Lúc này anh mới cảm nhận được một cách rõ ràng âm thanh lạo xạo vang lên từ chiếc bánh xe cao su mòn vẹt nghiến xuống đường làm vỡ tan những mảnh đất bùn khô cong từ dạo hè. Chen lẫn trong tiếng vỡ lạo xạo của những mảng bùn là tiếng kêu rin rít của bánh xe cao su bơm hơi quá căng. Loại âm thanh này có tính co giãn, giống như âm thanh bật lên từ dây đàn. Những bông lúa mập mạp, nặng trịch thòng xuống khỏi thùng xe đùa cợt với những chiếc nan hoa trên bánh xe. Không biết những chiếc nan hoa này có ngứa hay không nhưng anh thì cảm thấy lông trên toàn thân thể mình dựng lên, ngứa ngáy vô cùng. Chiếc xe bò xiêu xiêu vẹo vẹo, giống như một đám mây màu vàng ấm, như một giấc mơ nồng, như một bát đậu tương lên men đặc quánh... đang dần dần rời xa anh, xa lắm. Trên con đường đất chứng nhân cho khoảng cách giữa anh và chiếc xe bò, một làn mây mù năm màu từ từ xông lên. Như người hết nhiên đại ngộ, anh nghe thấy một tiếng ca xa xăm, thê lương. Lúc ấy, anh vẫn chưa sinh ra đời, khắp nơi đều là gai góc và hoa tươi, bụi rậm và đầm lầy, khủng long và hổ phách. Ánh mặt trời chiếu gay gắt đến độ trái đất đổ mồ hôi đầm đìa. Trong những khu rừng nguyên sinh rậm rạp, mùi nhựa tùng thơm ngát không gian. Một con ruồi đẹp rực rỡ đang dùng những chiếc chân vô cùng lanh lẹ nhúng nhựa tùng bôi lên đôi cánh của mình; một con nhện tám chân đang dùng một vạn lần nhẫn nại để chế ngự một nghìn lần lo lắng, từ từ di chuyển đến chỗ con ruồi... Rừng rậm nguyên thủy vẫn cứ ngào ngạt mùi nhựa tùng... Anh trăn trở bất an, toàn thân nhầy nhụa... Trong cái chớp mắt ấy, một giọt nhựa nặng đã rơi xuống, cố định kẻ làm nhục và kẻ bị làm nhục ở một vị trí đồng đẳng và thê lương như nhau. Nước biển dâng lên chậm chạp, thương hải tang điền, một đứa bé chân trần đang đi trên bờ biển, cảm thấy gót chân mình đạp phải một vật cộm. Nó cúi người nhặt lên một giọt nước mắt từ thời xa xưa đưa cho bố xem. Bố nó dùng vạt áo lau cát bụi bám trên giọt nước mắt, đưa lên cao hướng về mặt trời - mặt trời xưa cũ, nói : Con trai, đây là hổ phách. Hãy giữ gìn cẩn thận đem về đưa cho mẹ bán lấy tiền mua thuốc Khi anh học đến bài "hổ phách", có lẽ tuổi của anh cũng bằng thằng bé chân trần kia. Chẳng bao lâu sau, một cô gái có khuôn mặt to bè như chiếc quạt nhặt được một viên kim cương, được thưởng ba nghìn đồng, đồng thời được gọi vào xưởng để làm công nhân. Ngày đêm anh mơ tưởng mình sẽ nhặt được một viên kim cương, mỗi lần cuốc đất trồng đậu, lưỡi cuốc va vào vật gì cứng cứng kêu lên khô khốc là tim anh đập rộn lên, ôm ấp một hy vọng tràn trề, anh cúi xuống và nhặt lên những viên đá hình trứng vịt màu hồng phấn.
Chiếc xe bò chở lúa, chở Kiến Thương có hàm răng đen như cứt chó và "mụ vợ già" có hàm răng còn đen siêu cứt chó đang ngả nghiêng, quay ngoắt sang con đường đi vào làng. Cội nguồn của sự ấm áp biến mất, những sắc màu rực rỡ của cầu vồng và mùi nhựa tùng hình như chưa bao giờ xuất hiện. Trải dài trước mắt anh lúc này là con đường đất thẳng tắp trắng nhờ phía đông con đường là những mảng màu xanh bẩn thỉu, phía tây con đường là khúc sông cong tanh tưởi đang lạnh lẽo thấu nhập vào tâm can anh. Phía bắc của khúc cong, dưới tán của hai cây huệ quỳ, một chiếc vó đang được giăng ra, một ông già mập mạp trắng trẻo đang cất vó. Khi chiếc vó được kéo lên mặt nước, các mắt lưới đều giăng kín một màng hồng mạc. Màng hồng mạc tí tách vỡ, nước xanh hội tụ ở đỉnh mút của lưới và như một chuỗi ngọc trai tí tách rơi xuống. Cá lớn cá bé giãy giụa tuyệt vọng trong vó. Ông già mập mạp đưa một tay nắm lấy mép lưới, một tay cầm chiếc gáo được nối dài bởi một đoạn tre thẳng đập đập lên lưới, tất cả cá đều tự động chui vào trong gáo, những chiếc vảy bạc lấp lóa. Anh tính toán một cách đại khái rằng, một trăm mười tiếng đồng hồ trước, anh không nói không rằng ngồi giữa hai tán lá của hai cây huệ quỳ ông già mập trắng ở bên phải, anh chăm chú nhìn ông ta cần mẫn cất vó.
- Năm nay thế nào, hoàng đế Vĩnh Lạc? Thi đã năm lần, lần nào cũng rơi tự do. Đừng nóng vội, cứ thi nữa đi. Sách "Tam tự kinh" ghi, Lương Hạo tám mươi tuổi còn thi đỗ trạng nguyên. Cậu bao nhiêu tuổi?
Anh lạnh lùng nhìn gương mặt trắng trẻo của nguyên phó bí thư Đảng ủy công xã đã nghỉ hưu mà nghĩ đến những chiếc bánh bao hấp chưa kịp chín ở nhà ăn trong trường. Trong "Nho lâm ngoại sử", Phạm Tiến thi đỗ thì hét toáng lên : Đỗ rồi! Đồ rồi! Tôi đỗ rồi! Và lão ta vất con gà đang ôm trong bụng chuẩn bị đi bán, cứ thế chạy trên dường, đầu va chân quẹt, lao cả xuống bùn nhơ... Hôm nay có bài khảo sát, thầy giáo Chương gầy chắc như một con chó sói khom chiếc lưng gù, cổ lệch sang một bên, vai bên phải như cái bướu lạc đà cao ngất, vừa giảng vừa đi đi lại lại trên chiếc bục xếp bằng gạch bóc dưới mộ lên. Đôi mắt thầy cứ nhìn xuống bục giảng dưới chân mình, hình như thầy đánh rơi mấy đồng xu và chúng đã chui tọt xuống dưới các kẽ hở. Dưới giếng Trân Phi có hàng vạn đồng tiền kẽm... Ôi! Người đàn bà này... - Tề Văn Đống!... Trong ánh sáng mờ mờ của những đồng bạc kẽm dưới nước, anh nghe thấy thầy giáo dạy ngữ văn dùng thanh âm của loài diều hâu gọi tên mình. Một cách vô thức, anh đứng dậy, trước mắt là những đồng kẽm một xu, hai xu, năm xu... đang chuyển động. Tác giả của "Nho lâm ngoại sử" là ai? Thầy giáo ngữ văn giống như Từ Hy thái hậu dang truy hỏi. Bỗng nhiên nước mắt anh chảy dài, lắp bắp : Trân Phi... Thầy giáo ngữ văn như một con gà trống đang rụt cổ rụt chân đi trên tuyết trong những ngày đông tháng chạp thình lình bị nước đọng lâu ngày trên mái đổ ào xuống người. Điệu bộ con gà trống lúc ấy thế nào thì điệu bộ của thầy giáo ngữ văn lúc này giống hệt như thế. Cái bướu lạc đà trên vai thầy vểnh lên lắc lư như đầu con gà trống, bụng dính liền với đầu, hai cánh hình như đã bị trọng thương. Trước mắt anh, những đồng xu kẽm đã biến mất, những tia nắng xuyên qua kẽ lá của cây bạch dương, xuyên qua khung kính cửa sổ cũ nát và chiếu lên bàn học của anh thành những đồng xu hình tròn. Tất cả học sinh đồng loạt cười lên một cách thô thiển và ngớ ngẩn, không khí lớp học đặc sánh, đen ngòm và chết chóc. Những con dơi chao cánh làm cho bụi đọng lâu ngày trên xà gỗ lả tả rơi xuống trên cổ của Mã Bạch Tĩnh đang ngồi trước mặt anh. Trên cổ con bé có một cái bớt đen, lớn hơn hạt đậu, lâu nay anh cứ cho rằng đó là vua của loài chấy rận. Bên ngoài cửa sổ, lá cây bỗng nhiên lao xao, những chiếc bóng nắng ngả nghiêng hoan lạc. Học sinh lớp trên đang học thể dục ở sân vận động; ngoài đồng nông dân đang quát tháo trâu bò : Y liệt! Rẽ sang phải; Y la! Rẽ sang trái! Tiếng roi vun vút vang đến tận tai anh. Anh đang thể nghiệm một cảm giác mà từ xưa đến nay chưa hề biết đến : Vì bị áp bức và sợ hãi quá độ mà sản sinh một loại khoái cảm tội lỗi rất mạnh mẽ. Thầy giáo nói : Ngồi xuống đi! Tề Văn Đống tiên sinh! Trước khi ngồi xuống, anh lắp bắp chuộc tội : Ngô Kính Tử... là Ngô Kính Tử...
Ông già to béo nguyên là phó bí thư đảng ủy công xã đứng dậy, những tảng thịt trên thân thể ông ta như chùng xuống, phần nhiều đều đùn lại phía trên chiếc thắt lưng bằng da trâu được đệm lót bằng ba mươi hai sợi bông Thanh Đảo, nung núc rung rinh. Ông ta nắm chắc sợi dây thừng to tướng, dùng sức kéo lưới. Chiếc lưới nổi lên mặt nước, trống không, chẳng có con cá nào, trên mép lưới chỉ dính vài cọng rong rêu. Ông ta làu bàu trong miệng rồi thả lưới chìm xuống nước. Trên đầu một nhánh cây huệ quỳ, một con ong ngựa có chiếc bụng màu hồng phấn đang bò cô độc. Ông già lấy một điếu thuốc ra kẹp giữa hai ngón tay thô như những chiếc lạp xưởng, dùng một chiếc bật lửa ga đốt thuốc. Một đốm lửa xanh nhờ nhờ trên đầu chiếc bật lửa. Ông ta nói :
- Đây là chiếc bật lửa của con nuôi ta mua tặng đấy. Cậu có biết con nuôi ta không? Tên nó là Kim Tinh.
Anh nhớ ra gã thiếu niên đắc chí cùng học một lớp tên Kim Tinh. Cậu ta đã tốt nghiệp đại học, còn anh thì vẫn đang nghiến ngấu những kiến thức của bậc phổ thông. Bố nuôi Kim Tinh ho ra một bãi đờm vương màu khói thuốc lá và phun mạnh xuống dòng sông. Một con cá phóng vút lên đớp lấy.
- Con nuôi ta đã được phân công vào Quốc vụ viện làm thư ký. Quốc vụ viện! Cậu nghe qua bao giờ chưa? Nó đeo huy hiệu của Quốc vụ viện to bằng miệng chén uống trà! Bây giờ không có chức vụ nào ta muốn xin cho ai đó mà không được. Bố vợ của nó lại là một cán bộ cao cấp trong quân đội, có một cái nhà xây theo kiểu Tây to đùng, toàn bộ được thiết kế bằng kính màu, nghe đâu phải hết gần hai nghìn mét vuông kính.
Trong lời tụng ca của ông ta về đứa con nuôi, anh cảm thấy một nỗi nhục nhã xen lẫn giận dữ không thể gọi tên dâng lên trong lòng. Người trong thôn truyền nhau rằng, mẹ của Kim Tinh già nhân ngãi non vợ chồng với phó bí thư. Ông ta lại tiếp tục kéo vó, vẫn trống không, chỉ có nước trong chảy xuống ròng ròng, ngay một chiếc vảy cá cũng không có, mấy cọng rong rêu vẫn nằm nguyên vị trí cũ, xanh đến nhức mắt. Nét mặt cựu phó bí thư có vẻ giận dữ, ông ta văng tục :
- Mẹ kiếp! Bồ tát đánh rắm! Cá đi đâu hết rồi kìa?
Qua ánh mắt liếc nhìn một cách hằn học của ông ta, anh biết là mình nên rời khỏi chỗ này. Anh cảm thấy ở nông thôn những năm trước mà có những tay cường hào ác bá mới tự tay kéo vó để kiếm cá như thế này là một hồng phúc của người nông dân, cho dù ông ta ngày ngày kéo lưới kiếm tiền nhưng cứ đến tháng là nhà nước phải trả cho ông ta hàng trăm đồng tiền lương. Anh đau đớn vì sự bất công của cuộc đời. Trong quá khứ anh đã từng nghĩ như vậy nên quyết tâm vào đại học. Nghĩ đến đại học, anh chợt rùng mình. Vừa lúc ấy, bí thư chi bộ thôn đi đến. Mắt ông ta đỏ quạch vì rượu, đầu lưỡi thì đã cứng lại :
- Lão lợn trắng! Được bao nhiêu cá?
- Ngay cả một cái vảy cũng không có! - Phó bí thư mập nói.
- Trong làng đang họp bàn về sinh đẻ có kế hoạch, đang chờ cá của ông bỏ vào nồi đấy!
- Lão Vu mồm to có đến không? Cá của ta đây đem cho mèo ăn còn hơn cho lão. Đồ trứng thối mà bắt con gái nhà khuê các nuôi làm sao được!
- Lão lợn trắng! Xương ông không cứng mà sao miệng lại cứng thế! Ông cũng đã từng làm phó bí thư công xã rồi cơ mà. Vứt bộ lông đi thì phượng hoàng cũng như gà mái, hổ lạc xuống đồng bằng thì bị chó khinh khi!
- Khi lão đây đang làm phó bí thư công xã, tay họ Vu này ngày nào cũng rót nước pha trà cho lão, còn ông chỉ là một thằng nhóc tạp chủng vẫn còn ăn cứt gà!
- Tôi đã gia nhập Đảng từ năm bảy tư đấy nhé! - Bí thư thôn nói.
- Ai mà chẳng biết mẹ ông cởi quần để đổi lấy tấm thẻ Đảng cho ông? - Phó bí thư mập nói. - Khi lão đây gia nhập Đảng, lão đã đem đầu mình giắt trên thắt lưng, vào sinh ra tử. Tấm thẻ Đảng của lão là đem tính mạng ra mà đổi, còn thẻ Đảng của ông là do mẹ ông cởi dây lưng quần mà đổi lấy!
Vừa nói, ông ta vừa kéo chiếc vó lên. Trong lưới có một con cóc đen đang trừng đôi mắt lấp lánh nhìn mọi người. Chiếc dây thừng được thả ra vội vàng, tấm lưới chìm xuống dòng nước.
- Xúi quẩy! Xúi quẩy! Xúi quẩy! Nói xong, ông ta nhổ một bãi nước bọt.
Khúc sông ở chỗ hai cây hòe này thường rất nhiều cá, và lúc ấy cá cũng đang bơi lội dày đặc, lấp loáng dưới nước, phía trên chiếc lưới. Nhưng vó của phó bí thư lại chẳưng cất được con nào, có lẽ sự xúi quẩy của ông ta đúng là do anh mang đến. Ông ta phải cắm đầu xuống nước mà chết cho rồi! Nhưng ngay lập tức, sự tức giận của anh lắng dịu vì những hồi ức về của Kiến Thương và "mụ vợ già" của lão ta cầm chiếc roi ngựa cùng với những bó lúa choán lấy tâm trí. Anh quay người đi thẳng về phía nam, nhưng chỉ đi được ba bước là anh lại chìm vào cơn mộng du.
Lúc này thì bóng đêm đã bắt đầu bao phủ, sương đêm màu tím nhạt mờ mịt như vươn tay là có thể sờ thấy. Qua khe hở thưa thớt của những cây đay, anh nhìn thấy vầng thái dương méo mó thoi thóp chút hơi tàn đổ ụp xuống một đám mây xanh có hình đỉnh núi. Bởi ngồi trên nấm mồ cô đơn của một cô gái - nấm mồ hình bầu vú căng mọng - anh mới có thể trông thấy vầng thái dương méo mó, nhàu nát. Tiếng côn trùng mùa thu đang ca những khúc ca buồn thảm trong ánh hoàng hôn với đủ loại tạp âm. Có moi hết ruột gan khô khốc của anh ra, anh cũng không thể nào mô phỏng được tiếng ca của chúng để ghi thành những từ tượng thanh. Đầu óc anh đang choáng, một trạng thái choáng rất nhẹ nhàng, trong đó có pha lẫn cảm giác hạnh phúc. Rừng đay thẳng tắp và diễm lệ bao quanh phần mộ, cũng có nghĩa là bao quanh anh. Trên những cành cây màu vàng sẫm thanh khiết là tầng tầng lớp lớp những tán lá màu xanh hình chân vịt đâm thẳng lên trời, những bông hoa mỏng màu trắng sữa năm cánh với nhụy hoa màu đỏ phân bố đều đặn trên tất cả các cành nhỏ, mỗi cành khoảng bốn năm đóa. Khi gió thổi qua, thân cây xao động, vô số cánh hoa rời cành, chấp chới trong không gian. Chung quanh anh, bướm phấn bay chập chờn, dịu dàng và lạnh như hoa tuyết. Bướm phấn vây lấy anh, cũng là vây lấy ngôi mộ mọc đầy cỏ vàng hoa lam. Anh nhớ một cách rõ ràng hình dáng của cô ấy người nằm yên dưới phần mộ này : đôi mắt màu xam xám vừa to vừa buồn bã, ngay trên đỉnh đầu có một nhúm tóc trắng như tuyết có lẽ phải đến bốn năm mươi sợi. Ngoài nhúm tóc trắng trên, còn lại tất cả đều đen, đen đến độ bóng mượt. Thanh niên trong làng đặt cho cô cái tên rất dài : Con bò cái đầu hoa. Khi anh đang nghĩ về cô, đích xác là anh đang cảm nhận được rằng, cô đúng là một con bò cái bé nhỏ thiện lương. Trong đôi mắt màu xám của cô luôn phát ra một tia nhìn sao mà đáng thương. Kỳ nghỉ hè năm ngoái, trong một buổi chiều tà buồn, anh từ ruộng bông quay về - anh đi cắt những cành bệnh cho cây bông, tay xách chiếc kéo cắt cành to tướng hiệu Ngũ Liên Sơn đã mất hẳn sức đàn hồi, gỉ sắt loang lổ. Ngay tại khúc sông cong này, anh đã gặp cô. Cô xách nước từ dưới sông lên đổ vào bình phun thuốc. Cô đang phun thuốc cho bông. Anh nhớ rất rõ nụ cười buồn trên mặt cô, cô hỏi :
- Anh sinh viên ơi! Đang làm gì vậy?
Mặt anh đỏ rần lên, nói :
- Chị chớ trêu chọc tôi. Tôi vẫn chưa đỗ. Nghỉ hè, tôi tranh thủ về giúp đỡ gia đình. Tôi nhất định sẽ thi đỗ.
- Xin lỗi! - Cô ấy nói. - Tôi không biết, cứ nghĩ là bạn đã đỗ năm nay rồi.
Rồi cô cúi đầu, thân hình nhấp nhô lên xuống để bơm khí vào bình thuốc. Anh nghe tiếng nước réo ừng ục ở trong bình.
Sáng sớm hôm sau, anh nghe thấy chị dâu kinh hoàng thất sắc nói :
- Thúy man uống thuốc độc tự tử rồi!
Lúc ấy anh đang đứng dưới tán cây ngô đồng khô quắt, tay cầm cuốn giáo trình tiếng Anh, mắt nhắm nghiền, miệng nhai đi nhai lại mấy từ đơn tiếng Anh. Đúng là bọn Thổ Phiên đang đánh rắm ra toàn mùi nho! Đây là lời nhiếc móc của chị dâu dành cho anh từ phía bên kia bờ tường. Anh rất muốn làm một động tác này : Thả tay, nửa thật nửa giả để cuốn giáo trình tiếng Anh trượt từ trên đùi xuống ống chân rồi rơi xuống đất. Nhưng anh không làm thế, bởi ngoài chuyện tim anh ngừng đập trong giây lát, anh chẳng còn nỗi thống khổ nào nữa cả. Tinh thần anh rất tỉnh táo nên mới nhận ra bà chị dâu có thân hình mập mạp và đồ sộ như một con tinh tinh cái kia, nửa như hoảng sợ, nửa như rất phấn khởi, vui mừng trước tai họa của người khác thể hiện rất rõ trên khuôn mặt trét phấn chỗ xanh chỗ xám. Gương mặt chị dâu lúc này chẳng khác gì một đĩa rau muối chua quá rục, bốc mùi thối nực mũi. Anh căm ghét cái khuôn mặt to bè như cái mông đít có hai con mắt đục ngầu nằm sát bên sống mũi lúc nào cũng dầy ghèn xanh ở hai khóe, căm ghét cái mồm có đôi vành môi mỏng dính như hai sống dao che không hết hàm răng nhỏ như răng chuột của chị dâu.
- Đáng tiếc quá, oan ức quá! Một cô gái thanh tân trinh bạch! - Bà chị dâu nhìn anh nói, đầy ẩn ý sâu xa.
Chị dâu đang chăm chú nhìn anh bằng con mắt đục ngầu, hình như muốn bắt chuyện. Anh biết, chị dâu chưa bao giờ quên những nỗi thù hận khắc cốt ghi tâm đối với anh, mà chỉ muốn tìm ở anh một nơi để nôn hết những sự đồng tình ô uế và sự thương cảm dòi bọ chất chứa trong lòng.
Mẹ đi từ trong nhà ra, mái tóc bạc phất phơ. Khuôn mặt mẹ đen như đít nồi, trong miệng chỉ còn một chiếc răng cô độc, những luồng không khí nhè nhẹ tuôn ra từ miệng bà khi nói.
- Ai? Ai đã uống thuốc?
Mẹ bị nặng tai nên mỗi lần mở miệng là nói rất to. Mẹ hy vọng rằng để cho người ta nói to với mình, trước tiên mình phải nói thật to với người ta, trao đổi ngang giá, có đi có lại mới toại lòng nhau.
- Tiểu Thúy! - Chị dâu nói.
- Ai? - Mẹ bước lên một bước, dùng sức ngẩng mặt lên, như hoa quỳ hướng về phía mặt trời, nhìn chị dâu.
Tay mẹ đang cầm chiếc que cời lửa đen thui, một làn khói lượn lờ trên đầu que, trông nó rất giống một bó đuốc đã tắt lại cũng giống với bó đuốc đang cháy. Lần đầu tiên anh thấy bà chị dâu biểu hiện tâm tình một cách khá nhã nhặn, lần đầu tiên không hề chửi mẹ là "đồ điếc già" mà cao giọng nói :
- Tiểu Thúy! Con gái nhà Ngư Sinh Tài uống thuốc chết rồi! Con bé quả là hồ đồ, chết nhẹ nhàng sao bằng sống mòn mỏi kia chứ!
Mẹ kêu "Ôi!" một tiếng, thân hình lảo đảo quay vòng như một con quay, chiếc que cời lửa quơ tròn trên không trung - Một đứa con gái tốt! - Mẹ nói như gào - Con bé sao mà cạn nghĩ thế! Trưa hôm qua vẫn còn gánh giúp cho tao một gánh nước, tao hái cho nó một quả dưa chuột, nó nói không ăn, cười rồi bỏ đi.
Đôi mắt của bà chị dâu quắc lên, gào to phẫn nộ :
- A! Dưa chuột! Bà hái dưa chuột ở đâu?
Ngay lập tức thân hình của mẹ ngừng quay, người mẹ như thu nhỏ lại, hai tay giơ lên cao như sẵn sàng đầu hàng, lại vừa như chuẩn bị chiến đấu. Chị đâu chạy vào vườn của mình - ở đấy có trồng ba giàn dưa chuột - rồi chạy như bay trở lại tiếng chửi sao mà cao và thanh, từ ngữ sao mà phong phú điêu luyện :
- Đồ lông trắng, đồ ăn trộm, đồ điếc kia! Thảo nào ngày nào tôi cũng thấy hoa vàng nở đầy trên giàn mà không bao giờ trông thấy quả. Té ra là có quân trộm đạo. Bà ăn dưa chuột của tôi, bụng bà sẽ mọc đầy nhọt độc. Nhọt độc sẽ giết chết cái loại tạp chủng như bà!
Mẹ hạ giọng van nài :
- Mẹ con Na Ni à, đừng chửi nữa, hàng xóm láng giềng nghe được, người ta cười cho!
- Ái chà chà! Sạch sẽ gớm nhỉ? Bà mà còn sợ người ta cười sao? Hảo hán làm sai hảo hán chịu, đã ăn trộm dưa chuột thì đừng sợ người ta cười!
- Tao không ăn, tao hái cho Tiểu Thúy ăn. - Mẹ nói. - Con người ta giúp tao gánh nước, trong lòng tao áy náy quá nên hái của mày một quả dưa. Tao già rồi, gánh nước không nổi, mà mày với bố con Na Ni chẳng bao giờ gánh giúp tao đôi nước nào đâu?
- Tôi bỏ tiền bỏ gạo ra nuôi lão tổ tông, tiểu tổ tông nhà bà chưa đủ sao? Thi bốn năm rồi, hoang phí không biết bao nhiêu là tiền của! - Chị dâu nhìn anh bằng cặp mắt thù hận. - Ngay cả một chiếc lông thừa của trường đại học cũng không lượm nổi! Thằng con của đứa cháu nhà mẹ tôi, chỉ cần thi một lần đã đỗ vào trường kỹ thuật gốm sứ, chuyên học kỹ thuật làm ấm trà, tách trà. Hy vọng gì ở việc thỏ sinh ra lạc đà? Một năm không thể thành trâu cày, e rằng đến già cũng chỉ là một con bê thôi...
Cuốn giáo trình tiếng Anh tuột từ đùi xuống bắp chân anh rồi rơi xuống đất rất nhẹ nhàng. Cây ngô đồng được mẹ chờ mong sẽ là một tài sản của gia đình ngày nào cũng bị mẹ dùng nước tiểu tưới cho đến độ sống dở chết dở, những chiếc lá héo úa tuyệt vọng rụng xuống gốc cây. Thân hình anh lảo đảo, nhất thiết phải dựa vào một cái gì đó, không phải do lý trí yêu cầu mà là thân xác ham muốn. Anh tựa lưng vào gốc cây ngô đồng. Vỏ cây xù xì nhọn sắc cứa vào da thịt anh. Trong chớp mắt, tất cả ý thức của anh như một chùm ánh sáng tối tăm mờ mịt, dính chặt ở nơi giao tiếp giữa da thịt và vỏ cây. Ở nơi ấy có một thứ âm thanh suồng sã dâm loạn vang lên. Anh cắn chặt môi, đầu lắc thật mạnh. Trông anh lúc này giống hệt một con chó nhảy xuống nước lắc đầu thật mạnh để cho những bùn nhơ dính trên đầu văng di. Chính xác là anh cũng lắc đầu thật mạnh để những âm thanh nhớp nhúa đang kêu ong ong trong tai bắn ra ngoài. Giống như nước mũi xanh, chúng văng tứ tung và dính trên bức tường đất màu vàng mọc đầy rêu xanh rồi từ từ nhểu xuống đặc sệt trên nền đất đen ướt át bởi sương lạnh. Ruồi chưa kịp bay đến nhưng anh đã nghe thấy tiếng đập cánh vù vù của chúng. Lại một loạt lá ngô đồng héo úa nhẹ nhàng uyển chuyển rơi xuống. Lá vàng rơi xuống, ý thức xam xám bay lên. Vài tia nắng sớm rực rỡ chiếu trên cành lá ngô đồng khô khốc khiến chúng như được giát vàng nhũ bạc, chẳng khác nào kim chi ngọc diệp trong cung cấm ngày xưa. Mũi anh vừa ngứa vừa cay cay, anh muốn khóc. Lại có những lá ngô đồng khô vàng hơn như những lông vũ màu vàng, nghiêng nghiêng chao lượn và nhẹ nhàng rơi xuống không một tiếng động như muốn ôn tồn an ủi anh. Anh chờ đợi chúng sẽ đáp xuống chiếc trán bần cùng lạc hậu của mình. Quả là trời cao linh hiển! Một chùm lá đáp xuống và che lấp trán anh, che trùm luôn cả đôi mắt chẳng khác gì loài động vật thời tiền sử của anh. Trước mắt anh là một mảng màu tối sầm. Anh nghe thấy tiếng chảy của máu trong huyết quản mình, những cảm nghĩ hắc ám rơi xuống, niềm hoan lạc bay lên cao. Anh lại nghe tiếng rơi rất nhẹ của những chiếc lá ngô đồng... Đồ ăn trộm vặt! Tiếng chửi của bà chị dâu. Tiểu Thúy! Ngư Thúy Thúy! Mặt trời sáng tinh mơ chiếu những tia sáng diễm lệ như lông vũ của loài chim phỉ thúy nhuộm bừng cả không gian. Mẹ vẫn cầm que cời lửa, gục đầu khom lưng đi vào căn nhà đen ngòm như một hang động, bà chị dâu vẫn không thôi những lời chửi mắng, còn anh thì âm thầm khóc, xiêu vẹo quay người một vòng, gục chiếc đầu hoang sơ cằn cỗi vào lớp vỏ xù xì sắc nhọn của cây ngô đồng. Mẹ lại từ trong hang chui ra, tay cầm nửa quả dưa chuột tong teo, tay kia vẫn cầm chiếc que cời lửa.
- Vẫn còn nửa quả, mẹ con Na Ni à, trả cho mày đây! - Mẹ nói.
Chị dâu giật phắt nửa quả dưa, nước mắt lưng tròng :
- Vẫn còn dầy lông tơ, đang lớn mà đã bị bà hái mất rồi!
- Nửa quả kia tao không ăn, là tao cho Na Ni ăn. Tao không còn răng nữa, có muốn ăn cũng đành chịu. - Mẹ nói.
Chị dâu tàn nhẫn phun một bãi nước bọt xuống đất rồi lại dùng đôi chân mang giày nhựa xéo qua xéo lại, cầm lấy nửa quả dưa, lầm bầm chửi câu gì đó nữa rồi bỏ đi.
- Vĩnh Lạc! - Mẹ đi đến bên anh, dùng chiếc que cời lửa chọc chọc vào lưng anh, nói. - Đừng buồn nữa. Hãy giữ vững chí khí. Năm nay không đỗ, sang năm thi nữa. Có công mài sắt có ngày nên kim! Chị dâu có chửi mẹ vài câu thì mặc nó, ưa chửi thì chửi, mẹ điếc, mẹ có nghe đâu. Nó có sức thì nó cứ chửi, chẳng dám đánh mẹ đâu. Đừng giận anh con, nó sợ vợ. Nông dân nghèo cưới được vợ là chuyện không hề dễ dàng, có đàn bà trong nhà rất quan trọng, ai không sợ là không ra hồn ra xác gì đâu. Sợ vợ thì được cưỡi la! Tiều Thúy quá hồ đồ sao lại nghĩ không tới thế nhỉ? Có con người thì có thế giới, không có con sông nào mà con người không vượt qua, chỉ có thể không được hưởng phúc đến tận cùng thôi, chứ không có nỗi khổ nào mà chịu không nổi. Chân con nhanh, cầm hai hào này mua ít giấy chạy đến nhà con bé một tí, chẳng uổng một thời gần gũi quen biết.
Sau đó, đúng là anh đã vượt qua dòng nước cạn ngắt quãng từng khúc, bò lên bờ đê dầy gai góc và bụi rậm, chạy đến cửa hàng cung tiêu mua một xấp giấy. Đây là loại giấy mà phụ nữ nông thôn khi đẻ con thường dùng, là loại giấy mà những hạng người trung cao cấp dùng để chùi đít nhưng cũng có thể biến thành vàng mã để đốt cho người chết. Loại giấy này có hai màu đỏ và trắng. Anh vốn muốn mua một xấp màu trắng nhưng cô nhân viên bán hàng cương quyết không chịu bán giấy trắng cho anh. Không thể không mua giấy màu, anh đành phải lấy giấy màu đỏ. Trong khi đi mua giấy và đến nhà Thúy Thúy, đầu anh cứ vẩn vơ câu nói thờ ơ của mẹ : Cầm hai hào này mua ít giấy chạy đến nhà con bé một tí, chẳng uổng một thời gần gũi quen biết... Anh nghĩ, có lẽ nào mình và cô ấy đã có một thời gần gũi" sao? Với cô ấy, Ngư Thúy Thúy, trên đầu có một nhúm tóc bạc, Ngư Thúy Thúy, cô gái lớn hơn mình bảy tuổi, gần gũi được sao? Có lẽ nào chỉ vài câu chào hỏi thì được xem là "gần gũi" sao? Khi bước chân vào cổng nhà cô lòng anh vẫn hoang mang bất ổn, cảm giác như đang mang giấy vàng mã tới nhà người chết để tạ tội. Mẹ Ngư Thúy Thúy chết sớm, bố cô đang ngồi trên một đống ngói vỡ trong một góc sân, khuôn mặt chẳng có biểu hiện gì là của người đang sống, cúc áo tuột cả để hở khoảng ngực và chiếc bụng đen như than hầm, trên bụng có một vết sẹo đỏ hồng hình con rết. Hai người anh gầy đen như hai cây khô, một người đứng hút thuốc lá phì phèo, người kia ngồi cũng phì phèo thuốc lá. Anh đi vào sân, để bước chân khỏi luống cuống ngập ngừng, anh cố ý ôm xấp giấy thật cao trước ngực, miệng chào ông, chào hai chú. Anh nói :
- Mẹ bảo cháu đến viếng cô Thúy...
Lúc này nước mắt của người bố mới chảy xuống thành hai dòng song song. Một ông già khô quắt như vậy mà nước mắt lại nhiều đến như thế sao? Cảm nhận này khiến anh vô cùng kinh ngạc :
- Thúy ơi! Thúy ơi! Thà là con giết bố đi còn hơn...
Tiếng khóc của người già khiến quỷ thần cũng phải rùng mình ớn lạnh. Nước mắt ông lão chảy dài thành hàng, thành chuỗi rơi thánh thót xuống vết thương trên bụng. Người anh đang ngồi ném mạnh tàn thuốc xuống đất, gầm lên:
- Đồ ngu ngốc! Đồ trứng thối! Đồ tạp chủng!
Người anh đang đứng lại ngồi bệt xuống, vòng hai tay ôm lấy cái đầu bạc phơ, không thốt lên lời nào. Anh đặt xấp giấy lên bệ cửa sổ; xuyên qua những chấn song cửa sổ rộng hoác, anh nhìn thấy xác Tiểu Thúy đang trương phềnh lên, gương mặt xanh tím chẳng khác nào một lá thuốc bị sương phủ lâu ngày, nhúm tóc trắng trên đỉnh đầu lấp lóa như nhũ bạc. Đột nhiên những vọng niệm trong lòng anh hóa thành tro bụi, sống va chết té ra chỉ cách nhau có một lớp giấy mỏng dán cửa; phấn đấu và thành công, không phấn đấu và không thành công suy cho cùng cũng đều có kết cục giống như nhau, ngoái đầu nhìn lại cũng chỉ là một xác chết khô thẳng đuột. Cho dù anh là con người thông minh trác việt hay ngu như bò, trước cái chết sẽ khiến cho ai ai cũng bình tâm tĩnh khí trở lại. Nhưng anh vẫn cảm thấy một nỗi sợ hãi tê buốt. Hổ chết giống như dê chết, nhưng người chết thì lại như hổ.
Anh rời khỏi ngôi nhà cũ nát của Thúy Thúy, chạy như bay trên đường. Một bầy trẻ con trần như nhộng đang chơi trò "đánh thuốc nổ". Chúng dùng lá cây gai túm đất buộc lại, gọi nó là "bao thuốc nổ". "Bao thuốc nổ" được đặt trên đầu một đứa bé trai, một đứa khác dùng que nhọn chọc mạnh cho lá rách toác, đất cát chảy dài xuống mặt mũi thằng bé. Thằng bé lắc lắc đầu chẳng quan tâm nhớp bẩn, đuổi theo bọn nhỏ còn lại. Anh đi vòng sang mép đường để tránh cuộc chiến tranh khốc liệt trên đường. Thằng bé tuy đã "bị thương" nhưng vẫn anh dũng chiến đấu, quát tháo luôn mồm, anh không đoán được nó mấy tuổi nhưng xem ra nó tràn trề nhựa sống. Giữa tháng Chạp giá rét thế này mà bọn chúng đều trần truồng, vì ngại tắm trong mùa đông nên da đứa nào cũng đóng vảy cá dày cộp, lấy đá cuội mà cọ e rằng sẽ phát ra âm thanh ken két. Anh biết thằng bé này rồi sẽ leo rất cao, ngoại trừ việc lên mặt trăng, còn bất kể chỗ nào nó cũng sẽ vươn tới. Nó là kẻ đầu têu của dám trẻ con này, đứa nào cũng có vẻ sợ nó ra mặt. Anh đã từng tận mắt chứng kiến bố thằng bé thể hiện sự giận dữ một cách bất lực như thế nào đối với nó trước mặt rất nhiều trẻ con. Sau khi bị bố đánh đòn, thằng bé vơ một nắm đất nhét vội vào mồm và nuốt, cứ thế nuốt đến mười mấy nắm đất, mắt trợn tráo chỉ thấy màu trắng xanh. Bố nó nói : Cậu tổ tông! Mày làm gì thì làm, tao không quản nổi mày nữa dâu.
Trong cái mùa hè dài dằng dặc ấy, anh hoàn toàn rơi vào trạng thái đau khổ vì bàng hoàng và do dự. Anh đang đi giữa hai thái cực của cuộc sống : Ngư Thúy Thúy u ám thê lương và thằng bé ăn đất sáng rực nóng hổi trên con đường quanh co khúc khuỷu đầy cạm bẫy. Mùa hè ấy mưa nhiều nhưng cũng rất nóng, mưa làm khắp nơi dậy bùn. Từ những đám mây dày thi thoảng mặt trời mới hé ra, và như để lấy lại vốn liếng, mặt trời ra sức tỏa nhiệt lượng, đất đai giống như hũ tương lên men chua loét; tiếng kêu trầm đục của loài cóc và tiếng kêu trong trẻo của loài ếch ngày đêm vang lên tạo thành một bản giao hưởng triền miên. Anh ngủ trên chiếc giường nóng như lò lửa, cảm thấy sống trong ao đầm, sự ẩm thấp khiến xương cốt anh trở nên han rỉ. Bông, đay, cao lương lớn lên trong sự điên cuồng. Các loài thực vật sinh trưởng trong kiểu khí hậu bất bình thường thế này hầu như đều mắc phải chứng điên, triệu chứng biểu hiện rất dễ thấy : lớn lên, lớn lên, không quan tâm đến bất cứ điều gì, chỉ có lớn lên! Cây bông đã cao hơn đầu người lại muốn tiếp tục cao lên nữa, cành non mơn mởn như rau cần, lại vừa giống một cây bạch lạp; bất kỳ nụ hoa nào đều nghĩ là mình sẽ trở thành một trái bông to tướng! Đay bắt đầu nở hoa vào năm ấy. Hoa đay biểu thị sự thoái hóa cùng cực của sự tạp chủng. Trước thời gian ấy, người ta vẫn nhất mực cho rằng, đay không bao giờ nở hoa. Hoa đay rực rỡ nở khắp cánh đồng giống như một điềm báo bất thường, giống như tảng đá nặng đè lên những người nông dân nhu nhược và ngu muội. Lại còn cao lương nữa. Anh không thể quên được chuyện trên thân cây cao lương lại sinh đầy những sợi râu màu đỏ sậm, rất mềm, nghe đâu là có thể xào ăn nhưng chẳng ai dám thử. Ngày ấy tình cảm của anh dành cho màu xanh vẫn còn đậm đà lắm, sau này anh mới phát hiện màu xanh là bẩn thỉu, nhớp nhúa và vô sỉ. Sự phản cảm của anh dối với màu xanh không chỉ thuần là nguyên nhân tâm lý mà còn có cả nguyên nhân sinh lý; vả lại, anh cũng biết rằng, không ai có thể làm cho anh thay đổi sự căm ghét đến đau khổ của anh đối với màu xanh.
Bên ngoài khung cửa sổ, tiếng mưa đã yếu dần. Buổi trưa ẩm ướt, mẹ ngồi bó gối ngủ gật như một con gà mái già trên đống rơm lúa mạch trong góc tường. Từ trong mồm bà, những luồng hơi lạnh khò khè tuôn ra, tiết tấu rất đều đặn. Rất nhiều bọ chó mập ú như những hạt vừng đen rang chín kết thành đàn bò khắp người bà. Trên tường ruồi nhặng bám đầy bức tường loang loang lổ lổ trông như được khảm những mảnh men sứ màu đen. Anh ngáp dài, trong đầu bỗng lóe lên một ý nghĩ rất nhanh : Cần phải làm một cái gì đó? Đúng! Một âm cảnh mơ hồ thôi thúc anh. Ánh mắt anh cuối cùng cũng dừng lại ở chiếc cặp sách căng phồng. Chính trong cái buổi trưa không ngủ kéo dài cho đến buổi chiều ấy, anh đã viết được một đoạn nhật ký có lẽ là xuất sắc nhất trong cuộc đời mình, nhưng lúc ấy anh đâu có biết là mình đang làm gì. Sau đó nhiều năm, có người phát hiện ra nhật ký của anh. Sự phát hiện này kể ra cũng chẳng khác gì so với việc thằng bé lượm được miếng hổ phách trên bãi cát trắng.