Hơi Thở Rướn Cong

Lượt đọc: 1741 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

Ngồi đối diện với ông Phủ, bà Hai mặc áo gấm, mang hài thêu, ngọc dắt, huyền đeo, nâng chung trà nhỏ nhắp từng ngụm chắp chắp hít hà. Hằng đi ngang, dừng lại rót một chén, ngồi xuống bên cha. Nốt ruồi bám ở má Hằng là một dấu hiệu có duyên nằm trên khuôn mặt hây hây hồng. Chiếc mũi thanh dọc trông như miếng đu đủ được cắt tỉa ra. Đôi mắt dài hình đuôi cá đựng cái nhìn không thẳng hút hồn.

Ông Phủ nhìn bà Hai:

- Cả đi chợ hay là còn đi mô nữa không mà ăn mặc bề vậy?

Bà Hai ho và nói:

- Đi phố, đi chợ.

Ông Phủ nhăn mặt:

- Đừng có đi lại Đền nghe không?

Bà Hai cúi xuống chiếc áo gấm màu đồng hỏi Hằng có đứa mô muốn đi chợ không? Những đứa con gái mặt chưa rửa lần lượt ra ngồi vào những chiếc ghế trống. Chị em Hằng đẹp không hơn không kém nhau, người nào cũng láu táu, tinh ranh. Chị Trang của Hằng đã có chồng mang cái bụng con so về nhà đẻ thằng cu đúng ba tháng thì biết lật.

Ông Phủ nhìn lại bà Hai:

- Cả đi mô thì nhớ mau mau mà về nhà sắp có khách đó.

Bà Hai ngước lên:

- Có khách à?

Ông Phủ cười:

- Khách quý lắm, đặc biệt lắm! Hân hạnh lắm!

Trang lanh miệng:

- Ai mà hồi hộp rứa ba?

- Một ông thầy, một nhà sư tốt nghiệp Tiến sĩ, dân chúng học ở ngoại quốc về, thầy Thiện Tân.

Hằng ngang giọng:

- Điệu Tân, cái Điệu Tân học trường Trần Cao Vân năm xưa với con đó. Mới nhỏ chút chéo đó mà bây giờ đã trở thành Thượng tọa với Đại đức… Học hành tu hành hoán cải mà mau dữ vậy không biết?

Đức che miệng ngáp, nhìn vào bức tranh Khổng Tử ú ớ một điều gì.

Hằng lại cười, mặt như được chiếu ánh sáng hồng:

- Năm xưa năm xửa ông ta học một lớp với con, cùng đi cùng về.

Ông Phủ nhìn Hằng:

- Bây giờ chắc thầy Thiện Tân không nhớ mi mô. Thầy đã đỗ Tiến sĩ.

Hằng cười:

- Lẹ quá! Bây giờ ai cũng gọi bằng sư bằng thầy… Lúc xưa anh chàng quê rích quê rang nói năng như mọi ú ớ… Lúc học lớp với con đó, anh chàng sún hết cả hai hàm răng, đầu tóc thì cạo láng còn chừa hai cái vá múc cháo… Cái đầu anh ta như đầu chó vá. Anh ta thông minh một cách kỳ lạ. Hồi đó hình như có một chàng tiểu nhỏ tên là Lý chi chi đó.

Ông Phủ nói giọng trầm:

- Điệu Lý chừ cũng lên thượng tọa rồi… hiền lành phúc đức như sư cụ chùa Từ linh năm xưa.

Hằng cong môi:

- Điệu Lý dốt lắm… miệng mồm ba hoa khoác lác mà học hành thì dốt ình. Cửu chương ba học mấy cũng không thuộc.

Bà Hai lấy trầu ăn:

- Người ta dốt chữ nhưng tu hành kinh kệ thì người ta giỏi. Sư cụ chùa Từ Linh thiệt có phước, đệ tử đều làm nên nấu chín.

Đức lên tiếng:

- Bên Phật tu hành dễ òm. Chịu khó ăn chay một tí là thành.

Bà Hai trừng mắt:

- Nói bậy tội chết.

Đức đều giọng:

- Tu hành bên Phật dễ hơn bên đạo nhiều, ai tu cũng thành hết.

Ông Phủ nạt:

- Đừng nói ba lơn rồi quen miệng đi.

Đức nói:

- Ăn chay là một luật điều hết sức khó, con có nói ăn chay dễ đâu. Phải dày công dày quả lắm mới ăn chay dài cả đời để làm thầy chú… Con đâu có bảo ăn chay là dễ. Ăn chay khó lắm, nên có người mới giấu đĩa rau muống một cái trứng vịt.

Bà Hai nghiêm mặt ngó Đức:

- Ai bảo con là có người ăn chay giấu trứng vịt dưới dĩa rau muống?

Đức nói:

- Người ta còn giấu cả thịt tôm ở dưới nữa.

Bà Hai nhăn nhó:

- Con đừng nói bậy.

Đức cười:

- Có nhiều người không đi tu được vì ăn chay không được.

Bà Hai đứng dậy sai Hằng vô lấy xách tay với nón quay găng. Ông Phủ nhìn vợ:

- Cả đi chợ mau mau về đó! Cả nhớ mua vài mớ mắm thật ngon trưa xào nấu đãi thầy.

Bà Hai cười:

- Còn hốt mấy mớ hụi rồi mới đi chợ.

Mỗi ngày bà Hai chơi hàng chục bát hụi nhỏ ngoài chợ với mấy mụ bán thịt bán cá bán rau, hành cải gạo cơm bún cháo bánh lá bánh hỏi. Bà Hai xuất ra một số vốn khá lớn cho mấy bạn hàng đó sớm vay chiều trả.

Mỗi ngày bà đóng tới hơn nghìn bạc, chừng hai tháng sau thu về đủ cho cả nhà ăn tiêu rộng rãi số tiền lời trong vài tháng. Còn cái vốn đem đóng lại. Bà quen mặt hết bạn hàng trong chợ búa và chưa bị họ giật tiền lần nào. Cái uy thế của ông Phủ, cái mồm miệng ma quái của bà khiến bạn hàng chợ không dám lèo lá lật lọng. Bà la to quở nhỏ, hét lên rú xuống nên cả chợ gọi bà là bà la.

Ông Phủ sai mở rộng cửa giữa đón Thượng tọa Thiện Tân vào. Sau chén trà Vũ Di, ông cho người nhà vô gọi mấy cô ai rảnh thì ra chào thầy.

Hằng đến trước mặt nha sư trẻ reo vui:

- Thưa thầy… Điệu Tân, Điệu còn nhớ con Hằng học trường Trần Cao Vân với thầy năm xưa không?

Nhà sư nhỏ nhìn thẳng một đường:

- Dạ cô… cô Hằng.

Hằng cười:

- Điệu Lý chừ cũng lớn rồi…

Ông Phủ nhìn con:

- Thầy đã đậu tiến sĩ, thầy đã được lên thượng tọa. Thầy Lý cũng lên thượng tọa, con đừng đùa nữa.

Ông Phủ quay qua nhà sư:

- Cháu Hằng lúc trước học lớp với thầy. Lúc nhỏ cháu thiệt thông minh. Nhưng lớn lên cháu bị bịnh tim phải nghỉ học tới ba năm rồi đi học lại, nhưng thi đâu hỏng đó. Bây giờ cháu mới học lớp đệ nhất thôi.

Ông Phủ chỉ Trang tiếp:

- Còn cháu đây là cháu Trang, vừa đẻ con so là một thằng cu. À, Trang, con vô bốc thằng cu ra đây cho thầy thưởng. Hằng trợn mắt đen huyền:

- Bốc thằng cu ra chào thầy răng được. Thằng cu đang làm nghề lật đi sông hoa cà hoa cải, đi tướt phèn phẹt. Ai “tướt” đi ngoài sương gió.

Mấy chị em cười hức hức nhìn ông thầy. Ông Phủ cau mặt:

- Tụi bay không biết thưa chuyện với thầy, cứ ba lơn hoài.

Hằng nói:

- Bây giờ kêu bằng thầy. Cứ nghĩ ngày xưa cứ ê Điệu Tân, ê Điệu Lý hoài mà cười chết luôn.

Ông Phủ nghiêm đôi mắt nhìn con gái. Thầy đây cái tâm vững hơn đồng, cái chí cứng hơn thép, trí có ngời như mặt nguyệt đêm rằm.

Thầy có chí hơn Trần Minh khố chuối, hơn Châu Trí đốt lá. Thầy cha mẹ không mô có. Sư cụ chùa Từ Linh nghèo xơ xác nhận thầy làm đệ tử nuôi thầy học kệ bữa cháo bữa rau. Rồi dân bạn hàng bên chợ thương thầy thông minh ý chí mới lạc qUyển tiền bạc đóng góp máu huyết với tủy sống của mình để đào tạo thầy nên danh nên trạng để thầy đem cái học lớn ra mà bưng đạo, thầy đem cái tài cao ra mà chống đỡ cho Phật giáo đứng vững, thầy thiệt giỏi không ai giỏi hơn thầy rồi đa. Học một biết mười, biết trăm. Thầy trẻ tuổi mà thiệt đáng phục rồi đa. Thầy thiệt xứng đáng với sự đóng góp của đồng bào tiểu thương. Từ những cái trứng, từ những bó rau, những của cải, những nắm đậu, nắm mè, những lon gạo, những mớ cá mớ tôm, miếng thịt, thầy đã thành danh một ông tấn sĩ, thầy đã thành danh một thượng tọa đức độ. Ai cũng khâm phục, ai cũng nể vì Phật giáo thật đã đến thời kỳ hưng thịnh.

Người tu hành chậm rãi nói:

- Chúng ta đang sống trong một cuộc sát sanh thật vĩ đại. Chiến tranh được tổ chức để ngăn chưa đừng cho đất nước thống nhất. Người lính ra trận đánh giặc để minh xác hai miền bờ cõi. Chủ đích của những người gây chiến là đừng để đất nước thống nhất nhưng lại hô hào hòa bình thống nhất quen mồm đi, để ngụy trang cho chiến tranh. Rồi những bài hát tuyên truyền, những bài văn tuyên truyền mong mỏi ca ngợi hy vọng hòa bình, thâu gồm một mối giang sơn để nối nhịp cầu Hiền Lương… Những bài kịch giả tạo đó chỉ là hia mão bằng giấy để tế cô hồn tử sĩ hoặc để an ủi thập loại chúng sanh mà thôi.

Ông Phủ đặt đũa xuống mâm:

- Ui trời ơi… bao nhiêu kẻ bị mắc cạn trong cái chiến tranh.

Đôi môi Hằng hồng đều như trong một cơn sốt rực rỡ. Hằng múc một chén cháo chay cầm muỗng lên ăn.

Đôi vai vuông được vắt xéo qua tấm áo màu cờ vàng thượng tọa, Thiện Tân có một dáng dấp chững chạc, vững vàng với hai bắp thịt tay no tròn. Đôi vai nhà sư không ngang bằng, bên khoác áo được đưa cao và bên kia hạ xuống, trông nhà sư có vẻ hiền lành chịu đựng. Mắt bí ẩn và miệng mím chặt.

Hằng bấm Uyển cười nhỏ:

- Cái miệng ông thầy, chuyện tình nhất định cạy không ra mà chuyện thời sự thì phun có vòi.

Uyển cười:

- Buồn cười nhất là ba mình, bỗng dưng đâm ra phản chiến. Mới ngày hôm kia ba còn thực dân phong kiến một cây.

Hằng to mắt:

- Thực dân phong kiến! Ba mà là một cây à! Ba một rừng chớ bộ.

Giọng nói người tu hành bằng bằng trầm hẳn xuống:

- Quả tim lính Mỹ đã ngừng đập ở đây, hơi lính Mỹ đã tắt ở đây, máu họ đã đổ ào, xương họ đã phơi trắng, và hồn ma họ lẫn khuất đâu đây trong bờ bụi, lùm cây ngọn cỏ. Không biết họ sát sinh vì ai và họ tự sát để cho ai? Chỉ biết rằng họ đã chi tiền để nuôi dưỡng chiến tranh, họ tung ra những thế cờ mà chính họ phá cũng không nổi. Những người Việt Nam được ủy nhiệm giữ cái chiến tranh này.

Hằng nhanh nhảu trả lời:

- Chết nhiều như dịch, chưa bao giờ tôi thấy số đàn ông chết nhiều như lúc này. Vâng, bởi đó, đàn ông đi tu nhiều như đi trốn, trốn chui trốn nhủi vào nhà chùa.

Trang đưa tay dưới bàn véo Hằng một cái mạnh. Hằng rụt cổ lại rồi nói tiếp:

- Chớ sao nữa? Còn chi nữa? Làm đàn ông là phải đẫm máu, phải hiến huyết, phải làm than làm củi, phải tự thiêu, phải tự siết cổ, phải hy sinh, phải bi đát. Có những bàn tay vô hình nấp sau lưng xô đẩy đàn ông vào chỗ chết, những bàn tay xô ập tới, và những đàn ông nằm sắp chết.

Có những bàn tay khổng lồ cầm ngang tuổi trẻ, cầm ngang eo xách cổ túm đầu ném vào bếp lửa… Báo đăng, radio đọc ngày hôm qua có chín mươi chín người chết ngày hôm nay có bảy mươi bảy người chết, và những người đàn ông nằm sắp chết. Mỗi ngày mỗi chết… Nam mô tiếp dẫn đạo sư A di Đà Phật.

Giọng nói người con gái giòn như sụn rướn lên, giảm xuống. Hằng gục mặt cười thành cơn. Mặt Hằng đẹp nõn nà, mắt mũi miệng thân hình chi chi cũng đều thơm tho xinh xắn. Hằng đã qua Nhật sửa nhan sắc, thay đổi vài nét trên bộ mặt cho đẹp hơn nữa để đem về nước một giai phẩm hình hài tuyệt hảo. Nhà sư lắc đầu nhìn qua hơi hé cười rồi lại ngồi ngay ngắn liền.

Ông Phủ trứng mắt:

- Cái miệng con Hằng lúc nào cũng be be lóc lách chọt chét không ra cái chi chi hết, có khách có khứa mà.

Hằng bấm Uyển:

- Ngó mặt mũi nhà sư non này tui tức cười quá! Hi! Ngày xưa anh chàng ngốc nghếch quê mùa cười chết luôn. Anh chàng nói cái thứ tiếng chi mà sai chính tả hết… Mỗi lần tui sáp lại hỏi chuyện là anh chàng lập tức chui vào nách anh chàng kia. Điệu Tân, Điệu Lý, cả hai đều mê đọc tiểu thuyết. Quê ơi là quê.

Uyển xì hơi:

- Người ta là ông thầy mà kêu là anh chàng. Trường hợp mình là bạn bè cũ nên kêu bằng chú…

Quanh mâm cơm, sự hoạt động đều đều và từ từ. Mọi người ăn vui ăn ngon. Ông Phủ hết lòng mời cơm khách. Cơm chay mà biết nấu ăn còn ngon hơn ăn mắm. Theo tôi thì mỗi tháng nên ăn chay thật nhiều lần cho nhẹ bụng. Ăn chay trí óc dễ thông minh hơn ăn mặn. Cái bao tử mà nhét đầy thịt cá thì dục vọng dễ xông lên mờ óc não đi.

Hằng nhếch mép cười cầm hơi:

- Ngày xưa tổ cha chúng ta là Lạc Long Quân, tổ mẹ chúng ta là Âu Cơ quanh năm ăn thịt sống cá sống nên dục vọng quá phát triển, làm ái tình với nhau, ăn ở với nhau một trăm mặt con trai rồi chán nhau, xung khắc nhau, đòi đi riêng. Đẻ một trăm thằng con trai sờ sờ ra đó mà còn ly dị, mà còn ly thân, mà còn chia đôi con cái rồi mạnh bà bà đem lên núi, mạnh ông ông đem xuống biển. Người xưa đã không hòa, thì người nay, chúng ta hòa sao được. Gương xấu của tiền nhân còn để lại kếch xù ra đó dạy cho chúng ta chỉ ly khai chứ đừng có liên hiệp.

Bà Hai nhìn Hằng:

- Phiền, con gái con gung mà cứ ưng nói mấy chuyện cái chuyện chi mô. Đức phát lên cười. Minh lừ mắt đứng dậy. Giữa bữa ăn có nhạc. Nhạc mát như hai cánh cửa đã mở toát: một buổi mai mùa xuân trời xanh thẳm và mây bay lửng thửng, có một đàn chim nhỏ từ thiên đường bay xuống trần gian ríu rít kể chuyện nàng tiên vì một lỗi lầm vụng về bị lưu đày vào chốn bụi hồng ở chung với người hạ giới, nàng tiên biến thành một đóa hoa thơm ngát và cõi trần tự đó cũng thơm lừng.

Nàng tiên rời bỏ thiên đường bằng lòng nhập cuộc ái ân tục lụy. Tự nó không gian mênh mông ngập đầy thương nhớ và đời được chất ngất lớp mộng mị mỏng dày. Cõi tục là cõi tình bát ngát không thể tích có người nam người nữ yêu nhau. Ở cõi tiên chuyện gì cũng thường quá vì người nam người nữ đều đi tu. Ở cõi trên, tình yêu không có.

Bà hai nhìn Minh:

- Mấy cái đĩa “Hoa rơi cửa Phật, “Sự tích Quan Âm Thị Kính” cho người ta mượn thì lấy về để chạy hầu thầy đi con.

Đức cười:

- Phải rồi, đòi cái đĩa “Hoa rơi cửa Phật” về để chạy cho thầy nghe.

Ông Phủ ngó thầy Thiện Tân:

- Thưa thầy, cháu Đức bị bịnh, cháu hay nói năng bất thường.

Đức vẫn cười đùa:

- Ông thầy chắc mê bản “Hoa rơi cửa Phật”. Ôi chưa đầy hai năm mà một vẻ đẹp thùy mị trước kia nay đã thành thân tàn ma dại. Em Lan ôi, tội tình chi mà em phải dọa đày, anh đã đoạn tình cùng Thúy Liễu, anh lên đây rước em về.

Ông Phủ quắc mắt:

- Đức!

Bà Hai đứng dậy đi vào trong đem ra mấy chùm vải trạn. Mới tráng miệng, vải vườn nhà đó. Cây vải trạn trái sai thiệt sai rồi đa, đúng ba năm mới có trái một lần. Trái nào trái nấy tròn ú hộ xép xẹp toàn cả cơm không à, mời thầy tráng miệng.

Ông Phủ hỏi:

- Thầy về nước thầy có đi thăm ngôi trường cũ mình học năm xưa không?

Thiện Tân trù trừ chưa trả lời, Đức cười:

- Thầy làm nên nấu chín rồi, thầy phải đi thăm mái trường xưa mới oai. Như ông Carnot xưa là một ông quan to nước Pháp, một hôm nhân rảnh việc về thăm quê nhà, nhân đi ngang qua ngôi trường cũ ngày xưa, ông ghé vào thăm, thấy ông thầy dạy mình học ngày xưa…

Ông Phủ nạt:

- Đức!

Bà Hai lắc đầu:

- Ăn nói chướng ghê! Con gái càng lớn càng ngang phành phành như cua bò. Chuyện người ta đang xuôi thẳng mà cứ đâm cứ quẹo vô hoài. Con nên đợi khi nào thầy rảnh để hỏi han sách vở kinh kệ.

Minh lừ mắt:

- Cứ lăng phăng, lảm nhảm, lè nhè hoài à.

Thượng tọa Thiện Tân vừa bóc vỏ vải vừa từ tốn nói:

- Từ khi về nước tôi chưa thăm lại ngôi trường cũ nhưng tôi đã đi thăm các chợ.

Ông Phủ ngước lên:

- Đồng bào các chợ có lên thăm chùa mà!

Thiện Tân cười:

- Dạ, bổn phận tôi phải thăm chợ trước. Tôi bước vô chợ Đông Ba lúc trời mưa ào ào, nước bẩn thỉu ngập tới mắt cá. Tôi lại chỗ hàng gạo với hàng thịt đứng nhìn như ngày xưa tôi với chú Lý đứng chu mõm nghếch mắt ngó bà hàng thịt quay cãi lộn với cụ Chắc mua thịt quên trả tiền, bà hàng cá nói thách trên trời nhưng lại bán bằng cái giá quá thấp như mặt đất. Bà Bá vẫn ngồi sau quày thịt heo, một bên bán thịt luộc, một bên bán thịt sống. Tôi đi hết đình chợ ngang qua hàng rau mệ bán mướp giờ đã chết, vợ ông cảnh sát bán đồ gia vị vẫn hàm hồ chửi khách hàng có quai ở miệng, bác bán đậu vẫn còn ngồi bán đậu. Tôi đi ra phía cây thị.

Những trái bứa, những trái thị, trái chay, chùm dâu sậu tôi không còn mê ăn nữa, chú Lý cũng không còn mê ăn nữa. Thầy Lý nay rỡ ràng là một bậc chân tu.

Thượng tọa Thiện Tân đứng dậy.

Qua giấc ngủ trưa nhà sư đang ngồi đọc sách thì Đức đi vào, nhà sư luống cuống đứng dậy, Đức cười:

- Thưa thầy, Đức có thể gọi thầy bằng chú được không. Nhà sư ngồi xuống chiếc ghế trường kỹ, đôi mắt chỉ nhìn ngang cổ người con gái.

Đức long lanh cái nhìn:

- Những người quen tôi từ xưa vẫn gọi tôi bằng cô.

Đức bưng miệng cười một chút rồi nói lớn:

- Có những người xuất gia rồi mà thật lắm tài sẵn… Thầy có đọc bài thơ tình của ngài đại đức gì đó không? Có cả một biển bọt mê đắm tình tứ. Đây này thầy:

“Ngày xưa anh đón em,

Trên gác chuông chùa nọ.

Bây giờ anh qua đó

Còn thấy chữ trong chuông.

Anh khoác áo nâu sòng,

Em chân trời biền biệt

Tên ai còn tha thiết,

Trong tiếng vọng chuông đưa”.

Đức lại cười, đôi môi nắn nót thành nét vẽ khác:

- Thầy coi tu hành dễ có mấy tay!

Nhà sư lắc đầu nhẹ rồi lẳng lặng cúi xuống bàn, ánh mắt bám chặt trang sách.

Đức nhỗm người lên:

- Đi tu còn có quyền làm thơ tình không hở thầy?

Thiện Tân nói:

- Tôi không nghiêm khắc, tôi cũng không buông lơi nên tôi không xét đoán được.

Mắt Đức sáng rực:

- Thầy có chấp nhận giọng thơ đó không?

- Đó là một phút nhớ lại của thi sĩ.

Đức trề môi cười:

- Thầy có làm thơ lối đó được không?

Nhà sư lắc đầu dìu dịu.

Đức hỏi:

- Thầy qua Nhật thầy có học võ Nhu đạo không?

Thiện Tân cất tiếng cười cụt ngủn:

- Lúc xưa tôi đã ao ước qua Nhật sẽ học võ đó cô… Thầy Lý cũng biểu tôi qua bển học võ xong rồi về nước truyền lại cho thầy.

Đức cười giòn tan:

- Nhưng thầy có học võ không?

Nhà sư lắc đầu. Ngày xưa tôi tưởng mình có thể học hết mọi món võ của nước ngoài. Thầy Lý biểu tui trước hết học Judo, học Hiệp khí đạo, học võ vật bậy, võ Tàu rồi sau lại học đánh bốc, võ Karaté. Qua bển mới thấy cái sức của mình chỉ đủ để học chữ nghĩa kinh kệ xong rồi về.

Đức lắc đầu:

- Học Nhu đạo phải ăn nhiều, như thượng tọa Thích Trí Giác mỗi ngày phải ăn mười bảy miếng đậu.

Nhà sư cười tươi:

- Hơi nhiều.

- Còn phải ăn rau nữa, mỗi ngày thầy thượng tọa đó phải ăn sáu ký rau.

-??

- Vâng, sáu ký rau với bốn nải chuối.

Nhà sư cười vừa phải:

- Mỗi ngày phải ăn mười bảy miếng đậu, sáu ký rau cải với bốn nải chuối… Học võ như vậy tốn quá, học làm gì.

Có tiếng bà Hai kêu Đức ở nhà ngoài.

Thượng tọa Thiện Tân đứng dưới dàn dưa xếp những lá to ướt láng. Những tiếng nổ lớn như rót cầu vồng từ một vài hố đen thâm kia. Nhà sư nhớ lại những đêm ân ái cũ.

Những đêm không tiếng nổ, ngã tư không ông lính cầm súng, lòng đường không biển cấm, cuộc sống giòn và đều thênh thang chảy từ cái khúc sông thanh bình của buổi chiều nắng nhạt, chảy sang cái dòng suối thở kêu của buổi tối lên đèn, chảy tiếp vào cái chiều sâu độ lượng nhất của đêm không giới nghiêm chảy sang tới cái ánh hồng buổi sáng hôm sau.

Thượng tọa Thiện Tân chợt đứng lặng nghe tiếng hát. Một tiếng hát đi lên theo những đường nét mơ hồ thật bát ngát và thật mênh mông rộng ra nhưng vẫn còn thể tích và êm đềm uốn éo như dải lụa dài múa từ tay cô gái cổ, thật cao nhưng không xoáy mà lãng đãng như toán mây du mục, mà vút lên thăm thẳm. Một tiếng rực rỡ nhưng không hoa hòe chói chang như tuyết băng nằm dưới ánh trời, mà rực rỡ màu vàng của tóc cô gái Tây phương. Và cũng láng như mỡ gà, và cũng âm thầm như sò hến. Và cũng tha thiết như tiếng người cha ngâm truyện Kiều thay vợ dỗ con ngủ. Và cũng lẳng lơ như mắt thôn nữ khi đối diện chàng trai đẹp đêm hát chao.

Vài tiếng nổ nữa lẻ tẻ, đạn rơi xa. Xa mình nhưng gần người. Thượng tọa Thiện Tân lãng sang những tiếng nổ lẻ rồi lại quay về với những âm thanh đang lượn vòng chung quanh. Con gái nhà này hình như ai hát cũng hay. Cậu Minh đờn tài lắm. Lúc nhỏ mình vẫn thán phục. Lúc học trường Trần Cao Vân, Hằng nó bày cho mình mấy bài hát ngộ quá, hát lên một cái là ông la mắng sa đà cả ngày. Thượng tọa Thiện Tân như ngước nhìn tiếng hát. Có lẽ đây là giọng của Hằng,. Anh suốt đời mong chờ mùa thu xanh và anh yêu đàn bướm nhiều màu đậu trên liếp hoa cải vàng giỡn cười trên khóm hồng gai góc và vì em cứ mặc áo màu xanh hoài. Anh yêu mùa thu suốt đời và suốt đời anh không quên áo em, mặc dầu em chỉ đến với anh mùa thu đó. Thu nay anh nhớ nhiều tiếc nhiều. Đêm thao thức nghe cây trút lá, anh chỗi dậy dạo bản đàn cũ và cảm thấy thương yêu em và tha thứ em vô cùng.

- Dạ thưa thầy, quan của con mời thầy vô dùng nước trà.

Thiện Tân đi theo người nhà vào ngồi trong phong ông Phủ. Người bạn vong niên của nhà sư đeo kính cận như đang xem sách.

Ông Phủ đẩy tách nước trà về phía Thiện Tân:

- Thầy có quen uống nước trà đêm không?

Nhà sư lễ phép:

- Dạ.

Ông Phủ cười:

- Uống nước trà về đêm đâu có mất ngủ như người ta in trí… Tôi tuổi già rồi thầy… tôi sục sạo ăn uống cho tới mười hai giờ đêm mới đi ngủ.

Nhà sư hỏi:

- Dạ, cụ đi nghỉ như rứa là hơi khuya.

- Bất cứ ông quan Việt Nam nào cũng hư hỏng hết thầy ạ, tui là một ông quan tài thức khuya dậy trưa quen đi rồi.

Ông Phủ mở rộng hộp giấy bóng hồng điều. Đây mời thầy dùng, bánh ngọt dì Hai làm đấy, dì Hai cái gì cũng biết làm, còn mấy đứa con thì cả ngày cả đêm tưng tưng ca hát. Cái con Hằng có khiếu âm nhạc ghê gớm lắm. Cháu ưng làm ca sĩ mà tui nghĩ nhà mình danh giá tui không cho.

Ông Phủ nhìn ngay vào người đối diện. Thiện Tân nghiêm trang đường bệ như tượng.

Ông Phủ hỏi:

- Hồi chiều có phải con cháu Đức qua phá thầy?

Thiện Tân lắc đầu:

- Dạ không, cô ấy sang nói chuyện vui tí rồi thôi.

Ông Phủ bình thản:

- Con cháu Đức lúc trước hắn điên la làng ơi ới cả đêm, chữa chạy xoắn vó lên mà không khỏi. Rồi tui cứ liều để rứa, mấy năm sau hắn tỉnh dần dần. Bây giờ hắn có vẽ bình thường rồi, nhưng thỉnh thoảng hơi khùng một chút.

Nhà sư im lặng, ông Phủ nói luôn:

- Hình như ông có để lại một bộ sách thuốc gia truyền bí mật lắm, khi nào rãnh thầy lục lại cho tôi mượn để tra cứu mà chữa bịnh cho các cháu.

Nhà sư ân cần:

- Dạ cuốn sách đó lúc nào cháu cũng đem theo bên mình cả, để xin đưa cụ mượn.

Ông Phủ ngả đầu lên ghế lim dim mắt. Tui bây giờ không có đọc sách báo hằng ngày rồi đa! Mặc kệ cha thời thế răng thì răng, miễn mình sống cho sướng là được và đừng làm quấy làm phiền ai hết. Mặc kệ cái cha tình hình ra răng thì ra. Bây giờ được ngồi mạn đàm với thầy đây, lòng thấy hể hả sung sướng. Lát nữa vào giường ngủ ngay một giấc thật nhẹ. Ngày mai thức dậy sẽ thấy ngày mai thật tươi với ly nước trà thật vàng. Rửa mặt xong đủng đỉnh ra ngoài vườn thăm cây thăm lá.

Tia nắng non đầu ngày rực hồng khuyến khích chúng ta bắt tay vào việc. Mấy con chim nuôi trong lồng cũng hót hay như chim tự do, gió quạt từng đợt mỏng, mình cảm thấy hết sức bằng lòng cái buổi sáng trước mắt mình. Thế là mình có hạnh phúc rồi dù có hạnh phúc đó nó rẻ, nó dễ. Rồi buổi trưa đến khó thở một chút nhưng vẫn có một chút gì ảo mộng mình lim dim mắt nghĩ đến một giấc ngủ ngắn, vứt cuốn sách đọc nửa chừng xuống giường. Mình phải thu hẹp giấc ngủ trưa lại để có một buổi chiều dài. Phải tắm một phát vì nắng càng vàng càng nóng, không khí hơi ồn lên một tí, mình phải làm việc. Đợi buổi chiều dịu lại rồi mình mới trầm tư.

Mình có thể trầm tư, có thể mơ mộng, có thể nhớ dai đến những chuyện buồn hay chuyện vui… là một ngày của tôi, một ngày đẹp, một ngày dễ chịu, một ngày vừa ý phải không thầy?

Nhà sư đáp:

- Dạ, thời gian này là thời gian cụ rút về an hưởng.

Ông Phủ tiếp:

- Mấy thằng con trái của tui ở ngoại quốc cứ gởi thư về hoài mời tui đi du chơi một chuyến mà tôi ngại lắm. Mình ở Việt Nam trưởng giả quen rồi.

Ông Phủ cầm Thiện Tân ở lại nói chuyện tới 11 giờ đêm.

Bà Hai tự tay mang đồ điểm tâm vào phòng. Mời thầy dùng ngay cho nóng thầy. Bánh bao bánh bé bột la khê nhân thập cẩm với nấm đây thầy, mấy mẹ con thức dậy hồi năm giờ sáng nhồi bột bắt bột rồi hấp liền đó. Ông Phủ tui vô Saigon ăn bánh bao ở nhà hàng Đại La Thiên ngon quá, về khen mãi bắt mấy mẹ con tập làm mãi không được. Làm mãi làm hoài thành ra thứ bánh này đây, ông Phủ tui ổng ăn ổng khen lắm. Thầy dùng đi cho nóng thầy.

Thiện Tân hơi đỏ mặt:

- Cháu ở đây được hai cụ cho ăn ngon không hơ… sợ về chùa ăn kham khổ không được.

Bà Hai cười:

- Thầy nói chi rứa thầy? Rước được thầy về là may cho cả nhà rồi còn chi nữa.

Thiện Tân cầm chiếc bánh bao đưa lên ăn khi bà Hai đi ra đóng cửa lại… Bánh bao ngày xưa thầy Lý biểu mình đi chỗ nào người ta dọn bánh bao thì đừng ăn. Bánh bao nhân thịt người, trong ruột bánh có chiếc móng tay ngày xưa, cái đầu sao lúc nào cũng đầy tưởng tượng.

Thiện Tân ngồi xem sách hết trọn buổi. Bốn giờ chiều ông Phủ mời nhà sư cùng đi xuống Dạ Lê xem một miếng đất.

Ông Phủ nói:

- Ngôi chùa Từ Linh phía sau mối ăn nhiều quá… Để tui sẽ kêu thợ xây alị… Đập hẳn ra xây lại.

Thiện Tân chắp tay:

- Dạ… làm như vậy tốn kém quá! Tui sẽ xin đi dạy học kiếm tiền rồi để dành tiền dần dần… Nay sửa cái này, mai sửa cái khác.

Ông Phủ xua tay:

- Ồ, có chi thầy, sức tui còn lo được chùa, thầy cứ để tui lo.

Thiện Tân hỏi:

- Cụ xem miếng đất này của ai ạ?

Tui có cho hai vợ chồng một ông bạn mượn năm chục nghìn đồng bạc từ năm một ngàn chín trăm ba mươi mốt lận. Hai vợ chồng làm ăn thua quá… Họ không trả tiền cho tui… Mấy chục năm rồi họ cũng vẫn chưa trả mà tui thì cũng đòi lấy lệ, không có đòi thật tình… Ba chục năm rồi đó thầy… Trong ba chục năm đó thì số tiền kia đẻ ra bao nhiêu tiền lời.

Nhà sư nói:

- Nợ từ ba chục năm không lấy vốn lời gì hết?

Ông Phủ gật:

- Ba chục năm vẫn cứ năm chục ngàn. Bây giờ bà ấy về Saigon bà ấy mới cấn miếng đất cho tui. Tui ngần ngại hết sức, đất đai thì trồng trọt được nhưng ai làm nhà làm cửa ở đây. Thầy coi thử miếng đất này có được không? Tui xin cúng cho chùa.

Hằng khẽ đọc hai câu thơ của Chu Mạnh Trinh rồi lim dim mắt êm đềm kể lể. Thầy đi tu từ tấm bé, đời của thầy là một gian phòng kín gạt bỏ ra ngoài hết cả những tạp âm ồn nặng của cảnh ở ngoài, thầy có những lời trầm quế châu ngọc dành cho đời. Đời thầy là một cuộc vật lộn lâu dài, thầy coi thân xác thầy là một sự vay mượn. Sống là tạm, chết là về, thầy về thẳng Niết Bàn. Ở Niết Bàn không có con, con có mặt ở địa ngục.

Hằng nói bằng một giọng dài êm không còn lim dim mà nhướng lên ngó nhà sư. Thượng tọa Thiện Tân ngậm miệng cứng cắm cúi nhìn nghiêm chỉnh vào những trang sách đang trải trước mặt để khỏi phì cười trước những lời lẽ ngây thơ quan niệm đi tu là làm một cuộc phiêu lưu đẹp, là bước vào một giấc trường mộng huy hoàng rực rỡ dưng bằng nét vẽ tưởng tượng.

Hằng khẽ đọc:

“Thỏ thẻ rừng mai chim cùng trái,

Lững lờ khe yến cá nghe kinh

Thoáng bên tai một tiếng chài kình

Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.

Này suối giải oan, này hang Cửa Võng,

Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh.

Nhác trông lên ai khéo vẽ hình

Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt”.

Thượng tọa Thiện Tân phì cười vui tươi hỏi:

- Chắc cô đang muốn lên tiên…Cô vừa phác họa ra một bồng lai tiên cảnh.

Hằng nhanh nhảu:

- Không, đó là Niết Bàn… Vì ở đó không có tình yêu và không có thịt súc vật, không có cả mắm tôm cua.

Hằng cười nụ nhỏ phác họa ngay một cửa chùa nhỏ, một vị trí niềm tin góc cạnh khổ lớn.

Tiếng nói của nàng thật êm:

- Mỗi năm vào buổi chiều Nguyên đán con đều đi thăm chùa, đi thăm thật nhiều ngôi chùa, không khí ở đâu cũng giống ở đâu, những mặt người ở đâu cũng giống ở đâu.

Nhà sư hỏi:

- Tại sao những mặt người ở đâu cũng giống ở đâu?

Người con gái trầm giọng:

- Những nhà sư mà con đã gặp trong ngày mùng một Tết, con nhìn thấy những chiếc đầu ai cũng không có chứa những giấc mộng, những đôi mắt của ai cũng không đựng những tham vọng.

Hằng lim dim lát lâu mới tiếp:

- Hình hài chỉ là một sự cầm tạm nên ngày mồng một Tết những nhà sư miễn cưỡng ăn mứt.

Thượng tọa cười:

- Ăn cả bánh chưng nữa.

Hằng gật:

- Bánh chưng chay nhân đậu xanh ngọt.

Nhà sư dịu giọng hỏi:

- Có phải cô cố ý đi chùa ngày mồng một Tết?

Hằng cười:

- Đó là thói quen của ba và cả nhà bắt chước.

Nhà sư vui vẻ hỏi:

- Ngoài ra cả năm cô không còn đi chùa ngày nào nữa?

- Đi nhiều chứ. Đi với dì Hai. Dì Hai đi chùa vào những ngày rằm. Không đi chùa thì dì Hai ăn không được ngủ không được.

Nhà sư nhướng mắt:

- Sao vậy?

- Dạ, vì yên tâm. Có những người đàn bà quan niệm rằng là mình cứ làm những việc ác đi, cứ làm đi rồi vào chùa sẽ hết tội liền một khi.

Nhà sư trầm ngâm, đôi môi mím chặt khó cạy. Hằng vội lật đật nói tiếp:

- Ấy ấy, con nói vậy là đại khái thôi, thầy đừng lầm tưởng dì Hai con độc ác. Không phải vậy đâu, dì Hai hiền lắm.

Căn nhà của vợ chồng Trang đã mở cửa, bà vú múc xô nước lớn nhúng giẻ vào lau những cây song cửa sổ. Lùm cây đằng trước cổng xanh um, trong đó có cây nhãn năm nào cũng không có trái.

Hằng cười giữa hai nét môi vui:

- Em là con của dì Hai, dì Hai làm vợ bé nên em không được gọi mẹ em bằng mẹ. Em ức quá, mẹ em mà em không được gọi bằng mẹ.. Em phải gọi mẹ em bằng dì.

Thiện Tân:

- Bà Hai thật tốt.

Hằng đưa tay soạn chồng sách trước mặt. Những ngón tay đẹp như những búp ngọc lan. Ngón tay cái tròn hơn những ngón tay khác.

Hằng đặt tay lên gáy vàng một cuốn tự điển:

- Em bắt đầu học chữ Tàu có hơn hai năm mà em đã biết khá nhiều… Ba em dạy cho em dịch được cả sách Tàu, em đọc được bộ Đông Chu Liệt Quốc mà đọc cả nguyên văn cơ. Ba em còn dạy em thưởng thức cả thơ Đường, em đang ham dịch thơ của Lý Thương Ẩn, em dịch trọn cả bài “Ba sơn dạ vũ” cũng theo thể thơ bảy chữ tám câu.

Nhà sư cười:

- Cô Hằng dịch thơ Lý Thương Ẩn chứ không phải cô Hằng hát nhạc cải cách.

Hằng reo giòn:

- Ngày xưa em dạy thầy bài hát gì nè?

- Không tiền cho nên đói ròng nằm co. Không tiền cho nên sống bà con không có.

Hằng tiếp:

- Con người như điên cũng vì thiếu thốn tiền. Tiền luôn trong túi có ai khinh mình.

Hai người cùng cười, Hằng vui:

- Ngày xưa đi học Điệu Lý luôn luôn cáu kỉnh.

- Thầy ấy bị ảnh hưởng tính nết của ông tui.

Hằng rút vai:

- Nghe nói ông gắt như mắm mòi.

Hằng nói dứt câu thè lưỡi dài như rắn học trò. Có tiếng động ở cửa, bà vú giữ con của Trang cầm chổi cau ra quét sân vào đụn rơm vàng hình nấm rơm. Đàn gà con đang lích tích kiếm mồi, đi lúc thúc tròn trịa. Mỗi con gà đẹp như một nấm bông phết màu.

Hằng nhún nhẩy nhẹ:

- Thầy còn nhớ năm xưa đi học trường Trần Cao Vân không? Em là người học trò đầu tiên mặc áo đầm đi học… Em mặc áo đầm làm mấy tụi chửi quá, cô giáo cũng không ưa. Cô giáo đến nhà khuyên em không được mặc áo đầm đi học.

Hằng rút cổ miệng hư hư ư ử nheo mắt nhìn vào một chỗ nào đó. Hằng cười một tiếng ngắn rồi mặt mày tỉnh rót như không:

- Ngày xưa em đố thầy đường Lê Lợi với đường Trần Hưng Đạo có mấy cây cột đèn điện, thầy trả lời trật lất. Bây giờ em đố thầy lại, thầy trả lời được không?

Nhà sư lắc đầu:

- Ngày nay còn dốt hơn ngày xưa nữa.

Hằng nói sau tiếng hít hà:

- Ngày xưa mấy tụi cũng hay xúi thầy với thầy Lý đi coi nước lụt người ta câu cá, tới nhà xác coi người ta chết, đi tới nhà thương điên coi mụ điên méo miệng hát lên đồng. Thấy thấy bây giờ thầy đã là một thượng tọa danh tiếng rồi, những kỷ niệm ngày xưa thầy còn thấy đẹp nữa không?

Nhà sư đăm chiêu:

- Mỗi một đời sống chúng ta gồm rất nhiều đoạn hạnh phúc hồng.

Hằng nhìn xa xăm và chợt cười:

- Vui ghê thầy ơi, năm nay em học viết với cha Thịnh, cha thương em vô số kể. Đến trường thì em gặp cha, về nhà thì em có thầy, nghĩa là ở nhà thì có Niết Bàn còn ở trường học thì có Thiên Đàng.

Nhà sư chép miệng:

- Cha Thịnh là nhất rồi còn gì nữa.

- Ui, cha giảng bài thì đều đều một giọng buồn ngủ quá là, nhưng khi cha kể chuyện thì vui lắm, cha ăn nói bạo mồm bạo miệng bạo gan bạo phổi.

- Vì ngài giỏi quá nên ngài khinh đời và ai ngài cũng khinh hết.

- Trừ thầy ngài không khinh vì thầy cũng giỏi như ngài.

Nhà sư đưa tay:

- Cô Hằng để tôi nói thêm: ngài cao cả quá nên ngài thương người và ai cũng thương ngài hết.

Hằng mím môi:

- Cha Thịnh có nhiều người ghét lắm, học trò cũng rất nhiều đứa ghét cha vì cha hơi một tí bất công. Đúng hơn vì cha hay ban ơn cho người ta quá và sự ban ơn đó không đồng đều, những kẻ không được hưởng ơn đã ghét cha.

Nhà sư gật đầu:

- Có lẽ đúng.

- Cha Thịnh là một chính khách thì đúng hơn.

Hằng rút cổ miệng hư hư ư ử nheo mắt nhìn vào một chỗ nào đó. Hằng hát lên thật nhỏ, Hằng cười thật nhiều tiếng ngắn rồi mặt mày tỉnh rót như không:

- Em sẽ bỏ nghiên cứu âm nhạc ít lâu, vì em bắt đầu yêu thơ Đường. Thơ Đường đẹp vì chúng ta có âm thanh để rung nó. Thơ Đường thật sâu sắc không tài nào hiểu nổi, sâu sắc đến độ làm người ta hiểu lầm. Khi đọc lên, em cảm thấy có một chút hơi lạnh se se cho cảm giác muốn nhâm nhi tách trà thơm, khiến em trông ngóng một đốm nắng vàng hanh, khiến em mềm người ra mơ mộng. Bao giờ đọc hai câu thơ kết, em cũng thấy có một bẹ cau non nào đó nhô ra ngoài để ngậm giọt sương trời. Đó là một thứ mầm cây thật chất non dai và cũng thật đầy hy vọng. Bài thơ đường đẹp như một sự bắt đầu của tàn tạ của tàn tạ của tuyệt vọng nó mang một dấu hiệu ngầm hết sức bí mật của tình yêu, dễ dàng hòa vào kỷ niệm sẵn có trong lòng chúng ta.

Thượng tọa Thiện Tân nhấc môi cười méo mó, ánh mắt bừng sáng rụt rè:

- Không ngờ cô Hằng mê thơ Đường đến vậy. Lý Thương Ẩn có làm một bài thơ bí hiểm từ xưa chưa có ai dịch cả. Bài thơ hay ghê!

Hằng xoay đầu:

- Bài thơ gì vậy thầy?

- Tôi quên bẵng ngay cái đầu đề… Lát nữa tìm lại xem.

Có tiếng Trang gọi bà vú giật giọng như gọi đò. Bội nói bà Trang cái miệng như cái tu huýt. Lúc còn bé bà ấy gầy quá nên nhà kêu là con Còi, lớn lên cái miệng y hệt như cái còi.

Thiện Tân lơ đãng uống trà, Hằng tiếp:

- Thơ tự nó đã hay, đã sẵn âm nhạc. Em nghĩ rằng người ta không cần phổ những bài thơ thành ca khúc. Như thế, sẽ mất cái giọng thơ đi.

Nhà sư trẻ xa xôi:

- Giữa thời buổi này chẳng có gì tồn tại cả. Thơ rồi cũng sẽ bay lên trời, nhạc rồi cũng sẽ bay lên trời cất giọng than khóc cho thế giới. Thế giới bây giờ chỉ có sự đau khổ là thật.

Trong nhà có tiếng kêu Hằng. Hằng nói với thầy Thiện Tân em vào trong này một chút. Cả nhà đang ngồi chung quanh mâm cháo gà chưa ăn, tiếng bà Hai mắng chị bếp bên dưới:

- Rau muống thì lặt ngắn ngắn, gắp miếng mô chấm vừa miếng nấy, lặt chi mà dài lòng thòng kéo lên cả nùi như râu ông cố đạo rứa không biết.

- Rau nấu canh thì lặt ngắn, rau luộc thì phải lặt dài mỗi đọt chấm mỗi miếng.

- Dài quá thì phải ngắt ngăn phần già đi chớ bộ… À, chị đem trầu ra cho tui têm cho chị đi, rửa nải chuối cho tui cúng… Ui cái chị ni tệ quá, nải chuối cau chị mua nhằm chuối vú vôi rồi.

- Chuối chín cây đó, đâu phải chuối vú vôi.

Tiếng bà Hai:

- Ngó cái nước da vàng nhợt thế này mà chín cây… chín cây cái con cầy. Mua chuối phải lựa cái phần sau mua cau lựa phần trước… già rồi mà còn hớ.

Nụ cười bật nhỏ ngộ nghĩnh, Túc đứng lên rồi Túc ngồi xuống. Đôi mắt Túc bén như dao thuốc bắc. Ông Phủ biểu Minh vô kêu dì Hai ra ăn cháo.

Ông Phủ vừa vắt múi chanh vào chén cháo bỗng rụt tay lại:

- Chết, ngày nay tao ăn độ lạt với thầy.

Đức cười:

- Rằm tháng tám năm ngoái, ba dùng lộn bánh Trung thu nhân thập cẩm vi cá có cái trứng vịt muối nằm tổ bố ở bên trong.

Ông Phủ bước ra, quanh mâm còn lại bà Hai với lũ con lớn.

Bà hai hỏi Trang:

- Tối qua hai vợ chồng đi coi kịch có hay không?

Trang cười:

- Tụi con năn nỉ dì mà dì không đi. Vở kịch hay ngất đi được. Dì thì thôi, cả đời dì chỉ có làm chứ không có ăn, có đẻ chứ không có ăn. Đường phải sống thơi thới một tí mới được… Cả đời cứ làm việc cần cù hoài, dại quá!

Mình nói:

- Dì đi qua Mệ Sáu bánh bài đi dì.

Đức cười:

- Dì rủ ba đi coi hát bội đi. Hát bội miền Trung hay lắm, người ta đi nườm nượp.

Trang nhìn mẹ:

- Vở kịch hay phát run lên được.

Bà Hai cười:

- Đừng kể cái cốt kịch ra, để đêm nay tao đi với cha.

Hằng liến thoắng:

- Ba bỏ dì rồi, ba mê thầy Thiện Tân, ba bỏ dì rồi.

Mấy chị em cười dài, Trang nhìn Hằng:

- Cả vở kịch tao thích nhất cái đoạn cuối… cái kết luận ăn tiền quá. Thằng tướng Tàu chết về một tay cô gái Việt, lúc sắp sửa thở cá, hắn thều thào với cô gái: người đẹp không có tội, người đẹp không bao giờ chết.

Hằng cười hắc hắc:

- Tôi không có tội, tôi không bao giờ chết.

Minh đập bàn:

- Con Hằng tự xưng mình đẹp… Ui!

Nụ cười của Hằng có đuôi ở cuối mắt, có đuôi ở khóe môi, nụ cười lên cao tin tưởng của một kẻ như đang cầm như chắc trong tay chuyện gì.

Túc lườm:

- Khi người đẹp biết mình đẹp thì cái nhan sắc từ hạng ưu sẽ tụt nhanh xuống hạng bình, khi người đẹp nói ra rằng mình đẹp thì cái nhan sắc chỉ còn hạng thứ.

Hằng lầm bầm:

- Tao chỉ muốn nói cho tao bớt tội mà thôi. Tộ của tao lê mê như chè kê trộn đậu.

Minh mím môi:

- Mi làm chi mà có tội?

Hằng nhìn mặt anh chi chít tàn nhang. Cái anh Minh có vẻ giống mấy cái thằng Tây con ngổ ngáo trong các phim mình đã xem. Hằng nghĩ nhỏ Minh đang tưởng tới hơi lạnh của một cuộc sống lứa đôi. Minh tưởng tượng như đang bước chân lên những hòn đá chông chênh, bên dưới là thung lũng xanh lạnh, một vùng vô vi ở độ thấp. Hôm qua đi coi đại nhạc hội đặc biệt hình ảnh ca sĩ đứng hát một mình có vẻ lạnh chi lạ.

Hằng ăn hai chén cháo nóng, thịt gà khá mềm nhưng mùi hành hăng quá! Hằng đứng dậy bỏ đi. Nắng đã lớn lên ngoài trời. Nắng lớn lên không biết bao nhiêu mà kể. Nắng ăn ruồng cả bầu trời. Nắng xuân hồng rực rỡ. Nắng vàng non tưng bừng. Hằng cười mặt tươi nhìn xuống cổ đàn, những áo quấn Hằng đang mang trên người thật nhẹ đứng như tơ. Hằng cảm tưởng như hai bàn tay dạo trên một lớp lông mềm. Hằng chơi gấp rút dồn dập bài Flots du Danube, bài Fontaine des amours, bài Moulin rouge, bài Riviere sans retour. Buổi chiều Hằng dạo bài Tristesse, bài Serenate.

Cơm tối xong, Hằng tránh mọi người, bước ra mái hiên.

Trăng tròn quay, trăng lên bình thản, trăng hiện ra với sự chờ đợi trắng xóa. Tiếng vĩ cầm uyển chuyển của Túc dài như quàng ôm lấy Hằng.

“Biển như biết hát, trăng như một kho ngọc đựng chứa hàng ngàn sự tích huyền và cũng có những bầy tiên nhẹ múa khúc nghê thường. Dưới màu trắng ngà của trăng, xiêm y thanh thoát chỉ là những hình sương và những nét khôi. Trong im lặng mênh mông, tâm hồn nhẹ tênh theo khúc nhạc mơ hồ đi vào thoát tục. Trăng vừa lên cùng muôn ánh sao sáng soi, đưa hồn ta phiêu diêu nơi xa vời. Gió đắm say vờn vờn muôn xiêm áo. Ngàn hương thơm thoáng bay trong trời mơ”…

Hằng bước vội ra vườn một lát rồi hấp tấp đi vào phòng ngủ. Hằng nghĩ lẩn quẩn đến vạt đất nhỏ trồng rau sau vườn. Vườn rau trồng đủ thứ cho cả nhà ăn.

Giờ này, những cây xà lách chắc sẽ tươi bóng đến lạnh mình, những cây rau diếp chắc cũng lấp lánh như ướt nước, những cây rau thơm, rau húng, rau răm, rau ngò, rau é lộn trông chưa chắc đã lặng im mà hình như đang ngà ngà say rạo rực, những cây cải cay, cây tía tô, lá hành lá hẹ, cây rau dền, rau trái không giữ nỗi bình tĩnh vì đang trong cơn sốt huy hoàng hâm hấp. Cơn sốt đang nóng lên vài độ. Những cây rau nhỏ lên cơn sốt thật khả ái. Giàn bí giàn bầu sắp tàn, chỉ còn vài trái để giống treo lủng lẳng. Gần cửa sổ phòng Hằng có mấy trái mướp khô.

Hằng trở dậy lúc năm giờ sáng khi mọi người an toàn ngủ ngon. Hằng rửa mặt đánh răng chải thẳng cuốn tóc màu lông mèo mun và ngồi vào bàn học. Hằng láp nháp đọc vài trang sách rồi ngáp dài dài. Nàng vội chạy vào nhà trong bật đèn pha một tách cà phê thật đen uống một hơi như uống nước lọc và cơn buồn ngủ vẫn còn ướt rệu ở đôi mắt. Hằng rút cuốn sách của một nhà văn viết cao nhất nước đọc vài trang rồi bỏ. Nửa giờ đã trôi qua, cô gái mở hộp bánh bích quy ăn liền hai cái.

Mấy hôm nay trời nóng quá, ai cũng kêu ăn không được. Hằng cầm cây bút vẽ bao nhiêu vòng tròn lên trang giấy trắng trước mặt, viết tên viết họ mấy chục hàng và ký tên vụt vụt. Sáu giờ sáng nàng vẫn chưa thuộc được nửa trang bài học. Hai bàn tay tháy máy đưa lên đầu nhổ đứt mấy sợi tóc. Sáu giờ rưởi qua cả kính đóng kín, trời đã ửng sáng. Nhà bếp đã dậy sửa soạn bữa điểm tâm. Hằng lấy cuốn sách giáo khoa của cha Thịnh tắt đèn, bước ra sân vừa đi vừa đọc. Nàng bước lui bước tới từ gốc khế sang cây trứng cá, cây mãng cầu, dừng lại bên khóm tường vi đưa tay sờ vào mấy nhánh hoa.

Những con chim nhỏ nhất vườn ngẩng cao chiếc đầu tròn hót líu lo. Hằng ngồi xuống đất vạch mấy bụi hoa violette tìm hái. Bảy giờ sáng bà Hai kêu cả nhà vào ăn xôi đậu đen.

Hằng vắt từng nắm xôi chấm muối mè. Cuốn sách của Cha Thịnh để trên bàn ăn.

Bà Hai hỏi:

- Con Hằng năm giờ sáng đã dậy rồi!

- Đêm nóng quá con học bài không được.

Minh ngáp:

- Sáng ra trời vẫn nóng thua chi ban đêm, ngủ dậy nhìn hàn thử biểu đúng ngắt ba mươi bốn độ… Buổi sáng mai mà đã ba mươi bốn độ, đến trưa không biết mấy.

Bà Hai nói:

- Chắc sáu chục độ.

Mấy anh em cười, bà Hai nhìn Hằng:

- Cứ năm giờ sáng đã dậy rồi, đến ngày thi chắc đuối sức. Hằng cười, năm giờ sáng dậy, nhưng từ năm đến bảy giờ sáng mình có thuộc trang chữ giáo khoa này đâu. Cũng thức khuya dậy sớm như ai nhưng học đâu có vô. Mình lớn tuổi quá, mình học hết vô rồi, trí não ranh khôn mà vẫn học hành không được. Buổi sáng nào cũng dậy ngồi không, chịu. Học hết nổi.

Hằng lên nhà chải đầu trước gương sửa soạn đến trường. Mình bây giờ đến trường ngồi trước mặt giáo sư cũng để tiêu cho hết thì giờ. Mấy ông giảng bài có lọt tai mình đâu. Sức mình đậu nổi cái bằng tú tài bán phần kể cũng đã may lắm rồi.

Hằng kéo dĩa xôi đến gần:

- Xôi đậu đến ăn thật ngon.

Đức nói:

- Tao ghét xôi, ăn nóng cổ.

Hằng nhìn Minh:

- Anh biết tại răng ông nhạc sĩ Huỳnh thao lao làm mấy bài “Tình vàng cho em” không?

- Ai biết.

- Thằng cha mê con ca sĩ Kim Hoài… thằng cha làm mấy bài “Tình vàng cho em”, tình vàng… vàng là kim đó mà.

- Con Kim Hoài có mê lại thằng cha không?

- Ai biết.

Đức gõ đũa:

- Tại răng con Hằng biết?

- Thì có người đồn mới biết được.

- Thế con vợ của thằng chả…

Hằng cười:

- Chắc là ghen chứ còn gì? Nghe nói con mẹ ghen đến nổi hát không được nữa. Con mẹ vẫn còn hát sân khấu mà. Nghe nói con mẹ ghen đến nỗi ra sân khấu hát nửa chừng quên cha cả bài hát phải bỏ vô.

Minh nhìn ra ngoài mâm xôi:

- Con mẹ là một cựu ca sĩ có giọng hát vô địch ngày xưa… Ngày xưa lừng lẫy làm mưa làm gió... Ca sĩ mất thị trường đau khổ thật.

Bà Hai vỗ tay:

- Thôi chứ… ăn xong rồi sửa soạn đi học chứ.

Hằng ngáp:

- Con cúp cua thôi… Sáng nay lười đi học quá.

Bà Hai trừng mắt:

- Dậy năm giờ sáng học bài còn được…

Hằng xô ghế đứng dậy đi lên phòng mở tủ lấy bộ áo quần kêu con Nấm ủi lại, mi ủi cả bộ này cho tao, ủi nhăn thì chết, ủi cháy thì đền, ủi đẹp thì thưởng.

Hằng chải đầu xong, con Nấm vẫn ủi chưa rồi.

- Trời ơi! Rờ rờ vậy? Chết tao.

- Hàng xá xị Tây khó ủi lắm.

- Xoa Ấn Độ của người ta mà hô là xá xị. Ủi mau lên cho người ta mặc.

Hằng chải lại tóc lần nữa, soi gương kỹ cả khổ người, lấy nón đội bước ra. Đức nhún vai nhìn theo. Đi học mà diện như đi ăn. Áo dài mà eo như trái bầu, tóc mỗi tuần mỗi đi chải. Ăn rồi vác cặp tới trường mà trong bụng không có một câu sử địa, một câu vạn vật, tiếng Tây thì chia động từ Avoir còn trật…

Hằng để ra nửa giờ để đi bộ đến trường. Đi trong gió đẹp, đi trong nắng đẹp, đi dưới hàng cây đẹp. Trời ban mai nhưng người con gái nào cũng đội nón và hầu hết những chiếc nón đều cột bằng quai nhung đen. Bà mẹ nào cũng bảo con gái đi học đầu trần có vẻ lẳng lơ, phải đội nón dầy, kéo sụp xuống. Không có người con gái nào đâm vào chiếc nón của mình một lỗ cả.

Hằng bước vào trường đi ngang qua đám con trai. Người đẹp của các giáo sư đã đến kia. Lưng thì cao, cẳng thì dài, cằm thì nhọn. Người đẹp cúp cua năm ngày rồi. Đi Saigon thi hoa hậu cho rồi, ở đây làm chi. Hằng mở nón cầm ở tay vênh mặt bước. Đầu tóc chải búp ăng lê buông lòng thòng như lạp xưởng, mỗi cuộn đều tẩm dầu thơm. Vài đứa con trai lên miệng tự hôn một cái. Ê, Sophia Loren, ê Jayne Manstield, ê Gina Lolobrigida, nàng bước vào lớp học lộng lẫy như bước vào hội chợ. Hằng đi lại xóm con gái. Chị Hằng lại mặc áo mới, người đẹp mặc thứ lụa nào cũng đẹp. Chị Hằng ơi, ở nhà chị còn chiếc áo nào không mới không? Con người chi mà áo mùa hè cũng đẹp như áo mùa đông. Con Hằng có tướng mệnh phụ quá.

Chiếc áo lụa Ấn Độ nổi bật giữa những tấm áo vải quyến, xá xị bệch bạc, bụng lỏng eo thùng.

Hằng vỗ vai Diên:

- Ê, cho tui mượn vở lý hóa với vở sử địa chép bài mai trả.

Cái tướng con Hằng là cái tướng chồng hắn làm nên chứ không phải hắn làm nên, cái tướng vượng phu. Ăn mày lấy hắn rồi cũng lên. Hôm qua Hằng nghỉ học, ông thầy sử địa chới với hỏi thăm. Ông vừa giảng bài vừa gãi đầu gối, ông giảng bài như người hấp hối. Ông thầy vạn vật đi lui đi tới đầu đập mấy lần vào tường. Hằng cao lênh khênh giữa đám bạn gái ngực bụng. Diên cười:

- Biết ngày mai Hằng có đi học không?

Hằng đánh bạn:

- Ngày mai đưa mô không đi học trời đánh.

Diên hỏi:

- Mấy ngày ni đi mô mà nghỉ học rứa?

Hằng cao vai:

- Đi tu!

Diên kêu to:

- Mấy chị ơi, Hằng đi tu rồi.

Hằng đi tu rồi! Nhóm bạn gái nhẹ lặp lại rồi nhẹ cười.

Thanh đi tới vỗ vai Hằng:

- May bao nhiêu áo dài để cho ai mà đi tu?

Thúy nói theo:

- Đàn ông chưa vào hết trường tương tư, chị đi tu sao đành?

Hằng dong dỏng cao trên đôi guốc sắt. Ngồi trong lớp Hằng chống tay mơ qua cửa sổ. Ông giáo sư địa gọi tên, Hằng quên không trả lời tiếng có, ông điểm danh hết quyển sổ thở phào.

- Sáng nay không ai vắng mặt hết. Chác các anh chị đều thuộc bài như cháo lỏng?

Ông đưa tay với cuốn sổ điểm. Học trò la lên thưa thầy tha cho khỏi đọc bài. Lớn rồi ai trả bài như con nít vậy. Thầy tha cho khỏi đọc bài để phúc đức mà lấy vợ. Ngày mai thầy sẽ có vợ. Thầy sẽ có vợ ngày mai chứ không qua ngày mốt.

Giáo sư gấp cuốn sổ lại:

- Thử lòng các anh chị chơi chứ hôm nay ai bắt đọc bài bao giờ. Nhìn sơ mặt các anh chị đều biết thuộc bài rồi. Phải không?

Học trò nhao nhao lên:

- Dạ, dạ buổi sáng đẹp trời ai lại bắt đọc bài.

Thưa thầy cho chơi, thưa thầy cho đi chơi xa thành phố. Thầy tổ chức cắm trại ở chùa Từ Linh Mụ đi thầy. Thầy cho tiền ăn kẹo, thầy cho tiền thầy.

Giáo sư nói:

- Xin tiền giáo sư xấu lắm… Hôm nay tôi tha đọc bài, nhưng hôm nào tôi cho bài kiểm soát các bạn làm không được thì chủ nhật sẽ mời đi consinge cả lớp đấy nhé. Ngày chủ nhật mà đi chép phạt thì không dễ thương một tí nào cả.

Giáo sư sử địa có thể cho trò chơi cả giờ, có thể cho học trò làm bài suốt cả hai giờ đồng hồ, cả tháng không bắt trả bài nhưng mỗi lần chấm bản đồ là cả một sự bố ráp đau khổ, anh không biết vẽ bản đồ, chị kẽ ô sai, anh tô màu ẩu, cô đánh bóng không được. Từ đầu sổ đến cuối sổ mỗi người đều một điểm. Hai giờ sau cha Thịnh nghĩ thầy giám thị già sai học trò đưa cho Hằng miếng giấy gấp đôi.

“Hằng, cha không khoẻ trong người nên ở nhà, con lại cha biểu. Cha Thịnh”.

Hằng chải lại tóc, đi ngược con đường dẫn về nhà mình. Tư thất của cha Thịnh là một ngôi biệt thự vôi vàng cửa xanh cổng sắt đóng kín. Hằng bấm chuông ba lần không ai ra mở liền thò tay vào lỗ khoét tròn kéo nhẹ chốt sắt. Con chó ác đức dữ tợn bị tròng lại đứng ở hàng ba nhìn ra. Hằng đi thẳng ra sau bếp. Bà già nấu ăn cầm đôi đũa cả nhăn mặt hỏi Hằng:

- Cô muốn hỏi gì?

Hằng xoay cái nón:

- Cháu lại gặp cha.

Bà bếp cau có:

- Cha đau, cha không tiếp ai cả.

Hằng cười:

- Cha biểu cháu lại đây mà.

Giọng người đàn bà hơi lạ gắt:

- Ngài đau từ đêm qua tới giờ. Các cha dưới dòng lên ngài cũng không ngồi dậy được.

Hằng nhíu đôi mày. Ai đến với cha Thịnh cũng thất kinh với bà bếp. Bà không muốn ai vào nói chuyện với cha cả, bà sợ cha cho người ta tiền, sợ cha mời người ta ăn hết cam hết táo. Chính cha Thịnh đôi khi cũng tỏ ra sợ bà. Ngoài tiền công trả trước một năm, tháng nào cha cũng cho bà uống thuốc bắc, cho quần áo.

Hằng nói:

- Bà cứ lên bẩm với cha là cô Hằng tới.

Bà bếp đứng một chút nữa mới xẹt đi lên, cha Thịnh tiếp Hằng ở phòng khách. Cha vẫn mập vẫn hồng như những lúc ngồi dạy học. Cha mặc bà ba bằng lụa Quảng.

Hằng nói:

- Bà bếp nhất định đuổi con về.

Cha Thịnh cười:

- Bà ấy đáng sợ lắm. Chính cha còn sợ bà.

Hằng hỏi:

- Cha đau chi mà nghỉ dạy rứa cha?

- Mấy ngày nay cha bị lên máu.

- Cha kêu con lại đây có việc chi cha?

Cha Thịnh cầm tách nước trà uống một mình:

- Con vừa học hai giờ ông Chu phải không?

- Dạ hai giờ đầu là hai giờ sử địa. Ông Chu cho chơi hết một giờ.

Cha Thịnh chăm chú nhìn Hằng:

- Ông Chu là học trò giỏi nhất của cha. Con có cảm tình với ông không?

Hằng cười:

- Con nhìn ông Chu, con thấy ông Chu có thật nhiều tình cảm đối với con.

Cha Thịnh hất hàm:

- Còn con thì sao?

Hằng cúi nhìn vạt áo mình:

- Mấy giáo sư của con ông nào con cũng khả kính cả.

Cha Thịnh nghiêm giọng:

- Ông Chu nhiều tình cảm với con lắm.

Hằng cười:

- Tại sao cha cũng biết?

- Ông kể với cha. Ngày nào ông cũng lại đây tâm sự.

- Ông có nói chi nhiều về con không cha?

- Ông đối tốt với con lắm.

- Cả lớp thương ông.

- Riêng con, con có thương ông không?

- Con dốt sử địa quá… Con không thích học giờ ông tí nào cả.

- Môn sử địa thì ai mà giỏi được.

Hằng lắc đầu:

- Học trò con trai chăm học lắm, giờ ông Chu chúng móc sổ tay ra ghi chép.

- Sử địa thì học thuộc lòng là đủ.

Hằng cười:

- Bài của ông Chu bài nào cũng như bài báo. Giờ làm bài của ông là con một điểm rồi đa, giờ chấm bản đồ cũng một điểm không hơn không kém.

Cha Thịnh điềm tĩnh nói:

- Công bằng.

Cha Thịnh ngoái cổ vô kêu bà Ninh đem chè khoai mài ra cho cô ăn đấy. Không biết chè khoai mài ăn ra sao dây mà người Huế ca ngợi quá xá. Cha phải sai bà Ninh đi mua về nấu ăn thử.

Hằng nhướng mắt:

- Con người Huế mà con cũng chưa ăn chè khoai mài lần nào.

- Cha có ăn canh khoai nấu thịt thôi.

Bà Ninh bưng khay chè vào nhanh trở về cũng nhanh. Cha Thịnh mời hai ba lần Hằng vẫn chưa cầm muỗng.

- Buổi lễ mừng chào tuổi lớn của cha Thịnh, Chu nói đã lâu nhưng vẫn chưa làm.

Một hôm trong lớp Kiên đứng dậy hỏi thầy Chu:

- Thưa thầy, em đi cùng cả thành phố Huế rồi, em xem kỹ cả bản đồ Saigon – Chợ Lớn – Gia Định rồi, em nghiên cứu thật kỹ cả tên đường … thưa thầy, tại sao không có con đường nào mang tên Trần Thủ Độ và Hồ Quý Ly cả.

Thầy Chu khựng lại giây lát:

- Ừ, ừ, Việt Nam chưa có con đường nào tên Trần Thủ Độ và Hồ Quý Ly hết.

Kiên tiếp:

- Thưa thầy, tại sao?

Thầy Chu cười:

- Có lẽ người đặt tên đường nghĩ rằng Trần Thủ Độ và Hồ Quý Ly là hai đại gian thần.

Kiên lại đứng dậy:

- Nhưng Trần Thủ Độ là cây trụ dựng lên nhà Trần, không có Trần Thủ Độ thì làm gì có nhà Trần để mà đẻ ra những Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Bình Trọng. Trần Thủ Độ đã là một công thần của tổ quốc. Đó là một nhà lập quốc đại tài… Còn Hồ Quý Ly… đó là một nhân tài có óc tổ chức xã hội. Ông sửa sang được thật nhiều thứ trong xã hội, gương ông thật lớn đến nay người ta đang noi… Hai người đó tại sao không có con đường nào tên họ cả… trong khi bao nhiêu kẻ tối tăm lại được lấy tên để đặt vào đường sá.

Thầy Chu nhíu mày:

- Sự vô lý quá lớn… Có lẽ Trần Thủ Độ và Hồ Quý Ly là hai gian thần cướp ngôi độc ác.

- Thưa thầy, nhưng họ có con.

- Em hãy ngồi xuống thầy nghĩ rằng có lẽ kẻ đặt tên đường sá đã có óc tôn quân quá lớn, họ đã triệt hạ bọn ngụy quyền.

Kiên đứng dậy:

- Thưa thầy, em rất đồng ý … Có lẽ những tên đường được đặt ra dưới thời Bảo Đại.

Cha Thịnh ho hai cái, mấy ngày nay cha bị cúm. Thầy chu ăn hết chén chè khoai mài và ép Hằng ăn.

Hằng cười:

- Thưa thầy con ghét ăn ngọt lắm.

Cha Thịnh nói:

- Thầy Chu hãy còn rất trẻ. Hằng đừng xưng con, xưng em nghe nó có lý hơn.

Da mặt người con gái dậy hồng. Cả lớp không có nữ sinh nào dám xưng em với nam giáo sư cả, mình mà xưng em với thầy Chu tụi hắn cặp đôi liền. Tụi hắn vẫn tráo miệng thầy Chu mê mình. Ui! Thầy Chu càng mê mình thì giờ làm bài mình càng bị một điểm, giờ chấm bản đồ, cũng một điểm không hơn không kém.

Cha Thịnh nhìn thầy Chu:

- Sau chuyến đi Saigon, cha và con sẽ ghé nhà Hằng yết kiến ông thân sinh.

Thầy Chu hỏi:

- Hằng đã đi Saigon lần nào chưa?

Hằng cúi đầu:

- Dạ rồi… nhiều lần.

Thầy Chu nói:

- Hằng có vẻ khôn ngoan ghê!

Cả lớp nhìn hết lên bảng đen:

- Cha đáng ra là một chính khách lỗi lạc, không có chúng ta đáng lẽ cha đã chiếm một chỗ đứng lớn lao bề thế ở chính trường. Vì chúng ta nên cha phải ở cả đời với học đường.

Cả lớp ầm lên, độ ồn ào bằng một cơn mưa lào xào. Quang đứng dậy:

- Thưa thầy, nhưng cha là một nhà tu, cha đã khoác áo chùng thâm.

Thầy Chu đập nhẹ trên cuốn sổ điểm:

- Cha Uyển thâm văn hóa và chính trị ngày cha chưa khoác áo dòng.

Hằng nhìn qua vuông cửa sổ cắt hình một miếng trời tươi hoa thẫm đậm. Những cây bông lạ vườn ông Tỉnh trưởng vươn cao bằng nhà lầu ngôi trường, hoa phượng đỏ môi son bám sát màu vàng nghệ của một thứ hoa ngoại quốc, xa xa hoa sầu đông ủ dột trong cơn mộng lớn, từng chùm lá tím khổng lồ lắc mình thật nhẹ trong bầu trời xanh hớn hả. Cha Thịnh đã bao lần nói phải đổi chỗ. Hằng kg cho nó ngồi ở góc đó nữa. Nó ngồi nhìn ra trời đẹp quá nó quên học hành nữa.

Cha nói giữa lớp:

- Cha Thịnh là một nhà giáo nhiều học trò nhất, chúng ta đều là học trò của cha… Lớp học trò cũ, chúng tôi định tổ chức một lễ lớn chào mừng tuổi thọ của cha.

Buổi lễ mừng chào tuổi lớn của cha Thịnh, thầy Chu nói đã lâu vẫn chưa làm.

- Nghe nói cô Hằng sành âm nhạc lắm phải không?

- Dạ, biết chút thôi.

- Nghe ai cũng khen cô Hằng hát hay lắm.

- Dạ không có chi.

- Có phải cô Hằng cũng là một cây thể thao?

- Dạ ngày nào cũng cố gắng tập thể dục chứ không chơi thể thao.

Đôi mắt thầy Chu ngắm dài khổ người Hằng:

- Nhìn Hằng người ta thấy thật nhiều bài học thể dục.

Hằng ngậm miệng. Thầy Chu ăn thêm chén chè khoai mài nữa, cha Thịnh nhìn hai người lắc đầu:

- Các con nói chuyện không giòn… Người hỏi thì hỏi từng miếng, người trả lời cũng trả lời từng miếng.

Thầy Chu cười:

- Hằng làm như con đang dồn Hằng vào phút nói thật. Hằng điệu lắm, cha mời chè khoai mãi Hằng cũng không ăn, bắt con ăn ớn quá.

Hằng ngồi nặng như một khối đá. Hình như không gian đang đè cứng Hằng, đang dìm Hằng xuống thật sâu và không gian lại mát rượi như nước. Hằng đứng dậy bước tần ngần. Thầy Thiện Tân giờ này chắc đang đọc sách, thầy Thiện Tân ngoài chuyện đọc sách ra là hết chuyện. Anh Minh bảo thầy là một cây Nhu đạo mà chẳng thấy tập dượt chi cả. Học võ mà không luyện, trông thầy xoàng xĩnh như trăm người đàn ông mình gặp ngoài phố. Mình phải vô hỏi thầy áo quần võ sinh của thầy đâu sao không mặc? Đai vàng, đai đỏ của thầy sao không thắt? Thầy có dám dạy mình học Judo không? Thầy có biết giáo sư sử địa mê lấy mình làm vợ không?

Thiện Tân mặc áo bà ba màu chàm đang nằm viết chữ Tàu. Hằng gây một tiếng động ở cửa. Thiện Tân nhìn lên khá lâu mới cười.

Hằng vỗ tay như chào mừng một em bé:

- Thầy thầy, em có phá rối thầy không?

Nhà sư nói:

- Tôi đang chép mấy cái toa thuốc cho bác ông.

Hằng reo:

- Thầy bổ thuốc bắc được. Thầy bổ cho em một thang đi.

Nhà sư nhếch mắt:

- Cô Hằng đau chi?

Hằng nói:

- Đợi phải đau mới uống thuốc bổ?

Hằng chìa hai bàn tay ra. Thầy coi tướng cho em đi, thầy coi chỉ tay cho em đi. Mấy nhà đại tướng số phần nhiều giỏi chữ Tàu như thầy cả. Đường đời của em chắc cũng phải như đường đời của thầy. Tay thầy không có đường tình. Lòng em đang tâm nguyện một chuyện, thầy coi cho em thử có đạt được không?

Thiện Tân lắc đầu:

- Tôi không biết thứ đó.

Hằng câm ngay lát lâu mới lên tiếng:

- Mới một đề nghị của em mà thầy đã không biết. Em thì lắm đề nghị mà thầy thì lắm điều không biết.

Nhà sư cười:

- Tôi có ông bạn nhà báo nghiên cứu khoa coi chỉ tay kỹ lắm. Ông ta cho rằng khoa coi chỉ tay không đúng, có nhiều ông trung úy, thiếu úy chết thật sớm mà lật lòng bàn tay họ ra, đường đời thật dài.

Hằng cười:

- Tuổi thọ của con người không phải chỉ coi ở đường đời trên hai bàn tay thôi mà còn phải coi ở nhân trung có sâu và dài, ở mũi ở mắt nữa.

Thiện Tân vui vẻ:

- Ông bạn tôi còn nói rằng coi chỉ tay là sai vì bàn tay con khỉ cũng có đường chỉ y hệt như bàn tay người.

Hằng đi lại bàn viết. Cuốn Đông Chu liệt quốc mở nửa chừng, thầy muốn nghiên cứu mưu lược của người xưa phải không thầy. Đọc cuốn này phải có một bản đồ Trung Hoa vĩ đại cổ xưa để trước mắt mới thú, cái bản đồ ghi tên đủ các nước chư hầu. Nước Tịnh, nước Tống, nước Tàu, nước Tấn, nước Hàn, nước Triệu, nước Sở, nước Sái, nước Lương, nước Lỗ, nước Tề, nước Ngô, nước Ba, nước Hoa, nước Hoàng… hợp thành cái thế chiến quốc đánh nhau lung tung túi bụi mù trời.

Nhà sư cười:

- Cô Hằng đã mê tiểu thuyết còn mê Đông Chu liệt quốc nữa… Trong cuốn Đông Chu liệt quốc có ai đồng điệu với cô Hằng không, cô Hằng?

Hằng lắc đầu:

- Em đâu dám ví… cuốn truyện toàn trai hoang gái hư.

Nhà sư gật đầu, Hằng tiếp:

- Họ hoang họ hư hơn mình bây giờ nữa.

Thiện Tân cười nhỏ. Hằng đưa tay lên miệng:

- Quên không có thầy… Thầy đã thần du ngoại vật bất biết, bất nghe, bất cảm rồi. Thầy Tân lúc xưa lúc thầy còn là Điệu Tân để tóc chó vá, thầy mê đọc tiểu thuyết lắm, bây giờ thầy còn mê không?

- Tôi vẫn đọc…

- Nhưng thầy còn mê không?

- Tôi hết ham ăn rồi nên cũng hết mê đọc tiểu thuyết.

Hằng hồng hào cười:

- Vậy giờ thầy mê cái gì?

Nhà sư cúi xuống trang sách đen đặc chữ Tàu làm thinh rồi cầm bút lông quệt thoăn thoắt.

Người tu hành cầm ngược bút lông nhẹ thoăn thoắt. Người con gái đứng dậy lại bên bức tranh một vị lão thần áo xanh tóc bạc nhìn thẳng tấp giữa hai chậu trúc cao gần tới cổ. Hằng vịn tay vào khung tranh, mặt ngước lên, miệng hé hát những lời kể lể êm như nhung, mịn như tơ, mát như rau muống và dẻo như mạch nha. Lời hát bay bên trên và dòng suối chảy bên dưới. Suối đang mơ cũng như lòng đang mơ bên rừng thu vắng dòng nước suối luân lưu rất yểu điệu, rất từ tốn dưới nắng hanh non. Tiếng nhạc tròn càng lăn càng tròn: Chàng hẹn cùng em xây nhà bên suối. Nghe tiếng suối róc rách hoa thơm lừng gió ngát, đàn nai đùa trên nắm lá vàng khô. Tiếng ca mát rượi mềm mại. Đó là lời tình tự của đôi chim đẹp nhất trong thế giới uyên ương. Lời nỉ non tâm sự lãng mạn huyền mun như suối tóc hàng liễu. Đẹp hơn thơ, êm hơn nhạc là khung cảnh một dòng suối gấm róc rách nằm trông lên từng mây bông gòn lê thê kéo dài nắng vàng xao động.

Chiều đây hoàng hôn tưới xuống dòng suối thật nhẹ, ánh nắng ép sát mặt nước, ôm quàng mặt nước mà hôn. Chiều lơ mơ êm đềm. Chiều dài và nên thơ bằng muôn ngàn mộ khúc ghép lại. Ngày mất đi một cách dịu dàng. Thời gian mướt mát dậy mến hăng hăng chất rượu cay cay vị quế, ngát ngát mùi trầm. Chiều còn là những cái hôn biên giới giữa ngày và đêm. Chiều còn là những ước hẹn buồn dò dẫm lên bao mối sầu riêng rẻ. Vài hột nắng vàng bám nhẹ vài nắm mưa sa xuống trên từng nỗi đau nguội trên từng nỗi nhớ.

Và niềm đơn côi đứng dậy với thể tích rộng. Một vài sự thân mật, một vài sự gần gũi, mối tương tư dày tự dòng suối dấy lên cuộc chiến, dấy lên cuộc tình cuồn cuộn từng lòng chảo êm đềm, bao quả tim cùng thèm chứa kỷ niệm. Quá khứ hiện tại và tương lai thời gian có hào quang và thời gian yêu dấu.

Dòng suối mơ reo vui trong buổi chiều. Suối mơ bên rừng thu vắng, dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng. Chiều chưa đi.

Cuối câu hát, Hằng rung thật êm ái liếc nhanh về phía người tu hành. Thiện Tân vẫn cầm bút thoăn thoắt đưa lên đưa xuống.

Hằng chạy lại trầm trồ:

- Ui chà! Chớp mắt một cái thầy đã viết bao trang sách, chữ thầy đẹp quá… chắc thầy văn hay chữ tốt lắm lắm.

Nhà sư cười:

- Cô Hằng luôn luôn có tài. Cô Hằng có tài từ thuở nhỏ ngày xưa cô đã hát F…

Hằng cười hức hức, hi hi rồi che miệng:

- Nhớ ngày xưa đi học trường Trần Cao Vân, Hằng bày cho Điệu Tân, Điệu Lý những bài hát bậy bạ.

Người tu hành lắc đầu:

- Những bài hát ngày xưa đâu có bậy bạ.

Hằng cũng cười:

- Ngày xưa còn bé Hằng vẫn chí chóe gọi kêu Điệu Tân, Điệu Lý… Bây giờ phải gọi bằng thầy… chán quá!

Thiện Tân nhìn thẳng cô gái:

- Tại sao lại chán?

Hằng ngước mắt:

- Đi tu mà không chán sao? Em không thích thấy ai đi tu hết.

Nhà sư bậm môi. Hằng vội nói:

- Nhưng có lẽ… người ta vẫn quan niệm rằng đi tu không thích cũng không… chán. Mỗi người ở một đời riêng.

Thiện Tân nhìn xuống, người con gái đều giọng:

- Nhưng đi tu có cái sướng của đi tu… Niết Bàn là một xứ sở hoa gấm có những ông tiên, có những bà Bồ Tát. Đi tu là lạc vào một xứ đẹp, là đặt bước chân trên một cầu vồng huy hoàng.

Thượng tọa Thiện Tân mở miệng ngậm cứng cắm cúi nhìn nghiêm chỉnh vào những trang sách đang trải trước mặt để khỏi cười về những lời lẽ ngây thơ quan niệm đi tu là làm những cuộc phiêu lưu đẹp, là bước vào những giấc trường mộng huy hoàng rực rỡ đựng bằng nét vẽ tưởng tượng.

Hồi lâu, nhà sư vui tươi hỏi:

- Cô Hằng vẫn ngây thơ như xưa… Chắc cô Hằng muốn lên Tiên… Cô Hằng vừa phác họa ra một bồng lai tiên cảnh!

Hằng nhanh miệng:

- Làm gì có bồng lai tiên cảnh.

- Hằng vừa nói đó.

Hằng cười:

- Đó là Niết Bàn. Vì ở đó không có tình yêu và không có thịt súc vật, không có cá khô và nước mắm, không có nem chua.

Hằng xổ tung đầu tóc ra rồi cặp lại. Hai vành tai hơi vẫu một tí khiến khuôn mặt sáng hơn. Nhà sư và cô gái cùng nhìn ra hướng ngoài. Cây mãng cầu lẳng lơ chìa cành lá non vào khung cửa sổ. Nắng đã lớn lên ngoài trời. Nắng sáng xuân hồng rực rỡ. Nắng vàng non tưng bừng. Hằng cười mát rượi:

- Thầy để em lấy cuốn sách sử địa với mấy quyển vở của em, thầy nhớ đề tên em vào trang đầu bằng chữ Hán.

Nhà sư ngạc nhiên:

- Để làm gì vậy cô Hằng?

Hằng cười:

- Để người ta tưởng em chữ tốt… Văn hay chữ tốt.

Nhà sư lại cúi xuống làm việc, ánh mắt bám chặt trang sách. Hằng đi vào trong, lòng vui rộn hỉ tin đăng trên báo. Trang, Uyển và Túc đang ngồi xếp bè be trên chiếc sập tróc sơn ăn nem chua với tỏ. Trang lột lá cầm miếng nem hòng màu thịt tươi đưa tọt vào miệng, cắn múi tỏi cái rụp, nhai rúm rum.

Uyển nói:

- Nếu đời không có nem chua, không có chả bò, không có thịt gà bóp muối tiêu rau răm, không có trái cật heo chưng cách thủy thì mới đi tu.

Hằng ngồi xuống cười:

- Có mấy thứ đó tao cũng đi tu.

Trang háy dài:

- Tu! Rót nước mắm chám cá thu chiên đi. Con Hằng mà đi tu. Tu hú tu huyền, mi mà đi tu. Trong người đang thấy tháng mà cứ rà rà đứng sát rịt bên thầy Thiện Tân. Tao mà lúc nào tao thấy tháng chồng tao lai vãng trước lỗ mũi của tao, tao dộng cho một đạp té lăn ba thước liền. Con Hằng là một đứa đại đa tình.

Uyển gật đầu:

- Uốn éo như cá nghéo động trời… Chị Hằng là một con ong chúa đầy dưỡng tính.

Túc hít mũi:

- Có ngày chị Hằng chan nước mắm vô tô canh cho thầy Thiện Tân ăn. Có ngày chị Hằng nhét nem nướng vô giữa miếng đậu hấp cho thầy Thiện Tân ăn.

Hằng bốc một lọn nem:

- Thầy Thiện Tân trước khi đi tu cũng không ăn ngon, sau khi đi tu cũng không ăn ngon.

Trang bĩu môi:

- Sau khi đi tu mà ăn thịt cá là xong cái phiên tu rồi. Thầy Thiện Tân đi tu kể cũng hơi uổng.

Túc đưa một ngón tay:

- Ai làm cho thầy Thiện Tân đừng đi tu nữa, tui thưởng cho một triệu.

Giọng nói Túc khẽ đặc đặc như vịt xiêm lai. Đôi mắt rất to mà cười một cái là tít tịt nhỏ xíu lại. Túc cười bằng cả mắt mũi miệng má. Hằng hứ hừ mấy cái. Nhà này là một sào huyệt không ôn hòa con gái con gung, cả ngày chót chét cái miệng be be cái mõm và dài lưỡi ra lý con sáo với nhau, cả mấy chị em hình như cùng một tính, hình như cùng một ngôn ngữ.

Túc kêu nhỏ:

- Mấy ngày ni tui thấy chị Hằng cứ lân la tới phòng thầy Tân nói chuyện ni đến chuyện tê. Khi thì chị nhắc đến nhạc sĩ Hoàng Quý, khi thì chị nhắc đến chùa Hương, nhắc đến con voi không có bộ phận sinh dục.

Hằng đỏ má đỏ vành tai:

- Ăn nói như lá chuối khô chùi đít.

Uyển hứ một cái:

- Chị đuổi tới chị ruột người ta quá dài… Người ta đang chạy bán sống bán chết.

Bà hai ở dưới bếp đi lên, tay cầm một khoanh chả bò nhai chách chách đứng lại hỏi:

- Cái chi rứa? Cái chi mà chạy bán sống bán chết?

Túc lí lắc:

- Người ta đâu có chạy dì, người ta đứng chình ình giữa lộ.

Bà Hai chong mắt:

- Ai?

Uyển cười:

- Ông cai bến đò dì ạ.

Bà Hai cười:

- Mấy con ngựa khùng cứ lý sự, mấy con ngựa bà cứ nói lý với nhau hăng như tỏi không ai hiểu muối tiêu chi cả… Ngày nào cũng túm tụm họp đảng.

Mấy chị em nháy khó, bà Hai cười lặp lại:

- May con ngựa khùng cứ lý sự, mấy con ngựa bà cứ lý điềm với nhau không ai hiểu muối tiêu chanh hẹ chi cả.

Trang chỉ tay:

- Chúng nó lý ngựa ô đó gì.

Những tia nắng ngoài trời đã thật già và thật sung sướng. Nắng liếm cảnh vật bằng chiếc lưỡi nóng của nắng. Qua cửa sổ song sắt uốn lượn, Hằng mải mê đưa mắt nhìn thật xa mà chẳng thấy gì… Túc hát nhẹ như Túc thở: “Chùa Hương với đồi núi cao, biết bao êm đềm. Con thuyền đưa tôi tới nơi thần tiên…”.

Loáng thoáng như xa hơn tầm mắt, Hằng thấy có một khung trời mê hoang với những màu xanh cây lá ngút ngàn, với từng núi mây nhọn và dày. Hằng nghe như có nhiều hơi thở chung quanh mình. Trăng hắt hơi hai lần liền. Chi giật mình nhẹ khẽ lay Hằng ra khỏi cơn ngủ ngắn tỉnh táo. Hằng bừng mắt, miệng cười tươi như hoa:

- Chị Trang cảm rồi.

Trang lại hắt hơi nữa và nói:

- Tao cảm có thuốc. Mi cảm không có thuốc nào uống nổi.

Uyển xua tay:

- Không, không, chị Hằng không cảm cúm, đặc giọng chị nói thơ mộng thảnh thót lắm. Chị Hằng hát cho ông thầy nghe bài chùa Hương có thằng chết trôi, nổi lên thúi ình.

Trang cười:

- Ê, con Hằng đừng kêu ông thầy nữa, kêu bằng anh xưng em hoặc bằng chú xưng cháu đi.

Túc lắc xắc:

- Bỏ cái tiếng thưa thầy đi, nó khệ nệ, khệ nệ lắm… Thưa thầy thằng Thụ thèm thịt thỏ thúi ấy à…!

Trang lỏng tay làm rơi múi tỏi chưa lột:

- Con Hằng thì… thì… thầy giáo dạy mình không mê, lại mê thầy chùa, tội chết.

Bà Hai bỏ đi ra vườn nãy giờ trở vào kể cho tụi con nghe chuyện con cá gáy ở chùa Hương sống cả trăm năm. Người ta nuôi con cá gáy đó cho ăn chay trường. Cá gáy ăn tôm ăn tép không được, cá nhỏ cũng ăn không được. Con cá tu mà to bằng đứa con nít, không ai dám làm gì nó cả. Nhà chùa nuôi con cá như nuôi một gia súc thân ái, một tín đồ thân ái.

Trong đám đạo hữu có người nghịch ngợm vứt cau trầu xuống nước cho con cá gáy ăn… Rồi chiến tranh lan tràn, Việt Cộng đói quá bắt con cá gáy mà ăn. Cả một tiểu đội ăn hết con cá gáy khổng lồ ấy. Cả một tiểu đội Việt Minh ngộ độc chết tươi. Người ta đồn rằng vì loạn lạc không ai cúng chùa thả tác phẩm xuống cho con cá ăn, cá phải ăn xác người trôi về nên con cá tỉnh thức độc giết cả một tiểu đội Việt Minh. Về sau nhà thương cho mổ bụng những người ăn con cá đó ra để khám xét, nhà thương xác nhận là con cá bị bỏ đói không có chi ăn, phải ăn lá cây rừng độc địa nên thịt con cá bị độc, người ăn vào phải chết ngắt.

Hằng xuýt xoa ngầm:

- Câu chuyện con cá gáy hay rứa mà mình không biết để kể cho thầy Thiện Tân nghe, mình cứ hát, nói chuyện âm nhạc với thầy đối với văn nghệ dốt bỏ xừ làm răng hiểu được.

Trang hỏi:

- Tại sao nhà mình không ăn cá gáy dì?

Bà Hai nói trong khi nhai trầu:

- Người bắc kêu là con cá chép… Nhà mình người Huế mình không ăn cá gáy vì đó là giống cá sẽ hóa rồng. “Cá vượt vũ môn” để hóa rồng mà! Những gia đình thờ Phật không ai ăn cá gáy cả. Cá đó linh lắm, ăn tội.

Trang thè lưỡi:

- Ăn ngon chớ tội gì… Tội lội xuống sông, mai mốt có chồng lội lên.

Hằng nói:

- Cá gáy là cá ngon nhất trong tất cả mấy thứ cá… ngon nhất là cái đuôi. Đuôi cá gáy mà chiên với mỡ là thơm lừng cả nước, mấy nhà tu hành phỗng mũi ngửi quên tụng kinh. Cá gáy ăn bổ lắm. Trong sách “Nhị thập tứ hiếu” có bài nói về người mẹ mê ăn cá gáy, đứa con trai phải cởi trần nằm trên tuyết đợi hai con cá gáy nhảy ra bắt về nấu cháo cho mẹ ăn, mẹ hết bịnh.

Bà Hai chép miệng:

- Tụi bay răng hay nói bậy, nói khống, nói dại. Ăn nói ba trật ba trệu không sợ mất lòng mất bể chi ai hết. Nói câu gì thì phải trù người ta giận hay vui. Tụi bay thiệt khác tính ba, ba nói ra cái chi thì ba nói có bảy phần, còn ba phần phải dè dặt lại. Đừng nghĩ rằng mình là người không ai nỡ nổi giận.

Hằng chỉ tay cười:

- Mấy người ở đây ví bắt con.

Bà Hai nghiêm mặt:

- Giỡn vừa vừa, đừng làm mất sự yên tĩnh của thầy.

Túc nói nhỏ:

- Dì nể thầy còn hơn ba nữa.

Bà Hai mê đi chùa, bà Hai mê đi lễ đền lên đồng lên bóng. Bà sắm đến ba rương quần áo tốn gần vạn bạc để ngồi đồng. Bà mê ngồi đồng từ lúc chưa lấy ông Phủ. Lấy ông Phủ rồi, bà Hai trốn chồng một tháng đi lễ một lần và ông Phủ cấm ngặt, cấm thật ngặt không cho bà bước chân vào đền ngồi chầu rồi uốn éo lắc lư nhảy múa la hét.

Ông Phủ dí tay vào trán vợ:

- Tui cấm mình, tui cấm mình không được lên đồng. Dị lắm! Lắc lư la hét áo đỏ áo xanh không ra chi cả …

Bà Hai cúi mặt:

- Chuyện trên đầu trên cổ người ta mà mình nói tức cười chưa!

Ông Phủ sầm mặt:

- Mình mà còn đi lên đồng nữa thì tui ly dị, tui bỏ mình đi cưới cô Thơm. Mình còn trẻ mà tin chi mấy cái chuyện đó.

Ông Phủ đi vô hỏi làm chi mà tụ hết cả đây vậy? Ông Phủ nhìn đống lá gói nem ở trên sập. Ăn chi mà dữ rứa? Mấy mẹ con mà ăn hết một đống nem vứt lá ra kia kìa… ăn rứa rồi còn bụng mô mà ăn nữa.

Ông Phủ ngồi xuống sập. Bà Hai hỏi ăn chả hay ăn nem để biểu hắn lấy. Hằng cười ba ăn nem ăn chả thì ăn chùng ăn vụng, đừng ăn trước mặt thầy Tân mà thầy thèm.

Thằng nhỏ làm vườn chạy bô báo:

- Bẩm quan bẩm bà, có ông cha bên đạo đi với một người nữa đến thăm quan thăm bà.

- Ai rứa hè? Ai rứa hè? Hai vợ chồng ngơ ngác hỏi nhau.

Bà Hai nói:

- Ông cha bên đạo? Mình có đi đạo bao giờ đâu mà ông cha bà sơ đến nhà!

Hằng mở to mắt:

- Hay là cha Thịnh dạy con ở trường…

Ông Phủ lật đật đi mặc áo… Bà Hai cũng lật đật đi mặc áo. Hai ông bà cùng lên phòng khách một lượt. Hằng nhăn nhó:

- Dì thiệt cà, tiếp cha Thịnh thì để một mình ba được rồi. Dì ra ngoài làm chi không biết.

Trang cười:

- Ba làm cái chi là dì làm theo ba, đi đâu là đi theo ba. Ái tình hai người bây giờ còn lại được cái thủ tục đó. Ngày xưa hồi tụi mình còn nhỏ, ba đi đâu một mình là dì tức tốc sai tài xế mang xe đi kêu về. Bạn bè quen biết từ đó hễ mời mọc ba đi đâu là cũng mời dì đi luôn, không thì đang ăn uống nửa chừng dì đùng đùng đến kéo ba về.

Hằng đi lên nhà trên nhìn vào phòng khách rồi chạy xuống:

- Đúng là cha Thịnh.

Trang, Bội, Túc im lặng. Hằng tiếp:

- Cha Thịnh đi với ông thầy Chu dạy tui sử địa.

Trang nhìn Hằng:

- Có chuyện chi không he?

Hằng mím môi:

- Chắc để mách chuyện tui học dốt.

Túc cười:

- Kêu thầy Thiện Tân ra tiếp cha.

Hằng vỗ tay:

- Ừ, Thiên Đàng với Niết Bàn đụng nhau cái độp!

- Ừ, nhà mình đủ màu, có cả cha lẫn thầy.

Túc, Uyển đi lên phòng trên nghe chuyện rồi chạy xuống ào ào. Thằng cha giáo sư chi mà làm duyên quá. Thằng cha đau bịnh tạng da dẻ trắng nhợt. Làm duyên ác! Uốn éo như cá nghéo động trời.

Túc láu táu:

- Cái miệng thằng cha Chu như cái bầu vịt. Cha Thịnh và thầy Chu ngồi tới hai tuần trà mới ra về. Hằng chạy vào phòng Thượng tọa Thiện Tân nói nói cười cười:

- Trong nhà này sắp có một cuộc đấu kiếm.

Nhà sư đứng xem sách ngước lên ngơ ngác:

- Đấu kiếm gì?

Hằng ba hoa:

- Thiên Đàng và Niết Bàn uýnh lộn.

Thiện Tân hơi đỏ mặt:

- Uýnh lộn cái gì?

- Cha Thịnh vừa ở đây về, con định kêu thầy ra vây đánh. Năm nay gia đình con chắc có người đi tu, trong nhà đã có thượng tọa ở chùa rồi, còn có linh mục lại thăm nữa. Thiên Đàng và Niết Bàn có thể sống chung hòa bình được rồi đa.

Thiện Tân cười:

- Cô Hằng giỡn quá!

Cái nhìn tròn bằng vòng mắt dẹp đệu trên khuôn mặt đang hốt hoảng hồng. Hàng xá nhà sư một cái rồi bước vội ra. Đi ngang chỗ bà Hai, ngồi mài sắn cơm, Hằng ngừng lại ngồi xuống. Bột sắn cơm có ngon lành chi mà dì ngồi mài quanh năm suốt tháng hôi òm, lại đau bụng chảy nữa. Bà Hai chóp chép nhai trầu hứ một cái. Ba đau bụng bón khô đặc, mài cho ba uống cho mát. Tụi bay là con gái đoảng, hấp ta hấp tấp trợn tròng trợn trạc như đàn ông. Phụ nữ đời xưa cả ngày người ta chăm lo làm việc. Những lúc rãnh rỗi đáng lý được ngồi nghỉ ngơi ăn trầu nói chuyện rỉ rả với nhau, các bà cũng đem sắn cơm ra mài. Mài sắn cơm xong thì xoay qua mài củ bình tinh.

Ông Phủ bước tới nhìn Hằng:

- Cha Thịnh cả xứ này ai cũng phục… Cha đến nhà mình thiệt hân hạnh.

Bà Hai ngước lên:

- Ông giáo sư chi đó cũng đậu bằng cấp ngoại quốc mà.

Ông phủ gật gù:

- Giáo sư Chu… Ngoài ra, ông ta còn là một họa sĩ, ông ta trang hoàng nhà cửa đẹp lắm.

Cha Thịnh nói là cha đi cùng cả xứ mà chưa thấy nhà ai trang hoàng thẩm mỹ bằng.

Bà Hai kéo giật tay Hằng:

- Mi đừng có tọc mạch vô méc với thầy Thiện Tân rằng có cha Thịnh đến nhà mà thầy giận.

Hằng hỏi:

- Tại sao giận?

- Sợ thầy bỏ bụng giận vì mình là người Lương mà đi kết nạp thân mật với ông cha ông chú bên đạo.

Hằng trề môi thở hắt:

- Ui ui dì ơi, mấy người như cha Thịnh, thầy Thiện Tân bụng độ người ta rộng chứ đâu có hẹp hòi như cái chõ hong xôi nhà mình.

Túc hỏi:

- Ông cha với ông giáo sư tới nhà mình để khiển trách hạnh kiểm của chị Hằng phải không ba?

Ông Phủ cười:

- Cha Thịnh hỏi mượn bộ sách…

Túc ngước mắt:

- Rứa còn ông giáo sư?

- Thì đi theo chơi với cha. Cha Thịnh bây giờ học trò cũ từng đàn từng lũ, cha đi đâu cũng có đệ tử đi theo.

Bà Hai gõ gõ chiếc bàn mài, cầm củ sắn cơm lên ngắm nghía. Củ sắn nhiều dây quá. Sắn năm nay ít bột, đợi mùa bình tinh tới mình mua vài thùng mài lấy bột.

Bà Hai đứng dậy:

- Thôi, đi vô bếp và sửa soạn nấu cơm tối. Con Hằng có rãnh thì vô với tao để tao sai vặt.

Hằng nói nhanh:

- Dì không để bà bếp làm cho?

Bà Hai lắc đầu:

- Ui! Bà bếp chuyên nấu đồ ăn mặn, đồ chay bà làm không ngon. Ui! Với lại… làm mâm cơm đãi thầy, mình phải lăn vào bếp tự tay làm lấy cho thơm tho tinh tấn, sợ bà bếp nêm ẩu nước mắm vô thầy ăn tội.

Bà Hai cho rằng ăn chay ngon miệng hơn ăn mặn. Mai kia ông Phủ chết bà sẽ vào chùa làm vãi sau khi kêu đại mấy thằng đàn ông gả hết cả bầy con gái. Ui! Chồng chết mà vô chùa là hợp lý nhất, khỏi bắt buộc con cái báo hiếu. Vô chùa ở là nên nhất, ở với con cái mất tự do đi.

Vô chùa ở cho sướng già, cả cái thây mà nằm nhà bắt con báo hiếu cực lắm. Con ăn của mình thì được chứ mình ăn lại của con nực cái bụng lắm. Bà Tham Vinh, bà Đốc Phú … chồng họ chết, họ vô chùa nấu ăn giặt áo cho các thầy, không lý chi đến chuyện đời nữa. Bà Tham Vinh đó, con trai út đậu tiến sĩ bên Tây rồi làm ra tiền biết bao nhiêu, lên chùa đó mời bà về để phụng dưỡng mà bà nhất định không về là không. Ngày cậu Út lấy vợ, bà cũng không chịu về đón dâu, giao hết đám cưới cho ông anh cả. Sướng thiệt là sướng! Cao đầu áo không lo không nghĩ… Ta mà hễ ba bay mà chết là tao lên chùa.

Hằng bĩu môi:

- Chồng chết lên chùa ở với thầy… kỳ thấy mẹ.

Bà Hai trợn mắt:

- Ở đầy tớ cho chùa thì kỳ chi mà kỳ.

Có tiếng kêu từ nhà trên dì ơi dì ơi rồi Đức chạy xộc xuống:

- Dì dì! Bà Đệ đến thăm dì.

Bà Hai vừa múc nếm chén cháo chay, vôi quăng cái vá chạy lên nhà. Bà Độ lắc đầu hoa tay:

- Mất rồi, mất rồi bà ơi. Tai họa rồi! Tai họa rồi!

Bà Hai hốt hoảng:

- Chuyện chi? Chuyện chi?

- Bị giựt hụi rồi… Mụ Tư trốn rồi.

Bà Hai mặt tái dách hét:

- Con mẹ Tư trốn rồi trốn rồi… Sái nghìn bạc…

Bà Độ đứng dậy:

- Đi ngay, mặc áo vô đi ngay lại nhà thằng cha Thừa.

Đức xuống nhà biểu Hằng dì đi rồi, dì bị giựt hụi dì đi kiện rồi, mi với bà bếp lo nấu xào cơm canh dọn lên mời thầy. Hằng đuổi bà bếp ra ngoài:

- Chị để tui làm bếp cho, chị tới nhà con Loan mượn cho tui cái này.

Hằng trao cho chị bếp miếng giấy gấp tư rồi lật đật vào bếp. Ui! Bà già đã nêm xong món cháo chưa đây? Hơi lạt một tí. Bà già tài quá, nồi cháo nấu không có thịt, không có xương mà ngọt quá là ngọt. Nồi cháo chay đây… Bà già sang quá ta, bà già không thổi bằng gạo mà thổi bằng bo bo với phù chúc, với nấm rơm, nấm đông cô, đậu phụ, kim châm… Ui! Bà già thương ông thầy quá! Nồi cháo hơi lạt… Thôi, ta cho vào hai muỗng nước mắm Phú Quốc với một tí vị tinh nữa là ngon. Hằng mở gác măng rê. Ui trời, làm đồ chay mà có cá hấp nữa! Trái mướp đắng mà bà già cắt giả hình y như con cá sông, có cả đậu xanh nữa, cả bột mì được, cả nấm mèo lại cả dứa nữa, cà chua chín nữa. Không khác chi con cá mù hấp kiểu Tàu. Thôi nêm vào hai muỗng nước mắm nữa cho mặn mòi thấm thía. Nồi giả cầy bà già cũng nấu rồi nữa. Nồi giả cầy coi bộ không ngon, chuối xanh nấu với đậu phụ với nấm mèo nêm với tương, với bột nghệ trộn đậu phụng rồi xào với đậu nành thì làm sao ngon được.

Thôi! Cũng thêm vô hai muỗng nước mắm nữa đi, cho vào hai viên súp gà nữa là yên chuyện. Món chả đã cắt sẵn. Món chả thì phải để vậy vì không thể chan nước mắm vô được… Mình phải làm món đồ xào… Chỉ còn món đồ xào nữa thôi. Giá này, đậu phụ rán này, bắp cải thái chỉ này, khoai tây, cà rốt, lá hẹ, bỏ cả mấy thứ vô xào chung với dầu lạc. Ui! Bỏ cái món dầu lạc đi, mình xào với mỡ. Phải ba muỗng mỡ mới béo được. Ba muỗng mỡ, hai muỗng nước mắm với tiêu, với bột magi.

Hằng lau bát đũa, lấy chồng chén, xới cơm, múc đồ ăn rồi gọi bà bếp đem lên. Nàng rửa mặt kẹp gọn đầu tóc ngúc ngắc bước lên nhà lớn thì bà Hai vừa về.

Ông Phủ đứng dậy hấp tấp:

- Răng đó? Răng đó?

Bà Hai đưa tay đè ngực:

- May quá, chút xíu nửa mất tôi sái nghìn bạc, chụp được cổ con mẹ Tư ở nhà mụ Thừa.

Đức nói nhanh:

- Khỏi mất tiền rồi.

Ông Phủ nhìn vợ:

- Như vậy là phước của cả còn đỏ lắm… Bao năm chơi hụi mà chưa hề bị giựt…Thôi cả đi thay áo mà ăn cơm.

Bà Hai vào nhà trong một lát bước ra giòn giã cười:

- Mời thầy dùng, ba dùng đi ba… Bữa nay có con gái của tui xuống bếp nấu đồ chay… Mọi người người nếm thử cái tài của tay khéo! Để coi nào… Ăn cái món đồ xào thử có ngon không nào.

Ông Phủ đưa tay:

- Khoan! Mời thầy dùng cháo đã. Ngó cái nồi cháo màu mè nổi lên là đoán biết ngon rồi… Con Hằng vô bếp được đấy chứ.

- Con Hằng rứa mà khéo ghê! Nấu ăn món gì cũng ngon… nấu ăn ngon còn trình bày đẹp nữa, khéo ghê! Mâm cơm ngon lành ghê.

Đức cười:

- Bao nhiêu món ăn dì đều làm hết, con Hằng chỉ có món xào. Bắt chảo lên trở lại xẹt xẹt là xong.

Bà Hai nói lớn:

- Hắn làm lấy hết để thầy dùng, dì đi lo việc dì chứ đâu có rảnh… Thưa thầy, thầy dùng thử coi cháu Hằng nấu nướng có được không ạ.

Nhà sư lễ phép:

- Dạ ngon lắm.

Hằng chỉ tay thẳng mặt nhà sư:

- Nhưng thầy đã dùng món chi đâu, thầy chỉ mới chan nước xì dầu…

Quanh mâm cơm mỗi người một tiếng cười, nhà sư cúi mặt. Hằng nhai mãi miếng cơm quên nuốt. Ui, bao nhiêu dĩa đồ chay ở đây đều trần tục mỡ màng nước mắm hết rồi, nếu thầy Thiện Tân là một bậc chân tu thầy sẽ ngửi được một sự hôi tanh nào đó mà buông đũa. Ngày xưa sư cụ chùa Từ Linh ngửi được mùi thịt gà ở trong cù lao canh thập cẩm nấu lợt sư cụ đã thở dài nhịn đói tụng kinh suốt từ chiều tới đêm mà không hề phiền gia chủ một lời. Bây giờ để coi thầy Thiện Tân có bằng được chút chéo nào sư phụ không? Để coi thầy Thiện Tân sẽ bỏ đũa hay vẫn tì tí nhai nuốt như mọi hôm? Mình thử giám sát cái công quả tu hành của thầy ấy xem.

Hằng khó nhọc để chan canh vào bát cơm để nuốt cho dễ. Nháy mắt một cái, Trang đã đón bát cơm từ tay nhà sư bới đầy. Hằng cười nụ nhỏ. Hằng chưa ăn hết chén cơm thứ nhất, nhà sư đã đưa Trang đơm đến lần thứ tư. Ui! thầy chẳng đánh hơi, chẳng ngửi mùi được chi cả, nhai nuốt thẳng thừng.

Nhà sư buông đũa, bà Hai hỏi:

- Cháu Hằng khéo đấy chớ thầy?

Thiện Tân cười:

- Dạ giỏi quá!

Ông Phủ hỏi có chi tráng miệng không. Bà Hai sai Minh vào trong bưng chè khoai mài ra. Thiện Tân nói:

- Ở đây được hai bác cho ăn ngon hoài, về chùa sợ hư nết ăn tương ăn chao không được.

Bà Hai cầm cùi dia chọc vào chén chè.

Hai người lại để tâm nghe tiếng máy bay. Một lát ngắn Hằng kêu:

- Ba sắp về rồi đó thầy.

Nhà sư ngậm miệng cứng. Ba bề bốn bên có những tiếng động nhỏ, có những tiếng ồn lẽ. Người con gái ôm cổ nói:

- Trong lớp học của em có nhiều tên học trò bần tiện ghê. Tụi hắn thấy cha Thịnh oai vang tụi hắn muốn xin theo đạo để cha cấp học bỗng cho đi ngoại quốc, nhà sư lắc đầu như một cái gạt phắt. Có một sự ra công quan sát khắp gian phòng. Người con gái kêu nhà sư:

- Bây giờ còn đang có một hiện tượng khá mới… Mấy anh chàng nhạc sĩ động một tiếng là kêu gào tới Chúa. Buồn cũng kêu Chúa, muốn lấy chồng cũng kêu Chúa, thất tình cũng Chúa ơi, nguyện cầu cũng Chúa ơi.

Nhà sư cãi:

- Người ta kêu tới Phật nhiều hơn.

Hằng đứng dậy, đi từng bước ngắn trên mỗi viên ca rô, nhặm lẹ dẻo mềm đến trước mặt Thiện Tân:

- Thầy nhắm em đi tu có được không thầy?

Nhà sư ne né đầu:

- Tối nay cô Hằng có phần không được tỉnh.

Người con gái phụng phịu:

- Sao thầy không trả lời em?

Nhà sư nói:

- Tối nay cô không được tỉnh.

Hằng kêu:

- Người ta đang tỉnh rót thế này mà bảo người ta không tỉnh.

- Cô Hằng nói ú ớ như mê ngủ trong lúc cô Hằng hát thật hay, nấu ăn thật ngon.

Hằng vẫn đứng trước mặt nhà sư mặt chong tròn:

- Chắc em đi tu được vì em có tài nấu đồ chay. Hồi nãy thầy thấy em nấu ăn có ngon không?

- Tuyệt!

- Rứa là em đi tu được rồi.

Thiện Tân cười:

- Cô Hằng mê ngủ rồi! Cô Hằng hãy trở về nghỉ ngơi.

Hằng giậm chân:

- Giờ này chỉ có gà Việt Nam ngủ, còn gà Mỹ vẫn còn thức để ăn cám gà. Gà trống thì cám sinh tố, gà mái thì ăn cám đẻ, gà con thì ăn cám bột, gà choai choai thì ăn cám dậy thì.

Nhà sư nói:

- Cô Hằng hình như đang ở trong một cơn mê nào đó.

Hằng ngồi xuống đối mặt:

- Em đang hoàn toàn có hồn. Cả nước giờ này không có con gà nào gáy cả. Lúc nào thầy cũng tự hào rằng chỉ mình thầy tỉnh.

Thượng tọa Thiện Tân nhìn đồng hồ:

- Cô Hằng thưa lại với cụ… Tối nay cụ mệt, tôi không thể ngồi hầu cụ được.

Nhà sư đứng phắt dậy lầm lũi đi nhanh. Người con gái trở về phòng mình vừa đi nhảy trên những viên ca rô.

Hằng nhìn vào gương, mớ tóc mèo mun vén thẳng lồ lộ màu trán trắng như bánh trôi một đường chỉ kẻ đen mỏng sát tận vào mí mắt, một chút phấn hồng ướt đập lên má. Hằng thở dài không một chút buồn phiền đứng lên đi rửa mặt đánh răng rồi ngồi vào bàn học ký tên Thu Hằng liên miên trên giấy trắng, cầm bút nguệch ngoạc vẽ hoa là mặt người. Hằng xé mấy tờ giấy vụn ra uể oải cầm cuốn sách coi qua loa rồi ngáp. Thôi để ngủ. Ngủ mấy cũng không vừa, ngủ cũng như cơm không bao giờ chán được.

Cha Thịnh đến nhà chơi nói với ông Phủ thầy Chu muốn xin cưới Hằng. Hằng lắc đầu ngay với cha. Ui chà! Thấy không cân rồi, không hạp rồi. Mới dạy người ta có mấy tháng đã đi hỏi người ta rồi trở tay không kịp mà suy nghĩ nữa. Con thì thủng tha thủng thẳng khoan thai cầm chân. Con chưa cần có gia đình.

Hằng đến trường mách với Khuê:

- Ông thầy Chu đi hỏi tao rồi.

Khuê chớp mắt:

- Cha Thịnh làm mối ai mà không biết… mi có sướng không?

- Tao mừng quá.

Khuê liếc nhanh bạn bĩu môi:

- Khi nào đám cưới?

Hằng nói nhanh:

- Tao không ưng lấy mô mà làm đám cưới?

- Hừ! Mi mừng lắm mà.

Hằng cầm tay bạn đứng lại:

- Mừng là một chuyện, mà ưng là một chuyện… Bây giờ ai đi hỏi tao, tao cũng mừng cả… Càng nhiều người càng mừng.

Khuê nhún vai:

- Một cuộc sưu tầm.

Hai người đi dưới những cây mù u mới trồng… Hằng đưa tay ngắt cành thầu đâu nhỏ. Ông Tổng Giám thị đi ngang lừ mắt. Hai cô gái vội ngã nón cúi đầu chào.

Khuê nói:

- Lấy giáo sư oai lắm mà… Tại sao mi không chịu?

Hằng cười:

- Ông thầy Chu khó thương bắt chết.

- Bộ mi dễ thương lắm chắc?

- Ông thầy Chu thì không dễ thương rồi đa.

- Chắc mi thương người mô rồi?

Hằng đột ngột đi tách bạn ra vài bước, lột chiếc nón xuống cầm tay quay vòng vòng.

Hằng bỗng cười:

- Tao đang phá.

Khuê nhìn qua:

- Tại sao mi không ưng ông thầy Chu?

- Ông thầy Chu đâu có đáng yêu bằng người tao đang phá.

Hai ba người học trò trai đi ngược chiều chăm chắm nhìn Hằng, người đẹp sáng nay diện màu xanh, luôn gì gì cũng mau xanh hết… Đố anh bảo sao trời xanh thì anh sẽ bảo anh yêu nàng. Xin em đừng bỏ áo màu xanh, đẹp như màu trời, đẹp như tình anh.

Hai người học trò trai đã đi xa, Khuê hỏi:

- Mi đang phá ai?

Hằng bật cười:

- Phá chùa chiền, đàn áp tôn giáo! Chọc ghẹo kẻ tu hành.

Khuê nói:

- Ông thầy Chu là giáo sư, mình là học trò… Thầy đã hỏi mình mà mình không ưng, thầy sẽ bẻ mặt. Thầy sẽ khó xử với những đồng nghiệp, thầy sẽ mắc cỡ với học trò trong trường.

Đối với thầy giáo mình phải có thái độ mềm. Có thể mình không yêu thầy, nhưng vì những sợ sệt để lại từ xưa, vì vâng lời, sự vâng lời có từ tiền kiếp, mà mình phải nhận cái đề nghị sống chung với thầy. Hằng muốn ông thầy Chu yêu Hằng thật say thật ngất, yêu dở sống dở chết, trong khi Hằng không yêu ông ta, Hằng muốn bao nhiêu người đàn ông cũng nhiều vô Hằng trong một lúc, Hằng không nhào vào ai hết… Hằng cũng không nghĩ rằng, được thầy giáo đề nghị kết hôn, đó là một lệnh đẹp. Mình phải tỏ rõ mình có óc tôn sư và lòng tri ân dạy dỗ.

Mình không nên liệt ông thầy Chu vào cái hạng học trò trai nhóc con trong trường… Đối với bọn đó Hằng sẵn sàng vật chúng như vật ngóe, như vật nhái. Hằng nói thật, ông thầy Chu không cưới được Hằng, vậy ai cưới được Hằng? Đừng có đem uy tín của thầy ra để chơi, để giỡn.

Hằng đáp chậm:

- Tao lấy sự đả phá hành hạ kẻ khác để vui. Tuy nhiên cuối cùng tao xây dựng.

Ông thầy Chu mà mi chê? Vậy ai mi mới lấy?

Hằng nói:

- Tao phải lấy người tao yêu, lấy cho kỳ được, lấy bằng đủ mọi giá, mọi thủ đoạn.

- Ai vậy?

- Một người không có nợ đời…

Thầy Chu đến trường trễ năm phút. Khi thầy Chu vào lớp bọn nam sinh vỗ tay rào rào. Hoan hô thầy! Vạn tuế thầy!... Con người thầy là một cây hỉ tín… Thầy có tin vui, thầy cho chúng em tiền đi thầy, thầy cho chúng em ăn bánh ít đi thầy, cho ăn trầu đi thầy, cho uống rượu đi thầy, cho vé xi nê đi thầy.

Bao giờ đám hỏi hả thầy? Bao giờ đám cưới hả thầy? Cho cả lớp đi phụ rể, đi đưa dâu… Cô dâu chú rể cân quá thầy ơi. Trông thầy đẹp trai mãn nguyện quá! Con người có đại hỉ trong bụng có khác.

Bộ mặt thầy Chu đỏ hực như hấp nóng. Hằng cúi gầm trên bàn mái tóc bồng phủ che đến cằm. Suốt giờ đầu thầy Chu không giảng được một chữ một câu. Chàng chưa kịp mở miệng, học trò đã hò hét gào rống lên. Chàng nghẹn cứng cổ, cười trừ mấy cũng không hết thẹn. Hằng bất động ngồi đến đông đặc máu không nhúc nhích.

Giờ ra chơi, thầy Chu nhảy vụt xuống cầu thang lướt nhanh vào phòng giáo sư quên mang cặp theo. Hằng cầm tay chị em Diên cắm cúi đi xuống chỗ để xe. Bọn học trò ở lại trong lớp lấy cặp của Hằng đặt lên bàn giáo sư và lấy cặp của thầy Chu để vào chỗ của Hằng.

Hết giờ chơi, thầy Chu vào trễ năm phút, học trò lại vỗ tay rầm rập, thầy Chu lắc đầu:

- Thôi một giờ đã trôi không rồi… Các anh các chị lấy vở ra chép bài.

Chàng mở cặp lấy cuốn thế giới sử. Chàng vội rụt tay lại, và chàng đã đặt lên bàn cuốn vở Vạn vật đề tên Tôn Nữ Thu Hằng. Chàng ngó vào cặp, chiếc ví nhỏ đựng tiền xinh xinh, hai cái kẹp tóc bằng đồi mồi, mảnh khăn tay màu hồng phấn xếp làm tư. Thầy Chu thấy cả chiếc lược hồng và mảnh gương tròn mặt. Chàng ngồi sửng như củ khoai môn sượng liếc xuống bàn đầu xóm nữ sinh. Hằng chống má ngồi cứng ngắc như hình gỗ.

Bọn con trai giục:

- Thưa thầy đọc cho chép đi.

- Thầy lên tiếng đọc đi.

- Tất cả đã lấy vở ra rồi, cả chị Hằng cũng lấy vở ra rồi, đọc đi cho chép.

Thầy Chu cười đỏ lòm mặt. Thầy, thầy dạy đi thầy, ngồi không cả giờ rồi. Học ra học, chơi ra chơi thầy. Năm nay thi mà thầy, thầy có tin vui rồi thầy lơ là việc giáo dục.

Hằng bấm diệp:

- Tụi con trai tráo cặp tao với ông thầy Chu, mi lên đổi lại cho tao đi.

Diệp đứng dậy đem cặp sách của thầy Chu lên, lấy cặp Hằng xuống. Bọn con trai vỗ tay giậm chân đập bàn cười rộ.

Tan học, Khuê về cùng đường với Hằng, Khuê nói:

- Chuyện mi với ông thầy Chu hẳn um sùm lên cả thành phố biết rồi. Ai cũng biết hết cả rồi.

Hằng càu nhàu:

- Phiền cha Thịnh ghê! Tự nhiên làm mối làm mai… Từ đây tao bở giờ ông thầy Chu, tao không đi học.

- Thật có hại cho thể diện ông thầy Chu… Mi nghĩ lại đi. Hằng đi gần bạn:

- Cha Thịnh thật đáng trách.

Khuê hử:

- Cha làm đúng… Mi mà từ chối ông thầy Chu, rồi đây ông thầy Chu đi dạy học khó thở lắm, học trò chọc cho chết luôn.

Qua khỏi cây cầu bạc, Khuê lên dốc, Hằng rẽ xuống con đường nằm dọc bờ sông vào nhà. Giàn hoa giấy xanh um càng phơi nắng càng trổ bông sum suê. Mấy cây dừa xiêm sà là xuống thấp như muốn vuốt vai những người qua đường. Dọc hàng rào có trồng toàn cây tơ hồng có vài bụi tường vi vươn cành gai góc.

Hằng vào phòng quăng cặp thay quần áo rồi chạy ngang qua nhà Trang bế thằng Cu. Ui thằng Cu, thằng Cu ăn trộm trứng gà, bà già bắt được cốc đầu thằng Cu. Ui thằng Cu, đem thằng Cu lên thầy Thiện Tân xin quy y.

Trang nói:

- Sáng nay chị Đức đòi đi tu.

Hằng nhỏ giọng:

- Trong nhà mình, chị Đức đẹp nhất lại rủi ro nhất… Phiền! Quanh năm uống thuốc bổ, quanh năm ăn chay cũng phiền, quanh năm uống thuốc bổ cũng phiền.

Trang cho con uống nước xong quay sang:

- Mi sắp có chồng sướng hí?

Hằng trợn mắt:

- Lấy đâu mà có?

- Cái ông giáo sư dạy mi ở trường chứ ai?

Hằng hất vai:

- Ui chà, được ông ấy đi hỏi phồng mũi lên một tí, nhưng tới trường bọn học trò con trai hắn chọc quá, ngồi sượng trân cả mặt mũi.

Hai giờ sử địa sáng nay không học được một chữ, tụi nó vỗ tay giậm chân rào rào, lấy cặp sách của em đưa cho ông Chu rồi đem cặp ông Chu xuống đặt trước mặt em.

Trang kêu:

- Được giáo sư đi hỏi là sang lắm rồi… Lúc tao đi học có mấy thằng bạn con trai gởi thư…

Hằng lắc đầu:

- Nhưng em không yêu ông thầy Chu, không lấy thầy Chu.

Buổi chiều Hằng nghỉ học đi phố với Trang rồi về nhà dạo đàn cho đến tối. Thầy Thiện Tân lên chùa lấy sách hai ngày chưa trả lời, ông Phủ phải đi mời. Hai người ăn cơm ở chùa, gần khuya ông Phủ kéo thầy về đánh cờ.

Hằng đi thơ thẩn nghĩ đến giấc ngủ và sự yên nghĩ. Hằng cho rằng nếu ngày là hy vọng thì mầm hy vọng chỉ đến một nửa, chính về đêm hy vọng mới tròn, mới tự đặt gọc trong ngưỡng cửa hạnh phúc. Một sự run rủi nào đó khiến những bước chân người tình tìm đến với nhau. Một sự che chở vỗ về nào đó trước những gì ngày đã làm chói lóa. Ngày là một sự mệt, đêm là một sự khốn.

Đêm là khắc canh của hạnh phúc. Đêm đầy ắp những chia lìa và những gặp gỡ, có thể an ủi những lo âu, có thể giấu kín những tủi nhục, có thể ngọt ngào như mật, có thể tươi mát như da, có thể nồng nóng như hơi thở.

Hằng vẫn đi thơ thẩn, mười hai giờ đêm lúc mọi người an giấc. Hằng nhìn ba bề bốn bên im lặng rồi tách mình qua cây ngâu, bước tới gõ cửa phòng thượng tọa Thiện Tân. Hằng gõ cửa không luôn tay mà từng tiếng từng tiếng.

Cánh cửa vừa hé, Hằng đã nhào vào và ngả kềnh ra trên nền gạch bông.

Thượng tọa Thiện Tân đứng như bất tỉnh, miệng há ra như con ngao luộc. Nhà tu hành đứng mê lú, kinh hoảng cứng đờ, mắt không chớp.

Người con gái lóp ngóp ngồi dậy òa lên khóc. Miệng mếu con nít, nước mắt đong đầy. Cơn khóc có dấu ngắt, cơn khóc dài sướt mướt, chan hòa dầm dề, lai láng. Cơn khóc ầm ĩ, có âm thanh nổi.

Người tu hành đã nhắm mắt.

Người con gái nghẹn ngào:

- Thầy ơi! Em sắp bỏ nhà ra đi.

Người tu hành nhắm mắt và miệng ngậm cứng.

Người con gái rền rĩ:

- Em phải thoát ly gia đình để khỏi tự tử.

Nhà tu hành mở mắt ra, đầu cổ cũng tê liệt.

Người con gái ái oán:

- Em đi xa biệt tích hay em chết cũng vậy thôi… Thầy thầy… em đi.

Thiện Tân cúi đầu, Hằng não nùng:

- Em đi, nhất định đi… Em sang từ giã thầy. Sau khi em đi rồi, gia đình khám phá ra mất em, xin thầy hãy nói lại là em đã… Thôi, xin thầy trao hai cái thư này lại cho gia đình.

Thiện Tân ngước lên nhìn Hằng tiếp:

- Em đi hay em chết cũng vậy thôi.

Thượng tọa Thiện Tân chạy lại núp sau chiếc tủ, thở không ra mà mồ hôi vã đầy. Thượng tọa úp mặt vào góc vuông giữa bức tường và chiếc tủ trong lúc Hằng hổn hển:

- Thầy không giúp em thì em chết mất.

Người tu hành rút vai dụi đầu vào hơn nữa. Hằng héo úa:

- Em đang tuyệt vọng cùng cực đây, thầy hãy tỏ ra một chút thiện chí giúp em đi thầy, em chết mất.

Nhà sư vẫn không quay lại, hai tay ôm rị lấy má:

- Thầy thầy, ai phạt thầy quay mặt vào vách ba năm vậy thầy?

Hằng bỗng phát lên cười rát tai:

- Thầy đi tu để trốn quân dịch phải không? Thầy đi tu để hoạt động cách mạng phải không?

Thượng tọa Thiện Tân dợm bước đi, Hằng nhảy phóc một cái túm ngay vạt áo:

- Thầy, thầy hãy buông vài lời cứu rỗi em. Em sẽ thoát ly đây. Ba với dì ép em ức quá, em không muốn lấy người ta, em sẽ đi trôi dạt vào một trại tế bần, một nhà thương thí, em sẽ chết vì lao phổi hoặc bịnh sài xương chết âm thầm khắc khoải không thân nhân nào bên cạnh, không được ngắc ngoải trăn trối với ai một lời. Thây ma của em được quàng trong nhà xác, em sẽ được đem đi chôn bó gọn trong chiếc chiếu.

Giọng nói nhà sư run run:

- Nhưng mà chuyện chi đã xảy ra cho cô?

Hằng nức nở:

- Thầy hỏi với giọng gượng gạo quá, em không đủ can đảm khai với thầy. Thầy có thực tâm giúp em đâu.

Hằng nhắm mắt, mặt ngước lên cho hai lỗ mũi lộ rõ. Đôi môi hồng nóng hực. Sau cơn khóc mặt tươi lại, Hằng đột ngột lặng câm ngồi dựng thẳng, mắt đứng tròng mà miệng ngậm cứng. Một hai tiếng động gì đó từ ngoài vườn.

Người con gái lay động tròng mắt ngơ ngác:

- Thầy ơi thầy, em xa lạ với ngôi nhà của em quá. Đây là đâu? Là chùa hay là nhà? Em sợ quá! Thầy là đàn ông một trăm phần trăm, thầy không phải là thượng tọa nữa rồi, thầy không phải là một vị trụ trì nữa rồi, thầy cởi áo để hoàn tục đi thầy. Thầy đi tu làm chi? Bày đặt. Thầy đưa áo vàng cờ cho em cất giữ đi thầy. Thầy mặc áo màu cờ vàng trong khi những nhà sư khác mặc áo nâu sồng. Một cánh tay thầy để trần trông hấp dẫn quá. Đêm nay, thầy mặc áo bà ba trông khoẻ mạnh hút hồn quá! Thầy đưa áo tu cho em xé đi thầy! Đi tu làm gì thầy? Đi tu cho ai nhờ đó thầy? Ai đi tu nấy thành Phật. Ai đi tu nấy nhờ. Ích kỷ tột độ. Đi tu là vì mình chứ không phải vì người.

Đừng đi tu nữa có hơn không? Tu hú tu huyền chỉ có loài người mới đi tu. Vì chỉ có loài người mới độc ác. Sợ loài khỉ cũng bắt chước loài người mà đi tu mất. Đi tu làm chi cho đọa đày. Hãy ở yên giữa đời mà làm người. Làm đàn ông làm đàn bà. Tiên nữ mà còn xuống trần đưa cánh cho người để người ta nhận làm vợ nữa là. Thầy có biết tiên cô đưa cánh cho tiều phu giữ không? Xưa có một người tiều phu vào rừng đốn củi… Hết!

Thầy, thầy đi tu làm gì thầy? Đi tu chẳng có ích gì cho mình cũng chẳng có ích gì cho ai. Đời bây giờ đi tu mà làm gì. Đời bây giờ đừng từ bi với ai cả đi thầy… Đời bây giờ chết nay sống mai… Hươu nai chó mèo chiến tranh… mệt thấy mẹ! Đi tu mà làm gì? Đời bây giờ, chữ tình chữ lý chữ nghĩa, chữ nhân, tu gạch toẹt một cái là hết.

Thiện Tân tái mặt:

- Cô Hằng nói xàm rồi! Cô Hằng nói mê rồi!

Hằng trợn mắt:

- Ai có mắc bịnh chi đâu mà mê man nói xàm nói bậy. Hằng tỉnh còn hơn thầy Thiện Tân nữa.

Nhà sư bặm miệng:

- Cô mê ngủ hay mê hoảng vậy cô Hằng? Tôi sang thưa với cụ Phủ vực cô về ngủ.

Hằng đưa tay lên miệng:

- Ấy chết… chết cả hai. Em sang đây nhờ thầy cứu giải cho mà.

Nhà sư lắc đầu:

- Đêm khuya khoắt, cô Hằng về ngủ. Cô Hằng đừng rườm lời sợ xảy ra chuyện không tốt.

Hằng đứng bật dậy, đôi mắt khổ lớn mở sáng nhất nhìn Thiện Tân. Hàm răng trên hé trọn. Hằng cười mà không ra cười khi nhà sư quỳ xuống đánh ba tiếng chuông chấp tay đọc bài sám hối:

Xưa kia gây nên bao ác nghiệp,

Đều vì ba nghiệp thâm, sân, si,

Bởi thân miệng ý phát sinh ra,

Hết thảy từ nay xin sám hối.

Nhà sư vái xuống, đánh ba tiếng chuông rồi đứng dậy vừa kể vừa đọc:

Sám hối phát nguyện rồi

Con xin dốc lòng kính lạy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng hết thảy Phật pháp Tăng thường ở khắp mười phương.

Hằng xua tay cười nhạt:

- Bài kinh Sám hối bắt em nghe làm chi không biết? Đồng hồ chạy mau bắt xộp phổi. Em không muốn nghe thầy tụng kinh bao giờ hết, tí nào hết, thầy hãy ngậm câm đi.

Thiện Tân cười:

- Bây giờ cô Hằng hãy hát lên như con sao sáo.

Hằng rên lên:

- Thôi đi, thầy giữ mình một cách ích kỷ, thầy giữ cho cái tiếng tốt tu hành của thầy. Thầy gây ra tiếng động để chứng tỏ lòng quang minh chính đại.

Em không thích nghe tiếng tụng niệm bây giờ. Em không thích nghe hát bây giờ. Hay huyên náo đó là bờ thành ngăn cách chia đôi em và thầy, là sức đẩy tống em lăn xa thầy, là đường chéo cắt rẽ thầy ra khỏi m. Hai huyên náo đó nói lên lời phân biệt, tạo thành ranh giới gắn giữa hai hồn.

Thiện Tân tụng tiếp bài kệ mõ kinh:

Phép mầu nhiệm ao sâu khôn xiết,

Trăm nghìn muôn ức hiếp khó tìm.

Hằng bịt tai:

- Một bài kệ mà bà mà dì thường tụng. Thầy vẫn đem tiếng ồn ra làm chứng cho lòng quang minh để tách rõ cái tà tâm của em. Thầy Thiện Tân, Điệu Tân của con bé Hằng ngày xưa, Điệu có cho Hằng ngồi đây nữa không?

Nhà sư dịu giọng:

- Giữa chúng ta vẫn không có gì để chia rẽ ra. Hằng về ngủ đi, Hằng sắp sửa là của người ta rồi.

Hằng hét nhỏ:

- Ai nói với thầy chuyện đó? Tại sao thầy biết chuyện đó?

Nhà sư điềm tỉnh:

- Cụ nhà rất hoan hỉ về chuyện này. Cụ bảo rằng Hằng sắp là một phu nhân của một vị giáo sư ở ngoại quốc về.

Hằng phụng phịu:

- Thầy không được tin như vậy. Không ai có quyền chấp nhận chuyện đó.

Thiện Tân chợt cười cao lên, cười thắng với Hằng rồi Thiện Tân lắc đầu, nụ cười vẫn tiếp ở trên môi, ở trên mắt. Cái nhìn người con gái ướt rượt sáng rỡ. Hằng đang hít ngửi mùi bông bại hoại thơm ngát mùi trong đêm, một thứ bông cành nhỏ dại buông thỏng xuống mỏng manh uốn lượn không thẳng, một thứ bông màu xanh như lá úa, một thứ bông mang cái tên rất xấu nhưng êm đềm hòa nhã thơm nức trong nhà và thơm xa đến tận hàng xóm.

Hằng từ từ đi tới:

- Tôi không bao giờ có thể lấy ông Chu… Ông ta muốn lấy tôi, cha mẹ tôi muốn gả tôi cho ông, nhưng tôi không muốn. Hôm nay tôi sang đây nhờ thầy Thiện Tân can thiệp với cha mẹ tôi rằng tôi không muốn bị ép làm vợ giáo sư Chu.

Thiện Tân nói:

- Nhưng… tôi và bất cứ ai cũng đồng ý với cụ Phủ.

- Thầy không được nói bậy.

Nhà sư nói:

- Thôi, cô về ngủ đi.

- Hứ.

Nhà sư gục đầu, miệng ngậm cứng mặt vuông mạnh.

Hằng bỗng cười dài:

- Hai giờ khuya rồi… chắc thầy đang muốn phi thân lên mái ngói. Thầy phi em cũng phi theo.

Thiện Tân đứng phắt dậy bỏ đi ra ngoài phòng khách ngồi xuống chiếc ghế dài đọc sách cho đến sáng.

Thượng tọa Thiện Tân chỉ điểm tâm một ly sữa rồi lấy xe đạp đến thư viện ngồi đọc sách quên bữa ăn trưa và bốn giờ chiều thượng tọa trở lại nói với ông Phủ xin về chùa.

Ông Phủ chưng hửng:

- Ui! Chi lạ rứa?

Ông quay ngó bà Hai:

- Cái chi lạ rứa?

Bà Hai ngưng nhai trầu:

- Thầy mới chơi có một bữa sao đã về gấp vậy? Thầy đã bỏ về tuần qua rồi, ông nhà tui lên chùa năn nỉ rước thầy về được có một đêm đã lại di. Xin thầy ở lại chơi với ông nhà tui cho sáng nhà sáng cửa.

Nhà sư chấp tay:

- Thưa hai cụ, tôi xin phép trở về giữ chùa để thầy Lý đi Đà Lạt ít bữa.

Bà Hai vội vái:

- Mời thầy ở chơi đã.

Ông Phủ cũng nói:

Thầy bỏ về, chúng tôi thật hết sức buồn, hết sức áy náy.

Nhà sư lạnh buồn.

Xin phép hai cụ để phải về chùa lo công chuyện.

Hằng ngủ trưa dậy năm giờ chiều thì sư đã về chùa. Đức cầm ly nước lọc đi vào:

- Thầy Thiện Tân chắc phải có tâm sự. Đêm qua tao thấy thầy ra phòng khách ngồi tới sáng.

Hằng ngáp:

- Ui! Tu hành gì mà cũng tâm sự.

Sáng hôm sau Hằng bỏ buổi học đi xe lên chùa Từ Linh. Ngõ vào nhà chùa đi qua những bóng mít xoài cam ổi âm u. Chưa có chiếc tàu bay nào đi qua khác biệt tinh thần bầy chim sẻ nhỏ đang họp đảng trên đỉnh mù u.

Hằng vào nhà ngang đợi cả tiếng mới thấy Thiện Tân đi xuống. Người con gái đứng dậy:

- Thưa Thầy, thầy Lý mô không thấy ạ?

Nhà sư nhìn thẳng:

- Thầy Lý về quê của thầy rước mẹ… Thầy Lý đã mua được căn nhà ở An Cựu cho bà cụ ở.

Người con gái cười. Thầy Lý giàu có quá, thầy Tân chắc cũng rất giàu, chắc cũng có bất động sản?

Hằng mở tròn mắt:

- Sao bảo thầy Lý không còn cha mẹ?

- Thầy nói mới nhận được mẹ cách mấy năm nay… Trước kia chính thầy ấy cũng tưởng mình mồ côi.

Thượng tọa Thiện Tân đặt réchaud nấu nước rồi pha trà. Hằng xua tay: Em không uống, em không ăn chuối, em chỉ muốn xin thầy tha lỗi, vì em đã làm phiền một cách lõa lồ. Thầy Tân hãy khinh bỉ em vừa phải thôi, đừng nhiều và cũng đừng ít. Thầy hãy bỏ qua những lời em mê sảng, những câu nói em nói liều, những việc em làm dại. Thầy bỏ về chùa đột ngột, một người đã làm thầy giận cả nhà.

Thiện Tân nói:

- Đừng nhắc đến chuyện gì ở đây.

Người con gái cười:

- Sáng nay em bỏ học lên xin lỗi thầy.

Nhà tu hành lắc đầu:

- Cô Hằng không có lỗi.

- Em mang tội với thầy thật nhiều không phải chỉ mới đêm qua.

Nhà sư lắc đầu, Hằng tiếp:

- Em đã phá công tu của thầy.

- Chưa phải vậy, chưa đến lúc.

- Em đã cho nước mắm, cho mỡ heo vào những dĩa chay.

Nhà sư đứng vụt dậy.

- Em đã cho rất ít lòng đỏ hột gà vào cốc cà phê sữa thầy điểm tâm buổi sáng.

Nhà sư để rơi người trên chỗ ngồi.

- Em đã bắt con chó mi-nô ăn chay suốt năm tuần lễ nay.

Hai cánh mi người tu hành khép lại.

- Em đã tắm nước hoa lên kinh sách của thầy và làm rơi phấn bôi mặt vào những trang kinh sách.

Nhà sư gục cổ. Người con gái nâng cằm mình:

- Em đã đổ cả soong nước luộc gà vào nồi miến măng chay trưa ngày rằm hôm kia.

- Hôm mồng năm, nhà nấu phở chay đãi thầy em sợ nồi nước dùng không ngọt, em quăng vào mấy cụ xương heo.

Nhà sư ôm đầu, người con gái bóp trán:

- Những tội nhỏ đó không phải thầy phạm mà em phạm.

Nhà sư khô khan:

- Cô Hằng tinh nghịch quá!

Hằng đứng lại sát bên người tu hành:

- Em đã phạm những lỗi đó nhưng xin thầy đừng phiền em. Em dại như con dế mèn mà thầy.

Nhà sư cười phì:

- Cô mà dại, cô khôn vụn khôn vặt đến độc ác.

Hằng mở lớn mắt:

- Trên cuộc đời có bao nhiêu kẻ độc ác hả thầy? Chỉ có em không thôi phải không thầy?

Ấm nước sôi bốc khói phì phì. Hằng khom người xuống nhấc lên, vặn nhỏ réchaud, thổi tắt. Hằng pha trà và cả hai cùng đợi trà ngấm.

Hằng nhìn cuốn sách dưới hai cùi chỏ nhà sư:

- Thầy đang đọc những trang kinh ngọc. Thầy là một nhà chân tu nhưng còn thấy thấp thoáng ở thầy một con người rất tiểu thuyết, rất thi ca, rất âm nhạc, rất…

Chị Trang, con Túc, con Uyển đã coi thầy như một mùa đông già cỗi, một buổi chiều đã xế. Thầy âm thầm, nghiêm trang, lạnh nhạt. Họ còn coi thầy như con tàu buồn thở dài trước khi đến. Họ còn coi thầy như một bản tin buồn đọc chậm. Không, thầy không như mùa đông vì mùa đông vừa buồn vừa phiền. Ngọn đông phong nửa đêm rát buốt nhức da, tê thịt dù chăn mền đã ủ kín buồng ngực. Sáng ra mặt trời đã trốn mất sau những bức thành dãy mây chì nặng trĩu. Cây cối bị bốc lột trụi! … Lá rụng tự lúc nào không ai biết. Lá rụng khi cây tự ý thở dài. Không, anh không như mùa đông.

Thiện Tân cười:

- Cái gì cũng được.

Hằng kêu:

- Trời sập cũng được sao?

Nhà sư chợt nghiêm mặt. Người con gái cười:

- Thầy làm thơ hay ghê! Em có một bài thơ của thầy.

Da mặt Thiện Tân chợt đỏ ánh, Hằng xoa hai bàn tay vào nhau:

- Bài thơ của thầy hay ghê. Thầy kêu tên nàng Lộng Ngọc hoài trong thơ.

Nhà tu hành lẩm bẩm:

- Kêu tên nàng Lộng Ngọc…

- Dạ…

- Tôi kêu tên nàng Lộng Ngọc hồi nào?

- Bất cứ lúc nào. Em không là nàng Lộng Ngọc, em là một đứa đại đa tình, em dâm như ngựa giống. Nàng Lộng Ngọc thanh khiết trong trẻo, mắt như nước lã suông lạt, như những đĩa đồ chay. Em tục lụy, em lợn mỡ. Ngày thôi nôi của Lộng Ngọc nàng đã chọn hòn ngọc nên ngày hạnh phúc nàng đã đạt được một vòng chân không, trên đầu nàng đã đạt được một vùng vô vi tâm hồn ngát rộng. Nhưng em là Hằng, em mê cuộc đời nên em không ưng lấy Tiên Sử, tình yêu không phải là một cuộc hòa nhạc tiếng tiêu quấn quyện tiếng sáo.

Nàng với chàng ở với đời tạm nửa năm rồi về tiên. Hai người khinh cuộc đời của em quá! Số phận của Lộng Ngọc chắc chỉ có một mình Lộng Ngọc thích. Em không thích, em không ham. Mối tình của nàng chỉ là một tiểu thuyết. Mối tình của nàng là một phiên tu, chỉ là một sự gạn lọc những cặn bã thể xác để mà bay cao lên trời. Không đứng trong quê hương mà yêu nhau, tình yêu đó thật buồn. Không đứng giữa cuộc đời mà yêu nhau, tình yêu ấy không còn sướng khoái.

Lộng Ngọc đã lấy một ông thần, một ông tiên, một ông bụt. Em không muốn cái số phận đó. Lộng Ngọc không được lấy người, người đàn ông. Em phải lấy một người và phải đứng trong cõi tục. Tiên làm gì có tình ái. Chỉ loài người mới có tình ái với nhau. Người nam lấy người nữ, Lộng Ngọc phải từ chối sớm, từ chối thịt cá rau cải, và có lẽ phải bấm bụng không làm ái tình sinh lý, Lộng Ngọc và Tiên Sử, chưa chắc đó là một tình yêu mà chắc đó là tu. Đó là tu. Đời còn gì buồn hơn là đi tu. Lộng Ngọc đã bị áp giải lên tiên. Trên tiên làm gì có chuyện vợ chồng. Muốn làm vợ làm chồng, có những vị tiên nam nữ đã trốn xuống trần. Hoặc xin với trời cái đặc ân đầu thai làm người hạ giới. Giữa cõi tiên và cõi trần, em xin ở lại trần…

Nhà sư cười hồng:

- Cô khôn ngoan lý sự quá.

Hằng cũng cười:

- Lý quạ kêu… Quạ kêu nữ đáo nam phòng…

- Bậy bạ.

- Em về nghe thầy.

- Cũng được.

- Thầy đuổi em về phải không?

- Hằng ngồi lại.

- Em ngồi lại suốt ngày. Em ngồi lại suốt đêm nhé!

- Hằng ngồi lại rồi Hằng hát cho tôi nghe chẳng hạn.

- Hết hơi rồi thầy ơi.

Thiện Tân mời Hằng ăn chuối, Hằng lắc đầu. Thầy ra vườn hái ổi cho em đi, hái gửi về cho nhà em mỗi người một trái.

Nhà sư nghiêm giọng:

- Cô Hằng lên đây có việc gì nữa không?

Hằng mắt ướt:

- Chủ ý em lên đây để làm gì em đâu dám khai. Em là người nấu xôi vò, nhưng, tay em không già, không khéo nên bao nhiêu xôi vò đều thành xôi xéo hết… Bây giờ em xin xéo về vậy. Thầy Tân, em xéo nhé, em về nhà.

Hằng trở lại nhà ngủ trưa với mấy giọt buồn trong mắt. Hằng nằm nướng, có tiếng nhạc huyền. Có một cành lá run run chòi vào cánh cửa khi con chim nhỏ cất cánh reo ca từng giọt chuông trong trẻo.

Hằng ngồi dậy, chiều thật khó chịu. Hằng thật hiểu lòng mình. Ngoài hiên sau, áo quần đàn bà phơi đầy hai sợi dây thép. Hằng đắng ngắt miệng, ngồi dậy bước ra phòng khách đưa cả hai chân lên ghế. Người con gái cúi xuống nhìn những móng tay móng chân cũng đỏ. Hằng gãi bụng, gãi lưng và gãi cùng cả đùi trong lúc chiếc đầu và bao nhiêu tóc cũng cảm thấy ngứa rồi đôi tay Hằng tình cờ ôm đôi vai. Buổi chiều nặng trịch, thái độ ngồi ngâm của mình cũng nặng trịch.

Có tiếng gót giày cứng bước vô. Thầy Chu đứng ở cửa khi Hằng ngước lên:

- Thầy!

Người đàn ông ngồi xuống ngay:

- Chiều thứ bảy không đi chơi sao Hằng?

- Dạ ngồi đây cũng được.

Thầy Chu cười:

- Ngồi đây có khác gì tự cất mình vào kho.

- Con cũng là hàng tồn kho mà thầy.

Hằng đi xuống nhà biểu thằng nhỏ pha nước và đứng chần chờ một lát lâu mới lên:

- Hằng đừng xưng con với tôi nữa.

Cái rùng mình rõ ràng nằm ở vai. Hằng ngước lên ngó người đối diện làm thinh. Da thầy Chu trắng quá. Đàn ông da trắng quá không nên. Da trắng, mắt vàng, răng vàng. Phải rồi, tôi xưng con với thầy dạy, tôi xưng em với thầy tu. Tôi muốn gọi thầy giáo bằng ông, tôi muốn gọi thầy tu bằng anh.

Thầy Chu lại nói:

- Hằng đừng xưng con với tôi nữa.

- Thầy là giáo sư…

- Tôi đang là một thí sinh của Hằng.

Hằng cười lừng khừng:

- Đừng nên làm vậy.

- Cha Thịnh đã nói rõ cái quyết định của tôi với cụ nhà rồi. Hằng… Tôi không bị loại từ vòng đầu chứ?

Hằng cúi xuống những tấm gạch bông:

- Hằng không yêu thầy, Hằng không lấy thầy. Thầy hãy về hỏi vợ chỗ khác.

Màu da của thầy Chu càng bệch bạc. Hai mắt chàng nhắm lại thật nhiều phút. Người đàn ông ngồi trước mặt Hằng không có duyên một tí nào cả. Học trò chọc “Chu bạch tạng, Chu sán lãi…” thật đúng.

Chu mở mắt:

- Tôi mà bị từ chối sao Hằng? Tôi đi hỏi Hằng mà không được sao Hằng?

Hằng gật:

- Nếu được thì dễ quá! Đi hỏi Hằng làm vợ không phải là chuyện như trở bàn tay.

Người đàn ông tái mặt:

- Vạn cấm Hằng?

Hằng cười không hé răng. Thầy dốc, thầy cao ngạo quá, thầy không chịu đồng hàng với những người đàn ông trước mắt Hằng. Học trò gái của thầy thầy tưởng bảo nó lấy thầy là nó vâng lời cái rụp sao?

Hằng nói:

- Ngày xưa Hằng đi học lớp ba, thầy giáo sai gì cũng làm. Sai về nhà lấy quạt, lấy sách, tưới cây, làm cỏ… Làm bài toán trật thầy vẽ râu lên mặt. Bây giờ… bây giờ…

Thầy Chu xoa tay:

- Giữa chúng ta không có một sự thông cảm mênh mông.

Thượng tọa Thiện Tân xách hai thùng nước vào đã thấy Hằng ngồi ở nhà khách rồi.

Hằng đứng dậy cười:

- Ngày nào thây cũng thấy em bên thầy. Vì thầy mà em nghỉ học, vì thầy mà em… Thầy còn đuổi em về như hôm qua không?

Nhà sư buồn so:

- Hằng ngồi… Lòng thành thật của Hằng sáng vằng vặc…

Hằng hớn hở:

- Thầy Tân… thầy mời em ngồi chơi phải không? Em càng ngồi chơi với thầy, càng có lợi cho em phải không? Em đã bắt đầu có thắng lợi phải không thầy?

- Tôi không biết… Cô nên về là hơn.

Hằng rên:

- Em dễ ghét đến kỳ cùng vậy hả thầy?

Thiện Tân lắc đầu:

- Hằng nên lấy giáo sư Chu.

Hằng háy dài:

- Nói đi nói lại mãi cũng câu đó. Dễ ghét!

Hằng nên làm điều đúng.

Nhà tu hành nhìn theo mắt cô gái, thấy nàng ngó mãi chân mình:

- Cô Hằng lại mê man lảm nhảm.

- Vâng, em mê man quá rồi, em điên quá rồi. Đêm qua em chạy ra vườn ôm gốc cây tre vừa trèo vừa trút.

Nhà sư nhìn đồng hồ:

- Trời sắp tối rồi, cô Hằng nên về cho kịp cơm.

- Em không về, em không ăn.

- Trời tối rồi.

- Em không sợ ma.

- Đi trong đêm bất tiện.

- Thì em ở đây vậy.

- Hằng đừng nói nhảm nữa. Hằng nên về.

Hằng nhắm mắt, Hằng mở mắt ra, Hằng nhào tới đứng trước mũi nhà sư:

- Chỗ này tá túc cũng được chớ thầy? Ở đây cũng có phòng ăn, phòng ngủ, phòng học, nhà tắm, nhà tiêu. Em cũng có thể ngủ lại đây được chứ bộ? Chẳng bao giờ thầy bắt em ra ngủ ở bụi tre cả.

Nhà sư lắp bắp:

- Cô Hằng!

Nhà sư đứng xuôi tay trong một thế hàng phục nào đó. Cô gái nhoẻn miệng cười đong đưa mềm. Cô gái bước tới đưa mặt vào mũi Thiện Tân:

- Thầy đừng cứng ngắc như cây tre chỉ có mười đốt, đừng khô khan như cây tre lòa xòa rễ, đừng vô tích sự như cây tre già năm năm. Em không muốn ôm cây tre, em chỉ muốn ôm thầy.

Thiện Tân hó hé không được, ú ớ không được, miệng há lớn có thể nhét một đồng bạc Ngô Đình Diệm, Hằng vụt đưa thẳng cánh tay tát vào mặt nhà sư một cái:

- Tỉnh đi, tỉnh đi… đừng trơ mắt cua, chết không ra chết, sống không ra sống. Đừng ì ì cái mặt mo ra, võ nghệ cũng không có. Mặt mày như anh đồ tể làm xổng con heo, mặt mày như anh bán thuốc cao mất đồ nghề.

Hằng cười reo réo khi bóng tối bắt đầu ùa vào nhà. Thiện Tân ngộp thở, Hằng cầm cổ Thiện Tân, Hằng lay vai, lắc đầu, đánh đeo vào người nhà tu hành và ép sát thân hình mình vào thân hình người tu hành. Thầy, thầy… thầy tu em cũng tu theo. Thầy, thầy, phòng ngủ của thầy em ngủ không được sao? Giường chiếu của thầy em không ngả mình được sao? Cánh tay của thầy em không làm gối được sao? Ngực nách thầy em rúc vào không được sao?

Em là đàn bà bấy lâu thầy thiếu, em là xác thịt bấy lâu thầy nhìn, em là mỡ béo bấy lâu thầy thèm, em là tên đẹp bấy lâu thầy không gọi, em là một vấn đề bấy lâu thầy không đặt, em là nghi vấn bấy lâu thầy không ngờ. Em là Hằng, một sự phá sản, một tai họa, một mưu đen, một biến cố, một sự trở mặt, một cuộc đánh úp, một vé số, một ổ vi trùng, một bịnh truyền nhiễm, một tiếng nổ.

Em là… một trong từng cái ấy. Thầy, thầy có thấy em không? Em đang đứng trên hồi chuông thức tỉnh, em đang chen vào giữa câu kinh tiếng kệ, em đang ép mình như con bướm khô trong mấy trang sách, em ẩn như ma, em hiện như quỷ, em chập chờn như đom đóm, em gào kêu như dế.

Thiện Tân co rúm những nét trên mặt, nghiến ken két hai hàm răng lấy hết sức đấm bàn tay vào tường.

Hằng la nhỏ:

- Đừng đánh thầy… Không ai có quyền đánh mình, đừng hành hạ bàn tay thầy … Em đau quá thầy ơi.

Thiện Tân mở miệng:

- Cô Hằng, nếu cô mê, hãy trở lại nhà tiếp tục cơn mê. Nếu cô vẫn tỉnh, hãy thôi chơi cái trò quỷ quái, hãy dẹp cái chuyện đùa trẻ con sang một bên. Hãy đàng hoàng với nhau, chúng ta là hai người lớn, tôi vẫn tôn trọng cô.

- Thầy!

- Tôi vẫn còn tôn trọng cô.

- Em quá thương thầy.

- Tôi vẫn còn tôn trọng cô. Người đàn bà sẽ là vợ giáo sư Chu.

Hằng hét:

- Em càng nói càng liều… Em không ưng ông Chu.

Thiện Tân cũng hét:

- Về nhà ngay đi.

Hằng hổn hển:

- Em sắp ngất xỉu vì việc em làm đây. Một là em với thầy cùng chui vào một lỗ hạnh phúc, hai là em với thầy cùng nhảy đại vào hòm, chui qua ô cửa. Thầy, trong giờ phút này, làm đàn ông chỉ có một bổn phận… Hãy hiểu biết cái bổn phận đó.

Hằng đánh đu thân hình dưới cần cổ nhà sư. Hãy đi lui đi tới trong tranh tối tranh sáng này cho em hót cổ đánh đu. Đừng bạ em xuống đất rồi đá em cái bốc, rồi tống em một đạp cho long lốc. Nhưng liệng em trên giường cũng được, vứt em trên chiếu cũng được. Chúng ta hãy diễn ra một trận và ký kết hòa đàm.

Thầy ơi, em run lên vì nóng, em rên lên vì khoẻ. Thầy, thầy… hoạt động, cử động, di động, xúc động… đi thầy. Cho nhau lửa, cho nhau nhiệt, cho nhau muối, cho nhau sữa, cho nhau đường. Đừng nhắm mắt nhăn nheo như vậy. Không ngủ mà nhắm mắt khó coi lắm. Không ngủ mà nhắm mắt coi ra tuồng con nít lắm. Em thương thầy, em thèm thầy. Bao nhiêu người thương em, bao nhiêu người thèm em. Xin thầy lâu quá, đòi hỏi thầy khó quá. Cởi áo màu vàng ra để làm chồng, mặc áo cờ vàng thì không làm được gì hết.

Mặc kệ loài người, chúng ta lấy nhau, mặc kệ đức Phật, chúng ta lấy nhau. Từ đây em xa thầy không được nữa rồi. Em sẽ buồn tênh buồn teo. Vắng thầy em không còn có những ngón tay dài đẻ mà đàn để mà trống. Vắng thầy em sẽ hết đi dạo dù báo chí ngọt lịm gió. Vắng thầy em tê chân không còn đến trường học tập nữa. Vắng thầy em cô đơn trong buổi chợ, em cô đơn giữa gia đình đông đủ.

Nhà sư lắp bắp:

- Đừng làm bậy, đừng làm chuyện này xấu.

Người con gái ngước mặt lên:

- Hãy cùng xấu với em đi! Hãy cùng lố bịch với em đi! Hãy cùng đáng khinh với em đi.

Thiện Tân vùng vẫy, cố đạp muốn hất Hằng xuống đất nhưng cô gái đã bám cứng hai vai như con “hót cổ” bám vào tàu lá chuối.

- Tôi lạy cô… cô Hằng… Đức Phật đã thử thách con như vậy là đủ lắm rồi… Cô Hằng hãy thương người tu hành. Tôi là người tu hành từ tấm bé.

Hằng cười héo úa:

- Em đã cương quyết lên đây với thầy, em thấy không có con đường nào cho em trở về nhà nữa. Em không muốn trở lại nhà em tí nào nữa hết. Tất cả lối đường ra khỏi đây hình như đã bít hết. Em đã kêu ba hồn chín vía của em mà thề với chiếu chăn mền gối rằng: “Em lên đây như một con ma dại, em sẽ trở về nhà như một oan hồn được thỏa mãn bằng chè xôi chuối người ta cúng tế. Hãy cho em làm một oan hồn thỏa mãn.

Em không thể trở về như một con người được, một con người đã nghe theo lẽ phải của thầy mà trở về.

Hằng bỗng giãy nảy, hai chân làm nhà tu hành ngã ình ra đất. Hằng ngồi lên và Hằng nằm lên trên:

- Cô Hằng ơi, chọc ghẹo tôi như thế vừa rồi… Cô hãy về đi, để tôi suy tính vài ngày sẽ trả lời cho biết.

Hằng cười:

- Gan em khô rồi, mặt em teo rồi.

- Về đi, tôi sẽ trả lời sau.

- Đây không phải là một vấn đề, đây không phải là một yêu sách, đây không phải là một thương lượng, một đề nghị, một cưỡng hiếp, một áp bức, một ăn cướp, một đè bẹp, một gian lận nên em đâu có cần thầy trả lời, chỉ cần ở thầy một đáp ứng có nghĩa.

- Tôi sẽ trả lời, về đi, về đi.

- Em ngủ đây đêm nay, em không muốn về, nhất định em không về. Hai chúng ta cùng liều một chuyến chơi. Em không về.

- Tôi đuổi cô về, cô phải về.

Hằng cụng đầu Thiện Tân một cái:

- Hứ.

Nhà sư gục cổ, Ngài ngậm cứng, mặt vuông bạnh. Cô gái nhích người lên, mặt đưa sát mặt. Nhà sư vung mạnh:

- Tất cả mọi chuyện mai mốt tôi sẽ trả lời cho cô biết. Tôi vào chùa từ bốn tuổi, thể xác tinh thần tôi đều được tôi luyện rắn rỏi quá rồi. Da tôi là một giáp sắt, mỗi cái xương đầu cứng như song sắt. Tôi thâm hiểm vô cùng. Những lời trêu ghẹo ngoài da chỉ là những cào xước quá nhẹ. Cô Hằng, tôi học võ Đại Hàn, nội công cũng như võ công đều thâm hậu.

Hằng ngơ ngác giương tròn mắt:

- Thầy đánh em bằng võ? Thầy dùng võ để đánh em?

Thiện Tân mở miệng:

- Cô hãy về đi! Cô sắp chết đến nơi rồi. Cô hãy về đi!

- Thầy dọa em!

- Trường hợp cuối cùng tôi tự vệ, bắt buộc tôi phải tự vệ.

Hằng cừng sửng cổ, cừng sửng vành tai, nhưng đôi mắt vẫn liếc được:

- Thầy nỡ đánh em hở thầy? Thầy nỡ có thái độ với em sao thầy?

Thiện Tân nhìn thẳng:

- Tôi có tay để chặt, để đấm. Tôi sẽ chặt cô như chặt gạch. Tôi sẽ đấm cô như đấm cát.

Đôi mắt Hằng ướt sáng:

- Thật vậy hả thầy?

- Lúc này mà không nói thật thì còn đợi đến lúc nào nữa?

Hằng bưng mặt:

- Thầy ghét em kinh thiên động địa vậy thầy?

Thiện Tân đưa ra quả đấm:

- Tôi nộ khí xung thiên lâu rồi.

Người con gái ngửa mặt hé răng:

- Thôi, thầy cứ chặt, cứ đấm em đi. Em tình nguyện chết như muối bột dưới tay thầy… giải quyết em đi! Giải quyết cấp tốc đi!

- Cô đừng hối hận nhé!

- Em bằng lòng… đấm em đi, chặt em đi, em bằng lòng.

- Sau đó đừng trách.

- Em không trách chi hết. Giờ phút này em chỉ có thấy anh là Tây Môn Khánh, còn em là Kim Liên. Giờ phút này em chỉ thấy có anh là Bùi Như Hải, còn em là Sảo Vân… Anh đọc Thủy hử thì anh biết những nhân vật ấy. Anh đọc Kim Bình Mai anh cũng biết.

Thiện Tân cười:

- Được, cô đã muốn ăn đòn… Tôi chỉ tự vệ.

- Lại dọa đánh em nữa?

Nhà tu nghiến răng:

- Tôi chỉ tự vệ chứ tôi không có hung hăng ác ý.

Hằng bụm mặt:

- Đồ sư hổ mang! Đồ sư hổ lửa! Đồ ác tăng thất đức! Đồ tướng cướp trá hình!

Nhà sư hét vang một tiếng lớn. Nhà sư nhảy lên, giậm chân và rống to hơn nữa. Người con gái uốn cong chiếc lưng trợn mắt rồi buông lỏng hai tay ra.

Thiện Tân chợt cười cao lên, cười thẳng với Hằng rồi Thiện Tân lắc đầu. Nụ cười vẫn tiếp ở trên môi, ở trên mắt. Cái nhìn của Hằng ướt rượt sáng rỡ.

Người tu hành lại lắc đầu lần nữa khi cô gái từ từ đi tới.

- Hình như em vừa gọi thầy bằng anh. Cách đây mấy phút em vừa gọi thầy bằng anh… anh Tân…

- Hằng hãy đi về! Hằng quý hơn của cải.

Hằng cười héo:

- Em chỉ là một chút vốn trong khi anh nhắm lần tới một chân trời.

Nhà sư nhắm mắt:

- Em đã mất hết cả giá trị trước mắt anh và trước mắt em rồi.

Thiện Tân áp trán nóng rực vào vách tường. Hằng chui mặt vào đùi nhà sư:

- Em hết cả rồi, em phá sản hết trơn hết trụi rồi. Em không còn có chân tướng nào nữa để lộ ra trước mắt anh. Nghề quyến rũ, em cũng xài hết rồi. Đòn khiêu khích, em cũng đã tận dụng hết cả sức lực rồi. Em là con chồn tinh đã hết phép. Em là con rắn thiêng bị đoạt ngọc trong ngày mồng năm. Em không còn hơi sức nữa để hớp hồn anh, em không còn màu mè nữa để ma mị lòng anh, em không còn thể thống nào nữa để che giấu nhục dục của em, em không còn chút tinh quái nào nữa để ghẹo anh, em không còn lớp vỏ nào nữa, không còn lốt, không còn phong bì… Trong anh, em đã thấy không có người đàn ông nào vùng dậy, trong anh em đã thấy không có một con thú nào nổi lên, trong anh ma quỷ cũng không có. Không có gì trong tấm thân xác giống đực này cả. Không có gì phàm tục trong tấm thân xác đực này. Em đã có một kho tàng đem tặng chẳng nhằm nơi. Em yêu sai duyên, em mến chẳng trúng người.

Thiện Tân từ bi:

- Thôi, phá vừa vừa, để cho tui tu.

Hằng ảo não:

- Anh không biết gì ngoài tu?

Thiện Tân cúi xuống rủ liệt:

- Hằng đem cho tôi tiếng nhưng tôi cần chân trời vì tôi là một người tu hành.

Hằng mếu:

- Anh có hy sinh được cho em không?

Thiện Tân cúi xuống lắc đầu và Thiện Tân ngước lên vững chãi.

- Tài sản của Hằng không mất. Tôi tôn trọng.

Hằng khóc:

- Anh không lấy gì cho em cả. Anh không cho gì em xin cả.

Nhà sư thở kêu qua cái hít dài vô tận. Hằng cười mắt ướt nước khóc.

- Hãy nhìn em tận diệt em, hãy nhìn em tự hủy em.

Thiện Tân cứng mắt răng nghiến, miệng bặm. Thiện Tân ngóc đầu cao, mũi hẵng một đường.

- Em đã tự lấy hết khẩu cung của em rồi.

Nhà sư vẫn đứng ngay đơ như nặn bằng đất, đúc bằng chì. Người con gái mặc áo quần lại sụt sùi.

- Người võ sĩ Nhật vừa mổ bụng. Em như một người võ sĩ Nhật vừa mổ bụng… Em như vậy đó… nhưng không phải so sánh cái tinh thần… em chỉ so sánh về cái đâu, về cái lượng của sự đau đớn. Người võ sĩ Nhật cũng chỉ đau như em vậy thôi. Em đau đớn ngất ngư. Trời ơi… anh vẫn nhắm mắt lại.

Thiện Tân thở mạnh:

- Hằng đáng quý giá nhất… Hằng dễ thương nhất… nhưng chính tôi đã hóa đá, tôi đã đông lạnh…

Hai người đang đứng im. Bóng tối sẫm đậm đè nhẹ. Hai người không nhìn thấy nhau nữa. Thiện Tân bỏ đi thắp đèn. Người con gái lấy khăn tay chậm mồ hôi rồi đi theo nhà sư ở sau bếp. Thầy đốt có một cây đèn cầy mà làm gì lâu dữ vậy. Em linh cảm anh sẽ trốn ra ngoài đi một mình… Anh Tân, em cương quyết lấy anh, nhất định chiếm anh cho được dù cam go đến đâu, dù đã làm đủ trò yêu ma quỷ quái mà anh vẫn không rung rinh… Em nhất định xé toang tấm áo cà sa vàng nghệ như người tiều phu đã chặt đôi cánh tiên của vợ.

Thiện Tân đứng thẳng cầm cây đèn cày dong cao:

- Để đừng ai khổ sở. Để cứu tôi và cũng để tự cứu Hằng, Hằng nên kết hôn với giáo sư Chu.

- Em đã mỏi môi, em đã tê lưỡi kêu như ve sầu với anh là em không bao giờ có duyên với giáo sư Chu cả. Em có duyên với anh thôi.

Thiện Tân nghiêm mặt:

- Bây giờ thì không nên chần chờ gì nữa. Hằng về đi.

Hằng cười:

- Sao khó quá vậy anh? Quyến rũ như em vậy là đến cùng, hấp dẫn như em vậy là đến cùng, dâm tà như em vậy làm đến cùng, táo tợn như em vậy là đến cùng, mà anh vẫn trơ trơ. Anh tu tài quá. Anh tu thật chứ không phải tu giả… Em đã không may mắn gặp một sư hổ mang, một sư hổ lửa, một tướng cướp trá hình. Em rủi ro như rệp, em đen đủi như mõm chó.

- Hằng tốt quá, rất tốt…

Người con gái giương mắt. Nhà sư tiếp:

- Hằng tốt, nếu Hằng đi về thì Hằng sẽ tốt hơn nữa.

- Em không cần tốt, em chỉ muốn thành công.

- Hằng rất thành thật. Hằng tốt…

- Anh là một thánh tăng.

- Không có.

- Anh là một thiền sư Tây Tạng.

- Không có.

- Anh là một cao tăng.

- Càng nói càng trật!

- Anh là một đại sư uy nghiêm bí trí dũng.

- Hằng giỡn dai quá.

- Anh sẽ là vị thánh tử đạo.

Thiện Tân cười, Hằng tiếp:

- Em sẽ tử vì tình.

- Hằng nói ẩu…

Người con gái bình thản:

- Anh chỉ biết có chân trời… có một chân trời mà anh đang lần đến mà thôi, ngoài ra không có chi hết.

Nhà sư cười:

- Hằng đã có vẻ biết điều. Hằng đã ra chiều thông cảm… Giữa chúng ta vui vẻ Hằng nhỉ? Hằng về đi!

Hằng lắc đầu:

- Lại đuổi… Lúc nào cũng đuổi. Vui cũng đuổi, buồn cũng đuổi.

Nhà sư nhắm mắt:

- Về là phải.

Hằng cười:

- Ở lại cũng phải.

Thiện Tân quay mặt. Vài tiếng muỗi vo ve nghe thật phiền. Ánh đèn vàng sẫm cháy không đủ sáng một căn phòng. Người con gái nghe lưng nóng, nàng mở cặp lấy chiếc quạt trầm hương trầm “thơm mãi Hằng ơi”. Hằng đã ghi vào nan quạt bằng chữ ấy. Hằng mở rộng chiếc quạt. Hình cô gái Nhật Bản mặc quốc phục lúng túng trên đôi dép triệt trông thật dễ té.

Người con gái áp chiếc quạt vào ngực, cười:

- Tình cảm anh là tình cảm đó. Giả sử bây giờ Cộng sản cũng quyến rũ anh như em quyến rũ anh vậy, thì em tin chắc anh sẽ xiêu lòng vì Cộng sản.

Nhà sư cắn môi. Hằng tiếp:

- Anh không yêu em, em vẫn lặp đi lặp lại những câu tỏ tình. Em như một nữ tướng Tàu đang chim trai giữa trận tiền. Em hát hỏng liên ca bất tận như loài cá có lớp vú hớp hồn những lính thủy. Em làm gì anh cũng không yêu em, em làm gì anh cũng như cây cột đồng. Anh là một nhà chân tu sắt thép. Anh chỉ thích ở chùa với thầy Lý, với hình bóng khả kính của ông không còn sống nữa! Anh không yêu em tí nào hết. Tại sao anh không yêu em tí nào hết? Em đã tự hạ nhục em vô cùng trong việc quyến rũ anh mà anh vẫn không yêu em tí nào hết. Em thù anh thâm xương, em sẽ nuôi một mối thâm thù và xương cốt của em sẽ nám đen vì thù anh. Mối thâm thù sẽ làm em chết dần chết mòn và anh không chết. Ai mang mối thù này thiệt vào thân.

Đêm đã khá sâu, lác đác vài nỗi huyên náo lẽ. Thỉnh thoảng những con chim mất ngủ kêu lên như trẻ con khóc dạ đề. Hằng vẫn giữ chiếc quạt áp vào ngực, Hằng cũng nhắm mắt lại như nhà sư.

Thiện Tân dịu dàng:

- Cô không thể ngồi nán lại ở đây nữa! Cô phải về gấp!

Hằng lắc đầu:

- Em vừa nhắm mắt lại rồi em mở mắt ra. Đời không sáng như đèn, đời mờ như căn nhà đóng kín cửa.

- Sao Hằng không về đi? Hằng ở đây thật phí công phí của.

Hằng dịu giọng:

- Anh hãy cố gắng đừng đuổi em, đừng buồn ngủ và đừng đói bụng, hãy cố gắng giữ em ở đây thêm một chút nữa đi anh. Kẻ thắng trận không thích đứng giữa trận tiền, chỉ có kẻ thua trận với xác chết thích còn lại trên mặt trận mà thôi.

Thiện Tân ngơ ngác:

- Đánh nhau đâu mà có kẻ thắng trận với kẻ thua trận? Hằng hãy chỉ cho tôi xem cái chiến trường bí mật đó.

Hằng áo não:

- Em chỉ biết em đang bại trận xiểng liểng mà thôi.

- Không ngờ lại có chuyện này… không ngờ lại buồn như thế này!

Hằng rên:

- Tại sao anh không phải là một sư hổ mang, một sư hổ lửa, một tên cướp trá hình?

Người con gái ngồi xịch xuống như một phế nhân. Nhà tu hành thu nhỏ đôi mắt lại nói đều đều một giọng như trong một bài tụng kinh lầm bầm. Cô Hằng, tôi đi tu từ bốn tuổi. Tôi ăn rau ăn cải ăn tương ăn đậu với ông tôi. Ông tôi đổ máu ra làm lụng nuôi tôi, ông tôi hụt hơi, ông tôi trầy da tróc vẩy, lóc thịt rút gân để nuôi tôi. Ơn to như ơn cha, ơn nặng như ơn mẹ. Tôi từ nhỏ đã quyết đi tu để trở thành một người như ông tôi, để trở thành thầy, để trở thành đại đức, thượng tọa… Nhưng ông tôi nghèo.

Ông tôi nuôi tôi thì nổi, chứ nuôi tôi học thì không nổi. Tôi còn nhớ một buổi chiều ông tôi kêu tôi vô nói: “Tất cả mấy anh chị em tiểu thương bạn hàng chợ đã quyết định đóng góp nuôi mi ăn học tới đích. Mụ bán trứng thì góp tiền bán trứng nuôi mi, mụ bán xà lách thì góp tiền bán xà lách nuôi mi, mụ bán khoai lang thì nuôi mi bằng củ khoai lang, mụ bán cá thì nuôi mi bằng tiền bán cá, mụ bán thịt, bán tôm, bán hàng xén, bán đồ gia vị, bán gạo, bán đậu, bán vải, bán cơm, bán cháo, bán guốc v.v… Người ta đi làm ăn nuôi con người ta, nuôi chồng người ta, bây giờ người ta rút bớt máu huyết, rút bớt tủy sống của người ta ra, người ta đổ thêm mồ hôi của người ta ra để nuôi mi ăn học đến nơi đến chốn làm sáng danh đạo Phật ta. Mi như vậy là sướng lắm con ơi! Mỗi người một vũng mồ hôi, mỗi người một búng máu, mỗi người một khúc xương góp lại nuôi mi đó con ơi. Mi nhận ơn to nghĩa nặng lắm con ơi. Mi phải xoay mặt vào vách mà học, mi phải leo lên cây lớn mà học. Mi vừa học chữ, mi vừa học kinh Phật. Mi phải trở thành một tấn sĩ và song song với việc trở thành một ông tấn sĩ, mi phải trở thành một đại đức, một thượng tọa. Mi phải cố tu và cố học con ơi. Từng cọng rau nuôi mi, từng củ khoai lang nuôi mi, từng cái trứng nuôi mi. Mồ hôi bên chợ Đông Ba nuôi mi, nước mắt bên chợ Bến Ngự nuôi mi.

Mi phải đội ơn từng muỗng nước mắm, từng trái ớt, quả cà, lon gạo. Ông tôi nhủ khóc đi con rồi cố gắng mà học, lạy tạ đi con rồi cố gắng mà học. Học mà tu, tu mà học, vừa học vừa tu, học bao nhiêu tu bấy nhiêu. Tất cả bạn hàng tiểu thương bên phố nhịn ăn, bớt tiêu nuôi mi để mi học cho đạo Phật. Mi đã thành người của đạo giáo, mi là một cán bộ tu sĩ, mi không còn là học trò riêng của tao nữa, mi không còn là đệ tử riêng của ngôi chùa này nữa. Mi là của công, mi là tác phẩm do một xã hội nhỏ đào tạo ra. Gắng học đi con cho ông sướng, gắng học đi con cho ông mát ruột.

Tự bao giờ, đồng hồ đã chết ì ở con số tám. Hai ba con thằn lằn đã ra cho đến bò xuống thật thấp. Hằng ngập nước mắt nhìn Thiện Tân.

Thượng tọa nói tiếp:

- Tôi là người của một quần chúng, tôi là người của một đám đông. Chợ Đông Ba, chợ Bến Ngự, chợ Xép, chợ An Cựu, Chợ Bao Vinh, tôi mang ơn, tôi tri ơn… Ơn còn đang nặng, ơn còn đang đầy vì tôi chưa hề trả, tôi chưa hề bắt đầu dền.

Hằng ủ ê:

- Bởi đó mà anh là một vị chân tu sắt đá. Bởi đó mà anh không hề thiếu nợ em. Anh Tân cần gì mà phải trả ơn cho bà con bên các chợ. Quỵt cha cái ơn nghĩa đó đi anh. Đức Phật Thích Ca trước khi xuất gia cũng phải lấy vợ đẻ con cho đời đã mà! Đức Phật tạo được vốn riêng rồi mới tu.

Thiện Tân cười:

- Hãy chấm dứt cái trò chơi phiền não, hãy ra khỏi cuộc đùa cay nghiệt. Đừng dông dài với nhau nữa.

- Cứ phản bội Phật đi anh! Phật sẽ tha thứ. Đừng gây thù oán với em, em thù thâm muôn thuở. Hãy xử xấu với Phật, hãy xử tốt với người.

- Đừng, đừng nói nữa! Khuya khoắt quá rồi hãy nên về! Hãy giúp cho tôi đạt được công quả tu hành.

Hằng ứa khóc:

- Anh không muốn là kẻ phản bội. Em rủi ro không gặp một sư hổ mang, một sư hổ lửa, một tướng cướp trá hình, một tên lính đào tẩu, một thanh niên trốn quân dịch.

Thiện Tân nhỏ dịu:

- Đừng gặp họ, cô Hằng! Hai kẻ làm bậy không sao có thể sống với nhau nổi.

Hằng cười:

- Anh lại càng không phải là một sư hippi nữa!

Nhà sư cười to:

- Chữ hippi đó còn đang ở nước ngoài, chưa nhập cảng mà Hằng đã xài.

Hằng đứng lên lại gần bên Thiện Tân:

- Cùng đường cạn lối em đi tu với anh được không anh Tân?

Nhà sư ngồi yên, Hằng xích lại gần hơn nữa:

- Em nghe đồn trong Chợ Lớn có một nhà sư hổ mang.

Thiện Tân xua tay:

- Cứ sư hổ mang với sư hổ lửa.

Hằng cũng xua tay:

- Em vẫn còn đang mở mặt trận mà anh… Vâng, trong Chợ Lớn có một nhà sư hổ mang cầm đầu một tổ chức bắt cóc con gái nhỏ hai ba tuổi về chọc mù mắt rồi nuôi cho lớn, cho ăn ngon mặc đẹp, cho gội đầu, cho xoa dầu thơm ngan ngát rồi dạy cho cách đi đứng, dạy cho cung cách lễ phép để…

Hằng ngưng lại, Thiện Tân cúi mặt, Hằng nhăn mặt:

- Hãy nghe em khiêu dâm anh… Anh hãy làm bộ vểnh tai nghe cho em lấy can đảm để kể tiếp đi anh.

Thiện Tân cười gật gù. Hằng kể:

- Để… để họ dạy cho những đứa con gái đó học nghề tẩm quất. Tẩm quất cho những người đàn ông. Họ bắt đầu dạy thật sớm để đến mười bốn mười lăm tuổi thì những đứa con gái đó ra nghề. Những đứa con gái bị chọc mù mắt đó có hai bàn tay rất thông minh linh động, rất thiện nghệ, sáng suốt trong việc tẩm quất. Hai bàn tay mềm như bột, dẻo như kẹo kéo, mau như máu chạy chờn vờn trên thân thể đàn ông vừa chặt vừa đấm cho những chiếc xương kêu canh cách, vừa uốn nắn, vừa bóp, vừa mân mê, vừa thoa vừa gãi bất kỳ chỗ nào… và tràn lan mọi chỗ… Những đứa con gái trắng mũm mĩm đó mù mắt nên mặt mày chúng rất ngây thơ dại khờ, chúng đâu biết thân thể đàn ông có cái gì, nên chúng tẩm quất vô tội và hết lòng, chúng tẩm quất tích cực và thành kính… Chúng lại được ăn mặc sạch sẽ, cài hoa trên tóc.

Chúng vừa trắng vừa thơm, nhiệt độ thân thể cuộc sống chắc không bao giờ cao quá ba mươi sáu độ vì bàn tay chúng mát như thạch, mặt mày tươi tỉnh, non khờ ngốc nghếch không biết chi hết, chỉ lồ lộ một cái đẹp mà thôi. Vì chúng đui mù nên khác mới nghĩ rằng chúng đích thực là trinh nữ. Vì chúng đui nên chúng mới làm cái công việc chỉ dành cho điếm thập thành mà thôi. Vì chúng đui nên những người khách mới cảm thấy sung sướng được trinh nữ tẩm quất cái cảm giác thật khác biệt. Con gái điếm hầu hạ thì chuyện quá thường đi rồi. Nếu càng sáng mắt chúng là điếm.

Nhà sư nhíu mày:

- Khuya rồi Hằng không về lại kể những chuyện nhảm nhí đó làm gì?

Hằng lừ mắt:

- Chuyện khiêu dâm mà anh, tất cả mọi câu chuyện khiêu dâm đều rất lợi ích cho em.

Ngọn gió khuất mặt mướt mát thổi vào khung cửa rộng. Qua cửa sổ song sắt cục mịch, những con sáo nhỏ thầm thì trong một triều ray rứt hoài không thôi. Lùm cây lá cỏ đã hòa tan vào màn đêm đến. Vài tiếng ồn lẻ nghe thật rõ.

Người con gái cười hắt:

- Chúng mình ở đây như hai kẻ trốn đời.

Nhà sư lim dim mắt:

- Hằng về đi. Giờ phút này tôi không có Hằng trong con mắt, tôi không có Hằng trước mặt. Tôi đang thấy con đò nhẹ bỗng bò lốc lách trong sương tìm đến vùng tín ngưỡng trầm mặc của ngôi chùa huyền nhiệm như ở cõi tiên.

Nhà sư mở mắt ra, khuôn mặt người con gái ướt nhoẹt:

- Anh quạt em liền liền… Khi thì trực tiếp khi thì gián tiếp.

Thiện Tân gật đầu:

- Hằng và tôi… hai người sống hai cõi…

Hằng héo úa:

- Em là một đứa đại dâm đãng.

Thiện Tân buồn bã đứng dậy. Người con gái ôm mặt:

- Làm gì thì làm, nói gì thì nói, anh vẫn đá trơ đồng vững.

- Tôi xin lỗi Hằng thật nhiều.

Hằng khóc:

- Ngồi thêm hay ở lại cũng không xơ múi hột mít gì… Em xin về.

Thiện Tân đưa tay ra trước:

- Phải… Hằng làm vậy là phải… Hằng về nhà rồi Hằng sẽ lần lần lại tỉnh thần trí.

Người con gái nhìn ra cửa:

- Trời tối hù, em sợ ma lắm, anh đưa em về.

Nhà sư cười:

- Hằng mà còn biết sợ à? Cô khôi hài nhiều quá. Cô vui vẻ quá.

Hằng xô nhà sư lui một bước:

- Đồ ích kỷ.

Hằng khóc òa, đưa tay áo ni lông quệt nước mắt:

- Sư mô gì mà ác, mà ích kỷ. Sư mô gõ mõ tụng niệm… cả đời gõ mõ tụng niệm… Sư mô gì dở òm không biết làm việc xã hội. Làm việc xã hội mới giỏi… Sư với mô chỉ biết gõ mõ… Việc xã hội thì ngu đần.

« Lùi
Tiến »