Kẻ Sát Nhân Quỷ Quyệt

Lượt đọc: 1564 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1: ADAM

Ôm chặt con gái trong tay, tôi muốn chắc rằng con bé sẽ không chạm phải những mảnh thủy tinh lởm chởm vương vãi từ ly rượu vang của vợ tôi. Một dấu hiệu rõ ràng duy nhất cho thấy dường như một điều tồi tệ nào đó đã diễn ra ở đây. Tôi hổn hển hớp từng ngụm không khí. Gai từ cây mâm xôi cào rách cánh tay trần khi tôi chạy từ dưới bãi biển lên đường cao tốc. Có người đề nghị băng bó giúp những chỗ rỉ máu nhưng tôi nói không cần. Ai đó choàng một tấm chăn qua vai khi tôi ngồi trên bờ chắn cao một mét rưỡi chia tách bãi biển hình lưỡi liềm với ba căn nhà gỗ đằng sau. Hành động đó thật tử tế và tôi không từ chối dù biết tấm chăn đó không thể làm mình hết run rẩy. Tôi không ngẩng đầu lên nhìn. Thay vào đó, tôi ngồi yên, tự hỏi bản thân đã làm hết tất cả những gì có thể chưa.

Những việc mà tôi đáng ra nên làm.

Aubrey cựa mình giữa hai cánh tay tôi, đôi mắt nâu của con bé đang lẳng lặng quan sát tất cả.

Người phụ nữ trong căn nhà gỗ bên cạnh đã tới đây vào dịp cuối tuần cùng các cháu, trước ngày Chiến sĩ trận vong. Bà ấy đang cố hết sức để giữ bình tĩnh. Bà ấy đã giới thiệu tên, nhưng bởi tâm trí đang rối bời, tôi gần như không thể nhớ được gì nữa.

Bà vỗ vào vai tôi.

“Adam, hay là đưa Aubrey sang phòng trọ của tôi nhé?” Bà liếc sang lối đi dốc dẫn lên các phòng trọ. Một chiếc SUV màu đen với những điểm nhấn nhá màu vàng đang chậm chạp tiến vào khu đỗ xe. Cảnh sát quận Mason đã đến.

Đôi mắt mờ đi vì không đeo kính của tôi bằng cách nào đó đã chạm mắt bà và tôi khẽ gật đầu. “Tôi xin lỗi. Tôi quên tên của bà mất rồi.”

“Teresa,” bà ấy nhắc lại.

“À phải rồi.” Tôi đặt tay lên vai Aubrey. “Con yêu, bố muốn con đi cùng bà Teresa. Con có thể chơi với các cháu của bà ấy.”

Aubrey trông bối rối và sợ hãi. Con bé đã chứng kiến vụ việc đáng chấn động này. “Con muốn mẹ cơ.”

“Bố biết,” tôi nói với con bé. “Chúng ta sẽ đi tìm mẹ sau. Bố vẫn ở đây. Được không, con yêu? Con chờ bố một chút thôi.”

“Bà và các cháu của bà vừa làm kem que sáng nay đấy,” Teresa nói.

Aubrey dời sự chú ý sang người phụ nữ lớn tuổi tốt bụng, nhưng vẫn im lặng.

“Có cả nước ép anh đào nữa,” Teresa bổ sung, vận dụng kỹ năng nuôi trẻ của mình để mời gọi một đứa bé ba tuổi.

“Đi đi con yêu,” tôi bảo con bé. “Bố ở ngay đây thôi mà.”

Aubrey quay sang và đi với Teresa còn tôi tiến lại gần chiếc SUV, tốc độ của tôi tăng lên thành những bước chạy, xuyên qua bãi cỏ rộng dọc theo bờ chắn.

“Ơn chúa, các anh đến rồi!” Tôi cất tiếng gọi những viên cảnh sát. Giọng tôi lạc đi đôi chút và tôi cố kiềm chế cảm xúc của mình. Phải nói thật rõ ràng. Phải kể cho họ nghe những gì đã xảy ra.

Có một người đàn ông và một phụ nữ. Người đàn ông lớn tuổi hơn có mái tóc màu bạc và cặp kính gọng nhỏ.

Người phụ nữ trông khá quen. Tóc cô tương đối dài và được vén ra sau. Gương mặt đầy tàn nhang.

“Lee đúng không?” tôi hỏi.

“Adam. Lâu rồi mới gặp.”

Cộng sự của cô giới thiệu mình là Zach Montrose, ném cho cô một cái nhìn hứng thú. “Hai người biết nhau à?”

Cô chăm chú nhìn tôi. Tôi thấy một nụ cười hoài niệm thoáng xuất hiện trên gương mặt cô, nhưng đây không phải là một cuộc hội ngộ vui vẻ. Làm sao mà vui vẻ được?

“Chúng tôi lớn lên cùng nhau,” cô nói. “Anh ấy là bạn thân nhất của Kip.”

Kip là anh trai cô. Chúng tôi học cùng nhau từ mẫu giáo đến hết trung học phổ thông. Cậu ấy nhập ngũ, được điều tới Afghanistan và không bao giờ trở lại. Lần gần đây nhất tôi gặp Lee là tại lễ tưởng niệm mà gia đình Husemann tổ chức để tưởng nhớ con trai họ. Tôi vẫn nhớ mình đứng trước đám đông ở nhà thờ Shelton Bible Church và hồi tưởng về con người và nhân cách của Kip khi còn sống (“nhường cơm, sẻ áo… chưa hề quen biết… luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác”), tôi né tránh ánh mắt của cha mẹ và em gái cậu ấy bởi tôi không muốn mình ngã quỵ. Tôi muốn kiểm soát tốt mọi thứ. Tôi muốn đảm bảo rằng mọi hành động của mình đều được thực hiện một cách có chủ đích.

“Trái Đất này đúng là tròn thật.” Montrose thốt lên.

“Anh từng nghe nói em đã trở thành một cảnh sát,” tôi nói. Lee có đôi mắt màu xanh lá. Đó là điều làm tôi cảm thấy quen thuộc ở cô ấy.

“Em là thám tử,” cô đáp lời, chút ấm áp thoáng qua trong cuộc hội ngộ nửa vời của chúng tôi đột ngột biến mất. “Chúng ta hãy cùng tổng hợp lại những gì đã xảy ra nhé.”

“Chúng ta nhất định phải tìm được cô ấy,” tôi nói bằng giọng khẩn khoản.

“Đó là việc chúng tôi phải làm,” Montrose nói. “Chúng ta hãy ra ngoài kia nói chuyện.” Ông ấy chỉ ra khu sàn gỗ trước ngôi nhà Hoa Tử Đằng bằng gỗ tuyết tùng bị nắng làm phai màu, cũng là căn nhà mà Sophie và tôi đã thuê cho kỳ nghỉ dài cuối tuần.

Tôi cung cấp những thông tin căn bản cho họ. Kỳ nghỉ vào dịp cuối tuần tại Hood Canal là một kế hoạch bất ngờ. Sophie nói rằng tôi không bao giờ lên bất kỳ kế hoạch đặc biệt nào cho gia đình và tôi công nhận là cô ấy nói đúng. Một bài viết trên tờ Seattle Times làm tôi nhớ đến bộ ba căn nhà gỗ từ những năm 1920 đã được khôi phục với nhiều tâm huyết ở gần Lilliwaup. Mỗi căn nhà được đặt theo tên một loài hoa bởi những người chủ cũ đều đam mê làm vườn. Sophie yêu những ngôi nhà cổ, đó là lý do chúng tôi sống chung với mùn cưa và sự ồn ĩ suốt năm năm qua trong thời gian khôi phục ngôi 1922 Seattle Craftsman màu cà phê.

Tôi nhìn Lee ngồi bên chiếc bàn dã ngoại đã bị thời gian phong hóa. Cô ấy đang ghi chép nguệch ngoạc.

“Tôi đã nghĩ là mọi chuyện sẽ rất vui. Tôi đã nghĩ là chúng tôi sẽ có cơ hội để thư giãn và xả hơi. Tập trung hoàn toàn vào gia đình.”

“Đã có chuyện gì xảy ra à?” Montrose hỏi.

Tôi lắc đầu. “Chỉ là quá nhiều công việc. Quá ít thời gian để tận hưởng cuộc sống. Không có chuyện gì khác cả.”

Dĩ nhiên là có chuyện gì khác. Mọi cuộc hôn nhân đều có chuyện gì khác. Tuy thế, khi ngồi đó với các thám tử, tôi biết rằng những điều ấy không cần phải có mặt trong sổ ghi chép của họ.

“Adam,” Lee nói, “em biết chuyện này rất khó khăn. Nhưng anh cần nói cho bọn em biết mọi chuyện đã xảy ra. Đừng lược bỏ bất kỳ chi tiết nào, dù là nhỏ nhất. Những thứ mà anh coi là vụn vặt có thể sẽ là chìa khóa để tìm ra kẻ đã bắt cóc vợ anh.”

“Và giờ thì cô ấy đang ở đâu?” tôi hỏi.

“Đúng vậy,” cô đáp. “Cô ấy đang ở đâu? Đó là lý do bọn em ở đây.”

Tôi không thể rời khỏi SkyAero đúng giờ hôm thứ Sáu bởi giám đốc đang tham gia một khóa đào tạo nào đó về kỹ năng lãnh đạo, khóa học đáng lẽ ra phải giúp cô ta làm việc hiệu quả hơn với nhóm chúng tôi. Cô ta khăng khăng bắt tôi ở lại làm một số báo cáo để cô ta có thể học thêm nhiều cách hơn, giúp các thành viên trong nhóm cân bằng được giữa công việc và gia đình. Tôi không thể không cảm thấy mỉa mai với chuyện này.

Sophie và Aubrey đi phà từ Seattle đến Bremerton và tới căn nhà gỗ Hoa Tử Đằng trước vào khoảng năm giờ rưỡi. Tôi lái xe từ nhà máy Renton, nơi tôi làm việc, băng qua cây cầu Tacoma Narrows, đi qua Belfair tới Lilliwaup, và có mặt tại căn nhà gỗ lúc gần tám giờ.

Tôi trình bày những điều này cho các thám tử, Montrose ghi lại và Lee chỉ lắng nghe.

“Có ai nhìn thấy anh đến đây không?” cô ấy hỏi.

“Anh không chắc,” tôi trả lời. “Anh nghĩ là có. Nhà của Teresa - người phụ nữ đang trông Aubrey, cửa sổ để mở và phòng vẫn sáng đèn khi anh tới. Bà ấy chắc là có thấy anh đến. Hoặc những đứa cháu trong nhà đó đã thấy.”

“Những căn phòng khác thì sao?” Lee hỏi.

Tôi muốn nhảy cóc sang những sự việc đã xảy ra nhưng vẫn làm theo chỉ dẫn của họ nhằm đảm bảo mình đã cung cấp đầy đủ thông tin.

“Một cặp đôi lái chiếc Lexus màu xanh tới đây khá muộn tối hôm qua,” tôi nói. “Nhưng anh không nói chuyện với họ.”

Montrose ghi chú lại thông tin đó. “Còn ai nữa không?” ông ấy hỏi.

Đây không phải là nhà ga Grand Central, tôi thầm nghĩ. Nhưng tôi không nói ra điều đó.

“Một ông già dắt chó đi dạo,” tôi nói. “Vài đứa trẻ từ một trong những ngôi nhà trên bãi biển đã ra ngoài chơi sáng nay. Ngoài ra không còn ai khác. Tôi đâu thể thấy được hết. Ý tôi là, tôi có định tìm kiếm ai ở đây đâu. Tôi ở đây, ông biết đấy, để được ở cạnh Sophie và Aubrey mà.”

Tên của Sophie khiến giọng tôi lạc đi một lần nữa. Tôi cố gắng kiềm chế cảm xúc của mình.

Tôi kể cho họ là tôi đã nhóm lửa khi vào phòng. Sophie ghé qua một cửa hàng để mua bánh mì kẹp và hai miếng thịt. Chúng tôi uống rượu vang và xem một trong mấy cái đĩa DVD mà chủ nhà cung cấp, một bộ sưu tập phim hài hoàn toàn phù hợp với trẻ nhỏ. Aubrey ngủ thiếp đi lúc khoảng chín giờ và Sophie bế con bé lên giường. Không lâu sau đó, khoảng chừng một tiếng sau, chúng tôi đi ngủ.

Tôi kể cho họ là sáng hôm sau tôi đã làm bánh quế.

“Món ăn yêu thích của Aubrey. Thực sự thì đó cũng gần như là món duy nhất mà tôi nấu ngon.”

Tôi nghe được tiếng cười vang của con gái mình và thấy cháu trai lớn của Teresa đang cố gắng bắt chước Tarzan trên chiếc xích đu được nối với một cành to nhô ra của cây tuyết tùng đỏ khổng lồ bằng sợi dây thừng nặng nề.

Montrose sốt ruột hỏi: “Sau đó chuyện gì xảy ra?”

“Aubrey và tôi lấy một cái thuyền nhỏ ra để đi thả bẫy cua,” tôi trả lời. Aubrey ngồi gọn lỏn trong chiếc áo phao màu da cam, háo hức được đi trên mặt nước phẳng như tấm kính. Không chỉ giống tấm kính, mặt nước giống như một tấm kính cửa sổ không tì vết. Tôi kể cho họ là chúng tôi chèo tới chèo lui cả buổi sáng. “Không có gì đặc biệt hay khác thường về chuyện đó cả.”

“Không cần vội,” Lee nói. “Bọn em cần biết mọi chi tiết.”

Tôi kể cho họ rằng khi tôi và Aubrey chèo thuyền xung quanh và xem xét những cái bẫy, Sophie đọc tiểu thuyết và uống cà phê rồi chuyển sang một hoặc hai ly rượu vang trắng.

Tôi đặt mồi là thức ăn cho mèo vào trong bẫy và kiểm tra chúng sau mỗi nửa giờ. Nhưng mục đích chính của tôi không phải là việc đi bắt cua. Mục đích chính là dành thời gian ở bên Aubrey và ngắm nhìn mọi vật xung quanh qua lăng kính của con bé. Mọi thứ với con bé đều là lần đầu tiên. Lần đầu tiên con bé đi trên mặt nước. Lần đầu tiên con bé nhìn thấy một con mòng biển, một con hải cẩu. Tôi vẫn nhớ như in những lần đi chèo thuyền cùng cha tôi. Chúng tôi không chỉ kết nối với thiên nhiên, mà còn kết nối với nhau. Đắm tàu. Cướp biển. Thuyền trưởng Ahab.

Cộng sự của Lee gấp gáp. “Và rồi chuyện đó xảy ra?”

Ông ta làm tôi thấy khó chịu. Tôi có cảm giác như ông ta đang muốn bắt quả tang tôi nói dối hay gì đó. Tôi biết ông ta đang làm công việc của mình, nhưng Sophie đang mất tích. Ông ta vốn có thể tỏ ra đồng cảm một chút mà.

“Được rồi,” Lee nói. “Điều đầu tiên khiến anh nghĩ rằng Sophie gặp chuyện chẳng lành là gì?”

Tôi ngạc nhiên khi thấy bản thân mình cần ổn định lại một chút. Tôi mạnh mẽ hơn như thế này. Tôi bình tâm lại và kể cho họ những chuyện đã xảy ra.

Khi chúng tôi ở cách bờ khoảng chín mươi mét, Sophie đã di chuyển từ sàn trước của Hoa Tử Đằng ra khu bờ chắn bằng bê tông rộng lớn. Cô ấy bỏ rơi cuốn sách, nhưng rượu vang thì không. Cô ấy ngồi đó và vẫy tay với chúng tôi. Aubrey nghe thấy tiếng chó sủa ở phía bắc bãi biển hình lưỡi liềm và tôi chèo thuyền theo hướng đó. Con bé muốn có một chú chó nhưng chúng tôi kiên quyết rằng chúng ta không thể mang bất kỳ một con vật nuôi nào về nhà cho đến khi việc xây dựng được hoàn tất. Đó gần như là chiến thuật trì hoãn của Sophie. Tôi yêu chó. Tôi lớn lên với những chú chó Golden Retriever. Sophie thì không thích lắm. Đó là một trong số vài điều mà chúng tôi thực sự bất đồng. Sophie là kiểu phụ nữ không bao giờ thay đổi suy nghĩ về những gì mà cô ấy tin là đúng. Sự tin tưởng tuyệt đối đó vừa là món quà vừa là mối nguy hại. Khi chúng tôi đồng lòng, không ai ngăn cản nổi. Khi các kế hoạch và ý tưởng của cô ấy mâu thuẫn với những điều mà tôi cho là tốt nhất, chúng tôi sẽ dần bị dạt tới một cuộc chiến căng thẳng và dai dẳng mà tôi không bao giờ là người chiến thắng. Năm năm kết hôn đã giúp tôi nhận ra điều đó, dù cứng rắn trong công việc thế nào thì khi ở nhà tôi sẽ phải bằng lòng với những tham vọng, kế hoạch và ý tưởng của Sophie. Tôi làm điều đó để duy trì sự bình yên. Tôi làm điều đó vì cô ấy là tất cả đối với tôi.

Tôi thất bại trong việc đi tìm chú chó cho Aubrey và khi chèo thuyền trở lại căn nhà gỗ, tôi nghe thấy một tiếng thét. Nó không chói tai, nhưng đủ lớn để khiến tôi giật mình và hướng sự chú ý vào bờ. Tôi thấy vợ mình đang xô xát với một người đàn ông. Ly rượu vang rơi xuống và vỡ tan. Sophie đang hét vào mặt người đàn ông đó nhưng tôi không thể nghe rõ họ nói gì. Tôi quay lưng về phía họ và chèo thuyền nhanh nhất có thể.

Aubrey ngồi đối diện với tôi, con bé nghĩ đây là một trò chơi. Tập thể hình hai lần một tuần nhưng tôi không thể khiến con thuyền đi nhanh như ý muốn, dù mặt nước rất phẳng lặng. Aubrey nhìn thấy nỗi kinh hoàng trong mắt tôi nhưng con bé hiểu sai ý nghĩa của chúng. “Nhanh lên!” con bé hét to. “Nhanh nữa lên đi ạ!”

Sophie không phải là một phụ nữ cao lớn. Cô ấy nặng chưa đầy năm mươi cân. Nhưng cô ấy khỏe. Cô ấy có thể đánh bại tôi khi chạy bộ đường dài và cô ấy từng thắng thật. Trong lần ngoái lại tiếp theo, tôi thấy kẻ lạ mặt làm một chuyện kinh khủng. Hắn giơ tay lên và đấm cô ấy. Cô ấy ngã xuống đất.

“Thằng chó!” Tôi hét lên. “Để cô ấy yên!”

Tôi không thể tới đó. Tôi đang chèo thuyền. Cặp kính rơi xuống nước khi tôi ngoái lại để kiểm tra tình hình của Sophie. Những hình ảnh vốn đang rõ ràng giờ đây trở nên mờ mịt. Tôi thấy người đàn ông xách vợ tôi lên và vác cô ấy ra phía sau Hoa Tử Đằng.

Tim tôi như muốn nổ tung.

“Chết tiệt! Dừng lại! Để cô ấy yên.”

Aubrey đã nhận ra là chúng tôi không chơi trò chơi. Con bé bắt đầu khóc. Tôi muốn nhảy khỏi thuyền và chạy qua vùng nước nông để tới chỗ vợ nhưng tôi không thể bỏ mặc con gái ở trên thuyền một mình. Tôi thở gấp. Tôi thầm nhủ mình phải bình tĩnh. Chỉ còn hai mươi mét nữa thôi. Cố lên, sắp đến rồi.

“Giúp với!” tôi hét to về hướng căn Hoa Cúc ở giữa, ngôi nhà nhỏ nhất trong số ba ngôi nhà gỗ hướng ra bãi biển. Tôi đã thấy ngôi nhà ấy sáng đèn vào cái đêm tôi tới nhưng sau đó thì không còn dấu hiệu nào nữa.

“Có ai không? Giúp với!” Tôi hét to hết mức có thể. To đến mức tôi nghĩ là người ta có thể nghe thấy tiếng tôi ngay cả trong cơn bão, chứ đừng nói là trong một buổi sáng yên tĩnh. “Vợ tôi bị ai đó bắt đi rồi!”

Tôi nhảy khỏi thuyền, ôm lấy Aubrey đang khóc và chạy lên những bậc thang bằng bê tông dẫn từ bãi biển lên thảm cỏ. Tôi dừng lại và đặt con bé xuống.

“Mọi thứ sẽ ổn thôi,” tôi bảo con bé. “Con đứng ở đây. Đừng đi đâu. Được chứ?”

“Con muốn mẹ,” con bé khóc ré lên.

“Bố biết,” tôi nói, cố gắng giúp con bé bình tĩnh. “Bố cũng thế.”

Tôi thấy có âm thanh phát ra từ phía Hoa Tử Đằng và tự hỏi có phải mình vừa bị ảo giác hay không. Ánh nắng trên mặt nước đã làm xáo trộn những hình ảnh mà tôi nhìn thấy. Tôi chạy lên bậc thang trên sàn trước của căn nhà, xuyên qua phòng bếp, chạy qua phòng khách có tầm nhìn hướng ra Hood Canal và những sườn đồi phủ đầy cây lá kim ở đằng xa.

“Sophie?”

Đó là tiếng phát ra từ ti vi, dĩ nhiên rồi. Sophie không còn ở đây. Một đoạn phim quảng cáo nồi áp suất đang được chiếu.

Tôi thấy mình như đang ở trong một cái nồi áp suất.

Tôi cố hít thở. Tim tôi như muốn vỡ tung khỏi lồng ngực. Tôi sẽ lên cơn đau tim mất. Tôi sẽ ngã xuống cái sàn nhà bằng gỗ linh sam cổ điển mà Sophie đã thèm muốn có được vào hồi sáng khi chúng tôi đang ăn bánh quế. Chuyện gì đang xảy ra vậy?

Tôi trở ra ngoài đúng lúc một phụ nữ cùng hai đứa trẻ vừa đi đâu đó về.

“Vợ tôi bị ai đó bắt đi mất! Hãy gọi 911! Giúp tôi với!”

Người phụ nữ nhìn vào mắt tôi và nhận ra rằng đây không phải chuyện đùa. Bà bảo hai đứa bé một trai một gái đi vào Hoa Cúc và với lấy chiếc điện thoại di động của mình.

Tôi vừa chạy vừa hét lên nhờ ông cụ dắt chó đi dạo gọi 911. Dịch vụ di động thực sự tệ hại. Điện thoại của tôi chỉ hoạt động khoảng một phần tư thời gian ở đây và nó chả bao giờ hoạt động khi ta cần nó nhất.

Ví dụ như lúc này.

Bước lên trên các bậc thang, đi qua bể tắm nước nóng, tôi lần theo hướng mà tôi thấy bóng dáng người đàn ông mang Sophie đi. Tôi di chuyển nhanh nhất có thể. Vì cao lớn nên tôi bị phần bụi cây mâm xôi ở phía trên căn nhà gỗ võng xuống con đường mòn dẫn ra đường lớn cứa vào cánh tay và bàn tay.

“Sophie! Sophie!”

Không có tiếng hồi đáp.

Phía đầu đường cũng không có gì. Không có dấu hiệu nào của cô ấy. Chẳng có gì cả. Một chiếc Honda Accord màu bạc lao về phía tôi và tôi gần như ném cả thân mình ra để chặn nó, nhưng thay vì dừng lại, tài xế quẹo tay lái, phóng qua và khiến tôi ngã nhào.

“Chết tiệt! Vợ của tôi! Có người bắt vợ của tôi!”

Chiếc xe biến mất và tôi không thể đọc được biển số xe vì không có kính. Tôi thở hổn hển và chạy ngược trở lại con đường mòn dẫn tới căn nhà gỗ.

Người phụ nữ ở căn nhà gỗ chính giữa tự giới thiệu mình là Teresa Dibley. Bà ấy nói với tôi rằng bà đã gọi cảnh sát. “Có chuyện gì vậy?” bà ấy hỏi.

“Tôi không biết,” tôi trả lời. “Tôi và con gái đang ở ngoài kiểm tra mấy cái bẫy cua thì thấy ai đó tranh cãi với vợ tôi, sau đó hắn ta đánh cô ấy. Hắn mang cô ấy đi. Bị rơi mất kính nên tôi không nhìn thấy gì cả. Cô ấy đã ở ngay đây.” Tôi chỉ tay vào cái ly thủy tinh mà giờ chỉ còn là những mảnh vỡ, Sophie đã dùng nó để uống rượu khi ngồi trên bờ chắn.

“Cậu cũng uống phải không?” bà ấy hỏi.

“Không,” tôi khẳng định. Tại sao bà ấy lại nói thế? Tôi đang run rẩy. Tôi thở dốc. Tôi đang sốc. Tôi không say. Tôi biết mình nhìn thấy gì. Hoặc là gần như nhìn thấy gì. Không có gì phải nghi ngờ cả.

Vợ tôi đã bị ai đó bắt đi.

Đôi mắt bà ấy lộ vẻ lo lắng và cảnh giác. “Cảnh sát đang trên đường tới đây,” cuối cùng bà ấy nói.

Tôi tận dụng bà ấy như một nhân chứng. “Bà có nhìn thấy gì khi dừng xe không? Tôi nghĩ là hắn đưa cô ấy lên phía đường lớn.”

“Không,” bà ấy đáp. “Ý tôi là, không có gì đáng chú ý cả.”

Sau đó, tôi nghĩ đến những vụ bắt cóc mà mình từng thấy trên ti vi. Tôi không biết người phụ nữ này có đang nghĩ đến chúng như tôi không. Tôi biết kết cục của hầu hết các vụ đó. Một kẻ biến thái nào đó bắt cóc một bé gái hoặc một phụ nữ, giam cầm cô ta và làm tất cả những chuyện mà một kẻ đầu óc đen tối có thể tưởng tượng ra.

“Chúng ta phải tìm được cô ấy,” tôi nói.

“Cảnh sát sẽ đến đây sớm thôi.”

“Phải rồi. Khi nào? Họ đang ở đâu rồi?”

“Nhân viên tổng đài nói những cảnh sát gần đây nhất đang ở cách chỗ này hai mươi phút lái xe.”

Tôi nhìn vào điện thoại của mình. Tôi không thể che giấu nỗi thất vọng và sự sợ hãi của bản thân. Mồ hôi túa ra bên dưới cánh tay và từ trên trán chảy xuống thái dương. Tôi cố gắng giữ hơi thở của mình chậm lại.

“Hai mươi phút hoặc có khi là cả tiếng đồng hồ,” tôi nói với bà. “Hắn ta có thể đưa cô ấy tới bất cứ đâu. Cách đây hàng cây số không có gì ngoài những con đường và rừng rậm.”

Bà ấy không nói gì. Tôi đoán là bà cũng đang nghĩ tới điều tương tự. Bà ấy định chìa tay về phía tôi nhưng rồi lại đổi ý.

“Mọi chuyện sẽ ổn thôi.” Tôi cố gắng an ủi bà. “Chúng ta sẽ tìm thấy cô ấy. Cô ấy sẽ không sao. Cô ấy mạnh mẽ. Rất mạnh mẽ. Về tinh thần. Và cả thể chất.”

Người phụ nữ có vẻ nhẹ nhõm đôi chút. Aubrey chui ra khỏi áo phao và quay lại vòng tay tôi, ôm chặt như chiếc kẹp chữ C. Tôi ôm con bé và phớt lờ cánh tay chảy máu đang tô màu lên cái áo phông màu xanh nhạt in hình Những chú chó cứu hộ. Tôi ước những vệt màu hồng và đỏ đó là từ dâu tây trên bánh quế của con bé từ bữa sáng chứ không phải cánh tay rớm máu của tôi. Người đàn ông và chú chó Lab màu đen tiến lại gần trong lúc chúng tôi đứng đó và cố hiểu những chuyện vừa xảy ra. Ông ấy lớn tuổi hơn chúng tôi, có lẽ đã ngoài bảy mươi và giọng nói pha chút phương ngữ mà tôi nghe không hiểu lắm. Tiếng Hà Lan chăng?

“Mọi chuyện ổn chứ?” ông ấy hỏi. “Tôi nghe thấy tiếng cậu hét to. Tôi đã gọi 911 rồi.”

“Tôi cũng gọi rồi. Cảnh sát đang trên đường tới,” bà Teresa nói với ông. Bà ấy gật đầu với tôi. “Cậu ấy nói là thấy ai đó bắt cóc vợ mình,” bà vừa nói vừa đưa mắt nhìn theo mấy đứa cháu đang túm tụm trên sàn đằng trước căn nhà gỗ bé tẹo của mình. “Ngay tại chỗ này,” bà tiếp tục, cố gắng dằn lại sự lo lắng của mình nhưng không thể. “Ngay cạnh bãi biển!”

“Ông có nhìn thấy gì không?” tôi hỏi ông ấy.

Ông ấy gật đầu và lẩm bẩm điều gì đó về cú sốc trước những chuyện vừa xảy ra nhưng tôi không thực sự nghe rõ - rõ ràng là ông ấy nhìn thấy ít hơn tôi. Đúng vậy, người ta hay kéo đến những nơi có sự kiện nguy hiểm hoặc bi kịch để thể hiện sự quan tâm. Cũng là để thầm cảm tạ những phước lành mà mình đang có, rằng sự việc như thế chưa từng xảy ra với họ. Rằng việc đến gần những sự việc không ngờ đó sẽ giúp gạch tên họ ra khỏi danh sách mà Chúa hoặc số phận đang nắm giữ.

Mình an toàn rồi.

Chuyện như thế sẽ không xảy ra hai lần ở cùng một nơi.

Sẽ không có gì làm hại đến mình nữa.

Chúa ơi, làm ơn.

Kể cho các thám tử mọi điều mà mình biết xong, tôi hít một hơi thật sâu. Họ vẫn chưa hỏi xong. Họ hỏi dồn dập, tìm kiếm các chi tiết mà tôi phải thừa nhận rằng giữa thời điểm hỗn loạn này, đã biến thành một màn sương mù. Lee khẩn khoản khuyên tôi giữ bình tĩnh trong khi cô và cộng sự tiếp tục ghi chú nguệch ngoạc và trao đổi với nhau bằng mắt. Tôi biết chắc hẳn là những điều vừa xảy ra không giống với bất cứ vụ việc nào mà họ từng xử lý.

“Chúng ta cần tìm cô ấy,” tôi lặp lại, giọng lạc đi.

Lee đặt tập ghi ghép của mình xuống.

“Bọn em sẽ xử lý vụ này, Adam ạ.”

« Lùi
Tiến »