Trong bữa tiệc của Itagaki, tư tưởng của tôi rối bời và có mâu thuẫn. Tôi không biết nên vui mừng hay lo buồn về số phận của mình. Tối hôm đó, Itagaki gọi đến một đám đông kỹ nữ Nhật Bản, cho mỗi người dự tiệc có một cô dâng rượu mua vui. Bản thân hắn, tay nắm tay ôm, mất sạch vẻ nghiêm trang văn nhã, lúc nâng chén nốc rượu, lúc cười ha hả, hoàn toàn không che dấu tâm trạng đắc ý. Mới đầu, khi còn tỉnh táo hắn hết sức cung kính chúc rượu tôi với vẻ mặt tươi cười, chúc tôi “tiền đồ thuận lợi; đạt tới ý nguyện”. Lúc đó tôi cảm thấy hầu như có thể vui mừng một chút, về sau cùng với tửu lượng tăng lên, mặt hắn ngày càng tái xanh, tình hình liền thay đổi. Một kỹ nữ Nhật Bản nói tiếng Trung Quốc giọng the thé hỏi tôi một câu: “Ông có phải nhà buôn không?”. Itagaki nghe thấy bỗng cười lớn. Lúc đó tôi lại nghĩ, thực ra tôi chẳng có gì đáng vui mừng cả.
Tâm tư vui buồn lẫn lộn, tiền đồ mờ mịt, của tôi kéo dài cho đến khi Hồ Từ Viện, Trần Tăng Thọ quay về bên cạnh. Mấy ông già này được quân Quan Đông cho phép có thể trở về cạnh tôi đều rất vui mừng. Sự vui mừng này thật ra là do vua tôi lại họp mặt chứ không phải ham muốn quan tước bổng lộc. Một mặt họ tỏ ra buồn bực vì tôi hạ mình chấp chính, mặt khác họ kể với tôi về những chuyện lịch sử chứng minh các vua dựng cơ nghiệp ai cũng phải tạm lánh mình để tìm chỗ dựa cần thiết. Có những lời chỉ dẫn đó lại thêm Thương Diễn Doanh mang tới cuốn “Lão tổ giáng đàn huấn giới” tâm tư của tôi dần dần ổn định. Ngày 26 tháng 2, tôi ra lệnh cho những người hầu chuẩn bị hương án để tôi tế tổ tiên.
Một ngày cuối tháng hai, với sự đạo diễn của quân Quan Đông, cái gọi là “Hội nghị toàn Mãn Châu” thông qua nghị quyết, tuyên bố Đông Bắc độc lập, cử tôi ra làm “chấp chính nhà nước”. Kaeisumi và Trịnh Hiếu Tế nói với tôi: các “đại biểu” của hội nghị này sẽ đến Lữ Thuận xin ý kiến tôi, trước hết phải chuẩn bị lời đáp. Lời đáp cần chuẩn bị hai bản, bản thứ nhất tỏ ý cự tuyệt. Đợi các “đại biểu” tha thiết thỉnh cầu lần thứ hai, sẽ lập ra bản thứ hai tỏ ý tiếp nhận. Ngày mùng 1 tháng 3, Trương Yến Khanh, Tạ Giới Thạch và 7 người khác đến Lữ Thuận.
Trịnh Hiếu Tế thay mặt tôi tiếp, lấy ra lời đáp thứ nhất tỏ ý cự tuyệt. Sau đó tôi tiếp kiến. Hai bên nói một hồi, toàn là những lời được người khác căn dặn trước chẳng qua là một bên “khẩn thiết thỉnh cầu”, một bên “từ chối khéo”. Thời gian không quá hai mươi phút, hai bên rút lui. Ngày 5 tháng 3, theo kể hoạch của quân Quan Đông, số “đại biểu” lên tới 29 người, lần thứ hai đến “khẩn thiết thỉnh cầu”. Lần này các “đại biểu” hoàn thành nhiệm vụ. Đoạn cuối lời đáp của tôi như sau:
“Vì trọng trách đại nghĩa, há dám thản nhiên, cứ tĩnh toàn mãi, lại trái với nguyện vọng của quần chúng... cố gắng tạm giữ chấp chính một năm, sau một năm, thành lập hiến pháp, thể chế quốc gia ổn định, nếu chí hướng cùng hợp, sẽ lại xem xét...”.
Diễn xong màn kịch này, ngày hôm sau tôi và Uyển Dung cùng Trịnh Hiếu Tế và những người khác quay về Thang Cương Tử. Trương Cảnh Huệ, Triệu Hãn Bá cùng một số người đã đợi ở đấy từ lâu tỏ ý “đến mừng”. Chúng tôi nghỉ ở đó một đêm, hôm sau cùng đi Trường Xuân.
3 giờ chiều ngày mùng 8 tháng ba, xe lửa đến ga Trường Xuân. Xe chưa dừng bánh đã nghe thấy quân nhạc và tiếng hoan hô trên sân ga. Tôi được Trương Cảnh Huệ, Hy Hiệp, Cam Bách, Kaeisumi đỡ xuống sân ga, nhìn thấy khắp nơi là đội hiến binh Nhật bản và các đội ngũ sắc phục khác nhau. Trong các đội ngũ đó, có áo thụng áo chẽn, có âu phục và y phục Nhật Bản, người nào trong tay cũng có một lá cờ nhỏ, tôi không nén được xúc động, trong bụng nghĩ đến cảnh không diễn ra ở cảng Doanh Khẩu ngày nay cuối cùng đã diễn ra. Tôi đi qua trước các đội ngũ đó, bỗng nhiên Hy Hiệp chỉ cho tôi nhìn một đội cờ rồng vàng kẹp giữa những cờ mặt trời và nói: “Đây đều là người dân tộc, họ đợi Hoàng thượng đã hai mươi năm”, nghe câu nói đó, tôi không cầm được nước mắt, cũng cảm thấy tôi rất có hy vọng.
Ngồi trên xe ô tô, đầu óc tôi chỉ nhớ lại Tử Cấm Thành của tôi, nhớ lại tình hình năm tôi bị quân Quốc dân của Phùng Ngọc Tường đuổi khỏi kinh thành, cũng nghĩ đến “sự kiện Đông Lăng” và lời thề tôi đã thốt ra. Lòng tôi lại bị hận thù và dục vọng nung đốt, hoàn toàn không chú ý gì tới cảnh sắc đường phố Trường Xuân như thế nào. Nhân dân thành phố cùng một nỗi hận thù làm cho họ trầm lặng đã nhìn tôi bằng con mắt như thế nào. Thời gian không lâu, xe chạy vào một khu nhà cổ cũ: Đó là “Phủ chấp chính” của tôi.
Căn nhà này là nhà quan Đạo doãn trước đây tại Trường Xuân không phải là nơi rộng nhất mà đã cũ nát, nghe nói do thời gian cấp bách chỉ có thể tạm thời đến đây. Ngày hôm sau, trong một gian phòng lớn được sắp xếp vội vàng đã cử hành nghi lễ nhận chức của tôi. Các nhân vật quan trọng: Tổng giám đốc “sắt thép Mãn Châu” của Nhật Bản ở Đông bắc Uchida, Tư lệnh quân Quan Đông Honjo Shigeru, Tham mưu trưởng quân Quan Đông Santaku Hikariji, tham mưu Kaeisumi... đều tới. Các cựu thần tham gia nghi lễ, ngoài những Trịnh, La, Hồ, Trần... còn có Quý Phúc, vương công Mông Cổ và con ông là Lăng Thăng; vương công Mông Cổ Tề Mặc Đắc v.v... Ngoài ra, còn có các nhân vật Phụng Thiên cũ: Trương Cảnh Phúc, Tang Thức Nghị, Hy Hiệp, Trương Hải Bằng, Lâm Đình Thám, luật sư tại Thiên Tân đã từng giúp tôi trong vụ án ly hôn, Kim Trác, người đã từng làm tham mưu cho Trương Tôn Xương khi đó cũng đến làm võ quan tuỳ tùng cho tôi.
Hôm đó tôi mặc âu phục đại lễ, cử hành lễ vái. Dưới sự chứng kiến của các nhân vật Nhật Bản quan trọng, các “nguyên luân” vái tới ba vái, tôi đáp lễ một vái. Tang Thức Nghị và Trương Cảnh Huệ thay mặt “dân chúng Mãn Châu” dâng “ấn chấp chính” bọc trong lụa vàng. Trịnh Hiếu Tế thay tôi đọc tuyên ngôn chấp chính”. Tuyên ngôn viết:
“Nhân loại vốn trọng đạo đức, do có phân biệt chủng tộc, áp bức người, đề cao mình, mà đạo đức suy đồi. Nhân loại vốn trọng nhân ái, do có giành giật quốc tế, hại người lợi mình mà nhân ái suy đồi. Nay ta lập nước, lấy đạo đức nhân ái làm chính, gạt bỏ phân biệt chủng tộc, giành giật quốc tế, vương đạo thực hành khắp đất nước có thể thấy sự thật... Phàm là người dân nước mong hãy cố gắng sức.”
Nghi lễ xong, khi tiếp kiến khách nước ngoài, Uchida đọc “lời chúc mừng”. La Chấn Ngọc thay tôi đọc “lời đáp”. Sau đó ra vườn kéo cờ chụp ảnh, cuối cùng cử hành tiệc chúc mừng.
Chiều hôm đó, tại “văn phòng chấp chính” Trịnh Hiếu Tế trình một “việc công”: “... Quan tư lệnh Honjo Shigeru đã cử thần ra nhận nhiệm vụ thủ tướng quốc vụ, tổ chức nội các”. Ông ta khom mình, giọng mềm mỏng: “Đây là bản đặc nhiệm và danh sách các bộ trưởng xin ký ngự danh”.
Đây vốn là việc người Nhật Bản Amakasu đã nói vời tôi ở Lữ Thuận. Tôi lặng lẽ cầm bút làm một việc công đầu tiên sau khi nhận chức.
Tôi ra khỏi văn phòng gặp Hồ Từ Viện và Trần Tăng Thọ. Nét mặt hai ông già đều buồn rầu vì biết rằng trong danh sách các quan đặc nhiệm hoàn toàn không có tên họ. Tôi nói với họ: Tôi muốn họ ở bên tôi, để Hồ Từ Viện làm chánh văn phòng của tôi. Trần Tăng Thọ làm thư ký. Hồ Từ Viện thở dài tạ ơn. Trần Tăng Thọ nói nhà ông ta ở Thiên Tân có việc, xin tôi cho phép được trở về.
Ngày hôm sau, La Chấn Ngọc tới, chức quan mà ông ta được phong là một vị “tham nghị”. Ông ta đến để “từ chức quan không vui lòng ấy”. Tôi tỏ ý giữ lại, ông ta nói: “Hoàng thượng buộc phải chấp chính. Đáng lẽ vua nhục, bề tôi phải chết, thần muôn vàn không thể nhận chức tham nghị”. Sau đó ông ta nhận một nhiệm kỳ “Viện trưởng Viện giám sát” rồi quay về Đại Liên tiếp tục bán đồ cổ giả của ông ta cho tới khi chết.
Tuy nhiên tư tưởng của tôi lại khác họ. Cờ rồng và quân nhạc ở ga Trường Xuân, nghi thức lễ nhận chức cũng như những lời chúc tụng khi tiếp khách nước ngoài đã để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc. Khiến tôi không nén được có chút hưng phấn. Mặt khác, tôi đã công khai lộ mặt, lên đài, không còn đường rút. Dù cho Itagaki hôm nay nói với tôi: ngài không làm thì tuỳ ngài, tôi cũng không thể đảo ngược được. Đã như thế, tôi chỉ còn “khuất thân phục tùng” đến cùng. Lại nói, nếu như ứng phó được với người Nhật cũng có thể họ ủng hộ tôi khôi phục tôn hiệu hoàng đế. Hiện nay tôi đã là nguyên thủ một nước, sau này có vốn liếng, càng có thể thương lượng với người Nhật. Do tôi chỉ nghĩ về phía hài lòng do đó không những không còn cảm thấy làm “chấp chính” là việc chịu khuất phục mà còn coi việc “chấp chính” thành bậc thang để tới “ngai vàng hoàng đế”.
Tôi tự an ủi như thế và bị tư tưởng chứa chan ảo tưởng chi phối, làm sao lợi dụng “cái thang” đó, bước lên, “ngai vàng” một cách thuận lợi đã trở thành vấn đề trung tâm mà tôi suy tính. Sau mấy ngày suy nghĩ, một buổi tối, tôi nói với Trần Tăng Thọ và Hồ Từ Viện kết quả sự suy tính của tôi.
- Hiện nay, tôi có ba điều thề nguyền nói với các ông: thứ nhất tôi sẽ sửa đổi một số khuyết điểm trước đây, hơn 10 năm trước Trần Bảo Thám đã nói tôi lười biếng khinh bạc, tôi thề từ nay không bao giờ tái phạm. Thứ hai, tôi sẽ chịu đựng mọi gian khổ, hết lòng gắng sức thề khôi phục sự nghiệp của tổ tiên, dù khó khăn gian khổ cũng không nản chí, chưa đạt được mục đích chưa thôi. Ba là: cầu trời cho một hoàng tử để thừa kế cơ nghiệp đại Thanh. Thực hiện được ba điều này, tôi chết cũng nhắm mắt.
Khoảng một tháng sau khi tiến hành nghi lễ, “Phủ chấp chính” chuyển đến nơi mới được sửa chữa, vốn là nhà của Cục Vận tải Cát Lâm - Hắc Long Giang trước kia.