Họp Mặt

Lượt đọc: 809 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

Có những ngày tôi không nhớ được mẹ tôi. Tôi nhìn tấm ảnh của bà và bà vuột khỏi tôi. Hoặc tôi tới thăm bà một ngày Chủ nhật, sau bữa trưa, chúng tôi có một buổi chiều thú vị, rồi khi rời đi tôi nhận thấy bà đã chảy qua tôi như nước.

“Tạm biệt,” bà nói, đã mờ đi. “Tạm biệt, con gái yêu,” và bà rướn khuôn mặt già nua mềm mại lên, nhận một cái hôn. Nó vẫn khiến tôi nổi cơn thịnh nộ. Cái kiểu, khi tôi quay đi, có vẻ như bà biến mất, và khi nhìn lại, tôi chỉ thấy những đường viền. Tôi nghĩ có lẽ tôi sẽ cứ thế đi qua bà trên phố, nếu bà từng mua một chiếc áo khoác khác. Nếu mẹ tôi phạm tội ác thì sẽ không có nhân chứng - bà là bản thân sự lãng quên.

“Ví của mẹ đâu?” Bà thường nói thế hồi chúng tôi còn nhỏ - hoặc có khi là chìa khóa của bà, hay mắt kính của bà. “Có ai thấy ví của mẹ không?”, câu này gần như ở đó, trong mấy giây ấy, khi bà đi từ hành lang đến phòng khách, đến nhà bếp và quay trở lại. Ngay từ hồi đó chúng tôi đã tránh nhìn bà mà nhìn khắp mọi nơi khác; bà là một nỗi kích động đằng sau chúng tôi, một kiểu tội lỗi tập thể, khi chúng tôi tản ra quanh phòng, biết rằng mắt chúng tôi sẽ lướt qua mà không thấy cái ví, màu nâu và căng tròn, cho dù nó rành rành nằm đó.

Rồi Bea sẽ tìm thấy nó. Luôn luôn có một đứa con có thể không chỉ nhìn, mà còn thấy. Đứa lặng lẽ nhất.

“Cám ơn, con yêu.”

Công bằng mà nói, mẹ tôi là người lãng đãng đến nỗi có thể bà thậm chí không thấy chính bà. Bà có thể rê đầu ngón tay qua một lũ con gái xếp hàng trong tấm ảnh cũ mà không nhận ra được chính bà. Và, trong số tất cả con cái bà, tôi là đứa trông giống mẹ bà, bà ngoại Ada của tôi, nhất. Chắc phải làm bà rối trí.

❀ ❀ ❀

“Ô, xin chào,” bà nói khi mở cửa tiền sảnh, ngày tôi nghe tin về Liam.

“Xin chào. Con yêu.” Bà có thể nói y như thế với con mèo.

“Vào đi. Vào đi,” trong lúc bà đứng ngay ngưỡng cửa, không bước tránh cho tôi qua.

Dĩ nhiên bà biết tôi là ai, chỉ có điều bà quên mất tên tôi. Mắt bà đảo từ bên này sang bên kia trong khi gạch lần lượt tên từng đứa ra khỏi danh sách.

“Chào mẹ,” tôi nói, chỉ để cho bà một manh mối. Và tôi lách qua bà vào tiền sảnh.

Ngôi nhà này biết tôi. Luôn luôn nhỏ hơn tôi nghĩ; những bức tường sát nhau hơn và phức tạp hơn những bức tường ta nhớ được. Chỗ này luôn luôn quá nhỏ.

Sau lưng tôi, mẹ tôi mở cửa phòng khách.

“Con uống thứ gì không? Một tách trà nhé?”

Nhưng tôi không muốn vào phòng khách. Tôi không phải khách. Đây cũng là nhà của tôi. Tôi đã ở trong nó, trong khi nó lớn dần, khi phòng ăn bị tống vào căn bếp, khi căn bếp nuốt chửng khu vườn phía sau. Đây là nơi những giấc mơ của tôi thường vẫn diễn ra, kể cả bây giờ.

Không phải là tôi còn muốn lại sống ở đây. Chỗ này chỉ toàn những khu mở rộng chứ không ra cái nhà. Ngay cả cái phòng xép bên cạnh cửa bếp cũng có một cánh cửa ở cuối phòng, cho nên ta phải luồn lách đi qua đống áo khoác và máy hút bụi để vào nhà vệ sinh tầng một. Ta không thể bán chỗ này, đôi khi tôi nghĩ, trừ phi như là bán đất. San bằng nó và bắt đầu lại từ đầu.

Nhà bếp vẫn bốc cái mùi cũ - nó xộc vào đáy sọ tôi, rất mơ hồ và ghê tởm, dưới lớp sơn vàng nhạt tươi mới. Những cái tủ đầy khăn trải giường cũ; lớp cách nhiệt bao quanh hệ thống sưởi đầy bụi bặm và nom như bị nướng chín; chiếc ghế cha tôi thường ngồi, tay vịn sáng bóng và lạnh vì chất thải con người trong nhiều năm. Nó làm tôi hơi nghẹn, và rồi tôi không ngửi thấy nó nữa. Nó ở đây, thế thôi. Nó là mùi của chúng tôi.

Tôi bước tới kệ bếp đằng kia nhấc ấm nước lên, nhưng khi tôi đi hứng nước vào ấm, ống tay áo tôi vướng vào vòi nước đang chảy nên tay áo liền sũng nước. Tôi vẩy bàn tay, rồi đến cả cánh tay, và khi ấm đã đầy và cắm điện rồi tôi liền cởi áo khoác, lộn tay áo ướt ra mà vỗ vỗ trong không khí.

Mẹ tôi nhìn cảnh kỳ lạ này, như thể nó gợi bà nhớ lại điều gì. Sau đó bà bước tới chỗ cái đĩa đựng thuốc, trên kệ bếp đằng này. Bà uống thuốc, từng viên một, với cái lưỡi mềm nhão và lơ đãng. Bà ngước cằm lên nuốt không cần nước trong khi tôi lấy bàn tay chùi cánh tay ướt, rồi sau đó lùa bàn tay ướt qua mái tóc.

Viên thuốc nhộng xanh cuối cùng vào trong miệng bà và bà đứng yên, vận động cổ họng. Bà nhìn ra cửa sổ một thoáng. Rồi bà quay sang tôi, lơ đãng.

“Con thế nào, cưng?”

“Veronica!” Tôi chỉ muốn hét chữ đó vào bà. “Mẹ đã đặt tên con là Veronica!”

Giá mà bà trở nên rõ hình dáng, tôi nghĩ. Lúc đó tôi có thể bắt lấy bà và nói cho bà biết sự thật của tình huống, mức nghiêm trọng của việc bà đã làm. Nhưng bà vẫn mơ hồ, không thể chạm đến, được yêu thương quá nhiều.

Tôi đến để nói với bà rằng người ta đã tìm thấy Liam.

“Con ổn chứ?”

“Ôi, mẹ.”

Lần cuối tôi khóc trong căn bếp này là năm mười bảy tuổi, đã là quá tuổi được phép khóc, dù có thể chưa quá tuổi trong gia đình tôi, nơi mọi người dường như ở mọi độ tuổi, cùng một lúc. Tôi chùi cẳng tay ướt dọc theo chiếc bàn gỗ thông vàng, với lớp bóng như nhựa rất dày của nó. Tôi quay sang bà và sửa lại nét mặt để nói cái câu theo nghi thức (tôi nhận thấy cũng có một nỗi hân hoan nhất định trong chuyện này) nhưng, “Veronica!” bà nói, hết sức bất ngờ và bà đi tới - hầu như xông tới - chỗ ấm nước. Bà đặt tay lên quai ấm bằng nhựa cứng khi những bong bóng nổi dày lên sát thành ấm, và bà nhấc nó lên, phích vẫn còn cắm, rót một ít nước vào để làm nóng bình trà.

Thậm chí anh còn không thích bà.

Có một vết cắt trên tường, đằng kia cạnh cửa, nơi Liam ném con dao vào mẹ chúng tôi, và mọi người đã cười ầm lên mà quát tháo anh. Nó ở đó giữa những vệt sứt sẹo và vết bẩn vô danh khác. Nổi tiếng. Cái lỗ mà Liam đã tạo ra, sau khi mẹ tôi hụp tránh, và trước khi mọi người bắt đầu la hét.

Bà đã có thể nói gì với anh? Bà có thể khiêu khích gì anh ấy - người phụ nữ dễ thương này? Và lúc đó Emest, hoặc Mossie, một trong những người bạo tay, giằng co tống anh ra cửa sau và vật xuống cỏ đá cho một trận. Chúng tôi cười vì cả chuyện đó. Và ông anh đã mất của tôi, Liam, cũng cười: kẻ ném dao, kẻ đang bị đá, anh cũng cười ầm, và anh chộp lấy mắt cá chân anh mình vật xuống cỏ. Cả tôi nữa - tôi cũng cười ầm, theo tôi nhớ được. Mẹ tôi làu bàu chút đỉnh, trước cảnh đó, và lại tiếp tục công việc của bà. Chị Midge của tôi nhặt con dao lên, dứ dứ nó ra ngoài cửa sổ về phía bọn con trai đang vật nhau, trước khi ném vào bồn đầy chén bát dơ. Kể cả nếu không được gì khác, cả nhà tôi cũng đã có trò vui.

Mẹ tôi đậy nắp bình trà và nhìn tôi.

Tôi là một khối run rẩy từ hông đến đầu gối. Có một sức nóng khủng khiếp, một sự lỏng chùng trong ruột gan khiến tôi muốn thọc hai nắm tay vào giữa hai đùi. Đó là một cảm giác gây bối rối, đâu đó giữa trạng thái ỉa chảy và tình dục - một nỗi sầu khổ hầu như thuộc cơ quan sinh dục.

Lần cuối cùng tôi khóc ở đây hẳn là về một bạn trai nào đó. Những giọt nước mắt gia đình tầm thường chẳng có nghĩa gì trong nhà bếp này; chúng chỉ là một phần của sự ồn ào chung. Điều duy nhất quan trọng là, Anh ấy gọi điện , hoặc Anh ấy không gọi . Thật là thảm họa. Kiểu thảm họa sẽ khiến ta cào cấu các bức tường sau năm chai rượu táo. Anh ấy bỏ mình rồi . Gập người lại, ôm lấy bụng; tru tréo và ụa khan. Thậm chí anh ấy còn không gọi điện để lấy lại khăn quàng của mình nữa . Cậu trai với đôi mắt xanh lam.

Bởi vì chúng tôi cũng - áng chừng - là những tình nhân tuyệt vời, những người nhà Hegarty. Toàn bộ cái trò làm tình bất ngờ, mắt-đối-mắt và không bao giờ, không bao giờ buông xuôi. Trừ những người vốn hoàn toàn không thể yêu. Cũng là hầu hết chúng tôi, theo một cách nào đó.

Cũng là hầu hết chúng tôi.

“Là chuyện về Liam,” tôi nói.

“Liam?” bà nói. “Liam?”

Mẹ tôi có mười hai đứa con và - như bà đã nói với tôi vào một ngày khó chịu - bảy lần sẩy thai. Những lỗ hổng trong đầu bà không phải do lỗi của bà. Dù vậy, tôi không bao giờ tha thứ cho bà điều nào cả. Chỉ là không thể.

Tôi không tha thứ cho bà vì chị Margaret mà chúng tôi gọi là Midge, cho đến khi chị chết, ở tuổi bốn mươi hai, do ung thư tụy. Tôi không tha thứ cho bà chuyện cô chị xinh đẹp lưu lạc Bea. Tôi không tha thứ cho bà chuyện ông anh cả Emest, một linh mục ở Peru, cho đến khi anh trở thành một linh mục sa ngã ở Peru. Tôi không tha thứ cho bà chuyện anh Stevie, một thiên thần bé nhỏ trên thiên đường. Tôi không tha thứ cho bà toàn bộ chuỗi lê thê Midge, Bea, Ernest, Stevie, Ita, Mossie, Liam, Veronica, Kitty, Alice và cặp song sinh, Ivor với Jem.

Bà đã đặt cho chúng tôi những cái tên vĩ đại như thế - không có kiểu Jimmy, Joe hay Mick tầm thường. Những lần sẩy thai có lẽ được gọi bằng con số, kiểu như “1962” hoặc “1964”, dù có lẽ bà cũng đặt tên cho họ, trong lòng bà (Serena, Aifric, Mogue). Tôi cũng không tha thứ cho bà chuyện những đứa con đã chết đó. Cái kiểu bà thậm chí không có một cuốn sổ tay, để có thể biết đứa nào đã tiêm chủng bệnh gì, khi nào, thuốc gì. Tôi có phải là người phụ nữ duy nhất ở Ireland vẫn có khả năng bị nhiễm sốt bại liệt không? Không ai biết được. Tôi không tha thứ mớ quần áo cũ bất tận từ các anh chị, chuyện đồ chơi thiếu thốn, và chuyện Midge đét đít chúng tôi bởi vì mẹ chúng tôi quá hiền lành, hoặc bận rộn, hoặc vắng mặt, hoặc mang thai nên chẳng buồn quan tâm.

Bà mẹ ngọt ngào của tôi. Thiếu nữ không tuổi của tôi.

Không, khi thẳng thắn đối mặt với chuyện này, tôi không tha thứ cho bà chuyện tình dục. Sự ngốc nghếch của việc làm tình quá nhiều. Cởi mở và mù quáng. Những hậu quả, mẹ ơi. Những hậu quả .

“Liam,” tôi nói, cực kỳ dữ dội. Và cuộc bạo loạn trong nhà bếp dịu xuống khi tôi làm nhiệm vụ của mình, tức là nói với một con người về một con người khác, những chi tiết ít ỏi và tỉ mỉ về chuyện họ gặp kết cục thế nào.

“Con e là anh ấy chết rồi, mẹ ạ.”

“Ô,” bà nói. Đúng như tôi chờ bà nói. Đúng là âm thanh tôi biết sẽ thốt ra từ miệng bà.

“Ở đâu?” bà nói.

“Nước Anh, mẹ ạ. Chỗ anh ấy ở. Họ tìm thấy anh ấy ở Brighton.”

“Ý con là sao?” bà hỏi. “Ý con nói ‘Brighton’ là sao?”

“Brighton ở Anh, mẹ ạ. Đó là một thị trấn ở miền Nam nước Anh. Nó gần London.”

Và lúc đó bà đánh tôi.

Tôi không nghĩ trước đây bà từng đánh tôi. Sau này tôi cố nhớ lại, nhưng tôi thực sự nghĩ rằng bà đã nhường việc đánh lại cho người khác: dĩ nhiên là Midge, người luôn luôn chùi rửa thứ gì đó, và vì thế khi đi ngang qua là sẽ quất miếng giẻ lau vào ta, vào ngay mặt, hoặc cổ, hoặc bắp chân ta, và mùi của cái giẻ đó, tôi luôn luôn nghĩ, tệ hơn cả cái đau. Mossie, một kẻ loạn thần kinh. Ernest, mẫu người trầm tư, thì ưa dùng đến lòng bàn tay. Càng xuống đến người nhỏ tuổi hơn, việc đánh đòn càng mất uy thế và tàn dần, tuy nhiên bản thân tôi cũng hơi có một thời như thế, với Alice và hai đứa song sinh, Ivor-và-Jem.

Nhưng mẹ tôi đặt một tay lên bàn, và bà vung tay kia ra để chụp lấy một bên đầu tôi. Không đau lắm. Không đau gì cả. Rồi bà quay người lại, bấu lay kệ bếp, và bà lơ lửng ở đó, giữa bệ bếp và cái bàn, đầu bà rũ xuống giữa hai cánh tay sải rộng. Trong giây lát bà im lặng, rồi một âm thanh khủng khiếp phát ra từ bà. Hết sức êm ái. Nó có vẻ bốc lên từ lưng bà. Bà ngẩng đầu lên và quay sang tôi, để tôi có thể chứng kiến khuôn mặt bà; vẻ mặt của bà, lúc này, nét mặt ta sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn thấy lại.

Đừng nói với mẹ. Đó là điệp khúc thời thơ ấu của chúng tôi, một trong những điệp khúc thời thơ ấu. Đừng nói với mẹ. Câu này của Midge, nhiều nhất, nhưng cũng của bất cứ ai trong số những anh chị lớn hơn. Nếu có thứ gì đó bể hoặc bị đổ ra, nếu Bea không về nhà hoặc Mossie lên sống trên gác thượng, hay Liam chơi LSD, hoặc Alice quan hệ tình dục, hay Kitty chảy máu xối xả vào bộ đồng phục đi học mới của nó, hay một lô cú điện thoại về việc chậm trễ, sự ùn tắc, những rắc rối về tiền xe buýt và tiền taxi, và một lần, kinh khủng nhất, đêm Liam ở trong xà lim. Không tin nhắn nào được chuyển tiếp đi: cuộc thảo luận thì thào trong hành lang, Đừng nói với mẹ, bởi vì “mẹ” sẽ - thế nào nhỉ? Héo úa? “Mẹ” sẽ lo. Mà điều đó với tôi có vẻ đúng đắn. Xét cho cùng, cái gia đình này do chính bà tạo ra. Tất cả đều xuất phát từ bà - một cách đơn độc và đầy đau đớn. Và cha tôi nói điều đó nhiều hơn bất cứ ai; đều đều, quân tử, Không cần nói với mẹ tụi bay lúc này, như thể thực tế chiếc giường của ông là toàn bộ thực tế mà người phụ nữ này đáng phải chịu đựng.

Sau khi mẹ tôi với qua đánh tôi, lần đầu tiên, ở tuổi bảy mươi so với tuổi ba mươi chín của tôi, đầu óc tôi trào dâng, hầu như nổ tung, vì sự bất công của toàn bộ chuyện này. Tôi nghĩ mình sẽ chết vì bất công, tôi nghĩ nó sẽ được viết trên giấy khai tử của tôi. Rằng nhiệm vụ này cần chuyển giao cho tôi, trước hết bởi vì tôi là người cẩn thận, dĩ nhiên rồi. Tôi có một chiếc xe, một hóa đơn điện thoại dễ chịu. Tôi có những đứa con gái không cần phải cãi cọ xem đứa nào đang mặc lộn quần lót của đứa nào vào buổi sáng trước khi đến trường. Vì vậy tôi là người phải lái xe qua nhà mẹ, nhấn chuông cửa và tự đặt mình vào vị trí tiện bị đánh đòn ở mé bên kia cái bàn nhà bếp của bà. Đâu phải tôi có được những thứ này một cách tình cờ - ông chồng, chiếc xe, hóa đơn điện thoại, những đứa con gái. Vì vậy tôi tức giận với từng người trong đám anh chị em tôi, trong đó có Stevie, đã chết từ lâu, và Midge, vừa mới chết, và tôi đang nổi khùng lên với Liam vì anh cũng chết, ngay lúc này, khi tôi cần anh nhất. Tôi đã lạc khỏi đầu óc mình, theo nghĩa đen. Tôi quá giận dữ đến độ tôi có một tầm nhìn khác xuống nhà bếp, một tầm nhìn từ trên cao xuống: tôi, với một tay áo ướt xắn lên, cánh tay trần nằm bẹp trên bàn, và ở bên kia bàn, mẹ tôi, như đang đóng vào thập giá, đầu rũ xuống trên cái cổ trắng để trần hình tam giác nhỏ của bà.

Đây là nơi Liam hiện diện. Trên đây. Tôi cảm thấy anh như cảm thấy một tiếng la lớn trong phòng. Đây là điều anh thấy; cánh tay trần của tôi, mẹ chúng tôi đang chơi đi tàu bay giữa quầy bếp và chiếc bàn. Bay thấp.

“Mẹ.”

Âm thanh không ngừng thoát ra từ miệng bà. Tôi giơ cánh tay lên.

“Mẹ.”

Bà không biết người ta đã làm thay bà bao nhiêu chuyện trong sáu ngày kể từ cú điện thoại đầu tiên từ nước Anh đó. Bà được miễn tất cả chuyện đó: Kitty chạy khắp London và tôi khắp Dublin tìm những hồ sơ nha sĩ; chiều cao và màu tóc của anh, và hình xăm trên vai phải của anh. Không chi tiết nào được đọc lại cho bà như đã được đọc cho tôi, hồi sáng nay, bởi một nữ cảnh sát rất tử tế ghé tận nhà, vì tôi là người yêu anh nhất. Tôi thấy thương cho các nữ cảnh sát - họ chỉ được phân cho những bà con, gái điếm, và những tách trà.

Lúc này nước bọt nhểu xuống từ môi dưới của mẹ tôi, thành từng giọt và sợi. Miệng bà vẫn há. Bà muốn ngậm lại nhưng hai môi bà không chịu ngậm và, “Ga, ga,” bà kêu.

Tôi phải đi tới chạm vào bà. Tôi phải nắm hai vai bà nâng lên nhẹ nhàng và đưa bà đi. Tôi sẽ ép hai cánh tay bà xuôi xuống thân người trong lúc tôi đẩy và dẫn bà đến ghế, và cho đường vào tách trà của bà, dù bà không dùng đường. Tôi sẽ làm tất cả chuyện này để tỏ lòng tôn trọng một nỗi sầu khổ sinh học, ngu ngốc, phi thời gian.

Bà sẽ khóc y như vậy nếu là Ivor, ít hơn nếu là Mossie, nhiều hơn nếu là Emest, và khóc không nguôi, như tất cả chúng tôi sẽ khóc, nếu là Jem yêu quý. Bà sẽ khóc bất chấp là đứa con trai nào. Tôi chợt nhận ra rằng có điều gì không đúng ở đây, bởi vì tôi mới là người đã mất một thứ không thể thay thế được. Bà vẫn còn rất nhiều.

Tôi và Liam cách nhau mười một tháng. Chúng tôi nối đuôi nhau chui ra khỏi bà, đứa này tiếp đứa kia, nhanh như một vụ bề hội đồng, nhanh như một sự phản bội. Đôi khi tôi nghĩ chúng tôi chồng chéo lên nhau trong đó, có điều là anh ấy ra sớm, để chờ bên ngoài.

“Mẹ ổn không? Mẹ uống một tách trà nghen?”

Bà nhìn tôi: rất bé nhỏ, trong chiếc ghế to. Bà ném cho tôi một cái nhìn khó chịu rồi quay đầu đi. Nó giáng xuống tôi như một lời nguyền rủa. Tôi là ai mà dám chạm vào, dám coi sóc và bỏ mặc, thứ chất liệu tình yêu của một bà mẹ?

Tôi là Veronica Hegarty. Đang đứng tại bồn rửa bát trong bộ đồng phục học sinh; có lẽ mười lăm, mười sáu tuổi, than khóc một người bạn trai vừa đánh mất và được an ủi bởi một phụ nữ mà, dù cố gắng hết sức, cũng không thể nhớ được tên tôi. Tôi là Veronica Hegarty, ba mươi chín, múc một muỗng đường vào tách trà cho người phụ nữ dễ thương nhất Dublin, người vừa mới nhận tin tức kinh khủng.

“Con vừa định gọi cho bà Cluny.”

“Gọi bà ta à?” bà nói. “ Gọi bà ta à?” Bởi vì bà Cluny sống ngay nhà bên cạnh.

“Phải, mẹ ạ,” và bất ngờ bà nhớ ra rằng con trai bà đã chết. Bà kiểm tra lần nữa xem liệu điều đó có thật không và tôi gật đầu theo một cách giả tạo. Không ngạc nhiên gì chuyện bà không tin tôi. Chính tôi cũng khó tin được điều đó.

« Lùi
Tiến »