Nhân dân có thể khoan dung, vấn đề là ở bản thân mình có “làm người chính đáng” hay không - qua cuộc tham quan (66) tôi đã hiểu đạo lý này và vẫn không chỉ là đạo lý này. Trước đó, tức là ngày bắt đầu đi tham quan, tôi còn bằng con mắt cũ xem xét chính phủ ngày nay quan hệ với quần chúng như thế nào, cho rằng bất cứ chính phủ nào quan hệ với nhân dân cũng không tin cậy lẫn nhau như những điều nói trên sách. Tôi luôn cho ràng Đảng Cộng sản có quân đội lớn mạnh và chính phủ có hiệu lực như vậy là kết quả của thủ đoạn “cao minh” và khéo “lấy lòng người”. Cũng do cách nhìn nhận như vậy, tôi lo rằng khi quần chúng bị kích động sẽ hy sinh tôi.
Hiện nay tôi hiểu rõ, nhân dân sở dĩ ủng hộ Đảng thực ra là do Đảng Cộng sản làm nhiều việc tốt cho nhân dân. Những việc tốt đó, bất cứ triều đại nào trong lịch sử đều không thể và cũng không muốn làm. Thiết kế nơi nghỉ ngơi cho công nhân mỏ trước kia gọi là “những tên nhọ nhem”, dốc toàn bộ tinh lực của tổ chức đảng tuyên chiến với hơi (Gas) để đảm bảo an toàn cho công nhân, biến “Đại quan lữ quán” thành nơi đánh cờ, thưởng hoa, ngắm cảnh, để 80% chàng trai độc thân từ “phòng lớn” chuyển về nhà ở mới, xóa bỏ cái sòng bạc, ổ nghiện hút tồn tại hàng thế kỷ nay… Có chính phủ nào có thể và dám làm những việc đó.
Trước kia, có lúc tôi cũng nghĩ: có lẽ trong xã hội mới chỉ có người nghèo mới được lời, còn những người giầu có, những người có địa vị trong xã hội cũ, những người họ hàng với những người như tôi cho đến các dân tộc thiểu số ngoài người Hán e rằng không thể nói là hài lòng. Sau khi tham quan không lâu, mắt thấy những người thân thuộc của mình, tôi mới thấy rõ đó là cách nhìn lỗi thời.
Từ mùa hè năm 1955, chúng tôi bắt đầu được thông tin với những người thân thuộc của mình.Qua thư nhà, mọi người biết rằng những người thân thuộc của mình không bị khinh rẻ vì những tội phạm của chúng tôi, biết rằng các con cái người đi học, người đang công tác, có người trở thành chuyên gia, có người tham gia đoàn thanh niên, thậm chí có người tham gia Đảng Cộng sản. Nhiều người, qua thư nhà được khích lệ rất lớn, càng thấy ý nghĩa của sự thay đổi xã hội đối với bản thân mình.
Ngày 10 tháng 3, tức ba ngày sau khi đi tham quan, nhân viên coi giữ báo cho tôi và Phổ Kiệt cùng với chồng, em ba, em năm và ba cháu đến chỗ trưởng trại. Chúng tôi vào phòng khách của trưởng trại, ở đây bất ngờ trông thấy chú bẩy Tải Đào cùng em ba, em năm từ hơn 10 năm cách xa không gặp.
Nhìn thấy em ruột khoẻ mạnh như xưa và các em gái mặc án đại cán tôi như bước vào cõi mộng.
Tải Đào là người duy nhất còn lại của chi trưởng họ tôi. Trong cuộc bầu cử năm 1954, chú được bầu làm đại biểu đại hội nhân dân toàn quốc thay mặt cho 2 triệu dân tộc Mãn, đồng thời là uỷ viên Uỷ ban chính trị hiệp thương toàn quốc. Chú nói với tôi: trước mấy ngày đi thăm tôi, tại hội nghị lần thứ hai đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, thủ tướng Chu Ân Lai đã giới thiệu chú với chủ tịch Mao Trạch Đông: “Đây là ông Tải Đào, chú ruột Phổ Nghi”. Chủ tịch Mao đã bắt tay chú, nói: “Nghe nói Phổ Nghi học tập tốt, ông có thể đi thăm họ”.
Nói đến đây, giọng chú bảy nghẹn ngào, tôi không cầm được nước mắt…
Từ cuộc gặp gỡ người trong gia tộc, tôi hiểu rõ không những tôi được cứu vãn mà cả dân tộc Mãn và tộc họ Ái Tân Giác La cũng được cứu vãn.
Chú bảy nói với tôi: trước giải phóng, nhân khẩu tộc Mãn đăng ký là 8 vạn người, còn ngày nay, con số tăng gấp 30 lần.
Tôi biết rõ ý nghĩa của sự thay đổi số liệu này. Tôi biết, sau cách mạng Tân Hợi, dưới sự thống trị của chính phủ Bắc Dương và chính phủ Quốc Dân Đảng, số phận người Kỳ như thế nào. Khi đó, người tộc Mãn nếu không mạo nhận là người tộc Hán sẽ rất khó tìm việc làm. Bắt đầu từ đó con cháu họ Ái Tân Giác La tới tấp lấy họ Kim. Sau giải phóng thừa nhận bản thân mình là dân tộc thiểu số ngày càng nhiều. Sau khi Hiến pháp được công bố, toàn thể tộc Mãn đều đăng ký do đó mới có 2 triệu 40 vạn, đây là con số bất ngờ ngay với người tộc Mãn.
Sự thay đổi mang tính lịch sử này bao hàm thế hệ sau của họ Ái Tân Giác La, bao hàm cả “Tải bối lặc”, “Tam các các”, “ngũ các các” trước kia.
Chú bảy năm đó là 69 tuổi, khoẻ mạnh minh mẫn, hầu như tôi không nhìn thấy vẻ già nua của ông. Tôi thậm chí cảm thấy thói quen nói chuyện của ông và tôi cũng không có gì thay đổi. Sau giải phóng, bằng tuổi gần “xưa nay hiếm” của mình, ông tham gia công tác của quân giải phóng ở cao nguyên Tây Bắc.
Khi nói đến những hoạt động này mặt ông lộ vẻ phấn chấn. Ông cho biết, ông đang dự định xuống địa phương thị sát công tác của dân tộc thiểu số để làm tròn trách nhiệm của đại biểu quốc hội. Nói đến đây, mặt ông càng rạng rỡ.
Khi quân giải phóng vừa mới tiến vào thành phố Bắc Kinh, nhiều di lão tộc Mãn rất lo lắng đặc biệt là những người thuộc họ Ái Tân Giác La.
Sau khi đọc chương 8 của Hiến pháp (chương này nói về chính sách dân tộc) vẫn lo lắng buồn phiền.
Những ông già này sống ở Bắc Kinh, phần lớn chưa từng làm “Tân quý” của nước Mãn Chân và Chính phủ Uông Tinh Vệ, song cũng có người chưa quên được thân phận “thiên hoàng quý trụ” (con cháu nhà vua) của mình, chưa vứt bỏ được sự mê tín đối với tôi, vì vậy sau khi tôi trở thành tội phạm, họ càng không yên tâm, chưa từng mang “ảo tưởng” gì đối với quân giải phóng nhân dân. Điều bất ngờ đầu tiên đối với họ là nghe tin chính phủ nhân dân Đông Bắc xây dựng trường học dành cho con em tộc Mãn, sau đó lại thấy dân tộc Mãn có đại biểu bước vào Hoài Nhân Đường (67) cùng các giới nhân sĩ ngồi tại hội trường của hội nghị ủy ban chính trị hiệp thương toàn quốc tham gia thảo luận cương lĩnh chung. Tiếp đó, nhiều gia đình trong họ có cán bộ của chính phủ nhân dân đến thăm hỏi, mời họ làm dại biểu Uỷ ban chính trị hiệp thương của địa phương, đề nghị họ bày tỏ ý kiến của mình về dân tộc Mãn, mời họ cống hiến tài năng cho công cuộc xây dựng xã hội mới.
Tại Bắc Kinh, con cháu cụ nội tôi (vua Đạo Quang) cũng như con cháu ba chi Thuần Thân Vương, Cung thân Vương và Đôn thân vương đời chữ Phổ, ngoài mấy em con chú bảy còn tương đối trẻ, những người khác đều đã trên 60 tuổi. Anh tôi là Phổ Cân (tự Tuyết Trai) là cháu Thuần thân Vương Dịch Tôn (con Bối lặc Tải Doanh) giỏi hội hoạ, thư pháp và cổ cầm (đàn Cổ) khi đó đã hơn 60 tuổi. Ông không ngờ một hôm bên bờ Bắc Hải đã có thể cùng bè bạn thân thuộc say sưa thưởng thức nghệ thuật cổ cầm. Ông được bầu làm phó hội trưởng Hội nghiên cứu cổ cầm, Hội trưởng Hội nghiên cứu thư pháp, được mời vào Uỷ ban chính hiệp một khu lại là thầy dạy ở Viện hội hoạ Trung Quốc. Phổ Giản, em ruột Phổ Cân là một hoạ sĩ khi đó cùng được cử làm thầy dạy ở Viện hoạ Trung Quốc tại Bắc Kinh. Ông già tuổi gần “xưa nay hiếm” lại vung bút truyền dạy cho thế hệ trẻ về Trung Quốc hoạ.
Anh em thúc bá với ông là Phổ Tu đã từng làm “hành tẩu cung Càn Thanh”, khi tôi ở Trường Xuân đã từng uỷ thác cho ông quản lý và trông coi nhà cửa ở Thiên Tân, sau đó bị loà hai mắt, mất hết mọi khả năng hoạt động, cuộc sống không nơi nương tựa.
Sau giải phóng, sự từng trải cũng như tư liệu lịch sử sống trong óc của ông ấy được xã hội mới coi trọng, cử làm nhân viên Quán Văn Sử. Loại Quán Văn Sử này được thành lập khắp nơi tại Trung Quốc, trong đó các cử nhân, tú tài nhà Thanh trước, cũng có cả những người chứng kiến những sự kiện của các thời kỳ của các triều đại từ chính phủ Bắc Dương đến Tưởng Giới Thạch... Qua họ, đã thu thập được rất nhiều tài liệu lịch sử quý báu. Anh hai Tu bị loà mắt có lòng tin với cuộc sống, đã hồi ức một cách cụ thể, chi tiết những tư liệu lịch sử triều Thanh, nhớ được đoạn nào, miệng thuật lại đoạn đó cho người khác ghi lại.
Những hiện tượng đã được xã hội mới cho là bình thường này đến với tôi lại vô cùng mới mẻ là những tin tức tận mắt thấy sự thay đổi của các em gái tôi.
Nửa năm trước, tôi và các em trai, em gái ở Bắc Kinh đã gửi thư cho nhau, qua thư từ tôi đã cảm thấy gia tộc của tôi đang có sự thay đổi song tôi chưa từng suy xét kỹ càng về sự thay đổi đó. Trong thời ngụy Mãn, trừ em trai thứ tư và các em gái thứ sáu, thứ bảy, các em trai em gái khác đều ở Trường Xuân. Khi sụp đổ lớn đều theo tôi chạy đến Thông Hoá. Sau khi tôi làm tù binh, thường lo lắng cho các em gái mình bị khinh rẻ vì thân phận người nhà Hán gian. Chồng em hai là cháu trai Trịnh Hiếu Tế, chồng em ba, em năm, một người là em trai “hoàng hậu”, một người là em trai tham mưu trưởng của Trương Huân, cả hai đều là trung tá của ngụy Mãn. Bố chồng em tư là tri phủ Thiệu Hưng cuối triều Thanh.
Chỉ có chồng em bảy và chồng em tám là hai người học hành qui củ. Song liệu các em tôi có bị anh trai là tên Hán gian đần sỏ lôi xuống bùn không? Đây cũng là mối lo lắng chung của những đồng phạm, sự lo lắng của tôi càng lớn hơn họ. Về sau, qua thư từ, tôi mới biết sự lo lắng đó là thừa, cũng như những người khác, các em trai em gái tôi đều có việc làm. Như con cháu người khác, con cái họ cũng đều có thể đi học, lên lớp cũng như hưởng đãi ngộ tiền học phí. Em trai thứ tư và em gái thứ bảy vẫn là giáo viên tiểu học như cũ, em gái thứ sáu làm nghề tự do - hoạ sĩ. Em gái thứ năm làm thợ may. Em gái ba là nhà hoạt động xã hội, được dân phố bầu là ủy viên bảo vệ trị an. Mặc dù các em tôi tự nấu cơm, tự chăm sóc con song qua thư, họ lộ rõ sự hài long, vui vẻ. Tôi yên tâm. Nay tôi gặp được họ, nghe vợ chồng họ nói về tình hình sau khi cách biệt khiến tôi nhớ lại quá khứ.
Tôi vẫn còn nhớ, lão Vạn, chồng em năm trợn mắt hỏi em năm: “Cô thật biết đi xe đạp ư? Cô lại còn biết may nữa?”. Sự ngạc nhiên của lão là có căn cứ. Ai ngờ cô “quận chúa” lúc còn nhỏ ngay chạy cũng không dám chạy, lớn lên có bao nhiêu a hoàn hầu hạ, chưa bao giờ bước vào nhà bếp, chưa bao giờ cầm chiếc kéo mà nay rõ ràng có thể đạp xe đi làm, có thể cầm kéo cắt quần áo, trở thành một nữ công nhân may mặc tự nuôi lấy mình.
Càng khiến chúng tôi kinh ngạc là cô trả lời chồng một cách thản nhiên: “Điều đó có gì là lạ? Điều đó chẳng hơn là chẳng biết làm gì cả ư?”
Cần biết rõ, nếu như trước kia cô nói như thế, không những bạn bè thân thuộc chê cười cô mà cô cũng tự thấy xấu hổ. Khi đó cô chỉ nên biết đánh phấn, đánh mạt chược, làm nghi lễ theo quy định; còn hiện nay, cô cầm chiếc kéo, đi xe đạp như đàn ông, sống cuộc sống mình tự nuôi mình.
Sự nếm trải của em ba so với em năm càng nhiều hơn. Sau khi Nhật. Bản đầu hàng, vì con ốm, cô chưa về ngay Bắc Kinh. Cô và hai cô bảo mẫu đều ở lại Thông Hoá. Tài sản không có, cô sợ số nữ trang và đồ vật còn lại cũng như thân phận của mình sẽ làm người ta chú ý. Ở Thông Hoá, cô bán thuốc lá, quần áo cũ. Trong thời gian này, cô hầu như bị bọn đặc vụ Quốc Dân Đảng lừa dối, bị bọn con buôn bịp bợm bán buôn diêm rởm cho cô. Trải qua cuộc sống không bình thường như vậy, đến năm 1948 cô mới trở về Bắc Kinh. Sau giải phóng, cô luôn luôn đi họp dân phố vì khi ở Đông Bắc, tiếp xúc với chính phủ nhân dân và quân giải phóng nhân dân, cô biết một số chính sách của chính phủ, được hàng xóm tín nhiệm cử làm công tác đường phố. Cô nói một thời kỳ công tác vui nhất là tuyên truyền luật hôn nhân mới...
Đối với người khác, sự nếm trải ấy cũng là chuyện bình thường, đối với tôi lại là sự ngạc nhiên lớn. Cuộc sống của cô trước kia còn “cao quý” hơn em năm, hàng ngày chỉ biết rong chơi, làm nũng với tôi, mỗi lần thấy tôi giữ thứ gì cho người khác đều đòi tôi “thưởng”... Ai ngờ, cô ba “quận chúa” kiêu sa đài các chỉ biết cám ơn, xin thưởng lại có thể là một nhà hoạt động xã hội. Tuy nhiên sự thay đổi đó là có thể hiểu được. Tôi hiểu, sau giải phóng vì sao cô tích cực tuyên truyền luật hôn nhân mới, vì sao cô khi đọc báo cho bà con hàng xóm cô có thể khóc. Vì tôi tin câu nói của cô: “Trước kia tôi là cái gì? là vật trang trí?”.
Ngày thứ hai gặp gỡ, vừa khéo nhận được thư em hai. Qua thư, con gái lớn của cô, học sinh năm thứ hai học viện thể dục đã trở thành huấn luyện viên xe ô tô ưu tú nghiệp dư giờ đây đã hoàn thành cuộc huấn luyện đường dài lái xe mô tô Thiên Tân - Hán Khẩu. Cô nói với tôi bằng giọng hạnh phúc: Không những cách đây 12 năm là cô tiểu thư trở thành vận động viên cấp kiện tướng mà các em khác của cô cũng là học sinh ưu tú. Khi tôi nói những điều này với em ba, em năm, các em đều lau nước mắt và nói về tình hình con cái mình. Ở đây tôi phát hiện đó mới là sự thay đổi thật sự của vận mệnh dòng họ Ái Tân Giác La.
Tôi đã từng căn cứ vào bản “ngọc điệp” viết năm 1937 cung cấp tài liệu cho các em trai, em gái tôi làm một bản thống kê. Chi Thuần vương họ Ái Tân Giác La tính từ chữ Tải, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và trẻ chưa đến tuổi thành niên cuối triều Thanh là 34 %, thời Dân quốc là 10 %, mười năm sau giải phóng là số không. Nếu như tính tỉ lệ tử vong của tuổi vị thành niên cả nhà Ái Tân Giác La càng khiến cho mọi người kinh sợ. Chỉ tính từ đời cụ nội tôi, đời chữ Tải và đời chữ Phổ, tỉ lệ tử vong của vị thành niên là: con trai hơn 40 %, con gái gần 50 %, cộng lại là 45 %. Trong số nhân khâu tử vong, số trẻ dưới 2 tuổi chiếm hơn 58 %.
Như vậy, con cháu vua Đạo Quang cứ 10 người sinh ra thì bốn người rưỡi tử vong, trong đó quá nửa chết lúc dưới hai tuổi.
Khi gặp gỡ chú bảy và các em gái, tôi vẫn chưa có bản thống kê này song cú nghe các em kể chuyện về con cái mình, tôi không thể không nhớ lại vì được bà nội tôi quá yêu mà bác tôi chết đói, chị ruột tôi chết năm 17 tuổi, em trai thứ ba chết khi chưa được hai tuổi. Cũng như trong “Ngọc điệp” tôi thấy một loạt người chết “chưa có tên” (chưa kịp đặt tên đã chết). Vấn đề không chỉ ở con số tử vong và trưởng thành, dù cho mỗi đứa trẻ đến trưởng thành cũng chẳng biết làm cái gì, ngoài thất nghiệp, thất học, chẳng có tiền đồ gì. Thời đại Dân quốc, số phận con em tám kỳ phần lớn là như vậy. Lớp già, hàng ngày ngoài việc xách lồng chim đi dạo, thì uống trà từ lúc sáng sớm, uống cho đến trưa lúc ăn cơm, bữa ăn hàng chục món, ăn xong là ra oai với người nhà, ngoài ra chẳng còn biết làm gì…
Những việc như thế, tôi biết rất nhiều, nay đã hoàn toàn thay đổi. Từ cuộc gặp mặt này, tôi sâu sắc cảm thấy vận mệnh của thế hệ sau chúng tôi so với thế hệ trước khác nhan như thế nào? Sự đãi ngộ mà họ được hưởng quả thật trước đây tôi không dám mong ước. Một em trai và tám em gái ở Bắc Kinh có tất cả 27 người con, ngoài số chưa đến tuổi đi học, đều đang đi học ở trường, đứa lớn nhất đã vào đại học.
Chú bảy tôi có 16 cháu nội trai, gái. Cháu đích tôn 28 tuổi là kỹ thuật viên trạm thủy điện, một cháu gái là sinh viên đại học quân y, một cháu gái đã từng tham gia quân chí nguyện, lập công cấp ba đã từ Triền Tiên về phục viên trở lại học ở trường đại học. Không một cháu nào rong chơi nhàn rỗi. Cuộc sống của lớp người thế hệ trước chúng tôi: cưỡi ngựa, thả chim ưng, xách lồng rong phố thật là chuyện cười dưới con mắt thế hệ mới này. Lớp người sau cũng có số phận ngoại lệ đó là con gái Phổ Kiệt sống ở một xã hội khác. Phổ Kiệt có hai con gái khi đó cũng theo mẹ về Nhật Bản, con lớn 18 tuổi. Chín tháng sau lần tôi gặp gỡ người thân, con gái Phổ Kiệt từ Nhật Bản báo một tin đau buồn: cô gái lớn, vì vấn đề yêu đương đã cùng một bạn trai tự sát. Sau đó tôi nghe đủ mọi tin đồn, dù tin đồn như thế nào, tôi vẫn tin rằng người con trai đó vẫn cùng với cháu tôi đều là những người bất hạnh.
Từ năm đó, trại quản lý không ngừng có người đến thăm người thân. Điều đáng nói là, lão Lưu, thuộc “phái hoài nghi ngoan cố” thấy con gái mình học nghệ thuật của mình và thấy con gái mang chàng rể đến. Cô con gái nói với ông ta: “Cha vẫn chưa tin ư? con ở học viện nghệ thuật! đây là bạn của con”. Lão nói: “Cha tin rồi”.
Lão Lưu hiểu rõ sự tình, lão Trương cũng hiểu rõ. Lần con gái lớn đến thăm, mang thư của con trai lớn đến, lão đưa thư cho tất cả mọi người cùng xem.
Chú thích:
(66) Đến năm 1956 trại cải tạo đã đưa các phạm nhân đi tham quan mỏ than Phủ Thuận. Hợp tác xã nông nghiệp Đài Sơn Bảo để tìm hiểu cuộc sông xây dưng đất mới từ sau khi Trung Quốc được giải phóng. Chúng tôi lược bỏ tiết này (ND)
(67) Hoài Nhân Đường ở Trung Nam Hải là nơi họp Quốc hội Trung Quốc trước khi Đại lễ đường nhân dân được xây dựng. - ND