Hòa Thân nói: “Ta nghe tiếng đàn của nàng như ai oán, nước suối ngừng trôi, nhìn thấy nàng như đã quen biết”...
- Trong chăn gấm ấm êm, đôi trai gái đắm chìm trong giấc mộng giàu sang bị thức tỉnh bởi những tiếng gõ cửa nhặt khoan đều đặn...
- Càn Long nhổ nước bọt, Hòa Thân vội vàng rút khăn tay ra hứng. ..
Tháng mười một, năm Càn Long thứ năm mươi mốt, một trận tuyết lớn đổ ào ào xuống kinh thành Bắc Kinh. Đô thành nhà Đại Thanh được trang hoàng lộng lẫy, nhà cửa san sát, đường phố phồn hoa, cung điện hùng vĩ, nhà thổ đèn đuốc sáng rực, đã giảm mất khí thế vì trận mưa tuyết.
Sáng sớm hôm ấy, cung Càn Thanh đắm chìm trong giấc ngủ đông, một tiếng động cũng chẳng nghe thấy. Bên ngoài mưa tuyết rất to, đến nỗi trong nhà cũng nghe thấy được tiếng tuyết rơi rào rào xuống đất. Gió bấc thổi vù vù rít lên những âm thanh ghê rợn, khiến những mảnh giấy dán trên cửa số nảy lên đập xuống không ngừng.
Hoàng đế Càn Long quen dậy sớm, qua một đêm ngủ ngon trên giường ấm, bước lên thư án chất đầy tấu chương, đưa mắt nhìn qua những mảnh giấy bóng dán trên cửa sổ, tưởng mình dậy muộn, ngồi bên đầu giường gọi:
- Thái giám trực đâu. Giọng nói uy nghiêm, tiếng vang như chuông vọng.
Ngay lúc đó, từ cửa buồng bên, một thái giám già thân cận Càn Long vội bước ra.
- Sao không gọi Trẫm dậy sớm, tối qua đã bảo rồi cơ mà. Sáng nay Trẫm cùng Hoàng hậu đến hoa viên ngắm hoa mai.
- Tâu Đức vạn tuế, hãy còn sớm lắm. Viên thái giám nhìn nét mặt giận dỗi của Càn Long, run run nói, và đánh lửa thắp đèn.
- “Tuyết rơi tựa trời sáng. Ánh đèn như hoa mai”. Càn Long ứng khẩu đọc, hai câu thơ rồi nói tiếp: - Đêm qua ngủ sớm, hôm nay thức dậy không muốn ngủ nữa, thay áo quần.
Mấy thái giám đứng hầu bên cạnh nhìn nhau nghĩ bụng, Hoàng thượng ơi, Hoàng thượng ngủ ngon suốt đêm, còn mấy người chúng tôi, cứ để áo quần thế này mà nằm, mà ngủ gật, đâu có được ngủ? nghĩ cứ nghĩ, làm cứ làm. Mấy thái giám vừa vội vàng thay áo mũ cân đai cho Càn Long, vừa nói:
- Tâu Đức vạn tuế, không phải bọn nô tài này không biết cách hầu hạ Đức vạn tuế, ngoài kia tuyết rơi rất nặng, phủ kín trời đất, màu tuyết ánh lên giấy dán trên cửa sổ phát sáng, thực ra, hãy còn sớm lắm. Cung Càn Thanh chưa có ai dậy, Thái hậu và các phi tần còn đang trong giấc mộng, chưa thức dậy đâu.
- Đồ khốn, Hoàng hậu ngủ cũng có thể do các ngươi thầm thì thế này thế kia phải không? Trẫm phải phê thêm mấy bản tấu chương. Đợi ngày mai tuyết nhỏ lại, ta sẽ đi ngắm tuyết. Nói xong, Càn Long ngồi bên thư án. Mấy thái giám thè lưỡi, ai làm việc nấy.
Phê xong mấy tấu chương, Càn Long xua tay, hà hơi, đứng đậy, sắc mặt vẫn tối xầm như bầu trời u ám bên ngoài. Càn Long lo lắng không yên vì có một loạt vụ án tham nhũng, giáo hội, báo cáo kế toán, v.v... như tuyết bay vào tay mình, làm sao ngủ yên được? Trận mưa tuyết lớn này giống như trận mưa tuyết kia, khiến không biết bao nhiêu dân chúng khổ sở khó qua mùa đông dài dằng dặc. Vùng lũ lụt dọc miền Giang - Triết - An đã mở kho cứu tế chưa. Theo lệ thường, lúc này tuyết rơi không chỉ riêng ở kinh thành mà còn ở nhiều nơi khác, hàng năm đều có người chết đói, chết rét, chết bệnh, không biết các quan phụ mẫu châu huyện có làm tròn chức trách không, hay làm ô danh “vị vua nhân đức” của ta.
- Tâu Đức vạn tuế.
Càn Long giật mình quay lại, nheo mắt nhìn xem, té ra đó là một thái giám nội cung, đầu tóc đầy tuyết, thở hổn hển, quỳ dưới chân mình. Càn Long hỏi:
- Có việc gì vậy?
- Tâu Đức vạn tuế, hôm nọ các thị vệ bắt được mấy chú gà rừng đưa vào cung, Hoàng hậu lệnh cho nhà bếp hầm với thuốc được mấy bát, lệnh nô tài đến mời Đức vạn tuế đi thưởng thức, nếu bên ngoài trời không giá rét, nô tài đã tiện thể mang đến đây.
- Cảm ơn lòng tốt của hoàng hậu, ngươi về báo với Hoàng hậu, Trẫm còn một số việc chưa giải quyết xong, mấy bản tấu chưa phê duyệt, lẽ ra ta phải đi, nhưng vì quá bận. Đi đi!
- Thưa vâng. Viên thái giám rút lui.
Càn Long thầm nghĩ, không đến hậu cung, họ già rồi, chẳng có hứng thú, chỉ có Hòa Thân là được việc. Càn Long nhìn ra thế giới trắng xóa bên ngoài cửa sổ, trong sân có mấy bóng đen lay động, tiếng xúc tuyết thỉnh thoảng dội lại, tiếng nô đùa của bọn tiểu thái giám vang lên. Càn Long lên tiếng:
- Truyền lệnh Trẫm, Hòa Thân vào cung cùng Trẫm ngắm cảnh tuyết rơi. Chúng ta đi trước. Càn Long bước ra khỏi cửa, một luồng khí lạnh ập đến, Càn Long rùng mình.
Viên thái giám tùy tùng vội vàng khoác thêm lên người Càn Long chiếc áo da cừu, bên ngoài choàng thêm chiếc áo chẽn da cáo màu tím. Càn Long nói:
- Áo chẽn sao lại khoác bên ngoài?
- Đó là kiểu Đức vạn tuế, có thần sắc hơn.
Càn Long hài lòng gật đầu, vui hẳn lên.
Lúc này nhà bếp mang cơm đến, mấy món ăn Càn Long thích dùng. Đợi viên thái giám rụt rè nếm thử một lượt, Càn Long ăn mấy miếng, uống hơn một bát sữa dê, xoa tay nói với viên thái giám:
- Sáng nay không lên triều, ngươi đi hỏi các đại thần có việc gì tâu báo không, nếu có thì đến thư phòng đợi.
Thái giám giúp Càn Long đội mũ, thay giầy, che chiếc lọng vàng, mở cửa. Không ngờ vừa mở cửa, một luồng tuyết ập vào xen lẫn những viên tuyết vụn giá lạnh cứng đông, đập vào mặt Càn Long. Càn Long định né tránh, chạm phải hai thái giám vừa mở cửa đứng hai bên, nên đành cúi người xuống hất tuyết đi. Hai thái giám lo sợ Càn Long phát cáu, khép nép đứng một bên, không giám giúp Càn Long phủi tuyết. Càn Long cười ha hả, một hơi nóng thoát ra từ miệng khi ông lên tiếng:
- Cảnh tuyết rơi đẹp thật! Đúng là trời ban phước lành cho muôn dân. Sang năm nhất định được mùa lớn!
Đám thị vệ đại nội canh gác cổng thành, mình đầy tuyết đứng nghiêm tại chỗ, giương đôi mắt đen hạt nhãn nhìn Càn Long đi qua.
Đúng là một trận tuyết đẹp. Cầu Ngọc Đái và sông Kim Thủy mờ ảo, ngày thường nước sông chảy êm đềm, giờ đây lặng yên như mặt gương, qua một đêm, tuyết rơi thành lớp dày trên dòng sông đóng băng. Gió thổi lay động những ụ tuyết, hoa tuyết tung bay, quần đảo lượn lờ. Những khóm liễu rũ dọc hai bờ sông đẫm mình trong tuyết rung rinh rì rào trước gió. Những viên băng to bằng quả trám rơi lộp độp, chạm vào các ụ tuyết khiến hoa tuyết tung tóe bốn phía.
Càn Long rảo bước theo dọc hành lang, vuốt tóc, hà hơi, định đến quảng trường điện Thái Hòa dạo chơi. Càn Long rút tay ra khỏi găng tay, như một đứa bé vốc hai nắm tuyết xác vào lòng bàn tay, vừa đi vừa đưa mắt ngắm nhìn thế giới một màu trắng bạc, đôi ủng da hươu dẫm lên tuyết nghe rào rạo. Càn Long cao hứng vừa đi vừa hát một đoạn trong vở kịch “Quý Phi say rượu”, hát tiếp mấy câu “Kế thành trống”, đang hát đến đoạn “Tư Mã ra quân”, thì bỗng hai người hớt hải chạy đến, đưa mắt nhìn xem, hóa ra đó là viên thái giám mình vừa bảo đi truyền lệnh, người đi sau không biết là đại thần nào, hai hình người lờ mờ tiến đến trước mặt, lúc đó mới rõ người kia là Hòa Thân đi giầy da hươu đen, mặc áo bào cửu mãng ngũ trảo, ngoài khoác áo hoàng mã, nổi bật giữa màu tuyết trắng, rét đến môi thâm. Không đợi Hòa Thân quỳ lạy, Càn Long xót xa nói:
- Trẫm đã cho phép khanh ngồi kiệu đến thẳng nội cung cơ mà? Bệnh đau chân của khanh không nên đi bộ trong tuyết .
Hòa Thân cảm động rơi nước mắt:
- Đa tạ sự quan tâm của Hoàng thượng, nô tài mãi mãi không quên ân đức của Hoàng thượng. Nhưng vì đêm qua, tuyết rơi khắp nơi, lúc nô tài ở Cục Quân cơ phê chuyển công văn lên Hoàng thượng, bỗng nhận được tấu chương của Tổng đốc Mân - Triết, Thường Thanh từ xa tám trăm dặm cấp tốc gửi về, nô tài không dám chậm trễ, trời vừa sáng, đã đến triều bái kiến Thánh thượng, nghe công công thái giám truyền lệnh, nên vội đến ngay. Nói xong rút tấu chương từ trong tay áo ra, hai tay run run dâng lên Càn Long.
Càn Long nói:
- Ái dà? Hòa khanh, trận tuyết này đủ nói lên Trẫm đã lấy đức trị thiên hạ, rất được lòng dân khiến trời đất cảm động, tuyết rơi khắp nơi. Trẫm tin rằng, trong vòng hai ngày, các nơi sẽ tấu báo về. Trẫm dám mười phần khẳng định là trận tuyết chưa hề có trong vòng mấy chục năm qua, có lợi mà không có hại. Tuy nhiên, mối lo của trẫm không phải năm tới mà lo hiện lại, cái lo của bậc vương giả và cái lo của thứ dân không giống nhau. Trẫm đã nghĩ sẵn trong bụng, ngày mai Cục quân cơ gửi về các địa phương. Trẫm đọc khanh nghe: “Trời đổ tuyết, thật đáng vui đáng mừng. Sau mùa hè và mùa thu các nơi ít nhiều đều bị hạn hán, lũ lụt ; bước vào tháng mười một, lại có tuyết rơi nhiều, cũng có thể là mối lo. Thật đáng thương cho người đói rét không nhà để ở, mùa thu thu hoạch kém lại thêm thiên tai dồn dập, mong quan phụ mẫu khắp các châu phủ huyện, kiểm tra xem xét cẩn thận, không được để dân chúng đói rét, qua đông an toàn. Như vậy mới thực sự hợp với ý trời. Các quân cơ phải cử người đi các địa phương nắm chắc dân tình, tấu báo cụ thể”. Càn Long thao thao bất tuyệt tuôn ra những gì đã nghĩ trong bụng, lúc đắc ý, lúc trầm buồn.
Hòa Thân cười nịnh:
- Hoàng thượng cực anh minh, lo lắng cho muôn dân, khi về Cục quân cơ thần sẽ chuyển đạt ngay ý chỉ của Hoàng thượng đến khắp nơi để dân chúng thiên hạ đều biết tấm lòng nhân từ của Hoàng thượng.
- Đợi mấy hôm nữa cũng không muộn. Càn Long khoát tay.
- Tấu chương của Thường Thanh... Hòa Thân nói tiếp.
Càn Long hơi khó chịu, vung tay, một cục tuyết văng ra, đập “bịch” vào thân cây liễu. Hòa Thân cảm thấy một luồng hơi lạnh từ dưới chân xông lên rất khó chịu nên kéo viên thái giám lại chỉ vào chân. Viên thái giám hiểu ý, đến sau Càn Long, rụt rè tâu:
- Tâu Đức vạn tuế, theo nô tài, Người và Hòa đại nhân nên vào trong nhà trò chuyện. Trời rét lắm!
Càn Long nhìn thấy chân của Hòa Thân hơi quị xuống, gật dầu.
Từ bên ngoài gió tuyết rét buốt bước vào trong nhà ấm áp. Càn Long thấy cả người nóng rực, ánh tuyết chiếu qua cửa sổ, khiến trong nhà rực sáng màu tuyết trắng. Trong nhà có hơi lửa sưởi ấm, Hòa Thân cảm thấy dễ chịu. Càn Long thay áo giầy ẩm ướt, ngồi vào chiếc ghế mèm bằng da chồn, ra hiệu cho Hòa Thân thay giầy. (Thực ra, lúc mới quen biết Hòa Thân, Càn Long đã thầm kín sắp xếp để Hòa Thân cùng ngủ với mình một giường, dùng chung vật dụng, vì lý do gì, phần trước đã nói). Càn Long mở tấu chương do Hòa Thân đề trình xem kỹ:
“Kính gửi Cục quân cơ: Tổng đốc Mân - Triết, Thường Thanh xin cấp báo. Phỉ Lâm Sáng Văn, huyện Chương Hóa, Đài Loan tụ tập bè đảng, uy hiếp nghiêm trọng trật tự trị an trên đảo, quấy nhiễu dân chúng, giết người cướp của, chặn đường cướp tiền lương của quân đội, khí thế ngày càng hung hăng. Ngày hai mươi bảy tháng mười một, Tri huyện Chương Hóa, Dụ Tuấn khi đến Đại Đồn bắt giặc thì thành huyện cũng bị giặc chiếm. Thần đã cử Thủy sư đề đốc Hoàng Hóa Giản đưa hai ngàn quân qua eo bể để diệt phỉ, và cử các phó tướng, tham tướng, đô tư mang quân theo nhiều ngả tiến công”. Thần ở Tuyền Châu, cùng với Đề đốc lục quân Nhiệm Thừa Ân phối hợp chỉ huy, đã cử Tổng binh trấn Kim Môn, La Anh Cấp gấp rút đến Hạ Môn trấn áp, và lệnh cho các châu huyện vùng ven biển cảnh giới đề phòng, đã gửi công văn yêu cầu tuần phủ Quảng Đông, Triết Giang kiểm soát chặt chẽ các cửa biền...”
Càn Long xem xong, chau mày, nói với Hòa Thân:
- Hòa ái khanh, ý khanh thế nào?
Hòa Thân hiểu ý Càn Long qua ánh mắt, vừa cười vừa nói:
- Hoàng thượng, theo ý nô lài, Lâm Sáng Văn chẳng qua là một tên vô danh tiểu tốt, muốn chết mà không có gan, chỉ mê hoặc mấy tên mu muội cùng chết, theo nguyện vọng của hắn, hãy bắt hắn và mấy tên đồng đảng xử chết lăng trì.
- Hòa ái khanh, khanh mới nói đúng một nửa, ý Trẫm là đã sắp đến mùa đông giá rét, lẽ nào Thường Thanh không biết dùng binh vào mùa đông là tối kỵ của người làm tướng, điều đó không cần phải bàn, Trẫm biết, quân đội Đài Loan có Tổng binh, phó tướng và hơn một vạn hai ngàn lục quân thường trực, hơn hai ngàn thủy quân. Lẽ nào quốc gia nuôi nhiều quân như vậy mà đều vô dụng, để ngắm mà không dùng được? Một tên Lâm Sáng Văn cỏn con mà Thường Thanh đã làm toáng lên. Rõ là việc nhỏ làm to, mắt chuột nhìn gần, quá ư sợ hãi.
Càn Long đầy vẻ tức giận, Hòa Thân ngồi không yên, bởi vì Thường Thanh là môn sinh đáng yêu của ông. Chức Tổng đốc Mân - Triết của Thường Thanh là do ông vun đắp. Viên ngọc dạ minh châu to nhất thế gian trong nhà Hòa Thân là của Thường Thanh biếu. Hòa Thân nhớ rõ, tất cả châu báu trong hoàng cung không có viên nào sánh nổi với viên ngọc ấy, ông vui thích suốt mấy ngày liền khi được nó, cứ đêm thức dậy cầm hộp đựng viên ngọc, từ từ mở, ánh sáng viên ngọc tỏa ra bốn phía, bên trong viên ngọc như có chất thuỷ tinh chuyển động, lấp lánh. Hòa Thân khom người sát sau lưng Càn Long nói:
- Hoàng thượng nói chí lí, Lâm Sáng Văn chẳng qua là một tên phỉ cỏn con, Thường Thanh sao lại làm cho các tỉnh, các vùng lân cận lo sợ, sao lại cử đề đốc hai lộ đến Đài Loan tiễu trừ tên giặc cỏ họ Lâm. Đức vạn tuế, chi bằng gọi Thường Thanh về, nô tài sẽ cho hắn một bài học. Tất cả do nô tài không quản giáo tốt, mới gặp chuyện bằng con muỗi mà đã tưởng là con voi sợ bóng, sợ gió, thần hồn nát thần tính, còn đâu là khí phách của một Tổng đốc?
Càn Long nghe rất hợp ý mình, nói:
- Hòa ái khanh còn nhớ không, trong lịch sử nhà Đại Thanh ta, từ khi thu phục Đài Loan từ tay Trịnh Thành Công của nhà Minh đến nay, hòn đảo này luôn an toàn, dân chúng an cư lạc nghiệp, chỉ hai năm qua, đây là lần đầu tiên, trên đảo có hiện tượng lộn xộn bất an, Trẫm cho là do các quan lại địa phương không làm tròn trách nhiệm, ngày thường chỉ lo lợi riêng, không lo cai trị, để cái sảy nảy cái ung, gây ra tai họa.
Càn Long biết rõ, trước nay Thường Thanh và Hòa Thân rất thân nhau, mà Hòa Thân là tâm phúc của mình, là cánh tay của mình, một ngày không thể xa. Do vậy khi nói, cố ý đổ trách nhiệm cho bên dưới. Hòa Thân khá tinh ranh, thầm cảm ơn và tâu:
- Hoàng thượng nói chí phải. Hoàng thượng cực kỳ sáng suốt. Việc nhỏ như thế này cũng lo lắng, quả thực không có cách nào bày tỏ, nô tài sẽ cảnh báo Thường Thanh để ông ta biết việc gì nên tâu, việc gì không nên tâu lên Hoàng thượng.
Càn Long an ủi:
- Như vậy Hòa ái khanh không những yêu môn sinh của mình, mà còn là tấm gương cho triều đình, tấm gương cho các đại thần. Bất tất phải cảnh báo. Thường Thanh cũng vì xã tắc Đại Thanh, nhưng vì tầm mắt thiển cận, sợ địch như sợ hổ. Càn Long đừng lại một lúc, đưa mắt nhìn hoa tuyết đang bay lượn bên ngoài cửa sổ, nói tiếp: - Không ít người xưa ví hoa tuyết như tơ liễu, Trẫm cho rằng, đó là một tầm nhìn sâu xa. Mùa đông giá rét, tuy không đẹp bằng mùa xuân hoa nở, mùa thu trĩu quả, nhưng cũng có tiết xuân thu không có cảnh đẹp. Như việc chinh chiến chúng ta đang bàn luận, không tránh được việc chém giết quá nhiều, nhìn trời cao, những đám tuyết trắng rơi xuống, thật không hòa hợp, ít nhiều trái khoái. Hôm nay nhàn rỗi, nếu không ngại, hãy ngồi bên cửa sổ cùng Trẫm chơi cờ được không? Xem tài nghệ của khanh ra sao?
Hòa Thân cả mừng vỗ tay cười nói:
- Đức vạn tuế có nhã ý như vậy, nô tài đâu dám từ chối. Trời đất Đại Thanh đã định, gốc rễ sâu bền, Đức van tuế đã tính toán sẵn mọi việc, bàn cờ này là trời đất, nô tài đâu phải là đối thủ của Đức vạn tuế. Trời đất to nhỏ này đều nằm trong tay Đức vạn tuế. Chỉ chơi cờ thôi ư? Hình như còn thiếu thứ gì nữa cơ?
Càn Long thấy Hòa Thân còn vòng vo tam quốc bèn nói thẳng:
- Khanh sao qua được mắt Trẫm. Rượu, phải không nào? Đã chuẩn bị mấy vò rượu ngon kia rồi.
- Đức vạn tuế quả thật chu đáo, đúng là vị vua nhân đức.
Thái giám mang bàn cờ đến, một lát sau mùi rượu hâm nóng xông lên ngào ngạt. Càn Long cùng Hòa Thân, vừa là quan hệ vua tôi, vừa là quan hệ chủ tớ, thưởng thức rượu ngon, nói cười thoải mái. Đâu có nghĩ đến, lúc này Đài Loan đang rơi vào cảnh mưa sa bão táp, lửa cháy mù mịt.
Đài Loan giàu đẹp lôi cuốn đông đảo người dân đại lục. Theo đà di dân ồ ạt, kết cấu chủng tộc cư dân Đài Loan có nhiều biến đổi. Dân tộc Cao Sơn bản địa ngày càng ít đi, so với những người từ miền duyên hải như vùng Mân, Quảng, Triết dời đến, phần lớn trong số đó là những kẻ vi phạm lệnh cấm nhập cảnh. Từ lâu họ trốn tránh sự kiểm soát của quan lại, nhưng từ khi triều Đại Thanh thống nhất, việc quản lý hộ tịch rất chặt chẽ, nếu không được lệnh quan, dân chúng không được tuỳ tiện di chuyển. Những người từ miền duyên hải di dân đến khai khẩn đất hoang không tránh khỏi các cuộc xung đột với cư dân bản địa, giữa những người di cư với nhau, thỉnh thoảng cũng xảy ra xung đột tranh giành đất đai. Bởi vậy, theo đà di dân ồ ạt, các tài nguyên trên đảo cũng được khai thác, dẫn đến các cuộc xung đột liên tiếp giữa dân di cư với dân bản địa, giữa người Mân và người Việt (Quảng Đông), các cuộc đấu đá giữa các châu Chương, Tuyền, Hồ, Huệ. Lại thêm cảnh quan lại tiến hành hòa giải không vì mục đích công chính, mà chỉ dựa vào danh nghĩa cai trị để vơ vét của cải, khiến việc cai trị thối nát. Dân chúng người Hán từ đại lục đến Đài Loan mưu sinh buộc phải kêu gọi người dân tha phương nơi đất khách lập ra những phe đảng theo nguyên quán, cùng nhau hỗ trợ giúp đỡ, liên hiệp lực lượng, để sinh tồn, phát triển. Mỗi khi có mâu thuẫn với di dân gốc gác nơi khác hoặc với cư dân bản địa, thì huy động toàn thể, khi bị quan trên trừng trị hoặc đàn áp thì nổi dậy chống lại.
Trong bối cảnh đó, dân chúng được tôi luyện trong điều kiện ngặt nghèo, có thể chịu khổ, giàu tinh thần chống đối, kết bè bạn có thể liều chết để bảo vệ quyền lợi chứ không chịu thua thiệt, họ lập ra những tổ chức bí mật, ví như: Hội Thiếc Tiên, Hội Tiểu đao, Hội Thiếc xích, Hội Phụ mẫu, v.v... Hội Thiên địa là một tổ chức bí mật có ảnh hưởng khá lớn. Lâm Sáng Văn là thủ lĩnh của Hội Thiên địa.
Lâm Sáng Văn vốn là người huyện Bình Hòa, Châu Chương, tỉnh Phúc Kiến, sinh năm Càn Long thứ 22. Lâm Sáng Văn mười sáu tuổi theo cha và cả gia tộc đến định cư tại Đại Lí Y Trang, huyện Chương Hóa, Đài Loan. Thuở nhỏ Lâm Sáng Văn đẩy xe, phục dịch ở huyện nha, nhưng phần lớn thời gian làm lụng ngoài đồng ruộng. Cấy cày tuy có vất vả hơn, nhưng thu hoạch nhiều hơn ở nội địa. Có nhà sử học triều Đại Thanh từng phân tích như sau: “Đài Loan không thể có loạn, ở đây đất tốt của nhiều, làm một thu ba, ban đêm nhà không đóng cửa”. Qua đó, thấy rõ Đài Loan giàu có. Năm Càn Long thứ 48, Lâm Sáng Văn gia nhập Hội Thiên Địa, do vậy những người đồng hương ở các nơi như Chương Hóa, Chư La, Đạm Thủy, Phong Sơn, v.v... đều gia nhập Hội Thiên Địa. Khẩu hiệu “Một người gặp nạn, mọi người cùng giúp” của Hội Thiên Địa tăng thêm sức mạnh kết dính của tập đoàn di dân. Lâm Sáng Văn lại nghĩa khí hào phóng, đem của cải nhà mình ra giúp đỡ hội viên và dân nghèo, nên có uy tín và ảnh hưởng rất lớn trong hội viên, mọi người rất khâm phục. Trong quá trình truyền bá giáo nghĩa của Hội Thiên Địa, Trang Đại Điền, người cùng quê Bình Hòa nay cư trú ở huyện Phong Sơn trở thành bạn tâm đầu ý hợp với Lâm Sáng Văn, thường thư từ qua lại với nhau, anh hùng gặp anh hùng.
Tháng bảy, năm Càn Long thứ năm mốt. Quyên cống Dương Quang Huân, huyện Chư La và người em là giám sinh Dương Công Khoan đấu đá nhau vì chuyện tranh giành tài sản do cha mẹ để lại, quên mất tình cốt nhục. Dương Quang Huân đã tham gia Hội Thiên Địa, được Hội ủng hộ. Khi người em đến nhà, người anh liền cho một chưởng, máu chảy đầm đìa, người choáng váng, cô vợ nước mắt đầm đìa cõng anh ta về nhà. Một ngày rưỡi sau, Dương Quang Huân lại đến đòi tài sản thừa kế. Dương Công Khoan cố gượng dậy, tay cầm cây dùi sắt dài đâm thẳng vào ngực người anh. Dương Quang Huân né tránh, nhưng bị chiếc dùi sắt đâm thủng vành tai trái, làm đứt nửa vành tai. Dương Quang Huân ôm nửa vành tai còn lại quỳ trước Hội trưởng Hội Thiên Địa là Lâm Sáng Văn, khóc thảm thiết, yêu cầu giúp đỡ. Lâm Sáng Văn không nói không rằng dẫn một nhóm hội viên bao vây nhà Dương Công Khoan. Hội Thiên Địa quy định, hội viên khi vào Hội đều được gọi là anh em, phải quỳ xuống thề với trời đất trước hương án có đặt rượu pha máu gà, rồi cùng uống máu ăn thề. Do đó Lâm Sáng Văn phải giúp đỡ người anh em của mình là dĩ nhiên. Chỉ một lát, họ đã đập phá tan tành các vật dụng trong nhà Dương Công Khoan.
Cả nhà Dương Công Khoan, già trẻ năm người, tức quá chửi mắng Hội Thiên Địa. Sau khi tính toán kỹ, Dương Công Khoan viết một tờ cáo thị lập Hội Lôi Công, đem của cải giúp đỡ hội viên, ai cũng là người bằng da bằng thịt cả mà, nên nhiều người chạy theo Dương Công Khoan. Thế là chuyện tranh giành tài sản giữa hai anh em biến thành cuộc đấu đá tập thể giữa Hội Thiên Địa và Hội Lôi Công.
Người đứng đầu địa phương cấp tốc báo cho Tổng binh Đài Loan, Sài Đại Kỷ. Sài Đại Kỷ, người Giang Sơn, Triết Giang, xuất thân tiến sĩ võ, lần lượt nhận chức phòng vệ Phúc Kiến, Tổng binh trấn Hải Đàn, Tổng binh Đài Loan. Sài Đại Kỷ cùng Vĩnh Phúc, đảo trưởng Đài Loan lệnh cho thuộc hạ đi điều tra. Tổng binh Trần Hòa bắt được Trương Liệt, hội viên hội Thiên Địa. Một nhóm trong Hội Thiên Địa, ngay chiều hôm ấy phục kích Tổng binh Trần Hòa trên đường về. Lâm Sáng Văn thét:
- Thả người anh em chúng ta ra! Vừa thét vừa vung đao đâm chém quan binh.
Trần Hòa thua chạy. Lâm Sáng Văn giương cung bắn trúng yết hầu của Trần Hòa. Trần Hòa rơi xuống ngựa chết, quân lính đi theo thấy chủ tướng chết, hoảng sợ tranh nhau chạy trốn. Hội Thiên Địa cứu được Trương Liệt. Sài Đại Kỷ tức giận, sáng hôm sau tự mình cùng Vĩnh Phúc đến Chư La, bắt Dương Công Khoan và năm mươi ba người, ra cáo thị lùng bắt Lâm Sáng Văn, gọi Hội Thiên Địa là Hội Thêm Huynh, nhằm biến chuyện to thành chuyện nhỏ, kết thúc vụ án bất hòa giữa hai anh em Dương Quang Huân, tránh sự khiển trách của triều đình vì liên quan đến Hội Thiên Địa vi phạm lệnh cấm. Quả nhiên động tác đó lừa được Càn Long.
Càn Long xem xong bản tâu của Thủy sư đề đốc Phúc Kiến, Hoàng Sỹ Giản, mặt mày hớn hở, ban lệnh khen thưởng Sài Đại Kỷ và Vĩnh Phúc, cho rằng họ xử lý vụ việc thỏa đáng. Càn Long cảm thấy Hội Thêm Huynh, mấy từ đó rất có ý nghĩa, ngẫm nghĩ một lát, bật cười nghĩ bụng, đảng phái ở Đài Loạa thì rất nhiều, mang nhiều tên thật kỳ quặc, Hội Thêm Huynh là tổ chức như thế nào?
Vì sao Sài Đại Kỷ gọi Hội Thiên Địa là Hội Thêm Huynh? Vì sao Càn Long suy nghĩ như vậy về các tên của những tổ chức đó? Nguyên là, Tổ chức Hội Thiên Địa hình thành từ thời Khang Hy. Trương Nhất Quý, nguyên quán ở phủ Chương Châu, lớn lên di cư đến Phong Sơn, là một trong những thủ lãnh của Hội Thiên Địa ở Hồng Môn, sống bằng nghề nuôi vịt, nhưng rất hào hiệp, nên có nhiều chí sĩ dưới triều Đại Minh, các lục lâm hảo hán vùng Sơn Trạch, các hiệp khách tăng lữ thường đến giao du, uống rượu bàn chuyện thời sự, rất chi hợp ý. Tri phủ Đài Loan lúc bấy giờ là Vương Trân, một tên quan tham ô lại, tàn bạo, bày đặt bao nhiêu thứ thuế, tìm cách vơ vét của cải; nếu dân chúng không nộp thì đánh đập, bắt giam năm ba tháng, những vụ kiện tụng, ai có tiền thì thắng, ai không tiền thì thua. Dân chúng Đài Loan vô cùng căm phẫn. Mùa đông, năm Khang Hy thứ 59, trời rét đậm lạ thường, lại xảy ra động đất, nhiều người thất nghiệp, khắp nơi phao tin đồn nhảm. Chu Nhất Quý được các chí sĩ phản Thanh phục Minh khuyến khích, phất cờ đứng lên, thanh thế ngày càng lớn, chỉ sau ba tháng đã có đến hàng ngàn người hưởng ứng, đánh bại quân Thanh, đánh thành cướp đất, phần lớn quan lại nhà Thanh không biết xử lý thế nào, đành kéo nhau chạy về Phúc Kiến, làm chấn động khắp nơi trong nước. Khang Hy lệnh cho Tổng binh Áo Môn, Lam Đình Trân vượt biển diệt phỉ. Lúc này Chu Nhất Quý đã xưng vương hiệu. Trong số người theo ông có một số chí sĩ trung thành với nhà Minh, còn đa số chỉ vì tham lam của cải, muốn giàu sang phú quý, say sưa với danh vị hão huyền, khiến nội bộ hàng ngũ nghĩa quân mâu thuẫn, tàn sát lẫn nhau, lực lượng bị suy yếu nhiều. Lam Đình Trân họp các cánh quân tấn công An Bình, nơi cố thủ của Chu Nhất Quý, trong vòng bảy ngày đã chiếm cứ xong. Chu Nhất Quý thua và bị bắt, nhưng vẫn hiên ngang bất khuất bị giải về kinh, quan lại bộ Hình hỏi ông, là một người dân thường, mưu chuyện phản nghịch, vì sao vậy? Chu Nhất Quý bình tĩnh trả lời vì muốn khôi phục giang sơn Đại Minh. Tuy cuộc nổi loạn chỉ hoạt động được trong mấy tháng trời, nhưng Khang Hy cũng phải vất vả lắm mới giải quyết xong, mãi đến cuối, mới tạm gọi là yên ổn. Chu Nhất Quý bị xử tử lăng trì, đồng đảng chỉ cần thừa nhận sai lầm thì được tha chết, khỏi phải truy cứu. Các quan lại chạy trốn khỏi Đài Loan thì nghiêm trị. Đối với Tri phủ Vương Trân tham ô tàn bạo, tuy đã tự vẫn vì lo sợ, nhưng không được miễn tội, phải đào mồ phơi xác. Các tướng sĩ có công đều được ban thưởng. Tổ chức phi pháp Hội Thiên Địa ở Đài Loan tan rã.
Sài Đại Kỷ đương nhiên không dám tâu ở Đài Loan có Hội Thiên Địa.
Đầu tháng mười một, Tổng binh Sài Đại Kỷ đi tuần đến Chương Hóa. Tri huyện Chương Hóa đề nghị Sài Đại Kỷ đưa quân trấn áp Lâm Sáng Văn. Sài Đại Kỷ không đáp ứng, cho rằng Lâm Sáng Văn chẳng qua là một tên tép riu, cần gì phải đao to búa lớn. Yêu cầu một Tổng binh như tôi ra tay, chẳng phải nực cười ư, chẳng phải đề cao hắn ư? Về đến doanh trại Sài Đại Kỷ cử Cảnh Thế Văn dẫn ba trăm lính, cùng với Tri phủ Đài Loan, Tôn Cảnh đến Chương Hóa. Tri huyện Chương Hóa, Dự Tuấn cử sai dịch Dương Chấn Quốc đi trước bắt Lâm Sáng Văn. Dương Chấn Quốc diễu võ dương oai lùng sục thôn xóm, nhưng chẳng gặp một ai, toàn vườn không nhà trống, nhưng vừa định quay về, hơn hai trăm hội viên Hội Thiên Địa từ dưới đất ào ào xông lên bao vây Dương Chấn Quốc và quân của ông ta. Hảo hán tạm thời chịu mất mặt, giơ tay đầu hàng. Suốt hai ngày liền, Dự Tuấn và phó tướng không dám đem quân đến cứu, ngồi chờ Cảnh Thế Văn đến. Hạ tuần tháng mười một, Dự Tuấn và Cảnh Thế Văn dẫn sáu, bảy trăm quân đến thẳng Đại Đôn, vì nghe tin Lâm Sáng Văn đã đến đấy, cướp giật của cải của các tổ chức khác, may cờ xí, chế tạo vũ khí, chiếm cứ mấy chục nhà dân, chuẩn bị giương cờ khởi sự. Dự Tuấn và Cảnh Thế Văn đóng quân tại bên ngoài làng, bàn bạc suốt cả buổi trưa mà chẳng quyết định được ai cầm quân tiến vào trước, toàn là lũ tham sống sợ chết. Bàn đi bàn lại, Dự Tuấn nói:
- Cảnh tướng quân, trước đây liên quân Tôn Quyền - Lưu Bị đánh Tào Tháo tại trận Xích Bích đã dùng kế gì?
Cảnh Thế Văn nghĩ thầm, con cáo già này thật xảo quyệt, Lâm Thế Văn là người dân thuộc địa phương hắn quản lý, ta chỉ đến đây hỗ trợ mà thôi, hắn muốn dùng kế hỏa công đốt nhà, nên nói:
- Dự tri huyện, đốt nhà dân, hậu quả ai chịu?
Dự Tuấn lầm lỳ nói:
- Cảnh tướng quân khỏi lo. Chúng ta chẳng ai chịu trách nhiệm. Vì, một là, ai cho phép dân chúng bỏ nhà đi nếu truy cứu, còn phạm tội thêm; hai là, nhà cháy, Lâm Sáng Văn buộc phải chạy ra, chúng ta tóm hắn, mọi tội lỗi đều trút lên đầu hắn.
Cảnh Thế Văn gật đầu. Mọi việc được chuẩn bị xong. Cả thôn Đại Đồn chìm trong bể lửa. Khói lửa mịt mù, ngọn lửa bùng lên theo sức gió, nhờ gió lửa càng ra oai. Cả thôn Đại Đồn đẹp đẽ như vậy đã biến thành đống tro tàn sau hai giờ bị đốt cháy. Dân làng khóc than vang trời, ruột gan xé nát, ngơ ngác nhìn đống của cải được tích luỹ qua mất đời bị cháy rụi, thành quả lao động do mổ hôi nước mắt làm ra tan thành mây khói. Những người khỏe mạnh thì căm thù, cầm dao liềm gậy cuốc mở đường máu chạy theo Lâm Sáng Văn. Người già yếu và đàn bà trẻ em thì đứng đó vỗ ngực khóc than. Ngọn lửa đã thổi bùng quyết tâm chống Thanh của di dân Đài Loan. Dự Tuấn và Cảnh Thế Văn bắt được mấy người già yếu bệnh tật chạy loạn, hỏi dò mới biết Lâm Sáng Văn không ở Đại Đôn, nên rất lo sợ.
Dân thôn Đại Đôn vô cớ bị nhà nước thiêu hủy nhà cửa, bị quân lính cướp bóc, của cải mất trắng, vô tội mà mang họa, ai nấy đều liều mạng chạy vào rừng Đại Lý, than khóc với Lâm Sáng Văn và yêu cầu che chở. Trước tình hình đó, Lâm Sáng Văn nói với thuộc hạ:
- Xưa nay, quan hiếp dân chống, lẽ nào dân không chống? Mấy năm qua chúng ta làm lụng vất vả đã được những gì? Theo lý, quan phải yêu dân như con, có vậy mới gọi là quan phụ mẫu của dân. Bây giờ chúng ta đã thấy những người làm quan ở đảo này, có người nào là không tham quan ô lại, không hãm hại dân lành? Từ Sài Đại Kỷ mới làm quan chưa đến hai năm đến Tri phủ Tôn Cảnh Toại, các cấp quan lại, có người nào không ức hiếp dân, không cướp bóc, đốt nhà cửa? Sống kiếp trâu ngựa, chẳng băng dựng cờ khởi nghĩa, diệt trừ tham quan ô lại, cứu vớt muôn dân.
Dân chúng nghe rất kích động, ngay cả tên nha dịch huyện Dương Chấn Quốc cũng hết sức cảm động đứng trên bàn nói to:
- Có thể mọi người không biết, Sài Đại Kỷ tham ô hai vạn lạng, Tôn Cảnh Toại bỏ bê công việc, để hao hụt hàng triệu lạng bạc của nhà nước, trong lúc đó hầu bao của ông thì căng phồng. Nghe lời hiệu triệu của Lâm đại sư, tôi xin thuận thiên hành đạo, diệt hết bọn quan lại chó má chuyên áp bức dân chúng.
Tối hôm đó, Lâm Sáng Văn lãnh đạo dân chúng đứng lên khởi nghĩa, đưa ra khẩu hiệu: “Diệt trừ tham quan”. Lâm Sáng Văn tự xưng Đại soái, tức là Đại Nguyên Soái của các minh chủ các nơi, giết trâu uống máu ăn thề, chế tạo vũ khí, dựng cờ soái. Ngay đêm đó tấn công vào doanh trại quân Thanh. Dự Tuấn, Cảnh Thế Văn và quân lính đang ngủ say không kịp phản ứng, đều bị quân khởi nghĩa Hội Thiên Địa tiêu diệt toàn bộ. Có lẽ Dự Tuấn và Cảnh Thế Văn ban ngày đốt phá tung hoành, không nghĩ rằng, chỉ mấy giờ sau, nắm tay nhau xuống chầu Diêm Vương. Sáng sớm hôm sau, Lâm Sáng Văn thừa thắng truy kích, đánh chiếm thành huyện Chương Hóa, giết chết các tên tham quan như Tri phủ Tôn Cảnh Toại, Tri huyện Lưu Hưởng Cơ, Đô tư Vương Tông Vũ, Thử điển Phùng Tông Khởi... Đầu tháng mười hai, đánh chiếm Trúc Tiệm, giết chết Tuần kiểm Trương Chi Kinh. Lực lượng quân khởi nghĩa liên tiếp giành thắng lợi và lớn mạnh, nhận được nhiều lương thực và vũ khí, những tù nhân trong ngục được thả ra cũng gia nhập nghĩa quân Lâm Sáng Văn.
Lâm Sáng Văn tự xưng “Thuận thiên minh chủ” đưa ra cáo thị, giương cao lá cờ “Diệt trừ tham quan”, để hiệu triệu dân chúng, rất được lòng người. Cáo thị như sau: “Vì bọn tham quan ô lại, áp bức dân đen, do vậy minh chủ thuận theo ý trời mà làm, dựng cờ khởi nghĩa, diệt trừ tham quan, cứu vớt muôn dân, thỏa mãn lòng dân. Riêng với nghĩa quân, không được giết người cướp của, bất nhân bất nghĩa chết dưới gươm dao...”. Sau khi chiếm được Chương Hóa, nghĩa quân thành lập bộ máy chỉ huy quân sự lâm thời. Ngoài việc tự xưng Đại Nguyên soái, Lâm Sáng Văn cử Dương Chấn Quốc làm Phó Nguyên soái, và phong chức cho người có công. Quân khởi nghĩa cũng ra cáo thị thực hiện quân kỷ nghiêm minh: “Từ nay về sau nếu trong nghĩa quân có ai bất chấp kỷ cương, cả gan quấy nhiễu thôn xóm, cướp của hiếp người, cho phép dân chúng bắt trói đưa về thủ phủ, theo luật nghiêm trị, quyết không dung tha”. Quân khởi nghĩa còn định ra chế độ thuế: Đất đồi núi thu chín phần trăm, ruộng nước thu mười sáu phần trăm, nếu không đủ dùng thì quyên góp thêm những hộ giàu. Trung tuần tháng mười hai, nghĩa quân tấn công Chủ Hạ, giết chết Tri huyện Đổng Khởi Diên, Điện sử Chung Yến Siêu. Thanh thế nghĩa quân đã cổ vũ các tổ chức Hội Thiên Địa những nơi khác. Trang Đại Điền ở Đài Nam sẵn có mối thâm giao với Lâm Sáng Văn, nghe tin Lâm Sáng Văn đã phất cờ khởi nghĩa, nên cùng với người anh em trong họ tộc lãnh đạo dân làng uống rượu ăn thề, chế tạo vũ khí, tuyên bố khởi nghĩa. Chỉ trong mấy ngày, đã có hàng vạn người đi theo. Chẳng mấy chốc, Trang Đại Điền đã đánh chiếm thành huyện Phong Sơn, hợp đồng với Lâm Sáng Văn tấn công thành phủ. Quân Thanh trong thành phủ tăng cường phòng bị, Tổng binh Sài Đại Kỳ, tướng Thái Phan Long chia nhau phòng thủ hai mặt nam bắc.
Sài Đại Kỷ đốc chiến suốt ngày đêm, cố thủ thành phủ, tự mình dẫn hơn một ngàn quân ra khỏi thành năm mươi dặm đánh nhau với Lâm sáng Văn và Dương Chấn Quốc. Trên đường tháo chạy, Dương Chấn Quốc bất ngờ bị quân phản bội giết chết. Sài Đại Kỷ cho người đến Phúc Kiến cấp báo, Tổng đốc Mân - Triết Thường Thanh, một mặt cấp báo lên Càn Long, một mặt cử Thủy sư đề đốc Hoàng Sỹ Giản, Lục quân đề đốc Nhiệm Thừa Ân đem quân vượt biển đến Đài Loan cứu viện. Sau khi được viện binh, Sài Đại Kỷ thấy chức vị mình thấp hơn hai đề đốc nên đề nghị Hoàng Sỹ Giản tạm thời làm Tổng chỉ huy, khôi phục các thành. Không ngờ viện binh của Phúc Kiến toàn là vô dụng, đều bị Lâm Sáng Văn đánh bại; Lục quân đề đốc Nhiệm Thừa Ân tuy tự mình lên ngựa ra trận, đánh vào sào huyệt quân địch, nhưng cũng bị nghĩa quân đánh lùi nên không dám tiến đánh nữa. Từ sau khi tấn công Lộc Cảng, huyện Chương Hóa, quân Thanh ngồi nhìn không dám tiến quân. Lâm Sáng Văn nắm thời cơ thuận lợi quan quân nhà Thanh không dám tiến đánh đã cùng với Trang Đại Điền thừa thế mở cuộc tấn công lớn, ra sức cắt đứt liên hệ giữa thành phủ với Lộc Cảng. Trước thế Lâm Sáng Văn mạnh, Hoàng Sỹ Giản cố thủ trong thành phủ, Nhiệm Thừa Ân ngồi im ở Lộc Cảng, ngồi chờ đợi lẫn nhau, chỉ đưa một ít quân ra ngăn chặn cuộc tấn công của nghĩa quân. Thực tế quân Thanh rơi vào tình thế vô cùng bị động.
Tháng ba năm Càn Long thứ năm mươi hai.
Cổng phủ Hòa Thân thường khép kín, hôm ấy bỗng mở tung ra. Đại tổng quản Lưu Toàn tay cầm phong thư bước vào cửa. Hai cánh cửa bằng gỗ nam mộc màu đồng tím chạm trổ tinh vi liền đóng chặt lại, tiếng “kèn kẹt” vang lên khiến Lưu Toàn cũng rợn gáy. Lưu Toàn dặng hắng, rụt rè bước vào vườn Tây Khoa trong phủ. Đây là nơi Hòa Thân thường ngồi để bàn tính việc quan trọng - Thi Hỉ Trai. Nơi đây người bình thường trong phủ không được vào, trừ Hòa Lâm và Lưu Toàn. Do ít người đi lại nên con đường lát gạch phủ đầy rêu xanh. Trong vườn mọc đầy những cây đa già cao chĩa thẳng lên trời, cành lá um tùm che khuất bầu trời, ánh sáng u ám. Một cơn gió nhẹ, ngàn vạn lá cây đa đua nhau reo lên. Lưu Toàn tay cầm lá thư mật, tay khẽ gõ vào vòng sắt cửa Thi Hỉ Trai, gõ hai lần vẫn không thấy động tĩnh, nghĩ thầm: đi đâu nhỉ? Khá nhiều thư mật cần đệ trình lên Hòa Thân, nội dung ra sao, Lưu Toàn có thể đoán biết được tám chín phần, chắc chắn là công văn của các địa phương, công văn nhưng là chuyện riêng, đối với Hòa Thân không phải là bí mật. Lưu Toàn biết rõ điều đó, chờ một lúc, nghe như phía trong có tiếng động, nhưng không dám sỗ sàng bước vào. Đúng một giờ, Hòa Thân mới ló bộ mặt trắng bệch ra qua khe cửa. Đôi mắt linh ranh lướt nhìn Lưu Toàn. Lưu Toàn cảm thấy trong đôi mắt đó của Hòa Thân như chứa đựng điều gì, rồi nói:
- Hòa đại nhân, đây là thư mật do thái giám trong cung chuyển đến.
Hòa Thân cầm lấy không vội mở xem, nhấp nháy đôi mắt:
- Việc thu thuế ở Sùng Văn Môn như thế nào?
Lưu Toàn bước đến cạnh Hòa Thân rỉ tai:
- Tháng này vượt mức hai vạn lạng, nộp cho phủ Nội vụ một nửa, còn bao nhiêu đều nhập vào sổ cái, công việc kinh doanh của các cửa hàng cầm đồ đều tốt nhưng không bằng năm qua. Nô tài cho rằng, do có nhiều người kinh doanh nghề này, nay lại có thêm hai vương phủ mở tiệm cầm đồ ở Đông Trực Môn, trước cửa bày biện rất khí thế, địa điểm lại tốt, nô tài để cho người đi dò hỏi, có nhiều người đầu tư vào nhà trọ nơi trước đây chúng ta bán hàng.
Hòa Thân gật đầu như không để ý:
- Chia nhau ăn mà béo ư? Vậy thì thế này, không ngại bỏ tiền ra mua nhà đất, giá cao là mua được hết.
Lưu Toàn liếc mắt nhìn trộm vào bên trong nhà, hai chiếc đèn lồng bằng vải thưa màu đỏ chiếu ánh sáng lờ mờ.
Hòa Thân cười nói.
- Ngươi muốn kiểm tra ta ư? Đi đi, lát nữa ta phải vào cung, bảo kiệu đi thẳng đến đây, chớ có rầm rộ.
Lưu Toàn hiểu ý mỉm cười.
Hôm ấy, Hòa Thân từ tẩm cung của Càn Long trở về phủ, đang hí hửng mừng thầm, chiến sự ở Đài Loan không phải nhỏ, cơ hội phát tài đã đến. Theo kinh nghiệm trước đây, chỉ cần thiên hạ lộn xộn, xảy ra thiên tai địch hoạ, Hòa Thân lập tức lợi dụng cơ hội trời cho đó, kiếm lời. Đang tính toán, bỗng nghe tiếng đàn từ đâu theo ngọn gió rét ùa đến. Tiếng đàn hòa với tiếng mưa rơi tí tách, trầm bổng du dương, xúc động lòng người, tựa hồ muôn ngàn nỗi ai oán đang kêu than trong gió thảm mưa sầu. Hòa Thân nghĩ bụng, Hoàng thượng tuổi đã cao, phi tần quá nhiều dùng không hết, tránh sao khỏi có người quanh năm suốt tháng lạnh lẽo cô đơn, thở vắn than dài, thương hoa tiếc ngọc, muốn bước ra đi. Phải chăng tiếng đàn kia đã nói lên nỗi lòng đó. Hòa Thân hướng theo phía tiếng đàn, lần bước đến trước một gian phòng tồi tàn sau điện, dừng chân nhìn qua song cửa sổ, nom thấy một cô gái đang ngồi bên đống than hồng, tay ôm dàn cúi đầu gảy đàn. Hòa Thân nhìn xung quanh không ai, vội bước vào nhà. Định thần nhìn, hóa ra là một cung nữ. Người cung nữ ngước mắt nhìn thấy Hòa Thân, sủng thần của Hoàng thượng, vội đứng lên làm lễ. Hòa Thân đưa tay ấn giữ người cô không cho đứng dậy, rồi nói:
- Ta nghe tiếng đàn của nàng đầy ai oán, như nước suối ngưng chảy, trông nàng như người từng quen biết.
Người cung nữ biết rõ, ngày thường Hòa đại nhân rất khiếm nhã, dám cợt đùa với các phi tần nói chung, nên nói:
- Hoà đại nhân là người cao quý, nhiều việc nên Quên, đầu thu mới đây, sức khỏe Hoàng thượng không tốt, Hòa đại nhân đã nhận bát thuốc do nô tì sắc đưa đến. Lúc đó Hoàng thượng gọi tên nô tì, Hòa đại nhân còn đọc một câu thơ...
Hòa Thân trố mắt nhìn người cung nữ nũng nịu, đưa tình, lòng rung động, dường như không kiềm chế nổi, than thầm, đúng là đóa hoa đậu khấu dạo nào, vụt nhớ lại cảnh xưa kia, đọc ngay câu thơ:
Phố Lạc Hồng che khuất mặt ao
Mưa Lộng Tinh mông lung mờ ảo
Người cung nữ tên là Lộng Tinh đỏ mặt tía tai khi thấy Hòa Thân nhớ được tên mình. Hòa Thân đắm say không kiềm chế nổi, ôm chầm lấy Lộng Tinh, đặt đôi môi lên khuôn mặt bầu bĩnh của nàng hôn lấy hôn để thì thầm :
- Của quý của ta, lạc vào thâm cung chẳng ai đoái hoài, rõ khổ cho nàng.
Lộng Tinh cũng động lòng, nằm vào lòng Hòa Thân, hai bàn tay ngà ngọc vuốt ve mặt Hòa Thân, nói như hờn như oán:
- Tuy Hòa đại nhân còn nhớ thương nô tì. Nhưng hoàng cung đâu phải là của đại nhân, không may các thái giám bắt gặp, nô tì chỉ có chết mà thôi.
Hòa Thân ôm chặt bộ ngực nở nang của Lộng Tinh, ép chặt cặp vú căng phồng của nàng, nói:
- Không hề gì. Ngày mai ta sẽ tâu riêng với Hoàng thượng, cho nàng ra khỏi cung. Ta sẽ lấy nàng.
Lộng Tinh vuốt lại mái tóc rối, nói:
- Các đại thần không được lấy cung nữ cơ mà?
- Quy định là quy định, chẳng qua đều do người định, không được phép sửa đổi ư? Vừa nói vừa rút ra một chiếc vòng vàng đưa cho Lộng Tinh: - Cầm đi? Coi như vật làm tin ta trao cho nàng.
Lộng Tinh thấy Hòa Thân không chút tiếc rẻ, tim đập rộn ràng, đón nhận chiếc vòng tay bằng vàng mười sáng óng ánh, vừa đeo chiếc vòng vào cổ tay, vừa vén váy lên, áp sát thịt da nhão nhoẹt lên mặt Hòa Thân. Người gặp việc vui, tinh thần sảng khoái. Nàng tin lời nói của Hòa Thân. Nàng biết rằng: có Hòa Thân là có tất cả, nàng cảm thấy trên chiếc vòng vàng có hơi ấm của Hòa Thân. Nàng uốn éo một lúc, hứng lên, ngồi cạnh cây đàn, đưa nhưng ngón tay búp măng so giây, gảy đàn, vừa đàn vừa hát: “Đổi thay thiếp cũng vì chàng. Nhớ nhung cái buổi ban đầu gặp nhau. Thiếp…”
Hòa Thân say sưa vuốt mái tóc Lộng Tinh, thì thầm:
- Không ngờ nàng mang nặng tình sâu đối với ta như vậy.
Lộng Tinh ngừng đánh đàn, dựa người vào bụng Hòa Thân, nhìn ánh đèn lờ mờ, bập bùng, đê mê trong giây phút tuyệt đẹp. Hòa Thân nói:
- Lộng Tinh, nàng mấy lần nhìn thấy ta?
- Hòa đại nhân thương ngọc tiếc vàng mà làm chi? Thân phận như đứa con gái này chỉ mong sao có một tấm chồng là thỏa lòng mơ ước, làm một người vợ danh chánh ngôn thuận, đâu ngại gì người chồng chân lấm tay bùn, sống cuộc đời bình dị chồng cày vợ cấy còn hạnh phúc gấp mấy lần sống trong cung. Nói xong, đột nhiên ôm chặt cổ Hòa Thân, tha thiết:
- Hòa đại nhân, người là người có tình có nghĩa nhất mà thiếp gặp, người là chỗ dựa của thiếp. Nói xong nước mắt dàn dụa: -Người biết không, từ khi nhìn thấy ánh mắt của người trao cho thiếp, thiếp nhớ mãi người, thiếp chẳng tranh giành thân phận lớn bé với ai, chỉ yêu cầu đại nhân thu nhận thiếp, thiếp cam tâm hầu hạ đại nhân suốt đời. Một người đàn bà không thể sống độc lập, cũng như dây leo quấn quanh thân người đàn ông. Lộng Tinh nước mắt ròng ròng, xoay người lại như điên như dại hôn hít Hòa Thân.
Hòa Thân cảm động trước những lời tâm sự đó, vừa lấy thân mình an ủi Lộng Tinh, vừa trố mắt nhìn ra bầu trời bên ngoài mỗi lúc tối dần, nghe tiếng gió rét thổi vù vù cùng với tiếng lạo xạo của cành cây. Hòa Thân xoa tay Lộng Tinh, nói:
- Tối nay cùng ta về phủ được không? Nàng yên tâm. Kiệu của ta có thể khiêng người của nội cung, sáng mai lại tiễn nàng về, có gì xảy ra ta bảo lãnh cho nàng, Hoàng thượng tin lời ta.
- Đại nhân không sợ, con gái yếu đuối như thiếp còn sợ nỗi gì? Hòa đại nhân, thiếp xin vì đại nhân đàn hát một bài, để tỏ bày nỗi lòng của thiếp. Ngón tay cử động, tiếng đàn réo rắc, tiếng hát du dương. Gian phòng ấm áp tĩnh mịch, lập tức tràn đầy ngọt ngào êm dịu, bài hát “Động tiên ca” của Tô Thức từ từ tuôn ra như dòng suối reo từ đôi môi đỏ thắm của Lộng Tinh: “Băng tan ngọc nát. Lạnh lùng, khói hương theo gió tràn vào. Vén rèm, một mảnh trăng khuya, người còn thao thức, gối lạnh trâm rơi tóc rối. Ngồi dậy nắm tay, gian phòng vắng lạnh, sao thưa lác đác. Thử hỏi đêm nay đã mấy canh rồi, ánh trăng vàng nhạt, thỏ ngọc lùi dần. Gió thổi hiu hiu. Thời gian lặng lẽ trôi”. Nghe xong, Hòa Thân bất giác mừng thầm, không ngờ người cung nữ bình thường này lại tài ba như vậy, lời hát như nhả ngọc phun châu, khiến Hòa Thân mặt mày tươi tỉnh. Cô gái xinh đẹp làm sao, chiều tà yên tĩnh làm sao, phút giây động tĩnh làm sao ! Hòa Thân đắm nhìn vẻ đẹp của Lộng Tinh, nuốt từng chữ từng lời ngọt ngào của nàng, ánh đèn nhảy múa trên khuôn mặt trắng bệch của ông.
Tối hôm ấy, Hòa Thân đưa Lộng Tinh về phủ mình tạm thời để nàng ở trong phòng kín của nhà Thi Hỉ Trai, hai người ôm nhau ngủ, tận hưởng vị ngọt, chuyện trò thâu đêm. Cả hai đều nhận được cái mình mong muốn trên người của đối phương. Hòa Thân hứng lên, cầm bút mực viết một bài thơ trên mảnh lụa trắng:
Mặt đẹp Phù dung vừa hé cười.
Đôi mày lá liễu bội phần tươi.
Cái chuyện phong tình đầy thú vị
Mắt kia say đắm biết bao người.
Trời dần dần sáng, phương đông rực lên màu hồng nhạt. Mặt trời chiếu ánh sáng lên phủ Hòa Thân âm u lạnh lẽo. Tuyết phủ trên mái nhà lung linh chói mắt mỗi khi gió bấc lướt qua, từng lớp tuyết dày trên mái nhà cuốn theo, réo lên tiếng buồn thảm. Trong chiếc chăn bông ấm áp, cặp trai gái đang đắm chìm trong giấc mộng giàu sang, bị tiếng gõ cửa đánh thức...
Hòa Thân bí mật tiễn đưa Lộng Tinh, lòng vô cùng đắc ý, tiện tay xé bức thư mật do Lưu Toàn đưa đến, bỗng một công văn mật của phủ Tổng đốc Mân - Triết làm ông chú ý. Hòa Thân ho một tiếng, vì ông thấy lá thư này giống lá thư cấp báo hôm qua. Theo thường lệ, những văn kiện gấp như thế này phải chuyển ngay lên Hoàng thượng, không thể để đọng lại Cục quân cơ. Hòa Thân một tay cầm bản tấu của Thường Thanh, một tay sờ soạng những viên ngọc phỉ thúy, trân châu, nhân sâm.... trong khay sơn màu đỏ đặt trên bàn bát tiên.
Bản tấu tường thuật lại tình hình mới nhất: “ Tình hình thành quận Đài Loan rất khẩn trương, đã cử Đề đốc lục quân Nhiệm Thừa Ân đem một ngàn hai trăm quân đến Lộc Nhĩ Môn và điều động binh mã các doanh, bảo vệ thành quận, ngoài ra còn có lực lượng của Thủy sư đô đốc tăng viện. Thần ở tại Tuyên Châu, Hạ Môn để kiểm tra đôn đốc, cử các đạo phủ lo việc lương thực hậu cần. Lộc Nhĩ Môn là yết hầu của Đài Loan, ưu tiên dồn binh lực tại đây, đang cử thêm các doanh tiếp viện, chỉ chờ gió thuận là đi”. Hòa Thân liếc nhìn phía dưới lại thấy bổ sung thêm tình hình chiến sự mới nhất của Nhiệm Thừa Ân: “Huyện Chương Hóa bị Lâm Sáng Văn đánh chiếm, thần lên thuyền đến Đài Loan khẩn thiết yêu cầu cử trọng thần đến Mân đôn đốc”. Hòa Thân hít một hơi dài, nghĩ bụng: “Lâm Sáng Vân quả thật lợi hại, một nhóm Hội Thiên Địa bình thường mà cũng gây được thanh thế như vậy, càng nghĩ càng lo, hay lại tâu lên Hoàng thượng. Nghĩ đến Hoàng thượng, lại bất giác thở phào, vỗ tay lên cái trán nhẵn bóng, ái dà, thật là hồ đồ. Người ta nói, trai cò tranh nhau, ngư ông được lợi. Đài Loan rối loạn như vậy, Sài Đại Kỷ khó thể trốn tránh trách nhiệm, không thể không có liên quan, phải báo với Hoàng thượng ngay. Chờ kiệu quay về, lên kiệu vào cung, tay cầm bản tấu, đầu đã nghĩ xong cách ứng phó. Đúng lúc đó, thái giám trong cung đến truyền khẩu dụ, mời Hòa Thân đến điện Tây Phối ăn cơm cùng Hoàng thượng.
Hòa Thân ngồi trong chiếc kiệu lót dạ xanh, lắc lư đến diện Tây Phối, nhìn thấy mấy vị đại thần ngồi hai bên cạnh Càn Long, thầm nghĩ, hôm nay Hoàng thượng sao thế nhỉ, mời cả các vị đại thần quân cơ đến, trong có cả đại thân quân cơ A Quế, lòng dạ có phần không yên, không biết hôm nay Hoàng thượng có loại rượu gì. Hòa Thân bước lên làm lễ tam bái cửu khẩu. Càn Long một tay cầm bút phê vào bản tấu, một tay chỉ vào bàn bên bày đầy rượu và thức ăn, đầu không ngước lên, nói:
- Hòa ái khanh chân đau, ngồi vào.
- Nô tài tạ ơn Hoàng thượng vạn tuế vạn vạn tuế
- Miễn lễ! Trẫm đã phê xong bản tấu của Sài Đại Kỷ, sẽ nói với khanh sau. Các khanh dùng cơm, chớ câu nệ.
Hòa Thân ngồi xuống, định nói mấy câu đại loại như Hoàng thượng hao tâm tổn sức, lo lắng cho xã tắc, nhưng thấy các vị đại thần khác không nói gì, nên đành câm miệng. Mấy viên thái giám có vẻ ân cần hơn mọi lần, nghe tiếng ho, bê ngay ống nhổ đến, chìa ngay khăn lau, thấy đại thần cạn chén là chuốc thêm rượu ngay. Hòa Thân cũng ăn mấy miếng, nhìn thấy Càn Long vẫn cúi đầu phê duyệt tấu chương, thấy không thể nói được gì, nên lấy tay quệt đôi môi trơn bóng, đưa mắt nhìn những viên gạch xanh đen trên sàn nhà, những viên thái giám, liếc nhìn những cung nữ đi đi lại lại, tựa như nhìn thấy thân hình của Lộng Tinh thấp thoáng trong màn, riêng đôi hài đế bằng nằm im tại chỗ dưới chiếc màn vàng lay động, khiến Hòa Thân suy nghĩ lung tung, chính người đẹp làm tiêu hao ý khí. Cảm thấy cái điều chính mình cố công theo đuổi không phải là phong cách lối sống hàng ngày, không phải là phong cách ấy ư? Đang suy tư, bỗng nghe tiếng giấy sột soạt im bặt, Hòa Thân vội định thần, thấy Càn Long đã phê duyệt xong, đang xem lại.
- Đức vạn tuế. Hòa Thân đứng dậy quỳ trước mặt Càn Long tâu: - Hôm qua nô tài từ trong cung quay về Cục quân cơ, xử lý công văn, suốt đêm không ngủ, sáng nay thức dậy trời đã sáng, nên vắng mặt trong buổi chầu triều sáng, xin đến chịu tội. Các đại thần thì thầm với nhau, có người nói:
- Hòa đại nhân thật là một lòng một dạ chia xẻ khó khăn với Hoàng thượng.
Hòa Thân nghe hợp ý, quay đầu lại nói:
- Các ngài không cùng ta xử lý công việc, chớ có nghĩ đến chuyện tranh công lãnh thưởng.
- Trẫm biết khanh một lòng trung thành. Hòa ái khanh, còn nhớ câu đối của chúng ta làm tại đình Vương Long không?
- Câu đối nổi tiếng nhất khắp thiên hạ của Đức vạn tuế, nô tài đã thuộc làu làu, đâu dám quên, nếu các vị đại thần không tin, câu đối mà Đức vạn tuế bảo nô tài hoàn chỉnh, nô tài đã cho người trang hoàng xong, hiện treo tại nhà khách của nô tài, ngày nào cũng nhẩm đọc đến ba lần. Nhớ câu đối trên của Đức vạn tuế là “Tứ phương đài thượng vọng tứ phương tứ phương tứ phương tứ tứ phương”. Nói đến đây, Hòa Thân cố ý dừng lại, từ tốn nói với các vị đại thần: - Các ngài cũng đọc hết sách, thuộc hết kinh sử, cũng giỏi đối đáp, vậy thử hỏi có vị nào đối được câu đối của Đức vạn tuế, cho chúng ta được thưởng thức.
Càn Long nghe Hòa Thân dài dòng lải nhải, hơi sốt ruột, nhìn các vị đại thần khác cúi đầu ăn uống, biết họ trong chốc lát chưa nghĩ ra được, nên cười cho qua chuyện.
- Hòa Thân không được nài ép. Hôm nay khác với ngày thường, Trẫm mời các khanh đến không phải để chơi, mà có việc cần bàn bạc.
Hòa Thân và các đại thần nhất loạt ngừng ăn. Càn Long chậm rãi, sắc mặt đanh lại. Trong khoảnh khắc, cả phòng im lặng đến nỗi Hòa Thân nghe rõ cả tiếng thở của các cung nữ đứng bên ngoài, ông ta thầm nghĩ, lẽ nào Càn Long biết ta mang công văn về nhà? Hay là chuyện phong tình với Lộng Tinh đêm qua bị lộ. Càn Long đưa mắt lướt nhìn các đại thần, đứng dậy, từ từ bước đến giữa điện, trầm tư, nửa như tự nói với mình, nửa như quở trách:
- Khi Thánh tổ lập nghiệp, Đài Loan cũng đã từng có những tên giặc cỏ, tên “vua vịt” Chu Nhất Quý kia, thanh thế không phải nhỏ, thế mà Lam Đinh Trần một mình dã bình định được bọn giặc cỏ, còn bây giờ cả hai đề đốc đến Đài Loan tiễu phỉ, mà chẳng thấy người nào báo tin thắng trận. Trẫm nghĩ, với bọn giặc ô hợp đó, không lập tức tiêu diệt, uy nghiêm nhà Đại Thanh ta có còn nữa không? Tình hình hiện nay rất chi hỗn loạn. Đài Loan gồm một phủ bốn huyện, bọn giặc đã chiếm ưu thế, thành Đài Loan đã bị Lâm Sáng Vân vây hãm ba ngày ba đêm, thế thì còn gì nữa! Chẳng biết Nhiệm Thừa Ân và Hoàng Sỹ Giản đi tiểu phỉ hay đi du lịch ngắm cảnh? Hai đề đốc để việc này kéo dài, không dập tắt bọn giặc ngay, không thoát khỏi tội. Ngồi nhìn nhau, ai cũng đóng quân thủ thế, từ chối xuất quân, coi như Chương Hóa đã được khôi phục, Nhiệm Thừa Ân đóng quân ở Lộc Cảng, coi như Phòng Sơn đã được thu phục, Hoàng Sỹ Giản đóng quân giữ thành quận, để bọn giặc các lộ hợp lại, trở thành mối lo lớn khiến Trẫm ăn ngủ không yên. Nói đến đấy, Càn Long ho lên một tiếng, theo thói quen đưa tay ra phía trước, Hòa Thân hiểu ý ngay, vội dâng lên một bình sữa dê nóng. Càn Long cầm, hớp một ngụm, nói với Hòa Thân: - Hòa ái khanh. Trẫm muốn thân chinh đến Đài Loan, khanh thấy thế nào?
Câu nói vừa thốt ra, mặt Hòa Thân tái mét. Hòa Thân vội quỳ xuống tâu:
- Đức vạn tuế, dẫu thế nào cũng không được dùng hạ sách đó, theo nô tài, chiến sự ở Đài Loan có nguyên nhân sâu xa của nó. Tuy Hoàng thượng cai trị nghiêm minh, nhân chính, nhưng dân chúng Đài Loan chưa thấy được ân đức đó của Hoàng thượng, chính là do quan lại các cấp ở Đài Loan không thực hiện tốt chính sách của Đức vạn tuế. Nô tài cho rằng, ngoài việc dùng quân sự ra, nên ban bố cáo thị, gây chia rẽ giữa bọn giặc cỏ với dân chúng, đánh từ bên trong, như vậy ngoài có binh lính tiến công, trong thì mâu thuẫn nhau, bọn giặc chẳng mấy ngày sẽ bị thất bại.
Hòa Thân trình bày rõ ràng. Càn Long gật đầu, lắng nghe, hồi lâu mới lên tiếng:
- Có lẽ Trẫm già rồi, ngay cả tên giặc cỏ Lâm Sáng Vân cũng không trị nổi.
Hòa Thân hít một hơi dài, các đại thần đều nghĩ rằng ông ta còn nói tiếp, không ngờ khi Càn Long vừa xoay mình. Hòa Thân rút bản mật tấu do Lưu Toàn đưa đến, trao cho Càn Long:
- Đây là bản tấu của Tổng đốc Mân - Triết, Thường Thanh, nô tài cho rằng, Thường Thanh khá am hiểu tình hình Đài Loan nên cử ông ta đến Đài Loan, lão tướng xuất trận, một chọi hai, tất cả binh mã của hai Đề đốc Nhiệm, Hoàng đều giao cho Thường Thanh chỉ huy. Hòa Thân liếc nhìn Càn Long đang trầm ngâm suy nghĩ, rồi nói: - Đức vạn tuế, Thường Thanh tuy chưa đánh trận nào lớn nhưng đã làm Tổng đốc đủ thấy ông ta hơn người. Bản tấu lần trước của ông ta, Hoàng thượng còn nói ông ta đánh giá thấp bọn giặc cỏ Đài Loan, giờ nhìn lại, tên Lâm Sáng Văn không giống tên Chu Nhất Quý là tên buôn vịt, vừa khởi sự đã xưng vương xưng đế, cướp đàn bà con gái làm phi tần, đầu óc chẳng có mưu kế, còn Lâm Sáng Văn dẫu sao trước đây đã từng là nha dịch huyện, mấy năm nay lập đảng chiếm đất, của cải nhiều, mua chuộc lòng người, có mấy người anh em kết nghĩa làm tiểu đầu mục, khí thế hung hăng...
Càn Long vừa đi đi lại lại, nói thực ra, những lời nói của Hòa Thân không thật hợp với tâm trạng của ông hôm nay, có gì đó như cố ý hoặc vô tình gắn tình hình bất lợi của chiến sự Đài Loan với sự khinh địch của ông Không khỏi bực bội, ông cáu giận Hòa Thân cả gan có những lời bóng gió trước mặt các đại thần. Ông đứng yên như khúc gỗ nhìn ra bầu trời bên ngoài điện Tây Phối, dần dần bình tĩnh trở lại, cặp mắt như mắt mèo phóng ra luồng ánh sáng xanh lè như xuyên thấu tấm rèm thưa màu vàng, tâm thần như bay thẳng đến Đài Loan đang chìm ngập trong khói lửa.
Cách tường, tiếng chuông vang “oang oang” mười hai tiếng, phá tan bầu không khí trầm lặng trong phòng. Hòa Thân và mọi người vẫn không thấy Càn Long nói gì, thật là tiến thoái lưỡng nan. Càn Long nhớ rõ mấy ngày trước, bản thân đã chỉ dụ cho đại thần quân cơ: “Lý nào, hai đề đốc thủy lục vượt biên tiểu phỉ mà ở nội địa không biết bọn người tụ tập làm loạn là bọn người ô hợp”. Không ngờ mới mấy tháng mà cục diện như thế này, thật khó chấp nhận. Nhẽ ra, sau khi Hoàng Sỹ Giản, Nhiệm Thừa Ân đưa quân đến Đài Loan trong một thời gian ngắn phải bình định xong cuộc nổi loạn của Lâm Sáng Vân, phải tin như vậy. Càn Long còn nhớ, đầu tháng hai, còn chỉ dụ thêm:”Bọn giặc cỏ này là quân ô hợp, chỉ cần Hoàng Sỹ Giản và Nhiệm Thừa Ân hợp quân lại tiến đánh, sẽ tiêu diệt được chúng”. Thế nhưng, mấy ngày liền sau đó, Trẫm không nhận được tin vui nào. Ở đây nhất định có vấn đề, nhiều lần hỏi tình hình chiến sự phương nam, đều nghe nói thuận lợi, bọn giặc tháo chạy. Khi nhận được bản tấu của Sài Đại Kỷ mới biết được sự thật. Hòa Thân kinh hoàng nhìn đấng chí tôn như khối sắt, trong giây phút không biết thế nào cho tốt. Đúng lúc ấy, cung nữ Lộng Tinh bưng trà bước vào, cuốn hút ánh mắt Hòa Thân. Lộng Tinh tự tay rót trà cho Càn Long rồi rút lui, liếc nhìn Hòa Thân với ánh mắt đầy ẩn ý. Hòa Thân phấn khích, mặt ửng đỏ muốn chạy đến ôm hôn, nhưng ngặt vì hôm nay không phải như mọi hôm, chỉ còn cách nhìn cho no, đôi mắt tròn to lớn dán lên thân hình Lộng Tinh. Nhất cử nhất động của Hòa Thân bị Càn Long nhìn thấy khi quay người lại. Càn Long thét lớn:
- Hòa ái khanh, khanh ngày càng đần rồi. Càn Long đột ngột nối giận, nhưng đã kiềm chế được, lim dim đôi mắt nói: - Trẫm vừa phê trong bản tấu của Tổng binh Đài Loan Sài Đại Kỷ, mới biết vì sao xảy ra sự thể thế này.
Hòa Thân đoán không ra nội dung bản tấu của Sài Đại Kỷ, nhưng nghe cách nói của Càn Long thật lòng khen ngợi, nên hỏi thẳng:
- Thường Thanh đã đề phòng trước, liên tiếp cử hai Đề đốc thủy lục, Tổng binh Hách Trạng Du, phó tướng Từ Đỉnh Sỉ, Lâm Thiên Lạc, viện binh cho Đài Loan đến một vạn người. Quân Thanh hơn hẳn bọn giặc về số lượng, về trang bị vũ khí. vì sao trông mãi chẳng thấy tin mừng? Hòa Thân giả vờ tặc lưỡi.
Càn Long cầm bản tấu đưa cho Hòa Thân, nói:
- Không xem không biết, xem xong giật mình, sở dĩ quân ta làm vào thế khốn, không xoay chuyển được tình thế bị động, chính là do hai Đề đốc quá sợ hãi. Hoàng Sỹ Giản tuy là con nhà tướng, từng giữ chức Tổng binh Cù Châu, Đề đốc Hồ Quảng, Đề đốc Quảng Đông, nhưng chưa trải qua một trận đánh lớn nào, các bản tấu gửi về dường như đều lấy cớ tuổi già, lẽ nào vì tuổi già bệnh tật mà cứ ở trong thành, gặp việc không dám thò đầu ra? Còn Nhiệm Thừa Ân là con của Nhiệm Cử, một tổng binh dũng mãnh thế mà không biết dùng binh, chẳng có tí gì giống cha hắn, không kế thừa ý chí của cha chẳng qua chỉ biết ăn sướng mặc đẹp mà thôi. Từ đó suy ra, thời gian càng dài, họ càng tham lam hưởng thụ, không muốn tiến thủ. Các khanh, là đại thần quân cơ đều có mặt ở đây từ nay về sau nếu bổ nhiệm quan lại, không chỉ xem họ là con nhà dòng dõi, mà còn phải coi trọng tài năng cá nhân họ.
Các vị đại thần nghe xong, đều khom người đáp:
- Đức vạn tuế nói cực phải, thần xin ghi nhớ lời Thánh Thượng.
Hòa Thân xem xong bản tấu của Sài Đại Kỷ, cảm thấy ớn lạnh từng đốt xương sống.
Chuyện là, bản tấu của Sài Đại Kỷ dài hơn vạn chữ, kể rõ nguyên nhân khiến Lâm Sáng Văn nổi loạn, tình trạng thối nát của quan lại Đài Loan, thực trạng lỏng lẻo trong quân đội, đặc biệt nói nhiều về hai Đề đốc Hoàng, Nhiệm: “Hoàng, Nhiệm đến Đài Loan hơn một tháng mà không nắm được tình hình, cả hai đều là đề đốc nhưng không thống nhất với nhau, ai cũng muốn bảo tồn lực lượng của mình, nhìn nhau, đùn đẩy cho nhau, không ra sức dẹp loạn, không hiểu chiến sự mà còn ăn chặn quân lương, cho quân lính về nội địa buôn lậu, vì những quân lính đó đến từ Phúc Kiến, lại là lính lưu tại Đài Loan, ở ngoài doanh trại, chỉ cần mỗi tháng giao nộp vài lạng bạc là xong. Binh lính đánh bạc đĩ điếm, buôn muối lậu, hàng năm không luyện tập, cho nên chất lượng kém, ngại đánh, sợ địch, hơn nữa quân số thực tế trong doanh trại thường xuyên không đủ. Hoàng Sỹ Giản, Nhiệm Thừa Ân, cả hai đều có ý tránh đánh nhau để bảo vệ tính mạng của mình, để mất thời cơ chiến đấu...”
Càn Long đợi Hòa Thân xem xong rồi nói:
- Hòa ái khanh, Trẫm cho rằng, không thể tin cậy vào Hoàng Sỹ Giản và Nhiệm Thừa Ân. Toàn là đồ giá áo túi cơm, ham sống sợ chết, tội họ rất nặng, phải bắt hỏi. Trẫm đã lệnh cho Thường Thanh điều ngay hai người đó về Hạ Môn, tước bỏ chức tước. Càn Long vừa giận dữ vừa nói. Ông cảm thấy sức đã yếu, tâm trạng khó nói ra đó, thường xuất hiện trong ý nghĩ của ông, ông cũng cảm thấy các đại thần trong triều vì sống trong hòa bình đã lâu nên đâm ra lười nhác. Ngay đến đại học sỹ A Quế dũng mãnh uy vũ một thời cũng rụt rè né tránh, từ sáng đến trưa ngồi kế bên cạnh mà cũng chẳng nói được một câu. Các đại thần đều e dè thận trọng, thường như tượng gỗ không nói, như có điều gì xa lánh ông. Nghĩ đến đấy, Càn Long cảm thấy buồn, ông không thể biết mình đã già thật sự chưa, duy chỉ có Hòa Thân đáng yêu mới có thể cùng ta chia xẻ nỗi buồn lo, ngay cả bản thân cũng không sao hiểu được, vì sao có đại thần cứ lặng yên suốt ngày, không thể dung nạp những đại thần như vầy? Trẫm cũng biết, Hòa Thân ngày thường hay nói lấy lòng mọi người, được lòng ta, hay là có gì không ổn chăng? Xưa nay võ chết trận, văn chết vì lời nói thẳng, bi thảm biết bao, như Hòa Thân làm việc cần cù, thành thạo, lão luyện, cũng không được Trẫm tín nhiệm lắm ư? Càn Long nhìn các đại thần im thin thít, nói tiếp: - Trẫm muốn đi dạo một tí.
Các vị đại thần nhìn nhau một lúc, A Quế cúi mình tâu:
- Đức vạn tuế không nên quá lo lắng, thần xin một mình đi Đài Loan...
Càn Long khoát tay:
- Không phải nói. Chuyện Đài Loan tạm gác lại, trước hết hãy trị hai tên Hoàng, Nhiệm, giữ nghiêm quân kỷ. Khanh là đại thần đứng đầu quân cơ, Trẫm đã phê vào bản tấu của Sài Đại Kỷ, cứ thế mà làm.
Hương Sơn là hành cung của các vua triều đại Kim, Nguyên, Minh, phong cảnh đẹp đẽ, khí hậu rất tốt có nhiều cảnh đẹp như núi Hương Lô, Chùa Vĩnh An, “Tây Sơn Tinh Tuyết” một trong tám cảnh của Yên Kinh cổ xưa. Càn Long vừa đi đến cửa Đông Cung của hành cung Hương Sơn thì dừng lại dưới mái hiên nhìn về phía tây, bỗng phát hiện ra cảnh vật núi rừng trước mắt hoàn toàn khác với đại nội. Tổng quản thái giám ở hành cung Hương Sơn đã chuẩn bị sẵn trà uống thức ăn điểm tâm nơi nghỉ cho Hoàng thượng, tâu rằng:
- Nô tài tiếp giá đến muộn, Hoàng thượng tha tội. Kính mời Hoàng thượng nghỉ ngơi một lát.
Càn Long nhìn mấy vị đại thần ướt đẫm mồ hôi, thở hổn hển, cảm thấy mình cũng đã mệt mỏi. Ngồi giữa đình Hoài Bảo, ngắm nhìn điện Duyệt Tâm mái lợp bằng ngói lưu ly xanh, hít thở mấy hơi, cảm thấy sảng khoái. Hòa Thân đột nhiên gọi to:
- Hoàng thượng, xin Hoàng thượng nhìn kia, thấp thoáng có ngôi tháp trắng ẩn hiện như viên ngọc nổi trên hồ.
Càn Long không hứng thú lắm nên khoát tay, đứng dậy bước theo con đường lên Hương Sơn. Nhìn núi non trùng điệp, rừng cây cổ thụ, đền đài lầu các Hương Sơn. Sỏi cuội rãi trên mặt đường ánh lên những màu sắc rực rỡ, khắp nơi hoa rừng thơm ngát, suối chảy róc rách, tiếng tùng bách rì rào. Giữa những lùm tùng bách dày đặc ẩn hiện không biết bao nhiêu đền đài lầu các. A Quế tuổi cao sức yếu, mệt thở không nổi, tụt lại sau khá xa, nhưng đôi mắt khinh bỉ vẫn liếc nhìn Hòa Thân, bụng nghĩ: Thị lực Hòa Thân thật là số một trong thiên hạ. Đứng dưới chân núi Tây Sơn, nhìn thấy tháp, quả là nhìn thấy cái chưa nhìn thấy, nịnh bợ đến thế là cùng, Hoàng thượng vẫn chưa nhìn ra ư?
Theo sự hướng dẫn của Tổng thái giám hành cung Hương Sơn, Càn Long leo lên núi theo con đường uốn khúc, trên đường đi, được Hòa Thân dìu đỡ, càng đi lên, cảnh sắc càng mê hồn. Những tảng thạch nham đủ màu nhấp nháy ánh sáng xanh lam, khiến người nhìn mà phát lạnh. Những cây tùng cổ thụ vút tận tầng mây, như chiếc lọng rực rỡ, như tấm bình phong trong suốt. Tiếng suối reo như tiếng đàn du dương từ xa vọng lại. Càng đi sâu, cây cối càng rậm rạp, một thác nước trắng xoá, cao chừng một trượng, đổ xuống, chạm vào mặt đá, bọt nước tung tóe lên như muôn ngàn đóa hoa nhảy múa. Hòa Thân dìu Càn Long bước từng bước một, ngoái đầu nhìn A Quế phía sau, nói với Càn Long:
- Đức vạn tuế, người xem mấy vị kia đã kiệt sức không lên núi vào chùa được, chi bằng đến Thúy Vân Gia Âm nghỉ.
Hai người đứng dưới cây tùng già trước nhà nghỉ Thúy Vân. Thúy Vân Gia Âm xây dựng vào năm Đại Định triều Kim, dựa vào thế núi, trên một dốc núi có cây cổ thụ vút tận trời xanh, hết sức hùng vĩ tráng lệ, dưới chân là một con đường xuống dốc, dễ đi. Một lát sau, Càn Long cảm thấy hứng thú muốn ngắm nhìn toàn cảnh hành cung tĩnh mịch thâm u này. Hòa Thân thấy A Quế và các vị khác đã đến, bèn châm chọc:
- Các vị đại thần quân cơ, suốt đời đánh nam dẹp bắc, mà gân cốt yếu mềm thế, theo không kịp Đức vạn tuế chắc là do sống an nhàn sung túc, phì béo chậm chạp.
A Quế và các vị khác thấy Càn Long ngồi trên phiến đá bằng phẳng nhẵn bóng, thở dốc. A Quế mỉm cười liếc nhìn Hòa Thân:
- Hòa đại nhân, đáng được gọi là lớp người ưu tú tràn đầy tinh lực, khí thế hừng hực, tôi và các vị già nua kia là những con người đã vùi nửa thân xác dưới lớp đất vàng, làm sao sánh được với đại nhân.
Hòa Thân nghe trong lời nói có ý mỉa mai, cười nhạt nói:
- À, đại nhân nặng lời rồi, Đức vạn tuế chiếu dụ cho tôi cũng có dụng ý đấy.
A Quế vừa nghe xong, trả đũa ngay:
- Hòa đại nhân có thể đoán chừng tám chín phần mười ý tứ của Đức vạn tuế. Hãy nói xem cho chúng tôi được biết.
Hòa Thân vừa định nói, Càn Long đứng cạnh phía sau lên tiếng:
- Các vị đại thần không nên tranh cãi ở đây. Vừa nói vừa bước vào. Thúy Vân Gia Âm được bao quanh bởi một bức tường đỏ. Hòa Thân vội vội vàng vàng chạy đến. A Quế và các vị khác nhìn nhau cười, lắc đầu khó khăn lắm mới đứng dậy được, bước vào chiếc cửa to hình mặt trăng. Càn Long bước đến bờ hồ, nhìn thấy cơ man cá vàng bơi lội tung tăng trong hồ nước sóng biếc dập dờn, lòng thấy vui vui. Bên bờ hồ bằng nham thạch, những khóm liễu tháng ba vươn mình yểu điệu. Cảnh đẹp in mình rõ nét trong nước hồ, tưởng như các chú cá vàng đùa dỡn giữa những chiếc lá liễu non xanh. Càn Long bỗng xoay người nhìn Hòa Thân đang ngắm nhìn bầy cá vàng, nói:
- Trẫm nghe nói trong Thúy Vân Gia Âm có một cây tuyết cao ngàn thước và suối Mộng Cảm. Khanh biết ở chỗ nào không?
Hòa Thân ngẩng đầu đáp:
- Hàn Sơn là cây tuyết ngàn thước, là thác nước nô tài vừa thấy khi mới bước đến trước vườn, nô tài còn biết phía sau cây tuyết ngàn thước, sát núi có một ngôi nhà gọi là “Ninh Tĩnh”, hay là Đức vạn tuế tự tay viết lấy chữ ấy. Suối Mộng Cảm, có liên quan đến một câu chuyện hay, xúc động lòng người, cụ thể ngọn ngành thế nào, nô tài quả thật không biết.
Thực ra, Hòa Thân hiểu rõ như nắm trong tay các hành cung, vườn hoa, cây cảnh của hoàng gia. Hòa Thân học thức uyên bác tuy là một tay tài ba, nhưng không thể dùng sai chỗ. Trước mặt các đại thần nói năng chẳng e dè, mồm lưỡi dẻo kẹo, cố chơi trội, nhưng quyết không thể khoe khoang trước mặt Càn Long, trừ khi Càn Long yêu cầu. Đầu óc trí tuệ của Hòa Thân chỉ thể hiện ở chỗ nào thích hợp với sở thích của Càn Long. Càn Long thấy Hòa Thân mãi trầm ngâm, nên quay mặt lại hỏi A Quế:
- Khanh đi đây đi đó, lại là trọng thần bậc nhất của Trẫm, khanh hãy nói cho Hòa Thân nghe.
A Quế nghĩ bụng, Hòa Thân cố ý dấu không nói, nên tâu:
- Thần tuổi cao lẩm cẩm, không bằng Hòa đại nhân thuộc làu các chuyện cổ.
Hòa Thân nói:
- Biết thì nói, không biết thì không nói, đó là biết vậy, người nhân vui với núi non, người trí vui với sông nước. Nhưng nô tài cảm thấy, núi non sông nước đều trong tầm mắt của Đức Vạn Tuế, đều như nhau không thể bỏ rơi cái nào. Không nên cho rằng Đức Vạn tuế sủng ái một mình Hòa Thân tôi, mà nghĩ là Hòa Thân tôi hơn người khác. Tôi tự cảm thấy, ưu điểm lớn nhất của tôi là ở chỗ dám thành thật phơi bày ruột gan của mình, không che dấu quan điểm của mình, đại nhân nói tôi a dua nịnh bợ cũng được, ve vãn ton hót cũng được, ngay thẳng cũng được, đều là những nhận xét đó đối với tôi. Nói xong, Hòa Thân vừa cười vừa quay lại nói với Càn Long:
- Đức Vạn Tuế, vấn đề Người nêu ra, quả thật nô tài không biết, nếu biết mà không nói, chẳng phải là nô tài đã phạm tội khi quân, vả chăng Hoàng thượng từ nhỏ đã đọc nhiều sử sách, tai nghe mắt thấy tận tường.
- Quả là khéo ăn khéo nói, không hổ thẹn là chỗ dựa của Trẫm. A Quế không có ý nói khanh là khi quân, chỉ là đoán chừng, cũng không có ý là hạ thấp khanh, Hòa ái khanh, khanh hơi đa nghi đấy.
A Quế thường thẳng thắn với Hòa Thân, vừa tức giận vừa khâm phục, chẳng trách Càn Long sủng ái như vậy, ông ta mở mồm là có thể khiến người chết phải nói, người sống phải im, nhưng sau khi nghe Càn Long nói, liền lui lại mấy bước nói:
- Thần trước nay lấy hòa làm quý, không nói xấu ai sau lưng, đối với Hòa đại nhân cũng rất khâm phục. Điểm này, xin Hoàng thượng xem cho thật rõ. Theo thần biết, đây là suối Mộng Cảm do Hoàng đế Chương Tông nhà Kim đặt tên. Chuyện rằng năm đó, khi Hoàng đế Chương Tông nhà Kim đến Hương Sơn săn bắn, nghỉ tại đây. Lúc đó cùng đi với vua có hai công chúa, người nào cũng trẻ đẹp, giỏi võ công. Khi thấy vua cha bắt đầu ngủ, hai công chúa bàn nhau, tiếp tục vào rừng săn chơi, nào ngờ ra đi mà không trở về. Hoàng đế Chương Tông ngủ say, mộng thấy hai con hạc tiên bay lượn trên đầu, kêu gọi thảm thương, không chịu rời xa, khiến Chương Tông bực tức, lắp tên giương cung bắn hai con hạc tiên, với sức mạnh hơn người và tài thiện xạ, bắn chết hai con hạc tiên không thành vấn đề, nhưng điều kỳ lạ là hai con chim hạc đã dùng mỏ quắp lấy mũi tên đang bay vun vút, bay thẳng về phương Nam, trước lúc bay đi, mỗi con để rơi một giọt nước mắt lên mặt Chương Tông. A Quế đằng hắng một tiếng, nhìn Càn Long đang gật gật đầu, xem chừng thích thú, ý muốn tiếp tục kể. A Quế hít một hơi, kể tiếp: Sau khi tỉnh dậy, Hoàng đế Chương Tông nghi hoặc, ngước mặt lên nhìn bầu trời quang đãng, nhưng chẳng thấy bóng dáng hạc tiên đâu cả. Một lát sau thị vệ tùy tùng hốt hoảng đến báo, hai công chúa vào rừng sâu săn bắn, đến giờ chưa về. Chương Tông kinh hoàng, lệnh ngay mọi người đi tìm, núi non trùng điệp, rừng cây dày đặc, chẳng thấy bóng dáng hai công chúa. Sương mù ùn ùn kéo đến, Hoàng đế Chương Tông cảm thấy đất dưới chân như rung rinh, vội nhảy lên ngựa, chân vừa rời đất, hai dòng suối từ dưới đất phụt lên, tuôn chảy ào ào. Chương Tông vô cùng đau xót, trước lúc đi, lệnh cho người khắc tên lên tảng đá nham thạch ba chữ “Suối Mộng Cảm” (Mộng Cảm Tuyền) để kỷ niệm.
Càn Long nghe xong, lắc đầu than thở, rồi bổ sung thêm:
- Cho nên, người đời sau vì chuyện thương cảm đó mà cho thêm cái tên Thúy Vân Gia Âm.
- Rất chi có ý nghĩa. Hòa Thân rớm nước mắt nói tiếp:
- Hai chim hạc tiên, hai cô công chúa, hai dòng suối trong, quyện lại thành một câu chuyện vừa đẹp vừa đau thương đó nhằm khuyên bảo người đời sau cái gì, chẳng qua là phủ thêm màu sắc thần bí lên Thúy Vân Gia Âm mà thôi. Đức Vạn Tuế theo nô tài, hay là vào nhà nghỉ một lúc.
Càn Long đưa mắt nhìn xung quanh nói:
- Lần trước khanh nói, ở đây có xây dựng một tòa lầu ở đâu?
Hòa Thân đưa tay chỉ về phía đông:
- Khởi tấu Đức Vạn Tuế, điện sẽ hoàn thành vào tháng hai, chưa đặt tên.
Càn Long nhìn về hướng đông, thấy một điện mới cột đỏ mái màu, hiện ra trong đám cây xanh. Rồi hỏi:
- Kia phải không?
- Đúng đấy. Tâu Đức Vạn Tuế. Hòa Thân khom người đáp.
- Chúng ta đến đó nghỉ. Càn Long vừa nói vừa vẫy tay gọi A Quế và các vị khác đi về phía điện.
Phía trước điện là một khoảng đất bằng phẳng thoáng đãng, ngồi trong nhà nhìn qua cửa sổ có thể thấy người đi lại từ xa. Hàng trăm cây tùng to cao bao bọc hai bên, phủ bóng râm xung quanh. Tòa nhà chính điện cao rộng, có hành lang dài nối với các điện phụ khác. Phía sau là sườn núi dốc đứng. Đây là nơi vô cùng an toàn. Vì là điện mới xây dựng nên Càn Long muốn xem quy mô của nó và sau đó sẽ cùng với các đại thần bàn bạc tình hình chiến sự Đài Loan tại nơi yên tĩnh này. Càn Long bước vào chính điện, đi một vòng, tựa vào cửa sổ nhìn ra ngoài xa, thấy toàn là rừng rậm và khói mù, mênh mông vô tận. Cảm thấy “ngồi trên đỉnh núi cao giữa muôn ngàn ngọn núi. Nếu không bị rừng cây che khuất có thể nhìn thấy xa hàng trăm dặm. Chọn nơi đây dựng cung điện, Hòa Thân quả thực đã hiểu thấu lòng dạ Càn Long. Hay dở không phải nói; cái chính là khiến Càn Long thấy tại nơi đây nảy sinh cảm giác uy nghiêm của một đế vương. Sự thật đã chứng minh điều này, từ chính cung đến quần thể kiến trúc ở Sơn Trang, Thừa Đức. Hòa Thân thấy ánh mắt chớp chớp của Càn Long lộ rõ sự thỏa mãn, bèn nói:
- Đức vạn tuế, xin đặt cho hành cung này một cái tên.
Càn Long gật đầu. Lúc này, thái giám hành cung đã chuẩn bị sẵn chỗ ngồi cho Càn Long. Càn Long vừa ngồi xuống vừa nhìn Hòa Thân và mọi người nói:
- Các khanh ngồi xuống, ngồi xong hãy nói chuyện.
Càn Long suy nghĩ một lúc rồi nói tiếp: - gọi là “Tứ Tri Thư Ốc” .
- Hay, hay, “Tứ Tri Thư Ốc” thật hay. A Quế nói tiếp:- Hòa đại nhân nói xem, nội dung của “Tứ Tri” là gì?
- Điều đó không khó, tôi xin nói. Nó xuất xứ từ một chuyện xưa. Khi Túc Tông nhà Đường tổ chức thi đình đã lấy mấy chữ “tri nhu, tri cương, tri hiển, tri tàng” làm đề thi... Hòa Thân cười.
Càn Long nhìn Hòa Thân rồi nói dõng dạc, thái độ vui vẻ lúc dạo núi bỗng biến thành nghiêm túc:
- Trẫm bây giờ muốn nghe ý kiến của các khanh. Nên cử ai đi Đài Loan thống lĩnh toàn bộ binh mã?
Nói xong nhìn Hòa Thân.
Hòa Thân đứng lên định quỳ xuống nói. Càn Long nói tiếp:
- Nơi đây không cần làm đại lễ vua tôi. Các ái khanh đều có thể đưa ra ý kiến của mình.
Hòa Thân ngồi xuống, nói.
- Nô tài cho rằng, Thường Thanh là người thích hợp, từng làm Tổng đốc Mân - Triết nhiều năm, khá thông thạo hình thế, địa lý Đài Loan. Mặc dù Đức vạn tuế đã điều ông ta khỏi Mân - Triết, nhưng chưa đi nhậm chức ở Hồ - Quảng. Có thể ban chỉ dụ gia phong cho Thường Thanh, lệnh cho Thường Thanh đốc chiến, thống lãnh toàn quân Đài Loan. Chắc chắn phá tan quân địch.
- Vì Thường Thanh không ngăn chặn được bọn giặc ở Đài Loan, Trẫm mới điều đi Hồ - Quảng. Bây giờ nhìn lại trách nhiệm đó cũng không thể đổ hết cho Thường Thanh. Hai đề đốc Hoàng, Nhiệm ham sống sợ chết. Nếu lệnh cho Thường Thanh vượt biển. Thế thì, ai thay chức Tổng đốc Mân - Triết?
Vừa nghe xong A Quế tâu:
- Thần đã nghĩ đến một người, Tổng đốc Thiểm - Cam, Lý Thị Nghiêu. Hoàng thượng xem, Thường Thanh đánh giặc chưa biết kết quả như thế nào, nhưng nói về tính cách cá nhân, Thường Thanh và Hoàng Sỹ Giản, Nhiệm Thừa Ân đã cùng làm việc với nhau trong nhiều năm, chắc chắn có nhiều quan hệ dây mơ rễ má với nhau, khó chặt đứt, nhiều phức tạp, chi bằng cử Lý Thị Nghiêu. Đức vạn tuế còn nhớ, Lý Thị Nghiệp khi cùng thần giải quyết vụ Tổng đốc Cam - Thiểm tham ô quân lương, đã một lần nữa thể hiện tài năng xuất sắc. Khi Điền Ngũ ở Cam Túc tổ chức đạo Hồi mới, cũng do Lý Thị Nghiêu điều tra làm rõ, kịp thời điều quân trấn áp, nếu không hậu quả khó lường.
Càn Long gật đầu đồng tình, nhấp một ngụm trà thơm nóng, nhắm mắt trầm ngâm suy nghĩ.
Thực ra Hòa Thân tiến cử Thường Thanh không phải không có ý đồ riêng tư. Thường Thanh vốn là một người tầm thường bất tài, chỉ biết nịnh bợ cấp trên, nhất là đối với Hòa Thân, coi Hòa Thân là chỗ dựa của mình trong triều. Thường Thanh chẳng thông binh pháp, cực sợ chinh chiến, nhát quá thỏ đế. Hòa Thân biết rõ điều này, nhưng vì điều ông nghĩ đến trước tiên là chiến tranh càng kéo dài, ông càng vớ được nhiều lời. Chỉ riêng món quân nhu không thể không qua tay ông. Ở tiền phương có Thường Thanh phối hợp, miệng hổ cứ việc há to mà nuốt, còn Hoàng đế Càn Long cần bao nhiêu cung cấp bấy nhiêu. Càn Long tuổi càng cao, càng có ý định thoái vị truyền ngôi, nhưng nếu chiến tranh loạn lạc khắp nơi, đất nước không yên, thì làm sao chứng tỏ mình là một vị vua tài giỏi hơn người. Vì vậy, Hòa Thân luôn luôn thấp thỏm không yên, lúc nào cũng lo lắng. Hòa Thân không lúc nào quên rằng có lúc sẽ bị đập gậy vào đầu. Năm Càn Long thứ bốn mươi chín, vào dịp tháng hai đã triệu tập các hoàng tử, đại học sĩ, đại thần quân cơ, nói ra cái điều lâu nay dấu kín trong lòng. Năm đó Càn Long đã bảy mươi bốn tuổi. Càn Long nói, lúc Trẫm mới lên ngôi vua, từng đốt hương cầu trời, thừa hưởng ân đức của Tiên hoàng và Thánh tổ, Trẫm không dám vượt quá thời gian sáu mươi mốt năm trị vì của hoàng đế Khang Hy, nhưng cũng không thể quá ít, cầu trời phù hộ Trẫm, được ở ngôi sáu mươi năm, sau đó xin truyền ngôi lại cho con. Lúc cầu khấn đó mới hai mươi lăm tuổi, không nghĩ đến lúc sáu mươi năm ở ngôi vua đã là tám mươi lăm tuổi. Đến ngày sinh nhật năm mươi tuổi, nêu vấn đề này với mẫu hậu, mẫu hậu nói Hoàng đế yêu dân chăm lo việc nước, thần dân thiên hạ không muốn Hoàng đế thoái vị... Nhưng hãy còn mười một năm nữa Trẫm mới thoái vị, sau này thoái vị nghỉ ngơi, tự mình lo liệu, chẳng phải hạnh phúc tuổi già ư! Lời nói đó của Càn Long, đến nay Hòa Thân nhớ lại vẫn rõ bên tai. Hòa Thân cũng như các đại thần khác, không cảm thấy có vấn đề gì, bởi vì Hoàng thượng tuy tuổi đã quá 70, nhưng vẫn còn sung sức vẫn còn tuần du như thường lệ, hơn nữa hãy còn mười một năm nữa mới thoái vị, nên không có gì phải vội không có gì phải để tâm. Nhưng nháy mắt, ba năm đã trôi qua. Điều này không thể không khiến Hòa Thân suy nghĩ. Thời gian như nước chảy, nếu ta không tranh thủ thời gian củng cố địa vị, tăng nhiều của cải tài sản cho bản thân, để phí một đời, lãng phí công sức. Hòa Thân không có ý kiến gì về việc A Quế tiến cử Lý Thị Nghiêu, bởi vì Hòa Thân biết rằng Hoàng thượng vẫn yêu quý Lý Thị Nghiêu, chính vì ông ta tài giỏi hơn người, có thể một mình gánh vác công việc. Trước đây Lý Thị Nghiêu coi thường Hòa Thân xuất thân hèn mọn, nhưng từ lúc Hải Ninh do Hòa Thân xúi dục, tố cáo Lý Thị Nghiêu tham ô buôn lậu, Hòa Thân lại là Khâm sai đại thần đến Vân Nam điều tra Lý Thị Nghiêu. Thái độ Lý Thị Nghiêu đối với Hòa Thân thay đổi. Các vật phẩm hối lộ trong nhà Hòa Thân, không ít thứ quý giá, cổ vật là do Lý Thị Nghiêu cống nộp. Có thể nói Lý Thị Nghiêu và Hòa Thân trước kia đối đầu nhau nay đã trở thành bạn bè. Hòa Thân sao lại phản đối.
Càn Long như đang ngủ, mấy tháng qua, ông không được thanh thản, lòng nặng trĩu, ngày càng gầy đi, đôi mắt sâu trũng, chòm râu dưới cằm xen lẫn mấy sợi bạc, chỉ có yết hầu đôi lúc cử động và quầng đỏ hừng hực trên đôi má là chứng tỏ còn sung sức. Tư duy nhạy bén hơn người của ông có phần chậm chạp, nhưng vẫn còn phán đoán khá chính xác chiều hướng phát triển của sự thật. Sự nhạy cảm cao độ về quyền lực, khiến ông phải biết tất cả những gì xảy ra trong triều Đại Thanh, việc lớn quan hệ đến an nguy của giang sơn xã tắc, việc nhỏ trong cung cấm, ông đều hỏi cả. Thái giám trực rón rén đi lại gần bên cạnh, định đánh thức ông, bỗng nhiên, Càn Long mở đôi mắt sáng quắc, thần sắc đó khiến người ta cảm thấy như đứng trước một con sư tử bị thương chuẩn bị phục thù. Những cuộc đi lại trước đây khiến ông mệt mỏi, đôi má gầy nhô lên như khung ảnh mỏng manh, cùng với ánh mắt chớp sáng, thể hiện tinh thần cảnh giác, sự nhạy bén của Càn Long, tầm mắt hơn người. Càn Long hốt hoảng hỏi:
- Đã mấy giờ rồi?
Hòa Thân và các vị đại thần cùng một lúc rút trong túi áo ra chiếc đồng hồ người phương Tây tặng. Hòa Thân tranh nói trước:
- Đã gần trưa rồi ạ. Trầm ngâm một lát, tươi cười nói tiếp: - Đức vạn tuế, truyền cho xa giá hồi cung.
Càn Long lo lắng nói:
- Lâm Sáng Văn có thể ở trên mảnh đất chật hẹp ấy lập bè lập đảng, gây sóng gió, làm rung động xã tắc Đại Thanh, phải tiêu diệt nhanh chóng. Hoàng Sỹ Giản, Nhiệm Thừa Ân thật là hổ thẹn với thánh ân, không thể để làm đề đốc. Trẫm ban chỉ cách chức hai người, giao cho Bộ hình hỏi tội. Sài Đại Kỷ cố thủ Chư La, trên dưới một lòng, chiến đấu vất vả, ban thưởng một chiếc mũ lông đỏ, hai viên dạ minh châu. Người xưa có nói: khen người dũng cảm, chê người nhát gan, có phạt kẻ nhát gan mới khiến người ta dũng cảm. Đối với các mệnh quan Triều đình cũng cần phải như vậy. Phải chỉnh đốn lại quân kỷ. Đối với tổng binh Hách Tráng Du, ra trận bỏ chạy, để mất thành Phong Sơn, tham tướng Hồ Đồ Lý thì xử chém ngay tại chỗ. Nếu không giữ vững kỷ cương của triều đình, không tôn trọng hình phạt uy nghiêm không thể động viên được trên dưới, như vậy bao giờ mới dẹp xong bọn giặc ở Đài Loan? Ý kiến của Hòa Thân và A Quế, trẫm suy nghĩ nhiều còn có chỗ chưa thỏa đáng. Lý Thị Nghiêu có nhiều kinh nghiệm xử lý các vụ án, hãy để Lý Thị Nghiêu giải quyết những việc còn lại sau này, Thường Thanh đưa quân đi dẹp phỉ, phải thi hành ngay. Quan trọng là phải tập trung ưu thế binh lực, kịp thời đánh vào sào huyệt của tên giặc Lâm Sáng Văn, đó gọi là “tập trung binh lực, đánh thẳng vào quân địch, bắt tên cầm đầu, dư đảng của chúng tự tan rã”.
Càn Long nói xong, nhổ ra một bãi nước bọt. Hòa Thân đứng dậy vội rút khăn tay ra hứng, động tác nhanh nhẹn, đến nỗi các vị đại thần có mặt ở đấy vô cùng kinh ngạc, há hốc mồm ra nhìn.
A Quế nghĩ bụng, lại là Hòa Thân, nếu là người khác khó làm được như vậy, vì ông ta kính trọng Hoàng thượng, ai dám nói gì nào. A Quế ghét cay ghét đắng. Các món ăn cao lương mỹ vị của bữa cơm sáng lồng lộn trong bụng như muốn nôn ra nhanh. A Quế cố nuốt nước bọt, đứng dậy nói:
- Khởi tấu Hoàng thượng, người ta nói binh mã chưa đi, lương thảo đi trước. Nếu xuất lương thảo từ kho nhà nước tại kinh thành thì e rằng nước xa không dập được lửa gần. Hơn nữa, tướng sĩ tham chiến ở Đài Loan càng đông thì quân lương vật tư hao tốn càng nhiều. Miền Bắc Đài Loan có nhiều lúa gạo nhưng bị bọn Lâm Sáng Văn, Trang Đại Điền chiếm giữ, chúng tích trữ rất nhiều, khiến giá gạo ở những nơi có quân Thanh tăng lên bốn năm lần, giá tăng đột ngột, mỗi thạch gạo giá ba ngàn. Ở các nơi bọn giặc đóng như Đại Lý Sạn, Thủy Sa Kiên... giá gạo cao nhất cũng chỉ đến tám trăm. Do đó, thần đề nghị cử một lão thần lão luyện đi trước đến vùng Mân - Triết chuẩn bị lương thảo? Ý Hoàng thượng như thế nào?
Hòa Thân nghe nói, không cần suy nghĩ nhiều, cúi người quỳ xuống tâu:
- Khởi bẩm Đức vạn tuế, thần tuy bất tài nhưng xin đi, vừa rồi đại học sĩ A Quế nói rất đúng. Hòa Thân ngước mắt nhìn Càn Long, chớp chớp mắt, tiếp tục nói: - Nô tài trước nay quản lý phủ đại nội, tiếp xúc với nhiều quan viên bên dưới, quen biết nhiều người, giải quyết việc có phần thuận lợi hơn. Giọng nói như cầu xin, thực ra đó là những trò biểu diễn hơn người của Hòa Thân; giọng nói của ông ta có sức hút như cục nam châm, chỉ cần mở mồm ra là có thể thu hút sự chú ý của Càn Long. Bên ngoài như có vẻ khiêm nhường cung kính, nhưng bên trong lòng dạ hiểm ác khó lường. Trong lịch sử một tên gian ác xảo quyệt nổi tiếng là Vượng Bôn, lúc đầu cũng khiêm tốn cung kính bề trên, hết sức ân cần, có thể hầu hạ một vị tướng quân sắp chết suốt mấy tháng trời, quên ăn, quên ngủ, áo quần không kịp thay, tự tay sắc thuốc, quả nhiên trước khi sắp chết vị Đại tướng quân tiến cử hắn lên Hoàng Thái hậu, sau được phong lên chức Đại phu quang lộc. Đương nhiên, Hòa Thân nắm giữ chắc các yếu lĩnh ở chốn quan trường. Càn Long nghe từng câu từng chữ của lời nói Hòa Thân, cảm thấy chỉ có Hòa Thân lo lắng chăm sóc mình, trung thành nghĩa khí nên gật đầu đồng ý.
Những ngày lo lắng bất an trôi đi như mây bay nước chảy, khí trời thoắt nóng thoắt lạnh, khiến Càn Long bị một trận ốm. Càn Long mệt mỏi gầy gò, buồn rầu không vui, suốt ba ngày mặt mày ủ rũ, chẳng có lấy được một nụ cười. Chỉ khi nào Hòa Thân đến, Càn Long mới cảm thấy không buồn chán. Ông cảm thấy, Hòa Thân là chiếc gậy chống tay bất ly thân của mình, hễ nhìn thấy cái mặt đẹp của Hòa Thân, ông như quả cầu căng phồng, tinh thần phấn chấn, chăm chú lắng nghe những lời ngon ngọt êm tai, không e dè, tuôn ra từ cái mồm Hòa Thân, lúc xúc động, nốt ruồi đỏ giữa trán càng nổi rõ. Những lúc như vậy, Càn Long không thể tự chủ. Hôm đó, Càn Long cùng Hoàng hậu và các phi tần đến Ngự hoa viên ngắm cảnh, nhìn lên bầu trời đầy những áng mây mầu chuyển động về phương nam, bỗng một cảm giác lạ lùng dâng lên. Chung quanh, các phi tần đang ríu rít chuyện trò, Càn Long không hề có chút hứng thú. Đột nhiên, ông thấy một ngôi nhà như nhà kho, cửa đóng then cài bị gió mưa tàn phá trông chẳng ra hồn, trước cửa mạng nhện dăng đầy như một tấm lưới chứa đầy sát khí, cánh cửa sổ nứt ra nhiều kẽ hở, từ đó phát ra tiếng kêu cọt kẹt của những con sâu mọt, tiếng cọt kẹt phát ra lúc to lúc nhỏ, lúc khoan lúc nhặt như tiếng đàn tấu lên khúc nhạc ai oán buồn thương. Tiếng đàn réo rắt, chập chờn, dặt dìu, vang lên như dòng nước chậm dãi rót vào tai Càn Long. Càn Long nghe rõ tiếng khóc than của một người con gái, đang cố sức giãy giụa sắp chết trên một dải lụa mềm nhàu nát treo lủng lẳng. Thật không cách nào tháo gỡ ra được nút tình thắt chặt trong con tim Càn Long từ thuở trai trẻ.
Càn Long đứng xa xa, nhìn bóng mình phóng to dưới ánh nắng in trên bức tường bẩn thỉu, tưởng như hình bóng rung rinh của người cung nữ đang hốt hoảng từ từ hiện lên trên bức tường. Khó khăn lắm, ông mỉm cưỡng bước tới, hai tay run run đẩy cửa gian phòng. Chiếc khóa cửa kêu “lách cách” nát vụn. Càn Long giật mình, sức ta còn trẻ như vậy ư. Ông thầm nghĩ, lẽ nào có sức mạnh nào đó giúp ta chăng? Ông rưng rưng nước mắt. Thái giám đi theo định nhắc Càn Long quay về. Càn Long sầm mặt lại:
- Ai trông coi nơi này?
- Khởi tấu Hoàng thượng, theo lệnh Hoàng Thái hậu. Mục đích là muốn...
- Mục đích, mục đích gì? Trẫm mấy mươi năm qua không trị vì đất nước ư? Trẫm không có gì phải hổ thẹn với giang sơn xã tắc Đại Thanh tổ tiên để lại! Từ nay về sau phải bố trí người quản lý, lập bàn thờ, đêm ngày hương khói.
Nói xong Càn Long bước vào bên trong, mấy con quạ lót tổ trên cây kêu lên mấy tiếng quạ quạ cất cánh bay xa, để rơi mấy chiếc lông. Các thái giám hoảng hốt. Càn Long đứng lại nhìn xung quanh, thấy toàn là cỏ cao bằng đầu người mọc lên từ giữa kẽ nứt của những viên gạch xanh trên nền đất, mấy gian nhà bên trong cửa đóng then cài, bụi bặm phủ đầy, nhà cửa vắng tanh, những lùm dây leo khô héo bám phủ trên những chiếc cột màu đỏ xám đứng chơ vơ, từng cơn gió ùa đến, xoáy tròn gào thét, nghe như tiếng khóc thương sầu bi ai oán. Càn Long, mặt như buồn như vui, đạp lên những gốc cỏ khô, bước đến trước gian phòng của người tình xưa, nhìn qua cửa sổ dưới ánh sáng lờ mờ, thấy toàn là vết chân chuột in trên sàn nhà phủ đầy đất bụi, mặt bàn để đàn xưa kia phủ một lớp cứt dơi, kệ tường bừa bãi mấy cuốn sách cũ chiếc màn vẫn mắc trên giường như xưa, giường nằm vẫn ngổn ngang lộn xộn như ngày nào. Trên chiếc ghế chổng gọng, hai chú chuột, một to một nhỏ đang đứng trố mắt cảnh giác nhìn xung quanh. Một chiếc khăn tay màu đen thẫm nằm trên chiếc đàn cũ rách nát. Càn Long nhìn vật nhớ người, thầm nghĩ: “Trên đó hãy còn vết máu của ta. Trẫm đã hại khanh, Trẫm đã phụ khanh...” Càn Long lùi lại một bước, tựa vào song cửa sổ, mắt ngấn lệ. Ông bước đi trong bãi cỏ hoang dại thê lương, lẩm nhẩm: “Tuổi nàng hai tám đẹp sao. Phòng kia tan nát, gương soi lu mờ. Chuyện tình ngày ấy thành thiên cổ. Người đẹp bây giờ biết ở đâu. Màu xanh sắc núi mùa xuân. Mắt trong nước biếc mùa thu. Tóc đen huyền ngọc muôn phần đắm say”.
Càn Long đang buồn nẫu ruột, thái giám nội cung vội vã bước vào đứng sau lưng tâu:
- Đức vạn tuế, Hòa đại nhân đến, đang chờ ngoài cửa. Gặp hay không?
Càn Long quay người lại, nói chắc nịch:
- Đương nhiên là gặp, truyền ông ta đợi Trẫm ở thư phòng. Trẫm nói chuyện với Hoàng hậu xong, sẽ đến ngay.
Càn Long cảm thấy thần trí dần dần tỉnh táo lại, giọng nói đục khàn cũng trong dần lại. Chuyện cũ đau lòng cũng biến mất như đàn dơi đen vụt bay khi Hòa Thân đến, chỉ còn lại sự lạnh lẽo và yên tĩnh ngự trị trong linh hồn lo lắng bất an của ông. Cái uy nghiêm của vị đế vương trở lại với ông. Như người lạc lối quay lại, ông bước đi dưới mái hiên hành lang, ngoái đầu nhìn lại một lần nữa gian phòng nọ, bỗng nhìn thấy một chú chuột trắng to bự moi ra một cuốn sách từ trong đống rác ở góc nhà tối tăm, rồi biến mất trong đám cỏ...
Hòa Thân vào cung để từ biệt, tạm xa Càn Long một thời gian. Ông vào cung Càn Thanh trước, vì trong Tử Cấm Thành, cung Càn Thanh là nơi thiết triều lớn nhất sau điện Thái Hòa. Hòa Thân ngồi trong chiếc kiệu mềm màu tím do tám người khiêng đi vào cửa chính điện Càn Thanh, vừa đến trước sân đã thấy mấy bạn đồng liêu, các vị hàn lâm, các quan lại các bộ, các vương công, đưa mắt đứng nhìn chiếc kiệu của mình với vẻ hâm mộ. Bởi vì, chỉ có kiệu của Hòa Thân mới được Càn Long cho phép vào thẳng đại nội, các đại thần khác, kể cả những vị khai quốc công thần cũng không có được đặc quyền đó. Hòa Thân đắc chí, định xuống kiệu chuyện trò đôi câu, bỗng nhìn thấy trên bực thềm bên cạnh có mấy vị đứng tựa vào hàng lan can bằng đá cẩm thạch, mắt nhìn thẳng. Hòa Thân nheo mắt nhìn, té ra là A Quế và mấy vị đại thần quân cơ đang cười nói chỉ chỏ gì đó. Hòa Thân nghi họ đang nói xấu mình. Ông căm tức, nghĩ bụng, phải cho họ một bài học, Ngự sử Tào Tích Bảo bị người ta xúi dục, tố cáo Lưu Toàn, gia nô của ta, nhằm hạ bệ ta, kết quả thế nào nhỉ? Nghĩ cho cùng, thêm việc còn hơn bớt việc. Tuy tự mình sắp xếp bố trí cẩn thận chu đáo nhưng nếu không có sự can thiệp của Càn Long thì e rằng người bị mất chiếc mũ trên đầu không phải là Tào Tích Bảo mà là Hòa Thân ta. Sau bữa cơm trưa hôm ấy, Hòa Thân triệu tập hơn ba trăm người trong nhà lại, đưa ra mấy điều quy định, nếu ai gây ra chuyện rắc rối, sẽ bị phép nhà trừng trị. Đặc biệt dặn dò những người có quyền lực trong gia đình như ông em Hòa Lâm, đại quản gia Lưu Toàn, tổng quản nội vụ Hô Thập Đồ. Cố gắng kiềm chế, chịu đựng trước mọi việc bất ngờ xảy ra, chờ Hòa Thân trở về định đoạt nhất thiết không được làm rối tung lên. Hòa Thân đi bao lâu thì phủ đệ cũng đóng cửa bấy nhiêu ngày, sổ sách do Lưu Toàn ghi chép, lễ vật tiền bạc không phải của quan viên đem đến cũng không được nhận dù nửa lạng nửa hào. Việc to việc nhỏ đều căn dặn kỹ từng người rồi mới lên kiệu vào triều.
Hòa Thân suy đi nghĩ lại, quyết định xuống kiệu, từ xa chắp tay vái chào các bạn đồng liêu, rồi bước đến chào hỏi A Quế. Hòa Thân cười nịnh:
- A Quế đại nhân, đại nhân đến sớm thế.
- Nghe nói Hoàng thượng cho đại nhân nghỉ mấy hôm trước khi đi Mân - Triết, đại nhân không nghỉ, như vậy đủ thấy đại nhân lo lắng cho giang sơn xã tắc, lòng trung đáng ngợi khen. A Quế chắp tay làm lễ nói.
- Tất cả là nhờ đại nhân giúp Hoàng thượng vạch ra mưu kế. A Quế đại nhân túc trí đa mưu, dũng cảm mưu lược hơn người, nếu không do tuổi cao, đại nhân đã ghi tên đi dẹp giặc ở Đài Loan, bọn phỉ hôm nay đã cao chạy xa bay rồi. Hòa Thân khoác tay.
- Hòa đại nhân quá khen rồi. Ai lại không biết Hòa đại nhân là con người trong trắng, tài ba xuất chúng, tinh thông việc quân, hiểu biết việc tiếp tế quân nhu, chính sự bộn bề vẫn ngâm thơ vịnh nguyệt. Là con người, có con tim, có đôi bàn tay, đại nhân được sao tôi không được? Nhất định đó là cái phước lớn do tổ tiên Hòa đại nhân tu nhân tích đức để lại. A Quế vừa cười vừa nói.
- Tất cả là nhờ thánh ân thánh đức. Hoàng thiên hậu thổ ông trời làm chứng, kẻ hèn này đâu có được như A Quế đại nhân khen, thực ra là tâng bốc tôi. Hòa Thân pha trò.
- Hòa đại nhân, đại nhân chớ để bụng, thực ra tôi nói như vậy cũng chỉ là đuổi lợn trong ngõ hẻm - đuổi đi đuổi lại. Tôi thấy không có gì nặng nề. A Quế cười gằn.
Hòa Thân mặt vẫn tỉnh bơ, lấy chiếc mũ xuống cầm trong tay, trên khuôn mặt trắng bệch, nổi lên chòm râu chữ bát vừa cắt tỉa tháng trước, như được nhuộm đen, búi tóc đuôi sam đen nhánh vừa to vừa dài rũ tận thắt lưng, trông như một tên phóng đãng mạt hạng, nói tiếp:
- Chẳng qua sau chuyến đi tuần du phương nam với Hoàng thượng, tôi thường xuyên hầu hạ bên cạnh Hoàng thượng, để ý học tập Hoàng thượng. Hoàng thượng nhiều lần nói với tôi, A Quế đại nhân cũng đã học được nhiều trong năm năm, xin cho tôi được thường xuyên học hỏi đại nhân.
- Hòa đại nhân đánh giá xét nét về tôi từ đầu đến chân, cho đầu đần, chân dốt. Tôi thì cho rằng, thời trẻ, chân tôi đã đi khắp đất nước Đại Thanh, mà đầu óc tôi không bằng một phần mười của Hòa đại nhân. Ái dà, không bàn đến, xua tay không nói, thì giờ đây chỉ là một khúc gỗ mục thừa. Già rồi, già rồi, chiều tà sắp chuyển sang hoàng hôn. A Quế mỉm cười nói.
- Đúng. Không kính trọng người già không được !
- Hòa đại nhân, ta già rồi, ta tự hào là cả cuộc đời ta không sống phí sống hoài, càng không có điều gì hổ thẹn với Hoàng thượng. Cho dù mai đây có về chốn tây phương cực lạc cũng thanh thản ra đi, lưu lại tiếng thơm trong sử sách. Không sợ người đời sau chỉ vào mặt, đập gãy cột sống.- A Quế nói thẳng thừng không chút khách sáo, khiến sắc mặt Hòa Thân lúc đỏ, lúc tái, rồi lại nói tiếp: - Người già dễ hồi tưởng lại chuyện cũ, Hòa đại nhân nên nhớ lại Đồ Khâm Bảo đã chết thế nào?
Hòa Thân xấu hổ, mặt nóng bừng, nụ cười tắt hẳn, mặt xị ra như cục băng được vớt lên từ dòng sông giữa mùa đông giá rét. Chiếc mũ cắm lông đỏ trong tay rung rung trước làn gió nhẹ, giống như Đức thiên tuế trong một vở kịch, đang bị Đức vạn tuế trách mắng, mang trong người nỗi sợ hãi không sao nói ra được.
Càn Long và Hòa Thân chuyện trò rất lâu trong thư phòng Đông Noãn Các. Nếu không bị sự ngăn cách về thân phận, về địa vị, có lẽ hai người chuyện trò tâm sự từ sáng tới trưa, từ trưa đến tối mịt. Càn Long và Hòa Thân chung chăn chung gối là việc bình thường trước nay. Nhưng đêm ấy Hòa Thân không ngủ tại đấy. Cái khiến Hòa Thân vui sướng hôm đó là Càn Long đồng ý phong chức Đại tướng quân cho Thường Thanh và hứa sau khi dẹp xong bọn phỉ Lâm Sáng Văn, sẽ cho Hòa Thân lấy Lộng Tinh làm thiếp, dưới danh nghĩa là người hầu của Hòa Thân. Hòa Thân lòng vui như mở cờ, được Càn Long yêu chiều như vậy nên dẫu quanh năm suốt tháng đêm ngày liên tục hầu hạ Hoàng thượng cũng vui lòng tự nguyện. Càn Long nói:
- Có không ít đại thần xì xầm về khanh, nói khanh có quá nhiều của cải, thực ra khanh không cần phải bận tâm, tiền tài của khanh là của Trẫm, của cải của Trẫm cũng là của khanh, Phủ nội vụ có bao nhiêu, khanh lấy mà dùng, tội vạ đâu Trẫm chịu cả. Trẫm biết rõ tâm tư của khanh, hãy yên tâm mà đi, đi rồi về. Chuẩn bị xong quân lương, khanh lại về, Trẫm cũng vậy nhớ khanh đến chết. Nhớ lại khi khanh đến Vân Nam áp giải Lý Thị Nghiêu về kinh, Trẫm đã định cử khanh làm Tổng đốc Vân - Quý, nhưng lại nghĩ đến chuyện khanh không ở bên cạnh Trẫm, lòng Trẫm bỗng run lên từng cơn, ngủ không yên ăn không ngon, như đánh mất không khí trong lành.
Mỗi lần được Càn Long bênh vực che chở, Hòa Thân đều quỳ xuống hô: “vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế”. Cứ thế hô liên tục và tiếp tục quỳ cho đến khi Càn Long kéo dậy mới thôi.
Trong lúc vua tôi hai người chuyện trò tâm sự với nhau, tì nữ Lộng Tinh thỉnh thoảng bước vào rót nước. Cứ mỗi lần bước vào là một lần Hòa Thân rung động. ánh mắt nhìn nhau. Qua ánh mắt, Lộng Tinh nhìn rõ thế giới tâm linh giống như cây lau chơ vơ một mình bên hồ nước mùa thu, mềm mại yếu đuối, không ngớt lay động run rẩy. Hai người đều say đắm. Càn Long nghĩ bụng, vì sức khỏe vừa mới bình phục, thể chất còn suy yếu, nếu không, ông dễ gì buông tha nữ tỳ Lộng Tinh. Càn Long nhìn thấy bóng dáng của một người trong bóng dáng của Lộng Tinh, người đó mãi mãi chôn chặt tận nơi sâu kín của đáy lòng. Cho dù Thái hậu ngăn cản, mối thâm tình của họ cũng không chấm dứt. Người đó là Phó phu nhân Tú Tuyết. Nghĩ đến Tú Tuyết, Càn Long tự nhiên nhớ đến đứa con do ông và Tú Tuyết sinh ra, bây giờ là Phúc Khang An, một trọng thần văn võ kiêm toàn trong triều. Càn Long nhắm mắt tựa vào chiếc ghế bằng gỗ đàn, lắng nghe tiếng hát từ xa vọng lại, lúc trầm lúc bổng, trước mắt hiện ra hình ảnh những cô cung nữ yểu điệu nhảy múa thướt tha trong bộ áo múa dài tay, từng chàng vương công quý tử nối nhau vào ngồi, uống hết chén này đến chén nọ, tiếng nhạc ung dung, đơn điệu, ru ngủ người nghe. Càn Long nhanh chóng chìm sâu trong thế giới đầy hoảng sợ, lòng ngổn ngang bao mối tơ vò.
Mái nhà của nhiều tòa lâu đài được quét một lớp sơn màu đỏ, phản chiếu ánh nắng rực rỡ. Những con chim én nối tiếp nhào lộn bên trên mái nhà, rồi vụt bay lên bầu trời xanh thẳm.
Nhiều người chen lấn bước vào dinh Tổng đốc, nối nhau thành hàng dài, liên tục không ngớt. Mấy người lính gác, hông mang dao, tay cầm dáo, chưa từng thấy dinh Tổng đốc nghiêm ngặt thế này, bị dân chúng hùng hổ xông vào, nhiều lần định huơ dáo xông lên dọa nạt, nhưng liếc nhìn phía sau cánh cửa sơn đỏ nửa khép nửa mở, lại đành nhẫn nhục lùi bước. Phía sau cánh cửa là một chiếc ghế Thái sư, chủ nhân dinh thự đang ngồi nghiêm chỉnh ở đây - Lý Thị Nghiêu, Tổng đốc mới của Mân - Triết, mặt gầy, sạm đen, nghiêm nghị, tướng mạo hơi già so với tuổi sáu mươi, mặc bộ áo triều phục chỉnh tề.
Lý Thị Nghiêu nhận được chỉ dụ của Hoàng thượng, như trút được một gánh nặng. Hồ Quảng xảy ra lũ lụt, hàng tiền cứu tế của triều đình chưa gửi kịp, khiến Lý Thị Nghiêu như kiến trên miệng chảo, sốt ruột sốt gan, hàng đàn dân chúng gặp nạn kéo vào thành, bỗng chốc, trật tự xã hội rối loạn, cùng lúc nghe nói bọn Bạch Liên Giáo ở vùng Tương Dương đã bị dẹp nay lại hồi phục. Đang lúc chưa biết xử trí thế nào, được chỉ dụ của Càn Long điều đi Mân - Triết xa xôi thay cho Thường Thanh đi Đài Loan dẹp loạn. Để giữ yên lòng dân, nhất là số đông nhà giàu quyền quý, do chiến sự ở Đài Loan mà chạy về đất liền, Lý Thị Nghiêu quyết đoán mở cửa dinh Tổng đốc, để cho họ có chỗ an thân. Hành động đó quả nhiên có hiệu quả, Lý Thị Nghiêu đến nhậm chức chưa bao lâu, lệnh ông được truyền đi.
Dân chúng nối gót nhau xông vào cửa dinh, theo hai ngả vòng quanh công đường, đến sau vườn. Lý Thị Nghiêu lim dim đôi mắt nham hiểm như một vị sư nhập định, không thấy không nghe, mặt không động đậy. Thực ra, ông thấy cả, ông nghe cả. Bỗng nhiên mấy cô con gái đầu chít khăn đi qua trước mặt. Lý Thị Nghiêu lấy mắt đoán chừng họ chưa quá mười sáu tuổi. Nghĩ đến thê thiếp ở tận Hồ - Quảng xa xôi, lòng không khỏi rung động. Giơ tay vẫy gọi Trương Thiên Tổng đang giữ trật tự ngoài cổng.
- Lý đại nhân có gì sai bảo?
- Đây toàn là nạn nhân từ Đài Loan đến, phải chăm sóc chu đáo, không được sơ suất tí nào. Nên hỏi thăm họ tình hình thực tế ở Đài Loan, hình thế địa lý, biết đâu có ngày chúng ta phải ra Đài Loan chiến đấu, nên cần tính toán trước. Còn việc này... Lý Thị Nghiêu trầm ngâm một lúc: - Đó là tách đám người này ra.
Vừa nói vừa đưa mắt liếc nhìn mấy cô gái vừa đi vào.
- Hạ quan biết rồi, xin làm vừa lòng đại nhân. Trương Thiên Tổng hiểu ý cười.
Quả nhiên không sai, sau khi Trương Thiên Tổng hỏi, một cô gái mặt đầy phấn son, nhẹ bước đến đưa Lý Thị Nghiêu vào buồng vui vẻ.
Ngay hôm sau, Lý Thị Nghiêu viết một bản tâu, nói rằng, nếu chỉ dựa vào lực lượng hiện có ở Đài Loan thì không đủ sức tiêu diệt bọn giặc Lâm Sáng Văn, nên cấp tốc điều đại quân ở Quảng Đông, Triết Giang đến Đài Loan, ngăn chặn bọn giặc chiếm hải cảng, cướp lương thảo, vũ khí và điều thủy quân đến bảo vệ cảng Nhĩ Môn và cảng Lộc Tử. Không bao lâu, chỉ dụ của Càn Long được gửi đến, khen ngợi Lý Thị Nghiêu tính toán giỏi, và nói, có Mân - Triết người đông của nhiều hậu thuẫn, chiến sự Đài Loan không bao lâu nữa sẽ kết thúc. Xem đoạn dưới, Lý Thị Nghiêu bất giác chua xót. Càn Long đối với chiến sự Đài Loan đã bố trí như sau, cho Thường Thanh làm Đại tướng, tướng quân Phúc Châu là Hằng Đoan và Đề đốc Lục quân Phúc Kiến là Lam Nguyên Mai làm tham tán, dưới sự lãnh đạo của Thường Thanh, như vậy có thể quy về một mối, uy thế quân đội càng lớn, nhanh chóng dẹp yên quân giặc, bình định hải phận. Lệnh Lý Thị Nghiêu phối hợp với Thường Thanh nghiêm trị Tổng binh Hách Trạng Du, tham tướng Hô Đồ Lý đã tham sống sợ chết, tại ngay thành quận Đài Loan để răn tướng sĩ. Nhiệm vụ của Lý Thị Nghiêu là làm hậu thuẫn và lo việc quân lương cho quân sĩ.
Hết tập 1