Hoàng Đế Cuối Cùng

Lượt đọc: 11606 | 5 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG VI - (2)
tôn nghiêm và chức quyền

Trong “Luật tổ chức nước Mãn Châu, chương thứ nhất “chấp chính” có 13 điều, điều này cũng quy định uy quyền của tôi. Điều thứ nhất là “chấp chính thống trị nước Mãn Châu”, điều thứ hai đến điều thứ tư quy định do tôi “điều khiển quyền lập pháp”, “chấp hành quyền hành chính”, “chấp hành quyền tư pháp”, các điều dưới đó quy định do tôi “công bố những huấn lệnh khẩn cấp có hiệu lực cùng với pháp luật” , “định ra quan chế, bổ nhiệm quan lại”, “thống soái hải, lục, không quân”, cũng như nắm quyền “đặc xá, đại xá, giảm hình phạt và khôi phục quyền công dân”. v.v...

            Trên thực tế ngay quyền tôi tự quyết định đi ra khỏi cửa cũng không có.

            Một hôm, tôi bỗng nhiên muốn đi ra bên ngoài dạo chơi cùng Uyển Dung và hai em gái đến “công viên Đại Đồng” tên đặt theo niên hiệu của tôi. Không ngờ vào công viên không lâu xe ô tô của đội hiến binh Nhật Bản và “Phòng cảnh bị Phủ chấp chính” liền đuổi tới mời tôi quay về. Thì ra, họ phát hiện không thấy tôi trong Phủ chấp chính liền báo cáo với Bộ tư lệnh hiến binh Nhật Bản. Bộ tư lệnh hiến binh liền huy động rất nhiều quân cảnh đi tìm ở khắp nơi, làm chấn động cả thành phố. Sau việc này viên cố vấn Phủ chấp chính Kaeisumi nói với tôi: vì an toàn và tôn nghiêm của tôi, từ nay về sau tôi không nên tự mình đi ra ngoài. Từ đó, ngoài sự sắp đặt của quân Quan Đông, tôi không ra ngoài lần nào.

            Khi tôi được khuyên quay về nghe người Nhật Bản giải thích: đây đều là vì sự an toàn và tôn nghiêm của tôi, tôi cảm thấy cũng có lý. Song phải đến sau một số ngày làm việc ở lầu Cần Dân tôi mới nghi ngờ về sự an toàn và tôn nghiêm đối với bản thân mình.

            Từ sau khi đưa ra lời thề nguyền, mỗi buổi sáng tôi đến lầu Cần Dân làm việc đúng giờ. Nhìn bề ngoài, tôi thật bận rộn, từ sáng đến tối luôn có người xin gặp. Trong những người xin gặp ngoài số ít bề tôi cũ hoặc người họ tôn thất Giác La đến thăm hỏi, đa số là các nhân vật chức sắc đương nhiệm như bộ trưởng các bộ tham nghị cấp đặc nhiệm... Những người đó gặp tôi đều bày tỏ lòng trung thành, hiến dâng cống vật, song không bàn việc công với tôi. Mỗi lần tôi hỏi về “việc công” họ nếu không trả lời “thứ trưởng đang làm” thì là “việc này còn phải hỏi thứ trưởng”. Thứ trưởng là người Nhật Bản, họ không tìm đến tôi.

            Hồ Từ Viện mới đầu tỏ ý căm tức. Ông ta nêu ra với Trịnh Hiếu Tế: chủ quyền các bộ phải trong tay Bộ trưởng. Việc quan trọng cần do chấp chính đưa ra quyết định trước, sau đó các bộ mới làm. Không thể thứ trưởng nói thế nào là thế nấy, Trịnh Hiếu Tế trả lời: “Chúng ta thực hành chế độ nội các trách nhiệm, công việc hành chính cần do “Hội nghị quốc vụ” quyết định. Nội các trách nhiệm chịu trách nhiệm chấp chính; nội các trách nhiệm mỗi tuần do thủ tướng báo cáo một lần những vấn kiện mà hội nghị thông qua, xin chấp chính quyết định. Ở Nhật Bản là như thế, “còn như vấn đề bộ trưởng cần có chủ quyền, ông ta cùng đồng cảm, ông ta nói: việc này đang chuẩn bị nêu ra với Bộ Tư lệnh quân Quan Đông để giải quyết. Thì ra quan hệ giữa ông thủ tướng này với chánh văn phòng thủ tướng cũng đang có vấn đề.

            Tôi không biết Trịnh Hiếu Tế sau đó nói như thế nào với quân Quan Đông. Song sau đó Hồ Từ Viện nói với tôi về tình hình một lần hội nghị quốc vụ khiến tôi hiểu rõ cái gọi là “chế độ nội các trách nhiệm” là cái gì và quan hệ Bộ trưởng và Thứ trưởng là thế nào.

            Đây là một hội nghị quốc vụ bàn vấn đề tiêu chuẩn tiền lương của các quan lại. Cũng như trước, nghị án do Văn phòng thủ tướng chuẩn bị trước, in gửi Bộ trưởng các bộ. Đối với mấy nghị án trước như tiếp quản tài sản của Chính phủ Đông Bắc trước, cung cấp lương thực cho quân đội Nhật Bản, tịch thu bốn ngân hàng lớn ở Đông Bắc để thành lập ngân hàng trung ương .v.v. đều không tốn chút công sức nào để tán thành. Tuy nhiên, nghị án lần này quan hệ trực tiếp đến quyền lợi của bản thân mình do đó không lơ mơ được. Các bộ trưởng nghiên cứu kỹ nghị án, lập tức thảo luận sôi nổi, tỏ ý bất mãn. Nguyên do là bản thân dự thảo pháp lệnh quy định tiền lương “quan lại Nhật Bản” và “hệ Mãn Châu” khác nhau. Người Nhật cao hơn người Mãn khoảng 40%. Bộ trưởng Tài chính Hy Hiệp không nhịn được, phát biểu ý kiến đầu tiên nói “nghị án này thật không ra sao cả”. Chúng ta đã làm nhà nước phức hợp dân tộc, các dân tộc nhất loạt bình đẳng, tại sao người Nhật Bản đòi được đãi ngộ đặc biệt. Nếu như nói là quốc dân  nhà nước thân thiện thì nên tỏ ý thân thiện, tại sao lại đặc biệt nhận lương cao? Bộ trưởng thương nghiệp Trương Hy Khanh cùng nói: Nhật Mãn thân thiện, đồng tâm đồng đức, có phúc cùng hưởng, có khó khăn cùng gánh vác. Nếu như đãi ngộ khác nhau, e rằng không phải ý kiến của quân tư lệnh Honjo.

            Các bộ trưởng khác như Bộ Trưởng Giao thông Định Kiều Tu và những người khác cùng tới tấp bày tỏ hy vọng tôn trọng lẫn nhau không bên trọng bên khinh. Chánh văn phòng tổng vụ không cho các bộ trưởng phát biểu nữa, yêu cầu người dự thảo là Komai Tokuzo, giải thích. Tokuzo bình tĩnh đưa ra một lô đạo lý đại thể là: muốn bình đẳng trước hết phải xem năng lực có bình đẳng hay không? Năng lực người Nhật lớn đương nhiên tiền lương phải cao, mà mức sống của người Nhật cao, sinh ra ăn gạo trắng, không như người “Mãn” ăn cao lương cũng sống được. Hắn còn nói: muốn nói thân thiện, yêu cầu người Nhật nhận lương nhiều hơn, đó chính là nói thân thiện!”. Nghe xong, các bộ trưởng đều tỏ ý bất mãn, chánh văn phòng Tổng vụ không thể không tuyên bố nghỉ họp, đổi sang hôm sau lại bàn.

            Ngay hôm sau khi họp lại, Komai Tokuzo nói với mọi người: “hắn cùng các thứ trưởng đã nghiên cứu, quân Quan Đông cũng đồng ý, đưa tiền lương các bộ trưởng nhất loạt bằng tiêu chuẩn các thứ trưởng” tuy nhiên hắn bổ sung “các quan chức Nhật Bản xa quê hương đến Mãn Châu giúp nhân dân xây dựng đất nước vương đạo, điều đó nên cảm kích vì vậy cần cấp cho người Nhật tiền phụ cấp đặc biệt. Đây là quyết định cuối cùng, không nên tranh cãi nữa”. Nhiều bộ trưởng nghe câu nói đó biết rằng có tranh cãi nữa cũng chẳng được, điều tốt là đã được tăng thêm tiền do đó không lên tiếng nữa.

            Tuy nhiên, Hy Hiệp tự cho rằng mình có chút quan hệ - với Honjo Shigeru, coi thường Tokuzo nên khi đó lại nói mấy câu: “Tôi không phải tranh chấp mấy đồng tiền, song tôi muốn hỏi: Người Nhật giúp xây dựng đất nước Vương đạo ở đâu? Không phải là ở Mãn Châu ư? Không có người Mãn Châu, làm sao xây dựng được?”.

            Nghe xong Komai Tokuzo cả giận, đập bàn quát: “Ông có biết lịch sử Mãn Châu không? Mãn Châu là do người Nhật đổ máu đổi lấy giành lại từ tay người Nga, ông có hiểu không?”. Hy Hiệp tái mặt hỏi: “Ông không cho nói phải không? Quan tư lệnh Honjo Shigeru cũng chưa từng quát tháo với tôi!”. Komai Tokuzo vẫn quát lớn: “Tôi muốn bảo ông rõ: đây là quyết định của tư lệnh quân đội!”. Câu nói này rất có hiệu quả, Hy Hiệp quả nhiên không nói nữa, cả hội nghị im lặng.

            Sau khi xảy ra sự kiện này, cái gọi là “Chế độ nội các” và “hội nghị quốc vụ” không còn che dấu được ai nữa.

            “Thủ tướng thật sự của Quốc vụ viện không phải là Trịnh Hiếu Tế mà là Chánh văn phòng Tổng vụ Komai Tokuzo. Thực ra, người Nhật cũng không thể dấu sự thật này: Khi đó, tạp chí “Cải tạo” của Nhật Bản ngang nhiên gọi hẳn là “Thủ tướng quốc vụ viện Mãn Châu” và “Tổng lý đại thần nội các nhà nước mới”.

            Tôi và Trịnh Hiếu Tế là chấp chính và thủ tướng trên danh nghĩa, các bộ trưởng là bộ trưởng trên danh nghĩa, cái gọi là hội nghị quốc vụ đều là thứ mà “hội nghị thứ trưởng” đã quyết định, đó mới là hội nghị quốc vụ thật sự. Đương nhiên, đó chỉ là hội nghị chịu trách nhiệm đối với “thái thượng hoàng” quan tư lệnh quân Quan Đông. Mỗi lần hội nghị đều có quân Quan Đông tham gia, nhiều nghị án đều vạch ra theo căn cứ yêu cầu của quân Quan Đông.

            Tình hình sau này không còn là điều bí mật đối với ai nữa. Lẽ ra, tôi cũng cần tỉnh ngộ nhận ra song tôi lại không phải là người như thế. Bên cạnh tôi có Hồ Từ Viện hay nói, do ông ta ngày thường nhắc nhở, tôi cũng không bao giờ quên thân phận duy ngã độc tôn của mình, càng không thể quên từ khi còn ở Trương Viên đã xác lập một loại tư tưởng, tức là “nếu không thực sự lập tôi làm hoàng thượng, Nhật Bản sẽ khó làm ăn”. Thái độ bề ngoài của người Nhật Bản đối với tôi cũng thường xuyên gây cho tôi cảm giác đó khiến tôi thường coi đó là thật, cho rằng hoàn cảnh của tôi khác với Hy Hiệp, người Nhật Bản không tôn trọng tôi không xong. Ví dụ trong vấn đề lập “Hội hiệp hoà” tôi đã nghĩ như thế.

            Sau khi tôi nhận chức hơn một tháng, một. hôm Trịnh Hiếu Tế báo cáo một số việc, đề cập đến việc quân Quan Đông muốn thành lập một chính đảng, gọi là “Đảng hiệp hoà”. Nhiệm vụ của đảng này là “tổ chức dân chúng hợp sức xây dựng đất nước, bồi dưỡng tinh thần, tôn trọng lễ giáo, vâng nghe mệnh trời”. Mỗi lần nghe thấy có người nhắc đến “đảng” tôi luôn có cảm giác sợ như cọp vì vậy nghe Trịnh Hiến Tế báo cáo càng căng thẳng hơn nghe tin Komai Tokuzo đập bàn, vội vã ngắt lời ông ta, xua tay phản đối nói: “Muốn đảng gì? Tân Hợi mất nước chẳng phải do đảng gây rối đó sao?”. Trịnh Hiếu Tế xịu mặt nói: “Lời hoàng thượng rất đúng song đây là do Bộ tư lệnh quân đội quyết định”. Ông ta cho rằng câu nói đó có thể chặn họng tôi. Không ngờ đến lần này, tôi coi việc đó thành vấn đề quan hệ đến sinh mạng của tôi, nói thế nào tôi cũng không đồng ý. Với việc ông ta luôn mồm nói: “Bộ tư lệnh quân đội quyết định” từ lâu tôi đã ngán, không muốn lại nghe nữa nên bực tức nói: “Ông không đi nói với người Nhật thì để ta gọi họ đến!”.

            Trịnh Hiếu Tế đi rồi, tôi nói với Hồ Từ Viện việc này. Vị chánh văn phòng này ca ngợi cách làm này của tôi và nói:

            - Thần nhận thấy không thể như Trịnh Hiếu Tế nói, mọi việc đều do Bộ tư lệnh quân đội quyết định. La Chấn Ngọc đã từng nói: Trịnh Hiếu Tế dựa vào Bộ tư lệnh quân đội, tuỳ tiện phạm thượng. Nếu hoàng thương theo lý đấu tranh với Bộ tư lệnh quân đội họ vị tất đã dám lộng hành. Huống chi đảng không có lợi cho ta, càng không có lợi cho Nhật Bản, phía quân đội Nhật Bản sao lại không rõ lý lẽ này.

            Nghe ông ta nói có lý, lại càng có ý riêng. Hai ngày sau, Katagura tham mưu quân Quan Đông trợ lý của tham mưu trưởng Hashimoto Toramojo liên tiếp với gặp tôi giải thích đều không thuyết phục được tôi. Sự việc bị gác lại.

            Ba tháng sau tức tháng 7 năm đó, tôi tin rằng mình đã thắng lợi. Quân Quan Đông quyết định không thành lập “Đảng Hiệp hoà” chỉ thành lập một “Hội Hiệp hoà” làm tổ chức “vây cánh” của chính phủ. Hội này cụ thể là: phàm đàn ông đủ 20 tuổi đều là hội viên, phụ nữ đều là hội viên “Hội phụ nữ”, thanh niên 15 đến 20 tuổi là đoàn viên “đoàn thanh niên”, thiếu niên 10 đến 15 tuổi là đoàn viên “đoàn thiếu niên”. Sự thực là quân Quan Đông đổi “Đảng” thành “Hội” cũng không phải có sự nhượng bộ đối với tôi mà là cho rằng tổ chức một chính đảng đầu Ngô mình Sở như vậy càng dễ thống trị nhân dân Đông Bắc, qua tổ chức lùa mọi nhân khẩu như vậy càng tiện việc tuyên truyền nô dịch hoá, đặc vụ theo dõi và nô dịch nhân dân.

            Tôi không nhận thấy sự thật đó, chỉ cảm thấy người Nhật rút cục phải nghe tôi. Có sự cảm nhận sai lầm như vậy, tôi khó tránh lại va đầu vào đá. Đó là việc sau khi thiết lập “Một nước Nhật Mãn”.

« Lùi
Tiến »