Hoàng Đế Cuối Cùng

Lượt đọc: 11505 | 5 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG III - (4)
johnston

Lần đầu tiên tôi nhìn thấy người nước ngoài là trong buổi chiêu đãi các phu nhân công sứ nước ngoài lần cuối cùng của Long Dụ thái hậu. Nhìn thấy trang phục kỳ lạ của phụ nữ nước ngoài đặc biệt là đôi mắt xanh và tóc màu của họ, tôi cảm thấy họ vừa lạnh lẽo vừa đáng sợ. Khi đó tôi vẫn chưa nhìn thấy đàn ông nước ngoài. Đối với đàn ông nước ngoài, tôi có hiểu biết sơ sài qua hoạ báo: mép họ đều có râu chữ bát, ống quần có một đường thẳng tắp, cầm một chiếc gậy. Theo thái giám nói, râu người nước ngoài rất cứng, chòm râu có thể treo một chiếc đèn lồng. Chân người nước ngoài rất thẳng cho nên năm Mậu Tý, có vị đại thần đã bày mưu cho Tây thái hậu là khi đánh nhau với người nước ngoài, chỉ cầm gậy tre quật ngã họ là họ không bò dậy được. Còn như cây gậy trong tay người nước ngoài, thái giám gọi là “gậy văn minh” dùng để đánh người. Thầy Trần Bảo Thám của tôi đã từng đến Indonesia trông thấy người nước ngoài. Thầy đã nói với tôi những hiểu biết về nước ngoài, dần dần thay đổi ấn lượng thời thơ ấu của tôi và những lời đồn đại của thái giám. Tuy nhiên khi tôi nghe nói có một người nước ngoài đến làm thầy dạy tôi, một thiếu niên mười bốn tuổi như tôi vẫn có cảm giác hiếu kỳ và lo lắng.

            Ngày 4/3/1919, cha tôi và các thầy Trung Quốc của tôi “dẫn kiến” Reginald Johnston tiên sinh tại cung Dục Khánh. Trước hết, theo nghi thức tiếp kiến bề tôi nước ngoài, tôi ngồi trên ngai, ông cúi đầu vái tôi. Tôi đứng lên và bắt tay ông. Ông lại vái tôi một vái, lui ra ngoài cửa. Sau đó, ông tiến vào; tôi vái lại ông, đó là lễ bái thầy. Xong mọi nghi thức, có thầy Chu Ích Phan cùng ngồi, ông bắt đầu giảng bài cho tôi.

            Tôi thấy thầy Johnston năm đó trạc 40 tuổi, rõ ràng nhiều hơn tuổi cha tôi nhưng cử động rất nhanh nhẹn khéo léo. Lưng ông rất thẳng, thậm chí tôi ngờ rằng trong ấy có khung bằng sắt, tuy nhiên ông không có râu chữ bát và gậy văn minh. Chân ông cũng uốn cong được song vẫn gây cho tôi một cảm tưởng cứng đơ đơ thế nào ấy. Đặc biệt đôi mắt xanh lam và mái tóc vàng của ông khiến tôi không thoải mái.

            Khoảng một tháng sau khi ông tới, một hôm sau khi giảng một hồi sách, bỗng nhiên ông quay đầu lại, hầm hầm nhìn viên thái giám đứng ở góc tường, mặt đỏ bừng, dằn giọng nói với tôi:

            - Phủ nội vụ đối xử với tôi như thế thật rất không lịch sự. Tại sao các thầy Trung Quốc lên lớp không có thái giám, duy có tôi lên lớp phải có một thái giám đứng ở đó? Tôi không thích như thế... tôi sẽ nói với Từ Tổng thống vì Từ Tổng thống mời tôi tới.

            Ông chả cần phải đi tìm Tổng thống. Triều Thanh mời ông làm thầy dạy tôi, ít nhất nửa phần là vì dựa vào sự “bảo hộ” của ông do đó không dám có lỗi với ông ta... Ông ta vừa đỏ mặt, cha tôi và các vị đại thần lập tức phải nhượng hộ, đuổi thái giám đi.

            Tôi cũng thấy người nước ngoài này rất lợi hại, trước hết tôi phải theo ông học tiếng Anh một cách quy củ, không dám như với thầy Trung Quốc.

            Chỉ qua vài ba tháng, tôi đã phát hiện điểm giống nhau giữa vị thầy dạy tiếng Anh này và các thầy Trung Quốc ngày càng nhiều. Ông không những như các thầy Trung Quốc cung kính gọi tôi là hoàng thượng mà khi tôi học đã mệt cũng rời cuốn sách cùng tôi đi dạo, kể các câu chuyện xưa nay ở những miền xa lạ trong nước, ngoài nước.

            Ông già người Anh này là thạc sĩ văn học của trường đại học Oxford nước Anh, ông vào cung dạy học là do sự tiến cử của Lý Kinh Mại (con Lý Hồng Chương). Ông đã từng làm thư ký của Tổng đốc Hương Cảng. Theo ông nói, ông đến Châu Á đã gần 20 năm, đi khắp các tỉnh ở Trung Quốc. Ông thông hiểu lịch sử Trung Quốc, hiểu biết phong thổ, nhân tính các địa phương, có nghiên cứu về các đạo Nho, Mặc, Dịch, Lão đặc biệt rất tán thưởng thơ cổ Trung Quốc, tôi chỉ thấy ông giống như các thầy Trung Quốc, gật gù rung đùi đọc thơ Đường.

            Cũng như các thầy Trung Quốc, ông lấy làm vinh dự khi được tôi ban thưởng. Sau khi ông được ban thưởng đệ nhất phẩm, ông may một bộ triều phục nhà Thanh, mặc triều phục đứng trước biệt thự Anh Đào ở Tây Sơn, đứng dưới bức hoành “Lạc tĩnh Sơn trai” do tôi viết chữ chụp ảnh gửi tặng bạn bè ở khắp nơi.

            Johnston dùng câu chí kẻ sĩ ở đạo trong “Luận ngữ” đặt biệt hiệu mình là “chí đạo”. Ông rất thích thưởng thức trà Trung Quốc và hoa mẫu đơn, thường cùng các di lão đàm luận cổ kim. Sau khi về nước dưỡng lão, ông dành một căn nhà trưng bày những vật được tôi ban thưởng và bộ triều phục nhà Thanh. Trước ngực mình ông đính một quốc kỳ “Nước Mãn Châu” để bày tỏ sự trung thành đối với hoàng đế. Vì vậy tạo nên mối quan hệ gắn bó với thầy trò của chúng tôi trước hết vẫn là sự bền bỉ của ông. Ngày nay nhớ lại, sự đối xử của vị người Anh hay đỏ mặt đối với một người học trò như tôi quả thật là công việc không dễ dàng.

            Có lần, ông mang đến cho tôi một số hoạ báo nước ngoài về cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất với nhiều hình ảnh xe tăng, máy bay và đại bác của quân đội đồng minh, thấy tôi có vẻ thích thú, ông giảng giải cho tôi về tác dụng của xe tăng như thế nào, máy bay loại nào tốt nhất, quân đội đồng minh dũng cảm ra sao... Lại có  lần, cũng mang cho tôi một số kẹo nước ngoài.

            Tôi rất thích những chiếc hộp thiếc nhẹ, giấy gói màu bạc, và hương vị các loại trái cây của kẹo. Ông nói, mùi kẹo trái cây sản xuất bằng phương pháp hoá học, hình dáng đều đặn là do làm bằng máy. Tôi nghe không hiểu và cũng không muốn hiểu.

            Johnston hết lòng dạy dỗ tôi khiến tôi dần dần hiểu và cảm thấy hào hứng, nghe theo. Ông không những dạy tôi tiếng Anh mà càng chú ý dạy tôi phong cách cư xử của người Anh quý tộc. Năm 15 tuổi, quyết tâm bắt chước trang phục của ông, tôi gọi thái giám lên phố mua một bộ  quần áo Âu phục. Tôi mặc bộ quần áo quá rộng, thắt lưng ra ngoài vạt áo, khi bước vào cung Dục Khánh gọi ông xem, ông giận run người bảo tôi lập tức về thay ngay. Hôm sau, ông đưa vào cung một người thợ để may cho tôi những quần áo của quý tộc Anh. Sau đó ông nói: “Nếu mặc những bộ âu phục không vừa thì thà là mặc y phục vốn có là hơn. Nếu Hoàng thượng mặc những bộ quần áo tầm tầm thì không còn là quý tộc nữa, sẽ là…”. - ông không nói ra được.

            Ông nói: “Nếu hoàng thượng ở Luân Đôn sẽ thường được mời đi dự tiệc trà. Đây là những cuộc họp mặt tương đối thoải mái mà lại quan trọng. Ở đó, có thể gặp gỡ các nhà quý tộc, học giả, giới trí thức cũng như những người mà Hoàng thượng cần gặp.

            Quần áo không cần cầu kỳ nhưng lịch sự là điều hết sức quan trọng. Nếu uống cà phê như nước ngọt, ăn bánh điểm tâm như ăn cơm, hoặc khua dĩa leng keng thì hỏng. Ở nước Anh, điểm tâm, cà phê là refreshment, không phải là ăn cơm.

            Văn minh phương Tây, hình ảnh xe tăng, máy bay trong hoạ báo, kẹo kỹ nghệ hoá học, các buổi tiệc trà ở Luân Đôn đã gây ấn tượng sâu sắc trong tim tôi. Từ khi xem hoạ báo chiến tranh ở Châu Âu, tôi thích xem hoạ báo nước ngoài. Trước hết là tôi bị kích thích về những quảng cáo trên báo, lập tức ra lệnh cho Phủ nội vụ đặt mua từ nước ngoài những viên kim cương và chó tây. Theo các kiểu mẫu trên hoạ báo, tôi bảo Phủ nội vụ mua các đồ dùng trong nhà kiểu Tây. Bắt chước Johnston, tôi mua rất nhiều vật trang sức trên người, đồng hồ, nhẫn, kim cài, mang sét, cà vạt... Tôi yêu cầu ông đặt tên nước ngoài cho tôi. Tôi cũng đặt tên nước ngoài cho các em trai, em gái, hoàng hậu,quý phi của tôi. Tôi tên là Henry, Uyển Dung là Elizabeth... tôi bắt chước cách nói Trung Anh lẫn lộn, suốt ngày nói với các bạn học của tôi.

            - Arthur (tên Phổ Kiệt) today gọi Lily (em gái thứ ba của tôi) đến hear (nghe) quân nhạc nước ngoài!

            Khi nói dương dương đắc ý khiến thầy Trần Bảo Thám chau mày nhắm mắt, nghiến răng nghiến lợi.

            Tóm lại, sau này trong mắt tôi, mọi thứ của Johnston là tốt nhất. Thậm chí ngay mùi long não sức áo quần ông ta cũng thơm tho. Johllston khiến tôi tin rằng người Châu Âu là người văn minh nhất mà ông là người rất có học vấn trong những người Châu Âu. E rằng, ngay bản thân ông ta cũng không ngờ rằng ông có thể phát huy ảnh hưởng như thế đối với tôi. Len dạ ông đang mặc khiến tôi hoài nghi giá trị gấm đoạn dệt bằng tơ của Trung Quốc, chiếc bút máy cài trên túi ông khiến tôi cảm thấy xấu hổ về người Trung Quốc dùng bút lông, giấy bản. Từ lúc ông đưa đoàn quân nhạc của quân đội Anh vào cung diễn tấu khiến tôi cảm thấy không thích nghe nhạc dây Trung quốc, thậm chí ngay sự uy nghiêm của dàn nhạc cung đình cũng giảm đi. Chỉ vì Johnston chê cười cái đuôi sam của người Trung Quốc như cái đuôi lợn tôi mới cắt phăng nó đi.

            Bắt đầu từ năm thứ hai Dân quốc, Bộ Nội vụ Dân quốc đã mấy lần gửi công hàm cho Phủ Nội vụ yêu cầu Tử Cấm Thành khuyên người cùng cắt đuôi sam và mong Tử Cấm Thành cũng cắt đi, lời lẽ rất hoà nhã, căn bản không nhắc đuôi sam của tôi và các đại thần, Phủ nội vụ dùng nhiều lý do để biện bạch với Bộ Nội vụ, thậm chí đuôi sam có thể là vật để phân rõ người ra vào cung môn cũng thành một lý do. Việc này kéo dài mấy năm, trong Tử Cấm  Thành vẫn là thế giới đuôi sam như cũ. Qua tuyên truyền của Johnston, tôi cắt đuôi sam  trước. Tôi vừa cắt chỉ trong mấy ngày hàng nghìn đuôi sam biến mất, chỉ có ba thầy dạy Trung Quốc và mấy đại thần Phủ Nội vụ là giữ lại.

            Do tôi cắt đuôi sam, các thái phi mấy lần khóc lóc nét mặt các thầy cũng buồn bã nhiều ngày. Sau đó Phổ Kiệt và Dục Sùng cũng vin cớ “phụng chỉ” ở nhà cắt đuôi sam. Ngay hôm đó trước mấy cậu học trò đầu trọc, thầy Trần chỉnh cho một trận, cuối cùng cười nhạt nói với Dục Sùng: “Hãy mang đuôi sam của ngươi bán cho phụ nữ nước ngoài, ngươi cũng có thể được nhiều tiền đấy!”

            Không thích Johnston là những người ở Phủ nội vụ. Khi đó, chi tiêu của Phủ nội vụ vẫn hết sức lớn, mà kinh phí của điều kiện ưu đãi  quy định năm nào cũng thiếu. Để trù liệu kinh phí, mỗi năm Phủ nội vụ đều mang cầm hoặc  bán các loại đồ cổ, tranh vẽ, vàng bạc, đồ sứ... Qua miệng Johnston, tôi dần dần biết trong việc đó có sự mờ ám. Một lần, Phủ nội vụ muốn bán đi một cái tháp vàng cao bằng người, tôi nhớ lại lời Johnston: Phủ nội vụ đem bán những chế phẩm bằng vàng bạc, nếu bán theo sản phẩm nghệ thuật giá trị rất cao, song mỗi lần đều bán theo trọng lượng, thiệt rất lớn. Theo Johnston nói thì có kẻ ngu ngốc mới làm như vậy. Tôi gọi người của Phụ nội vụ tới, hỏi cách bán chiếc tháp vàng đó như thế nào, quả nhiên họ nói là bán theo trọng lượng. Tôi lập tức nổi giận lôi đình.

            - Đó chỉ có kẻ ngu ngốc mới làm như vậy! Các người không có người nào thông minh ư?

            Người của Phủ nội vụ cho rằng đó là Johnston tố cáo họ. Họ nghĩ ra một cách: đưa tháp vàng đến nhà Johnston nói rằng hoàng thượng nhờ bán giúp. Johnston lập tức thấy rõ trò này, cả giận nói: “Nếu như các người không mang đi, ta lập tức tâu Hoàng thượng!”. Kết quả, người Phủ nội vụ lặng lẽ mang chiếc tháp vàng đi. Họ không có cách nào với Johnston vì ông vừa là người bảo hộ của nhà Thanh, lại được tôi hết sức tin cậy.

            Năm cuối cùng ở cung Dục Khánh, Johnston đã trở thành một bộ phận quan trọng của linh hồn tôi. Những vấn đề ngoại khoá mà chúng tôi bàn luận ngày càng chiếm nhiều thời gian lên lớp, phạm vi bàn luận càng ngày càng rộng. Ông đã nói với tôi về đời sống của vương thất nước Anh, tình hình chính thể các nước, thực lực của các cường quốc sau đại chiến, phong cảnh các nơi trên thế giới, sản vật của đất nước “đại đế quốc mặt trời không bao giờ lặn”, tình hình cuộc nội chiến ở Trung Quốc, “Cuộc vận động bạch thoại” của Trung Quốc (ông gọi cuộc vận động văn hoá mới Ngũ Tứ như thế) và quan hệ với văn minh phương Tây. Ông còn nói đến khả năng của phục tích và thái độ không đáng tin cậy của bọn quân phiệt...

            Một lần ông nói: “Từ mỗi tờ báo đã có thể thấy rõ nhân dân Trung Quốc tưởng nhớ đại Thanh, mỗi người đều oán ghét cộng hoà. Tôi nghĩ, tạm thời không những cần quan tâm đến thái độ của đám quân nhân, cũng tạm thời không cần nói mục đích cuối cùng của việc họ ủng hộ phục tích và cứu vãn cộng hoà có gì khác nhau. Nói tóm lại, lời thầy Trần là đúng. Hoàng đế bệ hạ hoàn thiện thánh đức là điều quan  trọng và cấp thiết nhất. Song, hoàn thiện thánh đức không thể cứ ở trong Tử Cấm Thành. Tại Châu Âu đặc biệt là trên đất đai của Anh vương bệ hạ, tại trường đại học Oxford nơi thái tử Anh học tập, hoàng đế bệ hạ có thể đạt được những tri thức cần thiết, mở rộng tầm con mắt…”

            Trước khi tôi nghĩ đến việc lưu học ở nước Anh, ông đã mở ít nhiều “tầm con mắt” cho tôi. Qua sự giới thiệu của ông, Tư lệnh hải quân nước Anh, Tổng đốc Hương Cảng đã từng xuất hiện ở Tử Cấm Thành. Mỗi người đều lễ phép bày tỏ sự tôn kính đối với tôi, gọi tôi là Hoàng đế. Lòng say mê cuộc sống Châu Âu, sự bắt chước y hệt của tôi đối với Johnston cung chưa khiến cho ông thầy nước ngoài này hài lòng. Ví dụ như mặc quần áo, ông có sự kiến giải khác; hoặc là nói ông ta có hứng thú đặc biệt đối với tôi. Ngày tôi kết hôn, tôi có lộ mặt trong tiệc chiêu đãi khách nước ngoài chúc rượu. Sau khi về tới điện Dưỡng Tâm, cởi bộ long bào thay chiếc áo thụng bình thường bên trong mặc đồ lót Châu Âu, đầu đội mũ lưỡi trai, lúc đó Johnston đưa bạn bè của ông tới. Một bà phu nhân nước ngoài thấy chướng mắt, trước hết bà ta nhìn tôi từ đầu tới chân, hỏi Johnston:

            - Vị thiếu niên này là ai?

            Johnston nhìn tôi, cân nhắc một chút về trang phục trên người tôi lập tức đỏ mặt. Bộ dạng đó khiến tôi giật thót người, còn nét mặt người nước ngoài lộ rõ sự thất vọng lại khiến tôi chẳng hiểu ra sao. Sau khi những người nước ngoài ra về, Johnston vẫn chưa hết giận nói với tôi:

            - Thế này gọi là kiểu gì? Hoàng đế bệ hạ! Hoàng đế Trung Quốc đội mũ đi săn, trời ơi!

« Lùi
Tiến »