Tôi rời trường sớm là có chủ đích. Tiết thứ tư là tiết trống của tôi, và mặc dù về mặt cơ bản thì tôi phải ở lại ít nhất mười lăm phút sau khi tan học, nhưng tôi đoán rằng hôm nay sẽ không ai nói gì. Emmy vẫn chưa gọi, và tôi muốn gặp cô ấy trước khi cô ấy tới chỗ làm. Có điều gì đó cứ lởn vởn trong tâm trí tôi, đầy bất an, không lay chuyển. Tôi cần gặp cô ấy.
Nhà chúng tôi là một căn nhà trệt ở ngoại ô thị trấn. Emmy đã phải lòng căn nhà này trước khi tôi tới; cô ấy nói rằng nhìn nó у như những căn nhà cổ kính đáng mến của ông bà chúng ta, rằng chúng tôi sẽ giống như hai bà cô già, rằng chúng tôi sẽ mua những chiếc ghế bập bênh đặt ở hàng hiên và bắt đầu đan lát. Tôi nhìn thấy nó lần đầu tiên qua đôi mắt của cô ấy - một thứ gì đó êm đềm và bình dị, một phiên bản khác của một cô nàng Leah Stevens tôi chưa từng gặp. Khi đến vào mùa hè, tôi cũng phải lòng căn nhà này. Nó được bao quanh bởi những mảng sắc xanh và nâu, tiếng chim hót lảnh lót và những chiếc lá lay động trong làn gió nhẹ. Căn nhà là một phần nhỏ của bức tranh phong cảnh rộng lớn hơn, và lần đầu tiên tôi cảm thấy được trở thành một phần của điều gì đó của thực tại. Một thứ gì đó sống động.
Căn nhà nằm cách xa những cửa tiệm và nhà hàng dọc theo khu công nghiệp, gần với hồ, yên vị trong khu rừng phía tây nam vùng nước, đắc địa trên mảnh đất có bề dày lịch sử, với những biển báo đề tên đường mang họ của những đứa trẻ trong lớp tôi. Bên hồ có một bãi cát nhỏ, bị chiếm cứ phần lớn bởi lũ ngỗng, và một trạm cứu hộ vào mùa hè.
Xung quanh hồ là rừng cây, khúc gỗ và đá. Bạn phải di chuyển qua vài dãy nhà, hướng về phía nam hoặc phía đông của hồ, trước khi tới được các trạm xăng, những dải đường nơi ngụ những cửa hàng và tiệm cà phê, những khu đất trống đang được xây dựng; và thêm vài dặm nữa về hướng đông trước khi tới được khu vực thương mại hay trường học.
Phần tuyệt nhất của căn nhà, Emmy đã nói, là nó đã có sẵn nội thất. Điều này có sức hấp dẫn riêng đầy mê hoặc. Không giống như những căn hộ ở Boston, nơi mọi dấu tích của những cư dân cũ sẽ bị xóa sạch trước khi những người thuê mới đến. Ở đây, mọi thứ chừng như đều có lịch sử của riêng mình, và chúng tôi là một phần của nó.
Có những ngày, nếu Emmy không thắp nến hay để mở lọ kem dưỡng, tôi sẽ ngửi được mùi những bóng ma của căn nhà. Những cục băng phiến và mền cũ còn sót lại trên tầng áp mái, chất tẩy rửa chứa dầu thông thơm mùi chanh được chúng tôi sử dụng từ ngày chuyển vào. Thuốc tẩy đổ vào các góc của phòng tắm để loại bỏ nấm mốc.
Cánh cửa trượt ở lối vào vẫn khóa chặt, у như lúc tôi đi. Emmy hẳn đã quay lại vào một lúc nào đó trong ngày và khóa nó lại khi cô ấy rời đi lần nữa. Hai đêm trước, tôi thoáng tỉnh giấc, thấy ánh đèn trong phòng khách và nghĩ rằng, Là Emmy, rồi lại chìm vào giấc ngủ.
Tôi bước vào trong, và điều đầu tiên tôi nhận thấy chính là sự im lặng. Sau đó là mùi hương - hay đúng hơn là sự vắng mặt của thứ mùi hương quen thuộc. Chẳng có nến, nhang, hay kem dưỡng da mật ong vani nào cả. Cô ấy cũng không nấu thịt hun khói hay để cửa sổ mở cả ngày, trong khi tôi ra ngoài. Tất cả những gì còn lại là những gợi nhắc cũ mèm của chính căn nhà.
Không gặp một người trong bao lâu mới là quá lâu? Một người sống chung một mái nhà với ta nhưng đã trưởng thành với cuộc đời riêng? Và thêm vào đó, là một người có chút khó đoán?
Tôi không xác định được. Ba ngày. Không, bốn. Ba, nếu tính từ kỳ hạn trả tiền nhà. Và đó chính xác là tình hình bây giờ.
Cô ấy đã phải trải qua một quãng thời gian khó khăn trong chuyện tìm kiếm công ăn việc làm ổn định ở đây - không giống như D.C., nơi này không tồn tại những công việc trong lĩnh vực phi lợi nhuận, và cô ấy không có hứng thú với việc ngồi làm bàn giấy cả ngày, như cô ấy đã nói: chẳng khác nào mấy con chuột chạy trên bánh xe. Vì vậy, cô ấy đã làm những gì có thể trong thời gian chờ đợi, cho đến khi tìm được một công việc phù hợp với mình.
Giờ làm việc của chúng tôi trùng nhau, vậy nên chúng tôi chỉ chạm mặt vào buổi sáng hoặc buổi tối, nếu tôi về sớm. Cô ấy lái một chiếc wagon màu nâu cũ kĩ mà cô ấy nói là mình đang mượn - Đang thuê ấy hả? Tôi hỏi. Đang mượn, cô ấy lặp lại. Nhưng cô ấy chỉ lái nó phân nửa thời gian. Thỉnh thoảng, nó vẫn nằm trên lối vào ga-ra, nép mình trong góc nhà, còn cô ấy thì biến mất. Hoặc đôi khi cô ấy sẽ nhờ Jim đến đón.
Gã đã tới nhà chúng tôi vài lần, nhưng tôi mới chỉ nhìn thấy gã từ sau lưng. Một lần khi gã rời khỏi phòng tắm vào buổi sáng. Một lần khác qua tấm cửa kính khi gã đi về phía xe của mình. Bờ vai rộng với mái tóc màu vàng cát, chân hơi vòng kiềng, cao lớn. Cả hai lần gã đều dường như không nhận ra là tôi đang quan sát gã. Lần duy nhất chúng tôi chạm mắt là qua lớp kính chắn gió trên xe, Jim lái đi đúng lúc tôi quành vào. Gã có một gương mặt hẹp, nhìn như thể đã mấy ngày rồi chưa cạo râu. Chẳng tay nào của gã đặt trên vô lăng khi cố châm điếu thuốc. Tôi dần dà tích nạp những thông tin về gã: môi mỏng, má hóp, dấu hiệu tuổi tác hiện rõ quanh mắt; cổ áo phông rách rưới, tóc xõa xuống cằm, đầu gã nghiêng về phía tôi khi chúng tôi lướt qua nhau. Gặp gã vào giờ ấy trong ngày khiến tôi nghĩ hẳn gã không có một công việc truyền thống.
Đôi khi tôi cảm giác rằng tình thế giữa Emmy và Jim cũng у hệt như tình thế giữa cô ấy và công việc: giúp giải khuây cho đến khi một thứ gì đó ổn định hơn xuất hiện.
Emmy có thể đang ở chỗ Jim, tôi nghĩ như vậy. Nhưng tôi cũng nghĩ tới Davis Cobb, bị bắt vì tội hành hung với nghi vấn là một kẻ đeo bám, và giờ tôi không chắc lắm.
Ánh đèn sáng lên trong phòng khách giữa đêm khuya.
Một dòng chảy trào những thống kê mà tôi từng nghiên cứu cho một bài báo vọng về trong tôi: năm loại kẻ đeo bám. Bị từ chối; phẫn uất; mưu cầu thân mật; kém cỏi bất tài; và ác thú tà tâm - những kẻ lên kế hoạch. Những kẻ nằm chờ cho đến khi có gì đó biến chuyển, và chúng tấn công.
Davis Cobb, ở bên kia tấm cửa kính khi tôi đóng sập nó vào mặt ông ta.
Tôi ngồi trên những bậc thềm trước hiên nhà cho đến khi chạng vạng. Chúng tôi đã không bao giờ mua những chiếc ghế bập bênh như dự định. Chính xác thì Emmy làm việc ở đâu? Chúa ơi, tôi không chắc nữa. Tôi từng một lần hỏi cô ấy rằng liệu đó có phải là nhà trọ nhỏ gần trung tâm thị trấn, với hàng hiên bao quanh và cửa chớp sơn trắng không. Nhưng cô ấy chỉ cười và nói, “Không xịn như vậy đâu, Leah. Ở thị trấn bên cạnh. Cái nhà trọ nằm cuối con đường nơi người ta tới hùng hục trên giường ấy.” Chỉ có cô ấy mới kéo dài những âm tiết trong từ trên giường để khớp với nhịp điệu và tiết tấu của câu nói như vậy.
Chúng tôi sống những cuộc đời riêng biệt, với những thói quen riêng biệt, trong những vòng tròn riêng biệt. Khi tôi đến, cô ấy đã tự mình sắp xếp tất cả, và tôi không muốn trở thành một con đỉa đói. Mà thực sự thì tôi hầu như không có thời gian cho việc đó - khi ấy tôi đang theo học những lớp chứng chỉ giáo viên trực tuyến vào buổi tối và cuối tuần để đáp ứng các yêu cầu của chương trình cấp phép giảng dạy khẩn cấp của quận, thứ mà tôi đang tận dụng.
Và bây giờ tôi đang đối mặt với sự thật rằng tôi không biết chính xác phải tìm cô ấy ở đâu. Tôi muốn lái xe quanh các thị trấn lân cận và tìm xe cô ấy, nhưng đồng thời tôi cũng không muốn vuột mất cô ấy.
Tôi đi hết một vòng căn nhà nhỏ, tìm kiếm bất kì dấu hiệu nào cho thấy cô ấy có thể ở đâu. Tôi dừng lại trước cửa phòng cô ấy và ngó vào trong. Tôi băng qua sàn gỗ trống trơn và lướt các ngón tay lên tấm chăn bông khâu tay được kéo lên đến gối. Sau đó, tôi lật tấm chăn ra và chui vào chăn, để canh nếu cô ấy về và vào phòng. Nếu tôi ngủ trên giường cô ấy, cô ấy sẽ đánh thức tôi và hỏi vì sao tôi lại ở đây, và rằng có chuyện gì. Cô ấy sẽ lấy từ trên nóc tủ lạnh xuống một chai vodka và rót cho chúng tôi mỗi người một ít, rồi chúng tôi sẽ đối diện với sự thật kinh khủng về khoản nợ tiền nhà phải trả.
Tôi lăn người nằm sấp xuống, mùi dầu gội của cô ấy thoang thoảng nhè nhẹ trong chăn. Tôi như hình dung ra vạt tóc đen cắt tới xương quai xanh của cô, tóc mái xõa sang một bên. Lông mi cô ấy nhạt màu hơn ta tưởng khi nhìn gần, miệng hơi hé ra khi say giấc.
Tôi hữu hình hóa cô ấy khi chìm vào giấc ngủ.