Họp Mặt

Lượt đọc: 810 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

Những mầm mống cho cái chết của anh trai tôi đã được gieo cách đây nhiều năm. Người trồng chúng đã chết từ lâu - ít nhất tôi nghĩ thế. Vì vậy, nếu muốn kể câu chuyện của Liam, tôi phải bắt đầu từ lâu trước khi anh ra đời. Và, thực tế, đấy là câu chuyện tôi thích được viết ra: lịch sử là một nơi thật lãng mạn, với những người đánh ngựa thuê, những trẻ đường phố và giày ống cài nút một bên. Giá mà nó chịu đứng yên, ổn định một chỗ, tôi nghĩ. Giá mà nó thôi không trượt quanh trong đầu tôi. Được rồi.

Lambert Nugent gặp bà ngoại Ada Merriman của tôi lần đầu tiên trong phòng chờ khách sạn năm 1925. Đây là thời khắc tôi chọn. Lúc đó là bảy giờ tối. Bà mười chín, ông hăm ba.

Bà đi vào phòng chờ và không nhìn quanh mà ngồi vào chiếc ghế có lưng dựa hình ô van gần cửa. Lamb Nugent nhìn bà qua những chỉ dẫn và lũ lượt những người mới tới và những chỉ dẫn khi bà cởi găng tay trái ra trong lúc sau đó tháo găng bên phải. Bà kéo cái lắc tay nhỏ dưới tay áo ra, và bàn tay cầm đôi găng đặt trong lòng.

Bà đẹp, dĩ nhiên.

Thật khó nói Lamb Nugent trông ra sao, ở tuổi hăm ba. Ông ta đã ở trong huyệt lâu thế rồi, thật khó tưởng tượng ra cảnh ông ta ngây thơ hoặc toát mồ hôi, khi tất cả chuyện này đã hóa thành cát bụi.

Bà đã thấy gì trong con người ông?

Ông ta phải được lắp ráp lại; tách, xoạch; các bắp thịt của ông móc vào xương và được bọc mỡ, toàn thân được phủ lớp da và khoác vào bộ vest màu xanh biển hoặc nâu - các ve áo, có lẽ, kiểu cách hơi quá tân thời, và mùi trên hai tay ông có lẽ đỏm dáng hơn mùi thuốc khử trùng một chút. Ông ta đã sành sỏi, ngay từ tuổi đó, lòng tự yêu mình khắc khổ của một người đàn ông bình thường, và tất cả hành động yêu chính mình của ông ta vừa tinh tế vừa chính xác. Ông ta không trau chuốt bản thân. Lamb Nugent quan sát. Hoặc đúng hơn không phải quan sát mà là để cho nó nhập vào ông ta - thế giới này, cùng mọi khía cạnh tinh tế của nó - ai nợ người nào cái gì đó.

Chắc hẳn đó là thứ ông ta đã thấy, khi bà ngoại tôi bước vào qua khung cửa. Đôi mắt trẻ thơ của ông ta. Đôi đồng tử đen, hình ảnh kép của Ada Merriman đã bước tới, ngồi vào trong đó. Bà mặc đồ màu xanh, hoặc tôi tưởng tượng nó thế. Cái thực thể màu xanh của bà lưu lại trong những nếp gấp xám trong não ông, và nó nằm đó suốt phần đời còn lại của ông.

Đã bảy giờ năm phút. Câu chuyện trong phòng đợi là nói về mưa, về chuyện phải làm gì với người đánh xe ngựa thuê, và có nên yêu cầu những món ăn uống nhẹ không; sau đó búi người mới đến đã tẽ ra thành một đoàn tuôn qua cửa trước phòng đợi, và hai người đầy tớ bị bỏ lại đằng sau để chờ; bà ngồi trên chiếc ghế gọn gàng của bà, ông với khuỷu tay đặt trên bàn tiếp tân cao, giống như một người đang đứng bên quầy rượu.

Họ vẫn ở vị trí đó trong ba tiếng rưỡi liên tục.

Họ thuộc về tầng lớp thấp. Đối với họ, việc chờ đợi không phải là vấn đề.

Thoạt tiên Ada không giả bộ chú ý đến ông ta. Đây có thể là điều lịch sự nên làm, nhưng tôi nghĩ hẳn ông đã rành rẽ ngay từ đầu, cái mánh khóe làm như không tồn tại này. Và những cơn thịnh nộ vẫn hành hạ ông ta trong đời sống sau này, vào năm 1925 đấy hẳn phải là chuỗi bình thường những đam mê và hy vọng son trẻ. Nếu có chuyện gì hành hạ Nugent, trong những ngày đầu đó, thì đó là sự đứng đắn. Ông ta là người đứng đắn. Ông ta không phải người quen thuộc lắm với khách sạn. Ông ta không quen với những phụ nữ thể hiện độ chính xác khổ sở như thế khi sử dụng một chiếc găng tay. Chẳng có gì trong tiền sử của ông chuẩn bị cho cuộc gặp với Ada Merriman. Nhưng ông ngạc nhiên nhận thấy rằng, ông vẫn sẵn sàng đón nhận bà như thường.

Đằng sau chiếc bàn giấy cao, ông tạp vụ nhỏ thó treo chiếc chìa khóa lên tấm bảng rồi bỏ đi vì có chuông gọi ở đâu đó. Ông ta quay lại bàn giấy, viết một ghi chú ngắn, rồi lại bỏ đi. Một cô hầu phòng bước ra từ nhà bếp phía sau mang theo khay trà. Cô leo lên cầu thang, đi vào hành lang tầng trên và không hề quay xuống. Họ còn lại một mình.

Thận trọng biết mấy. Bởi vì Dublin đầy những phụ nữ kiêu ngạo cũng như những đàn ông lịch sự, bạn có thể om sòm về nó hoặc bạn có thể, giống như đôi này, ung dung và im lặng. Và trong sự chú ý bình lặng đó người này nhận ra sức mạnh của người kia và nhận ra rằng không ai sẽ chịu làm người đầu tiên bỏ đi.

Thượng đế cho chúng ta quá ít người để yêu. Tôi muốn nói với các con gái tôi điều này, rằng mỗi lần ta đem lòng yêu ai, điều đó đều quan trọng, kể cả ở tuổi mười chín. Đặc biệt ở tuổi mười chín. Và nếu, ở tuổi mười chín, ta có thể đếm những người ta yêu trên một bàn tay, thì ở tuổi bốn mươi, ta sẽ không dùng hết các ngón của bàn tay kia. Thượng đế cho chúng ta quá ít người để yêu và tất cả họ đều dính chặt lại.

Đấy là trường hợp Nugent, bị dính chặt vào Ada Merriman trước khi đồng hồ báo mười lăm phút. Và bà bị dính chặt vào ông, theo logic - dù bà chưa biết điều đó, hoặc không lộ ra là bà biết. Trong khi đó, ánh sáng nhạt dần và không có chuyện gì xảy ra. Cô hầu phòng, dù không hề thấy xuống lầu, đi qua phòng chờ với một cái khay khác và lại đi lên cầu thang và một lần nữa biến mất vào bóng tối của hành lang trên tầng cao nhất. Trong căn phòng sau bàn tiếp tân họ nghe ai đó mở cửa và hỏi thăm cô Hackett nào đó. Và Ada Merriman nhìn vào khoảng cách nghiêm túc giữa họ, nơi Lamb Nugent không tin một từ nào bà nói.

Không khí giữa họ quá mỏng cho tình yêu. Thứ duy nhất có thể ném vào không khí của thành phố Dublin là một kiểu nhạo báng.

Tôi biết cô.

Nhưng đã quá trễ cho toàn bộ chuyện đó. Nó đã xảy ra. Nó đã xảy ra khi bà bước vào cửa, khi bà nhìn quanh mình, nhưng chỉ nhìn đến chiếc ghế. Nó xảy ra trong cung cách hoàn hảo bà tìm cách để có mặt nhưng không bị ai nhìn thấy. Và còn lại chỉ là sự lo lắng bồn chồn: trước hết bà phải chú ý lại đến ông (và bà đã chú ý - bà chú ý sự lặng lẽ của ông), và thứ hai bà sẽ phải yêu ông như ông đã yêu bà; một cách bất ngờ, một cách trọn vẹn, và vượt quá những gì là địa vị được dành cho họ.

Ada đọc ông bằng một bên gương mặt bà; lông tơ trên má bà dựng lên vì mọi sự bà cần biết về người đàn ông đang đứng ở đầu kia căn phòng. Đó là khởi đầu cho một đợt đỏ mặt, sự nhận biết này, nhưng Ada không đỏ mặt. Bà nhìn chiếc vòng đeo tay của bà: một sợi xích mảnh bằng vàng pha đồng, vối một chữ T ở móc, giống dây đeo đồng hồ. Bà rờ rẫm vật kỳ lạ nhỏ bé ấy - một vật của nam giới trên cổ tay con gái của bà - và cảm thấy sự hồ nghi của Nugent đè nặng lên bà. Rồi bà chỉ hơi ngẩng đầu lên nói, “Sao?”

Quá trơ tráo.

Lúc này có lẽ ông căm ghét bà, dù Nugent quá trẻ, hai mươi ba, nên không thể gọi tên cái cảm xúc lướt qua ông và đi mắt, kéo theo sau nó sự thay đổi của bầu không khí. Một cái gì đó mở ra. Một cơn gió hiu hiu. Đó là cái gì?

Sự khao khát.

Lúc bảy giờ mười ba phút nỗi khao khát thở trên đôi môi trẻ trung của Lamb Nugent - Suỵt! Ông cảm thấy sự gần gũi khủng khiếp của nó. Nhu cầu bước tới trào dâng trong ông, nhưng ông không nhúc nhích. Ông giữ vững vị trí trong khi, ở đầu kia phòng, sự tĩnh lặng của Ada trở nên thắng thế. Nếu ông rất kiên nhẫn, bà có thể nhìn ông, lúc này. Nếu ông rất nhún nhường, bà có thể nói rõ những điều kiện của mình.

Hoặc có thể bà sẽ không nói. Chẳng có gì được nói ra. Chẳng ai nhúc nhích. Có thể là Nugent đang tưởng tượng tất cả mọi chuyện - hoặc là tôi. Có lẽ ông là một kẻ đáng thương ở tuổi hai mươi ba; cái mũ vải tuýt vặn vẹo trên tay và cục yết hầu; có lẽ Ada thậm chí không nhận thấy ông ta ở đó bên kia phòng.

Nhưng đó là năm 1925. Một người đàn ông. Một người đàn bà. Bà phải biết cái gì nằm trước mặt họ lúc này. Bà biết bởi vì bà đẹp. Bà biết bởi vì tất cả mọi chuyện đã xảy ra từ đó đến giờ. Bà biết bởi vì bà là bà ngoại tôi, và khi bà đặt tay lên má tôi, tôi cảm thấy sự gần gũi của cái chết và được nó an ủi. Chẳng có thứ gì rụt rè như sự đụng chạm của một bà già; chẳng có gì trìu mến hoặc kinh hoàng đến thế.

Ada là một phụ nữ tuyệt trần. Tôi không có từ nào khác dành cho bà. Cho dáng đôi vai và cách bà đi khoan thai xuống phố, túi mua sắm lật phật bên hông. Hai tay bà chẳng bao giờ để không, và ta không bao giờ thấy thứ gì trong đó; bất cứ thứ gì đã được gấp hoặc giặt hoặc dọn hoặc chùi. Ta cũng không bao giờ nhận thấy bà đang ăn, bởi vì bà lúc nào cũng đang lắng nghe ta, hoặc đang nói; thức ăn chỉ lặng lẽ biến mất; giống như nó không thực sự đi vào cái lỗ trên mặt bà. Nói cách khác, cung cách của bà thật hoàn hảo, và dễ lây lan. Ngay từ hồi tám tuổi, tôi đã biết bà có hấp lực.

Nhưng làm cách nào Nugent biết được điều đó, trước khi bà mở miệng nói chuyện với ông? Tôi chỉ có thể giả định rằng chuyện đó không quan trọng, rằng sự gắn bó của ông thay đổi theo những thời kỳ và giai đoạn (rốt cuộc, trước bảy giờ mười lăm phút ông đã chuyển sang ghét bà), mỗi thời kỳ ông sẽ phải thực hiện lại theo những chu kỳ dài hơn - nhiều năm hoặc nhiều thập niên - sẽ phải chuyển từ tình yêu sang một kiểu chế nhạo, ông sẽ phải bị day dứt bởi lòng căm ghét và xúc động bởi nỗi khao khát, ông phải tìm tới thái độ khiêm tốn cuối cùng và từ đó bắt đầu lại với tình yêu. Mỗi lần như thế ông có thể biết nhiều hơn về bà - có lẽ nhiều hơn về chính ông - và chẳng có gì ông biết được sẽ có bất kỳ tác động gì. Lúc bảy giờ mười bốn phút, họ quay lại nơi họ bắt đầu.

Nhưng còn tình yêu thì sao nào?

Bây giờ Nugent chuyển động, hoàn toàn bất ngờ.

Ông hụp trán xuống và xoa đường chân tóc. Có thể nào bà cũng yêu ông không? Liệu họ có trở lại giây phút khi bà đi vào cửa, và vượt lên những mối quan tâm vụn vặt về sự trao đổi và mất mát không?

À có chứ , mé bên khuôn mặt buồn của Ada nói. Và bà nghĩ về tình yêu một lát.

Nugent cảm thấy nó khuấy động sâu trong rễ dương vật của ông; tương lai, hay sự khởi đầu của tương lai. Lúc này không ai ngắt ngang họ. Ai đó đã bóp cổ cô hầu phòng trong một căn phòng trên lầu; ông tạp vụ con rối bị ném vào một chiếc ghế. Có hơn ba thước thảm nằm giữa họ. Nugent nghĩ về cái quy đầu phồng lên đang ló ra khỏi lớp da lùng nhùng và Ada nghĩ về tình yêu, trong khi đồng hồ khách sạn chạy lặng lẽ, nghiến nhẹ nhàng, kêu vo vo thành những tiếng ngân vang báo mười lăm phút.

Tình tính tính tình!

Tình tinh tính tình!

Được hồi sinh, được gọi đến, ông tạp vụ nhỏ con lót tót đi vào phòng đợi tối om với chiếc đôn nhỏ mà ông ta đặt dưới một cái đèn gắn trên tường. Ông ta lại lót tót đi ra và quay lại với một cái đóm giơ lên cao, ngọn lửa của nó hóa ra xám xịt trong ánh sáng cuối ngày. Ông ta đứng trên đôn để gỡ cái chụp đèn, mở vòi khí, lóng ngóng châm cái đóm và, trước khi quá trễ, cũng châm được ngọn lửa vào luồng khí. Nó rít lên màu xanh lè và âm thanh trống rỗng trước khi chuyển thành ánh sáng xanh ngả vàng của lưới măng sông, và ánh sáng chập chờn rồi bùng lên tỏa khắp phòng. Phòng đợi trở nên khó chịu vì mùi khí đốt, tiếp theo là mùi ấm của giấy bị cháy, khi những mảnh tàn đen bay rải rác từ những ngón tay vung vẩy của ông ta. Ông ta gắn chụp đèn lại, dời cái đôn tới dưới ngọn đèn kế tiếp và bỏ đi.

Trong khi ông ta vắng mặt, căn phòng phập phồng tối dần. Và tối hơn nữa.

Ông ta quay lại. Nugent và Ada nhìn theo khi ông ta hoàn tất nghi thức với ngọn đèn và cái ghế; việc ông ta đi vào và đi ra; vẻ vênh vang ma mị của ông ta khi di chuyển quanh các bức tường về phía ngọn đèn thứ tư và cuối cùng, nằm ngay bên trên chiếc ghế Ada ngồi. Ông ta đặt cái đôn ngay cạnh chân bà, như thể cúi chào, và lại nhẹ nhàng rút đi. Sau một hồi lâu ông ta quay lại với ngọn lửa mà có thể, tuy không phải, ông ta lấy từ ngọn lửa đang cháy ở lò sưởi. Ông ta không muốn cúi khom người trước họ, có lẽ vậy, dù ông ta không áy náy gì nếu khiến Ada phải đứng dậy. Ông ta dừng lại trước mặt bà, nghiêng cái đóm sang phía này rồi phía khác, duy trì và hướng ngọn lửa cháy vào phần giấy. Ông ta nhìn mặt bà. Và chờ đợi.

Chiếc váy của Ada sột soạt tuột khỏi lòng bà khi bà đứng dậy. Và cũng chẳng khác gì nó tuột hết xuống sàn; tấm váy cứ như được làm bằng nước, nó cứ như một vũng màu quanh chân bà, bởi lúc này trông bà trần trụi quá. Nugent nhìn hết sức công khai khi bà khoanh hai tay lại trước ngực, và nhìn xuống. Ban đầu ông thấy tội nghiệp bà, rồi thì không tội nghiệp nữa. Cuối cùng ông cũng dịch chuyển, áp vào cạnh bàn làm việc, và nhẹ nhõm khi thấy mùi bốc ra theo làn hơi từ bên trong áo sơ mi của ông. Ơn Chúa vì điều đó. Đó không phải là lỗi của ông.

Sáng đó ông có mặt tại nhà thờ chính tòa giáo xứ, dự lễ sớm. Ông đi trong hàng cùng những người đàn ông khác để rước lễ. Vẻ mặt họ cũng đói khát như những người nghèo đang xếp hàng chờ lãnh xúp. Và khi đứng dậy từ tư thế quỳ, ông làm y như một quý ông đứng đắn: chậm rãi ở phần hông, nặng nề với sức nặng cuộc sống của ông trên trái đất này, buồn bã vì những người ông yêu thương. Can đảm.

Đó là mùa chay. Trong thời gian đó, Nugent đã từ bỏ những món giăm bông, xúc xích và các loại đồ lòng, cũng như rượu mạnh. Thân xác ông đã được làm sạch bởi những hoạt động của linh hồn ông - vì vậy mùi bốc lên từ bên trong áo sơ mi của ông phảng phất không khí mùa xuân, một mùi thoang thoảng của xà phòng buổi sáng sớm, mùi khó nhận thấy của một ngày làm việc vất vả. Vải áo của ông sờn một cách đứng đắn và cổ áo sơ mi của ông sạch sẽ rất đứng đắn, và cuộc đời của ông trải dài trước mặt ông tiến triển đứng đắn tới một tuổi trung niên chắc chắn.

Chỉ trừ một chút ngắt quãng nhỏ - bởi vì chẳng có gì đứng đắn trong cặp mắt trẻ thơ của ông, nhìn Ada Merriman trong phòng đợi của khách sạn Belvedere.

Bà đã nhìn lại ông. Đứng đó - tức là, trần truồng - với đôi tay khoanh lại trước ngực, bà ngước lên và nhìn vào mắt ông.

Đây chính là cú sốc. Cú sốc này là cái tôi trọn vẹn của Ada Merriman. Đồng tử bà giãn ra để đón nhận ông; chúng ùa tới và Nugent vui mừng vì có chỗ dựa, bên cạnh ông, là tấm ván gỗ của chiếc bàn làm việc.

Rồi họ mỉm cười. Ada mỉm cười. Giống như có một câu nói đùa nào đó trong phòng mà bà muốn ông chia sẻ.

Nugent nhìn bà. Ông tự hỏi bà thấy thích thú như thế vì bộ phận nào trên thân thể bà. Đó là bộ ngực của bà, hay cổ họng của bà? Hoặc bà không nhận ra mình trần truồng (rõ ràng bà đang mặc quần áo đầy đủ), hoặc là bà chẳng quan tâm gì cả. Bà có thể cười nhạo người đàn ông nhỏ thó đang thắp những ngọn đèn. Hoặc có thể bà đang cười nhạo ông - đứng đó giống như một thằng ngốc với một đùm lồi ra trong quần. Và đôi mắt của Nugent ậng nước vì sự không sòng phẳng đó, và với sức mạnh của tình yêu bị từ chối.

Chỉ có điều - như gã thắp đèn nhỏ thó có thể nói với ông - bà chưa từ chối ông bất cứ thứ gì. Bà chưa hề từ chối ông gì cả.

Những ngọn đèn khí chập chờn và rít lên nhè nhẹ khi chiếc đôn được nhấc đi và người đàn ông rút lui, hơi xoay về đôi tình nhân với vẻ lịch sự đầy mai mỉa, như thể ông ta có thể thấy tất cả, hành động giao hợp (tiếng xì xọp ầm ĩ), tiền bạc, những lời dối trá mà họ đã bắt đầu nói ra.

Ôi, nếu đó là một bài hát thì bạn có thể hát. Nếu đó là một bài hát thì bạn có thể gõ nó ra trên những cái thìa. Đặc biệt là ở Dublin, năm 1925.

❀ ❀ ❀

Đây hoàn toàn là tưởng tượng của tôi, dĩ nhiên rồi. Ai cũng có một bà ngoại đẹp - ắt vì nước ảnh đỏ nâu và chùm hoa màu cam trên mái tóc họ. Chưa kể cái nhìn kiên định trong những đôi mắt kiểu ngày xưa. Chúng ta không còn biết cách can đảm nữa, như một cô dâu can đảm thời bấy giờ. Đây là bức hình đám cưới của Ada: bà mang tấm mạng che mặt dài của những năm 1920 và lớp lụa của cái váy làm lộ ra những mũi thêu tay dịu dàng viền thành một hàng vết lõm quanh gấu áo. Bà trong trắng và thiêu đốt lòng người. Ada Merriman, bà ngoại nhiệt tình, khiêm tốn của tôi, là loại đề tài các nhà thơ thường viết, năm 1925.

Bà có đôi bàn chân giống tôi. Hoặc tôi có đôi bàn chân của bà: dài, với những ngón chân khẳng khiu. Cũng những xương mắt cá to và bắp chân thẳng, dài khiến tôi cảm thấy hết sức lóng ngóng ở trường, trước khi tôi học được cách sử dụng chúng. Tôi nhận ra mình có một thân thể đắt giá, khoảng năm 1979. Đây không phải chuyện tình dục. Các luật sư muốn làm tình để sinh con với tôi và các kiến trúc sư muốn tôi ngồi trên những chiếc ghế Eames của họ. Không có gì quá lớn ở mặt trước, chỉ cao và lỏng khỏng. Vì vậy tôi cho rằng tôi ăn diện đẹp - dù chẳng có gì thuyết phục được tôi mặc váy dài ngang bắp chân, để lộ mắt cá như của đàn ông và những ngón chân u nần tội nghiệp của tôi.

Vì vậy có điều gì đó đáng tội ở bàn chân to của Ada trong đôi giày xa tanh. Bà lấy chồng. Bà hạnh phúc. Hay tôi tưởng tượng thế, khi cất tấm hình của bà vào lại chiếc hộp đựng giày giữ tất cả những gì còn lại về câu chuyện của bà, lúc này.

Bà không cưới Nugent, bạn sẽ thấy nhẹ nhõm khi nghe thế. Bà đã cưới Charlie Spillane bạn của ông ta. Và không chỉ bởi vì ông này có xe hơi.

Nhưng ông không bao giờ rời bỏ bà. Bà ngoại tôi là một hành động giàu tưởng tượng nhất của Lamb Nugent. Tôi có thể không tha thứ cho ông ta, nhưng chính điều này - cái kiểu ông ta mãi trung thành với chuyện đó - đã định nghĩa người đàn ông này rõ nhất, đối với tôi.

« Lùi
Tiến »