thường, nhưng động tác nhanh nhẹn vô cùng, Trẫm quả thật kinh ngạc.

- Phụ thân của nô tài không biết chữ, nhưng muốn nô tài có học vấn. Rồi có người tìm gặp phụ thân nô tài, nói ông ta là người có học vấn. Chuyện trò một lúc, phụ thân nô tài phục ông ta sát đất. Thế là ông ta trở thành thầy của nô tài. Ai biết đâu, ngoài việc đọc sách viết chữ, ông ta còn dạy nô tài một ít trò khôi hài để mua vui thiên hạ. Ông vốn là một nghệ nhân khôi hài trên Thiên Kiều, thấy nô tài có khiếu khôi hài, nên dạy cho nô tài. Sau đó, phụ thân nô tài biết và cấm nhưng nô tài rất thích trò này. Sau khi đậu tú tài, nô tài vẫn không quên việc đèn sách. Có một thái giám bảo nô tài: Giữa nơi sơn dã này, không có gì làm vui, anh hãy biểu diễn vài động tác, cho lão cười vui tí nào.

- Như vậy càng tốt. Hòa Thân nói.

Quốc Thái bèn trổ tài, nói thổ ngữ địa phương, đóng giả kẻ chợ, khiến mọi người thán phục, ôm bụng cười.

Một vị học chính Trực Lệ, trông Quốc Thái chướng tai gai mắt, bèn hỏi:

- Xin huyện lệnh Tứ Dương cho biết, bình thường ngài thích thứ gì nhất?

- Thích nhất là tiền. Quốc Thái đáp

- Thánh nhân nói: kẻ tiểu nhân ham lợi, người quân tử ham nghĩa. Ngài là quan phụ mẫu sao lại ham lợi mà quên nghĩa?

- Hạ quan ham lợi vì hạ quan thiếu lợi, người ta ai cũng vậy, đi tìm cái họ cần, cái họ thiếu, anh ham “nghĩa”, chứng tỏ anh thiếu “nghĩa”.

Vị học chính nọ cứng mồm không nói được gì nữa.

Càn Long nghĩ thầm, anh ta bề ngoài trông có vẻ ngu đần, nhưng không phải là kẻ bất tài, động tác linh hoạt, tư duy nhạy bén, ta hãy thử anh ta xem sao. Vừa nghĩ vậy, chợt thấy trong bữa ăn trưa có hai đĩa đậu rất ngon, liền nói:

- Bữa ăn trưa của Trẫm có hai đĩa đậu xanh, mùi vị không chê vào đâu được, vậy huyện lệnh Tứ Dương hãy thử đối câu: “Lưỡng điệp đậu” (hai đĩa đậu - ND).

- “Nhất âu du” (một lọ dầu - ND). Quốc Thái đối ngay.

- Trẫm ra câu: “Lâm gian lưỡng điệp đấu (Giữa rừng hai bướm đấu - ND).

- Nô tài xin đối: “Thủy thượng nhất âu du” (trên (mặt) nước một (hải) âu bay - ND).

Càn Long cười to:

- Hai câu trên ngươi đối đúng, vậy ta ra câu nữa: “Nhân vân, nam phương đa sơn đa thủy đa tài tử” (Họ nói miền nam nhiều núi nhiều sông nhiều người tài - ND).

Quốc Thái đối ngay:

- “Ngã thuyết, thử quốc nhất thiên nhất địa nhất thánh nhân” (Thần nói nước này một trời một đất một vị vua - ND)

Mọi người kinh ngạc, một con người trông ngu đần như vậy sao lại tài giỏi đến thế? Hòa Thân xiết đỗi vui mừng. Riêng vị học chính vừa rồi cảm thấy bẽ mặt nên tìm cách nói lại:

- Huyện lệnh Tứ Dương, thực tài trí nhanh nhẹn, hạ quan có một câu đối, xin Huyện lệnh Tứ Dương đối xem:

“Sắc nan” (khó thật. Từ “sắc” có nghĩa là màu sắc, nét mặt - ND).

“Dung dị” (Dễ thôi. Từ “dung” có nghĩa là dung nhan, vẻ mặt - ND). Quốc Thái đáp.

Chờ một lát, vị học chính nọ hỏi:

- Ngài nói dễ thôi, sao đến bây giờ vẫn chưa đối được?

Mọi người cười ồ. Vị học chính thấy mọi người cười mình, lúc ấy mới hiểu ra, thẹn đỏ mặt.

- Ở đây chuyện gẫu chi bằng dạo xem cảnh đẹp. Hòa Thân đề nghị.

Mọi người theo Càn Long bước vào rừng.

Càn Long nhìn thấy cảnh nơi đây, vô cùng thích thú, một buổi chiều mà viết khá nhiều hoành phi như: Cận Thánh Cự, Tại Xuyên Xứ, Cửu Khúc Lưu, Liễu Yến Ba, Cổ Âm Đường. Làm rất nhiều thơ cùng xướng họa với các văn nhân tùy tùng. Gần tối, leo lên cầu thang Thanh Vân, vào một cái lầu trên cao. Ở đấy chỉ thấy mây trắng trôi lững lờ, sương mù bao phủ, Càn Long truyền mang bút đến viết cho lầu này cái tên: “Hoành Vân Quán”. Tối đó, Càn Long nghỉ ngay tại nơi này.

Không ngờ trên đỉnh núi vùng sơn dã này, bữa cơm tối dọn cho Hoàng thượng lại có món ăn cực sang, “long pháo phong” hầm, đặc sản quí hiếm của địa phương. Càn Long vui thích nói:

- Xem ra Huyện lệnh Tứ Dương có thể làm Tri phủ.

- Vậy để nô tài xem có nơi nào khuyết. Hòa Thân tâu.

Hôm sau ăn sáng xong, Càn Long bước ra khỏi Hoành Vân Quán, men theo con đường giữa núi, đi về hướng đông, đến một cái đình con. Lúc này, mặt trời vừa ló lên khỏi dãy núi đối diện. Dãy núi như bồng bềnh chập chờn giữa biển mây, lúc ẩn lúc hiện. Càn Long khom người nhìn, mây mù mờ mịt, nhìn xuống không thấy đất. Cái đình như treo lơ lửng giữa vách núi, bên phải một cây thông nhô ra từ sườn núi chênh vênh, cành khô không khốc, ngọn chĩa lên trời xanh, lẫn trong biển mây, khiến người ta cảm thấy trời cao đất rộng, vũ trụ bao la. Càn Long đang chìm đắm trong buổi sáng trong lành tĩnh mịch, bỗng một trận gió núi thổi qua, từng cánh hoa đỏ tía lìa cành rơi lả tả. Ở chốn núi cao này mai hồng nở muộn. Quay mình định bước ra khỏi đình, nhìn thấy cây đào trước mặt, cành đầy nụ hoa, Càn Long liền gọi đình này là “Hồng Vũ Đình” và làm một bài thơ như sau:

Hoa ngậm đầy cành giữa sáng xuân,

Trên đường tuần thú đất Giang Nam

Cảnh đẹp nào ai dám hững hờ,

Nhác thấy mưa rơi bước nhọc nhằn.

Nguyên văn:

“Xuân hiểu phi chi bao thượng hàm

Toán tình tuần tất chỉ Giang Nam

Mạn ngôn giai cảnh thành cô phụ

Khán đáo phi phi chuyển bất kham”

Ở Khổng phủ tại Thái Sơn, Càn Long không quyến luyến, nhưng đến chốn hành cung núi non hoang dại này, thì lưu luyến không muốn rời. Cuối cùng Càn Long nghĩ đến Giang Nam. Hôm sau, lại lên đường xuống phương nam. Không ngờ vừa ra đến đường cái lớn, thấy hàng vạn người quỳ mọp hai bên dọc đường. Thị vệ đến báo: “Dân chúng nghe nói Thanh Thiên huyện lệnh Lưu Quốc Thái sắp đi, nên quỳ xin lưu lại”. Càn Long muốn kiểm tra kỹ, cho phép mấy người già cả đến hỏi chuyện.

Nguyên là, người tiền nhiệm Lưu Quốc Thái là một kẻ tham lam vô độ, chỉ trong mấy năm đã vơ vét sạch của cải huyện Tứ Dương lại thêm thiên tai nặng nề, đến khi Lưu Quốc Thái đến thay, dân đói đã ăn sạch cả rau cỏ hoang dại. Lúc ấy, được thư Hòa Thân cho biết cần xây hành cung, phí tổn rất nhiều. Lưu Quốc Thái suy nghĩ một ngày, nghiến răng tự bỏ tiền túi xây hành cung tại Tuyền Lâm. Ai đến làm, đều được cho ăn, cả huyện không ai là không biết cụ quan huyện đã nghĩ cách cứu sống họ. Sau đó không lâu, lại có một chuyện khác xảy ra khiến ai cũng vỗ tay vui mừng gọi Quốc Thái là Lưu Thanh Thiên.

Trong thành huyện Tứ Dương có tên vô lại Tống Đường, ỷ thế có người anh rể là Tuần phủ trong tỉnh, thường thường lôi kéo bọn lưu manh côn đồ đi cướp phá đánh đập dân chúng trong thành. Lợi dụng năm mất mùa đói kém, đầu cơ tích trữ, đổi nửa đấu thóc lấy một cô gái. Nào ngờ đang lúc phấn khởi vui mừng như vậy thì lại đụng đầu với Tri huyện mới đến là Lưu Quốc Thái, nhân dịp xây dựng hành cung, phát chẩn cứu tế khiến Tống Đường mất đường làm giàu.

Một hôm, Tống Đường dẫn mấy tên côn đồ, vừa thấy kiệu của Tri huyện, bèn thả ngựa chạy qua, tông đổ kiệu. Lưu Quốc Thái cả giận, lệnh cho nha dịch bắt hỏi. Viên đầu sai nhắc nhở Tri huyện:

- Anh ta là em vợ của Tuần phủ.

- Bất kể hắn là ai, phạm pháp thì bắt giam.

Tống Đường bị giam vào ngục. Mấy tên côn đồ bị xét hỏi. Lúc ấy Tuần phủ ra lệnh thả. Quốc Thái đập bàn quát:

- Bất kể ông là ai, dám chống pháp luật ư? Để xem quyền to hay pháp luật to?

Và bất chấp cả Tuần phủ, Quốc Thái kiểm tra việc đầu cơ tích trữ của Tống Đường, mở kho thóc của hắn, bán hạ giá, thả kẻ ở người hầu bị cưỡng bức về nhà. Từ đó dân chúng đều gọi Quốc Thái là Lưu Thanh Thiên.

Lưu Thanh Thiên ít khi dùng kiệu, thường đến nhà dân, thấy ai nghèo đói thì cho chút ít tiền. Có một lần, Lưu Thanh Thiên thấy một em bé rét đáng thương, liền cởi chiếc áo của mình mặc cho em bé.

Dân chúng còn kể nhiều chuyện về Lưu Thanh Thiên.

Tuần phủ Sơn Đông theo hộ giá Hoàng thượng, sợ xanh tái mặt. Hòa Thân mừng thầm: Lưu Quốc Thái quả là người tài hiếm có.

Không bao lâu thánh giá đã đến Dương Châu. Mỗi lần nam tuần, Càn Long không thể bỏ qua nơi phồn hoa đô hội xưa nay này. Đến đâu có cảnh đẹp là cầm bút đặt tên cho nơi ấy, ví như: Tuệ Nhân Tự, Ỷ Hồng Viên, Chí Giai Lâu, Di Tình Đường, Thú Viên, Thủy Trúc Cư, Pháp Tịnh Trị... Càn Long còn làm nhiều thơ ca ngợi Hoài Đông là thắng cảnh số một.

Lần này là lần thứ năm Dương Châu đón tiếp Hoàng thượng, nên trang hoàng đẹp đẽ hơn những lần trước nhiều. Phố ngõ lớn nhỏ trong thành đều trải thảm, hai bên dọc đường treo toàn lụa đỏ. Hành cung cho Hoàng thượng lần này so với trước sang trọng, lộng lẫy hơn. Trong hành cung, mới xây hai cái hồ lớn với ngọn núi giả đắp bằng đá Thái Hồ, khắp nơi trồng trúc liễu cỏ hoa, thể hiện vẻ đẹp đặc sắc của vườn hoa cây cảnh Giang Nam.

Hành cung có ba tòa nhà trước, giữa, sau, bao gồm phòng ăn, phòng vẽ, sân khấu, khán đài, xem kịch, kiều đình, áp khẩu đình, đình lang phòng, yết sơn lâu, tây bản phòng, tiễn đình, vạn tự đình, ngọa bài đình, yết sơn môn, thùy hoa môn, hậu chiếu phòng... đình đài lầu các mấy trăm gian.

Trong hành cung trưng bày những cổ vật quý hiếm, cây cỏ hoa lá đá, thư tịch tranh vẽ, đồ sứ, lư hương, bức trướng... cực kỳ lộng lẫy, kể cả ống nhổ cũng làm bằng bạc chạm khắc hoa văn rất khéo.

Bữa ăn của Hoàng thượng, có món còn quý ngon hơn ở kinh đô. Mỗi bữa ăn gồm có một đĩa thịt ức lợn lấy từ mười con lợn sữa, một đĩa bàn chân ngỗng của mười con ngỗng, một đĩa u lạc đà lấy từ bốn năm con lạc đà, một đĩa lưỡi gà của mấy trăm con gà. Rất nhiều món không thể kể hết như bò, dê, sữa, óc khỉ, yến sào...

Cách chế biến món ăn rất cầu kỳ, ví dụ cách chế món bàn chân ngỗng và u lạc đà.

Món bàn chân ngỗng: đặt chiếc lồng sắt lên mặt đất phía dưới dùng than đốt nóng, rồi lùa ngỗng vào lồng sắt đang nóng, để cho nó bay nhảy vùng vẫy trong đó, độ một lúc, ngỗng chết, tất cả tinh hoa của ngỗng đều tập trung vào hai bàn chân, cắt lấy bàn chân, vứt bỏ các phần còn lại.

Món u lạc đà: chọn con lạc đà mạnh khỏe, buộc chặt vào cột, tưới nước sôi lên lưng lạc đà, sao cho nó chết ngay tức khắc, tất cả tinh hoa của lạc đà tập trung lên u, cắt lấy u, vứt bỏ các phần còn lại.

Càn Long thấy Dương Châu hào hoa hơn trước nhiều, mặt mày rạng rỡ, bèn hạ chiếu mở tiệc tại hành cung đãi các nhà buôn muối và ban thưởng mỗi người một đỉnh bạc, bởi vì hành cung được xây dựng là do tiền bạc quyên góp của các thương nhân.

Tiệc xong. Hòa Thân gọi quan phụ trách Sở muối Lưỡng Hoài là Chinh Đoan đến hỏi:

- Dương Châu này được phồn hoa công ngài không nhỏ.

- Nhờ đại nhân nâng đỡ, hạ quan đâu dám không cố gắng, Hòa đại nhân thấy chỗ nào thiếu sót, xin chỉ bảo hạ quan.

- Dương Châu tiêu xài thế này, nhưng cũng phải giao nộp đầy đủ số bạc còn nợ của Phủ nội vụ vào kho nhà nước.

- Không biết ý đại nhân muốn nói về việc gì, chứ số bạc năm nay đã nộp đủ rồi cơ mà?

- Chinh Đoan to gan thật, chỉ nộp có hai mươi vạn lạng, định qua mặt ta ư?

Chinh Đoan nghĩ bụng: Năm nay chỉ nộp cho Phủ nội vụ mười lăm vạn lạng, số còn lại định khấu trừ vào tiền chi phí xây dựng hành cung chuẩn bị Hoàng thượng nam tuần, sao lại nói ta nộp hai mươi vạn lạng? Chinh Đoan bỗng giật mình: đúng rồi, đây là trách ta đưa cho ông ta quá ít. Năm nay sinh nhật của phu nhân Hòa Thân, ta gửi biếu hai mươi vạn lạng, bị ông ta từ chối. Hai mươi vạn lạng mà ông ta nói, chính là nói số tiền biếu đó. Nghĩ vậy, Chinh Đoan khom người cúi đầu thưa:

- Nô tài đáng chết, nô tài đáng chết. Quả thật trong một lúc không thể thu được khoản tiền lớn như vậy.

- Đừng có vờ vịt! Ít nhất cũng phải bốn mươi vạn lạng. Anh có biết cái ghế của anh do đâu mà có?

Chinh Đoan vội quỳ xuống:

- Đại nhân tha thứ cho kẻ tiểu nhân này. Đại nhân một mực yêu thương kẻ tiểu nhân, kẻ tiểu nhân đâu dám không hiếu kính cụ lớn? Quả thực, trước mắt đang túng tiền, chưa có ngay được, khi quay về sẽ thu xếp xin đại nhân yên tâm. Hạ quan xin toàn tâm toàn ý hiếu kính cụ lớn.

- Mỗi năm ngoài số bạc phải nộp cho Phủ nội vụ và số nợ thiếu, còn phải nộp cho nhà nước bao nhiêu?

Chinh Đoan biết tỏng, hai chữ “nhà nước” là ám chỉ nhà Hòa Thân, nên nói ngay:

- Mỗi năm xin nộp mười vạn lạng.

- Thế thì được. Chúng ta đã quen biết nhau từ lâu, việc của anh cũng là việc của ta, việc của ta cũng là việc của anh, hãy đứng dậy đi.

- Cụ lớn tha thứ cho hạ quan, hạ quan mới đứng dậy.

- Ta tha thứ. Hãy đứng dậy.

Chinh Đoan đứng dậy. Hòa Thân còn trách mắng:

- Số bạc thiếu phải nộp hơn mười triệu lạng. Đã nộp được bao nhiêu rồi? Ai miễn giảm cho anh? Anh tự biết, anh đã nhận được bao nhiêu, anh biết rõ, tôi biết rõ. Nếu Hoàng thượng hỏi việc này, biết được sẽ tức giận đấy!

Chinh Đoan chỉ còn vâng vâng dạ dạ.

“Số bạc thiếu hơn mười triệu lạng” mà Hòa Thân nói, là nói về một vụ án trước đây vào năm Càn Long thứ ba mươi ba.

Từ Càn Long năm thứ mười một đến năm thứ ba mươi hai, Sở muối Lưỡng Hoài phải nộp bốn triệu chín trăm ngàn lạng bạc, tính cả gốc lẫn lãi là hơn mười triệu lạng, nhưng các quan phụ trách Sở muối lúc ấy lờ đi không nộp, sau bị phát hiện, nên đã cùng với một số quan lại có liên quan bị nghiêm trị. Quan phụ trách Sở muối kế nhiệm tìm đủ lý do để nộp ít đi. Đến Càn Long năm thứ bốn mươi tư, tức trong khoảng thời gian mười mấy năm, chỉ nộp có hơn sáu triệu lạng. Sở muối Lưỡng Hoài còn thiếu của Phủ nội vụ hơn năm triệu lạng. Sau khi vào nhận chức ở Phủ nội vụ Hòa Thân thấy Sở muối Lưỡng Hoài là nơi béo bở nên tâu lên Hoàng thượng để Chinh Đoan thay với lý do những người tiền nhiệm Sở muối bất lực không thu giao nộp đủ. Thế là Hòa Thân đòi Chinh Đoan hối lộ.

Dương Châu nằm dọc con sông lớn, là chốt giao thông đường sông bắc - nam, từ xưa đã là nơi đô hội nổi tiếng bên tả ngạn sông Hoài. Thời Càn Long là thời phồn vinh nhất của Dương Châu. Về mặt buôn bán, hàng hóa ở đây tiêu thụ rất dễ dàng. Vải vóc của Vô Tích đưa đến đây, chỉ một năm, không dưới mấy chục triệu. Trong thành Dương Châu, tập trung nhiều tư bản tiền tệ cỡ lớn, trong đó chủ yếu nhất là tư bản nghề muối; có mấy trăm nhà buôn Sơn Tây, An Huy vốn có đến bảy tám chục triệu lạng bạc.

Hòa Thân là một tay giỏi lý tài, thấy Dương Châu là nơi phần vinh như vậy, nghề buôn muối phát đạt như thế, chê tiền hiếu kính của Chinh Đoan cho mình quá ít nên nắn gân ông ta xem sao. Chinh Đoan nghe nhắc đến chuyện cũ, làm sao mà không hiểu, Hòa Thân bất cứ lúc nào cũng có thể cách chức ông ta, như vậy giấc mơ làm giàu của ông ta sẽ phá sản, tiền bạc tuôn chảy bất tận như dòng nước sông Hoài sẽ rơi vào tay người khác. Chinh Đoan nghĩ, tiền bạc cống nộp cho Hòa Thân chẳng qua cũng là những sợi lông trên thân dê mà thôi. Nếu Hòa Thân truy cứu việc trước đây, vẫn đòi nộp trả Phủ nội vụ số tiền trước kia, mình cũng chẳng kiếm chác được gì, nếu Hòa Thân không đòi, mình còn kiếm chác được. Nghĩ vậy Chinh Đoan nói:

- Hạ quan mỗi năm xin nộp lên mười vạn, các ngày lễ cũng không thiếu, lỗi trước đây của hạ quan xin cụ lớn tha thứ. Ngoài ra, xin cụ lớn hiểu cho nỗi khó của hạ quan là: nếu bảo hạ quan thanh toán hết số tiền trước đây thiếu của Phủ nội vụ, quả thực là rất khó.

- Việc này Hoàng thượng sẽ suy tính. Nếu quả thực anh không thể thanh toán được, chẳng lẽ Hoàng thượng bức anh phải nhảy xuống sông Trường Giang mà chết hay sao? Hơn nữa, lần này Hoàng thượng đến Dương Châu phấn khởi hơn các lần trước, khen anh nhiều. Lại còn thết tiệc ban thưởng nữa.

Chinh Đoan về phủ, vội vàng cho người đi gọi Uông Như Long, một lái buôn muối tâm phúc đến. Uông Như Long vốn là một lái buôn muối giàu có nổi tiếng ở Dương Châu, lúc Chinh Đoan mới đến nhậm chức, y quà cáp rất hậu, tự đến ra mắt. Chinh Đoan nguyên là một huyện lệnh, vì phạm tội, bị cách chức về vườn, có một người bạn khuyên: “Nếu bác có nhiều tiền bạc biếu cho Hòa Thân, mặc dù hiện nay ông ta chỉ là thị lang bộ Hộ, nhưng lại là sủng thần bậc nhất của Hoàng thượng đấy, là quân cơ đại thần, nói gì là Hoàng thượng nghe nấy, nếu bác không tiếc tiền, Hòa Thân nhất định sẽ chạy chọt cho bác một cái ghế đẹp”. Chinh Đoan nghe theo lời bạn, đem biếu Hòa Thân mười vạn lạng bạc, quả nhiên thần nghiệm vô cùng, Hoàng thượng giao chức quan béo bở mọi người thèm muốn dòm ngó, quan phụ trách Sở muối Lưỡng Hoài cho Chinh Đoan. Chinh Đoan nghĩ rằng, phụ trách Sở muối mấy năm, triệu lạng bạc chảy vào hầu bao không thành vấn đề, so với Tổng đốc Tuần phủ, bổng lộc hơn nhiều, nên hết sức vui mừng. Chinh Đoan luôn tỏ ra là con hiếu cháu hiền trước mặt Hòa Thân. Sau khi nhậm chức, Chinh Đoan không biết moi tiền ở đâu, đang lúc suy tính, bỗng nhiên Uông Như Long đến. Y là lái buôn muối đã nhiều năm, cho nên thông thạo mọi thủ đoạn, như làm thế nào thu được thuế, làm thế nào có thể kiểm tra hàng lậu đánh thuế, làm thế nào để kiểm tra hàng giả. Y nói cụ thể rõ ràng, Chinh Đoan cả mừng, coi y là trợ lý cho mình. Điều càng làm cho Chinh Đoan cảm kích là chuyến nam tuần của Hoàng thượng lần này, Uông Như Long đã hiến kế kêu gọi các nhà buôn muối quyên góp tiền bạc xây dựng hành cung, sửa chữa đường sá... Tất cả việc đó đều do một mình Uông Như Long đôn đốc làm, Chinh Đoan chỉ quản lý tiền bạc. Công trình càng nhiều thì túi tiền của Chinh Đoan càng đầy. Như vậy, chẳng mấy chốc, Chinh Đoan đã bỏ túi hơn mười vạn lạng và khá nhiều đồ vật quí hiếm. Bây giờ Hoàng thượng đến, thết tiệc chiêu đãi, ban thưởng, bản thân phát tài, lại được tiếng lập công, được cả đôi đường. Tất cả những cái đó đều có công lao của Uông Như Long. Do đó, từ chỗ Hòa Thân trở về, Chinh Đoan tìm gặp ngay Uông Như Long.

Chinh Đoan thuật lại chuyện Hòa Thân nói với mình cho Uông Như Long, và hỏi y có kế sách gì không. Như Long nói:

- Ông anh không phải bận tâm, Hòa Thân mới nắm quyền bính, đang rất muốn tìm kiếm người tâm phúc, hiện nay tuy ông ta dựa vào uy thế Hoàng thượng để khuất phục một số triều thần, nhưng người hợp với ông ta không đông. Trước mắt, ông anh cứ tỏ lòng trung thành với ông ta, để ông ta không thể nào trách móc được, kiếm chuyện giao quyền cai quản Sở muối cho kẻ khác. Tôi có một cách này, có thể củng cố được vị trí của ông anh.

- Nói nhanh ra, cách gì? Chinh Đoan vội hỏi.

- Trước nay Hoàng thượng tuần du khắp nơi, có nơi nào không hiến dâng gái đẹp. Xưa kia, Hoàng đế Khang Hy sáu lần xuống Giang Nam, bí mật thu nhận một số gái đẹp. Tôi có nuôi dạy một cô đào hát, tên là Tuyết Như, tài sắc vẹn toàn, ngày mai xin hiến dâng Hoàng thượng, tôi tặng ông anh một ít châu báu để ông anh biếu Hòa đại nhân, nhất định là Hoàng thượng thích thú, Hòa đại nhân cũng hài lòng. Như vậy chẳng phải cái ghế của ông anh vững chắc đó ư?

- Rất hay! Ngày mai ta đi, chỉ ngại bác tốn tiền, ông anh này không đành lòng.

- Chỉ cần ông anh cho thằng em này nhìn thấy mặt Hoàng thượng, thằng em này mãn nguyện lắm rồi.

- Việc ấy không khó. Chinh Đoan đáp.

Hôm sau, Chinh Đoan, Uông Như Long mang theo một con ngựa bằng ngọc đến biếu Hòa Thân. Hòa Thân vụt sáng mắt lên, vỗ vai Chinh Đoan nói:

- Chú em có con mắt tinh tường... nhìn con ngựa này là nghe thấy tiếng hí của nó, nhìn thấy nó đang chạy. Ngựa này là ngựa thiên lý đây!

Chinh Đoan nghe Hòa Thân gọi mình là “em”, vừa kinh ngạc vừa đáng yêu làm sao, cảm thấy sung sướng hả lòng hả dạ và vô cùng cảm kích Uông Như Long, rồi nói liếp:

- Hạ quan có đem theo một cô đào hát, tài sắc vẹn toàn, muốn dâng lên Hoàng thượng.

- Theo ta! Hòa Thân bảo.

Chinh Đoan gọi Uông Như Long đến. Uông Như Long cho người khiêng kiệu vào. Chinh Đoan nói với Hòa Thân:

- Vị này là Uông Như Long, thương nhân muối ở Dương Châu, là thầy của cô đào hát.

Hòa Thân mắt không rời con ngựa chở châu báu, cũng chẳng chào hỏi Uông Như Long, chỉ liếc mắt nhìn y. Uông Như Long chắp tay vái chào, Hòa Thân lờ đi như chẳng nhìn thấy. Chinh Đoan hỏi:

- Bây giờ có vào hành cung không?

Hòa Thân đứng dậy đi trước. Mọi người bước theo.

Đến trước điện trong hành cung. Hòa Thân bảo:

- Có người dâng mỹ nữ.

Một thái giám đến kiểm tra cô đào hát Tuyết Như. Mọi người theo Hòa Thân vào điện. Vào trong điện, Hòa Thân chỉ vào Uông Như Long hỏi:

- Đây là… Chinh Đoan đỡ lời: - Đây là Uông Như Long, một nhà kinh doanh có tiếng ở Dương Châu, ngưỡng mộ phong thái đại nhân, nhờ hạ quan đưa đến ra mắt, vừa rồi hạ quan đã giới thiệu với đại nhân, nhưng vì đại nhân đang xem ngựa ngọc nên không nghe thấy hạ quan nói.

- Vậy là ta không phải rồi. Nói xong gật đầu chào Uông Như Long. Uông Như Long chắp tay vái trả lễ.

Hòa Thân bước vào điện quỳ lạy Hoàng thượng, mọi người đứng yên, Hoàng thượng lệnh cho thái giám gọi cô đào hát đến. Cô gái lấy chiếc khăn che mặt xuống, cả điện lập tức như sáng lên. Hòa Thân chăm chăm nhìn cô gái, da trắng như tuyết, đẹp đẽ nhu mì, thanh khiết trong trắng. Cô gái từ từ vái lạy, quỳ tâu:

- Nô tì bái kiến Hoàng thượng. Chúc Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!

Giọng nói nhỏ nhẹ, mềm mại, nhưng mọi người trong phòng đều nghe rất rõ.

Càn Long truyền:

- Bình thân!

- Nô tì tạ ân Hoàng thượng.

- Ngươi tên gì?

- Nô tì là Tuyết Như.

Càn Long lúc nào cũng chỉ nhìn thấy các cô gái son phấn đất bắc, mấy lần nam tuần trước đây cũng đã thấy nhiều cô gái đẹp phương nam, nhưng chẳng cô nào sánh kịp cô này. “Tuyết Như”, Càn Long thầm nghĩ: cái tên này hay lắm! Tuyết rất trắng, rất đẹp, rất trong trắng, rất lãng mạn, ánh sáng tỏa khắp người, đẹp mà không lẳng lơ. Càn Long hỏi:

- Ngươi biết những gì?

- Ca múa đàn hát, cầm kỳ thi hoạ, cái gì cũng biết.

- Trước hết ngươi hát một bài. Càn Long thích thú nói.

Nội thị mang đến một cây đàn. Tuyết Như bát đầu đàn hát, như trăng sáng trùm lên biển thẳm. Tiếng hát như tiếng chuông lạc đà vang lên giữa miền sa mạc, như tiếng chim hoàng anh đang hót líu lo trong rừng trúc. Bài hát chấm dứt. Càn Long khen:

- Thật là tuyệt diệu!

- Tạ ơn Hoàng thượng. Nếu so với chủ của nô tì, nô tì chơi đàn còn kém xa.

- Chủ của ngươi là ai? Hiện nay đang làm gì?

Uông Như Long vội vàng quỳ xuống tâu:

- Nô tài là Uông Như Long, vốn là nhà buôn muối ở Dương Châu, chính là chủ của Tuyết Như, kỹ thuật của Tuyết Như là do nô tài dạy.

- Ngươi đánh đàn ta nghe xem nào. Lẽ nào giỏi hơn Tuyết Như?

- Thảo dân tài nghệ kém cỏi, e làm bẩn tai Hoàng thượng, nhưng Hoàng thượng đã ra lệnh, nô tài đâu dám chối từ.

Nói xong, so lại dây đàn, dạo một khúc nhạc, tiếng đàn chấm dứt từ lâu, cả điện vẫn im phăng phắc, tịnh không một tiếng động; bên ngoài cây cỏ ngẩn ngơ, chim chóc ngừng hót. So với tiếng đàn của Uông Như Long, tiếng đàn của Tuyết Như quá quê mùa, quá tầm thường, còn của Uông Như Long thì như thần như tiên, như tuyết trắng mùa xuân.

Hôm ấy, Hoàng thượng cho các vương công đại thần, đốc phủ... lui ra ngoài, chỉ để Uông Như Long và Tuyết Như ở lại. Mọi người tức muốn chết. Chinh Đoan như nuốt phải dấm.

Tối đó, khi xem Tuyết Như múa hát, Càn Long để Tuyết Như theo hầu bên cạnh. Cởi hết quần áo, Tuyết Như phơi bày tấm thân ngọc ngà trong trắng, mềm mại nõn nà. Lão tướng Càn Long xông trận, cưỡi ngựa, múa đao, con chim non Tuyết Như vỗ cánh nghênh chiến. Một vệt đỏ chảy xuống. Tuyết Như mệt nhoài hổn hển. Càn Long càng thích thú mến yêu.

Liền ba ngày, Càn Long không ra ngoài gặp thần dân. Các quan đều lo lắng, rối rít thăm dò. Một thái giám cho biết: “Hoàng thượng và người đẹp đang múa hát vui chơi trong cung, các ngài dám quấy rầy làm Hoàng thượng mất hứng ư?” Các quan cúi đấu cụp tai, không ai dám hỏi thêm một câu nào. Ngay cả Tổng đốc Lưỡng Giang có việc yêu cầu thái giám tâu lên Hoàng thượng cũng bị từ chối. Hỏi đến Hòa Thân, chẳng biết ông ta đi đàng nào.

Vốn là thế này, sau khi biểu diễn xong, Càn Long giữ Uông Như Long và Tuyết Như ở lại, sau đó chỉ để riêng mình Tuyết Như vào phòng riêng hầu hạ, Hòa Thân nói riêng với Uông Như Long:

- Ngày mai cứ đến đợi bên ngoài dinh hành cung, việc của Tuyết Như, chớ nói gì cả.

- Đâu dám không nghe lời đại nhân.

Sáng hôm sau, Đốc phủ và các quan viên đến đợi ra mắt Hoàng thượng, đợi đến trưa vẫn không thấy dụ truyền vào chầu, các quan người này nhìn người nọ, sốt cả ruột, mãi đến xế chiều, mặt trời ngả về tây, mới thấy một thái giám bước ra truyền: “Uông Như Long vào chầu, những người khác hãy đợi”.

Uông Như Long khấp khởi mừng thầm, cúi đầu khom người bước vào, bước vào điện được năm bước, không dám bước thêm, cúi đầu nhìn bốn phía, trong phòng không có ai cả. Một lát sau, nghe thấy tiếng bước chân vọng lại, Uông Như Long từ từ ngẩng đầu lên nhìn, trông thấy Hòa Thân vội quỳ xuống thưa:

- Thảo dân bái kiến đại nhân.

- Chúc mừng ngươi đã làm cho Hoàng thượng vui vẻ.

Hòa Thân vừa nói vừa bước đến trước mặt Uông Như Long, đứng lại nói:

- Ngươi hãy ngẩng đầu lên.

Uông Như Long ngẩng đầu lên:

- Ngươi hãy nhìn ta?

Uông Như Long liếc nhìn Hòa Thân trông thấy đôi mắt trợn tròn. Hôm qua còn nhìn thấy đôi mắt ông ta như làn nước mùa xuân, hôm nay như đã đóng băng, hơi lạnh tỏa ra buốt người. Uông Như Long tuy trong lòng đã chuẩn bị sẵn, vậy mà nỗi vui mừng vừa rồi cũng tan thành mây khói, toàn thân như bị dội một thùng nước lạnh.

- Ngươi có biết tội không? Hòa Thân hỏi rồi nói tiếp: - Dùng gái đẹp mê hoặc Hoàng thượng, khiến Hoàng thượng không thiết triều, đáng tội gì?

- Tiểu nhân đã rõ, việc này là do Chinh Đoan đại nhân, tiểu nhân vốn muốn xin ý kiến của đại nhân trước, xin đại nhân minh xét, tiểu nhân đâu có duyên có phước được gặp đại nhân. Cả gan đi theo Chinh Đoan đại nhân để được nhìn thấy Hoàng thượng. Mạo phạm đại nhân, thật là điều bất đắc dĩ, xin đại nhân minh xét.

Uông Như Long liếc nhìn Hòa Thân thấy sắc mặt dịu đi, bèn nói tiếp:

- Đại nhân như vầng trăng sáng giữa trời, tiểu nhân lẽ nào không biết ân đức của đại nhân trước nay mênh mông như trời biển? Tiểu nhân từ lâu đã ngưỡng mộ đại nhân, mong muốn được tắm gội trong ngọn gió xuân của dại nhân. Hôm nay tiểu nhân được gặp đại nhân, coi như tiểu nhân tỏ lòng hiếu kính đại nhân, mong đại nhân không ghét bỏ kẻ quê mùa này.

Hòa Thân nghe vậy, vẻ mặt lạnh như băng đã biến mất. Uông Như Long không đợi Hòa Thân lên tiếng, nói tiếp:

- Nếu đại nhân hạ cố đến tệ xá. Tệ xá dẫu nhà tranh vách đất, cũng có một đóa trà mi diễm lệ khó sánh, trong trắng như tuyết.

Nghe đến đây, mặt mày Hòa Thân tươi tỉnh hẳn lên, đôi mắt lạnh lùng biến mất, ruột gan cởi mở, bảo Uông Như Long:

- Đứng dậy nói.

Uông Như Long đứng nghiêm, hai tay xuôi thõng. Hòa Thân nói tiếp:

- Ngươi hiến gái đẹp, tuy làm cho Hoàng thượng lơ là chính sự, nhưng Hoàng thượng công việc bộn bề, chăm lo cho dân, vô cùng vất vả, cảm thấy mỏi mệt. Ngươi làm cho Hoàng thượng vui vẻ, quả là yêu mến Hoàng thượng, một lòng trung thành với Hoàng thượng.

Uông Như Long nghe vậy, bụng nghĩ ta nhiều năm khổ tâm, gieo hạt giống hi vọng, bây giờ đã nảy mầm phát triển, không bao lâu nữa sẽ gặt hái đầy bồ, chẳng lẽ không tranh thủ dịp may, vội vàng nói:

- Đại nhân, tiểu nhân có một vật, kính dâng đại nhân, mong đại nhân không chê xấu xí.

Vừa nói vừa rút từ tay áo một vật. Hòa Thân liếc nhìn, đưa tay ra cầm, té ra là một con bướm làm bằng ngọc đen. Ngọc đen là một loại ngọc quý hiếm thấy, kể cả trong hoàng cung chưa chắc đã có, hơn nữa con bướm này chạm trổ khá công phu, mài dũa rất tinh vi. Toàn thân con bướm trong suốt, óng ánh, mịn màng, đôi cánh chớp chớp muốn bay, bộ chân nhỏ xíu tựa hồ cử động, đôi râu vươn thẳng trông thật ngộ nghĩnh.

- Tốt! Tốt! Tốt lắm! Hồi lâu Hòa Thân mới sực nhớ, liền gọi dọn một bàn tiệc, bảo Uông Như Long: - Ngồi, ngồi. Hòa Thân định vòi tiền của Như Long, nhưng không ngờ Như Long có của quý này, lại có lòng hiếu kính như vậy, bèn nói: - Ta với ngươi là người nhà, không nên khách sáo.

Cạn hết hai cốc rượu, Uông Như Long nói:

- Thật tình tiểu nhân không xem đại nhân là người ngoài, chỉ vì vô duyên không được gặp. Ngựa ngọc của Chinh Đoan đại nhân chính là của tiểu nhân nhờ chuyển dâng lên đại nhân.

- Vật báu, đều là vật báu. Vậy mà Chinh Đoan không nói rõ là của ngươi. Ta vốn cho rằng, ông ta không có con mắt sành đời như thế. Hòa Thân uống một hớp rượu, nâng con bướm trong bàn tay lên xem, ngây ngất: - Vật báu!

- Đại nhân, còn có một con bướm đậu trên hoa trà mi, đẹp hơn vật này trăm ngàn lần.

Hòa Thân nghe thế, ngẩn ngơ một lúc, giơ tay lên trời, cả người như tê dại. Hồi lâu, Hòa Thân mới nói được:

- Ta đến chỗ Hoàng thượng, lát nữa quay lại.

Hòa Thân bước vào Ngự hoa viên trong hành cung, nhìn thấy Hoàng thượng mỏi mệt, đầu tóc xoã tung, đang dắt Tuyết Như xem cá; nhìn thấy đôi vai tròn lẳng, chiếc cổ nõn nà của Tuyết Như, thì quả là “con gái trong lục cung chẳng có nhan sắc”. Hòa Thân mê mẩn tâm thần, khó lắm mới định thần trở lại được, đằng hắng một cái rồi lên tiếng:

- Hoàng thượng !

- Việc gì vậy? Càn Long quay người hỏi.

- Nô tài lo cho long thể Hoàng thượng.

- Làm gì có chuyện đó, người vẫn không biết Trẫm ư? Không sao đâu, ngươi đi đi, tìm gì vui vẻ một tí. Càn Long cười ha hả.

- Tuyết Như có vừa ý Hoàng thượng không?

- Đúng là người đẹp của Trẫm. Nói xong, Càn Long sực nhớ: - Trẫm lại quên chuyện ấy rồi, may mà khanh nhắc Trẫm. Ban thưởng như thế nào, giao cho khanh lo liệu.

- Nô tài xem Uông Như Long, từ lời nói đến cử chỉ đều lịch lãm, lại có tấm lòng thành đáng khen đối với Hoàng thượng, nô tài cho rằng người ấy là một nhân tài ít có.

- Ngươi xem, các nơi có chỗ nào trống, giúp Trẫm sắp xếp việc này, không cần hỏi lại Trẫm. Nói xong quay mình ôm Tuyết Như đi lẫn vào giữa hòn giả sơn.

Hòa Thân không mang theo nhiều tùy tùng, không khoa trương, ngồi trong một chiếc kiệu bình thường, theo sau chiếc kiệu của Uông Như Long. Các quan lớn bé trong ngoài cung, chỉ thấy kiệu đi ra, mà chẳng biết Hòa Thân ngồi trong đó.

Đi trên đường phố, Hòa Thân từ kẽ hở bức mành cửa kiệu nhìn ra ngoài, thấy hai bên lề đường toàn những cây liễu rủ xanh mượt, cành liễu rậm rạp thướt tha, lúc này đã xế chiều, ánh sáng trời chiều chiếu xiên qua ngọn liễu rũ như bị bao trùm bởi một màn khói mây bàng bạc, Hòa Thân bất giác nhớ đến câu thơ của Đỗ Mục: “Dọc đường ngàn liễu rủ, dáng chiều chói mặt thành. Trời xanh đền đài đẹp, gió sợ tiếng hát trong”. (Nguyên văn: Nhai thùy thiên bộ liễu, há ánh lưỡng trùng thành. Thiên bích đài các lệ, phong kinh ca quản thanh). Đợi đến màn đêm buông xuống, khắp nơi đèn đuốc rực lên, cả thành Dương Châu “mười dặm tràn gió mát” đã được Khương Quì miêu tả “toàn là cỏ lúa xanh xanh”. Bây giờ Hòa Thân nhìn thấy đường phố, không như Khương Quì nói, mà đều đẹp như Đỗ Mục tả.

Chiếc kiệu dừng lại trước một cổng lớn, bốn chú bé đầu để chỏm đứng hai bên cổng, vừa thấy Uông Như Long xuống kiệu đã khom lưng chào. Uông Như Long bước đến trước kiệu Hòa Thân, quỳ xuống đất, bốn chú bé không biết người ngồi trong kiệu là ai, nhưng thấy ông chủ kính cẩn như vậy, nên cũng quỳ xuống. Hòa Thân bước xuống kiệu, kéo Uông Như Long dậy, nói: “Không nên quá khách sáo, ta đến đây, như về nhà mình, chỉ sợ phiền phức thôi”. Uông Như Long nói: “Đại nhân nói như vậy chẳng phải là chê trách nô tài ư ? Đại nhân đến đây là vinh dự suốt đời của tiểu nhân. Tiểu nhân vô cùng cảm tạ, chỉ e không làm vừa lòng đại nhân”. Các chú bé đã mở cổng, trải thảm đỏ Ba Tư từ cổng đến trước dinh. Hòa Thân chưa đến trước dinh, một đám quản gia, người ở đã bước đến quỳ xuống vái chào. Nhiều người không biết khách mới đến là ai, khi đến trước dinh, thấy Hòa Thân quay mình lại nói:

- Uông Như Long tiếp chỉ.

Uông Như Long vừa nghe như vậy đã hốt hoảng, vội vàng quỳ xuống, còn mọi người khác vừa nghe, đầu đã choáng váng. Bình thường nghe nói “thánh chỉ đến”, hôm nay thánh chỉ đến thật. Nghĩ rằng thánh chỉ đến là vô cùng uy nghiêm, biết bao người chỉ vì mấy tiếng “thánh chỉ đến” “tiếp chỉ” mà giàu sang phú quý, và biết bao người vì mấy tiếng ấy mà nhục nhã mất mạng. Uông Như Long cất giọng:

- Thảo dân tiếp chỉ.

- Phụng thiên thừa vận Hoàng thượng chiếu chỉ: Uông Như Long chăm chỉ công việc, hết lòng tiếp giá, trung thành đáng khen. Đặc thưởng gấm đoạn năm tấm, như ý một viên, túi tiền hai túi. Hòa Thân đọc chỉ.

Lúc này mọi người mới biết việc gì xảy ra. Tiếng đọc vừa dứt, ngoài cổng đã báo vào: “Quà ban thưởng của Hoàng đế đến”. Uông Như Long đốt hương quỳ xuống đón nhận.

Uông Như Long mời Hòa Thân vào phòng khách. Tiệc rượu đã bày sẵn. Hòa Thân ngồi trên. Uông Như Long không cho người khác hầu rượu mà tự mình rót rượu mời Hòa Thân. Uống được mấy cốc rượu, Hòa Thân đưa cặp mắt ranh mãnh nhìn Uông Như Long. Uông Như Long biết ý liền gọi:

- Trà Mi đâu! Đến đây gảy đàn.

Bức rèm cửa gian phòng phía tây khẽ lay động, một người đẹp yểu điệu thướt tha xuất hiện, tay ôm chiếc đàn tì bà, từ từ cúi đầu. Đẹp như đóa hoa lê tháng ba đẫm những giọt mưa phùn, trong trắng mềm mại. Khoác bộ áo quần màu xanh bích ngọc, áo bó sát người, cặp vú nhô cao, vô cùng khêu gợi, đôi vai thon thon, mười đầu ngón tay búp măng múp míp, ống quần rủ xuống để lộ đôi gót sen vàng. Bước đến trước mặt Hòa Thân, ngồi xuống, cầm lấy phím đàn khẽ gảy, như gió lay cành trúc, như mưa rơi rừng thông. Đôi môi hé mở, điệu hát nỉ non, như hoàng anh ríu rít dưới lùm hoa, như chim yến hót trên cành cây. Hòa Thân ngây ngất ngồi im. Chỉ có ngọn đèn rực sáng. Uông Như Long thấy Hòa Thân như vậy, bụng nghĩ : Ta giờ đây tận hưởng vinh hoa. Cất giọng gọi:

- Trà Mi! Rót rượu hầu Hòa đại nhân.

Trà Mi ngước đầu lên. Hòa Thân nhìn rõ mặt cô gái. Cô gái bước đến bên Hòa Thân. Mùi thơm thoang thoảng lướt qua. Hòa Thân khen:

- Ôi đúng là một đóa trà mi!

- Đại nhân, tài nghệ của Trà Mi thế nào? Như Long hỏi.

- Khó mà hình dung.

- Nếu đại nhân không chê, xin vui lòng nhận cho.

Bỗng một tiếng “tang” vang lên, cốc rượu trong tay Trà Mi rơi xuống đất. Trà Mi sợ hết hồn, lấm lét nhìn Uông Như Long, nhưng trấn tĩnh ngay:

- Xin tha thứ nô tì vô lễ.

Uông Như Long nhìn sắc mặt Trà Mi, lòng quặn đau, không nói một lời. Trà Mi giọng oanh thỏ thẻ:

- Cụ lớn Hòa Thân; sau này nô tì là người của cụ lớn, nếu có chỗ nào không phải, mong cụ lớn lượng thứ. Nô tì ở nhà cụ Uông, tuy là nô tì con hát, nhưng đã nhiều năm chịu ơn cụ Uông, nô tì xin cạn một chén tạ ơn cụ Uông. Nói xong nâng cốc rượu uống cạn.

Từ phòng khách đi ra, vòng qua khuê phòng nội thất, đến một vườn hoa, một hành lang dài chia đôi cái hồ tròn thành hai hồ hình bán nguyệt. Lúc này, một vầng trăng sáng lơ lửng trên bầu trời xanh biếc chiếu xuống mặt hồ. Hơi nước bốc lên trôi nổi lững lờ theo dọc hành lang, ánh trăng dưới mặt nước hai bên hồ mờ mờ ảo ảo. Trà Mi bước theo Uông Như Long và Hòa Thân trên hành lang, nhìn trăng sáng dưới nước hồ, lòng đầy ngổn ngang, từ khi được Uông Như Long nuôi dạy, phu nhân Uông Như Long thường trêu đùa sẽ lập mình làm thiếp cụ Uông thì vô cùng thương yêu mình, vậy mà sao cứ để mình làm tì nữ? Từ khi mình và Tuyết Như vào nhà họ Uông, Uông Như Long tự tay dạy hai người cầm kỳ thi họa, hai người vô cùng cảm kích, đặc biệt là Trà Mi, coi Như Long sẽ là đức lang quân của mình. Uông Như Long đã có lần ôm cô ta và phu nhân ông ta còn dục lấy cô ta. Trà Mi cảm thấy trong ánh mắt của Uông Như Long đã có tình ý với mình, thế nhưng ông ta vẫn không chịu lấy mình và Tuyết Như làm thiếp. Hôm qua, lúc chia tay cùng Tuyết Như, hai người dường như hiểu được điều gì đó, buồn đau muốn chết. Sáng sớm hôm nay, nghe nói Tuyết Như được hưởng ân mưa móc của Hoàng thượng, Trà Mi càng xót xa ngàn lần. Vừa rồi, lúc gọi mình, sắc mặt phu nhân cũng rất lạ, mắt như ướt lệ, còn bảo mình ra hầu rượu Hòa Thân. Lòng dạ Trà Mi như lửa đốt, lệ rơi lã chã, nhìn phu nhân mà nước mắt tuôn trào. Trà Mi lau khô nước mắt, cầm cây đàn tì bà bước ra. Lúc này cô vẫn còn nghĩ: Uông Như Long khó thể rời bỏ ta. Đến khi hầu rượu, nghe Uông Như Long nói, giật mình đánh rơi cốc rượu, dẫu lòng cô đã có chuẩn bị sẵn. Lúc ấy, cô mới biết mình là nô tì, trước đây vì mê muội mà không thấy rõ thân phận của một con đào hát.

Trà Mi thấy Hòa Thân tướng mạo đẹp đẽ, nho nhã phong lưu nên cũng có phần an tâm, tuy vậy vẫn hết sức đau lòng. Trà Mi nghĩ rằng đã đến cuối hành lang. Cuối hành lang, có một gian nhà nhỏ, trước cửa có khóm trúc non, mấy hàng liễu rủ. Đêm xuống, từ một loại hoa gì đó tỏa ra hương thơm ngào ngạt. Hòa Thân khoác tay Trà Mi dạo bước, khen đúng là cảnh đẹp. Uông Như Long cúi đầu nói:

- Tối nay đại nhân nghỉ tại đây, chung quanh đã có canh gác cẩn thận, đại nhân yên tâm, tiểu nhân cáo lui.

Nói xong không đợi Hòa Thân lên tiếng đã quay người đi ngay.

Hòa Thân nắm bàn tay nhỏ thon của Trà Mi, bước vào gian nhà, nói với Trà Mi:

- Nàng mặt không đánh phấn, môi không thoa son, mày không kẻ mực, thân mình tỏa ra mùi thơm ngây ngất như vậy?

- Con gái trời sinh như vậy, ai ai cũng có.

- Tuyết Như có không?

- Là con gái ai cũng có cả, nhưng mùi thơm mỗi người một khác.

- Mùi thơm của Tuyết Như là mùi thơm của tuyết trắng, chỉ có Hoàng thượng mới được hưởng, còn nàng là mùi thơm của trà mi. Nói xong nhẹ nhàng quàng tay qua eo lưng Trà Mi. Toàn thân Trà Mi run lên, thấy thế, Hòa Thân ôm chặt vào bụng, đưa môi hôn hít vành tai cô. Trà Mi người nhũn ra, thở gấp, không còn tự chủ được. Hòa Thân nói:

- Uông Như Long nói, trên người nàng có một con bướm, lấy ra ta xem.

Trà Mi chỉ ứ ứ, Hòa Thân không hỏi nữa, bế cô vào giường, tay trái giữ eo lưng Trà Mi, tay phải lần mò cởi thắt lưng cô, nhưng không được, chẳng hiểu vì sao không thành thạo, không nôn nóng như trước đây. Hòa Thân thấy cô gái này không phải dễ dàng, sốt ruột đến toát cả mồ hôi. Trà Mi từ từ kéo thắt lưng tuột xuống. Hòa Thân hai tay cởi phanh chiếc áo Trà Mi, mùi thơm phảng phất, đôi vú nõn nà lộ ra, như hoa sen tháng năm, trắng hồng, núm vú đỏ như hoa hồng thơm phức. Cái khiến Hòa Thân kinh ngạc hơn là giữa cặp vú, một con bướm chớp bay. Hòa Thân lặng yên nhìn hồi lâu. Trà Mi co chân, thẹn thùng, định lấy tay che ngực, Hòa Thân đâu chịu, và cởi tuột áo cô ra để xem cho rõ con bướm ngọc. Con bướm này bằng ngọc được chạm trổ mài dũa tinh vi, ánh lên năm màu xanh vàng đen trắng đỏ, thật ít có trong thiên hạ. Hòa Thân trầm trồ, con bướm này đẹp gấp vạn lần con bướm ngọc đen, đúng như vậy? Huống chi nơi nó đậu là cặp vú Trà Mi, cặp vú như hoa sen, núm vú như hoa hồng, không những có màu sắc của hoa sen hoa hồng, mà có cả mùi thơm của hoa sen hoa hồng, thật là vẹn toàn! Hòa Thân hít lấy mùi thơm sữa của hoa sen hoa hồng đó, húc đầu vào cặp vú, hôn lấy hôn để con bướm nọ, Trà Mi cứ luôn mồm ứ ự, vùng vẫy. Hòa Thân vỗ về mơn trớn cô... Trà Mi bị khuất phục, mồ hôi đầm đìa, rồi một vệt đỏ chảy xuống. Hòa Thân càng yêu càng khoái, ôm chặt Trà Mi vào lòng. Trà Mi thì mệt nhoài chân tay rã rời.

Hoà Thân tỉnh lại, nghe tiếng chim hót bên ngoài cửa sổ; vậy là đã quá giờ thìn. Lúc này, cả phòng còn vắng vẻ, nhìn Trà Mi bên cạnh càng rõ, đôi vai thon, trắng ngần, cặp vú nõn hà như xoa phấn, núm vú đỏ tươi, con bướm năm màu rực rỡ trong suốt. Hòa Thân thầm nghĩ, ta đang ôm một quốc sắc thiên hương, ngắm một bảo vật tuyệt thế, đời người như vậy, thật toại nguyện. Người ta thường nói, ngày vui ít có, hừm! Hòa Thân này chỉ cần làm vui lòng một người - Hoàng thượng, nắm giữ quyền lớn, thiên hạ ai dám động đến ta! Ta phải làm đẹp lòng Hoàng thượng, lôi kéo những người trung thành với ta, tổ chức mạng lưới, thưởng thuận phạt nghịch, dù có ai động đến ta, cũng chẳng làm được gì.

Làm đẹp lòng Hoàng thượng, sẽ có quyền, đã có quyền là sẽ có tất cả, sẽ có tiền có gái. Đã đến lúc ta phải hưởng thụ. Nghĩ đến đấy, xoay người lại, ôm chặt Trà Mi, vừa hôn vừa cắn vừa liếm lên tai, lên cổ, lên ngực, lên vú của Trà Mi... Trà Mi không ngớt rên rỉ, quằn quại: “Nô tì... nô tì... sắp...”.

Hòa Thân đẩy cửa bước ra ngoài, phương đông mặt trời đã nhô cao, tâm thần sảng khoái. Hai bên hành lang, nước xanh trong vắt, mặt hồ một màu xanh dịu mát, rải rác nhô lên vài đóa hoa sen, phất phơ trước gió. Bên mép nước, một bụi phù dung lá xanh mơn mởn, cành đầy hoa, cái thì nở tung đón chào ánh nắng, cái thì hé nở thẹn thùng. Bỗng nhiên, một chú chim trã màu lông xanh biếc vụt bay từ bụi lau bên mép hồ, bụi lau lay động rồi đứng yên, trong chớp mắt chú chim lao xuống nước, mặt hồ gợn lên những con sóng vòng tròn. Nhanh như chớp, chú chim vỗ cánh từ mặt hồ bay vút lên bầu trời xanh thẳm. Nhìn quạnh hồ, nhà cửa như bao phủ một màu xanh biếc, liễu rũ phất phơ, cây cối tốt tươi. Xa xa thấp thoáng một dãy núi, vạch thành một nét mờ ảo trên nền trời xanh thẳm.

Hòa Thân đang ngắm cảnh đẹp của vườn hoa phương nam, bỗng nghe phía sau có tiếng người, hỏi:

- Kính chào Hòa đại nhân, không biết đêm qua đại nhân ngủ có ngon giấc không?

- Xem ra những vật chú em cất giữ cũng khá tốt, lại có vườn hoa bên cạnh, chú em tất phải là con người sành điệu.

- Tiểu nhân đâu dám xưng anh em với đại nhân, tiểu nhân xin gọi đại nhân là thầy. Đại nhân thấy thế nào?

- Ngại, ngại ư? Chúng ta gọi nhau là anh em há không tốt, không thân nhau hay sao?

- Như vậy là giết tiểu nhân, sau này tiểu nhân xin lấy lễ trò đối thấy. Nói xong tự giới thiệu: Học trò này vốn thuộc con nhà dòng dõi mấy đời, ông nội từng làm Tri huyện dưới thời Hoàng đế Khang Hy, cha cũng là Tri huyện lúc Càn Long mới lên ngôi, sau từ quan về nhà. Học trò từ nhỏ được cha dạy bảo, cầm kỳ thi họa đều biết, chăm chỉ học hành. Nhưng nhiều lần đi thi không đậu, nhà cửa ngày càng sa sút, học trò thấy rõ sự đời, gác bút đi buôn.

Với người có học, điều sợ nhất và cũng là điều mừng nhất là thấy rõ sự đời. Hòa Thân thích những người có học lại thấy rõ sự đời. Thấy rõ sự đời, thì không cố chấp, không gàn bướng, không chống lại, khác với những người tự cho là thanh cao thường tự phụ cố chấp. Hòa Thân nói:

- Hai chúng ta đều là người có học, thi cử không đậu thấy rõ sự đời, hai chúng ta ý hợp tâm đầu.

- Được lời dạy bảo, học trò đâu dám không hết lòng báo đáp, mong thầy bồi dưỡng dạy dỗ nhiều cho học sinh.

- Nên thế! Hòa Thân nói.

Cơm sáng vừa xong, Uông Như Long thưa:

- Hôm nay gặp thầy, quả là gặp người tri ân tri kỷ, học trò xin đưa vật này thầy xem.

Một lát sau, Uông Như Long đem ra một bức tranh cuộn tròn, vừa mở ra xem, Hòa Thân đã lặng người đi...

Buổi sáng, ánh sáng mặt trời ấm áp đang chiếu sức sống cho muôn loài trên mặt đất. Mặt đất tươi rói, tĩnh mịch, sương mù bàng bạc chưa tan như tấm lụa mỏng. Dưới chân núi một lùm cây cành lá xanh tươi, đẫm mình trong những giọt sương sớm long lanh; những bông hoa đủ màu đang nở cười, tỏa ra mùi thơm thoang thoảng vấn vương khắp nơi. Một chú châu chấu đậu bên chùm hoa giương đôi mắt ngước nhìn, ngập ngừng muốn bay, như có cái gì đó khiến chú ngại ngần. À! Té ra trên chùm hoa có ba cô bướm gai, màu sắc sặc sỡ đang chớp cánh bay, vui chơi thỏa thích, vạn vật ở đây cứ thi nhau phát triển, nhưng rất hài hòa yên tĩnh, cuộc sống ở đây tự do thoải mái.

- Đây là “bức tranh con bướm” của Triệu Xương triều Bắc Tống, là vật quý gia truyền của học trò, cha học trò quý nó vô cùng, nay người tri kỷ đã mất, vật quí phải có người biết thưởng thức. Nếu đại nhân thích bức tranh này, ngài Triệu Xương dưới suối vàng cũng vui vẻ. Bức tranh này vào tay đại nhân coi như là vật quý tìm được chủ tốt. Nói xong cuộn bức tranh lại và từ trong tay áo rút ra một vật, đặt vào trong cuộn tranh, rồi nói: - Hàng năm học trò xin đến thăm thầy, không biết ý thầy thế nào?

- Anh rất vui mừng. Hòa Thân đã nhìn thấy vật đặt trong cuộn tranh, biết tỏng, liền hỏi: - Chú em nho nhã tế nhị, lăn lộn chốn thương trường, thật là đáng tiếc. Không biết chú em định sau này thế nào?

- Học trò sống ở Dương Châu từ lâu, không muốn đến nơi khác. Học trò đã nhiều năm buôn bán kinh doanh, rất thạo nghề này. Học trò chỉ muốn kinh doanh nghề muối ở Dương Châu này. Như Long đáp.

Hòa Thân ở lại nhà Uông Như Long hai ngày liền, cuối cùng ra đi đầy luyến tiếc. Trà Mi cũng yêu thương Hòa Thân, khóc thút thít khi ông ta sắp chia tay. Hòa Thân vô cùng thương yêu cô và hứa:

- Sau khi về kinh, ta sẽ cho người đến đón.

- Đại nhân an tâm. Từ nay về sau Trà Mi là con gái của học trò, đợi sau khi đại nhân hộ giá về kinh, học trò sẽ tự mình đưa đến nơi, học trò đối xử như con gái.

- Đời chỉ có một tri kỷ cũng đủ rồi. Chú em từ nay về sau chớ gọi ta là “thầy”, là “đại nhân”, nếu không ông anh này tức giận đấy!

- Anh xem em như vậy, em nguyện hết lòng báo đáp anh. Như Long quỳ xuống lạy ba lạy.

Hòa Thân trở về hành cung, quỳ trước Càn Long tâu:

- Hoàng thượng ở đây đã mấy ngày, nô tài nghĩ rằng, Hoàng thượng nên đi xem xét công việc của đốc phủ và các địa phương, thăm hỏi dân chúng.

Càn Long gặp các đại thần, đi tuần sát mấy nơi ở Dương Châu.

Càn Long sắp lên kiệu, Hòa Thân tâu:

- Thầy của Tuyết Như là Uông Như Long dâng lên Hoàng thượng một bức tranh của Bản Kiều, xin Hoàng thượng xem.

Bức tranh được mở ra, Càn Long khen:

- Đúng là thi, thư, họa có cả ba. Quả là người tài của triều ta.

- Chinh Đoan phụ trách Sở muối, tuy có công đón tiếp Hoàng thượng, nhưng theo nô tài, Sở muối Dương Châu chưa nộp đủ số bạc còn thiếu của Phủ nội vụ. Vậy mà tiêu xài phung phí, nên nghiêm cấm. Hòa Thân tâu.

- Trẫm cũng thấy vậy. Nếu thay người phụ trách Sở muối Dương Châu. Ai là người có thể đảm đương?

- Hoàng thượng xem Uông Như Long thế nào?

- Trẫm đã có ý dùng hắn.

Thế là ban dụ. Mọi người trong thiên hạ phải chăm lo công việc của mình, không được xa hoa lãng phí. Điều Chinh Đoan đi nơi khác để làm gương.

Chinh Đoan bị điều đi. Uông Như Long một bước lên mây, phụ trách Sở muối Lưỡng Hoài.

Sau này có người kể lại rằng, Chinh Đoan mất ghế, trong lòng không phục, hỏi Hòa Thân:

- Đại nhân, mỗi năm hạ quan nộp cho nhà nước (Hòa Thân) mười vạn lạng, cống nộp nhiều như vậy, sao lại điều hạ quan đi?  

- Người khác cống nộp nhiều hơn. Hòa Thân nắm hai tay Chinh Đoan đặt tay mình lên trên nói.

Chinh Đoan khẩu phục tâm phục. Người khác, mỗi năm nộp cho Hòa Thân hai mươi vạn lạng.

Đúng là, Như Long đã đặt vào cuộn “tranh con bướm” tờ ngân phiếu hai mươi vạn lạng.

Càn Long nam tuần, theo hộ giá có các đại thần Cục quân cơ và các bộ, viện, các nơi đều tấu báo như thường lệ, không thay đổi. Vì vậy, Càn Long xử lý việc quân cơ không bị gián đoạn. Các nơi tấu báo thẳng đến hành cung dọc đường đi. Càn Long phê duyệt cẩn thận, lại phải tiếp kiến, thăm hỏi, xem xét, ngày nào cũng bận rộn. Hòa Thân có thể tìm chút ít cái gì để Hoàng thượng vui vẻ. Càn Long thật ra cũng cần xả hơi một tí. Do đó, khi Uông Như Long, Chinh Đoan hiến dâng gái đẹp, Hòa Thân cũng không ngờ, nên cho vào. Nào ai biết, nhiều chuyện liên tiếp xảy ra. Rời khỏi Dương Châu, Hòa Thân tâu:

- Giang Ninh là cố đô sáu triều, nhiều thắng cảnh, lắm người tài, Hoàng thượng nên đến Giang Ninh trước.

- Khanh nói hợp ý Trẫm. Càn Long ra lệnh đi Giang Ninh trước.

Giang Ninh là nơi Chu Nguyên Chương, thủy tổ nhà Minh, đóng đô. Lúc ấy gọi là Nam Kinh. Lăng mộ Chu Nguyên Chương, lăng Minh Hiếu xây tại Nam Kinh. Những lăng mộ này thể hiện tinh thần kẻ sĩ của người Hán. Thái độ của chính phủ đương triều đối với những công trình đó ảnh hưởng đến tình cảm giữa chính quyển triều Thanh với nhân sĩ Giang Nam, ảnh hưởng đến tình cảm của cả dân tộc Hán đối với Mãn Thanh.

Do đó, sau khi đến Giang Ninh, việc trước tiên là đến bái vọng lăng Minh Hiếu, Càn Long nói: “Từ khi triều Thanh trị vì, đã trên một trăm năm, nhưng lăng tẩm ở dây không hề suy suyển, tùng bách vẫn nguyên vẹn, đều do ân đức tổ tông ta”. Và viết một hoành phi:

“Khai cơ định chế” (Xây dựng cơ nghiệp, định ra chế độ - ND)

và hai câu đối :

“Dẹp loạn yên dân, y như Hán Tổ,

Xây kỷ dựng cương, hơn hẳn Đường Tông”

Sĩ phu và quan dân người Hán ở Giang nam thấy Hoàng thượng tôn sùng Chu Nguyên Chương như vậy, đều vô cùng cảm kích hoàng đế Càn Long, lòng đều hướng về Càn Long. Càn Long ngày nào cũng tiếp kiến các văn nhân học sĩ, nói rằng Giang - Triết là nơi hội tụ nhân văn, có nhiều người tài giỏi, tỏ thái độ tôn trọng người có học. Dừng chân lại Giang Ninh, hàng ngày bận rộng, tựa hồ không biết mệt mỏi.

Một hôm, Hòa Thân bí mật lệnh cho viên quan Giang Ninh chuẩn bị thuyền hoa để Hoàng thượng dạo chơi. Hôm đó, thấy Hoàng thượng có chút thời gian rỗi, Hòa Thân bèn tâu: “Đức vạn tuế, nơi đây là cố đô sáu triều, thắng cảnh rất nhiều, xin cho chuẩn bị thuyền hoa để bệ hạ vi hành, ngắm xem phong cảnh”. Càn Long biết ý, không mang theo tùy tùng, chỉ lệnh cho Hòa Thân và một thị vệ cùng đi đến bờ sông Thái Hoài. Một chiếc thuyền hoa màu sắc sặc sỡ đang đậu trên sông. Hòa Thân đỡ Càn Long lên thuyền. Trên thuyền toàn là những cô gái đẹp như hoa, yểu điệu thướt tha, tiến lên cúi đầu vái chào. Họ là những kỹ nữ nổi tiếng ở Giang Ninh, hiểu nhiều biết rộng, nghĩ rằng: đã do quan trên bố trí họ đến phục vụ, thì khách chắc phải là đại quan hộ giá hoàng thượng nam tuần. Họ như một bầy ong bướm đánh hơi thấy mùi hoa thơm ngào ngạt, thấy chùm hoa nở rộ tranh nhau vây quanh Càn Long và Hòa Thân, trổ hết tài quyến rũ, ríu rít mời chào săn đón. Hòa Thân thấy Càn Long ôm bên hữu, cặp bên tả, phấn chấn hẳn lên, lòng rất vui, lệnh cho thuyền rời bến. Mái chèo gạt nước đưa thuyền ra giữa lòng sông. Tốp kỹ nữ vui đùa ca hát, âm thanh vang vọng tận trời mây.

Vui đùa vừa đủ, một chiếc thuyền khác trang hoàng lộng lẫy lướt đến. Càn Long theo Hòa Thân bước lên. Lúc này màn đêm vừa buông xuống. Hai bên bờ sông đèn đuốc sáng trưng, như cầu vồng sau cơn mưa, ngàn vạn ngọn đèn lung linh chao đảo dưới mặt nước, tưởng chừng đang bước vào cảnh tiên, mặt sông rực rỡ như phủ lớp phấn son chảy từ miền cung điện sáu triều vua bao quanh. Khắp nơi tiếng ca hát vang lên tận chín tầng mây.

Càn Long ngâm: “Gió hiu hiu, sóng dập dờn. Mặt sông dày đặc muôn ngàn vì sao”. Chợt nhớ lại mấy lần nam tuần trước đây chưa đến nơi này, thật là đáng tiếc. Ngắm cảnh xong, Càn Long và Hòa Thân bước vào trong thuyền. Tiệc rượu đã bày sẵn, toàn sơn hào hải vị. Càn Long ngồi xây mặt về hướng nam, đối diện với một sân khấu. Hòa Thân vỗ tay “bốp”. Chiêng trống trên khán đài vang lên. Càn Long vừa ăn vừa xem. Một lát sau, vở kịch “gặp may” thường được các người lớn tuổi thích xem bắt đầu trình diễn. Gái đẹp đứng bên rót rượu mời, Càn Long và Hòa Thân phấn chấn ngồi nhìn lên sân khấu, nghe các đào kép hát:

“Bảy tình vui đứng hàng đầu (bảy tình: hỉ: vui mừng; nộ: giận dữ; ai: buồn đau; cụ: sợ hãi; ái: yêu thương; ố: ghét bỏ; dục: ham muốn. Thường gọi là thất tình - ND), cá vui dưới nước chim vui trên trời. Chúng ta vui thấy mặt Rồng. Cùng nhau chung hưởng duyên lành thế gian. Kính chúc Hoàng thượng sống lâu muôn tuổi. Vui sao luôn thấy mặt Rồng. Khắp nơi thiên hạ không ngừng mừng vui...”

Càn Long cảm thấy nỗi mệt nhọc trong mấy ngày qua đều tan biến. Buổi diễn kết thúc, đêm đã về khuya, Hòa Thân tâu:

- Hoàng thượng nghe nói có một Hoa Hồng Đen, khắp Giang Ninh ai cũng muốn đến làm bạn, nhưng đều bị từ chối, nô tài vẫn chưa thấy mặt, cô ta đang ở trên thuyền chờ Hoàng thượng.

Thế là người đẹp dẫn Càn Long đi. Hòa Thân bước đến sân khấu vào bên trong, thấy mấy cô đào đang thay quần áo và bảo một cô mày xanh mắt phượng: “Đi cùng ta uống rượu”. Thế là dẫn cô ta vào phòng trong, lệnh cho người đặt một chiếc bàn con với rượu cùng đồ nhắm, khóa trái cửa lại, chịu không nổi vội vàng ôm chầm cô đào vào bụng: “Ta yêu ngươi vô cùng, từ nay ngươi là của ta”. Cô đào giọng oanh thỏ thẻ: “Tài nghệ của tôi còn kém lắm, chưa học xong, xin cụ lớn thương tình”. Hòa Thân gắp một miếng thức ăn đưa vào mồm cô ta, rồi nâng cốc rượu mời cô uống: “Ta thật sự yêu ngươi, tận ruột gan, thày dạy ngươi chưa thực nghiệm ngươi”. Nói xong, xốc cô đào đặt lên giường, cởi tuột áo quần, thưởng thức người đẹp, và cảm thấy cái lạc thú của lần này không giống các lần khác... Hòa Thân nghĩ bụng: ngày mai ta sẽ nói chuyện với tên quan Giang Ninh kia, tìm cho ta một cô khác.

Sáng hôm sau, Hòa Thân đang phấn khởi vì đã có cô đào nọ, nhưng bỗng nhiên nhìn thấy cô gái bên cạnh Càn Long, chắc đây là Hoa Hồng Đen, và cảm thấy vô cùng tiếc rẻ. Cô gái có nước da đen óng ánh, đầy đặn chắc nịch, càng đậm đà ý vị, lại hối tiếc: Cô gái này là người dự bị của ta, ta không nên nóng vội. Nghĩ như vậy, vội liếc nhìn cô gái mấy cái, đúng lúc đó Hoa Hồng Đen cũng nhìn Hòa Thân, bốn mắt gặp nhau, ánh mắt đôi bên lộ vẻ khát khao cầu khẩn. Từ đó Hòa Thân ngày đêm tơ tưởng đến Hoa Hồng Đen, như nhiều năm xa cách, đến lúc Càn Long giải phóng cô ta, Hòa Thân vội vã ôm cô vào lòng.

Hòa Thân và Hoa Hồng Đen của Càn Long đang tận hưởng lạc thúc, bỗng nhiên có tiếng ồn ào bên ngoài vọng vào trong thuyền. Hòa Thân bước ra phía sau thuyền quan sát, thấy bên ngoài một chiếc thuyền lướt lới, bên trong có mấy người đang tranh cãi với nhau. Hòa Thân thò đầu ra khỏi thuyền, vẫy tay về phía chiếc thuyền nọ. Mấy người trong chiếc thuyền nọ nhìn thấy Hòa Thân, định lên tiếng, nhưng Hòa Thân đã nhanh mồm: “Biết rồi, các ngươi đi đi”. Mấy người trên chiếc thuyền nọ chính là hai thị vệ dẫn mấy thái giám đi tìm Hoàng thượng.

Hôm sau, cả đoàn hộ giá đi Hàng Châu. Hàng Châu, từ đầu triều Tống đã là một trong ba trung tâm lớn dệt lụa của Trung Quốc, đến thời Càn Long càng phát triển mạnh, nghề dệt lụa cũng phát đạt hơn, đặc biệt nghề vàng mã nổi tiếng trong nước. Lúc ấy cư dân Hàng Châu đã hơn sáu mươi vạn người.

Đến Hàng Châu, Càn Long đi thăm mười cảnh đẹp Tây Hồ. Đến Tô Đê - Xuân Hiểu, Càn Long bỗng nhớ đến một người, rồi nói: “Trầm Đức Tiềm tuy quên phép nước ơn vua, nhưng mấy lần hộ giá đều khiến Trẫm vui vẻ”.

Bốn lần nam tuần trước đây, Trầm Đức Tiềm đều đều hộ giá. Ông tuổi cao sống lâu. Càn Long từng ban thưởng cho ông tấm hoành phi “Cửu trật thi tiên” (Vị tiên giỏi thơ thọ chín mươi tuổi - ND) và ngợi khen ông là lão danh sĩ, lão thi ông, Triết Giang đại lão. Lần đầu, Trầm Đức Tiềm hộ giá, Càn Long làm một bài thơ:

Nước biếc non xanh Ngô Hạ xuân,

Thân vui xa cách đã bao năm.

Tam Hoàng quan án xa vời bóng.

Môn đệ vua nay lại cố nhân.

Độ ấy xa nhau thơ đọc lại,

Bây giờ nghe nỗi khổ muôn dân.

Về già lại thấy càng minh mẫn.

Kiếp trước tre dầm tuyết hóa thân.

Lúc bấy giờ, Càn Long đang ngắm cảnh Tây Hồ, bỗng nhiên một trận tuyết rơi, hoa tuyết mùa xuân tung bay, một trời hoa tuyết một trời xuân, Càn Long hứng lên ngâm: “Một hoa một hoa rồi một hoa, ba hoa bốn hoa năm sáu hoa, bảy hoa tám hoa chín mười hoa”. Câu cuối cùng Càn Long không nghĩ ra, đứng đực tại đấy. Trầm Đức Tiềm vội bước đến tâu: “Xin Hoàng thượng cho phép thần làm tiếp câu cuối”. Càn Long đồng ý ngay. Trầm Đức Tiềm thuận mồm đọc luôn: “Tuyết tìm chẳng thấy thấy hoa mai”. Tuyết mùa xuân bay lẫn vào hoa mai, lặng lẽ dấu mình. Ý tứ ở đây thật là cao siêu. Càn Long lập tức cởi chiếc áo khoác da báo choàng lên người Trầm Đức Tiềm. Sau đó khi Trầm Đức Tiềm chín mươi bảy tuổi bệnh nặng qua đời, Càn Long làm bài thơ tưởng nhớ:

Bình sinh đức chẳng thẹn chăm lo,

Già gặp may sao được cậy nhờ.

Trăm tuổi dẫu chưa là đến độ

Thơ còn sống mãi đến ngàn thu.

Nhưng sau khi Trầm Đức Tiềm chết, Càn Long lại mắng chửi ông ta: “Nghịch thần phản quốc, tội ngươi không nhỏ”, cách chức ông ta, phá hủy bia mộ ông ta. Bởi vì Trầm Đức Tiềm viết cuốn “Truyện Từ Thuật Quỳ”, ca ngợi phẩm hạnh, văn chương của Từ Thuật Quỳ đáng được học tập.

Dẫu như vậy, khi đến thăm chốn cũ, cảnh xưa còn đó người xưa không còn, Càn Long không thể không nhớ lại những cái hay cái tốt của Trầm Đức Tiềm, nên cảm thấy mình đối xử quá đáng đối với Trầm Đức Tiềm. Hòa Thân thấy thế, an ủi Càn Long: “Trên đời không có ai vẹn toàn, thơ phú của cụ Trầm thật đáng khen, nhưng nói xằng nói bậy chuyện Từ Thuật Quỳ, tội không thể tha, Hoàng thượng chớ bận tâm”. Lời khuyên thật chí lý, khiến Càn Long cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái, nhìn cảnh vật xung quang càng thấy đẹp hơn.

Càn Long đứng trên đình Thự Vãn, lúc ấy sương mù chưa tan, hoa đào đỏ tươi, hoa lãnh trắng muốt, hoa anh đào phớt hồng, chìm trong sương mù, một lát, vừng hồng nhô lên, xua tan sương mù, muôn hoa càng thêm rực rỡ. Một làn gió nhẹ lướt qua, những cánh hoa héo tàn rơi lả tả, trôi theo đòng nước. Xa xa, mặt nước như dâng cao, nước trời tiếp giáp, những đám mây trắng lững lờ trôi trên bầu trời xanh, nhởn nhơ trong nước biếc. Giữa trời và đất “mấy chú chim non tranh tổ ấm. Nhà ai én gọi mùa xuân”.

Dạo chơi ở Tô Đê - Xuân Hiểu xong, Càn Long lại đến Phong Dự Môn, ngắm cảnh sóng liễu chim hót. Nơi đây, tơ liễu thướt tha phủ trên mặt đất tựa tấm thảm cỏ xanh, hoàng anh ẩn mình trong rừng liễu mờ ảo như khói lam, hót ríu rít. Lúc này, tiếng sáo du dương từ thuyền hoa đưa lại hòa với tiếng chim hót, cảm như đất trời mênh mông, cảnh sắc tươi đẹp.

Ngắm cảnh Tam Đàm Ấn Nguyệt, nhìn thấy hoành phi “Tam Đàm Ấn Nguyệt” do Hoàng tổ viết và các đình bia hoàng tổ xây, Càn Long càng say sưa ngắm cảnh đẹp, làm thơ ca ngợi:

Ba tháng tháp xoay bóng một lần ,

Là ba là một là toàn thân

Ai hay được tấm thân vàng ảo

Chữ tịnh hỏi đầm rõ quả nhân

Sau khi đến Hàng Châu, Càn Long đến thăm Vũ Lăng, bỗng nghe triều biển sông Tiền Đường dâng cao uy hiếp Bắc Đại Môn. Vùng Tiền Đường nhiều năm nay thường bị nạn triều cường. Trong mấy lần nam tuần trước, Càn Long đã cho xuất tiền xây con đê Đường, công trình đã trải qua nhiều năm, nay lại nghe nói triều cường dâng lên ở Hải Ninh, uy hiếp con đê chắn sóng, bèn nói: “Con đê này là công trình số một che chắn miền Việt Trung, nếu có xảy ra chuyện gì, hàng vạn mẫu ruộng sẽ bị ngập, hàng ngàn thôn xã thị trấn sẽ bị nguy hại, làm thế nào đây.” Nói xong, ra lệnh khởi giá cấp tốc đến Hải Ninh, thân chinh thị sát, và nói: “Dùng đá hộc củng cố đoạn đê dài bốn ngàn hai trăm trượng từ Lão Diêm Thương đến Chương Gia An, cố chịu vất vả một lần, cần tiền thì xuất tiền”.

Càn Long tự đi thị sát con đê, không kể nguy hiểm, khiến người Triết Giang vô cùng cảm động. Bỗng nghe báo Trần Các Lão ở Hải Ninh cử con trai đến tiếp giá. Càn Long nghĩ: Huyện Hải Ninh là nơi xa xôi hẻo lánh, ít người, không nên tiếp giá, Trần Các Lão là tể tướng ba triều, chu đáo như vậy. Ông cha ta đối với họ Trần ân nghĩa khá nặng, ta cũng nên đến đấy thăm hỏi. Nên lệnh đến nhà Trần Các Lão.

Trần Các Lão nghe nói Hoàng thượng đến, trang hoàng Ngung Viên - vườn hoa của gia đình vô cùng đẹp đẽ đường sá sửa san bằng phẳng quét dọn láng bóng.

Trần Các Lão dẫn con cháu có chức vị trong họ ra bến sông đón. Thuyền rồng vừa cập bến, tất cả đều sắp hàng quỳ xuống đón chào. Đêm đó nghỉ tại Ngung Viên.

Ngung Viên rộng ba mươi mẫu, vào cổng là nhìn thấy nước trời bao la. Bên trong có cây mai cổ thụ trăm năm, cây gỗ thời Nam Tống, ba bia đá khắc mấy bài thơ của Viên Mai:

Trên bia thứ nhất:

Trăm mẫu ao hồ mười mẫu hoa,

Vươn mây cổ thụ lá um xòa.

Hợp nhau mai cũng như tùng vậy,

Tể tướng ba triều mong thiết tha.

Bia thứ hai:

Đất lành chim đậu chữ càng hay,

Giữ khách đã hai tiệc rượu bày.

Bỗng nghe sóng rền nơi biển cả,

Giục hoa trống hạc gõ đâu đây.

Bia thứ ba:

Hoa cười chim hót thú vui tràn,

Ngắm thưởng nhà vua mới nghỉ chân.

Căn dặn trước song ngàn khóm trúc,

Hàng năm thay biển báo bình an.

Càn Long đưa mắt nhìn thấy nước hồ gợn sóng, nhà cửa thấp thoáng, những viên đá đẹp kỳ dị, những cây cổ thụ, những khóm trúc yểu điệu, xanh tươi rậm rạp, vô cùng thích thú, lại nhìn thấy cây mai cổ thụ ngàn năm, nước trong đầy hồ, tấm tắc khen mấy bài thơ của Viên Mai.

Tối đó, tại Ngung Viên bày hai trăm bàn tiệc, có cả đội múa hát nữ hầu tiệc. Trong buổi tiệc cụ bà Trần Các Lão chốc chốc lại nhìn Càn Long. Càn Long rất lấy làm lạ. Tiệc tan, Càn Long gọi Hòa Thân hỏi:

- Trong buổi tiệc, cụ bà Trần Các Lão thỉnh thoảng nhìn Trẫm rồi nhìn Trần Các Lão, dường như trong lòng có điều gì vương vấn, không biết ngươi có nhìn thấy không?

- Nô tài có thấy.

- Khanh hãy nói vì sao?

- Nô tài làm sao biết được. Nhưng nô tài có một lời này mà chẳng dám nói.

- Khanh cứ nói. Không ngại

- Bệ hạ tha tội cho nô tài, nô tài mới đám nói.

- Tha cho khanh mọi tội.

- Nô tài thấy diện mạo của bệ hạ rất giống Trần Các Lão, cực giống. Có lẽ cụ bà cũng thấy vậy.

Càn Long giật mình, trong buổi tiệc, cảm thấy mình và Trần Các Lão rất giống nhau. Hằng chi, khi mẫu thân ta còn sống, thường nói đến gia đình Trần Các Lão, nhưng mỗi lần nhắc đến lại bỏ lửng, lúc nhỏ ở trong cung, có nghe phong phanh về quan hệ thế nào đó giữa mình và Trần Các Lão. Càn Long bảo Hòa Thân:

- Khanh hãy bí mật điều tra việc này, và báo Trẫm biết, nếu có gì không đúng, sẽ cắt đầu ngươi.

Hòa Thân giật mình, đây là lần đầu tiên Hoàng thượng nói với ta một câu như vậy, nhưng không thể không vâng lệnh.

Đêm hôm đó, trăng mờ, Hòa Thân theo lệnh Càn Long, một mình đi đi lại lại trong vườn hoa, đang nghĩ cách điều tra. Mãi tận đêm khuya thanh vắng, vẫn chưa nghĩ ra cách nào, đang định quay người về phòng ngủ, bất chợt nhìn thấy ánh đèn lọt ra từ một gian phòng bên cạnh cổng, trong đó có tiếng xì xầm. Hòa Thân nhẹ nhàng bước đến trước cửa ghé tai nghe trộm. Trong phòng có người nói:

- Tướng mạo Hoàng thượng rất giống cụ lớn nhà ta. Thật kỳ lạ.

Một người khác nói:

- Các anh tuổi trẻ làm sao biết được những chuyện thế này?

- Bác là người nhiều tuổi biết chuyện hãy nói cho chúng tôi nghe nào.

Khạc nhổ miếng đờm xong, người đó nói:

- Lúc ta còn trẻ, cùng cụ nhà đến kinh, cụ bà sinh ra một cậu con trai nghe nói cậu ấy có một nốt ruồi đỏ trên đùi: Không biết vì sao Tứ Thân Vương (Dận Chân) biết được, cho người đến hỏi: Nghe nói công tử khôi ngô, trên đùi có nốt ruồi đỏ, rất là đặc biệt, Thân Vương và Phước Phổ muốn xem. Cụ bà không thể từ chối, nên để người đó bế đi, nào ngờ khi mang trả lại là một bé gái chứ không phải là cậu công tử. Cụ ông cả kinh, sau đó dấu kín chuyện này và nói, có thể là chuyện Tứ Thân Vương muốn lập thái tử, mới đổi lấy con trai. Tứ Thân Vương trước đây có một cậu con trai, nhưng ốm yếu bất tài, không được Hoàng đế Khang Hy ưa thích. Tứ Thân Vương lại muốn có một cậu con trai, như vậy lúc Thái tử tại vị, có lợi cho ông ta, nhưng ông ta lại sinh ra một cô gái, vì vậy tìm cách đổi lấy con trai. Anh nghĩ xem, Tứ Thân Vương là cụ Ung Chính đấy, Hoàng thượng hiện nay không phải là…

Người kia nói:

- Nói nhỏ thôi, nhỏ thôi, đây là chuyện hết sức bí mật, nếu không người khác nghe được, hai chúng ta đứt đầu như chơi.

Hòa Thân nghe đến đấy, lẳng lặng rút lui, trên đường về gặp hai thị vệ đi tuần đêm, tưởng là kẻ gian, sau khi xem kỹ, mới biết là Hòa đại nhân, vội vàng tạ tội. Hòa Thân lệnh: “Người trong nhà kia, không để sót một ai, không để họ sống qua đêm nay, phải dọn sạch, phải cho họ chết mà không để một ai nghi ngờ, chết một cách tự nhiên, làm tốt, được thưởng được tăng chức, làm không tốt sẽ mất đầu”. Hai tên thị vệ lãnh mệnh đi chuẩn bị.

Hòa Thân về phòng ngủ một giấc đến sáng. Ăn sáng xong, Càn Long hỏi:

- Khanh điều tra chưa?

Hòa Thân tâu:

- Nghe được mấy lời không căn cứ.

- Chính xác hay không, khanh nói Trẫm nghe.

- Mấy lời này nô tài không dám tâu.

- Trẫm không bắt tội khanh. Khanh có thể nói.

Hòa Thân vẫn không dám nói.

Càn Long bực mình đứng dậy nói:

- Nếu khanh không nói, lẽ nào Trẫm không thể bảo khanh chết ư?

- Thánh thượng tha chết cho nô tài, nô tài mới dám tâu, cầu xin Hoàng thượng bao dung. Hòa Thân quỳ tâu.

- Lẽ nào khanh muốn Trẫm viết giấy bảo đảm. Trẫm nhất định tha tội cho người. Ngươi cứ nói không ngại.

Hòa Thân kể lại tâu chuyện đã nghe.

- Toàn là chuyện vô căn cứ. Càn Long nổi giận: - Hai tên nói bậy ấy đáng tội chết!

- Hai tên ấy tối qua đã bị rắn độc cắn chết rồi.

Hòa Thân tâu.

- Đáng chết, tội đáng chết! Càn Long hậm hực.

Ăn sáng xong, Càn Long lại dạo chơi trong Ngung Viên nghe tiếng sóng ầm vang, như ngàn vạn con hổ gầm trong núi rừng, bèn nói: “Trẫm lần này đến Hải Ninh là vì để ngăn chặn sóng biển làm nguy hại đến dân chúng Triết Giang, giữ vững con đê, bảo vệ ruộng đồng. Trẫm đổi tên Ngung Viên thành An Lan Viên”, và viết một câu đối như sau:

Hoa đượm móc mưa, hương gấm vóc,

Tre mang tiếng sáo, âm đá vàng.

Và viết hai bức hoành phi “Ái Nhật Đường” “Xuân Huy Đường” treo ở tòa nhà trước và tòa nhà giữa. Hòa Thân ngẫm nghĩ về hai bức hoành phi của Càn Long, dường như Hoàng thượng cũng hoài nghi cha mẹ sinh ra mình. Càn Long cũng ngờ ngợ nhận ra rằng vợ chồng Trần Các Lão là cha mẹ sinh ra mình. “An Lan Viên” thì đã rõ rồi, còn “Ái Nhật Đường”, “Xuân Huy Đường” chẳng phải là mượn câu thơ của Mạnh Giao sau đây để nói ư? “Sợi kia trong tay mẹ, áo này khoác người con. Đường chỉ mũi kim nhặc, những mong có ngày về. Ai biết nỗi lòng này, báo cho nắng xuân hay”.

Hòa Thân hiểu ý, tâu với Càn Long:

- Nô tài đã điều tra biết được người con gái của Trần Các Lão đã gả cho Tưởng Phố, người Thường Thục. Tưởng Phố là người học vấn tài ba.

- Chuyến nam tuần của Trẫm đã xong, hôm nay chuẩn bị trở về kinh, khanh cho người đến Thường Thục, truyền Tưởng Phố hộ giá về kinh.

- Nô tài tuân lệnh.

Về đến Hàng Châu, Hòa Thân tâu:

- Lưu Quốc Thái ở Sơn Đông cấp báo, vụ án cắt bím tóc đuôi sam ở Sơn Đông tái phát, đã bắt xử mấy người nhưng dư đảng vẫn còn.

Càn Long cả kinh.

Mấy năm trước phong trào cắt bím tóc đuôi sam ở Sơn Đông đã lan ra các tỉnh Triết Giang, Giang Tô, Trực Lệ, An Huy... đã được dập tắt bằng biện pháp vừa cứng vừa mềm, vậy tại sao bây giờ lại bùng lên?

Càn Long nói:

- Để bím tóc đuôi sam là quy định của triều đình ta, cắt đi tức là không phải thần dân của Mãn Thanh. Đây là một âm mưu. Nếu để phát triển lan ra các nơi khác sẽ làm cho dân chúng hoang mang, đất nước không yên. Việc này phải có một người đủ sức cáng đáng và có biện pháp nghiệm trị, không để hậu hoạ. Các khanh xem chọn ai thích hợp?

Các đại thần văn võ đều thấy đây là một việc khó khăn, bàn luận sôi nổi. Chẳng chọn được người nào. Hòa Thân tâu:

- Khi bệ hạ tuần thú Sơn Đông, đi ngang qua huyện Tứ Dương, dân chúng Tứ Dương ca ngợi tri huyện Lưu Quốc Thái là Lưu Thanh Thiên, như vậy, uy tín rất lớn, trước hết nên cử ông ta đảm đương việc này, vì ông ta am hiểu tình hình, chăm chỉ cần cù, một lòng vì Hoàng thượng. Nô tài cho rằng, nên ủy nhiệm cho Lưu Quốc Thái làm tuần phủ Sơn Đông giải quyết vụ này, vì hai lẽ: một là, Quốc Thái có uy tín lớn, được dân chúng mến mộ, nếu để Quốc Thái giải quyết vụ này, sẽ được dân chúng đồng tình giúp đỡ; hai là, Quốc Thái am hiểu tình hình, có thể diệt cỏ tận gốc, loại trừ hết bọn gian tà”.

Càn Long đồng ý, và lệnh cho tuần phủ mới ở Sơn Đông giải quyết vụ này, và gửi cho ông ta ba chữ: “Ngận, chuẩn, ổn” (kiên quyết, chính xác, ổn định - ND).

Cuối tháng tư, Càn Long đến Tế Ninh, lầu Thái Bạch ở phía Nam thành Tế Ninh đã được sửa chữa lại như mới, mặt lầu nhìn xuống sông, trông thật hùng vĩ. Năm đó, Lý Bạch đã từng đến đây, Tri huyện Hạ Tri Chương mở tiệc khoản đãi, sau đó dựng lầu này ngay tại chỗ này, nên gọi lầu này là lầu Thái Bạch. Lúc Thái Bạch từ biệt bạn bè Ở Sơn Đông, để lại một bài thơ nổi liếng “Mộng du thiên lão ngâm lưu biệt” (Ông trời nằm mơ ngâm thơ từ biệt - ND). Hòa Thân đứng trên lầu ngắm trông thuyền bè qua lại trên sông như mắc cửi, thầm rủa Lý Bạch đã nói “Dễ đâu cúi đầu, khom lưng thờ quyền quý. Khiến ta chẳng được mặt mày tươi”. Lý Bạch đúng là một gã mắc bệnh tâm thần, một tên du đãng.

Càn Long hỏi Lưu Quốc Thái về tình hình Sơn Đông, lòng rất vui. Đúng lúc ấy, Lục Thế Ban Thiền ở Tây Tạng phi ngựa mang thư đến hành cung. Càn Long xem thư, nhưng thư viết bằng chữ Tạng, mọi người trong hành cung không ai biết. Thị vệ tâu: “Không biết Hòa đại nhân ở đâu”. Càn Long lệnh: “Gọi Hòa Thân đến ngay, ông ta mang ngồi với Hàn Đại Phát ở Phủ nội vụ”.

Hòa Thân cầm thư đọc to:

“Tiểu tăng từ nhỏ thừa hưởng ân đức nuôi dạy của Đại Hoàng đế Văn Thù Bồ Tát, thật không thể kể hết. Không ai sánh kịp. Tiểu tăng là người xuất gia, không có gì đáng nói, tuy nhiên hàng ngày đều cầu chúc Đại Hoàng đế Văn Thù Bồ Tát mãi mãi vững ngồi trên tòa sen vàng, để các lạt ma tụng kinh cầu nguyện, và luôn luôn được nhìn thấy Đại Hoàng đế Văn Thù Bồ Tát. Năm Canh Tý, nhân Đại Hoàng đế bảy mươi tuổi, kính chúc vạn vạn tuế, gửi thư này đến Đại Hoàng đế để tỏ lòng thành kính”.

Càn Long nghe xong cười hả hê. Xưa nay ít có người sống được bảy mươi tuổi, bảy mươi đại thọ lại có Ban Thiền cùng tăng ni tụng kinh, hoan nghênh đạo Phật, gặp mặt các vương công quý tộc Mông, Tạng, một người về triều vạn người hướng theo, tất nhiên lễ mừng thọ tưng bừng náo nhiệt, là một dịp ít có mọi người ngóng đợi. Càn Long bảo Hòa Thân viết chiếu chỉ. Hòa Thân viết chiếu chỉ bằng ba thứ tiếng Mãn, Tạng, Hán như sau:

“Theo bản tấu của Chương Gia Hồ Đồ Khắc, Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Nê nhân năm Canh Tý, dịp Đại Hoàng đế tròn bảy mươi tuổi, muốn đến chúc thọ, Trẫm cũng muốn gặp Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Nê, nhưng vì đường sá xa xôi, không tiện mời đức Phật sống đi xa. Hôm nay, đức Phật sống tự tay viết thư, tỏ lòng tôn kính muốn đến, đây là việc tốt lành, Trẫm đồng ý, là tháng mừng thọ của Trẫm, các nơi Nhiệt Hà, và vùng lân cận chuẩn bị, Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Nê đến Nhiệt Hà vào lúc này, rất thuận tiện”.

Chiếu thư viết xong, Càn Long nói. “Năm Đạt Lai thứ năm đến Bắc Kinh, phụ hoàng ta xây cho Đạt Lai một chùa màu vàng, nay cũng xây cho Đạt Lai thứ sáu một chùa như vậy. Và chỉ dụ: Xây chùa tại Nhiệt Hà cho Ban Thiền ở. Việc xây chùa do Hòa Thân toàn quyền lo liệu”.

Hòa Thân nhận lệnh, nghĩ rằng Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Nê là hóa thân của Phật, là lãnh tụ của người Tạng, từ khi Đạt Lai thứ năm đến kinh đến nay, chưa có một vị Ban Thiền Đạt Lai nào bước ra khỏi xứ tuyết. Bây giờ Ban Thiền thứ sáu ra khỏi cao nguyên đến chúc thọ Hoàng thượng, rõ ràng thể hiện nước Trung Hoa thống nhất, ổn định thịnh vượng. Việc này nhất định phải làm tốt, chùa chiền nhất định phải xây thật đẹp thật đàng hoàng, theo phong cách kiến trúc Hoàng giáo (một giáo phái lớn nhất của đạo Phật ở Tây Tạng - ND). Hòa Thân bái từ Càn Long, đến Nhiệt Hà. Nhờ trước đây đã khảo sát địa hình, nên các công trình chính đã được thiết kế trước, lần này Hòa Thân đến Nhiệt Hà chỉ dựa theo bản vẽ cũ thay đổi chút ít và cứ thế mà thực hiện. Sau đó không lâu, Hòa Thân cho người phi ngựa mang sơ đồ kiến trúc và tình hình thực hiện về báo với Hoàng thượng. Sơ đồ ghi rõ tên chùa như đã dự định “Tu Di phước Thọ chi Miếu”, ở phía đông miếu Phổ Đà Tông Thừa, trên mảnh đất rộng ba vạn bảy ngàn chín trăm thước vuông. Công trình kiến trúc chính ở dưới chân núi, đài Đại Hồng nằm chính giữa chùa, chùa chia làm ba phần: trước, giữa, sau. Bố cục của đình bia phía trước và cách bố trí tháp Vạn Thọ Lưu Li phía sau hình thành thế núi ngọn sau tiếp ngọn trước. Phía trước chùa xây cầu đá năm vòm, sư tử đá, cửa chùa, đình bia, đền thờ Lưu Li, xung quanh có tường bao mái lượn sóng, những chỗ góc quanh có lầu gác, nhìn xa trông như cung điện. Cửa chùa nhìn theo hướng nam. Đài Đại Hồng, đài Đông Hồng, điện Cát Tương Pháp Hỉ nối tiếp với nhau. Đài Đại Hồng tạo thành một quần thể lầu ba tầng bao quanh và một điện ba tầng vừa đẹp vừa tôn nghiêm, nhìn từ trên cao xuống trông giống chữ “hồi” hình thành một cung điện khép kín, kiến trúc bên trong gây nên một cảm giác thần bí linh thiêng và một không khí thoát tục.

Càn Long xem xong, vỗ bàn khen, ra lệnh ngay cho Hòa Thân gấp rút xây dựng, không được chậm trễ, và truyền cho các bộ, viện ở trung ương và các địa phương, ra sức phối hợp giúp đỡ, ai sai sót lơ là sẽ nghiêm trị.

Không lâu sau đó, để khen thưởng tài ngoại giao xuất sắc của Hòa Thân, Càn Long đã cho Hòa Thân làm Thượng thư Viện Lý Phiên, quản lý công việc liên quan đến các dân tộc Mông - Cương - Tạng và tất cả công việc ngoại giao.

Hòa Thân đang bận rộn xây dựng chùa Tu Di Phước Thọ thì được Càn Long triệu về kinh để xử lý vụ án Lý Thị Nghiêu, Tổng đốc Vân - Quý, Hải Ninh phụ trách kho dự trữ lương thực tố cáo Lý Thị Nghiêu “tham ô trục lợi”. Hòa Thân đang muốn tỏ rõ quyền uy và tài cán của mình, vui vẻ đến Vân Nam - Quý Châu.

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang