Điện thoại reo, và tôi giật mình tỉnh giấc trên giường cô ấy, đơn độc. Tôi chộp lấy điện thoại di động của mình, nhưng đó là tiếng điện thoại cố định, vọng ra từ nhà bếp. Tôi loạng choạng rời giường, bật đèn hành lang, mắt cố tập trung nhìn đồng hồ, nhấc ống nghe ra khỏi giá đỡ lưng chừng một tiếng chuông reo. “A lô?” Tôi nói. Tôi đằng hắng, cố giũ bớt sự ngái ngủ khỏi giọng nói, nhìn vào bóng tối qua ô cửa sổ, thấy hình ảnh phản chiếu của chính mình đang nhìn lại.
Không ai đáp lại. Đường dây lặng thinh, nhưng đầu kia không gác máy. Lúc đầu, tôi đã nghĩ đó là Davis Cobb - trước khi tôi chợt nhớ ra rằng ông ta đang bị giam giữ, và ông ta không bao giờ gọi đến điện thoại cố định. Tôi có thể nghe thấy gì đó. Một âm thanh nhè nhẹ. Một luồng không khí lướt qua. Tiếng tóc cọ lên ống nghe, một bàn tay di chuyển. Một hơi thở nông.
“A lô?” Tôi lặp lại.
Đầu dây bên kia vẫn giữ máy. Tôi lại bắt gặp hình ảnh phản chiếu của chính mình trên tấm cửa kính. Biết rằng đây là hình ảnh mà ai đó nếu đang đứng bên ngoài cũng có thể nhìn thấy được. Tôi, trong chiếc quần nỉ và áo phông mỏng, áp điện thoại bàn vào tai, không nói chuyện với ai. Những sợi tóc sau gáy tôi dựng đứng. Tôi tắt đèn trước khi cúp máy, lần mò những ngón tay dọc theo bức tường, quay lại giường của Emmy.
Cô ấy vẫn có thể sẽ về nhà. Có thể là vậy.
Tôi nhắm mắt lại, hình dung lần cuối cùng mình nhìn thấy cô ấy: Hôm đó là ban ngày, và cô ấy đang ngồi ngoài sân nhà chúng tôi, nơi đất đá và cỏ dại chiếm phần chủ yếu. Tôi nhìn thấy cô ấy từ đằng sau, bắt chéo chân, lưng hơi khom lại, tuyệt đối bất động, ngoại trừ làn gió luồn qua mái tóc. Ánh sáng bao bọc lấy những rặng núi ở đằng xa, và tôi không biết cô ấy vừa về đến nhà hay vừa mới thức dậy.
“Chào buổi sáng,” tôi nói, nhưng cô ấy không di chuyển.
Tôi cầm chìa khóa xe trên tay và đi vòng quanh để cô ấy có thể thấy tôi đang tới. “Emmy? Cậu ổn chứ?”
Tóc cô ấy rủ về phía trước, và trong một khoảnh khắc tôi nghĩ rằng cô ấy đang ngủ. Nhưng rồi cô ấy đứng dậy và bước về phía khu rừng - và chính điều này mới thực sự làm tôi lo lắng. Cô ấy không mang giày. Mộng du, tôi nghĩ.
“Suỵt,” cô ấy nói, nhưng tôi không biết cô ấy đang nói chuyện với ai. Tay cô ấy lần tới sợi dây chuyền mà cô luôn đeo trên cổ, mân mê qua lại mặt dây hình bầu dục màu đen trong tay.
“Mmm” tôi thì thầm, phê rồi. Cô ấy đang phê hết nấc. Tôi hồi tưởng lại những đêm muộn với ánh đèn mờ và bầu không khí chuếnh choáng, mắt Emmy đờ đẫn, nụ cười biếng nhác, điều mà khi ấy tôi quy cho tuổi tác của chúng tôi, cho sự chuyển tiếp sang tuổi trưởng thành chậm chạp và không được chào đón mà cô ấy dường như đang phản kháng lại.
Nhưng rồi khoảnh khắc đó bị phá vỡ và cô ấy quay mặt về phía tôi, chuyển động đầy tò mò và đặc sệt chất Emmy.
“Tới chỗ làm hả?” Cô ấy hỏi.
Tôi bước lại gần. “Cậu đang làm gì thế?”
Cô ấy phá lên cười vừa lúc ngọn gió lướt qua, thổi một lọn tóc vương lên gương mặt. “Đừng làm vậy nữa,” cô ấy nói.
“Làm gì cơ?” Tôi hỏi.
“Lo lắng. Tớ nhìn thấy nó trên khuôn mặt cậu. Đó là trạng thái mặc định của cậu.”
Cô ấy cũng đã nói như vậy với tôi vào cái ngày cô ấy lên đường cùng Đoàn Hòa Bình, để tới sống một mình trong suốt hai năm trời tại một quốc gia ở châu Phi mà tôi gần như chưa từng nghe nói tới. Cô ấy cũng đã nói như vậy với tôi cả từ những ngày trước đó, mỗi khi cô ấy ra ngoài vào ban đêm với một kế hoạch nửa vời hoặc không gì cả.
Nhưng việc ngừng lo lắng cho Emmy là bất khả thi. Tôi luôn coi cô ấy như sự khởi đầu cho một tin bài - một chuyến phiêu lưu có thể hóa thành bi kịch. Kiểu hành động đầy bốc đồng của Emmy; kiểu mà cô ấy sẽ đột nhiên trở nên im lìm hoàn toàn, không báo trước.
Tôi vẫn cho rằng mình đã đúng khi lo lắng từ hồi chúng tôi còn sống trong căn hộ dưới tầng hầm. Rằng có điều gì đó đã xảy ra với Emmy, cũng như có điều gì đó đã xảy ra với tôi. Lý do chúng tôi ở đây. Và chúng tôi lảng tránh, đôi khi lướt qua nó, nhưng không bao giờ đối diện trực tiếp với lý do thực sự.
“Cậu đang nhìn gì thế?” Tôi hỏi.
“Những con cú. Có nguyên một đàn,” cô ấy đáp. Và lúc ấy đang vội, nên tôi đã bỏ dở câu chuyện. Đáng lẽ ra tôi nên hỏi lại.
Tôi có thói quen đặt câu hỏi cho Emmy hai lần, để chắc chắn rằng tôi đang được nghe sự thật. Hai lần, trước khi tôi tin cô ấy.
Cậu đã ở đâu vậy? Tôi đã hỏi vào mùa hè khi chúng tôi là bạn cùng phòng ở Boston. Cô ấy loạng choạng bước vào khi tôi chuẩn bị đi làm, không khác tình hình bây giờ là bao.
Công viên Commons, gần hồ, bọn tớ đốt pháo và cuỗm một chiếc thuyền thiên nga - lẽ ra cậu nên đi cùng.
Emmy, tôi nói, tiến lại gần. Và mặt cô ấy sẽ xụ xuống, như thể đã bị tôi bắt quả tang, như thể tôi dồn cô ấy vào đường cùng, buộc cô ấy nói ra sự thật. Cậu đã ở đâu vậy ?
Căn hộ tồi tàn của John Hickelman. Trên trần nhà gã lắp gương. Giết tớ luôn bây giờ đi, khi tớ còn đang say. Trước khi tớ tỉnh rượu và nhớ lại mọi thứ.
Tôi từng nghĩ đây là một dấu hiệu: rằng tôi đã được định sẵn cho công việc của mình. Cách mà tôi có thể trơn tru bước vào thế giới của người khác, vào trong đầu họ, với những ranh giới gần như hoàn toàn không tồn tại - một sự mờ nhạt giữa những gì có thể chấp nhận được và những gì không. Lợi thế đó đã mang lại cho tôi những tin bài. Thứ lầm lỗi đã dẫn tôi đến nơi này.
Nhưng hồi đó tôi tin rằng người ta muốn kể cho tôi nghe sự thật, rằng tôi có một diện mạo hoàn hảo, thời điểm hoàn hảo và cách lựa chọn từ ngữ cũng hoàn hảo, rằng tôi sẽ thành công rực rỡ.
Đặt câu hỏi cho họ hai lần, và họ lọt lưới.
Tôi rất giỏi việc khiến người ta mở lời, vậy nên nếu một tin bài dính dáng tới thanh thiếu niên, thì nó là của tôi. Tôi là một cô gái hai mươi chín tuổi nhưng trông như hai mươi hai, là người có thể xen vào các cuộc trò chuyện, nghe lỏm mọi người mà không bị liếc xéo.
Đó vốn là một tin bài về sự thiếu hụt các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần trong khuôn viên trường đại học. Góc nhìn của câu chuyện sẽ là về những áp lực đối với học tập và xã hội, những thứ ta chưa chuẩn bị để con em ta có thể đối đầu với chúng, những góc tối mà bản thân chúng ta cũng có thể rơi vào, nơi mà nhìn từ bên trong ra, dường như không có lối thoát.
Đó cũng vốn là một tin bài với mục đích khơi gợi sự đồng cảm ở cá nhân người đọc. Thực ra thì, đây là một sự tưởng nhớ. Đưa câu chuyện của những người phụ nữ này ra với ánh sáng và cuộc sống, đồng thời thể hiện những cách mà hệ thống hiện thực đã khiến họ thất bại - hy vọng rằng mọi chuyện sẽ không tái diễn. Đó là sự thay đổi mà tôi nhất định sẽ mang lại.
Tôi đã biết mọi thông tin chi tiết trước khi tôi đặt chân tới khuôn viên trường - Kristy và Alecia, cùng vào năm trước, lần lượt trong tuần trước và tuần sau kì nghỉ xuân; tiếp theo là Camilla và Bridget vào tháng Ba, giọt nước tràn ly. Tôi đã xử lý xong bố cục, biết điều người đọc muốn nghe và nhìn ra cách nhào nặn câu chuyện: Thường những vụ giết người sẽ xuất hiện ồ ạt vào đợt cao điểm nắng nóng của mùa hè, khi nhân gian nóng phát sốt, không có điều hòa và chúng ta nằm trần truồng trong căn hộ của mình, cắm đầu vào tủ lạnh, nhỏ nước mát lên phần bụng trần và đằng sau cổ.
Những việc bạn sẽ làm trong cái nóng tột độ như thế.
Những tội ác tàn bạo gia tăng cùng với nắng nóng, nhưng trời đông còn tồi tệ hơn về tâm lý. Một mảng xám mênh mông trải dài vô tận, và cách bạn phải cuộn người trong tầng tầng lớp lớp quần áo rồi cuối cùng quên mất rằng mình là ai từ trong sâu thẳm. Đó là một con người khác, sống trong một vỏ bọc da thịt khác. Bạn cảm thấy mình hoặc quá to lớn, hoặc quá nhỏ bé.
Nhưng mùa xuân mới là mùa tự sát.
Học thuyết của tôi: Thế giới trút bỏ những lớp vỏ cũ của nó, và sự sống lại bừng lên sự mới mẻ - nhưng bạn thì không. Hoặc là bạn có, và bạn không thích những gì mình tìm thấy.
Vậy nên câu chuyện này, một đại dịch tự sát ở trường đại học, một tin bài đầy tính nhân văn với bản chất khủng khiếp của một thảm kịch mà ta không thể rời mắt - nỗi ghê rợn, sức lôi cuốn - nó là dành cho tôi.
Nó thậm chí còn hoàn hảo hơn vì tôi cũng từng theo học tại ngôi trường này. Tôi có một cái nhìn chính xác về cách bộ máy bên trong hoạt động, về những chi tiết khó thấy. Chúng tôi tới trường trong bóng tối những ngày đông, mò mẫm qua các hành lang nối nhau dưới lòng đất không bao giờ thấy được ánh sáng ban ngày. Âm thanh rè rè của những ngọn đèn và bầu không khí trong Sảnh Matter tạo ra một thứ tiếng ồn trắng không ngớt, và những giọng nói nhỏ dần khi ta thu mình sâu hơn, như thể có thứ gì đó hữu hình đang chia cắt chúng ta.
Tôi đã chặn đường để hỏi chuyện rất nhiều sinh viên vào những ngày đầu tiên - tất cả những người đã chạm mắt với tôi, và cả những người không nhìn vào tôi - trước khi chuyển sang các mối liên hệ cá nhân hơn, để trước tiên có điều gì đó mà trình bày. Có rất nhiều sinh viên nói rằng họ sẽ nói chuyện miễn là tôi không nhắc đến tên của họ. Rất, rất nhiều - cho đến cuối cùng, tôi có thể nhớ lại một tuyên ngôn và tự hỏi liệu nó có thực sự đã từng được nói với tôi hay không.
Chúng tôi nói chuyện nhiều nhất về Bridget, bởi vì cái chết của cô ấy là gần đây nhất, và vì cô ấy được biết đến nhiều hơn. Những người quen biết cô ấy vẫn còn bàng hoàng, kiệt quệ cảm xúc, nhắc đi nhắc lại điệp khúc chúng tôi không biết, chúng tôi không biết - điều mà tôi đã dự từ trước nhưng vẫn khiến tôi bất an.
Điều mà tôi sẽ nhớ là: khoảng đỏ lan ra trên cổ sếp tôi, lời nói của ông hạ xuống thành một tiếng thì thầm.
Chúa ơi, Leah, cô đã làm gì vậy?
Tiếng rè rè vang lên trong tai tôi khi mọi thứ trở nên hỏng bét, khi tôi bị gọi vào trong văn phòng trống rỗng vô trùng của sếp mình, lời cảnh báo của ông vẫn văng vẳng: phỉ báng. Có tội. Kiện tụng. Bắt giữ.
Khi ấy, tôi biết rằng chính Noah là kẻ đã giao nộp tôi cho sếp. Rằng những lời cảnh báo trước của anh ta không chỉ can hệ đến thanh danh của tôi. Sau chia tay, tôi có thể hình dung ra cảnh anh ta thì thầm vào tai Logan: Cô ấy đang theo đuôi hắn ta, gã giáo sư đó; cô ấy không có bằng chứng, nhưng lại dàn dựng để buộc tội hắn ta.
Tôi đã rất chắc chắn. Giờ tôi vẫn vậy.
Tôi đang ở một mình khi báo thức đến trường trên điện thoại reo vào sáng hôm sau. Trời sầm sì, mưa rơi lộp độp xuống những máng xối.
Không thấy Emmy, và không có dấu hiệu nào cho thấy cô ấy đã ở đây.
Tôi lục lọi những ngăn tủ trong phòng tắm chung của chúng tôi. Bàn chải đánh răng, chai khử mùi hiệu bình dân, lược, tất cả xếp thành hàng trên một ngăn kệ nhựa trong tủ thuốc. Cô ấy đã không dự định rời đi lâu.
Tôi để lại cho cô ấy một lời nhắn mới bên cạnh bức tượng thần lùn giữ vườn: Emmy, gọi cho tớ ngay khi cậu về nhé. Và tôi viết thêm số điện thoại của mình vào, đề phòng trường hợp cô ấy quên.
Tôi nghĩ đến việc đi vào bằng lối phụ ở trường một lần nữa, chủ yếu là để né tránh những câu hỏi của Mitch về cuộc phỏng vấn của cảnh sát, nhưng sau hôm qua, hẳn tôi đang hơi quá đà.
Do trời mưa, có một nhóm học sinh đang đứng tụ tập sẵn tại sảnh. Thường thì chúng sẽ chờ ở tiền sảnh hoặc trong bãi đậu xe, chứ không mò vào trong cho đến khi có hồi chuông đầu tiên. Nhưng giờ chúng đang túm tụm lại trong các góc, những tiếng rì rầm còn trầm hơn thường lệ. Trở thành những tiếng thì thầm. Và rồi tôi đã thấy nguyên do.
Kyle Donovan, viên thanh tra hôm qua, đang đứng ngay trong cửa kính của văn phòng trường. Anh ta đang nói chuyện với viên thư ký, nhưng cô ấy gật đầu về phía tôi ngay trước khi tôi đi ngang qua các ô cửa sổ. Anh ta nhìn vào mắt tôi, và tôi dừng lại. Tôi cảm thấy các học sinh đang nhìn. Tôi cảm nhận được ánh mắt của chúng. Tôi cảm thấy, tệ hơn cả vậy, là câu chuyện đang thành hình và nhận ra tôi là một phần trong đó.
“Cô Stevens,” viên thanh tra gọi, và tôi khựng lại. Giọng anh ta vang vọng trong không gian tĩnh lặng. Anh ta mở lời, rồi dường như nghĩ kỹ lại. “Có nơi nào đó để chúng ta có thể nói chuyện riêng không?” Anh ta hỏi.
“Lớp của tôi thì sao?” Tôi hỏi lại. Vì chỉ có giới hạn thời gian thôi. Mười lăm phút nữa hồi chuông đầu tiên mới vang lên, là lúc các học sinh bắt đầu tràn vào các hành lang. Và tôi muốn có một lối thoát dễ dàng cho mình. Tôi không rõ anh ta đã biết hay đã tìm hiểu được gì. Tôi biết cách những cuộc điều tra như thế này diễn ra, cách một viên cảnh sát có thể quyết định gọi cho một “ông bạn cũ” ở Boston chỉ để rà soát một cái tên.
Anh ta chìa tay ra, như thể muốn nói, Tôi sẽ theo sau cô. Tiếng bước chân của chúng tôi vang vọng khắp các hành lang. Tôi cố gắng giữ những cử động của mình ổn định và thuần thục khi mò mẫm tìm chìa khóa lớp học và ra hiệu cho anh ta vào trong.
Căn phòng trống luôn gây cho tôi cảm giác lạ lẫm lúc đầu - ẩm mốc và lạnh lẽo - cho tới khi đèn được bật lên và các học sinh ùa vào, lấp đầy bầu không khí với mùi dầu gội đầu hương cam chanh và loại nước hoa dành cho tuổi thanh thiếu niên. Tôi bỏ túi xách lên bàn dành cho giáo viên bên hông phòng, đứng trước bàn, chờ đợi. Anh ta nhìn quanh phòng - không có chỗ nào cho anh ta có thể ngồi ngoài những chiếc bàn học sinh. Anh ta bước đến ngồi lên một chiếc, cố tỏ ra bình thường. Tuyệt. Tôi dựa lưng tựa lên bàn mình. Rút một chân ra khỏi giày, gãi vết ngứa đằng sau chân kia.
“Tôi có thể giúp gì cho anh đây, Thanh tra?” Tôi hỏi, tim đập thình thịch.
“Kyle,” anh ta nói.
“Kyle,” tôi nhắc lại. Kyle khi ở một mình trong lớp học của tôi trông khác hẳn với thanh tra Donovan ngày hôm qua: Anh ta có một vết sẹo trắng trên trán, gần đường chân tóc. Đôi mắt nâu sâu thẳm. Tóc trùng màu mắt. Anh ta cần cạo râu. Tôi tự hỏi liệu anh ta đã kịp về nhà chưa.
“Tôi muốn nói trực tiếp với cô,” anh ta mở lời, nhưng chẳng cần nói hết tôi đã hiểu.
Tôi nhìn đồng hồ. Đã quá hai mươi tư tiếng. “Các anh không buộc tội ông ta,” tôi nói.
“Không có đủ bằng chứng để giữ ông ta lại,” anh ta đáp, và với cách anh ta nói, tôi nghĩ anh ta có thể đang đổ lỗi cho tôi.
Tôi thả chân xuống sàn. “Người phụ nữ - Bethany - cô ấy nói là do ông ta ư?” Tôi hỏi.
Anh ta nhăn mặt. “Cô ấy không nói gì nhiều. Hiện tại cô ấy đang hôn mê. Họ đang cố gắng kiểm soát vết sưng tấy.” Anh ta chỉ vào hộp sọ của mình. Tôi mường tượng đến vũng máu trên cỏ.
Ồ. “Vậy còn anh thì sao?” Tôi hỏi, hạ giọng, khiến anh ta chúi người lại gần về phía trước. “Anh có chắc đó là ông ta không?” Tôi biết họ cần phải có một lý do chính đáng mới có thể quyết định bắt giữ ông ta. Yếu tố bất ngờ chỉ có tác dụng một lần. Davis Cobb sẽ cảnh giác hơn sau chuyện này. Ông ta chắc chắn sẽ che giấu dấu vết của mình, nếu bất cứ thứ gì còn sót lại.
Kyle nhảy xuống khỏi bàn, tiến lại gần hơn một bước, giữ giọng mình trầm hơn: “Cô có biết cửa hàng của ông ta nằm ở đâu không?”
Tôi lắc đầu.
“Đằng sau trạm xăng trên phố State.” Anh ta nói với tôi như thể anh ta cho rằng tôi đã quen thuộc với mọi ngóc ngách trong và ngoài thị trấn này, như thể những cái tên này có ý nghĩa gì đó đối với tôi.
“Xin lỗi anh nhưng tôi chưa sống ở đây lâu đến vậy.”
“À. Nó nằm cách con đường chính bao quanh hồ một dãy nhà. Nhiều người đã thề với chúng tôi rằng xe ông ta đã đậu ở đó suốt cả đêm. Sau đó, có một nhân chứng nghe thấy ông ta đã cãi vã với một phụ nữ, nên họ cho rằng ông ta đã có mặt tại hồ.”
“Nhân chứng đó vẫn không đủ ư?” Tôi thắc mắc.
Anh ta nhìn ra ngoài cửa sổ, cơn mưa chảy dài trên tấm kính, bóp méo vạn vật. “Vợ ông ta nói họ cùng nhau đi xe bà ấy về nhà, rằng ông ta đã ở cạnh bà ấy cả đêm. Và khi đó trời tối, nên nhân chứng không đáng tin cậy. Sẽ giúp ích nếu chúng tôi biết được khi ông ta gọi cho cô thì ông ta đang ở đâu. Nếu cô đã nghe tin nhắn đó.”
“Nhưng tôi đã không nghe,” tôi trả lời. Dù sao nó cũng chẳng chứng minh được gì. Tất cả những gì tôi có thể nghe được, hồi tôi vẫn còn nghe những tin nhắn thư thoại ấy, là tiếng một con cú hoặc tiếng gió. Không bao giờ là âm thanh những chiếc ly chạm vào nhau kêu lanh canh hay tiếng tivi. Chỉ có ông ta, miệng đặt quá gần chiếc điện thoại, giọng hạ xuống thành một tiếng thì thầm, để tránh bị nghe thấy. Ông ta có thể ở bất kì đâu - đang trên đường đi bộ về nhà, đứng ngay ngoài hiên trước, Bất kì đâu. “Lịch sử điện thoại của ông ta không giúp được gì à?” Dù không có lời khai của tôi hẳn cũng nhải có những bằng chứng khác. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu biết ông ta cũng gọi cho những phụ nữ khác vào đêm khuya. Có một khuôn mẫu ở đây, và ông ta vừa khớp.
Kyle ngửa đầu lên trần nhà. “Không, ông ta đang giỡn mặt chúng tôi. Vui vẻ giao nộp điện thoại cho chúng tôi làm bằng chứng. Chẳng có gì trong đó. Điều này cũng không có gì ngạc nhiên. Hầu hết các vụ án đều như thế này, ai đó dùng một chiếc điện thoại trả trước. Có thể mua chúng ở bất cứ đâu bằng tiền mặt. Gần như không thể truy dấu được.” Anh ta dừng lại. “Ông ta biết mình đang làm gì.” Một lời cảnh báo, ra vậy. Một sự khiêu khích mời gọi thứ gì đó bản năng hơn bên trong tôi.
Việc bắt giữ ông ta là một cú liều ăn nhiều, một hy vọng rằng sẽ dọa được ông ta thú tội, hoặc rằng tôi sẽ ra mặt tiếp thêm lời khai cho vụ án, khi mối đe dọa giờ đã an toàn sau những chấn song.
“Anh phải để ông ta đi, và giờ anh ở đây để làm tôi thấy tội lỗi, phải vậy không?”
“Tôi ở đây vì chúng tôi phải để ông ta đi,” anh ta nói. “Nhưng cũng vì muốn báo cho cô biết rằng tôi sẽ phái vài đội tạt qua chỗ cô tối nay. Vì vậy, nếu cô nhìn thấy ánh đèn, thì hẳn đấy là họ. Tuy nhiên, cô cứ gọi điện cho tôi nếu phát hiện có gì đó bất thường.”
“Anh nghĩ tôi có lý do gì để lo lắng sao? Anh không thấy khá ngớ ngẩn nếu ông ta làm vậy à?”
“Hệ thống tư pháp không thực sự toàn những người có quyết định đúng đắn,” anh ta đáp.
Chuông báo tiết học vang lên. “Cảm ơn vì đã cho tôi biết,” tôi nói.
“Cô có thể nói chuyện với tôi, cô Stevens.” Cung cách của anh ta mơ hồ gợi tôi nhớ đến một người nào đó mà tôi biết - hoặc có thể chỉ là một tuýp người - với cách anh ta nói chuyện và di chuyển: điềm đạm, ôn hòa và tự tin. Một người đã làm trong nghề này đủ lâu, đã quen với những trắc trở của công việc và đã học được cách giữ vững bản thân mình.
“Leah,” tôi nói.
“Leah,” anh ta nhắc lại, rồi anh ta gõ gõ lên trán mình, như một cử chỉ chào tạm biệt - như thể chúng tôi ở cùng một đội.
Tôi kiểm tra điện thoại của mình hết lần này đến lần khác trong giờ học, và lắng nghe những lời xì xào bán tán. Nhưng hôm nay, các học sinh của tôi giữ chặt những bí mật của chúng hơn bình thường.
Tôi quay mặt về phía bảng, viết lên đó một bài tập mà tôi hy vọng sẽ giữ chúng bận rộn và im lặng.
“Cô Stevens?” Không cần quay xuống tôi cũng biết đó là ai. Tôi có thể tưởng tượng ra cánh tay con bé giơ lên giữa không trung, lưng thẳng, những ngón tay khẽ vẫy. Izzy Marone.
“Ừ,” tôi đáp, vẫn quay mặt về phía bảng.
“Nếu bọn em không cảm thấy an toàn khi ở trường thì làm sao có thể tập trung học được ạ?”
“Em nói đúng, Izzy,” tôi trả lời, quay người lại và phủi tay lên cạnh quần. “Vấn đề này rất hữu quan, có tính thời sự và quan trọng. Vậy nên hãy lấy vở của các em ra và viết một bài nêu lên quan điểm của mình.” Tôi bước về phía con bé, nghiêng người lại gần, chống tay lên bàn. “Hãy để những cảm xúc ấy dẫn đường cho em. Lần này, hãy nhắm đến sự chân thực.” Mắt Izzy mở to, nhưng con bé vẫn giữ nguyên người không nhúc nhích. “Bài này là để lấy điểm ạ?” Nó hỏi.
Tôi gõ gõ lên mặt bàn. “Một bài luyện tập. Lấy điểm chuyên cần. Bắt đầu làm đi.” Đây là những gì tôi làm vào tuần đầu tiên ở trường, khi bắt đầu cảm thấy mọi chuyện đang nhanh chóng trở nên tồi tệ - chỉ để giữ chúng tập trung và muốn một chút yên tĩnh. Tôi cảm thấy xấu hổ khi phải hối lộ học sinh của chính mình để chúng làm việc. Hứa hẹn rằng chúng sẽ được qua môn miễn phí, được điểm miễn phí.
Nhưng lần này thì khác. Tôi muốn có thông tin. Đến cuối ngày, dù không nhận được bất cứ cuộc gọi nào từ Emmy, nhưng tôi đã có trong tay một xấp bảy mươi lăm bài nêu quan điểm, tất cả đoán chừng đều là về an toàn trường học, về những tin đồn, và Davis Cobb. Đây là cách ta bắt đầu.
Sự thật và câu chuyện - không quan trọng cái nào tới trước, miễn là cuối cùng bạn đến được nơi bạn cần đến.
Miễn là bạn kết thúc ở sự thật, mọi thứ đều công bằng.