Hoàng Đế Cuối Cùng

Lượt đọc: 11609 | 5 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG VI - (3)
sau khi lập mật ước

Khi ở Lữ Thuận, Trịnh Hiếu Tế đã cùng Honjo Shigeru thoả thuận điều kiện sau khi tôi xuất nhiệm chấp chính và ông ta giữ chức thủ tướng quốc vụ viện. Sự việc này mãi đến trước ngày Honjo Shigeru thôi chức, Trịnh Hiếu Tế mới đến lầu Cần Dân đưa ra một đống văn kiện nói với tôi :

            - Đây là thần cùng quan tư lệnh Honjo soạn một hiệp định, xin bề trên duyệt.

            Xem hiệp định đó, tôi nổi nóng:

            - Ai bảo ngươi ký?

            - Đây là những điều kiện mà Itagaki đã nói rõ ở Lữ Thuận - ông ta lạnh lùng trả lời. -  Itagaki cũng đã nói với bề trên.

            - Itagaki nói với ai? Ta chưa nghe ông ta nói, ngươi ký tên trước cũng phải nói với ta chứ!

            - Đây cũng là Itagaki dặn dò, e rằng Hồ Từ Viện cùng những người khác không hiểu đại cục, sớm dựa vào đó gây rắc rối.

            - Rút cục ai là người làm chủ? là ngươi hay là ta?

            - Thần đâu dám, những hiệp định này thực ra là kế ứng phó, hoàng thượng muốn tìm chỗ dựa, sao lại không coi đó là điều kiện. Vốn ra những điều ước này cũng đã thành sự thực, sau này có thể ký những điều ước khác, qui định mấy năm sẽ thu hồi quyền lợi ích.

            Thật ra, ông ta nói cũng không sai. Những quyền lợi mà Nhật Bản đòi hỏi trong Hiệp định vốn ra đã là những thứ mà họ đã nắm trong tay. Hiệp định này có 12 điều khoản, còn có những hiệp định phụ, chủ yếu nội dung là toàn bộ “quốc phòng, trị an” của nước Mãn Châu giao phó cho Nhật Bản. Nhật Bản quản lý đường sắt, bờ biển và hải cảng, đường thuỷ, đường không của nước “Mãn Châu” và có thể sửa chữa và xây dựng thêm các loại vật tư, thiết bị mà quân đội Nhật Bản cần do “nước Mãn Châu” phụ trách cưng ứng. Nhật Bản có quyền khai mỏ, tài nguyên, người Nhật Bản được làm quan lại “nước Mãn Châu” v.v.. Cuối cùng bản hiệp định quy định nó sẽ là cơ sở của hiệp ước chính thức giữa hai nước sau này. Lý lẽ mà Trịnh Hiếu Tế nói cũng đúng, đã muốn dựa tại sao lại không phải trả giá. Song mặc dù sự việc đã rõ ràng như thế, tôi vẫn không thể không cảm thấy bực bội. Tôi bực là vì Trịnh Hiếu Tế lộng hành, dám tự ý mang “giang sơn” của tôi, đi trao đổi với Nhật Bản. Tôi cũng căm người Nhật lừa đảo quá mức, chưa cho tôi cái “ngai vàng hoàng đế” trái lại đã đổi bao nhiêu thứ như vậy.

            Tôi bực tức mà lại không biết làm thế nào, truy nhận sự thực đã rồi. Trịnh Hiếu Tế cầm bản “mật ước” mà tôi đã ký đi rồi. Hồ Từ Viện theo lệ liền đi tới. Tôi mang chuyện đó nói với ông ta, ông ta lập tức công phẫn nói:

            - Trịnh Hiếu Tế thật chẳng còn ra gì! Từ lâu Trần Bảo Thám đã nói: ông ta quen cái khảng khái của người khác. Nay ông ta dám lộng hành đến như thế.

            - Hiện nay ván đã đóng thuyền! - tôi nói một cách chán nản.

            - Cũng có thể chưa hoàn toàn như thế, để xem tin tức phía Tokyo.

            Trước đó nhiều ngày, chúng tôi đã biết quan tướng quân Quan Đông sẽ đổi người và Nhật Bản sẽ thừa nhận “nước Mãn Châu”. Hồ  Từ Viện rất coi trọng tin tức này. Theo quan điểm của ông ta, Nhật Bản thay đổi quan tư lệnh quân Quan Đông rất có thể thay đổi một chút thái độ, cần nhân dịp này cử người sang hoạt động ở Nhật Bản. Ông ta nói: Không nhường người Nhật là không xong như mỏ, đường sắt, tài nguyên cũng như quốc phòng đều có thể để người Nhật kinh doanh và quản lý, song về mặt quan chế, quyền nhiệm miễn phải là ta. Tôi tiếp thu ý kiến của ông ta đồng thời theo đề cử của ông ta tôi cử Lâm Đình Thám đã từng làm luật sư và Thái Pháp Bình người Đài Loan đến Tokyo tìm Hứa Bình, bạn của ông ta là người Đài Loan, thông qua Hứa Bình tìm nhân vật cấp cao trong quân đội để hoạt động.

            Tại Tokyo, Lâm Đình Thám và Thái Pháp Bình gặp được tổng tham mưu trưởng lục quân Jinsaburo Mazaki và Kashii, nguyên tư lệnh quân đội Nhật đóng ở Thiên Tân và cả Muto Nobuyoshi, người sắp kế nhiệm quan tư lệnh quân Quan Đông, nêu với họ gia cầu cụ thể của tôi:

            1. Chính phủ chấp chính căn cứ luật tổ chức điều hành chính quyền.

            2. Cải tổ quốc vụ viện do chấp chính đề cử danh sách.

            3. Cải tổ quan chế các bộ, chủ quyền quy về các bộ trưởng, bãi bỏ chế độ chánh văn phòng nội các.

            4. Huấn luyện tân binh, mở rộng quân đội.

            5. Viện lập pháp triệu tập hội nghị đúng kỳ hạn, quyết định quốc thể.

            Những điều này do Hồ Từ Viện thảo ra cho tôi. Theo ý tứ của ông ta, cũng không hy vọng Nhật Bản tiếp thu toàn bộ. Tuy nhiên, vẫn phải nêu nhiều điều kiện một chút để chuẩn bị mà cả với đối phương.

            Hai ngày sau, Hồ Từ Viện vui mừng phấn chấn nói với tôi: có tin tức tốt từ Tokyo. Qua thư của các ông Lâm, Thái trong phái nguyên lão và quân đội ở Tokyo có một số người đồng tình với tôi, không hài lòng về thái độ của Honjo Shigeru đối với tôi, tỏ ý sẵn sàng ủng hộ các yêu cầu của tôi. Hồ Từ Viện nói: từ đó xem ra, sau khi quan tư lệnh mới đến, tình hình có thể thay đổi, tôi sẽ có thể điều hành chức quyền của mình theo quy định, cai trị nhà nước của mình. Song, muốn cai trị tốt nếu không có thủ tướng biết vâng lời thì không thể làm được. Tôi nghe ông ta nói có lý, liền quyết định thay thế Trịnh Hiếu Tế. Tôi và ông ta nghiên cứu cảm thấy Tang Thức Nghị tương đối thích hợp, nếu cử ông ta làm thủ tướng, nhất định ông ta sẽ cảm ơn, báo đức, nghe tôi chỉ huy. Thương lượng xong, tôi ra lệnh Hồ Từ Viện cùng Hứa Bảo Hoành đi tìm Tang Thức Nghị.

            Thái độ của Tang Thức Nghị còn do dự, thì Trịnh Thùy con Trịnh Hiếu Tế đến.

            - Nghe tin hoàng thượng cử người đi Tokyo tìm Muto Nobuyoshi. - Hắn đứng trước mặt tôi nói một câu bâng quơ như thế. Nói xong, hắn nhìn tôi chờ phản ứng của tôi. Chẳng nói, hắn cũng thấy tôi không muốn thừa nhận sự việc đó nên hắn lại nói tiếp: - Tokyo đã truyền lan việc này, nói bề trên định cải tổ quốc vụ viện. Thần nghe thấy, không thể không trình với bề trên. Song mong đó là tin đồn.

            - Sao lại mong đó là tin đồn?

            - Mong là như vậy. Dự định này là không thể thực hiện được, dù cho có thực hiện được, tất cả do người Mãn làm chủ, các bộ trưởng cũng không thể điều hành dược. Dù là Tang Thức Nghị hay là ai cũng không được?

            - Ngươi muốn nói là như thế phải không?

            - Thần nói là thực tình…

            - Nói xong ngươi đi đi!

            - Vâng.

            Trịnh Thùy đi rồi, một mình tôi bực bội trong văn phòng, một lát, Hồ Tự Viện biết, lại vểnh râu lên.

            - Cha con họ Trịnh, thật là cha nào con ấy. Trịnh Thùy càng thật đáng giận. Trước đây Hy Hiệp gửi tới các đồ dùng trong nhà bằng gỗ đỏ. Hắn khuyên bề trên tiết kiệm, chỉ là sự ghen ghét, sợ Hy Hiệp được lòng bề trên. Lần này hắn lại đề phòng Tang Thức Nghị tới.

            - Thật không phải là người! - Tôi càng nghe càng giận, quyết tâm lại càng lớn, liền hỏi Hồ Từ Viện: - Đã nói với phía Tang Thức Nghị chưa?

            - Ông ta không muốn.

            Trịnh Hiếu Tế biết Tang Thức Nghị không dám, có căn cứ để không sợ ngang nhiên dùng biện pháp năm xưa, Dịch Khuông đối với cha tôi để đối với tôi, lấy lùi để tiến, cáo ốm xin tôi cho nghỉ. Tuy nhiên ông ta không ngờ rằng có tin tốt ở Tokyo tôi cũng có căn cứ để không sợ. Thấy ông ta xin nghỉ, tôi cũng coi là cơ hội nói thẳng:

            - Ông cũng đến lúc dưỡng lão rồi, ta không ép, ông hãy cử một người.

            Cái đầu hói của ông ta không bóng nữa.

            - Ý thần là xin nghỉ mấy ngày.

            - Thế cũng được.

            Trịnh Hiếu Tế vừa đi, tôi lập tức lệnh Hồ Từ Viện đi tìm Tang Thức Nghị để ông ta trước hết hãy làm quyền thủ tướng, sau đó sẽ tìm cơ hội để loại bỏ Trịnh Hiếu Tế. Song qua 5 ngày, không đợi Tang Thức Nghị bày tỏ thái độ, Trịnh Hiếu Tế trở lại phòng làm việc.

            Hồ Từ Viện biết Trịnh Hiếu Tế đã quay về Quốc vụ viện, thở dài nói với tôi: “Ông ta dùng “Hiệp ước bí mật” đổi lấy chức ấn thủ tướng. Tự nhiên không thể buông ra”, lời có vẻ cay đắng.

            Tôi cũng có chỗ cay đắng, điều đó đương nhiên không phải vì chiếc ấn thủ tướng mà là uy quyền chấp chính của tôi dù với ai cũng không thi hành được. Lần thất bại này cho tôi bài học rất quan trọng. Đó là do câu nói cay đắng của Hồ Từ Viện gợi ra.

            “Trịnh Hiếu Tế dùng Hiệp ước bí mật đổi lấy ấn lớn thủ tướng, hiệp ước bí mật trở thành tiền vốn của ông ta, có cái lý ấy thật sao? Mật ước sao không thể là tiền vốn của tôi, đổi với người Nhật những điều tôi cần?”

            Tôi quyết định đợi đến khi nào viên tư lệnh Quan Đông mời tôi tới nhận chức sẽ lại đưa ra 5 yêu cầu. Hồ Từ Viện ủng hộ biện pháp đó và nhắc tôi đừng quên yêu cầu người Nhật đổi Trịnh Hiếu Tế. Từ khi Trịnh Hiếu Tế lên làm thủ tướng, ông ta đã luôn luôn có ý đó.

            Đây là việc của thượng tuần tháng 9. Trung tuần tháng 9 viên tư lệnh quân Quan Đông mới kiêm đại sứ nhiệm kỳ thứ nhất ở “Mãn” Muto Nobuyoshi, đến Trường Xuân. Ngày 15, trong lầu Cần Dân, Muto Nobuyoshi cùng Trịnh  Hiếu Tế ký “Nghị định thư Nhật Mãn”. Đây là hiệp nghị công khai lấy bản mật ước làm cơ sở.

            Cử hành xong nghi thức, uống xong sâm banh tôi lập tức tiến hành hội đàm riêng với Muto Nobuyoshi. Lúc đó tôi vững lòng tin vì trước đó mấy ngày Lâm Đình Thám và Thái Pháp Bình từ Nhật Bản trở về đã báo cáo với tôi: ở Tokyo Muto Nobuyoshi không những đã đồng ý yêu cầu của tôi mà xem xét cả việc đáp ứng yêu cầu khôi phục tôn hiệu của tôi.

            Trong thời đại đại chính Nhật bản, Muto Nobuyoshi được thăng đại tướng lục quân, đã làm thứ trưởng bộ tham mưu, Tổng giám đốc giáo dục, tham nghị quân sự. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất đã soái lĩnh quân Nhật chiếm lĩnh Siberia của Liên Xô. Lần này, ông ta đến Đông Bắc với tư cách đại tướng, bản thân kiêm ba chức: tư lệnh trưởng quân Quan Đông, (trước đều là hàm trung tướng), tổng đốc Quan Đông (trước sự kiện 18 tháng 9, Nhật Bản đặt tổng đốc thực dân ở bán đảo Liêu Đông) và “đại sứ ở nước Mãn Châu”. Đến nhận chức không lâu lại được thăng hàm nguyên soái. Trên thực tế là kẻ thống trị cao nhất trên giải đất này, thái thượng hoàng của “nước Mãn Châu”. Báo chí Nhật Bản gọi ông ta là “thần trông coi Mãn Châu”. Đối với tôi, ông già bạc đầu 65 tuổi này thật sự như một ông thần linh thiêng. Khi ông ta rất lễ phép khom mình chào tôi, tôi liền có cảm giác như mình sắp bay bổng lên mây xanh. Đợi tôi nói xong, ông ta rất lễ phép trả lời:

            - Đối với ý kiến của ngài, tôi sẽ mang về nghiên cứu cẩn thận.

            Ông ta mang Hồ Từ Viện và mấy yêu cầu của tôi đi, song ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, không thấy kết quả nghiên cứu của ông ta.

            Theo qui định, mỗi tháng tôi ba lần hội kiến với đại sứ kiêm tư lệnh quân Quan Đông. 10 ngày sau, hội kiến ông ta lần thứ hai, tôi hỏi kết quả nghiên cứu, ông ta vẫn nói: “đang nghiên cứu”.

            Mỗi lần gặp tôi, ông ta rất lịch sự, lễ phép, cúi rạp mình trước tôi, miệng mỉm cười, cất lời là “Ngài”, đồng thời với thái độ sùng kính nói đến mỗi vị tổ tiên tôi. Song tuyệt nhiên không nhắc đến mỗi yêu cầu của tôi. Nếu như tôi lái câu chuyện sang phía đó, ông ta quay nói sang phía khác. Tôi hai lần bị ứng phó nhạt nhẽo như vậy nên không còn can đảm hỏi ông ta nữa.

            Cho đến tháng 7 năm 1933, khi Muto Nobuyoshi chết, mỗi lần gặp ông ta tôi chỉ nói về Phật học, Nho học, “thân thiện”. Trong thời gian này, với bất cứ ai, uy quyền của tôi không tăng thêm, còn trong lòng tôi uy quyền của ông ta mỗi ngày một tăng, chỉ có tăng mà thôi.

« Lùi
Tiến »