Kẻ Sát Nhân Quỷ Quyệt

Lượt đọc: 1565 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2: LEE

Trong khi Montrose thu thập các mẩu thủy tinh vỡ để đề phòng trường hợp có lưu lại dấu vân tay của kẻ tấn công và một kỹ thuật viên lấy mẫu máu của Adam để đối chiếu với vài vết máu nhỏ bắn trên mảnh thủy tinh, tôi cẩn thận đi quanh căn nhà gỗ thứ nhất, tìm kiếm bằng chứng. Sophie, ba mươi ba tuổi, bằng tuổi tôi. Cô ấy đã làm mẹ còn tôi thì chưa. Cô làm việc tại trụ sở của Starbucks ở Seattle, thiết kế đồ họa và chịu trách nhiệm cho nhiều chương trình khuyến mãi được triển khai trực tiếp ở chuỗi những cửa hàng cà phê khổng lồ. Theo lời Adam, họ không có mâu thuẫn gì khi còn ở nhà và không có lý do nào để cho rằng vợ anh quen biết người đàn ông đã đưa cô ấy đi hoặc tại sao lại có người muốn bắt cô ấy.

Mặt Trời rọi thẳng xuống chỗ tôi. Đất trên con đường mòn cắt ngang các bụi mâm xôi dẫn lên đường lớn khá khô, cứng và chắc. Dương xỉ và cỏ duyên linh mọc ở ven đường. Tôi không nhìn ra bất kỳ dấu chân nào. Tuy nhiên, tôi có thể thấy dấu vết phù hợp với lời khai của Adam về việc anh bị các bụi gai cào xước khi chạy đuổi theo vợ. Khi lên đến đầu đường, tôi nhìn xuống con đường mà mình vừa đi qua. Căn phòng trọ đã che gần hết tầm nhìn nhưng vẫn thấy một phần nhỏ bờ biển và khu bờ chắn nơi Sophie ngồi. Tôi xoay người. Dưới chân tôi có dấu vết cho thấy ai đó từng đứng đây và quan sát các căn nhà gỗ phía dưới. Tôi thu thập mẩu đầu lọc thuốc lá và chụp ảnh phần sỏi đá lưa thưa bên cạnh con đường mòn dẫn tới Hoa Tử Đằng, vết lõm nhẹ trên đám sỏi cho thấy có thể một chiếc ô tô hoặc xe tải nhỏ từng đỗ ở đây. Không rõ là khi nào, dĩ nhiên là vậy. Cũng không rõ là có liên quan tới sự việc xảy ra dưới bãi biển hay không.

Tôi gặp Montrose bên trong căn nhà gỗ lợp ván một tầng, một bên sườn nhà phủ đầy dây leo của loài hoa tim tím - cũng là tên của căn nhà, nhìn như những con trăn Nam Mỹ.

“Anh ấy thế nào rồi?” tôi hỏi.

Ông ấy nhún nhẹ vai. “Có vẻ ổn, xét cho cùng thì thế. Cô có tìm thấy gì không?”

“Không hẳn. Một đầu lọc thuốc lá. Có vẻ nó mới ở đó thôi,” tôi kể cho ông ấy khi cả hai đi xuyên qua căn phòng. Bồn rửa ở bếp có một cái bát dùng để trộn bánh quế và vài cái đĩa. Những mẩu cuống xanh của một nắm dâu tây nằm trên khăn giấy trên kệ bếp. Tôi có thể thấy Adam ngồi ở sàn gỗ trước nhà qua cửa kính phòng bếp. Anh ấy đang ngồi, đặt con gái trên đùi và nghe điện thoại.

Montrose nhìn về phía họ. “Gọi điện cho bố mẹ vợ.”

“Không ai muốn gọi cú điện thoại đó cả,” tôi nói.

“Đâu còn chuyện gì tệ hơn được nữa.”

Tôi cũng nghĩ vậy. Từ những gì Adam kể, chúng tôi biết Sophie luôn gan dạ và mạnh mẽ. Cô ấy có thể chống trả nếu có một kẻ lập dị nào đó tóm lấy mình. Ít nhất là tôi mong như thế. Trước khi có được tấm huy hiệu cảnh sát, tôi đã dạy một lớp tự vệ.

“Kẻ nào lại làm chuyện này giữa ban ngày ban mặt chứ?” tôi hỏi.

“Vài tên điên,” Montrose nói. “Một kẻ nào đó đã theo đuổi cô ta hoặc tự dưng nhìn thấy có cơ hội và bắt cô ta đi.”

Đi qua phòng khách là phòng ngủ với vài cái giường tầng. Tầng dưới cùng chưa được thu dọn gọn gàng, ga trải giường hình thuyền buồm nằm dưới sàn. Một con thú nhồi bông được đặt cạnh gối, mà giờ tôi mới biết đó là nhân vật trong Những chú chó cứu hộ, giống với bình trên áo phông của Aubrey.

“Chúng ta cần nói chuyện với cô bé,” tôi nói.

“Con bé còn rất nhỏ,” Montrose đáp.

Chúng tôi phải đi qua phòng ăn để tới phòng ngủ chính. Tôi thấy một cặp kính râm nữ bên cạnh cái ví mà tôi đoán là của Sophie. Chúng nằm đó như một hoạt cảnh sân khấu của cuộc sống đang tạm thời dừng lại.

“Đúng thế,” tôi vừa nói vừa đánh giá không gian xung quanh. “Nhưng có thể con bé sẽ cho chúng ta biết thêm được điều gì đó.”

Montrose là người đầu tiên để ý đến điều này khi chúng tôi bước vào gian phòng ngủ, phía bên phải của chiếc giường khá phẳng phiu và gối được xếp ngay ngắn cạnh đầu giường.

“Có vẻ như họ chỉ dùng nửa giường để ngủ,” ông ấy nói. “Khá thú vị đấy.”

“Ông không tin câu chuyện của anh ấy.” Lời vừa nói của tôi có chút đề phòng và điều này làm tôi ngạc nhiên. Tôi biết Adam Warner nhưng không thực sự hiểu rõ anh ấy đến thế.

Montrose làm thám tử lâu hơn tôi nhiều. Mặc dù vậy, ông từng phải rời khỏi bộ phận hai năm vì lạm dụng chất gây nghiện. Trực giác của ông cực nhạy nhưng không phải lúc nào tôi cũng đồng tình với ông. Tôi cũng có những quan điểm của riêng mình.

“Có vài lỗ hổng trong câu chuyện của cậu ta,” ông nói.

“Chi tiết nào thế?”

“Việc cậu ta không thể về bờ kịp để cứu cô ấy. Cách chín mươi mét? Với bắp tay như thế? Đàn ông tốn rất nhiều thời gian để trông mạnh mẽ như thế. Cậu ta vốn dĩ phải tới kịp.”

“Anh ấy thậm chí còn không nhìn rõ.”

“Phải rồi. Cặp kính.”

“Đúng, nó bị rơi mất.”

Montrose làm mặt xấu. “Thật trùng hợp làm sao.”

“Ông đang cáu vì không có thời gian ăn trưa.”

“Chỉ cáu chút chút thôi.”

Tôi thở dài. “Được rồi. Ăn uống để sau. Hãy nhớ, chứng cứ sẽ dẫn đường chúng ta. Không phải trực giác trong bụng của ông.”

Montrose vỗ vỗ cái bụng đang xệ xuống như cái trống của mình.

“Tôi ưng cái bụng của tôi.”

Tôi cười với ông. Bụng của ông đang rỗng không.

“Với cả, kiểu bắt cóc thế này không thể xảy ra, nhất là không thể ở ngay trước nhà người ta.”

“Đây không phải là nhà người ta,” tôi nói. “Đây là nơi thuê trọ. Tạm thời. Người ta đến rồi đi.”

Chiếm trọn không gian trong phòng khách là một giá treo quần áo bằng gỗ khảm hình gấu và một ghế sô pha bọc vải được trang trí bằng những cái gối bằng vải bò phai màu. Tôi chú ý tới một cái chăn mỏng trên ghế sô pha.

Tôi đi vòng quanh căn phòng. “Có lẽ một trong số họ đã ngủ ở đây.”

“Ý cô là họ không hề hòa thuận và cậu ta đã nói dối?”

Giờ thì tôi nhìn Montrose. “Ý tôi chính xác là những gì tôi nói. Tôi không biết lý do của việc này. Ông cũng đâu có biết.”

Phòng tắm duy nhất trong căn nhà gỗ này rộng một cách đáng ngạc nhiên so với một công trình được xây từ những năm 1920. Một bồn tắm đơn chiếm trọn chiều dài của bức tường; buồng vệ sinh và vòi hoa sen là phần không gian còn lại. Túi đựng mỹ phẩm của Sophie để mở và nằm cạnh bồn rửa tay. Một cặp khăn tắm màu trắng, ướt nhẹp được treo trên móc đồng bên cạnh cửa.

Lúc đi ra, Montrose thò đầu qua một ô cửa mà tôi từng cho là tủ quần áo.

“Tuyệt thật,” ông ấy nói. “Phòng tắm hơi.”

“Tôi không thích lắm,” tôi nói.

“Có cả bồn tắm nước nóng nữa,” ông chỉ ra. “Chính tôi cũng muốn được ở đây.”

Tôi gật đầu với ông. “Chúng ta có thể sẽ phải đến đây nhiều đấy, nhưng không được ở trong bồn nước nóng hay phòng tắm hơi đâu.”

Montrose nhìn về phía tôi. Tôi có thể thấy ánh mắt lấp lánh đằng sau cặp kính gọng nhỏ. Tôi chờ đợi nhưng không có chuyện gì xảy ra. Tôi khá chắc cộng sự của mình sẽ châm chọc vài câu về việc Adam Warner ngâm mình trong bồn nước nóng hoặc chuyện chúng tôi cần thêm chút nhiệt ở đây.

Nhưng ông ấy không nói gì cả. Tôi biết ơn vì điều đó.

Teresa Dibley mời tôi uống cà phê hoặc sô-đa nhưng tôi từ chối. Bà ấy chu đáo y như một người bà bởi vai trò của bà ấy trong nhà là vậy, nhưng tôi ngay lập tức nhận ra rằng bà ấy còn hơn cả thế. Ở tuổi sáu mươi hai, bà ấy nuôi nấng các cháu nội - Clark, mười hai tuổi và Destiny, bảy tuổi - vì con trai và con dâu của bà thà chọn thuốc phiện còn hơn là làm cha mẹ. Chúng tôi đứng trên sàn nhà đằng trước Hoa Cúc và nhìn đám trẻ chơi đùa cùng Aubrey cạnh xích đu. Destiny có mái tóc vàng và rất nhút nhát.

“Destiny không biết gì nhiều về mẹ con bé và thẳng thắn mà nói, tôi mong mọi thứ cứ giữ nguyên như vậy. Không phải con trai tôi tốt đẹp gì hơn nhưng tôi đoán là mình có thể chịu đựng được nó, vì tôi không còn sự lựa chọn nào khác.”

“Tôi rất tiếc,” tôi nói.

“Tôi đón Destiny từ bệnh viện khi con bé mới bốn ngày tuổi. Dấu tích duy nhất mà mẹ con bé để lại là cái tên ngớ ngẩn mà cô ta đặt cho con bé. Tôi mong một ngày nào đó có thể đổi cái tên ấy. Tôi chỉ đang kiên nhẫn chờ đợi đến khi bang Washington cho tôi con dấu phê duyệt cuối cùng. Thật ngu xuẩn và cũng thật tàn nhẫn, nhưng đó là việc nên làm.”

Teresa trông mảnh khảnh và khá hợp với quần soóc và giày đi bộ. Cái áo phông không tay của bà in biểu tượng của nhà hàng hàu Hama Hama ở ngay trên Lilliwaup một đoạn. Mái tóc hoa râm của bà được vén gọn gàng ra phía sau.

“Bà không ở đây khi Sophie biến mất, đúng không?” Montrose chuyển hướng cuộc trò chuyện, tháo mắt kính và lau bằng khăn mùi soa được lấy ra khỏi túi quần.

“Không. Bọn trẻ và tôi đi bộ cả buổi sáng lên Staircase.”

Tôi gật đầu, nghĩ về những chuyến leo núi của mình trên đó. “Lựa chọn tuyệt đấy.”

“Đúng,” bà nói. “Destiny tuy mệt nhưng vẫn là người đồng hành khá dễ chịu. Không khóc lóc hay gì cả. Dù thế, chúng tôi vẫn phải về sớm. Clark đòi về sớm. Chúng muốn đi nhặt mấy con hàu khi thủy triều rút vào chiều nay.”

“Bà nhìn thấy gì khi quay lại đây?” tôi hỏi.

“Tôi thấy Warner. Adam. Lúc đó tôi không biết tên cậu ấy. Họ tới đây tối qua. Sáng nay, chúng tôi ra khỏi nhà sớm, trước khi mọi người ngủ dậy. Một đêm thật dài. Destiny và tôi ngủ trên giường âm tường còn Clark ngủ trên ghế sô pha. Tôi không nghĩ là mình sẽ thuê phòng trọ loại nhỏ thêm lần nào nữa. Căn Hoa Cúc này quá nhỏ cho ba người.”

“Khi quay về từ Staircase,” tôi tiếp tục, “bà nhìn thấy anh Warner đúng không?”

Bà ấy gật đầu. “Đúng thế. Cậu ấy đang ở bãi cỏ đằng trước căn nhà, hét toáng lên nhờ tôi gọi 911. Cậu ấy lúc đó khá hốt hoảng. Dễ nhận ra là có chuyện gì đó rất đau đớn vừa xảy ra với cậu ấy.”

“Chính xác thì cậu ta đã nói gì?” Montrose hỏi.

“Vợ cậu ấy biến mất rồi,” bà ấy nói. “Cô ấy đã bị ai đó bắt đi.”

Bà ấy dừng lại và quay người về phía Clark, lúc này cậu bé vừa trở lại chỗ xích đu trên mặt nước. “Cẩn thận!” Teresa quát to. “Cháu suýt đẩy ngã Destiny đấy!”

Cậu bé tóc vàng liếc nhìn chúng tôi. “Cháu xin lỗi bà ạ!”

Tôi để ý thấy Adam vẫn đang gọi điện thoại. Rồi anh ấy bước từng bước và nhìn sang chúng tôi. Anh ấy như con chó bị xích lại, đang tìm cách di chuyển trên bãi cỏ, hết tiến rồi lại lùi. Có lúc anh giơ tay lên không trung và nhìn tôi.

“Tìm cô ấy!” Anh ấy nói với tôi. “Hãy làm gì đó đi!”

Chúng tôi đang cố đây , tôi nghĩ bụng. Tôi ra hiệu cho anh rằng tôi sẽ qua chỗ anh sau ít phút nữa.

“Bà có từng tiếp xúc với Sophie không?” tôi hỏi.

Bà ấy lắc đầu.

“Có chuyện gì xảy ra trong phòng trọ của họ tối qua không? Bất cứ chuyện gì đáng chú ý?”

Một lần nữa bà ấy lắc đầu. “Tôi đeo nút bịt tai cả đêm. Cô cũng sẽ đeo thôi nếu phải ngủ trên giường âm tường với một con sâu ngọ nguậy như Destiny. Con gái luôn lắm mồm, ngay cả khi đang ngủ.”

Clark đi từ phía xích đu tới. Môi cậu nhóc lem nhem màu đỏ vì cây kem vị anh đào.

“Cháu có nghe thấy gì đó,” cậu bé nói.

Tôi đã quên béng mất thính giác của trẻ con nhạy bén đến mức nào.

“Cháu nghe thấy gì hả, Clark?” Teresa hỏi.

“Destiny gọi cháu dậy để lấy nước. Lúc đó muộn rồi. Cháu đưa nước cho em rồi quay về giường và khi đang chuẩn bị ngủ lại, cháu nghe thấy một tiếng động lớn. Tiếng sập cửa. Rồi tiếng ô tô nổ máy. Cháu nhìn ra ngoài nhưng không thấy gì cả. Không có đèn hay gì hết.”

“Tiếng ồn kiểu nào hả, Clark?”

Cậu nhóc ngây ra. “Cháu không biết. Chỉ là tiếng động lớn.”

Clark không giúp mọi chuyện dễ dàng hơn chút nào.

“Âm thanh do con người tạo ra?” Montrose hỏi. “Hay do cái gì khác?”

Cậu bé ngước nhìn lên. “Không ạ. Giống như có cái gì đó rơi xuống hơn,” cậu bé nói. “Hoặc có lẽ giống tiếng sập mạnh cánh cửa. Cháu không biết rõ. Là một tiếng ồn.”

Clark đã làm hết sức có thể rồi. Mô tả một tiếng động giữa đêm - trừ tiếng súng ra - là điều không dễ dàng.

“Cháu có biết là mình nghe thấy tiếng động vào lúc nào không?” tôi hỏi.

“Ý cô là mấy giờ, phải không ạ?”

“Đúng rồi,” tôi nói. “Khoảng mấy giờ?”

“Muộn ạ,” cậu bé trả lời. “Tối. Chắc là sau hai giờ. Đấy là khoảng thời gian mà Destiny thường gọi cháu dậy để lấy nước khi ở nhà.”

“Con bé vẫn làm như vậy à?” Teresa hỏi, chuyển đề tài sang vấn đề động chạm tới trách nhiệm của bà ấy.

“Vâng,” cậu nhóc trả lời, tỏ vẻ bực tức kiểu ông cụ non. “Hằng đêm. Cháu ăn thêm một cây kem nữa, được không ạ?”

Teresa không phản đối. “Mang cho cả em cháu và Aubrey nữa.”

“Bà đã gặp những người thuê phòng bên cạnh chưa?” tôi hỏi, ám chỉ tới căn nhà ở tít phía nam trong bộ ba căn nhà gỗ.

“Chưa,” bà ấy đáp, “nhưng họ tới đây khá muộn. Đèn vẫn bật, rèm cửa thì đóng. Xe của họ đỗ ở đây. Chắc toàn người dậy muộn.”

Trước khi chúng tôi rời đi, bà Teresa cho chúng tôi tên và số điện thoại của người chủ ba căn nhà gỗ này. Montrose quay lại ô tô để gọi điện cho người đàn ông đó, cố kiếm thêm chút thông tin về những người thuê nhà ở đây vào dịp cuối tuần này. Gọi xong, ông ấy bước tới nói chuyện với một nhân viên mặc đồng phục khi anh ta đang thu thập thông tin từ các nhà hàng xóm - những người hiếu kỳ tới đây xem - và những người thuê trọ còn lại mà chúng tôi chưa kịp nói chuyện.

Tôi tìm đường xuống bãi biển để đến nhà của Axel Bakker, người đàn ông lớn tuổi dắt chó đi dạo. Khi tôi thưa muốn nói chuyện với ông, ông đã chỉ cho tôi căn nhà của mình và mời tôi ghé qua khi có thời gian, ông và chú chó của ông sẽ chẳng trốn đi đâu cả.

Nhà của Axel Bakker nằm trên đường Canal View và mang phong cách cổ điển của vùng Hood Canal, được xây vào những năm 1920 khi khu vực dọc theo bờ vịnh hẹp nước mặn của bang Washington được mọi người ở LA thổi phồng là Điều Vĩ Đại Tiếp Theo. Nó là căn nhà gỗ một tầng được lợp bằng lớp gỗ màu bạc đã bị phong hóa với cánh cửa chớp màu kem và cửa ra vào màu đỏ. Khi tôi từ dưới bãi biển đi lên, ông Bakker đứng ở vườn rau và vẫy tay với tôi.

“Đám đậu Hà Lan tốt chứ ạ?” tôi hỏi, tham gia vào công việc làm vườn cùng ông ấy.

Ông ấy nhún vai. “Vẫn tàn tạ như mọi khi.”

Ông Bakker đã gần tám mươi nhưng có dáng người khỏe mạnh đáng ngưỡng mộ. Gương mặt ông rám nắng và nhăn nheo như cái túi giấy cũ nhưng đôi mắt xanh nhạt ánh lên sự thông minh. Winston, chú chó của ông, đang ngồi ngay cạnh chân ông.

“Tôi quên mất, cô tên là gì nhỉ?” Ông hỏi, nheo mắt nhìn tôi.

Tôi giới thiệu lại tên mình.

“Tôi đã nói với cộng sự của cô những gì tôi thấy rồi.” Ông nói qua loa rồi quay về với công việc của mình. “Quận Mason cũng thừa tiền thật.”

“Có thể ông sẽ cảm thấy khác nếu Sophie là con gái ông,” tôi nói.

“Chắc là thế.” Ông ấy buộc cây cà chua vào cọc bằng một sợi dây đay và mời tôi vào nhà.

Không, tôi ngẫm nghĩ khi bước vào trong căn nhà. Đây không phải là một ngôi nhà. Mà là một bảo tàng.

Phần lớn nội thất được làm bằng loại gỗ nu quý hiếm. Một vài món đồ bọc đệm được phủ bằng loại vải dệt miền biển của các bộ lạc Salish. Những nhà giám định cổ vật ở chương trình truyền hình Antiques Roadshow chắc sẽ phải thất kinh trước mức độ cắt giảm sử dụng gối sô pha như thế này. Các bức tường nổi bật với kỷ niệm chương của Hood Canal: Áp phích “Buôn bán Hàu”, một tấm biển hiệu điêu khắc từ vũ trường Tahuya đã đóng cửa từ lâu và một loạt bức ảnh đen trắng kể về lịch sử của sò ốc và gỗ xẻ ở vùng này.

“Bố tôi xây dựng chỗ này trong Thời kỳ cấm rượu,” ông nói, kéo sự chú ý của tôi vào bộ sưu tập của ông. “Cũng kiếm được một khoản tiền ở đây. Nhiều người địa phương cũng kiếm được. Đây là nơi phù hợp để sản xuất và vô tình tuồn rượu vào Seattle.”

“Ngày nay thì có vẻ không xa xôi hẻo lánh lắm,” tôi nói khi ông ra hiệu cho tôi cùng ngồi xuống một trong những chiếc ghế to làm bằng gỗ nu.

“Không xa,” ông Bakker nói, tuột đôi dép Crocs màu xanh sờn rách ra. “Đám người California khốn kiếp đã hủy hoại chỗ này. Thuế tăng lên mỗi năm, buộc hàng xóm ở phía bắc của tôi phải di cư. Họ đã sống ở đây lâu gần bằng tôi. Giờ thì họ sống trong mấy cái nhà phân lô chết tiệt ở Mesa, Arizona và cầu Chúa mỗi ngày để họ được chết ở đây chứ không phải rời đi. Tôi mong có ngày nào đấy tôi bị đau tim ngay trên bãi biển này…” Ông ấy nhìn xuống Winston. “Nhưng cũng phải một thời gian nữa. Winston cần ra đi trước và con chó này vẫn sống thêm được vài năm nữa.”

“Con chó đẹp quá!” Tôi nói, xoa đầu Winston.

“Cô đâu có tới đây để học lịch sử hay để chơi với chó của tôi, đúng không?”

“Vâng,” tôi nói. “Tôi tới vì muốn hỏi về những gì ông đã thấy trên bãi biển khi cô Warner bị bắt cóc.”

“Tôi không thấy gì nhiều,” ông ấy nói.

“Tôi hiểu. Tôi ở đây vì thi thoảng, sau một sự kiện chấn động, mọi người sẽ nhớ được thêm điều gì đó. Ông cũng đồng ý là chuyện này rất đau lòng, đúng không?”

Winston đang giải quyết một con bọ chét và ông Bakker thì xoa xoa gương mặt như tờ giấy của mình. “Về người phụ nữ và chồng cô ta hả? Đúng, ‘đau lòng’ là từ thích hợp đấy. Còn về phần tôi? Tôi không biết. Tôi từng phục vụ trong quân đội và tôi từng chứng kiến nhiều chuyện rồi. Không có gì đau thương xảy ra khi tôi đi dạo trên bãi biển này mỗi ngày, đó là điều chắc chắn. Dù có một lần tôi tưởng là mình thấy một vụ hiếp dâm, nhưng đấy chỉ là mấy đứa trẻ làm bậy trên cái đệm hơi.”

Tôi gật đầu và đề nghị ông kể cho tôi những gì ông đã thấy vào sáng hôm đó. “Thêm một lần nữa, được không?” tôi nói.

Ông ấy hăng hái lặp lại những điều đã kể cho Montrose trong cuộc phỏng vấn qua loa đầu tiên. Ông ấy dẫn Winston ra ngoài đi dạo theo thói quen vào thời điểm đó mỗi ngày. Ông nhìn thấy Adam và Aubrey ngồi trên thuyền cách bờ tầm chín mươi mét. Điều tiếp theo mà ông nhớ là nghe thấy tiếng ai đó hét lên. Ông nhìn về phía Adam trước tiên, lúc ấy đang chèo thuyền điên cuồng vào bờ, sau đó là tới bờ chắn.

“Và ông nhìn thấy cô Warner?” tôi hỏi. “Và kẻ tấn công cô ấy?”

Ông Bakker mò tìm cặp kính của mình trong túi áo trước.

“Tôi biết là mình già như trái cà rồi,” ông ấy tiếp tục, “nhưng tôi có thể nhìn tốt khi đeo cái thứ này. Nó diễn ra rất nhanh và có rất nhiều thứ xảy ra, nhưng đúng, tôi đã thấy chuyện đó.” Giọng điệu của ông có chút phòng thủ và phương ngữ Hà Lan nghe rõ hơn một chút.

“Tôi ở đây không phải vì tôi không tin tưởng ông, ông Bakker ạ. Tôi ở đây vì có một tội ác và chúng ta cần tìm hiểu những chuyện đã xảy ra. Và ai đã làm điều đó.”

Winston không phải là một chú cún nhỏ nhưng ông Bakker vẫn cho nó leo lên đùi mình.

“Được rồi,” ông nói. “Được, ổn thôi.”

“Hãy kể cho tôi nghe những gì ông thấy ở trên bờ đi.”

Ông ấy hít một hơi rồi từ từ thở ra. “Ở cách đó một đoạn, như tôi nói đấy, tôi có thể nhìn tốt khi đeo kính. Tôi thấy cô Warner xô xát với một người đàn ông. Mọi chuyện diễn ra rất nhanh. Tôi thấy cô ta và tôi nhìn xuống đám sỏi đá dưới chân mà tôi sẽ giẫm lên để đi qua đó, nhưng khi tôi ngẩng lên, hai người họ biến mất rồi.”

“Chiều cao của hắn ta thế nào? Hắn mặc gì?”

Người đàn ông lớn tuổi suy nghĩ cẩn thận, ông nhắm mắt lại một lúc. “Trung bình,” cuối cùng ông nói. “Hình như đội một cái mũ bóng chày. Áo khoác màu cam. Cái đó tôi chắc chắn. Mặc dù có thể nó màu đỏ. Tôi nghĩ là màu cam.”

“Tôi nghĩ là ông chưa từng đề cập với cộng sự của tôi về cái áo khoác,” tôi nói với ông.

Ông ấy làm điệu bộ nhún vai với hai bàn tay xòe ra. “Ông ta đâu có hỏi tôi.”

“Được rồi,” tôi tiếp tục. “Thông tin này rất hữu ích. Còn cô Warner thì sao? Ông có nhớ chi tiết nào về cô ấy không? Cô ấy đang mặc gì lúc đó?”

Ông ấy nghĩ ngợi một lúc. “Một cái mũ rơm - cái này tôi nhớ rất rõ. Và váy màu trắng,” ông ấy nói, mặc dù hơi thiếu chắc chắn hơn một chút. “Có thể là xanh nhạt? Cô ta chắc chắn đang mặc váy. Cô biết cái thứ mỏng mỏng và hơi trong suốt mà đàn bà con gái hay mặc bên ngoài áo tắm thời nay đấy. Tôi thậm chí còn thấy họ mặc như thế mà đi siêu thị IGA. Gần như xuyên thấu. Tôi không phải đang phàn nàn đâu.”

Tôi cười. Một câu bình luận đen tối, nhưng đây không phải là một ông lão đen tối.

“Là áo lưới,” tôi nói.

“Ừ, cô gọi thế nào thì tùy.”

“Còn gì nữa không?”

“Không,” ông ấy đáp. “Cô ta biến mất. Bụp. Tôi nhìn lên và thấy cô ta cùng kẻ tấn công cô ta đã biến mất tiêu. Tôi gọi 911. Anh chồng đã gần về tới bờ khi tôi gọi xong.”

“Thái độ và cử chỉ của anh ấy thế nào?”

“Như tôi nói đấy, anh chàng đó như phát điên. Chẳng biết gì nữa. Cô con gái thì đang khóc và anh ta nhờ tôi gọi 911. Anh ta nói là điện thoại của anh ta mất kết nối hay sao đó. Chắc hẳn là T-Mobile. Khá tệ ở khu này.”

Ông ấy tiếp tục kể rằng Adam bỏ Aubrey lại với người thuê phòng ở căn nhà gỗ bên cạnh trong khi chạy lên con đường mòn phía sau căn nhà để tìm vợ. Họ cùng chờ cảnh sát tới.

“Và trong lúc chờ, có điều gì xảy ra không?” tôi hỏi. “Anh Warner thế nào?”

“Sao cô hỏi về anh ta nhiều vậy?”

“Việc phải làm thôi.”

“Anh ta đang ngồi trên thuyền khi mọi việc xảy ra. Tôi có thể làm chứng chuyện đó. Đó là sự thật, có trời đất chứng giám.”

“Tôi biết,” tôi nói. “Nhưng chúng tôi cần phải hỏi. Vì thế hãy cho tôi biết: Thái độ của anh ấy thế nào?”

Winston quay trở lại sàn nhà để giải quyết mấy con bọ chét.

“Cậu ta rối tung lên,” ông ấy kể lại. “Vợ của cậu ta vừa bị bắt. Cô nghĩ một người đàn ông sẽ cư xử thế nào lúc ấy?”

Cũng hợp lý , tôi nghĩ.

Chúng tôi nói chuyện thêm một chút về những gì ông đã nhìn thấy, về thị giác của ông tốt thế nào - mặc dù ông đã quá hạn phải đi khám để đo lại kính.

“Bảo hiểm y tế chết tiệt,” ông phàn nàn. “Quá nhiều thủ tục.”

Dẫu cho thị lực có chút đáng quan ngại, ông ấy rất chắc chắn về những gì mình nhìn thấy nên tôi cũng có chút yên tâm. Ông đưa tôi đi xem quanh ngôi nhà. Tôi thấy một tấm hình trong khung ảnh màu bạc chụp ông cùng vợ mình, là một bức ảnh cưới.

“Ông bà đẹp đôi quá!” tôi tấm tắc.

Ông ấy nhìn vào bức ảnh. Đó là một tấm hình đen trắng được lên màu theo cách thủ công bởi một nghệ nhân lành nghề. Không hề lòe loẹt mà rất tinh tế, một lượng màu vừa đủ để mang lại sắc thái cuộc sống cho bức hình vốn đã đáng yêu.

“Cô có muốn biết đau thương là thế nào không?”

Tôi không nói gì cả. Tôi có thể thấy đằng sau cặp kính dày cộp của ông ấy, đôi mắt đã ươn ướt.

“Đánh mất cô ấy,” ông ấy nói. “Cả thế giới của anh chàng đó chỉ toàn là tổn thương. Không gì tổn thương hơn việc đánh mất cô ấy. Cũng rất cô đơn nữa.”

“Tôi rất tiếc,” tôi nói với ông trong khi bước về phía cánh cửa chính. “Winston là người bạn đồng hành tốt, tôi mong là vậy.”

“Winston á?” ông ấy hỏi.

Ông Bakker có vẻ bối rối, vì thế tôi cúi xuống và xoa đầu chú chó. “Là chàng trai này, dĩ nhiên rồi.”

Đôi lông mày đang nhăn lại của ông chau vào nhau hơn. “Đấy không phải là Winston,” ông ấy nói. “Con chó ấy đã ra đi nhiều năm rồi. Đây là Reggie.”

Khi quay lại hiện trường vụ án, tôi thấy Montrose và cập nhật cho ông những thông tin từ cuộc phỏng vấn Bakker. Với một chút miễn cưỡng, tôi đề cập tới việc ông ấy nói sai tên của chú chó cho nhân viên tổng đài, vì những người già thường hay lẩn thẩn và lẫn lộn khi phải sống một mình dù rằng họ không đáng bị như thế.

“Chỉ là một chi tiết nhỏ,” tôi nói.

Montrose nheo mắt nhìn Mặt Trời và tháo kính ra để lau vết nhòe. “Cũng có thể là một chi tiết quan trọng.”

Ông ấy nói đúng. Ngoài Adam, ông Bakker là nhân chứng duy nhất trong vụ này.

« Lùi
Tiến »