Hoàng Đế Cuối Cùng

Lượt đọc: 11492 | 5 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG II - (2)
đời sống đế vương

Điều “Tạm ở lại cung cấm” ghi trong “điều kiện ưu đãi” không quy định thời hạn cụ thể. Trừ ba toà nhà cắt cho Dân quốc ra, những nơi khác còn lại trong Tử cấm thành đều thuộc phạm vi “cung cấm”. Trong khoảng thế giới nhỏ bé chật hẹp ấy, cho đến năm Dân quốc thứ 13 mới bị Quốc dân quân đuổi khỏi Hoàng cung, tôi đã sống qua thời niên thiếu rất hư hỏng. Hư hỏng vì đã là thời đại nước Trung Hoa được gọi là Dân quốc, loài người đã tiến vào thế kỷ 20 rồi mà tôi vẫn sống theo nếp đế vương cũ rích không một chút đổi thay, vẫn thở hút bụi bậm của thế kỷ thứ 19 để lại.

            Mỗi khi nhớ lại thời thơ ấu, trong óc tôi bất giác lại hiện lên toàn màu vàng. Mái ngói lưu ly màu vàng, kiệu màu vàng, đệm ghế màu vàng, thắt lưng màu vàng, lót áo, lót mũ màu vàng,  bát đĩa sứ dùng trong lúc ăn cơm uống nước, vỏ bông ủ liễn cháo, bìa bọc sách, rèm cửa, cương ngựa... không một thứ gì không màu vàng. Loại màu gọi là vàng chói thì chỉ một người có quyền sử dụng, từ thuở nào đã gây cho tôi ý thức “duy ngã độc tôn”, làm cho tôi khác hẳn mọi người về “thiên tính”.

            Đến năm tôi 11 tuổi, theo quyết định của các thái phi, bà nội và mẹ tôi bắt đầu được vào cung “hội thân”, em trai thứ hai - Phổ Kiệt - và em gái lớn cũng theo vào ở chơi với tôi mấy ngày. Hôm mọi người đến lần thứ nhất không khí hết sức buồn tẻ. Tôi và bà nội ngồi trên giường lò (35), bà xem tôi bày bài bói quẻ trên kỷ chè, các em khúm núm đứng dưới đất, yên lặng nhìn tôi không chớp mắt, khác nào đứng hầu ở một công đường. Về sau, tôi nghĩ ra một cách đưa các em tôi vào điện Dưỡng Tâm, nơi tôi ở; tôi hỏi Phổ Kiệt:

            - Ở nhà các ngươi hay chơi trò gì?

            - Phổ Kiệt biết chơi trò bịt mắt bắt dê - em trai thứ hai kém tôi một tuổi đáp lại một cách cung kính.

            - Các ngươi cũng biết chơi trò bịt mắt bắt dê ư, trò chơi này thú lắm.

            Tôi khoái lắm. Trò chơi này tôi đã từng chơi với bọn thái giám nhưng chưa được chơi với trẻ con ít tuổi hơn. Thế là chúng tôi chơi ngay ở điện Dưỡng Tâm. Càng chơi càng vui. Các em tôi cũng quên cả nghi lễ bó buộc. Sau chúng tôi buông tất cả rèm che ngoài cửa xuống khiến cho trong nhà tối om. Em gái kém tôi hai tuổi vừa  thích lại vừa sợ, tôi và Phổ Kiệt lại hè nhau doạ nó, chúng tôi thích quá vừa cười vừa kêu la ầm ỹ. Choi trò bịt mắt bắt dê đến mức mệt nhoài, chúng tôi leo lên giường lò nghỉ, tôi lại bảo các em nghĩ trò chơi mới lạ khác. Phổ Kiệt đăm đăm suy nghĩ hồi lâu không nói không rằng, chỉ nhìn tôi cười.

            - Nhà ngươi nghĩ gì thế?

            Hắn vẫn nhe răng cười thộn.

            - Nói mau, nói mau! - Tôi nóng nảy giục, đinh ninh là hắn đã nghĩ ra trò chơi gì thú vị, không ngờ hắn nói:

            - Tôi tưởng, à quên, Phổ Kiệt tưởng hoàng thượng nhất định phải khác thường, phải có bộ râu dài lê thê như trên sân khấu, - vừa nói hắn vừa hoa tay làm điệu vuốt râu. - Ai ngờ động tác ấy gây tai hoa cho hắn vì tôi trông thấy vải lót trong tay áo hắn rất giống màu sắc tôi quen. Mặt tôi tức khắc sa sầm:

            - Phổ Kiệt, đây là màu gì, nhà ngươi cũng đáng mặt được dùng ư?

            - Đây thưa đây là màu vàng vỏ hạnh đấy ạ.

            - Nói càn, đây không phải là màu vàng chói sao?

            - Muôn tâu...

            Phổ Kiệt vội vã buông thõng hai tay cúi dầu đứng nép một bên. Em gái chạy lại đứng nép sau lưng hắn sợ phát khóc. Tôi vẫn chưa thôi :

            - Đây là màu vàng chói, không phải thứ nhà ngươi dùng được.

            - Muôn tâu... - Em trai tôi trả lời phận bề tôi trong tiếng “muôn tâu”.

            Tiếng “muôn tâu” đã tuyệt tích từ lâu. Ngày nay nghĩ lại âm thanh ấy làm cho người ta bật cười. Nhưng từ tấm bé tôi đã quen cái đó lắm rồi, trái lại nếu có ai không dùng âm điệu ấy thì tôi không thể dung tha được. Với việc quỳ lạy cũng thế. Từ thuở nhỏ tôi đã quen thấy người ta lạy tôi, phần lớn là những người tuổi tác nhiều hơn tôi mấy chục lần, có người là bề trên trong họ tôi, có người mặc áo bào triều Thanh, cũng có người mặc đại lễ phục kiểu Tây của Dân quốc.

            Trong việc đó tôi không thấy quái đản chút nào và quen rồi, cho là chuyện bình thường còn có sự phô trương bày vẽ hàng ngày nữa.

            Nghe nói có một thanh niên khi đọc truyện “Hồng lâu mộng” cảm thấy kỳ lạ vô cùng, không hiểu tại sao sau lưng và xung quanh các nhân vật như Giả Mẫu, Vương Phượng Thư bao giờ cũng có một đám đông người, dù họ chỉ đi từ phòng này sang phòng khác cũng có một đám người như đàn ong theo sau, không khác một cái đuôi Thật ra cái đuôi trong “Hồng lâu mộng” còn nhỏ hơn cái đuôi ở Hoàng cung rất nhiều. Sự phô trương bày vẽ trong “Hồng lâu mộng” giống sự phô trương bày vẽ trong Hoàng cung thu nhỏ lại, cái đuôi ấy cũng thế. Những lúc tôi đến cung Dục Khánh học, đi thỉnh an các thái phi, du ngoạn hoa viên hàng ngày đằng sau đều có cái đuôi. Mỗi lần tôi đi chơi vườn Di Hoà không những phải có cái đuôi mấy chục chiếc xe ô tô mà còn phải thuê cảnh sát của Dân quốc canh phòng suốt dọc đường. Mỗi chuyến đi chơi như vậy tốn phí mấy nghìn đồng bạc. Mỗi lần tôi đến chơi ở Ngự hoa viên, cũng phải tổ chức thành hàng ngũ như sau: đi trước tiên là một thái giám của phòng Kính sự, phận sự của y không khác tiếng còi xe hơi, miệng y luôn luôn phát ra tiếng “xuýt xuýt” để bảo cho mọi người biết mà mau mau tránh ra. Sau đó chừng hai mươi bước là hai viên tổng quản thái giám, lạch bà lạch bạch đi trước dẫn rượu sát hai bên lề đường. Chừng mười bước sau là hàng trung tâm có tôi hoặc thái hậu. Nếu đi kiệu thì hai bên kiệu đều có Ngự tiền thái giám phù gióng kiệu đi theo để tiện sai bảo. Nếu đi bộ thì họ dìu đi. Theo liền đó là một thái giám cầm tàn, sau tàn mấy bước là đám đông thái giám bưng các đồ vật hoặc đi tay không, có người bê giường thêu để tiện bề nghỉ ngơi bất cứ lúc nào. Có người bưng quần áo để tiện thay đổi, có người cầm tàn che nắng, tàn che mưa. Sau đám Ngự tiền thái giám là thái giám Ngự trà phòng bưng một số quả son đựng các thứ bánh điểm tâm, cố nhiên là cả ấm đun nước, chén tách... Sau nữa là thái giám ngự phòng kĩu kịt quẩy gánh trong đó chứa các loại thuốc thông thường và thuốc cấp cứu, những thứ không thể thiếu được là bấc đèn, nước hoa cúc, nước rễ cỏ lau, nước lá tre, nước cật giang, mùa hè nhất định có Hoắc hương chính khí hoàn, Lục hợp dịch trung hoàn, Kim y thư khứ đan, Hương nhu đan, Vạn ứng đỉnh sa dược, Ty ôn tán, bất cứ mùa nào cũng phải có thuốc tiêu thực Tam điểu ẩm... Cuối cùng là thái giám xách bô đi đại tiểu tiện. Nếu không đi kiệu thì đi theo cùng, kiệu cũng theo mùa mà chia ra kiệu ấm, kiệu thoáng. Cái đuôi trăm thứ bà dằn ấy mấy chục người, ấy thế mà lúc đi đứng cũng rất im lặng, an nhàn, hàng lối ngay ngắn.

            Cái đuôi ấy cũng thường bị tôi làm rối tung lên. Như mọi đứa trẻ khác, lúc còn nhỏ hễ cao hứng lên là tôi cất chân chạy lung tung. Ban đầu bọn thái giám cũng phải chạy theo không rời xa nửa bước, chạy đến mũ mãng tả tơi, thở hồng hộc. Sau này lớn lên một chút, tôi cho họ đứng đợi, thế là trừ bọn ngự tiền thái giám ra, những người bưng quả, mang đồ vật, quẩy gánh đều đứng yên bên đường, đến lúc tôi chạy đã chán chê họ lại bắt đầu đứng vào đằng sau tôi. Sau này biết đi xe đạp, tôi ra lệnh cho mọi người cưa hết bậc cửa ở hậu cung đi, như vậy là tôi tha hồ phóng đi khắp mọi nơi không bị cản trở gì hết, cái đuôi tất nhiên cũng không tài nào theo tôi được nữa nên phải tạm thời bãi bỏ. Ngoài việc đó ra, những hoạt động hàng ngày như đi thỉnh an các thái phi, đến cung Dục Khánh học, v.v... vẫn phải có cái đuôi nhất định  theo sau. Lúc bấy giờ, nếu sau lưng không có cái đuôi ấy tôi cảm thấy mất tự nhiên. Trước kia, khi nghe người ta kể chuyện vua Sùng Trinh đời Minh đến đoạn chót nói rằng: bên cạnh vua Sùng Trinh chỉ còn một người thái giám thì trong lòng tôi cảm thấy ngậm ngùi.

            Sự phô trương bày vẽ hao phí nhân lực, tài lực hơn cả là việc ăn uống. Về việc ăn của vua có hẳn một lô thuật ngữ riêng, tuyệt đối không cho phép ai được nói lầm. Cơm không gọi là cơm mà là “thiện”, ăn cơm gọi là “tiến thiện”. Bếp gọi là “phòng ngự thiện”. Đến giờ ăn cơm - thật ra không có giờ giấc nhất định, hoàn toàn do vua tự quyết định. Tôi nói một câu “truyền thiện”, Ngự tiền thái giám đứng hầu liền theo đó mà nói “truyền thiện” với Điện thượng thái giám ở Minh Điện của diện Dưỡng Tâm. Điện thượng thái giám lại truyền câu đó cho thái giám phòng Ngự thiện chờ ở Tây trường... cứ như thế mà truyền mãi ra tận trong phòng Ngự thiện. Đó là một đội ngũ mấy chục thái giám ăn mặc chững chạc. Họ khiêng 7 chiếc bàn lớn nhỏ, bưng mấy chục chiếc quả sơn son vẽ rồng vàng tấp nập kéo đến điện Dưỡng Tâm. Tới Minh điện thì do các tiểu thái giám tay áo trùm thêm mảnh vải trắng muốt đỡ lấy đem bày ở Đông Noãn các. Hai bàn món ăn thường ngày, mùa đông đặt thêm bàn lò ăn nhúng, ngoài ra còn có ba bàn các thứ điểm tâm, cơm, cháo, một bàn nhỏ món ăn mặn. Đồ dùng ăn uống bằng sứ men vàng chói vẽ hoa vân rồng và viết chữ “vạn thọ vô cương”. Mùa đông thì dùng đồ bạc, để trong ang sứ chứa đầy nước sôi. Mỗi đĩa hay bát món ăn có một cái thẻ bạc, làm như vậy là để đề phòng bị đánh thuốc độc và cũng do nguyên nhân ấy trước khi bưng thức ăn cho vua dùng đều phải qua một thái giám nếm trước gọi là “thưởng thiện”. Sau khi bày biện xong các món ăn đã nếm qua rồi, trước khi tôi ngồi vào bàn ăn, một tiểu thái giám hô to “mở nắp”. Bốn năm tiểu thái giám khác tức khắc mở vung bạc đậy trên các món ăn ra, bỏ cả vào một cái quả lớn mang đi. Thế là tôi bắt đần “dụng thiện”.

            Cái gọi là món ăn là những thứ gì? Món ăn của Long Dụ thái hậu mỗi bữa có chừng 100 thứ phải dùng tới 6 bàn ăn để bày. Bà đã thừa kế Từ Hy thái hậu về sự phô trương bày vẽ đó.  Món ăn của tôi ít hơn thái hậu nhưng theo quy định cũng phải trên 30 thứ. Hiện tôi đã tìm được một trong bản thảo thực đơn tháng 3 năm Dân quốc đầu tiên trong đó ghi nội dung bữa ăn như sau:

            - Gà om măng

            - Vịt tần bát trân (8 thứ quý)

            - Gà xé xào nấm, măng, hành ớt, nõn rau

            - Thịt ninh

            - Cổ hũ phổi tần

            - Thịt tần cải trắng

            - Thịt dê om vàng

            - Thịt dê hầm lót rau cải, cà chua

            - Thịt dê xào củ cải Tứ Xuyên

            - Vịt thái chỉ hầm hải sâm

            - Vịt thái hạt lựu hầm hạt cát tiên

            - Củ tróc rán

            - Thịt om măng

            - Thịt gói nhồi rán

            - Chả nem

            - Rau cải trắng thái chỉ

            - Gan hầm thái mỏng.

            Những món ăn ấy bày vẽ ra, ngoài sự bày biện, tuyệt nhiên không dùng làm gì. Chỉ sau một tiếng truyền lệnh, thức ăn nhanh chóng được bày trên bàn là vì phòng Ngự thiện đã làm xong từ trước, để sẵn trên bếp hâm nóng. Họ cũng biết rõ, có lẽ từ thời Quang Tự, Hoàng đế cũng không hề ăn những thứ hâm nóng ấy. Những món tôi ăn trong bữa đều do thái hậu gửi tới. Sau khi thái hậu qua đời thì do 4 vị thái phi gửi tới. Thái hậu và các thái phi đều có phòng ăn của mình mà đầu bếp đều là loại cao cấp nên các món ăn họ nấu rất ngon miệng, mỗi bữa ăn thường có hai chục món như vậy, đó là những món bầy trước mặt tôi, còn những thứ khác bày ở góc xa chẳng qua chỉ để bày biện mà thôi.

            Để bày tỏ sự quan tâm tới tôi, các Thái phi ngoài việc gửi món ăn còn quy định mỗi khi ăn xong phải có một thái giám trực ban đi báo cáo tình hình tôi ăn ra sao. Đó cũng là một kiểu báo cáo công thức. Dù tôi ăn như thế nào, thái giám trực ban khi tới trước Thái phi đều quỳ tâu: “Nô tài bẩm lệnh bà, Đức vua dùng một bát cơm (hoặc một bát cháo), một chiếc bánh màn thầu (hoặc một chiếc bánh rán), ăn ngon miệng”.

            Vào ngày tết hoặc ngày sinh các Thái phi (ngày đó gọi là “thiên thu”) để tỏ lòng hiếu thuận cần có, phòng Ngự thiện của tôi cũng nấu một số món ăn tới dâng các Thái phi. Có thể dùng 4 câu nói để nhận xét những món ăn đó: đẹp mà không thật, tốn mà không ngon, nhạt  mà không thơm, dinh mà không dưỡng.

            Ăn uống như vậy, mỗi tháng tốn bao nhiêu tiền. Tôi đã tìm thấy một quyền “Sổ ghi phần quy định thịt gà, vịt hàng ngày của các phòng ăn từ mùng 1 đến 30 tháng 9 năm Tuyên Thống thứ hai” trong đó ghi như sau:

            - Phần quy định thịt làm món ăn của Hoàng thượng 20 cân x 30 ngày cộng là 660 cân (cân Trung Quốc bằng nửa kilôgam)

            - Bên dưới còn có phần quy định của Thái hậu và của mấy bà Thái phi, để dễ xem, nay gộp cả lại thành bảng thống kê như sau:

            Tên hậu, phi      Số cân thịt       Số con gà       Số con vịt

            Thái hậu                 1.860                   30                    30

            Cẩn quý phi              285                      7                      7

            Du hoàng quý phi    360                    15                     15

            Cẩn Hoàng quý phi  360                   15                      15

            Tân quý phi              285                     7                       7

            Cộng là:                  3.150                    74                    74

            Sáu người trong nhà tôi, tổng cộng một tháng dùng 3.960 cân thịt, 388 con gà; vịt, trong đó tôi là đứa trẻ nhỏ 5 tuổi dùng 810 cân thịt và 240 con gà, vịt. Ngoài ra, trong cung, còn rất nhiều người phục vụ cho gia đình 6 người này như: quân cơ đại thần, ngự tiền thị vệ, thày dạy học, thầy vẽ, thợ chữ, các thái giám cũng như những thầy cúng hàng ngày tới cúng thần... cũng đều có phần của mình.

            Kể cả gia đình 6 người chúng tôi tổng số ăn hết 14.642 cân thịt lợn, tính thành bạc hết 2.342 lạng 7 đồng cân 2 phân. Ngoài số cố định kể trên, hàng ngày còn phải thêm thức ăn mà khoản thêm này còn trội hơn phần quy định rất nhiều. Số thịt ăn thêm trong tháng này là 31.844 cân, mỡ lợn 814 cân, gà vịt 4.786 cân, thêm vào tiền tôm, cá, trứng... là 11.641 lạng linh 7 phân bạc cộng với 348 lạng tiền chi tạp phí, cộng với phần quy định là 14.794 lạng 1 đồng cân 8 phân. Rất rõ ràng trừ một số bị ăn cắp ăn bớt đút túi riêng ra, toàn bộ số tiền này hầu như đều phung phí vào việc để biểu thị cái tôn nghiêm của đế vương. Đây còn chưa kể đến sự chi tiêu về điểm tâm, hoa quả; kẹo bánh, đồ uống... liên tiếp suốt năm.

            Cơm nước thổi nấu rất nhiều mà không ăn, còn quần áo thì may rất nhiều mà không mặc. Về mặt may mặc, tôi không nhớ được nhiều, chỉ biết rằng Hoàng hậu, quý phi có phần quy định, còn vua thì hoàn toàn không hạn chế, suốt năm lúc nào cung tíu tít may cắt nhưng đã may những thứ gì tôi cũng không biết, dù sao thì bao giờ cũng là mặc quần áo mới toanh.

            Tôi giữ được một tấm danh đơn không ghi rõ niên hiệu đầu đề “Phúc báo giá cả nhận thầu vật liệu đã dùng về việc may mặc” của Hoàng thượng từ ngày mùng 6 tháng 10 đến ngày 5 tháng 11”. Theo các khoản ghi trên đơn thì trong tháng này tôi đã may: 11 áo ngắn lót da thú, 6 áo bào lót da thú, 2 áo nịt lót da thú, 30 chiếc quần áo nịt và bông. Không kể công may vật liệu chính, chỉ riêng các khoản chi lặt vặt về chèn, viền, vải, bọc, khuy và chỉ đã hết 2.137 đồng 6 hào 3 xu.

            Phần quy định của Hoàng hậu và quý phi cũng rất đáng kể. Trong một cuốn sổ ghi các khoản chi tiêu sau khi tôi đã lấy vợ, trong đó có ghi luật lệ quy định số hàng dùng may mặc hàng năm của Hoàng hậu, quý phi nay thống kê cả lại như sau:

            Loại hàng           Hoàng hậu          Thục phi             4 thái phi            Tổng cộng

            Các loại đoạn          29 tấm                  15 tấm                92 tấm                 136 tấm

            các loại vóc             40 tấm                  21 tấm              108 tấm                 169 tấm

            Các loại da               16 tấm                   8 tấm                60 tấm                    81 tấm

            Các loại lĩnh               8 tấm                   5 tấm                28 tấm                    41 tấm

            Các loại vải              60 tấm                 30 tấm               144 tấm                 234 tấm

            Len và sợi                16 cân                    8 cân                 76 cân                  100 cân

            Bông                        40 cân                  20 cân               120 cân                  180 cân

            Kim tuyến                20 con                  10 con                76 con                  106 con

            Da điêu                     90 tấm                  30 tấm             280 tấm                  400 tấm

            Quần áo thay đổi của tôi cũng được quy định bằng văn bản hẳn hoi do thái giám kho “Tứ chấp sự” chịu trách nhiệm chuẩn bị. Theo  lời văn ghi trong đơn thì chỉ riêng một thứ bào khoác mặc thường hàng ngày mà trong một năm cũng phải thay đổi 28 loại, từ kiều bào khoác xanh trắng viền da thú mặc ngày 19 tháng giêng lần lần thay đến khoác da điêu thử mặc ngày mùng 1 tháng 11, còn các ngày tết, ngày hội lớn thì mức phức tạp của sắc phục càng không thể nào nói hết được.

            Một quản gia của vua là Phủ nội vụ, cai quản 7 ty: Quảng Trữ, Đô Ngu, Chưởng lễ, kế toán, Khánh phong, Thận hình, Doanh tạo (mỗi Ty đều có đầy đủ các đơn vị kho tàng, nơi làm việc như Ty Quảng Trữ có 66 kho vàng bạc, đồ sứ gấm vóc, quần áo, chè...) và 48 Sở trong hoàng cung, theo ghi chép trong cuốn “Thống kê chức tước phẩm trật” mùa thu năm Tuyên Thống thứ nhất thì số quan chức trong Phủ Nội vụ gồm 1.023 người (không kể quân cấm vệ, thái giám và tạp dịch). Năm Dân quốc thứ nhất đã giảm một số lớn, còn lại 600 người, đến khi tôi phải rời khỏi hoàng cung, ở đó vẫn còn trên 300 người. Cơ cấu to lớn, cồng kềnh, số người phục dịch đông đúc như thế nào thì một người bình thường còn có thể tưởng tượng ra được, nhưng đến cái buồn tẻ của công việc ấy thì không phải ai cũng biết được. Ví dụ: Như ý quán là một trong 48 Sở ở trong hoàng cung. Nơi này chuyên môn phục dịch cho vua cùng hoàng hậu vẽ và viết, nếu Thái hậu muốn vẽ gì thì nhân viên Như ý quán vẽ sẵn rồi Thái hậu tô mầu, đề từ. Viết đại tự, hoành phi, câu đối thì do Cấu tự tượng của điện Nhu Cần dạm thảo hoặc Hàn Lâm nam thư phòng viết thay. Những cái gọi là “Thái hậu ngự bút” hay “Ngự chế chi bảo” cuối thời Thanh phần lớn đều như vậy cả.

            Ngoài sự phô trương bày vẽ, những đền đài lầu các ở xung quanh, những vật trang trí, bày biện ở trong cung điện đối với tôi đều có tác dụng cả. Duy chỉ có đế vương mới được dùng ngói lưu ly vàng, điều này không phải nói, ngay đến tầm cao cửa nhà cửa cũng là thứ đặc cách dành riêng cho đế vương.

            Điều đó khiến tôi từ nhỏ đã nhận thức là không những khắp gầm trời đều là của nhà vua mà cả đến mảnh trời xanh trên đầu cũng không thuộc về một người khác. Mỗi vật bày biện trong cung là một giáo cụ trực quan của tôi. Nghe nói rằng nhà vua Càn Long đã từng quy định: tất cả mọi đồ vật trong hoàng cung dù chỉ là một ngọn cỏ cũng không để mất. Để câu nói ấy thành sự thật, vua Càn Long đã để mấy ngọn cỏ ở trên bàn đặt trong cung, cho người kiểm soát hàng ngày, thiếu một ngọn cũng không được, đặt tên là “Thôn thảo vi tiêu” (Tấc cỏ làm tiêu biểu - ND). Suốt mười mấy năm tôi ở trong cung, nắm cỏ ấy vẫn được bầy ở điện Dưỡng Tâm. Đó là một cái ống sắt tráng men “Cảnh thái lam” nhỏ, trong đựng 36 ngọn cỏ khô, xác dài chừng một tấc. Nắm cỏ khô ấy đã từng gợi nên lòng sùng bái man mác của tôi đối với tổ tiên và nó cũng gợi nên lòng căm thù sâu sắc của tôi đối với cuộc cách mạng Tân Hợi. Nhưng tôi tuyệt nhiên không nghĩ rằng nắm cỏ của Càn Long để lại ấy, tuy rằng không thiếu ngọn nào nhưng số đất  đai mọc đầy cỏ xanh mượt của Càn Long để lại đã bị con cháu hiến không cho các “nước thân thiện” thì kể có hàng ngàn kilômét vuông.

            Sự lãng phí do đời sống đế vương tạo nên đến nay, không có cách nào thống kê chính xác được. Theo bản “So sánh chi tiêu giữa năm Tuyên Thống thứ 7 với ba năm gần đó” của Phủ Nội vụ biên soạn, tài liệu ghi rằng: số chi trong năm Dân quốc thứ tư lên tới trên 2.790.000 lạng bạc. Tóm lại, dưới sự dung túng của nhà đương cục Dân quốc lúc đó, nhóm người do tôi đứng đầu vẫn phô trương bày vẽ như cũ, vẫn sống đời sống ỷ lại theo tiêu chuẩn cũ, hao phí biết bao mồ hôi nước mắt của nhân dân.

            Trong hoàng cung có một số quy tắc thoạt đầu không phải do sự phô trương bày vẽ mà ra, ví dụ như để thẻ bạc trong thức ăn, mỗi lần ra khỏi cửa là phải tiền hô, hậu ủng rầm rộ, bày binh bố trận cảnh giới mà lại là để phòng ngừa bị ám hại. Nghe nói vua không có nhà xí chính là vì có một đời vua ra ngoài đại tiện chạm phải thích khách. Nhưng ảnh hưởng của những câu chuyện này với sự phô trương bày vẽ kia để lại cho tôi chỉ là một: chẳng kể từ mặt nào, nó cũng buộc tôi phải xác nhận mình cao quý tuyệt vời, là trên mọi người, thống trị hết thảy, chiếm hữu hết thảy.

Chú thich:

(35) Giường đắp bằng đất nện, bên dưới đốt than để sưởi ấm trong mùa đông.

« Lùi
Tiến »