Đó là một chiếc xe cảnh sát chừng vài năm tuổi, giống hệt như bất kỳ chiếc sedan kiểu Mỹ bình thường nào đó, tuy không có dấu hiệu nhận biết, nhưng những chiếc lốp đúc viển đen và ba người đàn ông trên xe đã nói lên tất cả. Hai người ngồi trước mặc đồng phục xanh lam, người ngồi sau mặc com-lê, to cao vạm vỡ. Có hai thanh niên da màu đứng trên vỉa hè, một người ghếch chân lên chiếc ván trượt màu cam bị trẩy xước, người còn lại kẹp tấm ván màu chanh dưới cánh tay, quan sát chiếc xe rẽ vào bãi đậu của Công viên Giải trí Estelle Barga, rồi đánh mắt nhìn nhau.
Một người nói, “Five-O* kia.”
Ý chỉ cảnh sát.
Người còn lại đáp, “Chết tiệt!”
Họ cắm đầu lỉnh mất mà không trao đổi gì thêm, đu người trên tấm ván trượt của mình. Quy tắc rất đơn giản: khi Five-O xuất hiện, hãy chuồn mau. Black lives matter *, bố mẹ họ lúc nào cũng dặn vậy, nhưng không phải với mọi Five-O. Trong sân bóng chày, đám đông bắt đầu hò reo, vỗ tay theo nhịp khi đội Rồng Vàng của thành phố Flint đang chuẩn bị bước vào nửa cuối của hiệp chín, một hiệp đâu mệt mỏi.
Phong trào “Black Lives Matter” (Quyền được sống của người da màu), mang một khát vọng hướng tới sự bình đẳng thực sự trong xã hội, nơi các quyền cơ bản chưa được trao đầy đủ cho tất cả những người da màu.
Các chàng trai không ngoái đầu nhìn lại.
❊ 2 ❊
Lời khai của ông Jonathan Ritz [ngày 10 tháng 7, 9 giờ 30 phút tối, do thảm tử Ralph Anderson thẩm vấn]
Thám tử Anderson: Tôi biết ông đang rối bời, ông Ritz, tôi rất hiểu cảm giác đó của ông, nhưng tôi cần biết chính xác những gì ông đã thấy lúc chập tối nay.
Ritz: Tôi sẽ không bao giờ quên được chuyện đó. Không bao giờ. Tôi nghĩ mình cần dùng một viên an thần, Valium chẳng hạn. Tôi chưa bao giờ uống loại đó nhưng tôi chắc mình cần một viên ngay bây giờ. Tôi không thể thở nổi. Các nhân viên pháp y của anh chắc sẽ biết điều đó nếu họ thấy bãi nôn mửa nhầy nhụa tại hiện trường và tôi đoán họ sẽ thấy thôi, đó là của tôi đấy. Tôi cũng không hề cảm thấy xấu hổ về chuyện đó. Ai nhìn thấy những thứ đó mà không nôn mửa mới là lạ.
Thám tử Anderson: Tôi chắc chắn bác sĩ sẽ kê cho ông thuốc gì đó để bình tĩnh lại khi chúng ta xong việc. Tôi sẽ lo chuyện đó, nhưng ngay bây giờ tôi cần ông tỉnh táo lại. Ông hiểu ý tôi chứ?
Ritz: Vâng. Tất nhiên rồi.
Thám tử Anderson: Hãy kể cho tôi nghe những gì ông thấy, thế thôi, rồi chúng ta sẽ kết thúc buổi tối nay ở đây. Ông có thể làm điều đó giúp tôi không?
Ritz: Được rồi. Lúc sáu giờ tối nay, tôi dắt Dave ra ngoài đi dạo. Dave là chú chó cưng của chúng tôi, giống chó săn thỏ. Nó ăn tối lúc năm giờ. Còn vợ chồng tôi ăn lúc năm giờ ba mươi. Đến sáu giờ, Dave muốn giải quyết việc cá nhân - ý tôi là cả đại và tiểu tiện. Tôi dắt nó đi dạo trong khi Sandy - vợ tôi - dọn dẹp bát đĩa. Chúng tôi vẫn chia sẻ việc nhà với nhau công bằng như thế. với chúng tôi, chia sẻ công bằng đóng vai trò rất quan trọng trong hôn nhân, đặc biệt là sau khi con cái đã trưởng thành. Tôi đang hơi lan man, phải không?
Thám tử Anderson: Không sao đâu, ông Ritz. Hãy cứ kể theo cách của ông.
Ritz: Ồ, hãy gọi tôi là Jon. Tôi không thể chịu đựng được việc anh cứ gọi tôi là ông Ritz này ông Ritz nọ. Điều đó khiến tôi có cảm tưởng mình giống như một chiếc bánh quy giòn vậy.* Hồi đi học, bạn bè toàn gọi tôi là Ritz bánh quy.
Ritz là tên của một thương hiệu bánh quy.
Thám tử Anderson: vâng, vậy là ông đang dắt chó đi dạo...
Ritz: Đúng vậy. Và khi nó ngửi thấy một mùi nồng nặc - mùi xác chết, tôi nghĩ vậy - tôi phải dùng cả hai tay để giữ xích, dù Dave chỉ là một chú chó nhỏ. Nó muốn lao đến chỗ phát ra thứ mùi đó. Mùi...
Thám tử Anderson: Chờ đã, chúng ta hãy quay lại một chút. Ông rời nhà mình tại số 249 Đại lộ Mulberry lúc sáu giờ...
Ritz: Có thể là trước sáu giờ một chút. Dave và tôi thả bộ xuống đồi đến Gerald's, cửa hàng tạp hóa ở góc phố, nơi họ bán tất cả những món dành cho người sành ăn, sau đó đi ngược lên Phố Barnum, rồi vào Công viên Figgis. Đó là nơi mà bọn trẻ vẫn gọi là Công viên Frig Us. Chúng nghĩ người lớn không biết chúng nói gì, rằng chúng tôi không để ý, nhưng có gì lọt khỏi tai người lớn đâu. Ít nhất vài người luôn vậy.
Thám tử Anderson: Tối nào ông cũng đi dạo như thế à?
Ritz: Ồ, có lúc chúng tôi cũng thay đổi lịch trình một chút để bớt nhàm chán, nhưng lần nào chúng tôi cũng rẽ qua công viên trước khi về nhà, vì ở đó luôn có rất nhiều thứ để Dave sục sạo. Có một bãi đậu xe, nhưng giờ đó trong ngày vắng lắm, chỉ có vài học sinh trung học đến chơi quần vợt. Hôm đó thì không có ai, bởi vì sân đất nện sình lên do lúc trước trơi có mưa. Thứ duy nhất đậu ở đó là một chiếc xe van màu trắng.
Thám tử Anderson: Ý ông là một chiếc xe van kinh doanh phải không?
Ritz: Đúng vậy. Không có cửa sổ, chỉ có cửa đôi ở phía sau thùng xe. Loại xe van mà các công ty nhỏ sử dụng để vận chuyển hàng hóa. Đó có thể là một chiếc dòng Econoline, nhưng tôi không chắc lắm.
Thám tử Anderson: Có tên công ty trên đó không? Kiểu như Sam's Air Conditioning hay Bob's Custom Windows chẳng hạn?
Ritz: Không. Không gì cả. Tuy nhiên, tôi có thể khẳng định với anh là nó bẩn lắm. Chắc đã lâu không được rửa. Lốp dính đầy bùn, có thể do mưa. Dave đánh hơi các lốp xe, sau đó chúng tôi đi dọc theo một trong những con đường rải sỏi xuyên qua những tán cây. Chừng được nửa cây số thì Dave bắt đầu sủa và lao vào các bụi cây bên phải. Đó là khi nó ngửi thấy thứ mùi đó. Nó gần như kéo tuột dây xích khỏi tay tôi. Tôi cố kéo nó ra nhưng nó không chịu, thay vào đó nó sạp người xuống, cào chân vào đất và sủa liên mồm. Vì vậy, tôi đã chỉnh dây để nhích đến gần nó - tôi dùng loại xích có thể thu gọn, và những lúc như thế này rất tiện - rồi đi theo nó. Dave không còn bận tâm đến sóc và sóc chuột vì giờ nó không còn là chó con nữa, nhưng tôi nghĩ có thể nó đã đánh hơi thấy gấu mèo. Tôi định ghìm xích và ép nó quay lại dù nó có muốn hay không, nó cần biết ai mới là chủ, chỉ có điều là đúng lúc đó tôi đã nhìn thấy vài giọt máu đầu tiên. Chúng đọng trên một chiếc lá bạch dương, cao khoảng ngang ngực tôi, cách mặt đất chừng mét rưỡi. Thêm một giọt nữa đậu trên một chiếc lá khác xa hơn một chút, rồi cả một mảng nhỏ ở một số bụi cây xa hơn nữa. Máu vẫn còn đỏ và ướt. Dave đánh hơi chỗ máu đó, nhưng vẫn muốn tiếp tục. Và nghe này, trước khi tôi quên, ngay lúc đó tôi đã nghe thấy tiếng động cơ nổ máy phía sau. Tôi đã không quá chú ý đến nó, ngoại trừ việc nó khá ồn ã, giống như ống xả đã bị bắn vỡ. Ầm ầm, anh hiểu ý tôi chứ?
Thám tử Anderson: À vâng, tôi hiểu.
Ritz: Tôi không chắc đó có phải là tiếng của chiếc xe van màu trắng đó không, và tôi không quay lại lối đó nên cũng không biết nó đã rời đi chưa nữa, nhưng tôi cá chính là nó. Và anh có hiểu điều đó có nghĩa là gì không?
Thám tử Anderson: Hãy cho tôi biết ông nghĩ gì về điều đó, Jon.
Ritz: Hắn có thể đang theo dõi tôi. Tên sát nhân. Đứng trong lùm cây và nhìn tôi. việc đó khiển tôi rợn tóc gáy. Ý tôi là bây giờ. Còn lúc đó, tôi đã quan sát kỹ vết máu. Và giữ Dave không giật tuột xích khỏi tay tôi. Tôi đã rất sợ hãi và không ngại thừa nhận điều đó. Tôi không phải là một người đàn ông lực lưỡng và dù có cố giữ gìn vóc dáng, nhưng bây giờ tôi cũng đã sáu mươi rồi. Ngay cả khi ở tuổi hai mươi, tôi cũng không phải là một kẻ hay gây gổ. Nhưng tôi phải xem. Xem ai bị thương đã.
Thám tử Anderson: Hành động đó rất đáng khen ngợi, ông thấy vết máu đầu tiên lúc mấy giờ?
Ritz: Tôi không kiểm tra đồng hồ, nhưng tôi đoán chừng sáu giờ hai mươi phút. Có lẽ là sáu giờ hai mươi lăm. Tôi để Dave dẫn đường, giữ dây ở mức ngắn để tôi có thể gạt các cành cây mở lối cho nó di chuyển bằng đôi chân ngắn cũn của mình. Anh biết người ta nói gì về loài chó săn thỏ chứ - phổi bé nhưng mồm to. Nó sủa như điên. Chúng tôi đã đến một khu đất trống, kiểu... Tôi không biết tả thế nào, một nơi kín đáo dành cho mấy cặp đôi yêu nhau ngồi tâm sự. Có một băng ghế đá hoa cương ở giữa, và nó dính đầy máu. Rất nhiều máu. Cả bên dưới ghế. Thi thể nằm trên bãi cỏ cạnh đó. Ôi cậu bé tội nghiệp đó. Đầu thằng bé quay về phía tôi, mắt mở to, và cổ họng biến mất. Không có gì ở đó ngoài một cái hố sâu hun hút màu đỏ. Quần jean xanh lam và quần lót bị tụt xuống tận mắt cá chân, và tôi thấy một cái gì đó... một cành cây, tôi đoán vậy... lòi ra khỏi... Của thằng bé... Của thằng bé... anh... anh biết đấy.
Thám tử Anderson: Tôi biết, nhưng tôi cần ông nói rõ để phục vụ việc ghi chép, ông Ritz.
Ritz: Thằng bé nằm sấp, và cành cây thò ra từ mông. Thứ đó cũng đẫm máu. Cành cây ấy. Một phần vỏ của cành cây bị tước trần và có dấu tay. Tôi thấy điều đó rõ như ban ngày. Dave không sủa nữa, nó hú lên, tội nghiệp quá, và tôi không biết ai đã làm điều đó. Kẻ đó hẳn đã bị điên rồi. Anh sẽ bắt hắn chứ, Thám tử Anderson?
Thám tử Anderson: Ồ, vâng. Chúng tôi sẽ tóm hắn.
❊ 3 ❊
Bãi đậu xe Estelle Barga rộng gần bằng bãi đậu xe ở Kroger nơi Ralph Anderson và vợ anh đi mua sắm mỗi chiều thứ Bảy, và vào tối tháng Bảy ấy, nó chật như nêm. Nhiều tấm cản có dán những miếng dán đội Rồng Vàng và một vài cửa kính phía sau được dán các khẩu hiệu hoa mỹ: CHÚNG TÔI SẼ ỦNG HỘ CÁC BẠN; NHỮNG CHÚ RỒNG SẼ THIÊU ĐỐT NHỮNG CHÚ GẤU; THÀNH PHỐ CAP, HÃY ĐỢI CHÚNG TÔI; NĂM NAY ĐẾN LƯỢT CHÚNG TÔI. Từ phía sân bóng chày, đèn sân đã được bật sáng trưng (dù ánh tà dương vẫn chập chờn ở lại), tiếng reo hò và tiếng vỗ tay nhịp nhàng rộn ràng khắp không gian.
Troy Ramage, một cảnh sát kỳ cựu với hai mươi năm kinh nghiệm, ngồi sau tay lái chiếc xe không dấu hiệu. Khi dượt qua hết hàng nọ đến hàng kia mà vẫn chưa tìm được chỗ đỗ, anh ta nói, “Bất cứ khi nào đến đầy, tôi luôn tự hỏi Estelle Barga là cái quái gì thế không biết.”
Ralph không trả lời. Các cơ của anh căng cứng, da anh tê rần, còn mạch phập phồng. Anh đã bắt giữ rất nhiều tên khốn suốt bao năm qua, nhưng lần này lại khác. Vụ này vô cùng đặc biệt, và còn liên quan tới cả cá nhân anh. Đó là điều tồi tệ nhất: chuyện cá nhân. Anh không thuộc biên chế nhần sự lo vụ bắt giữ, và anh biết điều đó, nhưng sau đợt cắt giảm ngân sách gần đây, chỉ còn ba thám tử toàn thời gian trong danh sách lực lượng cảnh sát thành phố Flint. Jack Hoskins đang đi nghỉ, câu cá ở đâu đó và nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Betsy Riggins, người đáng lẽ đang nghỉ sinh, đang phải hỗ trợ Cảnh sát Tiểu bang xử lý một khía cạnh khác của vụ việc tối nay.
Anh cầu Chúa họ sẽ không tiến quá nhanh. Anh đã bày tỏ lo ngại đó của mình với Bill Samuels, ủy viên công tố quận của Hạt Flint vào ngay buổi chiều hôm đó, trong cuộc họp trước đợt truy bắt. Samuels có vẻ hơi trẻ so với vị trí này, chỉ mới ba mươi lăm tuổi, nhưng anh thuộc đảng chính trị phù hợp, và tự tin vào bản thân. Không phải kiểu ngạo đời kẻ cả mà phải nói là sốt sắng hăng hái.
“Vẫn còn vài điểm nghi ngại tôi cần làm rõ,” Ralph nói. “Chúng ta vẫn chưa có đủ mọi thông tin. Thêm nữa, chắc chắn hắn sẽ nói mình có chứng cứ ngoại phạm. Trừ khi hắn từ bỏ, bằng không chúng ta có thể chắc chắn là hắn sẽ làm vậy.”
“Nếu hắn làm thế,” Samuels trả lời, “chúng ta sẽ đánh sập nó. Anh biết chúng ta sẽ làm vậy mà.”
Ralph chắc cú chuyện đó, anh biết họ đã nhắm trúng người, nhưng anh vẫn muốn điều tra thêm một chút trước khi đi đến quyết định. Tim ra các lỗ hổng trong các bằng chứng ngoại phạm của tên khốn đó, thọc cho chúng bung ra, đủ rộng để lái một chiếc xe tải băng qua, sau đó thộp cổ hắn. Trong hầu hết các vụ án thì quy trình đúng là thế. Nhưng vụ này thi không.
“Ba điều,” Samuels nói. “Anh sẵn sàng nghe chứ?”
Ralph gật đầu. Suy cho cùng thì anh vẫn phải hợp tác với anh chàng này.
“Thứ nhất, người dần ở thị trấn này, đặc biệt là bố mẹ lũ nhỏ, đang vô cùng sợ hãi và tức giận. Họ muốn tóm sớm thủ phạm để ăn ngon ngủ yên. Thứ hai là bằng chứng rành rành ra đó. Tôi chưa bao giờ gặp vụ nào tồi tệ như vậy. Anh cũng đồng ý với tôi chứ?”
“Đúng thế.”
“Được rồi, thứ ba, quan trọng nhất đấy.” Samuels nghiêng người về phía trước. “Chúng ta không thể khẳng định hắn từng làm điều này trước đây - dù nếu có, chúng ta sẽ có thể phát hiện ra khi đào lại thông tin - nhưng chắc chắn là hắn từng làm chuyện này rồi. Chắc như đinh đóng cột luôn. Và một khi điều đó xảy ra..
“Hắn có thể lại ngựa quen đường cũ,” Ralph kết thúc cầu.
“Đúng thế. Không phải là kịch bản dễ xảy ra nhất sau vụ Peterson, nhưng có thể lắm chứ. Bọn trẻ lúc nào chẳng quây quanh hắn, chúa ơi. Những cậu bé. Nếu hắn giết một trong số chúng, đừng nghĩ đến chuyện chúng ta mất việc, chúng ta sẽ không bao giờ có thể tha thứ cho chính mình.”
Ralph đã không thể tha thứ cho mình vì không nhìn ra chuyện này sớm hơn. Thật phi lý khi trách mình đã không thể nhìn vào mắt một người đàn ông tại bữa tiệc nướng ở sau nhà mừng mùa giải Little League kết thúc và đoán được hắn đang dự tính một sự vụ kinh hoàng như thế này - chạm vào nó, nuôi dưỡng nó và chứng kiến nó lớn lên từng ngày — nhưng sự phi lý ấy chẳng thay đổi được cảm nhận của anh.
Lúc này, khi đang nghiêng người về phía trước, hướng vào giữa khe ghế trước mà hai cảnh sát đang ngồi, Ralph nói, “Ớ đằng kia. Hãy thử mấy chỗ dành cho người khuyết tật xem.”
Từ ghế hành khách ở phía trước, sĩ quan Tom Yates lên tiếng, “Vé phạt hai trăm đô đấy sếp.”
“Tôi nghĩ lần này chúng ta né được,” Ralph nói.
“Tôi đùa đấy.”
Ralph, không có tâm trạng đối đáp với viên cảnh sát nọ, không nói gì.
“Chỗ cho người khuyết tật thôi,” Ramage nói. “Tôi thấy hai chỗ trống.”
Anh ta đánh xe vào một trong số đó, và ba người đàn ông trườn khỏi xe. Ralph thấy Yates rút khẩu Glock ra khỏi đai đeo thì lắc đầu. “Anh mất trí rồi à? Phải có tới một ngàn rưỡi người đang xem trân đâu này đẩy.”
“Nếu hắn bỏ chạy thì sao?”
“Thì anh đuổi theo thôi.”
Ralph tựa người vào mui của chiếc xe không dấu hiệu và quan sát khi hai sĩ quan cảnh sát của thành phố Flint bắt đầu tiến về phía sân đầu, ánh đèn và khán đài chật chội, nơi tiếng vỗ tay và tiếng cổ vũ huyên náo vẫn đang rần rần tăng lên cả về âm lượng lẫn cường độ. Tóm gọn kẻ giết Peterson là màn song kiếm hợp bích giữa anh và Samuels (dù miễn cưỡng). Bắt hắn ngay giữa trận đấu là quyết định của Ralph.
Ramage ngoái lại nhìn. “Đi không?”
“Tôi không. Anh lo việc đó đi, và đừng quên đọc to rỗ ràng mấy cái quyền chết giẫm của hắn, rồi đưa hắn về đây. Tom, chừng nào xe lăn bánh, anh sẽ ngồi sau với hắn. Tôi sẽ lên trước ngồi với Troy. Bill Samuels đang đợi cuộc gọi của tôi và anh ta sẽ có mặt tại sở để gặp chúng ta. Đội đặc nhiệm tinh nhuệ của anh ta đã được sắp xếp ở khắp nơi. Về việc tóm hắn, phần các anh tất.”
“Nhưng đây là vụ của anh mà,” Yates nói. “Tại sao anh lại không muốn tham gia vây bắt tên khốn đó?”
Hai tay vẫn khoanh trước ngực, Ralph nói, “Vi kẻ đã cắm que vào mông Frankie Peterson và cắn toang hoác họng thằng bé là người từng huấn luyện con trai tôi suốt bốn năm, hai năm ở Peewee và hai năm ở Little League. Hắn đã chạm vào người thằng bé, chỉ nó cách cầm gậy, nên tôi không chắc mình làm được.”
“Hiểu rồi, hiểu rồi,” Troy Ramage nói. Anh ta và Yates bắt đầu hướng về phía sân.
“Và nghe này, hai người.”
Họ ngoái lại.
“Hãy còng tay hắn ngay tại đó. Còng tay hắn trước mặt mọi người”.
“Làm thế không đúng luật đâu sếp,” Ramage nói.
“Tôi biết, và tôi cóc quan tâm. Tôi muốn mọi người thấy hắn bị còng tay dẫn đi. Hiểu chứ?”
Khi hai người họ đi khuất, Ralph rút điện thoại ra khỏi đai lưng. Số của Betsy Riggins nằm trong mục quay số nhanh. “Cô vào vị trí rồi chứ?”
“Đúng thế. Đậu trước cửa nhà hắn. Tôi và bốn cảnh sát tiểu bang.”
“Lệnh khám xét thì sao?”
“Nóng hổi trong tay tôi rồi đây.”
“Tốt.” Anh định kết thúc cuộc gọi thì sực nhớ ra điều cần hỏi. “Bets này, chừng nào cô nghỉ?”
“Hôm qua,” cô nói. “Vậy nên chúng ta hãy nhanh kết thúc chuyện chết tiệt này đi.” Rồi cô tự mình kết thúc cuộc gọi.
❊ 4 ❊
Lời khai của bà Arlene Stanhope [1 giờ chiều ngày 12 tháng 7, Thám tử Ralph Anderson thẩm vấn]
Stanhope: Việc này có mất nhiều thời gian không, anh thám tử?
Thám tử Anderson: Không lâu đâu. Bà chỉ cần cho tôi biết những gì bà đã thấy vào chiều thứ Ba, ngày 10 tháng 7, thế thôi.
Stanhope: Được rồi. Lúc đó tôi đang chuẩn bị rời Gerald's Fine Groceries. Tôi luôn đến đó mua đồ vào các ngày thứ Ba trong tuần. Đồ ở GeralcPs đắt hơn, nhưng tôi đã không đến Kroger kể từ lúc dừng lái xe. Tôi đã hủy bằng lái sau khi chồng tôi qua đời một năm vì tôi không còn tin tưởng vào phản xạ của mình nữa. Tôi từng gặp vài tai nạn. Chỉ va quệt nhẹ thôi, anh biết đấy, nhưng với tôi như vậy là đủ rồi. Gerald's chỉ cách căn hộ tôi đang sống chừng hai dãy nhà. Tôi sống ở đây từ khi bán nhà cũ và bác sĩ khuyên tôi nên đi bộ để rèn luyện sức khỏe. Như thế tốt cho tim tôi, anh biết đấy. Tôi đang đi ra với ba túi đồ được đặt trong chiếc xe đẩy nhỏ của mình - ba túi là nhiều rồi, giờ giá cả leo thang, đặc biệt là thịt, tôi không biết lần cuối tôi ăn thịt xông khói là khi nào - thì tôi nhìn thấy cậu bé nhà Peterson.
Thám tử Anderson: Bà có chắc đó là Frank Peterson không?
Stanhope: Ồ vâng, đó là Frank. Cậu bé tội nghiệp, tôi rất tiếc về những gì đã xảy ra với cậu bé nhưng giờ chắc cậu bé đã lên thiên đường và không phải chịu đau đớn nữa. Như thế cũng coi như được an ủi phần nào. Anh biết đấy, nhà Peterson có hai cậu nhóc, cả hai đều tóc đỏ hoe, sặc sỡ lắm, nhưng đứa lớn - Oliver, tên thằng bé - hơn đứa thứ hai ít nhất phải năm tuổi. Trước đây nó từng giao báo cho nhà chúng tôi. Frank có một chiếc xe đạp, loại có tay lái cao và yên hẹp...
Thám tử Anderson: Nó được gọi là xe ghế chuối.
Stanhope: Tôi không biết loại đó, nhưng tôi biết nó có màu chanh tươi, chói cả mắt và có một miếng dán trên yên xe. Trường cấp hai Thành phối Flint. Chỉ có điều thằng bé sẽ không bao giờ được học trung học, phải không? Thằng bé tội nghiệp, tội nghiệp quá.
Thám tử Anderson: Bà stanịiope, bà có muốn nghỉ một chút không?
Stanhope: Không, tôi muốn nói cho xong. Tôi phải về nhà và cho mèo ăn. Tôi luôn cho nó ăn lúc ba giờ, nếu không nó sẽ đói mất. Chắc nó cũng đang ngóng tôi. Nhưng tôi có thể xin một tờ khăn giây không? Cám xúc của tôi hôn độn quá. Cám ơn anh.
Thám tử Anderson: Bà có thể nhìn thấy nhãn dán trên yên xe của Frank Peterson vì...?
Stanhope: Ồ, vì thằng bé không ngồi trên xe. Nó dắt xe qua bãi đậu xe của Gerald's. Xích xe bị đứt, lòng thòng lê trên mặt đường.
Thám tử Anderson: Bà có nhớ thằng bé mặc gì lúc đó không?
Stanhope: Một chiếc áo phông in hình một ban nhạc rock & roll nào đó. Tôi mù tịt về các ban nhạc nên không thể cho anh biết tên được. Nếu điều đó quan trọng, tôi rất lấy làm tiếc. Và thằng bé đội một chiếc mũ lưỡi trai Rangers. Chiếc mũ được đẩy hếch lên nên tôi, có thể nhìn thấy đám tóc đỏ lòa xòa trước trán. Rồi đám tóc sẽ rụng hết và thẳng bé sẽ sớm hói thôi, anh biết đấy. Nhưng giờ nó sẽ không bao giờ phải bận lòng về điều đó nữa, phải không? ôi, buồn hết sức. À, có một chiếc xe van trắng bẩn thỉu đậu ở cuối bãi xe, có một người đàn ông đã bước ra và đi về phía Frank. Hắn...
Thám tử Anderson: Chúng ta sẽ nói về chuyện đó sau, vì trước tiên tôi muốn nghe về chiếc xe van. Loại xe không có cửa sườn?
Stanhope: Đúng thế.
Thám tử Anderson: Không có chữ gì ghi trên đó sao? Không có tên công ty, hoặc bất cứ thứ gì tương tự?
Stanhope: Theo tôi thấy thì không.
Thám tử Anderson: Được rồi, giờ bà hãy nói về người đàn ông mà bà đã thấy. Bà có nhận ra anh ta không, bà Stanhope?
Stanhope: Ồ, tất nhiên. Đó là Terry Maitland. Ai ở West Side cũng đều biết huấn luyện viên T. Họ gọi anh ta như vậy ngay cả ở trường trung học. Anh ta dạy tiếng Anh ở đó, anh biết đấy. Chồng tôi là đồng nghiệp của anh ta trước khi ông ấy nghỉ hưu. Họ gọi anh ta là huấn luyện viên T vì anh ta huấn luyện đội bóng chày Little League và City League khi Little League xong mùa giải, và vào mùa thu, anh ta dạy mấy cậu bé ham bóng bầu dục chơi bóng. Giải đấu đó cũng có tên, nhưng tôi không nhớ.
Thám tử Anderson: Chúng ta có thể quay lại với những gì mà bà đã thấy vào chiều thứ Ba...
Stanhope: Cũng chẳng nhiều nhặn gì. Frank nói chuyện với huấn luyện viên T, và chỉ vào sợi dây xích bị đứt của thằng bé. Huấn luyện viên T gật đầu và mở cửa phía sau của chiếc van màu trắng, chiếc xe không thể là của anh ta...
Thám tử Anderson: Tại sao bà lại nói vậy, bà Stanhope?
Stanhope: Vì biển xe màu cam. Tôi không biết là của bang nào, chỗ đó cách xa tôi quá, nhưng tôi biết biển xe Oklahoma có màu xanh lam và trắng. Dù sao thì tôi cũng không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì ở phía sau chiếc xe ngoại trừ một thứ gì đó màu xanh lục dài dài trông giống một hộp đồ nghề sửa chữa. Nó có phải là một hộp đồ nghề không, anh thám tử?
Thám tử Anderson: Chuyện gì đã xảy ra sau đó?
Stanhope: Chà, huấn luyện viên T đã nhấc chiếc xe đạp của Frank và đưa nó ra sau thùng xe tải rồi đóng cửa lại. Anh ta vỗ lưng Frank. Sau đó, anh ta đi vòng qua phía ghế lái, còn Frank đi vòng qua ghế hành khách, cả hai cùng vào xe rồi chiếc xe rời đi, về hướng Đại lộ Mulberry. Tôi đã nghĩ T sẽ lái xe đưa cậu bé về nhà. Tất nhiên là tôi đã nghĩ vậy. Tôi còn nghĩ được gì nữa chứ? Terry Maitland đã sống ở West Side cỡ 20 năm rồi, anh ta có một gia đình rất êm ấm, một người vợ và hai cô con gái... Tôi có thể lấy thêm khăn giấy không? Cám ơn anh. Chúng ta xong rồi chứ?
Thám tử Anderson: Vâng, bà đã giúp chúng tôi rất nhiều. Tôi nghĩ là trước khi tôi bắt đầu ghi âm, bà đã nói lúc đó là khoảng ba giờ nhi?
Stanhope: Chính xác là ba giờ. Tôi nghe thấy tiếng chuông đồng hồ ở Tòa Thị chính báo giờ ngay khi tôi vừa bước ra với chiếc xe đẩy nhỏ của mình. Tôi muốn về nhà và cho mèo ăn.
Thám tử Anderson: Cậu bé mà bà nhìn thấy, cậu bé tóc đỏ, là Frank Peterson.
Stanhope: Vâng. Gia đình Peterson sống ngay gần nhà tôi. Ollie từng giao báo cho chúng tôi. Tôi gặp hai đứa suốt.
Thám tử Anderson: Và người đàn ông, người đưa chiếc xe đạp vào sau chiếc xe van trắng và lái đi cùng Frank Peterson, là Terence Maitland, hay còn được gọi là huấn luyện viên Terry hoặc huấn luyện viên T.
Stanhope: Vâng.
Thám tử Anderson: Bà chắc chắn về điều đó.
Stanhope: Ồ, vâng.
Thám tử Anderson: cảm ơn bà Stanhope.
Stanhope: Ai ngờ Terry lại làm chuyện đó cơ chứ? Anh có nghĩ rằng nghi phạm là người khác không?
Thám tử Anderson: Chúng tôi sẽ tìm ra sự thật trong quá trình điều tra.
❊ 5 ❊
Vì mọi trận đấu thuộc khuôn khổ giải City League đều diễn ra tại Sân Estelle Barga - sân bóng chày tốt nhất của hạt và là sân duy nhất có đèn cho các trận đấu vào ban đêm - lợi thế của đội nhà được quyết định bằng màn tung đồng xu. Terry Maitland chọn mặt sấp trước trận đấu, như một thói quen lâu năm - đó là một tín điều mà chính vị huấn luyện viên City League của hắn từng truyền lại - và mặt sấp đã mang lại cho họ may mắn. “Tôi không quan tâm chúng ta chơi ở đâu, tôi chỉ muốn thắng chung cuộc,” hắn đã luôn nói với các cậu bé của mình như vậy.
Và đêm nay hắn cần chúng. Lúc này đang là nửa cuối của hiệp chín, đội Gấu đã vươn lên dẫn trước một điểm trong trân bán kết của giải đấu này. Đội Rồng Vàng đã để trượt bóng trong lượt đánh cuối, nhưng họ đã bao trọn các gôn. Một lượt đi bộ, một cú đánh bóng mạnh, một lỗi hoặc một lần chạm gôn 1 sẽ đưa họ về thế hòa, trong khi một cú đánh bóng vào khoảng trống sẽ giúp họ cầm chắc chiến thắng. Đám đông đang vỗ tay, hò reo cổ vũ, gõ vào khán đài bằng kim loại khi Trevor Michaels bé nhỏ bước vào ô đánh bên trái. Chiếc mũ bảo hiểm của cậu nhóc là chiếc nhỏ nhất mà họ có, nhưng nó vẫn cụp xuống che khuất tầm mắt khiến cậu liên tục phải đẩy mũ lên. Cậu bồn chồn vung cây gậy của mình qua lại.
Terry đã tính đến việc đổi người đánh bóng thay câu nhóc, nhưng với chiều cao chừng mét rưỡi hơn chút, cậu nhóc đã giành được rất nhiều lượt đi bộ. Và dù không phải là một cầu thủ đánh bóng ăn chắc các cú home-run, nhưng đôi khi cậu vẫn đập gậy được vào bóng. Không thường xuyên, nhưng đôi khi. Nếu Terry thay cậu bằng một cầu thủ đánh bóng khác thì đứa trẻ tội nghiệp sẽ phải sống với sự tủi nhục trong suốt năm tiếp theo ở trường cấp hai. Còn nếu chạy được về gôn 1, cậu sẽ nhớ về nó như một kỷ niệm đẹp bên những cốc bia và những bữa tiệc nướng ở sân sau trong suốt phần đời còn lại của mình. Terry biết chứ. Hắn từng rơi vào thế đó, từ rất lầu rồi, từ cái thời trước khi gậy nhôm xuất hiện trên đời.
Cầu thủ ném bóng của đội Gấu - một người gần hơn* của họ, một quả cầu lửa thực sự - lao lên và ném một bóng xuống ngay giữa tầm đĩa. Trevor nhìn nó lao đi với vẻ mặt thất thần. Trọng tài hét strike *. Đám đông rên rỉ.
Trong bóng chày, một vận động viên ném bóng đóng cửa, thường được gọi là người gần hơn (viết tắt CL), là một vận động viên ném bóng cứu trợ, người chuyên về đích cuối cùng trong một trận đấu gần khi đội của anh ta đang dân trước.
Batter vung chày nhưng không đập trúng bóng (cho dù bóng lỗi hay không) hoặc đập trúng nhưng bóng ra ngoài biên. Mỗi lần như vậy là 1 strike. Sau 3 lần strike sẽ bị loại (out).
Gavin Frick, trợ lý huấn luyện của Terry, đi đi lại lại trước các cậu bé trên băng ghế dự bị, cuốn sổ ghi điểm được cuộn lại trong một tay (đã bao lần Terry nhắc anh ta đừng làm thế rồi nhỉ?), chiếc áo sơ mi đội Rồng Vàng cỡ XXL của anh ta căng phồng ở đoạn bụng, vốn ít nhất cũng phải có cỡ XXXL. “Tôi mong là việc để Trevor tự đánh bóng không phải là một sai lầm, Ter,” anh ta nói. Mồ hôi chảy ròng ròng trên má. “Thằng bé trông sợ chết khiếp, và tôi không dám chắc nó có thể đánh được quả bóng quá tốc độ của đứa trẻ đó dù tay có đang cầm vợt tennis đi nữa.”
“Chờ đã xem nào,” Terry nói. “Tôi có dự cảm tốt về chuyện này.” Hắn đang dối lòng, thực sự là thế.
Cầu thủ ném bóng của đội Gấu tiến lên và ném lượt mới, nhưng lần này bóng đáp xuống phần đất trước đĩa nhà. Đám đông đứng bật dậy khi Baibir Patel, cầu thủ chốt gôn 3 của đội Rồng Vàng, phóng vài bước xuống biên. Khán giả xìu xuống rên rỉ khi quả bóng nằm gọn trong găng của người bắt bóng. Cầu thủ bắt bóng của đội Gấu quay sang chốt gôn 3, và Terry có thể đọc được biểu cảm của cậu ta, thậm chí qua chiếc mặt nạ: Cứ thử đi nhóc . Baibir đã không làm vậy.
Cú đánh tiếp theo rất rộng, nhưng Trevor đã quật trúng nó.
“Loại nó đi, Fritz!” Một tiếng hét lớn dội xuống từ phía cao trên khán đài - gần như chắc chắn là bố của cầu thủ ném bóng, qua cách đứa trẻ ngoảnh đầu về hướng đó. “Loại nó điiiiiii!”
Trevor đã không đón được cú ném tiếp theo vì nó quá gần - thực sự là quá gần, nhưng trọng tài vẫn tính là một bóng, và giờ đến lượt người hâm mộ đội Gấu phải rên rỉ. Có người cho rằng trọng tài cần mua kính mới rõ hơn. Một người hầm mộ khác hét đồng lên câu gì đó về “chó dẫn đường”.
Tỷ số là hai đều, và Terry có linh cảm rằng mùa giải của đội Rồng Vàng sẽ phụ thuộc vào cú đánh tiếp theo. Hoặc họ sẽ đấu với đội Báo để tranh chức vô địch thành phố, và tiếp tục tham dự giải liên bang - các trận đấu thực sự được ghi hình - hoặc họ sẽ về nhà và gặp nhau thêm một lần nữa tại bữa tiệc nướng ở sân sau nhà Maitland, theo truyền thống đánh dấu sự khép lại của mùa giải.
Terry quay lại nhìn Marcy và hai cô con gái đang ngồi ở chỗ chúng vẫn luôn ngồi, trên những chiếc ghế làm vườn phía sau lưới đĩa nhà. Hai cô con gái đang ép sát hai bên sườn của vợ hắn tựa như những chiếc giá chặn sách xinh đẹp. Cả ba đều vẫy những ngón tay bắt chéo nhau về phía hắn. Terry nháy mắt, mỉm cười và giơ hai ngón tay cái lên, dù vẫn cảm thấy không ổn. Không chỉ là do trận đấu. Hắn đã cảm thấy không ổn một thời gian rồi. Không hẳn.
Nụ cười đáp lại của Marcy vụt biến thành một cái cau mày khó hiểu. Cô đang nhìn sang trái và chĩa một ngón tay cái theo hướng đó. Terry quay lại và thấy hai cảnh sát thành phố đang sải những bước dài xuống đường gôn ba, ngang qua Barry Houlihan, người đang huấn luyện tại đó.
"Hết thời gian, hết thời gian!” Trọng tài đĩa nhà hét lên, ngăn cầu thủ ném bóng của đội Gấu ngay khi cậu bé làm động tác co chần chuẩn bị ném bóng. Trevor Michaels bước ra khỏi khu vực đánh bóng với vẻ mặt nhẹ nhõm, Terry nghĩ. Đám đông nín bặt, lặng nhìn hai viên cảnh sát. Một trong số họ đang với tay ra sau lưng anh. Người kia đặt tay lên báng của thứ vũ khí công vụ được trang bị của mình.
“Ra ngoài sân!” Trọng tài hét lên. “Ra ngoài sân!”
Troy Ramage và Tom Yates phớt lờ ông ta. Họ bước vào khu ghế nghỉ của các cắu thủ đội Rồng - một khu tạm bợ chứa một băng ghế dài, ba giỏ dụng cụ và một thùng bóng tập bẩn - và đi thẳng về phía Terry đang đứng. Từ sau thắt lưng, Ramage lôi ra một cặp còng tay. Đám đông nhìn thấy họ, và cất lên tiếng xì xào với hai phần bối rối, một phần phấn khích. Ôi!
“Này các anh!” Gavin nói, hấp tấp đứng lên (và suýt bổ nhào vì chiếc găng của cầu thủ gôn 1 Richie Gallant nằm chỏng chơ ở đó). “Chúng tôi phải khép lại trận đấu đã!”
Yates đẩy anh ta ra sau, lắc đầu. Bây giờ đám đông đang chết lặng. Đội Gấu đã từ bỏ các thế phòng thủ căng thẳng và cứ thế đứng nhìn, đôi găng lủng lẳng treo trên tay. Cầu thủ bắt bóng chạy lon ton đến chỗ cầu thủ ném bóng và đứng cùng nhau ở chỗ lưng chừng giữa gò đất và đĩa nhà.
Terry có biết sơ qua người cầm chiếc còng tay; anh ta cùng anh trai thỉnh thoảng có đến xem các trận Pop Warner vào mùa thu. “Troy? Gì thế? Sao vậy?”
Ramage không nhìn thấy gì ngoài sự hoang mang tột độ trên khuôn mặt của người đàn ông ấy nhưng anh đã làm cảnh sát từ những năm 90 và anh biết những kẻ khốn nạn luôn trưng cái vẻ mặt “ngơ ngơ như bò đội nón” ấy ra trong những thời khắc thế này. Và tên này cũng khốn nạn chẳng kém. Nhớ lời dặn của Anderson (và không suy nghĩ thêm một chút nào), anh lớn giọng để cả sân có thể nghe thấy, thứ thông tin mà đám báo chí sẽ giật tít sốt dẻo vào ngày mai.
“Terence Maitland, anh bị bắt vi tội giết hại Frank Peterson.”
Một tiếng wow khác dội xuống từ khán đài, lần này to hơn, vang hơn, tựa như tiếng của một cơn gió thốc.
Terry cau mày nhìn Ramage. Hắn hiểu những lời đó, chúng là một câu đơn gồm những từ đơn ghép với nhau tạo thành một tuyên bố, hắn biết Frankie Peterson là ai và chuyện gì đã xảy ra với thằng bé, nhưng hắn không hiểu những từ đó có nghĩa là gì. Tất cả những gì hắn có thể nói chỉ là “Cái gì? Anh đang giỡn hả?” và đó là khi nhiếp ảnh gia thể thao của tờ Flint City Call chụp ảnh, bức ảnh xuất hiện trên trang nhất vào ngày hôm sau. Miệng há hốc, mắt trợn ngược, tóc thò ra quanh mép của chiếc mũ đội Rồng Vàng. Trong bức ảnh đó, hắn trông vừa thảng thốt vừa tội lỗi.
“Anh vừa nói gì?”
“Xin hãy đưa cổ tay ra.”
Terry nhìn Marcy và các con gái, vẫn ngồi trên ghế của họ sau hàng lưới, nhìn hắn chằm chằm với vẻ kinh ngạc đến tột độ. Sự kinh ngạc dần chuyển sang nỗi hoảng sợ ngay sau đó. Baibir Patel đã rời gôn 3 và bắt đầu đi về phía hàng ghế, vừa đi vừa lột bỏ chiếc mũ bảo hiểm đánh bóng để lộ mái tóc đen lầm tấm mồ hôi, Terry thấy đứa trẻ đang bắt đầu khóc.
“Quay lại đó!” Gavin quát thằng bé. “Trận đấu chưa kết thúc.”
Nhưng Baibir chỉ đứng sững trong khu vực đường biên, nhìn Terry trân trối. Terry ngoái lại nhìn chằm chằm về phía sau, tích cực ( gần như là tích cực) nghĩ rằng mình đang nằm mơ, nhưng sau đó Tom Yates tóm lấy hắn và giật mạnh cánh tay của hắn đến nỗi Terry loạng choạng lao về phía trước. Ramage tra còng vào. Còng thật chứ không phải những dải nhựa, chúng to và nặng, lấp lánh trong ánh tà dương. Vẫn cái giọng điệu đều đều ấy, anh ta tuyên bố: “Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời các câu hỏi, nhưng nếu chọn lên tiếng, bất cứ điều gì anh nói có thể chống lại anh trước tòa. Anh có quyền thuê luật sư trong quá trinh thẩm vấn ngay bây giờ hoặc trong tương lai. Anh hiểu chứ?”
“Troy?” Terry hầu như không nghe được giọng nói của chính mình nữa. Hắn cảm thấy như thể gió đã đánh bật giọng nói ra khỏi người hẳn. “Chuyện quái quỷ gì thế này?”
Ramage giả điếc. “Anh hiểu không?”
Marcy đến gần lưới sắt, ngoắc các ngón tay qua lưới và lắc. Phía sau cô, Sarah và Grace đang gào khóc. Grace đang quỳ gối bên cạnh chiếc ghế gấp của Sarah; trong khi Sarah ngã và nằm vật ra đất. “Các anh đang làm gì thế?” Marcy hét lên. “Các anh làm chuyện quái quỷ gì thế này? Tại sao các anh lại làm việc đó ở đây ?”
“Anh hiểu không?”
Terry chỉ có thể hiểu là hắn vừa bị còng tay và giờ đang được nghe cảnh sát đọc quyền của mình trước gần 1600 con người đang nhìn chằm chằm vào hắn, trong đó có vợ hắn và hai cô con gái nhỏ. Đó không phải là một giấc mơ, và càng không chỉ đơn thuần là một vụ bắt giữ. Vì những lý do mà hắn không thể hiểu nổi, đó là một hành vi làm nhục trước đám đông. Tốt nhất là hãy thu vén càng nhanh càng tốt và giải quyết vấn đề này thật rốt ráo. Dù trong nỗi bàng hoàng và hoang mang, hắn vẫn hiểu, rồi đầy cuộc sống của hắn sẽ không thể trở lại bình thường, ít nhất là trong một thời gian dài.
“Tôi hiểu,” hắn nói, và nói tiếp: “Huấn luyện viên Frick, quay lại đi.”
Gavin, người đang tiến về phía hai viên cảnh sát với đôi bàn tay nắm chặt và khuôn mặt tròn trịa đỏ phừng phừng, hạ cánh tay xuống và lùi lại. Hắn nhìn Marcy xuyên qua tấm lưới sắt, xốc lại đôi vai to lớn của mình, rồi duỗi đôi tay lực lưỡng của mình ra.
Với tông giọng gióng lên như anh mõ làng rêu rao tin tức, Troy Ramage tiếp tục. Ralph Anderson có thể nghe thấy tiếng anh ta từ vị trí anh đang đứng dựa lưng vào chiếc xe không dấu hiệu. Anh ta đang làm tốt công việc của mình. Dẫu thật xấu xí, và Ralph cho rằng anh có thể bị khiển trách vi điều đó, nhưng bù lại anh sẽ khiến bố mẹ của Frankie Peterson nhẹ nhõm. Không, chưa chắc.
“Nếu không đủ tiền thuê luật sư, anh sẽ được chỉ định một luật sư trước khi thẩm vấn, nếu muốn. Anh hiểu chứ?”
“Tôi hiểu,” Terry nói. “Tôi cũng hiểu một điều gì đó khác nữa.”Hắn quay sang đám đông nói: “Tôi không biết tại sao mình lại bị bắt! Gavin Frick sẽ chỉ đạo nốt trận đấu!" Và sau đó, như sực nhớ ra, hắn nói thêm: “Baibir, quay trở lại gôn 3, và nhớ chạy trong khu biên*.”
Foul territory - vùng ngoài của khu vực thi đấu ở ngoài đường kẻ 1B và 3B, kéo dài đến hàng rào.
Có tiếng vỗ tay nhưng nhỏ hơn, và chỉ có vậy. Người to mồm trên khán đài lại hét lên, “Anh bảo anh ta đã làm gì cơ?" Và đám đông đáp lời, rền rĩ hai từ sẽ sớm vang lên khắp khu West Side và phần còn lại của thành phố: Frank Peterson.
Yates tóm cánh tay của Terry, bắt đầu đẩy hắn về phía quầy đồ ăn nhanh và bãi đậu xe bên ngoài. “Anh có thể thuyết giảng trước đám đông sau, Maitland. Giờ thì anh phải ngồi tù đã. Và đoán xem? Chúng tôi có luật thi hành án bằng tiêm thuốc độc ở bang này, và anh sẽ được tặng anh một mũi. Nhưng anh là giáo viên nhỉ? Chắc anh cũng biết điều đó.”
Họ đi được chừng hai mươi bước từ hàng ghế thi Marcy Maitland đuổi kịp và nắm lấy cánh tay của Tom Yates. “Anh nghĩ mình đang làm cái quái gì thế?”
Yates gạt cô ra, và khi cô cố nắm lấy cánh tay của chồng mình, Troy Ramage đã đẩy cô ra, nhẹ nhàng nhưng dứt khoát. Cô sững sờ đứng chết trân tại chỗ trong giây lát, rồi nhìn thấy Ralph Anderson đang đi về phía các sĩ quan bắt giữ. Cô biết anh ta từ hồi Little League, khi Derek Anderson còn chơi cho đội của Terry, Geralds Fine Groceries Lions. Tất nhiên, Ralph không thể đến dự mọi trận đấu nhưng anh ta xuất hiện nhiều nhất có thể. Hồi đó anh ta vẫn mặc đồng phục; Terry đã gửi cho anh ta một email chúc mừng khi anh ta được thăng chức lên làm thám tử. Bây giờ, cô đang chạy về phía anh ta, chạy trên bãi cỏ bằng đôi giày tennis cũ mà cô luôn đi trong các trận đấu của Terry vì cho rằng chúng mang may mắn.
“Ralph!” Cô gọi. “Chuyện gì thế? Các anh nhẩm lẫn rồi!”
“Tôi e là không,” Ralph nói.
Anh không muốn nói ra điều này vì anh yêu mến Marcy. Mặt khác, anh cũng rất quý Terry - người đàn ông có lẽ đã làm thay đổi cuộc đời của Derek một chút, tiếp cho thằng bé chút tự tin, nhưng khi bạn chỉ mới mười một tuổi, chút tự tin ấy là cả vấn đề lớn. Và còn một điều gì đó khác nữa. Marcy hẳn có thể đã biết chồng mình là người như thế nào, ngay cả khi cô không cho phép mình tin vào điều đó. Vợ chồng họ đã kết hôn từ lâu, và hành động man rợ như vụ sát hại cậu bé Peterson chẳng thể là chuyên bỗng dưng từ trên trời rơi xuống. Hắn chắc hẳn phải có dự tính và chuẩn bị từ trước.
“Cô phải về nhà, Marcy. Ngay lập tức. Cô có thể sẽ phải gửi hai cô con gái của mình cho một người bạn, vì cảnh sát đang chờ cô.”
Cô chỉ đứng đó nhìn anh, khuôn mặt thảng thốt không hiểu.
Từ phía sau họ phát ra tiếng boong, tiếng của một chiếc gậy nhôm tiếp xúc tốt, dù có rất ít tiếng reo hò; những người tham dự vẫn đang sốc và tỏ ra quan tâm đến những gì họ vừa chứng kiến hơn là trận đấu trước mắt. Thật đáng xấu hổ. Trevor Michaels vừa đánh bóng mạnh hơn bao giờ hết trong đời, mạnh hơn cả khi huấn luyện viên T ném bóng trong buổi tập. Thật không may, bóng đi thẳng vào tầm bắt của cầu thủ bắt bóng đội Gấu, người thậm chí không cần phải nhảy ra để bắt gọn quả bóng.
Trận đấu kết thúc.
❊ 6 ❊
Lời khai của June Morris [Ngày 12 tháng 7, 5 giờ 45 phút chiều, thám tử Ralph Anderson thẩm vấn trước sự chứng kiến của người mẹ, cô Francine Morris]
Thám tử Anderson: Cảm ơn cô vì đã đưa con gái mình đến sở, cô Morris. June à, cháu thấy soda thế nào?
June Morris: Ngon ạ. Cháu gặp rắc rối gì sao?
Thám tử Anderson: Không hề. Bác chỉ muốn hỏi cháu một vài câu hỏi về những gì cháu đã thấy vào buổi tối cách đây hai hôm.
June Morris: Khi cháu gặp huấn luyện viên Terry?
Thám tử Anderson: Đúng rồi, chính là khi cháu nhìn thấy huấn luyện viên Terry.
Francine Morris: Từ hồi con bé chín tuổi, chúng tôi đã để con tự xuống phố gặp Helen, bạn thân của con bé. Miễn là vào ban ngày. Chúng tôi không phải là những bậc cha mẹ kiểm soát con cái thái quá. Chúng tôi không dạy con kiểu đó, anh có thể tin như thế.
Thám tử Anderson: Cháu đã nhìn thấy ông ấy sau bữa xế đúng không June?
June Morris: Vâng ạ. Chúng cháu ăn bánh mì kẹp thịt. Tối hôm qua, chúng cháu ăn cá. Cháu không thích cá, nhưng phải cố thôi.
Francine Morris: Con bé không phải băng qua đường hay làm bất cứ điều gì tương tự. Chúng tôi nghĩ rằng như thế ổn, vì chúng tôi sống trong một khu phố an toàn đến vậy mà. Ít nhất thì đã từng như vậy.
Thám tử Anderson: Thật khó để xác định lúc nào chúng ta nên bắt đầu buông tay con và để chúng đảm đương những trách nhiệm như thế. Giờ thì June - cháu xuống phố và trên đường đi có băng qua bãỉ đậu xe của công viên Figgis, phải không?
June Morris: Vâng. Cháu và Helen...
Prancine Morris: Helen và cháu...
June Morris: Helen và cháu cần hoàn thành bản đồ Nam Mỹ của chúng cháu. Nó là một phần của dự án cắm trại trong ngày của chúng cháu. Chúng cháu sử dụng các màu sắc khác nhau cho các quốc gia khác nhau và chúng cháu làm sắp xong rồi, nhưng lại quên Paraguay, vì vậy chúng cháu phải bắt đầu lại từ đâu. Đó cũng là hoạt động khởi đầu cho cuộc hẹn của chúng cháu. Sau đó, chúng cháu chơi Angry Birds và Corgi Hop trên iPad của Helen cho đến khi bố đến đón cháu. Bởi vì lúc đó trời nhá nhem tối rồi.
Thám tử Anderson: Lúc đó khoảng mấy giờ hả cô Morris?
Francine Morris: Tivi đang phát chương trình tin tức địa phương lúc Junie rời đi. Thường thì tôi sẽ vừa xem vừa nấu nướng. Vì vậy, thời điểm lúc đó chắc sẽ rơi vào khoảng từ sáu giờ đến sáu giờ ba mươi phút. Có thể là sáu giờ mười lăm, vì tôi nghĩ lúc đó có chương trình dự báo thời tiết.
Thám tử Anderson: Hãy kể cho bác nghe những gì cháu nhìn thấy khi đi ngang qua bãi đậu xe nào June.
June Morris: Huấn luyện viên Terry. Cháu đã bảo bác rồi đấy. Bác ấy sống ở đâu phố và có lần khi con chó của chúng cháu bị lạc, huấn luyện viên T đã tìm nó cho chúng cháu. Thi thoảng cháu có chơi với Gracie Maitland, nhưng không thân ạ. Chị ấy lớn hơn cháu một tuổi và thích chơi với con trai. Người bác ấy đầy máu. Vì mũi của bác ấy bị chảy máu.
Thám tử Anderson: Ừ, ừ. Ông ấy đang làm gì lúc đó?
June Morris: Bác ấy chui từ bụi cây ra. Bác ấy nhìn thấy cháu đang nhìn bác ấy thì vẫy tay chào. Cháu cũng vẫy tay lại và nói, "Huấn luyện viên Terry, có chuyện gì xảy ra với bác thế?" và bác ấy nói mình bị một nhành cây đập vào mặt. "Đừng sợ, đó chỉ là máu mũi thôi, thi thoảng bác vẫn bị." Và cháu đã đáp lại rằng, "Cháu không sợ, nhưng bác sẽ không thể mặc chiếc áo đó nữa, vì máu khó giặt sạch lắm, mẹ cháu bảo thế."
Bác ấy cười và nói, "Thật tốt khi bác có rất nhiều áo sơ mi." Nhưng máu cũng dính ở trên quần của bác ấy. Cả trên tay nữa.
Francỉne Morris: Con bé đã ở rất gần hắn ta. Tôi không thể ngừng nghĩ về điều đó.
June Morris: Tại sao? Vì bác ấy bị chảy máu mũi ạ? Rolf Tacobs cũng bị như thế vào năm ngoái khi cậu ấy bị ngã ở sân chơi, và con cũng không sợ. Con định đưa cho cậu ấy chiếc khăn tay của mình, nhưng cô Grisha đã đưa cậu ấy đến phòng y tế trước khi con có thể làm vậy.
Thám tử Anderson: Cháu đứng gần thế nào?
June Morris: À, cháu không biết ạ. Bác ấy ở bãi đậu xe và cháu ở trên vỉa hè. Bao xa ạ?
Thám tử Anderson: Bác cũng không biết, nhưng bác chắc chắn sẽ xác định được. Soda đó có ngon không?
June Morris: Bác hỏi rồi mà.
Thám tử Anderson: Ồ, đúng vậy, bác quên mất.
Tune Morris: Người già hay quên, ông cháu bảo vậy.
Francine Morris: Tunie, bất lịch sự quá.
Thám tử Anderson: Không sao đâu. Ông cháu quả thật thông thái, June ạ. Điều gì đã xảy ra sau đó?
June Morris: Không có gì ạ. Huấn luyện viên Terry đã lên xe của mình và lái xe đi.
Thám tử Anderson: Chiếc xe màu gì?
Tune Morris: Chà, nếu được rửa sạch sẽ thì nó sẽ có màu trắng, cháu đoán vậy, nhưng nó khá bẩn. Ngoài ra, nó còn rất ồn ào và khói xả ra xanh lè. Phù.
Thám tử Anderson: Sườn xe có chữ gì không? Giống như tên công ty chẳng hạn?
June Morris: Không. Chiếc xe trắng trơn ạ.
Thám tử Anderson: Cháu có thấy biển số xe không?
June Morris: Không ạ.
Thám tử Anderson: Chiếc xe tải đã đi theo hướng nào?
June Morris: Xuống phố Barnum ạ.
Thám tử Anderson: Và cháu có chắc người đàn ông nói với cháu rằng ông ấy đang chảy máu mũi là Terry Maitland không?
June Morris: Chắc chắn ạ, huấn luyện viên Terry, huấn luyện viên T. Cháu gặp bác ấy suốt. Bác ấy ổn chứ ạ? Bác ấy đã làm gì sai ạ? Mẹ cháu bảo cháu không được xem báo hay xem tin tức trên tivi, nhưng cháu chắc chắn rằng có điều gì đó tồi tệ đã xảy ra trong công viên. Cháu không biết liệu trường học có liên quan không, bởi vì mọi người đều phản đối. Huấn luyện viên Terry đánh nhau với kẻ xấu ạ? vì thế nên tay bác ấy dính máu...
Francine Morris: Anh sắp xong chưa, thám tử? Tôi biết anh cần thông tin, nhưng hãy nhớ rằng tôi là người phải cho con bé đi ngủ tối nay.
June Morris: Con tự ngủ mà!
Thám tử Anderson: Vâng, sắp xong rồi. Nhưng June, trước khi cháu về, bác cháu mình sẽ chơi một trò chơi nhỏ nhé. Cháu có thích chơi trò chơi không?
June Morris: Cháu nghĩ là có nếu chúng không nhàm chán.
Thám tử Anderson: Bác sẽ đặt sáu bức ảnh của sáu người khác nhau lên bàn... như thế này... và họ đều trông hơi giống huấn luyện viên Terry. Bác muốn cháu cho bác biết...
June Morris: Cái đó. Số bốn. Đó là huấn luyện viên Terry.
❊ 7 ❊
Troy Ramage mở cửa sau của chiếc xe không dấu hiệu, từ đó Terry nhìn qua vai mình và thấy Marcy ở phía sau họ, đang đứng sững ở rìa bãi đậu xe, hướng ánh mắt hoang mang tột độ về phía họ. Phía sau cô là nhiếp ảnh gia của tờ Call , vừa chạy qua bãi cỏ vừa chụp ảnh. Những thứ đó sẽ chẳng đáng giá một xu nào , Terry nghĩ, với một mức độ hài lòng nhất định. Hướng về phía Marcy, anh hét lên, “Gọi cho Howie Gold! Nói với ông ấy rằng anh bị bắt! Nói với ông...”
Ngay sau đó, Yates đặt tay lên đầu Terry, đẩy anh cúi thấp xuống và vào trong xe. “Nhích vào, nhích vào đi nào. Và để tay trên đùi khi tôi thắt dây an toàn cho anh.”
Terry nhích vào. Anh để tay lên đùi. Qua kính chắn gió, anh có thể nhìn thấy bảng điểm điện tử lớn của sân bóng. Vợ anh đã vân động gây quỹ để làm nó từ hai năm trước đó. Cô đang đứng đó, và anh sẽ không bao giờ quên biểu cảm trên gương mặt cô. Đó là gương mặt của một người đàn bà nghèo đang đứng nhìn ngôi làng của mình chìm trong biển lửa.
Sau đó, Ramage ngồi vào sau tay lái, Ralph Anderson ngồi trên ghế hành khách, và thậm chí trước khi Ralph kịp đóng cửa, chiếc xe đã được lùi ra khỏi chỗ đỗ dành cho người khuyết tật với tiếng lốp xe rít lên. Ramage cua gẩp, xoay bánh lái bằng chót bàn tay, sau đó rẽ vào hướng Đại lộ Tinsley. Xe không có đèn hiệu lớn, chỉ có một chụp đèn màu xanh lam được gắn vào bảng điều khiển bắt đầu lắc lư và nhấp nháy. Terry nhân thấy trong xe có mùi đồ ăn Mexico. Thật kỳ lạ khi đó lại là những điều bạn nhận ra khi ngày của bạn - cuộc sống của bạn — đột nhiên bị đẩy đến một rìa vực mà bạn thâm chí không biết là có tồn tại. Anh nghiêng người về phía trước.
“Ralph, hãy nghe tôi nói này.”
Ralph hướng ánh mắt thẳng về phía trước. Hai tay anh nắm chặt vào nhau. “Anh có thể nói tất cả những gì anh muốn nói ở sở.”
“Chết tiệt, hãy để anh ta nói gì đó,” Ramage nói. “Giết thời gian thôi mà.”
“Im đi, Troy,” Ralph nói. Đôi mắt vẫn dõi theo con đường phía trước. Terry có thể thấy hai đường gần nổi lên sau gáy anh ta, tạo thành số 11.
“Ralph, tôi không biết điều gì đã kéo anh đến đây, hay tại sao anh lại muốn bắt tôi trước mặt người dần cả nửa thị trấn, nhưng anh lầm đường rồi.”
“Ai cũng mồm mép thế cả,” Tom Yates buông lời nhận xét từ bên cạnh với giọng thoảng như gió. “Hãy để tay lên đùi, Maitland. Kể cả ngoáy mũi cũng không được phép.”
Giờ đầu óc của Terry đã sáng rỡ hơn - không nhiều, chỉ là một chút thôi - và anh đã cần thân làm theo lời của sĩ quan Yates (tên của anh ta được gắn trên áo đồng phục). Yates trông như thể muốn có cớ để thọi cho nghi phạm của mình một cú, dù hắn bị còng hoặc không.
Ai đó đã ăn enchiladas trong chiếc xe này, Terry chắc chắn điều đó. Có lẽ là được mua từ Senor Joe’s. Đó là món khoái khẩu của hai con gái anh, chúng đã luôn cười đùa rất nhiều trong bữa ăn - quái quỷ, tất cả đều đã cười - và buộc tội nhau đánh rắm trên đường về nhà. “Hãy nghe tôi nói này, Ralph. Làm ơn.”
Anh thở dài. “Được rồi, tôi đang nghe đây.”
“Tất cả chúng tôi đều đang nghe đây,” Ramage nói. “Banh tai ra nào, các anh bạn, banh tai ra.”
“Frank Peterson đã bị giết vào thứ Ba. Chiều thứ Ba. Đó là những gì báo chí và bản tin đã đưa. Tôi đã ở thành phố Cap vào thứ Ba, tối thứ Ba và gần như cả ngày thứ Tư. Mãi đến chín giờ hoặc chín giờ ba mươi đêm thứ Tư tôi mới về. Gavin Frick, Barry Houlihan và Lukesh Patel - bố cha của Baibir - đã luyện tập cho đám trẻ trong cả hai ngày đó.”
Trong một khoảnh khắc, sự yên lặng bao trùm khắp xe, thậm chí đến tiếng radio cũng im lìm. Terry đã có một khoảnh khắc vàng mà anh tin - vâng, tin tuyệt đối - rằng tiếp đó Ralph sẽ bảo viên cảnh sát to con ngồi sau tay lái tấp vào lề. Rồi anh sẽ quay sang Terry với đôi mắt mở to, vừa xấu hổ vừa nói, Ôi Chúa ơi, chúng tôi thật là ngốc nghếch phải không?
Thế nhưng anh vẫn không quay đầu lại, Ralph chỉ nói, “À, còn đi kèm chứng cứ ngoại phạm chắc nịch nữa chứ.”
“Gì? Tôi không hiểu anh.
“Anh là một gã thông minh, Terry. Tôi đã biết điều đó ngay từ lần đầu tiên gặp anh, khi anh huấn luyện Derek ở Little League. Nếu anh không thú tội - điều mà tôi hy vọng nhưng không quá kỳ vọng - tôi khá chắc rằng anh sẽ đưa ra một số chứng chứ ngoại phạm.” Cuối cùng thì anh cũng chịu quay lại, và Terry nhìn thấy một khuôn mặt hoàn toàn xa lạ. “Tôi chắc chắn rằng chúng tôi sẽ bác bỏ được nó. Chúng tôi bắt anh vì tội danh này mà. Chúng tôi chắc chắn sẽ làm được.”
“Anh đã làm gì ở thành phố Cap, hả vị huấn luyện viên đáng mến?” Yates hỏi, và ngay lập tức người đàn ông đã bảo Terry đừng có ngoáy mũi với vẻ thân thiện, tỏ ra thích thú. Terry suýt nói với anh ta những việc anh làm ở đó nhưng rồi lại thôi. Anh bắt đầu suy nghĩ thay vi bốc đồng phản ứng, và anh nhận ra chiếc xe này, với thứ mùi nồng nồng khó phai của enchiladas , là lãnh địa của kẻ thù. Đã đến lúc anh nên im lặng cho đến khi Howie Gold đến. Hai người họ có thể giải quyết mớ hỗn độn này cùng nhau. Sẽ không mất nhiều thời gian đâu.
Anh cũng nhận ra một điều gì đó khác nữa. Anh tức giận, có lẽ là tức giận hơn bao giờ hết trong đời, và khi họ rẽ vào Phố Main để hướng về phía sở cảnh sát thành phố Flint, anh đã tự hứa với mình: mùa thu này hoặc có thể sớm hơn, gã đàn ông ngồi ở ghế trước, kẻ mà anh từng coi là bạn, sẽ phải đi tìm một công việc mới. Có thể là nhân viên bảo vệ ngân hàng ở Tulsa hoặc Amarillo.
❊ 8 ❊
Lời khai của Carlton Scowcroft [ngày 12 tháng 7, 9 giờ 30 phút tối, do thám tử Ralph Anderson thẩm vấn]
Scowcroft: việc này có mất nhiều thời gian không, thám tử? Vì tôi thường đi ngủ sớm. Tôi làm bảo trì đường sắt, và nếu không đến trước bảy giờ, tôi sẽ gặp rắc rối to.
Thám tử Anderson: Tôi sẽ cố nhanh nhất có thể, anh Scowcroft, nhưng đây là chuyện rất nghiêm trọng.
Scowcroft: Tôi biết. Và tôi sẽ cố hết sức. Chỉ có điều, tôi không có gì nhiều để nói với anh và tôi muốn về nhà. Dù không biết tôi có ngủ ngon được không. Tôi đã không quay lại sở cảnh sát này kể từ sau một bữa rượu say túy lúy hồi mười bảy tuổi. Khi đó, charlie Borton còn là cảnh sát trưởng ở đây. Bố chúng tôi đã bảo lãnh cho chúng tôi ra ngoài; nhưng tôi đã bị cấm túc suốt mùa hè.
Thám tử Anderson: Chà, chúng tôi rất cảm kích khi anh đến đây. Hãy cho tôi biết anh đã ở đâu vào lúc bảy giờ tối mùng 10 tháng 7.
Scowcroft: Như tôi đã nói với sĩ quan trực quầy ở cửa, tôi đã ở quán nhậu Shorty's, tôi đã nhìn thấy chiếc xe van màu trắng đó, cả anh chàng huấn luyện viên bóng chày và Pop Warner ở West Side. Tôi không nhớ tên anh ta, nhưng ảnh anh ta chình ình trên báo chí suốt vì năm nay anh ta có một đội bóng chơi quá hay ở City League. Báo chí dự đoán họ có thể giành chức võ địch. Moreland là tên của anh ta phải không? Người anh ta be bét máu.
Thám tử Anderson: Sao anh lại tình cờ gặp anh ta thế?
Scowcroft: Chà, vợ con thì chẳng có mà tôi cũng chẳng thích nấu cơm nhà, vì thể cứ hễ tan sở là tôi la cà, anh hiểu ý tôi chứ. Thứ Hai và thứ Tư thì đến Flint City Diner. Thứ Sáu ở Bonanza Steakhouse. Còn thứ Ba và thứ Năm, tôi thường đến Shorty's để nhắm bia với sườn. Thứ Ba đó, tôi đến Shorty's, à chừng sáu giờ mười lăm. Giờ đó thằng nhóc đã chết được một lúc lâu rồi, phải không?
Thám tử Anderson: Nhưng khoảng bảy giờ, anh đã ra phía sau phải không? Ra sau Shorty's ấy.
Scowcroft: Vâng, tôi và Riley Franklin. Tôi tình cờ gặp anh ta ở đó nên ăn cùng luôn. Phía sau là chỗ hút thuốc. Có một thùng tàn thuốc ở đó và mọi thứ ở cuối hành lang giữa các phòng vệ sinh và cửa thoát hiểm. Vì vậy, chúng tôi đã ăn - tôi ăn sườn, còn anh ta ăn nuỉ sốt phô mai - rồi gọi món tráng miệng, sau đó ra ngoài để hút thuốc trước khi chiếc xe đến. Khi chúng tôi đang đứng đó làm vài hơi thì chiếc xe van màu trắng bẩn thiu đó lượn vào. Nó có biển New York, tôi nhớ chắc luôn. Nó đậu bên cạnh một chiếc wagon Subaru nhỏ - tôi nghĩ đó là một chiếc Subaru - và anh ta bước ra. Moreland hay gì đó.
Thám tử Anderson: Anh ta mặc gì vậy?
Scowcroft: Chà, tôi không chắc về chiếc quần - Riley có thể nhớ đấy, có thể là quần chinos - nhưng sơ mi trắng. Tôi nhớ rõ vì có một ít máu ở phía trước ngực. Không có quá nhiều máu trên quần, chỉ lầm tấm vài giọt thôi. Trên mặt anh ta cũng lầm máu. Dưới mũi, quanh miệng, trên cằm. Trời đất, máu me be bét luôn. Vì vậy, Riley - tôi nghĩ anh ta chắc hẳn đã uống vài cốc bia trước khi tôi đến, nhưng tôi chỉ uống một cốc - Riley đã nói, "Gã kia trông thế nào hả, huấn luyện viên T?”
Thám tử Anderson: Anh ta gọi hắn là huấn luyện viên T.
Scowcroft: Chắc chắn rồi. Và anh chàng huấn luyện viên cười rồi nói, "Làm gì có gã nào. Có cái quái gì đó đã bò vào mũi tôi, thế thôi, và máu chảy ồng ộc. Có phòng khám tư nào quanh đây không nhi?"
Thám tử Anderson: Ý anh ta là một cơ sở y tế như MedNOW hoặc Quick Care à?
Scowcroft: Ý anh ta là thế, vì anh ta muốn xem có gì trong mũi không. Anh ta bảo mình từng bị như thế một lần rồi. Tôi bảo anh ta xuôi xuống Burríield chừng hơn một cây số, rẽ trái ở chỗ đèn giao thông thứ hai, thì sẽ thấy một biển quảng cáo. Anh biết biển quảng cáo của Coney Ford chứ? Nó sẽ cho anh biết anh sẽ phải đợi bao lâu và mọi thông tin cần thiết. Sau đó, anh ta hỏi liệu anh ta có thể để chiếc xe van của mình ở chỗ đậu xe nhỏ phía sau quán rượu, nơi không dành cho khách hàng mà dành cho nhân viên như tấm biển ở mặt sau của tòa nhà cho biết không. Và tôi bảo, "Đó không phải là chỗ của tôi, nhưng nếu anh không để quá lâu thì được mà." Sau đó, anh ta nói sẽ để chìa khóa trong ngăn đựng cốc đề phòng ai đó muốn di chuyển nó đi chỗ khác - và điều đó khiến cả hai chúng tôi đều cảm thấy kỳ lạ. Riley nói, "Thế thì khác nào mỡ treo miệng mèo, huấn luyện viên T." Nhưng anh ta lại nói rằng anh ta sẽ không đi lâu đâu và làm vậy chỉ để phòng hờ ai đó muốn dịch nó ra chỗ khác. Anh biết tôi nghĩ gì không? Tôi nghĩ có lẽ anh ta muốn ai đó lấy trộm nó, thậm chí có thể là tôi hoặc Riley. Anh có nghĩ như vậy không, thám tử?
Thám tử Anderson: Chuyện gì đã xảy ra sau đó?
Scowcroft: Anh ta đã leo lên chiếc Subaru nhỏ màu xanh lá cây cạnh đó, và lái đi. Điều đó cũng khiến tôi thấy kỳ lạ.
Thám tử Anderson: Kỳ lạ gì cơ?
Scowcroft: Anh ta hỏi liệu anh ta có thể để chiếc xe van của mình ở đó một lúc không - giống như anh ta biết chắc nó có thể bị kéo đi, hay gì đó - nhưng xe của anh ta vẫn ở đó, an toàn. Kỳ lạ phải không?
Thám tử Anderson: Anh Scowcroft, tôi sẽ đặt ra đây sáu bức ảnh của sáu người đàn ông khác nhau và tôi muốn anh chọn ra người đàn ông mà ông đã thấy ở đằng sau Shorty's. Họ đều trông khá giống nhau, vì vậy tôi muốn ông nghĩ kỹ. Anh có thể giúp tôi không?
Scowcroft: Chắc chắn rồi, nhưng cần gì phải nghĩ kỹ. Anh ta đây này. Moreland, hoặc bất kể tên của anh ta là gì. Tôi có thể về nhà bây giờ chứ?
❊ 9 ❊
Không ai trên chiếc xe không dâu hiệu nói bất cứ điều gì nữa cho đến khi họ rẽ vào bãi đậu xe của sở và dừng ở một trong những chỗ được đánh dấu CHỈ DÀNH CHO XE CỦA SĨ QUAN. Sau đó, Ralph quay sang dò xét người đàn ông từng huấn luyện con trai mình. Chiếc mũ đồng phục đội Rồng Vàng mà Terry Maitland đang đội hơi xộc xệch. Chiếc áo phông của đội bị sổ khỏi quần ở một bên, và khuôn mặt hắn lầm tấm mồ hôi. Trong khoảnh khắc đó, hắn trông đến tội. Ngoại trừ đôi mắt của hắn, thứ đã chạm vào ánh mắt lạnh như băng của Ralph. Chúng mở to và âm thầm buộc tội.
Ralph không thể cưỡng lại mong muốn đặt ra một câu hỏi. “Tại sao lại là cậu nhóc đó, Terry? Tại sao lại là Frankie Peterson? Cậu bé có thuộc đội Lions Little League năm nay không? Anh có để mắt đến nó lâu rồi không? Hay chỉ tình cờ phạm tội?”
Terry định mở miệng để nhắc lại lời phủ nhận của mình, nhưng làm thế thì được gì cơ chứ? Ralph sẽ không chịu nghe, ít nhất là chưa. Không ai trong số họ có ý làm vây. Tốt hơn là nên chờ đợi. Việc đó thật khó, nhưng suy cho cùng như thế sẽ giúp tiết kiệm thời gian.
“Thôi nào,” Ralph nói. Anh nói nhẹ nhàng kiểu tâm tình. “Lúc trước anh muốn nói chuyện, giờ thì nói đi. Nói với tôi nào. Hãy giải thích cho tôi hiểu. Ngay tại đây, trước khi chúng ta ra khỏi chiếc xe này.”
“Tôi nghĩ tôi sẽ đợi luật sư,” Terry nói.
“Nếu anh vô tội,” Yates nói, “anh cần gì luật sư. Hãy nhớ lấy điều này, nếu có thể. Chúng tôi thâm chí có thể đưa anh về nhà.”
Vẫn nhìn thẳng vào mắt Ralph Anderson, Terry nói gần như thì thầm. “Anh đã hành động quá bất cần. Anh thậm chí còn chẳng kiểm tra xem tôi đã ở đâu vào thứ Ba, phải không? Tôi cũng chẳng mong anh làm vậy đâu.” Anh dừng lại, như thể đang suy nghĩ, rồi nói: “Thằng tồi."
Ralph không định nói với Terry rằng anh đã thảo luận điều đó với Samuels, nhưng cũng chẳng kiểm chế được lầu. Thị trấn này nhỏ như lòng bàn tay. Họ không muốn đặt ra những câu hỏi mà sau này có thể có lợi cho Maitland. “Đây là một vụ hiếm gặp mà chúng tôi chẳng cần kiểm tra.” Ralph mở cửa. “Thôi nào. Hãy điền thông tin, lấy vân tay rồi chụp ảnh trước khi luật sư của anh...”
“Terry! Terry?
Thay vì nghe theo lời khuyên của Ralph, Marcy Maitland đã đi theo xe cảnh sát từ sân bóng bằng chiếc Toyota của cô. Jamie Mattingly, một người hàng xóm, đã nhận lời đưa Sarah và Grace về nhà cô ấy. Cả hai đứa trẻ đều khóc lóc. Jamie cũng vậy.
“Terry, họ đang làm gì vậy? Em nên làm gì đây?”
Anh lắc người theo quán tính để thoát khỏi tay Yates. “Gọi cho Howie!”
Đó là tất cả những gì anh có thời gian để nói. Ramage mở cánh cửa với tấm biển CHỈ DÀNH CHO NHÂN VIÊN CẢNH SÁT và Yates đặt một bàn tay vào giữa lưng Terry rồi đẩy anh vào trong, một hành động không mấy nhẹ nhàng.
Ralph nán lại một lúc, giữ cửa. “Về nhà đi, Marcy,” anh nói. “Đi trước khi cánh báo chí đến đây.” Anh suýt nói Tôi rất lấy làm tiếc về điều này , nhưng đã kịp kiềm lại. Vì anh không cảm thấy như vậy. Betsy Riggins và Cảnh sát Tiểu bang hẳn đang đợi cô, nhưng đó vẫn là điều tốt nhất cô có thể làm. Thực ra thì đó là điều duy nhất. Và có lẽ anh nợ cô. Vì hai đứa trẻ, chắc chắn - chúng vô can trong tất cả chuyện này - nhưng cũng có thể vì...
Anh đã hành động quá bất cẩn. Tôi cũng chẳng mong chờ điều đó ở anh đâu.
Không lý gì mà Ralph lại cảm thấy tội lỗi trước sự trách móc của kẻ đã cưỡng hiếp và sát hại một đứa trẻ, nhưng trong một khoảnh khắc dù ngắn ngủi anh vẫn cảm thấy như vậy. Sau đó, anh nghĩ đến những bức ảnh chụp hiện trường vụ án, những bức ảnh kinh khủng đến mức anh ước gì mình bị mù. Anh nghĩ đến nhành cây thò ra khỏi trực tràng của cậu bé. Anh nghĩ đến vết máu trên đoạn cành cây nhẵn thín. Nhẵn vì bàn tay để lại dấu tay đã ấn nó mạnh tới mức trầy hết cả vỏ.
Bill Samuels đã đưa ra hai luận điểm đơn giản. Ralph đã đồng ý, thẩm phán Carter, người mà Samuels đã đến xin các lệnh khác nhau, cũng vậy. Trước tiên, đó là một cú đánh úp ngoạn mục. Họ không phải chờ đến khi có được mọi thứ cần thiết. Thứ hai, nếu cho Terry thời gian để hắn cao chạy xa bay thì sau đó họ sẽ phải vắt chần lên cổ mà tìm cho ra hắn trước khi hắn tìm thấy một Frank Peterson khác để cưỡng hiếp và giết hại.
❊ 10 ❊
Lời khai của Riley Franklin [ngày 13 tháng 7, lúc 7giờ 45 phút sáng, do thám tử Ralph Anderson thẩm vấn]
Thám tử Anderson: Tôi sẽ cho anh xem sáu bức ảnh của sáu người đàn ông khác nhau, anh Franklin, và tôi muốn anh chọn ra người đàn ông mà anh đã gặp ở sau quán nhậu Shorty's vào tối mùng 10 tháng 7. Hãy nghĩ thật kỹ.
Franklin: Không cần đâu. Đó là người này. Số hai. Đó là huấn luyện viên T. Tôi không thể tin được. Anh ta đã huấn luyện con trai tôi ở Little League.
Thám tử Anderson: Anh ta cũng huấn luyện con tôi. Cảm ơn anh, anh Franklin.
Franklin: Anh ta xứng đáng bị tử hình. Họ phải treo cổ anh ta bằng dây thừng để anh ta được trải nghiệm cái chết từ từ.
❊ 11 ❊
Marcy tấp xe vào bãi đậu của Burger King trên Đại lộ Tinsley, và lấy điện thoại di động ra khỏi túi. Tay cô run lên, khiến chiếc điện thoại trượt khỏi tay và rơi xuống sàn. Cô cúi xuống để nhặt, trán đập vào vô lăng và lại bắt đầu nấc lên nghẹn ngào. Cô lần tìm trong danh bạ số của Howie Gold - không phải vì nhà Maitland có lý do để lưu số của một luật sư ở mục quay số nhanh, mà là vì Howie đã huấn luyện đội Pop Warner cùng Terry trong hai mùa trước. Ông bắt máy ở hồi chuông thứ hai.
“Howie? Marcy Maitland đây. Vợ của Terry?” Như thể họ đã không ăn tối cùng nhau mỗi tháng hoặc hơn kể từ năm 2016.
“Marcy? Cô đang khóc à? Chuyện gì thế?”
Cô khóc nấc lên đến nỗi không thể nói lên lời.
“Marcy? Cô vẫn ở đó chứ? Cô bị tai nạn hay sao vậy?”
“Tôi đây. Không phải tôi, là Terry. Họ đã bắt Terry. Ralph Anderson đã bắt Terry. Vì tội sát hại cậu bé đó. Họ bảo thế. Vì tội sát hại cậu bé nhà Peterson.”
“ Gì? Cô đang đùa tôi à?”
“Anh ấy thậm chí còn không ở thị trấn trong thời gian đó!” Marcy nghiến răng. Cô nghe thấy chính mình đang làm điều đó, thấy mình giống hệt một thiếu niên đang nổi cơn thịnh nộ, nhưng không thể dừng được. “Họ đã bắt anh ấy, và họ nói cảnh sát đang đợi tôi ở nhà!”
“Sarah và Grace đang ở đâu?”
“Tôi đã gửi chúng cho Jamie Mattingly, ở phố bên. Chúng sẽ ổn thôi.” Dù sau khi nhìn thấy bố chúng bị bắt và bị còng tay, làm sao chúng ổn được cơ chứ?
Cô xoa trán, tự hỏi liệu vô lăng có để lại vết không, tự hỏi tại sao cô lại quan tâm đến chuyện đó chứ. Vì có thể có đám báo chí đã chờ sẵn ở đó rồi? Và nếu thế, họ có thể thấy vết này và nghĩ Terry đã đánh cô?
“Howie, ông sẽ giúp tôi chứ? Ông sẽ giúp chúng tôi chứ?”
“Tất nhiên rồi. Họ đưa Terry về đồn à?”
“Vâng! Bị còng tay đưa đi!”
“Được rồi. Tôi đến ngay đây. Về nhà đi, Marce. Xem cảnh sát muốn gì. Nếu họ có lệnh khám xét - hẳn đó là lý do tại sao họ ở đó, tôi không thể nghĩ ra gì khác - hãy đọc nó, xem họ định làm gì, cho họ vào, nhưng đừng nói bất cứ điều gì nhé. Cô hiểu ý tôi chứ? Đừng nói gì cả.”
“Tôi... Vâng.”
“Cậu bé nhà Peterson đã bị sát hại vào thứ Ba tuần trước, tôi nghĩ vậy. Chờ đã...” Có tiếng nói nhỏ ở phía sau, đầu tiên là Howie, tiếp theo là một người phụ nữ, có lẽ là vợ của Howie, Elaine. Sau đó Howie trở lại. “Đúng, hôm đó là thứ Ba. Terry đã ở đâu vào thứ Ba?”
“Thành phố Cap! Anh ấy đã đi...”
“Đừng bận tâm đến điều đó lúc này. Cảnh sát có thể hỏi cô về điều đó. Họ có thể hỏi cô đủ thứ. Hãy bảo họ rằng cô sẽ im lặng chờ luật sư của mình. Cô hiểu rồi chứ?”
“V-Vâng.”
“Đừng để họ dụ dỗ, ép buộc hoặc mồi chài cô. Họ giỏi cả ba việc đó.”
“Được rồi. Được rồi, tôi sẽ không nói gì cả.”
“Cô đang ở chỗ nào?”
Cô biết, cô đã nhìn thấy biển báo nhưng phải nhìn lại lần nữa cho chắc. “Burger King. Trên đường Tinsley. Tôi tấp vào lề để gọi cho ông.”
“Cô lái xe được không?”
Cô suýt nói với ông ấy rằng cô vừa bị cụng đầu, nhưng đã không làm vậy. “Được.”
“Hít thở sâu. Đếm đến ba. Sau đó lái xe về nhà. Nhớ để ý tốc độ, biển báo ở mọi ngã rẽ. Terry có máy tính không?”
“Chắc chắn rồi. Trong phòng làm việc của anh ấy. Thêm một chiếc iPad, dù anh ấy không sử dụng nó nhiều. Và cả hai chúng tôi đều có máy tính xách tay. Các con tôi có iPad Mini riêng. Và điện thoại, tất nhiên, tất cả chúng tôi đều có điện thoại. Grace vừa được tặng một chiếc vào sinh nhật ba tháng trước.”
“Họ sẽ cho cô xem danh sách những thứ họ muốn lấy đi”.
“Họ thực sự sẽ làm thế sao?” Cô không rên rỉ nữa, nhưng nghe vẫn gần như vậy. “Cứ thế lấy đồ của chúng tôi ư? Như hàng chùa à?”
“Họ có thể lấy những gì mà lệnh cho phép, nhưng tôi muốn cô có danh sách của riêng mình. Các bé có mang theo điện thoại không?”
“Ông đang giỡn hả? Chúng lúc nào chẳng dính vào điện thoại.”
“Được rồi. Cảnh sát có thể muốn thu điện thoại của cô. Hãy từ chối.”
“Nếu họ cứ lấy thì sao?” Và việc đó quan trọng không? Thực sự quan trọng?
“Họ sẽ không làm vậy đâu. Nếu cô không làm gì có tội thì họ không thể. Đi ngay bây giờ đi. Tôi sẽ đến ngay thôi. Chúng ta sẽ giải quyết vấn đề này, tôi hứa với cô.”
“Cảm ơn, Howie.” Cô lại bắt đầu khóc. “Cảm ơn ông rất, rất nhiều.”
“Không có gì. Và hãy nhớ: giới hạn tốc độ, dừng đèn đỏ, và xi nhan khi rẽ. Hiểu rồi chứ?”
“Vâng.”
“Tôi đến sở ngay đây.” Và ông ngắt điện thoại.
Marcy nổ máy, sau đó lùi ra khỏi điểm đỗ. Cô hít một hơi sâu. Sau đó hai. Rồi ba. Đây là một cơn ác mộng, nhưng ít nhất nó sẽ là một cơn ác mộng ngắn ngủi. Anh ấy đã ở thành phố Cap. Họ sẽ biết điều đó và họ sẽ để anh ấy về.
“Sau đó,” cô lẩm bẩm một mình trong xe (nó có vẻ quá trống trải khi vắng hai đứa trẻ luôn khúc khích và tranh cãi ở hàng ghế sau), “chúng ta sẽ kiện bọn chúng tới cùng.”
Điều đó xốc cô ngồi thẳng dậy và tỉnh táo trở lại. Cô lái xe về nhà ở đường Barnum Court, đảm bảo tốc độ cho phép và dừng ở mọi biển báo dừng.
❊ 12 ❊
Lời khai của George Czemy, [ngày 15 thầng 7, 8 giờ 15 phút sáng, do sĩ quan Ronald Wilberforce thẩm vấn]
Sĩ quan Wilberforce: Cảm ơn anh đã đến đây, Czerny...
Czerny: Anh nên đọc là "Zurny". C-Z-E-R-N-Y. Chữ C câm.
Sĩ quan Wilberforce: À vâng, cảm ơn anh, tôi sẽ ghi nhớ điều đó. Thám tử Ralph Anderson cũng muốn nói chuyện với anh, nhưng giờ anh ấy đang bận thực hiện một cuộc thẩm vấn khác nên đã nhờ tôi thu thập thông tin cơ bản phòng khi anh quên.
Czerny: Anh sẽ kéo chiếc xe đó đúng không? Chiếc Subaru đó? Anh phải tạm giữ nó để không ai có thể làm hỏng bằng chứng. Có rất nhiều bằng chứng, tôi có thể khẳng định với anh như vậy.
Sĩ quan Wilberforce: Nó sẽ được lo chu toàn trong lúc chúng ta trò chuyện, anh yên tâm. Sáng nay anh đi câu cá à?
Czerny: Chà, tôi định thế nhưng hóa ra dây câu còn chưa kịp ướt. Tôi rời nhà từ sớm, đến đoạn mà họ gọi là cầu sắt. Anh biết không, cái cầu trên đường Old Forge ấy?
Sĩ quan Wilberforce: Vâng.
Czerny: Đó là mỏ cá da trơn đấy. Nhiều người không thích câu cá này vì chúng thật xấu xí - chưa kể đến chuyện thỉ thoảng chúng sẽ cắn anh khi anh gỡ chúng ra khỏi lưỡi câu - nhưng vợ tôi làm món cá tầm muối rán với sốt chanh ngon cực kỳ. Anh biết đấy, bí quyết nằm ở ở nước sốt chanh. Và anh phải sử dụng một cái chảo gang. Cái mà mẹ tôi thường gọi là con nhện.
Sĩ quan Wilberforce: Vậy là anh đã đậu xe ở chân cầu...
Czerny: Đúng rồi, nhưng ở ngoài đường cao tốc. Có một chiếc thuyền cũ đậu ở dưới đó. Một người nào đó đã mua mảnh đất chỗ nó đậu từ vài năm trước và dựng một hàng rào thép với các biển báo CẤM VÀO trên đó. Tuy nhiên, họ chưa xây dựng cái gì ở đó cả. Vài mẫu đất chỉ để cỏ dại mọc, và một nửa bãi ngập trong nước. Tôi luôn đậu xe trên con đường nhỏ dẫn xuống hàng rào dây thép đó. Sáng nay cũng thế, và tôi thấy gì nhỉ? Hàng rào bị đổ và có một chiếc ô tô nhỏ màu xanh lục đậu sát mép chiếc thuyền nằm đó, gần mặt nước đến nỗi lốp trước ngập một nửa trong bùn. Vì vậy, tôi đã xuống đó, vì tôi đoán hẳn là có gã nào đó đã say bí ti ở quán bar thoát y vào đêm hôm trước, rồi mất lái lao xuống đây. Có thể anh ta vẫn còn ở bên trong xe, trong tình trạng bất tỉnh nhân sự.
Sĩ quan Wilberforce: Quán bar thoát y, ý anh là Gentlemen, Please * ở ven thành phố á?
Xin mời các quý ông
Czerny: Vâng. Vâng. Đàn ông đến đó, họ nốc no bia rượu, nhét các tờ một đô và năm đô vào quần lót của đám gái nhảy cho đến khi chúng rách bươm, rồi lái xe về nhà trong tình trạng say xỉn. Tôi không thể hiểu nổi những nơi như thế thì có gì hấp dẫn chứ.
Sĩ quan Wilberforce: Ừmm... Vậy là anh đã đi xuống và xem xét chiếc xe.
Czerny: Đó là một chiếc Subaru nhỏ màu xanh lá cây. Không có ai trong đó, nhưng có một bộ quần áo dính máu vứt trên ghế hành khách, và tôi nghĩ ngay đến cậu bé đã bị sát hại, vì tin tức cho biết cảnh sát đang truy lùng một chiếc Subaru màu xanh có liên quan đến vụ án.
Sĩ quan Wilberforce: Anh có thấy gì khác không?
Czerny: Giày thể thao. Trên sàn, chỗ để chân bên ghế hành khách. Chúng cũng bết máu.
Sĩ quan Wilberforce: Anh có chạm vào bất cứ thứ gì không? Thử mở cửa chẳng hạn?
Czerny: Không, vợ chồng tôi không bao giờ bỏ lỡ tập nào trong chương trình CSI khi nó được phát sóng.
Sĩ quan Wilberforce: Thế anh đã làm gì?
Czerny: Gọi 911.
❊ 13 ❊
Terry Maitland ngồi trong phòng thẩm vấn và chờ đợi. Còng tay đã được tháo ra để luật sư của anh không làm ẩm lên khi đến đây - điều sẽ sớm xảy ra thôi. Ralph Anderson đứng trong tư thế nghỉ diễu hành, hai tay chắp sau lưng, nhìn vị huấn luyện viên cũ của con trai mình qua tấm kính một chiều. Anh đã cử Yates và Ramage đi lo việc của họ. Anh đã nói chuyện với Betsy Riggins, và biết vợ Terry vẫn chưa về nhà. Vụ bắt giữ đã xong xuôi, máu nóng trong người anh cũng dịu đi một chút, nhưng Ralph lại cảm thấy bất an về tốc độ mà mọi việc đang diễn ra. Không có gì ngạc nhiên khi Terry đưa ra chứng cứ ngoại phạm, và chắc chắn nó sẽ được chứng minh là không đủ thuyết phục, nhưng...
“Chào Ralph.” Bill Samuels vội vàng bước vào, tay lắc chiếc cà vạt cho thẳng thớm hơn. Mái tóc đen nhánh được cắt ngắn, nhưng một chỏm bò liếm dựng đứng phía sau khiến anh ta trông trẻ trung hơn bao giờ hết. Ralph biết Samuels đã khởi tố gần chục vụ án giết người nghiêm trọng, tất cả đều thành công, với hai sát nhân bị kết án (anh gọi chúng là “những cậu bé” của mình) sắp bị tử hình tại McAlester. Tốt thôi, chẳng có gì sai khi có một thần đồng nhí trong đội của bạn, nhưng tối nay ủy viên công tố quận của Hạt Flint không khác gì một Alfalfa kỳ lạ trong loạt phim ngắn Little Rascals.
“Xin chào, Bill.”
“Vậy là hắn đã được đưa về đây,” Samuels nói, nhìn Terry. “Dẫu vậy tôi không muốn thấy hắn mặc chiếc áo đấu và đội chiếc mũ đồng phục của đội Rồng. Tôi sẽ rất vui khi hắn tươm tất trong bộ quần áo nâu của hạt. Thậm chí còn hạnh phúc hơn nữa khi hắn yên vị trong phòng giam cách chiếc bàn ngàn thu* sáu mét.”
Ý chỉ nơi thực hiện hành vi tiêm thuốc độc cho tử tù.
Ralph không nói gì. Anh đang nghĩ đến Marcy, đứng ở rìa bãi đậu xe của cảnh sát như một đứa trẻ lạc đường, siết chặt hai tay và nhìn Ralph chằm chằm như thể anh là một người hoàn toàn xa lạ. Hay một ông kẹ. Ngoại trừ việc chính chồng cô mới là ông kẹ.
Như thể đọc được suy nghĩ của anh, Samuels hỏi, “Trông hắn không giống một con quái vật nhỉ?”
“Hiếm lắm.”
Samuels thò tay vào túi áo khoác thể thao và móc ra vài tờ giấy gấp. Một là bản sao dấu vân tay của Terry Maitland, được lấy từ hồ sơ của hắn tại trường trung học Thành phố Flint. Tất cả các giáo viên mới đều phải lấy dấu vân tay trước khi họ được đứng lớp. Hai tờ còn lại được chuyển đến từ BỘ PHẬN HÌNH SỰ BANG. Samuels giơ chúng lên và lắc. “Mới nhất và quan trọng nhất.”
“Từ Subaru à?”
“Đúng thế. Cảnh sát bang đã tìm thấy hơn bảy mươi dấu vân tay và năm mươi bảy trong số đó là của Maitland. Theo như kỹ thuật viên thực hiện đối chiếu, những dấu khác nhỏ hơn nhiều, có thể là của người phụ nữ ở thành phố Cap, người đã báo cáo bị mất cắp xe hai tuần trước. Tên cô ấy là Barbara Nearing. Các dấu tay của cô ấy lâu rồi, vì thế cô ấy có thể không liên quan gì đến vụ giết hại Peterson.”
“Được rồi, nhưng chúng ta vẫn cần ADN. Hắn từ chối cung cấp gạc nước bọt.” Ở bang này, không giống như dấu vân tay, lấy gạc nước bọt để xác định ADN được coi là hành vi xầm phạm.
“Anh biết rõ là chúng ta cần cóc gì chúng. Riggins và các nhân viên cảnh sát của bang sẽ lấy dao cạo râu, bàn chải đánh răng và bất kỳ sợi tóc nào họ tìm thấy trên gối của hắn.”
“Sẽ là chưa ổn nếu chúng ta không khớp được chúng với những gì chúng ta có được ngay tại đây.”
Samuels nhìn anh, nghiêng đâu. Bây giờ anh ta trông không giống Alfalfa trong Little Rascals, mà là một loài gặm nhấm cực kỳ thông minh. Hoặc có thể là một con quạ đang tia được thứ gì đó sáng bóng. “Anh còn suy nghĩ khác? Hãy cho tôi biết là tôi đã nhẩm đi. Đặc biệt là khi anh cũng háo hức lên đường như tôi sáng nay.”
Lúc đó tôi nghĩ về Derek , Ralph nghĩ. Đó là trước khi Terry nhìn thẳng vào mắt tôi, như thể hắn ta có quyền. Và trước khi hắn gọi tôi là thằng tồi, một điều đáng lẽ phải bật ra ngay lập tức nhưng bằng cách nào đó lại không.
“Không, tôi làm gì có suy nghĩ khác. Chỉ là mọi việc tiến triển nhanh quá khiến tôi lo lắng. Tôi đã quen với việc lần theo từng vụ thật chậm rãi. Tôi thậm chí còn không có lệnh bắt giữ.”
“Nếu nhìn thấy một đứa trẻ chết không toàn thấy ở Quảng trường Thành phố, anh có cần trát không?”
“Tất nhiên là không, nhưng vụ này thì có chút khác biệt.”
“Không nhiều, không hẳn, nhưng khi nó xảy ra, tôi thực sự có trát, và nó đã được ký bởi Thẩm phán Carter trước khi anh thực hiện vụ bắt giữ. Nó sẽ nằm ở máy fax của anh ngay bây giờ. Cho nên... Chúng ta vừa đi vừa thảo luân vấn đề chứ?” Mắt Samuels sáng rỡ hơn bao giờ hết.
“Tôi không nghĩ hắn sẽ nói chuyện với chúng ta.”
“Không, chưa chắc.”
Samuels mỉm cười, và trong nụ cười đó, Ralph nhìn thấy kẻ đã lôi cổ hai tên sát nhân đến vòng tử hình. Và anh có thể gần như chắc chắn anh ta cũng sẽ sớm đưa huấn luyện viên cũ của Derek Anderson đến đó. Hắn chỉ là một trong số những “cậu bé” của Bill mà thôi.
“Nhưng chúng ta có thể nói chuyện với hắn mà? Chúng ta có thể cho hắn thấy các bức tường đang khép lại, rồi chẳng chóng thì chày hắn sẽ sớm trở thành miếng thạch dâu tây kẹp giữa chúng mà thôi.”
❊ 14 ❊
Lời khai của Willow Rainwater [ngày 13 tháng 7, 11 giờ 40 phút sáng, do thám tử Ralph Anderson thẩm vấn]
Rainwater: Thôi nào, thừa nhận đi anh thám tử - tôi là Willow ít yểu điệu nhất mà anh từng thấy đó.
Thám tử Anderson: Hình thể của cô không phải là vấn đề, cô Rainwater. Chúng ta ở đây để thảo luận...
Rainwater: Ồ đúng rồi, anh không biết đấy thôi. Hình thể của tôi là lý do tại sao tôi ở ngoài đó. Có mười, có thể là mười hai xe taxi chờ đợi xung quanh cung điện tồi tàn đó lúc 11 giờ hầu hết các đêm, và tôi là người phụ nữ duy nhất. Tại sao ư? Vì không ai trong số khách hàng cố đánh tôi, dù họ có say lướt khướt thế nào. Tôi đã có thể đảm đương vị trí hậu vệ cánh trái hồi trung học nếu họ để nữ giới tham gia đội bóng đá. Mà này, một nửa đám đàn ông còn chẳng nhận ra tôi là nữ khi lên xe tôi, và nhiều người vẫn không biết kể cả sau khi họ đã bước ra. Điều đó khiến tôi rất hài lòng. À, tôi nghĩ anh có thể muốn biết tôi đang làm gì ở đó.
Thám tử Anderson: Được rồi, cảm ơn cô.
Rainwater: Nhưng giờ không phải 11 giờ, giờ mới khoảng tám giờ ba mươi thôi.
Thám tử Anderson: Vào đêm thứ Ba, ngày 10 tháng 7.
Rainwater: Đúng rồi. Cả thị trấn dường như đều rất thong thả vào mọi đêm trong tuần và chúng tôi cũng vẳng khách. Rất nhiều tài xế chỉ loanh quanh trong ga-ra, nói chuyện phiếm, chơi xì phé, và kể mấy chuyện dơ bẩn, nhưng tôi chẳng thích mấy trò đó, vì vậy tôi thường đến khách sạn Flint hoặc Holiday Inn hoặc Doubletree. Hoặc sẽ đến Gentlemen, Please . Có bãi đậu taxi ở đó, anh biết đấy, dành cho những ai không say đến mức mụ mị cả người, không thể lái xe về nhà được và nếu đến đó sớm, tôi thường là người xếp hàng đầu tiên. Tệ nhất thì cũng chỉ thứ hai hoặc thứ ba thôi. Tôi ngồi đó và đọc sách trên Kindle trong khi chờ một cuốc. Đọc sách giấy khi trời tối thì khó nhưng Kỉndle thì ổn. Một phát mình tuyệt vời.
Thám tử Anderson: Nếu cô có thể cho tôi biết...
Rainwater: Tôi đang cho anh biết đây, nhưng theo cách của riêng tôi, theo cách từ hồi tôi còn đi học, vì vậy hãy im lặng. Tôi biết anh muốn gì và tôi sẽ cung cấp điều đó cho anh. ở đây và tại tòa cũng vậy. Chừng nào họ tống cổ tên khốn sát hại trẻ con đó xuống địa ngục, tôi sẽ mặc quần lót da và khoác đồ lông rồi nhảy đến mệt rũ. Chúng ta vào thẳng vấn đề chứ?
Thám tử Anderson: Đúng vậy.
Rainwater: Đêm đó, chập tối thì đúng hơn, tôi là tài xế taxi duy nhất ở đó. Tôi không thấy hắn đi vào. Tôi chắc cú chuyện dó và sẵn sàng cược với anh năm đô-la luôn. Tôi không nghĩ hắn vào để gặp mấy đứa đàng điếm. Tôi nghĩ hắn đến trước tôi - có thể là ngay trước - và vừa vào để gọi một chiếc taxi.
Thám tử Anderson: Cô sẽ thắng vụ cược đó, cô Rainwater. Người điều phối chỗ cô...
Rainwater: Clint Ellenquist phụ trách tối thứ Ba.
Thám tử Anderson: Đúng vậy. Ông Ellenquist đã bảo khách kiểm tra bến taxi ở bãi đậu xe, và sẽ có xe đến ngay thôi hoặc cũng có thể là có rồi. Cuộc gọi đó được ghi lại vào lúc tám giờ bốn mươi.
Rainwater: Có vẻ chuẩn rồi. Hắn đã đi ra và đi thẳng đến xe taxi của tôi...
Thám tử Anderson: Cô có thể cho tôi biết lúc đó hắn mặc gì không?
Rainwater: Quần jean xanh và một chiếc sơ mi cài cúc đẹp đẽ. Chiếc quần hơi bạc màu, nhưng sạch sẽ. Tôi nghĩ chiếc sơ mi màu vàng dù khó có thể khẳng định do ánh đèn ở bãi đậu xe hình vòng cung đó. Ồ, thắt lưng của hắn có mặt khóa lạ mắt - hình đầu ngựa. Rodeo chết tiệt. Cho đến khi hắn cúi xuống, tôi chỉ nghĩ hắn là một gã đào mỏ dầu nào đó, kẻ bằng cách nào đó đã giữ được công việc của mình khi giá dầu thô giảm xuống thấp, hoặc một công nhân xây dựng. Nhưng rồi tôi nhận ra đó là Terry Maitland.
Thám tử Anderson: Cô chắc chứ.
Rainwater: Tôi xin thề. Đèn trong bãi đậu xe đó sáng như ban ngày. Họ làm thế để ngăn chặn các vụ ăn cắp, đánh đấm và giao dịch ma túy. Vì khách hàng của họ có rất nhiều quý ông, anh biết đấy. Ngoài ra, tôi huấn luyện đội bóng rổ Prairie League tại YMCA. Những đội đó có cả nam lẫn nữ, nhưng chủ yếu vẫn là các chàng trai. Maitland thường đến - không phải thứ Bảy nào cũng đến, nhưng phần nhiều là vậy - và ngồi trên khán đài với các bậc cha mẹ để xem bọn trẻ chơi. Hắn bảo với tôi rằng hắn đang chiêu mộ tài năng cho đội bóng chày City League, và nói hắn có thể biết một đứa trẻ có tài năng phòng ngự bẩm sinh không chỉ bằng cách nhìn chúng bật nhảy; thật ngớ ngần, tôi đã tin hắn. Hắn có lẽ đã ngồi đó và soi xem có đứa nào hắn muốn chơi trò "lỗ bắp" không. Hắn đã soi chúng như đám đàn ông soi phụ nữ trong quán bar. Thằng khốn kiếp. Chiêu mộ tài năng cái con khỉ!
Thám tử Anderson: Khi hắn đến chỗ taxi của cô, cô có cho hắn biết là cô nhận ra hắn không?
Rainwater: À có. Tôi chẳng phải loại có ý tứ đâu. Tôi đã nói, "Này, Terry, vợ anh có biết anh ở đâu tối nay không?" Và hắn nói, "Tôi có chút việc cần làm." Tôi đã đáp, "Việc liên quan đến múa thoát y à?" Hắn lại nói, "Cô nên gọi điện báo với người điều phối của cô rằng tôi đã lên xe rồi." Vì vậy, tôi đã nói, "Tôi sẽ làm thế. Chúng ta về nhà anh chứ, huấn luyện viên T?" Và hắn nói, "Không, thưa quý cô. Hãy đưa tôi đến Dubrow. Trạm xe lửa." Tôi nói, "Bốn mươi đô-la nhé." Và hắn trả lời, "Đến kịp để tôi bắt tàu đi Dallas, tôi sẽ boa cho cô hai mươi đô." Vì vậy, tôi nói, "Nắm chắc tay vịn đấy, huấn luyện viên, chúng ta lên đường thôi."
Thám tử Anderson: Vậy là cô đã chở hắn đến nhà ga Amtrak ở Dubrow?
Rainwater: Đúng thế. Đưa hắn đến đó dư giờ bắt chuyến tàu đêm đến Dallas - Fort Worth.
Thám tử Anderson: Cô có nói chuyện với hắn trên đường đi không? Tôi hỏi vì cô có vẻ thích trò chuyện.
Rainwater: Ồ, tôi có! Lưỡi tôi chạy như băng chuyền siêu thị vào ngày lĩnh lương. Hỏi chuyện bất kỳ ai. Tôi mào đầu bằng việc hỏi hắn về giải City League, liệu họ có đánh bại đội Gấu không, và hắn nói, "Tôi mong đợi tin tốt." Một câu trả lời thờ ơ, phải không? Tôi cá rằng hắn lúc đó đang nghĩ về những gì hắn đã làm và muốn nhanh chóng cao chạy xa bay. Những thứ như vậy chắc hẳn sẽ tạo ra một lỗ hổng trong cuộc nói chuyện phiếm của anh. À, tôi muốn hỏi anh một câu này, anh thám tử, tại sao hắn lại về Flint? Tại sao hắn không đến Texas và xuống Old "Mê-hi-cô" luôn?
Thám tử Anderson: Hắn còn nói gì nữa không?"
Rainwater: Không nhiều. Hắn nói hắn sẽ chợp mắt một chút. Rồi hắn nhắm mắt lại, nhưng tôi nghĩ hắn đang giả vờ. Tôi nghĩ hắn có thể đã nhìn trộm tôi, như thể hắn đang nghĩ đến việc thử điều gì đó. Tôi ước hắn đã làm vậy. Và tôi ước lúc dó mình biết những gì tôi biết bây giờ, về việc hắn đã làm. Tôi sẽ lôi hắn ra khỏi xe của tôi và xé họng hắn ra. Tôi không đùa đâu.
Thám tử Anderson: Cô đến ga Amtrak lúc nào?
Rainwater: Tôi tấp vào chỗ trả khách và hắn ném ba tờ hai mươi đô lên ghế trước. Tôi bảo hắn cho tôi gửi lời chào vợ hắn nhưng hắn cuốn gót đi luôn. Hắn cũng vào Gentlemen's để thay quần áo trong phòng vệ sinh nam à? Bởi vì có máu trên đó?
Thám tử Anderson: Tôi sẽ đặt sáu bức ảnh của sáu người đàn ông khác nhau trước mặt cô, cô Rainwater. Tất cả đều trông khá giống nhau, vì vậy hãy chọn...
Rainwater: Đừng bận tâm. Hắn đây. Đó là Maitland. Đi bắt hắn đi, và tôi hy vọng hắn chống đối người thi hành công vụ. Hãy tiết kiệm cho người đóng thuế một khoản tiền.
❊ 15 ❊
Hồi Marcy Maitland còn học cấp hai, cô vẫn thường gặp ác mộng, thấy mình trần truồng trong phòng tập trung, còn mọi người cười rộ lên. Sáng nay Marcy Gibson ngu ngốc quên mặc quần áo! Nhìn kìa, chúng mày có thể thấy mọi thứ! Lên phổ thông, giấc mơ đầy ám ảnh ấy nhường chỗ cho một giấc mơ phức tạp hơn một chút khi cô đến lớp trong trang phục đầy đủ nhưng nhận ra mình đã quên học bài dù sắp sửa tham gia kỳ thi quan trọng nhất.
Khi cô rẽ từ phố Barnum vào Barnum Court, nỗi kinh hoàng và sự bất lực của cô trong những giấc mơ xưa quay quắt trở về, và lần này không có sự nhẹ nhõm ngọt ngào cùng lời lầm bầm Ơn Chúa nào sau khi cô choàng tỉnh nữa. Đậu trên đường lái xe vào nhà cô là một chiếc xe cảnh sát hệt như chiếc đã chở Terry về sở. Ngay sau nó là một chiếc xe tải không cửa sổ, với dòng chữ lớn màu xanh lam ĐƠN VỊ TỘI PHẠM LƯU ĐỘNG CẢNH SÁT BANG ở bên sườn xe. Chốt cuối đường là một cặp xe tuần tra OHP màu đen, với đèn pha sáng nhấp nhoáng trong ánh chiều nhập nhoạng. Bốn sĩ quan to cao, đầu đội những chiếc mũ County Mounty khiến họ trông ít nhất cũng phải hai mét, đứng trên vỉa hè, hai chân dang rộng ( như thể mấy viên bi của họ to quả mức đến nỗi không khép nổi chân , cô dợm nghĩ). Những điều này đã đủ tệ rồi, nhưng không phải tệ nhất. Điều tồi tệ nhất là những người hàng xóm, dập dinh ngoài bãi cỏ nhà họ và nhòm ngó. Họ có biết tại sao cảnh sát lại đột ngột xuất hiện trước căn nhà của gia đình Maitland không? Cô nghĩ hầu hết đều đã biết - đám điện thoại di động đáng nguyền rủa - và rồi họ sẽ rỉ tai những người còn lại.
Một trong số các sĩ quan bước ra đường, giơ một tay lên. Cô dừng lại và hạ cửa sổ xuống.
“Bà có phải là Marcia Maitland không, thưa bà?”
“Vâng. Tôi không thể vào ga-ra vì vướng mấy chiếc xe đó trên đường lái.”
“Bà đậu xe ở lề đường cũng được,” anh ta nói, chỉ vào phía sau một trong những chiếc xe tuần tra.
Marcy bức bối đến mức muốn nghiêng người qua cửa sổ đang mở, dí mặt mình vào mặt anh ta và hét lên, Đường lái nhà TÔI! Nhà để xe của TÔI! Quẳng đám xe chết tiệt của các anh đi chỗ khấc ngay đi!
Thay vào đó, cô cài số lùi rồi lùi xe lại. Cô buồn vệ sinh quá mức. Lý ra cô phải giải quyết từ lúc cảnh sát còng tay Terry, nhưng đến giờ cô mới nhận ra.
Một trong những cảnh sát khác đang nói vào chiếc bộ đàm đeo vai của anh ta, và từ phía góc hông nhà, trong ánh chiều nhập nhoạng không nhìn rõ người, một phụ nữ với chiếc bụng bầu rất lớn, mặc một chiếc váy hoa không tay, tay cầm bộ đàm bước ra. Cô ta di chuyển lắc lư như vịt bầu ngang qua bãi cỏ nhà Maitland - dáng điệu điển hình của tất cả phụ nữ mang thai ở tam cá nguyệt cuối cùng. Với vẻ mặt nghiêm túc, cô ta tiến về phía Marcy. Trên cổ cô ta lủng lẳng một tấm thẻ ID ép nhựa. Ghim chặt trên chiếc váy, ngay trên khuôn ngực đổ sộ và lạc lõng như một chiếc bánh quy hình con chó trên chiếc đĩa rước lễ, là huy hiệu cảnh sát thành phố Flint.
“Bà Maitland? Tôi là Thám tử Betsy Riggins.”
Cô ta chìa tay ra. Marcy không bắt nó. Và dù Howie đã dặn dò nhưng cô vẫn đặt câu hỏi, “Cô muốn gì?”
Riggins nhìn qua vai Marcy. Một trong những cảnh sát tiểu bang đang đứng đó. Anh ta rõ ràng là sếp của bốn đầu nậu còn lại, vì trên tay áo có sọc. Anh ta chìa ra một tờ giấy. “Bà Maitland, tôi là Trung úy Yunel Sablo. Chúng tôi có lệnh khám xét nơi này và tịch thu bất kỳ món đồ nào thuộc về chồng bà, Terence John Maitland.”
Cô giật lấy tờ giấy. LỆNH KHÁM XÉT được in phía trên cùng của tờ giấy bằng kiểu chữ gothic. Theo sau đó là một loạt thông tin pháp lý, và được ký ở dưới cùng là cái tên mà thoạt đầu cô đã đọc nhầm là Thẩm phán Crater. Chẳng phải ông ta đã biến mất lâu lắm rồi sao? Cô nghĩ, rồi chớp đôi mắt ậng nước - có thể là mồ hôi, có thể là nước mắt - và thấy cái tên là Carter, không phải Crater. Lệnh được ký hôm nay, sáu tiếng trước, vẫn còn nóng hổi.
Cô lật nó lại và cau mày. “Chẳng có gì được liệt kê ở đây cả. Điều đó có nghĩa là các vị có thể lấy cả đồ lót của anh ấy, nếu muốn?”
Betsy Riggins, người biết rằng họ sẽ tịch thu bất kỳ món đồ lót nào mà họ tình cờ tìm thấy trong thùng đựng quần áo bẩn của nhà Maitland, nói, “Điều đó phụ thuộc vào quyết định của chúng tôi, thưa bà Maitland.”
“Tùy ý các vị ư? Là tùy ý các vị? Chuyện quái gì thế này, Đức Quốc xã à?
Riggins nói, “Chúng tôi đang điều tra vụ án giết người man rợ nhất xảy ra ở tiểu bang này trong suốt hai mươi năm làm cảnh sát của tôi, và chúng tôi sẽ tịch thu những gì cần thiết. Chúng tôi đã lịch sự chờ cho đến khi bà về nhà...”
“Quỷ tha ma bắt phép lịch sự của cô đi. Nếu tôi về muộn, cô định làm gì? Phá cửa hay sao?”
Riggins trông vô cùng khó chịu - không phải vì câu hỏi, Marcy nghĩ vậy, mà vì cái bụng lủng lẳng mà cô ta phải vác theo mọi lúc vào tối tháng Bảy nóng nực này. Lẽ ra cô ta nên ngồi ở nhà, bật máy lạnh và ghếch chân lên. Marcy không quan tâm. Đẩu cô giật liên hồi, bàng quang đau nhói, và đôi mắt rưng rưng đong đầy nước mắt.
“Đó có thể là phương sách cuối cùng,” viên sĩ quan với cái vạch chết tiệt trên tay áo nói, “nhưng trong quyền hạn cho phép, như được chỉ rõ trong lệnh khám xét mà chúng tôi vừa cho bà xem.”
“Hãy cho chúng tôi vào nhà, bà Maitland,” Riggins nói. “Càng bắt đầu sớm thì bà càng đỡ phiền.”
“Trung úy,” một trong những người lính khác nói. “Đám kền kền bu đến rồi đấy.”
Marcy quay lại. Từ góc quanh xuất hiện một chiếc xe tải truyền hình với chiếc đĩa vệ tinh vẫn nằm trên nóc xe của nó. Phía sau là một chiếc suv với chữ KYO màu trắng lớn được dán trên mui xe. Đằng sau đó nữa, sát rạt chiếc KYO, là chiếc xe tải từ một đài khác.
“Hãy vào nhà với chúng tôi,” Riggins nói. Giọng điệu gần như dỗ dành. “Chắc cô cũng không muốn đứng trên vỉa hè khi họ đến đây đâu.”
Marcy nhượng bộ, nghĩ đây có thể là hành động giương cờ trắng đầu tiên trong loạt cờ trắng nối sau đó. Quyền riêng tư của cô. Nhân phẩm của cô. Cảm giác an toàn của các con cô. yà chồng cô? Cô có bị buộc phải từ bỏ Terry không? Chắc chắn là không. Tội danh mà họ gán cho anh ấy thật điên rồ. Họ cũng có thể đã buộc tội anh bắt cóc đứa bé nhà Lindbergh.
“Được rồi. Nhưng tôi sẽ không nói chuyện với cô, vì vậy đừng cố. Và tôi cũng không cần phải đưa điện thoại cho cô. Luật sư của tôi đã dặn vậy.”
“Được rồi.” Riggins nắm lấy cánh tay cô, khi mà với dáng dấp ấy, lẽ ra Marcy nên là người nắm tay cô ta, để đảm bảo rằng cô ta không bị ngã chỏng chơ với cái bụng kềnh càng.
Chiếc Chevy Tahoe từ KYO - “Ki-Yo” theo như họ tự tạo phong cách cho mình - dừng lại ở giữa phố, và một trong những phóng viên của họ, một phụ nữ tóc vàng xinh đẹp, bước ra ngoài nhanh đến nỗi váy của cô ta tốc lên đến eo. Đám sĩ quan cảnh sát đã không bỏ lỡ điều này.
“Bà Maitland! Bà Maitland, chỉ một vài câu hỏi thôi!”
Marcy không nhớ mình đã cầm theo túi khi ra khỏi xe chưa, nhưng hiện nó đang vắt vẻo trên vai cô và cô nhẹ nhàng lấy chìa khóa nhà ra khỏi túi bên hông. Rắc rối xuất hiện khi cô cố tra chìa vào ổ khóa. Tay cô run quá. Riggins không với lây chiếc chìa khóa, nhưng đưa tay nắm chặt tay Marcy, và cuối cùng nó cũng trượt vào ổ.
Từ phía sau cô: “Có thật là chổng bà đã bị bắt vì tội giết Frank Peterson không, bà Maitland?”
“Lùi lại,” một trong những viên cảnh sát nói. “Đừng bước khỏi vỉa hè.”
“Bà Maitland!”
Sau đó, họ vào nhà. Như thế này thật tốt, ngay cả khi có vị thám tử đang mang bầu đứng cạnh, nhưng ngôi nhà trông khác hẳn, và Marcy biết nó sẽ không bao giờ được như xưa nữa. Cô nghĩ đến người phụ nữ đã rời khỏi đây cùng các con gái của mình, tất cả đều cười đùa và vui mừng khôn xiết; thật giống như đang hổi tưởng về người phụ nữ mà mình đã từng yêu, người đã chết rồi.
Chân cô bủn rủn, kéo cô ngồi phịch xuống chiếc ghế dài ở sảnh nơi hai đứa con cô vẫn thường ngồi để xỏ giày vào mùa đông. Nơi mà thỉnh thoảng Terry cũng ngồi (như tối nay) để xem lại đội hình của anh ấy lần cuối trước khi rời nhà đến sân. Betsy Rỉggỉns ngồi xuống bên cạnh cô với vẻ nhẹ nhõm, phần hông phải núc ních của cô ta cọ vào hông bên trái ít mỡ hơn của Marcy. Viên sĩ quan với cái vạch chết tiệt trên tay áo, Sablo, và hai người khác lướt qua họ mà không thèm nhìn, đeo găng tay nhựa dày màu xanh lam. Họ đi giày tiệp màu với găng tay. Marcy cho rằng người thứ tư đang làm nhiệm vụ kiểm soát đám đông. Kiểm soát đám đông trước nhà của họ trên con đường Barnum Court mệt rũ.
“Tôi phải đi tiểu,” cô nói với Riggins.
“Tôi cũng vậy,” Riggins nói. “Trung úy Sablo! Tôi bảo?”
Người có vạch chết tiệt trên tay áo trở lại băng ghế. Hai người còn lại tiếp tục vào bếp, nơi thứ xấu xa nhất mà họ tim thấy là một nửa chiếc bánh sô-cô-la trong tủ lạnh.
Quay sang Marcy, Riggins hỏi, “Nhà cô có nhà vệ sinh dưới tầng không?”
“Có, băng qua phòng đựng thực phẩm. Terry đã thiết kế thêm vào năm ngoái.”
“Uh-huh. Trung úy, chúng tôi cần đi tiểu, vì vậy các anh bắt đầu từ đó, và làm nhanh nhất có thể nhé.” Rồi cô ta quay sang nói với Marcy: “Chồng cô có phòng làm việc không?”
“Không hẳn vậy. Anh ấy sử dụng khu cuối phòng ăn.”
“Cảm ơn cô. Đó là chỗ cần xem xét tiếp theo, Trung úy.” Cô ta quay lại với Marcy. “Cô có phiền khi trả lời một câu hỏi nhỏ trong lúc chúng ta chờ đợi không?”
“Có phiền.”
Riggins không để ý đến câu trả lời này. “Cô có thấy chồng mình có hành động gì kỳ lạ trong vài tuần qua không?”
Marcy bật cười chua chát. “Ý cô là anh ấy có tính kế giết người không hả? Đi loanh quanh, xoa hai tay vào nhau, có thể chảy nước miếng và lầm bẩm một mình? Việc mang thai có ảnh hưởng đến tâm trí của cô không, thưa thám tử?”
“Theo tôi hiểu thì cầu trả lời của cô là không.”
“Đúng thế. Làm ơn đừng làm phiền tôi nữa!”
Riggins ngồi lại chỗ và đặt tay trước bụng. Để lại Marcy với bàng quang đau nhói và ký ức về điều gì đó mà Gavin Frick đã nói vào tuần trước, sau khi luyện tập: Gần đây Terry để đầu óc ở đâu ấy nhỉ? Nửa thời gian đầu óc cậu ấy như trên mây. Tôi nghĩ cậu ấy bị cúm hay gì đó.
“Cố Maitland?”
“Gì?”
“Có vẻ như cô đang nghĩ gì đó.”
“Đúng thế. Tôi đang nghĩ đến việc phải ngồi cạnh cô trên băng ghế này thật khó chịu. Giống như ngồi cạnh một cái lò nướng biết thở vậy.”
Màu hồng tươi tắn trên đôi gò má của Besty Riggins đã chuyển sang đỏ lựng. Một mặt, Marcy vừa sợ những lời cô vừa nói - thật tàn nhẫn. Mặt khác, cô vui mừng vì đã đưa ra cú thọi đúng chỗ.
Dẫu sao, Riggins cũng không hỏi thêm câu nào nữa.
Sau quãng thời gian tưởng chừng như vô tận, Sablo quay lại, tay cầm một chiếc túi nhựa trong chứa tất cả số thuốc từ tủ thuốc tầng dưới (thuốc OTC, vài đơn thuốc của họ ở trong hai phòng tắm ở tầng trên) và một tuýp kem bôi trĩ của Terry. “Sạch sẽ cả,” anh ta nói.
“Cô đi vệ sinh trước đi,” Riggins nói.
Nếu trong hoàn cảnh khác, Marcy chắc chắn sẽ nhịn thêm và nhường cho người phụ nữ đang mang thai kia, nhưng lúc này thì không. Cô bước vào, đóng cửa lại và thấy nắp bồn cầu bị lệch. Họ đã tìm gì trong đó thì Chúa mới biết - rất có thể là ma túy. Cô đi tiểu với tư thế cúi đầu úp mặt vào lòng bàn tay, để không phải nhìn vào đống hỗn độn còn lại. Cô có định đưa Sarah và Grace về đây tối nay không? Cô sẽ phải dẫn các con vượt qua những đọt ánh sáng chói lòa của đèn xe đài truyền hình, chắc chắn sẽ được sắp đặt vào lúc đó? Và nếu không về nhà thì họ sẽ ở đâu? Khách sạn? Liệu bọn chúng ( những con kền kền như đám cảnh sát gọi) có tìm thấy họ không? Tất nhiên là có rồi.
Sau khi cô ra thì Betsy Riggins vào. Marcy đi vào phòng ăn, không muốn ngồi chung băng ghế ngoài hành lang với sĩ quan Cá voi sát thủ. Cảnh sát đang xem xét bàn của Terry - lục soát thì đúng hơn, kéo tất cả các ngăn kéo ra, đổ ộc những thứ trong đó ra sàn. Máy tính của anh ấy đã bị gỡ ra, các phần khác nhau được dán bằng nhãn dán màu vàng, như thể để chuẩn bị cho một buổi bán đồ si.
Marcy nghĩ, Một giờ trước, điều quan trọng nhất trong cuộc đời tôi là đội Rồng Vàng sẽ giành chiến thắng và tiến vào chung kết.
Betsy Riggins trở lại. “Ôi, nhẹ cả người,” cô ta nói khi ngồi xuống bàn ăn. “Rồi mười lăm phút nữa lại phải nhỏm mông dậy thôi.”
Marcy mở miệng và suýt buông ra câu Tôi mong con cô chết quách đi.
Thay vào đó, cô nói, “Thật tuyệt khi ai đó cảm thấy nhẹ người. Dù chỉ trong mười lăm phút.”
❊ 16 ❊
Lời khai của Claude Bolton [ngày 13 tháng 7, 4 giờ 30 phút chiêu, do thám tử Ralph Anderson thẩm vấn]
Thám tử Anderson: Chà, Claude, thật tuyệt khi anh sắp xếp được thời gian đến đây. Không phải vì anh gặp rắc rối gì đâu, hãy thoải mái nhé.
Bolton: Anh biết đấy, đúng là cảm giác đó. và được lái xe phía trước xe cảnh sát thay vì phía sau, với tốc độ một trăm bốn mươi cây số một giờ gần hết quãng đường trở về từ thành phố Cap. Đèn, còi báo động, hoạt động hết công suất. Anh đúng. Chuyện đó thật tuyệt.
Thám tử Anderson: Anh đang làm gì ở Cap thế?
Bolton: Thăm thú thôi. Nghỉ ngơi vài đêm, sao lại không chứ? Có luật nào cấm không?
Thám tử Anderson: Tôi biết anh làm việc đó với Carla Deppeson, còn được biết đến với cái tên Pixie Dreamboat khi cô ả đang làm việc.
Bolton: Anh nên biết, vì cô ấy đã trở về cùng chuyến với tôi. À, cô ấy thích chuyến đi lắm đấy. Hết tốc độ cho phép luôn.
Thám tử Anderson: Và những cảnh anh ngắm ấy, chủ yếu đều ở Phòng 509 của Nhà nghỉ Western Vista trên Quốc lộ 40 à?
Bolton: Ồ, chúng tôi đã không dành toàn bộ thời gian ở đó. Chúng tôi đã đến Bonanza ăn tối hai lần. Đồ ăn ở đó ngon mà rẻ lắm. Ngoài ra, Carla muốn đến trung tâm mua sắm, vì vậy chúng tôi đã dành thời gian ở đó. Ở đó có tường leo giả núi, và tôi cũng thử sức chút.
Thám tử Anderson: Tôi cá là anh làm được. Anh có biết một cậu bé đã bị sát hại ở đây, ở thành phố Flint này không?
Bolton: Tôi có thể đã nghe qua tin tức. Nghe này, anh không nghĩ tôi có liên quan gì đến chuyện đó chứ?
Thám tử Anderson: Không, nhưng anh có thể cung cấp thông tin liên quan đến thủ phạm.
Bolton: Làm sao tôi có thể...
Thám tử Anderson: Anh làm bảo kê tại Gentlemen, Please đúng không?
Bolton: Tôi là nhân viên an ninh. Chúng tôi không sử dụng từ bảo kê. ổenttemen, Please là một nơi cao cấp.
Thám tử Anderson: Chúng ta sẽ không tranh cãi vấn đề đó. Nghe nói anh có ca làm việc vào tối thứ Ba. và không rời thành phố Flint cho đến chiều thứ Tư.
Bolton: Có phải Tony Ross đã nói với anh rằng tôi và Carla đã đến thành phố Cap không?
Thám tử Anderson: Đúng thế.
Bolton: chúng tôi được giảm giá ở nhà nghỉ đó vì chú của Tony sở hữu nó. Tony cũng trực tối thứ Ba, đó là khi tôi nhờ anh ấy gọi cho chú của mình. Chúng tôi rất thân, tôi và Tony ấy. Chúng tôi đứng cửa từ bốn giờ đến tám giờ, sau đó ở dưới hầm từ tám giờ đến nửa đêm. Hầm ở trước sân khấu, nơi các quý ông ngồi.
Thám tử Anderson: Ross cũng nói với tôi rằng vào khoảng 8 giờ 30 phút, anh có nhìn thấy một người quen.
Bolton: Ồ, ý anh là huấn luyện viên T. Này, anh không nghĩ anh ta giết đứa trẻ đó phải không? Bởi vì huấn luyện viên T là một người ngay thẳng. Anh ta đã huấn luyện các cháu trai của Tony ở Pop Warner và ở Little League. Tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy anh ta ở chỗ của chúng tôi, nhưng không sốc. Anh sẽ không bao giờ đoán được những ai đã đến hầm đâu - các chủ ngân hàng, luật sư, thậm chí là một vài người ăn mặc chỉn chu lắm. Nhưng giống như cái cách người ta nói về Vegas: chuyện xảy ra ở Gent's thì...
Thám tử Anderson: Uh-huh, tôi chắc anh cũng kín đáo như mấy vị mục sư trong buổi xưng tội.
Bolton: Hãy cứ ví von bóng gió kiểu đó nếu anh muốn, nhưng chúng tôi đúng là thế. Nếu anh muốn khách hàng ghé lại, anh phải kín miệng.
Thám tử Anderson: cũng vì mục đích ghi chép lại thôi, Claude, khi nói huấn luyện viên T, ý anh là Terry Maỉtland.
Bolton: Chắc chắn rồi.
Thám tử Anderson: Hãy cho tôi biết anh thấy anh ta thế nào.
Bolton: Chúng tôi không ở suốt trong hầm, anh hiểu chứ? Có nhiều việc lắm. Hầu hết thời gian chúng tôi ở đó, điều tiết, đảm bảo rằng không có gã nào động tay chân với các cô gái và can thiệp các vụ xô sát trước khi chúng xảy ra - khi các chàng trai trở nên thô lỗ, họ cũng có thể trở nên hung hãn, anh hẳn phải biết điều đó vì công việc của anh. Nhưng hầm không phải là nơi duy nhất mà rắc rối có thể nảy sinh, đó chỉ là nơi có nhiều khả năng xây ra nhất, vì vậy một người trong chúng tôi luôn túc trực ở đó. Người còn lại lượn ở quầy bar, góc nhỏ nơi có một vài trò chơi điện tử và bàn bi-a ăn xu, vài chỗ khiêu vũ riêng và tất nhiên là phòng vệ sinh nam. Đó là nơi mà các giao dịch ma túy của anh diễn ra và nếu thấy họ, chúng tôi sẽ chặn họ lại và tống cổ họ ra ngoài.
Thám tử Anderson: Ý anh là móc túi trái bán cho túi phải hả.
Bolton: Thế nào cũng được, sếp, nhưng thể thì hơi quá. Tôi sạch sẽ sáu năm rồi. Anh muốn kiểm tra nước tiểu tôi không? Tôi sẵn lòng đấy.
Thám tử Anderson: Điều đó không cần thiết, và chúc mừng anh vì sự tỉnh táo của mình. Vậy là anh đã loanh quanh lúc tám giờ ba mươi...
Bolton: Đúng vậy. Tôi kiểm tra quầy bar, sau đó xuống hành lang để xem qua phòng vệ sinh nam, và đó là lúc tôi nhìn thấy huấn luyện viên T, vừa cúp máy. Có hai bốt điện thoại trả tiền ở đó, nhưng chỉ một trong số chúng hoạt động. Anh ta...
Thám tử Anderson: Claude? Nói nốt đi.
Bolton: Tôi chỉ đang suy nghĩ thôi. Đang nhớ lại. Anh ta trông khá buồn cười. Ngáo ngơ, kiểu thể. Anh thực sự nghĩ anh ta đã giết đứa trẻ đó? Tôi nghĩ lý do là vì đây là lần đầu tiên anh ta đến nơi có các vũ nữ thoát y. Một số gã sẽ bị như thế, kiểu ba ngơ ấy. Hoặc có thể anh ta đang phê thuốc. Tôi đã nói, "Này, huấn luyện viên, đội của anh thế nào?" Và anh ta nhìn tôi chằm chằm như thể anh ta chưa bao giờ nhìn thấy tôi trước đây, dù tôi đã đi xem tất cả các trận Pop Warner mà stevie và Stanley chơi, và từng nói với anh ta về lối chơi đảo ngược kép, điều mà anh ta chưa bao giờ áp dụng vì theo anh ta nó quá phức tạp đối với bọn trẻ. Bọn trẻ có thể học phép chia dài thì chúng cũng có thể học một chiến thuật như thế chứ, anh có nghĩ vậy không?
Thám tử Anderson: Anh chắc chắn đó là Terence Maitland?
Bolton: Ôi Chúa ơi, vâng. Anh ta nói cả đội vẫn ổn, và nói với tôi rằng anh ta chỉ dừng lại để gọi taxi. Giống như cách mà tất cả chúng ta vẫn thường nói rằng chúng ta chỉ đọc các mẩu báo trong tờ Playboy lúc vợ mình nhìn thấy nó trong phòng tắm vậy. Nhưng tôi thấy câu trả lời của anh ta bình thường, vì ở Gen's khách hàng luôn đúng miễn là anh ta không cố ăn miếng trả miếng. Tôi đã nói với anh ta rằng có thể có một hoặc hai chiếc taxi ở bên ngoài rồi. Anh ta nói rằng tổng đài cũng bảo anh ta thế, và cám ơn tôi, rồi đi ra.
Thám tử Anderson: Anh ta mặc gì vậy?
Bolton: Áo sơ mi vàng, quần jean. Mặt khóa thắt lưng là hình đầu ngựa. Giày thể thao lạ mắt. Tôi nhớ những thứ đó, bởi chúng trông khá đắt đỏ.
Thám tử Anderson: Anh là người duy nhất nhìn thấy anh ta ở câu lạc bộ phải không?
Bolton: Không, tôi thấy một vài người đã vẫy tay chào anh ta khi anh ta đi ra ngoài. Tôi cũng không biết họ là ai và anh cũng khó có thể tìm được họ, vì nhiều người không muốn thừa nhận họ thích đến những nơi như Gent's. Chuyện thường mà. Tôi không ngạc nhiên khi mọi người nhận ra anh ta, vì ở đây Terry có khác gì người nổi tiếng đâu. Anh ta thậm chí còn giành được giải thưởng nào đó vài năm trước, tôi đã thấy tin đó trên báo. Gọi là thành phố Flint biết tuốt cũng chẳng sai, vì nơi này thực sự chỉ là một thị trấn nhỏ, ở đây ai cũng biết nhau, ít nhất là quen mặt. và bất kỳ ai có con trai chơi thể thao đều biết huấn luyện viên T, từ bóng chày đến bóng đá.
Thám tử Anderson: cảm ơn, Claude. Điều này rất hữu ích.
Bolton: Tôi còn nhớ một chuyện khác nữa, không có gì to tát nhưng thật kỳ dị nếu anh ta thực sự là người đã giết đứa trẻ đó.
Thám tử Anderson: Anh nói đi.
Bolton: Đó chỉ là một trong những điều xảy ra, không phải lỗi của ai cả. Anh ta đang trên đường ra ngoài để xem có taxi không. Tôi đã chìa tay ra và nói: "Tôi muốn cảm ơn anh vì tất cả những gì anh đã làm cho các cháu trai của Tonỵ, huấn luyện viên T. Chúng là những đứa trẻ ngoan nhưng hơi khó bảo, có thể vì bố mẹ chúng đã ly hôn. Anh đã cho chúng việc để làm giữa ti thứ cám dỗ xung quanh thị trấn." Tôi nghĩ mình đã khiến anh ta ngạc nhiên, vì anh ta giật mình lùi lại một chút trước khi bắt tay tôi. Tuy nhiên, anh ta bóp tay tôi khá mạnh, và... nhìn cái vảy nhỏ trên mu bàn tay tôi này. Anh ta đã bấm móng tay của mình vào tay tôi khi chúng tôi bắt tay. Nó lành rồi, vì không xước to lắm, nhưng nó khiến tôi chợt nhớ những ngày tháng dùng thuốc của mình.
Thám tử Anderson: Tại sao vậy?
Bolton: Một số người - chủ yếu là Thiên thần Địa ngục và Đệ tử Ác quỷ - từng nuôi một trong những chiếc móng tay của họ rất dài. Tôi đã thấy một số dài như móng tay của các vị hoàng để Trung Quốc. Một số dân chơi xe thậm chí còn trang trí chúng bằng đề-can, giống như đám phụ nữ làm móng. Họ gọi nó là móng gầy thuốc.
❊ 17 ❊
Sau vụ bắt giữ ở sân bóng chày, chẳng còn cơ hội nào để Ralph sắm vai cảnh sát tốt trong kịch bản cảnh sát tốt/cảnh sát xấu nữa, vì vậy anh chỉ đứng dựa vào tường phòng thẩm vấn, nhìn vào trong. Anh đã chuẩn bị đón nhận những cái nhìn buộc tội khác, nhưng Terry chỉ liếc qua anh, mặt không cảm xúc, trước khi chuyên sự chú ý của mình sang Bill Samuels, người đã ngồi vào một trong ba chiếc ghế ở phía bên kia của chiếc bàn.
Bây giờ, khi quan sát Samuels, Ralph bắt đầu hiểu tại sao anh ta lại thăng tiến nhanh chóng như vậy. Lúc hai người họ đứng ở phía bên kia của tầm kính một chiều, ủy viên công tố quân chỉ trông hơi trẻ so với độ tuổi có thể đảm nhiệm công việc này. Còn giờ đây, khi đối mặt với kẻ hiếp dâm và sát hại Frankie Peterson, trông anh ta thậm chí còn trẻ hơn, giống như một thực tập sinh của văn phòng luật (có thể là do một sự nhẩm lẫn nào đó) bất ngờ bị đẩy vào cuộc thẩm vấn thủ phạm gầy ra tội ác to lớn nhường này. Nhúm tóc bò liếm nhỏ kiểu Alfalfa nhô lên phía sau đầu anh ta đã làm tròn trịa hơn nữa vai diễn mà người đàn ông này tự nhiên lại rất phù hợp: một thanh niên chưa trải sự đời, háo hức khi được ở đây. Anh có thể nói với tôi bất cứ điều gì, nói với đôi mắt mở to và đẩy quan tâm này, bởi tôi sẽ tin điều đó. Đây là lần đầu tiên tôi đấu với đám có máu mặt, và tôi không biết điều gì tốt hơn thế.
“Xin chào, ông Maitland,” Samuels nói. “Tôi làm việc tại văn phòng công tố quận.”
Một khởi đầu tốt đẹp , Ralph nghĩ. Anh là văn phòng công tố quận .
“Anh đang lãng phí thời gian của mình đấy,” Terry nói. “Tôi sẽ không nói chuyện với anh chừng nào luật sư của tôi chưa đến. Anh sẽ phải đối diện với một vụ kiện bắt giữ oan trái khá lớn trong tương lai đấy.”
“Tôi hiểu anh đang tức giận, ở vị trí của anh, ai chẳng vậy cơ chứ. Có lẽ chúng ta có thể giải quyết nó ngay tại đây. Anh có thể cho tôi biết anh đã ở đắu khi cậu bé Peterson bị giết không? Đó là vào chiều thứ Ba tuần trước. Nếu anh ở một nơi khác, thì...”
“Tôi đã ở một nơi khác thật,” Terry nói, “nhưng tôi định nói điều đó với luật sư của mình trước khi nói với anh. Ông ấy là Howard Gold. Khi ông ấy đến đây, tôi muốn được nói chuyện riêng với ông ấy. Tôi nghĩ tôi có quyền làm vậy nhỉ? Vì tôi vẫn vô tội chừng nào các anh chưa chứng minh được tôi có tội?”
Phản tỉnh nhanh quá , Ralph nghĩ. Tội phạm chuyên nghiệp cũng không thể làm tốt hơn.
“Đúng vậy,” Samuels nói. “Nhưng nếu anh không làm bất cứ điều gì...”
“Đừng cố, anh Samuels. Anh sẽ chẳng lôi tôi đến đây vi anh là người tử tế đâu.”
“Thực ra tôi là người tử tế đấy,” Samuels nói một cách nghiêm túc. “Nếu có sai sót, tôi cũng rất muốn giải quyết luôn cho xong như anh.”
“Chỏm tóc dựng ngược phía sau của anh,” Terry nói. “Chắc hẳn anh cũng muốn giải quyết nó. Nó khiến anh trông hệt như Alfalfa trong những bộ phim hài ngày xưa mà tôi từng xem khi còn bé.”
Ralph thậm chí còn chẳng buồn cười, nhưng một bên khóe miệng anh nhếch lên. Ý muốn nói rằng anh không thể giúp được gì.
Trong giây phút ngỡ ngàng, Samuels đưa tay lên để vuốt phẳng nhúm tóc đó. Nó nằm yên một lát, rồi bật vểnh trở lại.
“Anh có chắc mình không muốn làm rõ điều này không?” Samuels nghiêng người về phía trước, vẻ mặt nghiêm túc cho thấy Terry đang phạm một sai lầm tệ hại.
“Tôi chắc chắn,” Terry nói. “Và tôi cũng chắc chắn về vụ kiện. Tối không nghĩ có khoản tiên dàn xếp lớn nào đủ để bù đắp cho những gì mà lũ khốn các anh làm tối nay - không chỉ với tôi, mà còn với vợ và các con tôi - nhưng tôi định sẽ tìm ra.”
Samuels ngồi ở chỗ của anh ta thêm một lúc nữa - nghiêng người về phía trước, đôi mắt hy vọng đầy ngây thơ khóa chặt mắt Terry - sau đó đứng dậy. vẻ ngây thơ biến mất. “Được thôi. Tốt. Anh có thể trao đổi với luật sư của mình, anh Maitland, đó là quyền của anh. Không ghi ầm, không ghi hình, thậm chí chúng tôi sẽ kéo màn lại. Nếu hai người trao đổi nhanh chóng, có lẽ chúng ta có thể kết thúc vấn đề này ngay trong đêm nay. Tôi còn phải chơi bóng vào buổi sáng.”
Terry nhìn anh ta với vẻ mặt như thể hắn đã nghe nhẩm. “Golf!”
“Golf. Đó là một trò chơi mà anh phải cố đưa một quả bóng nhỏ vào một cái lỗ cỡ miệng cốc con con. Tôi không giỏi chơi golf, nhưng trò này thì tôi rất giỏi, anh Maitland. Và ông Gold chắc sẽ cho anh biết chúng tôi có thể giữ anh ở đây trong 48 giờ mà không buộc tội anh. Không thực sự lâu như vây đâu. Nếu chúng ta không thể làm rõ điều này, chúng tôi sẽ đưa anh đến phiên luận tội vào sớm thứ Hai. Lúc đó, vụ bắt giữ anh sẽ tràn ngập khắp các bản tin trên toàn tiểu bang, lan như cháy nhà luôn. Tôi chắc chắn rằng các nhiếp ảnh gia sẽ bắt được góc đẹp của anh đấy.”
Sau khi thảy ra những gì anh ta cho là câu chốt ấy, Samuels khệnh khạng bước ra cửa (Ralph đoán Samuels vẫn ghim nhận xét của Terry về nhúm tóc bò liếm). Trước khi anh ta mở cửa, Terry nói, “Này, Ralph.”
Ralph quay lại. Terry trông rất binh tĩnh, một điều thật khác thường trong những hoàn cảnh như thế này. Hoặc có thể không. Đôi khi, những kẻ máu lạnh, những tên sát nhân, có thể tìm thấy sự bình tâm ấy sau cú sốc ban đầu, và gồng mình để sẵn sàng cho một quãng đường dài phía trước. Ralph từng thấy điều đó.
“Tôi sẽ không thảo luận về việc này cho đến khi Howie đến đây, nhưng tôi muốn nói với anh một điều.”
“Nói đi.” Samuels là người đáp lời, giọng anh ta lạnh tanh nhưng khuôn mặt lại không thể che giấu vẻ háo hức.
“Derek là cầu thủ chặn bóng tốt nhất mà tôi từng có.”
“Ồ, không,” Ralph nói. Anh có thể nghe thấy cơn thịnh nộ run rẩy trào lên trong giọng nói của mình. “Đừng có làm thế. Tôi không muốn nghe thấy tên con trai tôi được thốt ra từ miệng anh. Không phải đêm nay, không bao giờ.”
Terry gật đầu. “Tôi có thể hiểu, vì tôi không bao giờ muốn bị bắt trước mặt vợ và các con cùng hàng nghìn người khác, trong đó có nhiều người là hàng xóm của tôi. Vì vậy, đừng bận tâm đến những gì anh không muốn nghe. Chỉ cần lắng nghe một phút thôi. Tôi nghĩ anh nợ tôi điều đó vì đã hành động như một tên khốn.”
Ralph mở cửa, nhưng Samuels đặt tay mình lên cánh tay anh, lắc đầu và hơi ngước mắt lên chiếc camera đang nằm im lim trên góc trần, hướng chấm mắt đỏ vào họ. Ralph đóng cửa lại, quay mặt về phía Terry, tay khoanh trước ngực. Anh nghĩ màn đáp trả lại vụ bắt giữ Terry công khai khiến anh quặn thắt ruột gan, nhưng anh biết Samuels đã đúng.”
Ralph không gật đầu hay có bất cứ dấu hiệu nào cho thấy anh quan tâm đến chuyên đó, nhưng anh biết Terry đang nói về điều gì. Anh đã đến sân và cổ vũ rất nhiều cho những cú đánh như thế, và đã thấy con trai của mình lao sồng sộc như cháy nhà.
“Đó chỉ là chuyện dạy thằng bé những góc đánh phù hợp,” Terry nói, và đưa tay tạo hình mình họa. Chúng vẫn còn lầm lem bùn đất, có thể là do ném bóng để bọn trẻ luyện tập trước trận đấu tối nay. “Góc sang trái, bóng bay lên gôn 3. Góc sang phải, gôn 1. Đừng lắc gậy, nếu thế thi sẽ chỉ khiến người ném bóng dễ bắt mà thôi, chỉ cần thúc nhẹ một chút vào phần giây cuối cùng. Thằng bé hiểu nhanh lắm. Bọn trẻ thôi không gọi thằng bé là Swiffer và đặt cho nó một biệt danh mới. Chúng tôi đã có một cầu thủ chạy về gôn 1 hoặc 3 ở cuối trận đấu và đối thủ biết thằng bé sẽ đập được một bóng - thật luôn, nó vung gậy ngang đĩa ngay khi cầu thủ ném bóng bắt đầu đứng vào thế chuẩn bị, và những đứa trẻ trên ghế dự bị sẽ hét lên Đập nó đi, đập nó đi, Derek! Tôi và Gavin cũng hét lên như vậy. Và chúng đã gọi thằng bé như thế suốt năm ngoái, khi chúng tôi vô địch quân. Đập nó đi, Anderson. Anh biết chứ?”
Ralph không biết, có lẽ vì đó là chuyện riêng tư của đội. Anh chỉ biết rằng Derek đã lớn phổng lên vào mùa hè năm đó. Thằng bé cười nhiều hơn, và muốn gặp gỡ bạn bè sau khi trận đấu kết thúc thay vì đi về phía chiếc xe với chiếc đầu cúi gằm và chiếc găng tay lủng lẳng.
“Thằng bé đã tự cố gắng là chính - cần mẫn đến khi làm đúng — nhưng tôi là người đã động viên thằng bé nên thử.” TerryHắn dừng lại, rồi nói rất nhẹ nhàng, “Và giờ thì anh làm điều này với tôi. Trước mặt mọi người, anh đã làm thế với tôi.”
Ralph cảm thấy mặt anh nóng lên. Anh mở miệng toan trả lời, nhưng Samuels đã kéo anh ra cửa, lối xểnh xệch thì đúng hơn. Anh ta dừng lại đủ lâu để liếc nhìn qua vai và nói với lại một cầu. “Ralph không làm vậy với anh, Maitland. Tôi cũng vậy. Anh tự chuốc lấy.”
Sau đó, khi hai người họ đứng nhìn vào phòng thẩm vấn qua tấm kính một chiều, Samuels đã hỏi Ralph có ổn không.
“Ổn,” Ralph nói. Hai má anh vẫn nóng sực.
“Một số kẻ rất giỏi khiến ta phát điên. Anh biết điều đó mà?”
“Đúng thế.”
“Và anh biết hắn làm điều này, phải không? Tôi chưa bao giờ gặp vụ nào khét lẹt như vậy.”
Nó làm tôi khó chịu , Ralph nghĩ. Trước đây thì không, nhưng giờ thì có. Nó không nên như vậy, vì Samuels đúng, nhưng sao cưỡng lại được.
“Anh có để ý tay của hắn không?” Ralph hỏi. “Khi hắn làm hành động dạy Derek đánh bóng, anh có nhìn tay của hắn không?”
“Có. Sao thế?”
“Ngón út không có móng dài,” Ralph nói. “Cả hai tay đều không.”
Samuels nhún vai. “Chắc hắn đã cắt rồi. Anh có chắc là mình ổn không?”
“Ổn,” Ralph nói. “Tôi chỉ...”
Cánh cửa giữa khu văn phòng và khu trại giam kêu lạch cạch, rồi bật mở. Người đàn ông vội vàng đi xuống hành lang mặc một bộ quần áo thoải mái ở nhà vào tối thứ Bảy - quần jean bạc màu và áo phông TCU với SuperFrog đang nhảy lò cò ở trước ngực - nhưng chiếc cặp hình hộp mà ông ta mang theo cho thấy ông ta là một luật sư.
“Xin chào, Bill,” ông ta nói. “Và chào anh, thám tử Anderson. Một trong hai người có muốn cho tôi biết lý do tại sao các vị lại bắt giữ Người đàn ông của năm 2015 theo bình chọn của thành phố Flint không? Nhầm lẫn gì à, một sai lầm mà chúng ta có thể giải quyết, hay các anh mất trí rồi?”
Howard Gold đã đến.
❊ 18 ❊
Gửi: Ủy viên công tố quận William Samuels
Cảnh sát trưởng thành phố Flint, Rodney Geller
Cảnh sát trưởng hạt Flint, Richard Doolin
Đại úy Avery Rudolph, cảnh sát Tiểu bang khu 7
Thám tử Ralph Anderson, sở cảnh sát thành phố Flint
Từ: Thám tử, Trung úy Yunel Sablo, cảnh sát Tiểu bang khu 7
Ngày: 13 tháng 7
Tiêu đề: Trung tâm Vận tải Vogel, Dubrow
Theo yêu cầu của ủy viên công tố quận Samuels và Thám tử Anderson, tôi đã đến Trung tâm vận tải Vogel lúc 2 giờ 30 phút chiều vào ngày nêu trên. Vogel là trạm vận chuyển đường bộ chính ở khu vực phía nam của bang, với ba tuyến xe buýt chính (Greyhound, Trailways, Mid-State) và dịch vụ Amtrak. Ngoài ra còn có các đại lý cho thuê xe thông thường (Hertz, Avis, Enterprise, Alamo). Vì tất cả các khu vực của Trung tâm Vận tải đều được giám sát chặt chẽ bằng camera giám sát, tôi đã trực tiếp đến văn phòng an ninh, tại đây tôi đã gặp Michael Camp, Giám đốc An ninh của Vogel. Ông ấy đã chờ sẵn ở đó. Băng ghi hình giám sát được lưu trữ trong vòng 30 ngày và toàn bộ các quy trình vận hành đều được máy tính hóa, vì vậy tôi có thể xem lại mọi sự kiện đã xảy ra từ đêm mùng 10 tháng 7, từ tổng cộng 16 camera.
Theo ông Clinton Ellenquist, điều phối viên của Công ty Taxi thành phố Flint trực đêm 10 tháng 7, tài xế Wỉllow Rainwater đã gọi đến lúc 9 giờ 30 phút tối để thông báo cô đã chở khách đến địa điểm yêu cầu. Southern Limited, chuyến tàu mà cô Rainwater cho rằng đối tượng tình nghỉ có ý định bắt, đến Vogel lúc 9 giờ 50 phút tối. Hành khách sẽ xuống tại Đường ray 3. Hành khách đi tuyến Dallas - Fort Worth sẽ lên tàu tại Đường ray 3 sau đó bảy phút, lúc 9 giờ 57 phút tối. Southern Limited khởi hành lúc 10 giờ 12 phút tối. Thời gian luôn chính xác, vì tất cả các chuyến đến và đi đều được theo dõi và ghi lại trên máy tính.
Giám đốc An ninh Camp và tôi đã xem lại băng ghỉ hình từ tất cả 16 camera, bắt đầu lúc 9 giờ tối mùng 10 tháng 7 (chỉ để cho chắc) và kết thúc lúc 11 giờ đêm, khoảng 50 phút sau khi Southern Limited rời nhà ga. Tôi để toàn bộ thông tin về băng ghi an ninh trên iPad, nhưng do tình hình khẩn cấp đã được nhấn mạnh (bởi ủy viên công tố quận Samuels), tôi sẽ chỉ tóm tắt trong báo cáo sơ bộ này.
9 giờ 33 phút tối: Đối tượng vào ga qua cổng phía bắc, đây là điểm trả khách thông thường của taxi và là nơi hầu hết hành khách đi vào. Hắn băng qua phòng chờ chính. Áo sơ mi vàng, quần jean xanh. Hắn không có hành lý. Nhìn rõ khuôn mặt của hắn trong 2 đến 4 giây khi hắn nhìn lên đồng hồ lớn trên cao (hình ảnh tĩnh đã được gửi qua email cho ủy viên công tố quận Samuels và thám tử Anderson).
9 giờ 35 phút tối: Đối tượng dừng ở sạp báo nằm giữa trung tâm phòng đợi lớn của nhà ga. Hắn mua một cuốn sách bìa mềm, trả tiền mặt. Tựa sách không rõ và nhân viên bán hàng cũng không nhớ, nhưng chúng tôi có thể tìm ra nếu cần. Trong băng ghi hình này, có thể nhìn thấy mặt khóa thắt lưng hình đầu ngựa (hình ảnh tĩnh đã được gửi qua email cho ủy viên công tố quận Samuels và thám tử Anderson).
9 giờ 39 phút tối: Đối tượng rời khỏi nhà ga qua cửa Đại lộ Montrose (cổng phía nam). Dù lối ra này cho ra vào thoải mái, nhưng chủ yếu chỉ có nhân viên của Vogel sử dụng, vì bãi đậu xe của nhân viên nằm ở phía đó của tòa nhà. Hai camera được đặt để giám sát lô đất này. Đối tượng không xuất hiện trên cả hai camera, nhưng cả tôi và Camp đều phát hiện ra một cái bóng thoáng qua mà chúng tôi tin rằng có thể là đối tượng, đi thẳng về phía bên phải tới một con hẻm dịch vụ.
Đối tượng đã không mua vé lên Southern Limited, bằng cả tiền mặt tại nhà ga lẫn thẻ tín dụng. Sau vài đánh giá qua đoạn băng ghi hình ở Đường ray 3, rõ ràng và theo quan điểm của tôi, tôi có thể khẳng định đối tượng đã không vào lại nhà ga và lên tàu.
Kết luận của tôi là việc đối tượng đi đến Dubrow có thể chỉ nhằm mục đích ngụy tạo chứng cứ ngoại phạm, gây nhầm lẫn cho việc truy dấu. Theo tôi suy đoán, đối tượng có thể đã trở lại thành phố Flint, với sự giúp đỡ của đồng phạm hoặc bằng cách đi nhờ xe. Cũng có thể là hắn đã ăn trộm xe. Sở cảnh sát Dubrow không có báo cáo nào về phương tiện bị đánh cắp trong khu vực lân cận Trung tâm vận tải Vogel vào đêm được đề cập, nhưng như Giám đốc Camp cho hay, hắn có thể đã đánh cắp một chiếc ở bãi đậu xe dài hạn mà không bị phát hiện trong một tuần hoặc thậm chí lâu hơn.
Cũng có băng ghi hình giám sát của bãi đậu xe dài hạn được ghi lại và sẽ được xem xét theo yêu cầu, nhưng phạm vỉ bao quát vẫn còn hạn chế. Ngoài ra, Giám đốc An ninh Camp nói với tôi rằng camera ở đó đã đến hạn phải thay thế nên thường bị trục trặc. Theo tôi, ít nhất là trong lúc này, chúng ta nên theo đuổi các hướng điều tra khác.
Trân trọng,
Thám tử, Trung úy Y. Sablo
Xem các tệp đính kèm
❊ 19 ❊
Howie Gold bắt tay với Samuels và Ralph Anderson. Sau đó, ông nhìn qua tấm kính một chiều về phía Terry Maitland, vẫn đang mặc chiếc áo thi đấu của đội Rồng Vàng cùng chiếc mũ đấu may mắn. Terry ngồi thẳng lưng, ngẩng cao đầu và hai tay xếp ngay ngắn trên bàn. Không run rẩy, không bồn chồn, không lo lắng ngó ngang liếc dọc. Ralph phải thừa nhận với chính mình rằng hắn không hề có vẻ tội lỗi một chút nào.
Cuối cùng, Gold quay về phía Samuels. “Nói đi,” ông nói. Như thể đang ra lệnh cho một con chó làm trò.
“Không có gì nhiều để nói lúc này, Howard.” Samuels đưa tay ra sau đâu. Anh ta vuốt phẳng nhúm tóc bò liếm. Nó nằm yên một lúc, rồi lại vểnh lên. Ralph nhớ đến câu nói của Alfalfa mà anh và anh trai thường cười khúc khích khi nghe thấy hồi còn nhỏ: Bạn chỉ gặp những người bạn tri kỷ một lần trong đời mà thôi. “Chỉ có điều đó không phải là một sai lầm, và chúng tối cũng không hề mất trí.”
“Terry nói gì?”
“Cho đến giờ thì không gì cả,” Ralph nói.
Gold xoay người, đôi mắt xanh lam lấp lánh và dường như trông có vẻ to hơn một chút sau thâu kính tròn của cặp kính. “Anh hiểu lầm ý tôi rồi, Anderson. Không phải tối nay, tôi biết anh ấy đã không nói bất cứ điều gì với anh tối nay, anh ấy biết tốt hơn là không nên làm thế. Ý tôi là ở cuộc thẩm vấn ban đầu cơ. Anh có thể nói với tôi, bởi nếu không thì anh ấy sẽ làm vậy.”
“Làm gì có cuộc thẩm vấn ban đầu nào,” Ralph nói. Và việc gì phải cảm thấy khó chịu về điều đó cơ chứ, không cắn phải làm thế với vụ án mà họ cùng về một đội chỉ trong bốn ngày ngắn ngủi, nhưng anh đã làm vậy, như nhau cả. Một phần thái độ đó có liên quan đến hành động Howie Gold gọi anh bằng họ, như thể họ chưa từng mua đồ uống cho nhau ở Wagon Wheel đối diện tòa án quận. Anh có một thôi thúc đến nực cười muốn nói với Howie rằng, Đừng nhìn tôi, nhìn gã cạnh tôi đây này. Anh ta mỗi là người đẩy nhanh tốc độ*.
Nguyên văn: “Pedal to the metal” . Cụm này có nguồn gốc từ những năm 1950 khi sàn xe làm bằng kim loại. Lái xe, đặc biệt là những tay đua, phải nhấn chân ga chạm tới sàn xe để xe chạy nhanh nhất có thể. Lái xe nhanh nhất có thể (tăng hết tốc lực), nỗ lực hết sức vào việc gì đó.
“Gì? Gượm đã. Chờ tôi một chút.”
Gold thọc tay vào túi trước và bắt đầu lắc lư người như bập bênh.
Ralph đã chứng kiến hành động này nhiều lần, tại tòa án quận và hạt, và chuẩn bị tinh thắn cho chuyện đó. Bị Howie Gold thẩm vấn chéo trên bục làm chứng không bao giờ có thể được coi là một trải nghiệm thú vị. Tuy nhiên, Ralph chưa bao giờ đối đầu với ông ta. Đó là thủ tục theo quy định.
“Ý anh là anh đã bắt anh ấy trước mặt hai nghìn người mà không cho anh ấy cơ hội giải thích sao?”
Ralph nói, “Ông là một luật sư biện hộ giỏi, nhưng Chúa cũng không thể giúp Maidand thoát khỏi vụ này. Và nhân tiện, có khoảng một nghìn hai trăm người ở đó, nhiều nhất là một nghìn năm trăm. Sân Estelle Barga không thể chứa được hai nghìn người. Khán đài sẽ sụp mất.”
Gold phớt lờ cú đầm trả yếu ớt kia. Ông nhìn chằm chằm vào Ralph như thể anh là một loài bọ mới. “Nhưng anh đã bắt anh ấy ở một nơi công cộng, tại thời điểm mà người ta cho là anh ấy sẽ được tán dương...”
“Tán dương cái quái gì cơ?” Samuels mỉm cười hỏi.
Gold cũng phớt lời câu hỏi đó. Ông vẫn đang dò xét Ralph. “Anh đã làm điều đó dù có thể cử một cảnh sát âm thầm theo dõi anh ấy ở sân, sau đó bắt anh ấy tại nhà khi trân đấu kết thúc. Anh đã làm điều đó trước mặt vợ và hai đứa con của anh ấy, điều này hẳn phải có chủ ý. Anh nghĩ cái quái gì thế? Thế lực quái quỷ nào đã kiểm soát suy nghĩ của anh thế?”
Ralph cảm thấy mặt mình nóng lên lần nữa. “Ông thực sự muốn biết phải không, ông cố vấn?”
“Ralph,” Samuels cảnh báo. Anh ta đặt một bàn tay kiềm chế lên cánh tay của Ralph.
Ralph gạt nó ra. “Tôi không phải là người đã bắt hắn. Tôi đã để hai sĩ quan khác làm điều đó, vì tôi sợ mình sẽ bóp cổ hắn ngay tại chỗ. Nếu thế thì một tên luật sư thông minh như ông lại có nhiều điều để bới móc rồi.” Ralph bước lên phía trước, tiến vào không gian của Gold để khiến Gold dừng đung đưa người lại. “Hắn đã lôi cổ Prank Peterson đến công viên Figgis. Ở đó, hẳn thuôn mông thằng bé bằng một cành cây, rồi giết nó. Anh có muốn biết hắn giết thằng bé thể nào không?”
“Ralph, đó là thông tin mật!” Samuels quạu.
Ralph không thèm để ý đến anh ta. “Khám nghiệm pháp y sơ bộ cho thấy hắn đã dùng răng cắn toạc họng thằng bé. Hắn thậm chí có thể đã ăn tươi nuốt sống một phần thịt đấy. Tất cả những điều đó đã khiến hắn phấn khích đến nỗi trút hết hưng phấn của mình ra khắp mặt sau đùi của thằng bé. Tên sát nhân ghê tởm nhất, tồi tệ nhất, khủng khiếp không thể nói nên lời nhất mà bất kỳ ai trong chúng ta từng thấy, Chúa ơi. Chắc hắn đã lập kế hoạch từ lâu rồi. Không ai trong số chúng tôi, những người có mặt tại hiện trường quên được điều đó. Và Terry Maitland đã làm điều đó. Huấn luyện viên T đã làm điều đó, trong khi cách đây không lầu, hắn đã cầm tay con trai tôi, chỉ thằng bé cách đánh bóng. Hắn vừa nói với tôi tất cả những điều đó, như thể để biện mình cho hành động của mình, hay gì đó đại loại thế.”
Gold không còn nhìn chằm chằm vào anh như thể anh là một con bọ nữa. Giờ đầy trên khuôn mặt ông dâng lên một nỗi băn khoăn, như thể ông ta tình cờ vấp phải một món đồ tạo tác do một chủng tộc ngoài hành tinh không rõ lai lịch để lại. Ralph chẳng quan tâm. Mọi sự đã vượt quá sự quan tâm của anh rồi.
“Bản thân ông cũng có một cậu con trai đúng không - Tommy? Đó chẳng phải là lý do ông chọn cầm quân Pop Warner với Terry, vì Tommy đang chơi ở đó sao? Hắn cũng chạm tay vào con trai ông đấy. Và bây giờ ông lại quay ra bảo vệ hắn ư?”
Samuels nói, “Vì Chúa, hãy ngậm cái mồm lại đi.”
Gold đã dừng lắc lư, nhưng không rút lui, và ông vẫn nhìn Ralph chằm chằm với vẻ mặt ngỡ ngàng tột độ. “Thậm chí anh còn chưa thẩm vấn anh ấy,” ông thở gấp. “Không. Thậm chí. Tôi chưa từng... Tôi chưa từng ...?
“Ồ, thôi nào,” Samuels nói với thái độ vui vẻ gượng gạo. “Ông đã thấy mọi thứ, Howie. Hầu hết mọi thứ những hai lần.”
“Tôi muốn gặp anh ấy ngay bây giờ,” Gold nói nhanh, “vì vậy hãy tắt cái máy ghi âm chết tiệt của các anh đi và đóng rèm lại.”
“Tốt thôi,” Samuels nói. “Ông có thể có mười lăm phút, sau đó chúng tôi sẽ vào cùng. Xem vị huấn luyện viên có điều gì muốn nói nào.”
Gold nói, “Tôi sẽ có một giờ, thưa quý ông Samuels.”
“Nửa tiếng. Sau đó, chúng tôi sẽ tiếp nhận lời khai của hắn - việc này sẽ quyết định việc hắn có một suất ở McAlester và xơi một mũi theo quy định - hay sẽ bị tạm giam cho đến buổi luân tội vào thứ Hai. Điều đó tùy thuộc vào ông. Nhưng nếu ông nghĩ chúng tôi sẽ nhẹ tay thì đó là sai lầm lớn nhất đời ống rồi đấy.”
Gold đi về phía cửa. Ralph quẹt thẻ của anh lên ổ khóa, lắng nghe tiếng lạch cạch khi đôi chốt rời nhau ra, rồi quay lại cửa sổ để nhìn viên luật sư bước vào. Samuels bồn chồn khi Maitland đứng dậy khỏi chỗ ngồi và dang tay về phía Gold, nhưng biểu hiện trên khuôn mặt của Maitland là sự nhẹ nhõm chứ không phải hung hăng. Hắn ôm lấy Gold, người đã thả rơi chiếc cặp hộp và ôm lại hắn.
“Một cái ôm bằng hữu,” Samuels nói. “Đó chẳng phải là điều ngọt ngào nhất sao.”
Gold quay lại như thể ông đã nghe thấy câu nói đó, và chỉ vào chiếc camera với châm sáng nhỏ màu đỏ. “Tắt nó đi”, giọng nói của ông phát qua loa trên cao. “Cả âm thanh nữa. Và đừng quên kéo rèm.”
Các công tắc nằm trên một bảng điều khiển gắn trên tường, nơi đặt cả máy ghi âm và ghi hình. Ralph lật công tắc. Chấm nhỏ màu đỏ trên camera ở góc phòng thẩm vấn vụt tắt. Anh gật đầu với Samuels, người phụ trách kéo rèm. Âm thanh mà nó tạo ra khi trùm lấp lên tấm kính đã khơi gợi trong Ralph một ký ức không mấy thoải mái. Cả ba lần - tất cả đều trước ngày Bill Samuels xuất hiện - Ralph đều tham dự các cuộc hành quyết tại McAlester. Có một tấm rèm tương tự (có lẽ do cùng một công ty sản xuất!) trên cửa sổ kính dài ngăn giữa phòng hành quyết và phòng quan sát. Nó được kéo mở ra khi các nhân chứng bước vào phòng quan sát, và đóng lại ngay khi người tử tù được tuyên bố đã chết. Nó cũng tạo ra âm thanh ràn rạt khó chịu ấy.
“Tôi sẽ qua Zoney’s bên kia đường để mua soda và bánh mì kẹp thịt,” Samuels nói. “Tôi lo lắng quá nên vẫn chưa ăn tối. Anh có muốn ăn gì không?”
“Mua giúp tôi một tách cà phê. Không sữa, một đường.”
“Anh chắc chứ? Tôi đã uống cà phê ở Zoney’s, và họ gọi món đó là Cái chết đen thật không ngoa.”
“Tôi sẽ thử,” Ralph nói.
“Được rồi. Tôi sẽ đi chừng mười lăm phút. Nếu họ xong sớm, đừng bắt đầu mà không có tôi.”
Không có chuyện đó đâu. Theo Ralph được biết, đây là sân khấu của Bill Samuels. Hãy để anh ta hứng hết vinh quang, nếu có chút vinh quang nào le lói trong một vụ án kinh hoàng như thế này. Có những chiếc ghế xếp ở phía cuối hành lang. Ralph cầm chiếc bên cạnh máy photocopy đang không hoạt động lên. Anh nhìn chằm chằm vào tấm màn đã được kéo lại và tự hỏi Terry Maitland đang nói gì trong đó, đang tuôn ra những bằng chứng ngoại phạm kỳ lạ nào trước vị đồng huấn luyện viên Pop Warner của mình.
Ralph chợt nghĩ đến người phụ nữ Mỹ bản địa to lớn đã đón Maitland tại Gentlemen, Please và đưa hắn đến ga xe lửa ở Dubrow. Tôi đã huấn luyện đội bóng rổ Prairie League tại YMCA, cô ta đã nói vậy. Maitland thường đến và ngồi trên khán đài vời các bậc phụ huynh để xem những đứa trẻ thi đấu. Hắn nói vởi tôi rằng hắn đang tìm kiếm tài năng cho đội bóng chày City League...
Cô ta biết hắn và hắn chắc chắn cũng biết cô ta - với dáng dấp và màu da ấy, người ta khó có thể quên cô ta được. Tuy nhiên, trên chiếc taxi hắn đã gọi cô ta là quý bà. Tại sao vậy? Bởi vì ngay cả khi đã biết mặt cô ta từ YMCA, hắn vẫn không thể nhớ tên ư? Điều đó có thể xảy ra, nhưng Ralph không thích thế lắm. Những cái tên có thể trôi tuột khỏi đầu, nhưng Willow Raimvater không thuộc những cái tên dễ quên như thế.
“Chà, mày đang bị căng thẳng rồi,” Ralph lầm bẩm, với chính mình hoặc với chiếc máy photocopy đang im như thóc. “Hơn nữa...”
Một kỷ niệm khác ào về, và nhờ nó mà anh nghĩ ra một lý do hấp dẫn hơn lý giải cho việc Maitland gọi cô ta là quý bà . Em trai của anh, Johnny, nhỏ hơn anh ba tuổi, không giỏi chơi trốn tìm cho lắm. Nhiều bận, thằng bé chỉ chạy vào phòng ngủ rồi rúc đầu vào chăn, chắc nó nghĩ miễn mình không thể nhìn thấy Ralphie, Ralphie sẽ không thể tìm ra nó. Chẳng phải người đàn ông vừa thực hiện một vụ giết người man rợ nhường ấy cũng có suy nghĩ ngây thơ thế sao? Nếu tôi không biết quý vị, đời nào quý vị có thể biết tôi. Chắc chắn đó là một logic điên rồ, nhưng đây là tội ác của một kẻ điên và nó có thể lý giải cho nhiều thứ hơn ngoài phản ứng của Terry với Rainwater; nó có thể giải thích tại sao hắn nghĩ hắn có thể thoát tội dù quá nhiều người ở cái thành phố Flint này biết rõ hắn, và hắn còn là một người nổi tiếng với những người hâm mộ thể thao nữa chứ.
Nhưng lúc đó còn có Carlton Scowcroft. Nếu nhắm mắt lại, Ralph gần như có thể thấy Gold gạch dưới một đoạn quan trọng trong lời khai của Scowcroft và chuẩn bị cho phần tổng kết của mình trước bồi thẩm đoàn, có lẽ là đánh cắp một ý tưởng từ luật sư của OJ. Johnnie Cochran từng nói N ếu chiếc găng tay không vừa, anh được trắng án. Phiên bản của Gold sẽ gần như y hệt, có thể là, Vì anh ấy chẳng biết gì, anh phải để anh ấy đi.
Nó sẽ không mang lại hiệu quả, nó thậm chí còn không giống nhau, nhưng...
Theo Scowcroft, Maitland đã giải thích vết máu trên mặt và quần áo của hắn là do hẳn bị chảy máy cam. Terry đã nói với anh ta rằng M áu chảy ồng ộc. Có phòng khám tư nào quanh đây không?
Chỉ có điều, Terry Maitland, ngoại trừ bốn năm đại học, thì đều sống ở thành phố Flint. Hắn sẽ không cần bảng quảng cáo Quick Care gần Coney Ford để chỉ dẫn đường đi cho mình; hắn sẽ không cần phải hỏi ngay từ đâu. Vậy tại sao hắn lại làm thế?
Samuels trở lại với một lon Coke, một chiếc bánh mì kẹp thịt được bọc trong giấy bạc và một tách cà phê mang đi cho Ralph. “Trong đó lặng như tờ à?”
“Ừ. Họ còn hai mươi phút nữa, tính theo đồng hồ của tôi. Khi họ xong việc, tôi sẽ cố lấy gạc má ADN của hắn.”
Samuels mở gói bánh mì kẹp thịt của mình và thận trọng nhấc chiếc bánh ra ngó. “Ôi Chúa ơi,” anh ta nói. “Nó trông giống như thứ gì đó mà một nhân viên y tế đã bóc ra từ một nạn nhân bị bỏng.” Thế nhưng anh ta vẫn đưa chiếc bánh lên miệng và ngoạm một miếng.
Ralph định nhắc đến cuộc trò chuyện của Terry với Rainwater và câu hỏi kỳ quặc của Terry về phòng khám tư, nhưng đã kiểm lòng lại. Anh cũng định nói về chuyện Terry không cải trang hoặc thậm chí cố gắng giấu mặt bằng kính râm nhưng cũng không mở lời. Anh đã nói ra những vấn đề này từ trước, nhưng Samuels gạt phắt đi, khẳng định chúng chẳng có ý nghĩa gì khi có quá nhiều nhân chứng và bằng chứng pháp y.
Cà phê tệ đúng như Samuels dự đoán, nhưng dù sao thì Ralph cũng cố nhấp vài ngụm, và tách cà phê gần như cạn sạch khi Gold gọi đòi ra khỏi phòng thẩm vấn. Biểu hiện của ông khiến Ralph Anderson quặn thắt ruột gan. Không phải biểu hiện của sự lo lắng, tức giận hay phẫn nộ mà một số luật sư có thể sẽ có khi họ thấy thân chủ của mình đang ở trong tình trạng tồi tệ. Không hể, nó đầy cảm thông, và trông vô cùng chân thành.
“Ai chà,” ông ta nói. “Hai vị đang gặp rắc rối lớn đấy.”
❊ 20 ❊
BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ FLINTKhoa bệnh lý và huyết thanh học
Gửi: Thám tử Ralph Anderson
Trung úy Yunel Sablo
Ủy viên công tố quận William Samuels
Từ: Tiến sĩ Edward Bogan
Ngày: 14 tháng 7
Tiêu đề: Nhóm máu và ADN
Máu:
Một số mẫu vật đã được xét nghiệm nhóm máu.
Đầu tiên là cành cây được dùng để khống chế nạn nhân, Frank Peterson, một bé trai da trắng 11 tuổi. Cành cây dài chừng 55 xen-ti-mét với đường kính chừng 8 xen-tỉ-mét. Một đoạn dài gần nửa cành đã bị tuốt sạch vỏ, có thể là do thủ phạm gây án đã ấn quá thô bạo (xem ảnh đính kèm). Dấu vân tay được tìm thấy trên phần trơn nhăn này của cành cây; chúng đã được chụp ánh và gỡ bỏ bởi Phòng Hình sự Tiểu bang trước khi bằng chứng được Thám tử Ralph Anderson (cảnh sát Thành phố Flint) và Trung úy Yunel Sablo (Cảnh sát Tiểu bang khu 7) chuyển cho tôi. Do đó, tôi tuyên bố rằng loạt bằng chứng vẫn còn nguyên vẹn.
Máu trên hơn 10 xen-ti-mét còn lại của cành cây này là O+, máu của nạn nhân, theo xác nhận từ bác sĩ của gia đình Peterson, Horace Connolly. Có nhiều dấu vết khác của máu 0+ trên cành cây, gây ra bởi hiện tượng phụt ngược. Những tia máu này có thể bắn ngược trở ra khi nạn nhân bị xâm hại tình dục, và công bằng mà nói những vệt máu này có thể bắn lên da và quần áo của thủ phạm.
Dấu vết của nhóm máu thứ hai cũng xuất hiện trên các mẫu vật. Đây là nhóm AB+, một nhóm hiếm hơn nhiều (3% dân số). Tôi nghĩ đây là máu của hung thủ và đoán rằng hắn có thể đã bị xước tay khi dùng cành cây cắm vào mông thằng bé, một việc tốn khá nhiều sức và phải dùng lực mạnh.
Rất nhiều máu 0+ được phát hiện trên ghế lái, vô lăng và bảng điều khiển của một chiếc xe van Econoline đời 2007 bị bỏ lại trong bãi đậu xe của nhân viên phía sau quán nhậu Shorty’s (1124 Phố Main). Các vết máu AB+ cũng được tìm thấy trên tay lái của chiếc xe tải. Những mẫu này đã được Trung sĩ Elmer stanton và Richard Spencer thuộc Bộ phận Hình sự Tiểu bang gửi cho tôi, và do đó tôi tuyên bố rằng loạt bằng chứng vẫn còn nguyên vẹn.
Một lượng lớn máu 0+ cũng được tìm thấy trên quần áo (áo, quần, tất, giày thể thao Adidas, quần lót lockey) để lại trên chiếc Subaru đời 2011 được phát hiện tại một bến thuyền bỏ hoang gần Đường 72 (còn được gọi là Đường Old Forge). Ngoài ra còn có một vết máu AB+ trên cổ tay áo bên trái. Những mẫu này đã được Trung úy lohn Koryta (Khu 7) và Trung sĩ Spencer của SCD chuyển đến, do đó tôi tuyên bố loạt bằng chứng vân còn nguyên vẹn. Không có máu AB+ trên chiếc Subaru Outback như trong báo cáo này. Có thể tìm thấy máu loại này trên xe, nhưng bất kỳ vết trầy xước nào mà thủ phạm phải chịu trong quá trình gây án có thể đã khô vào thời điểm hắn bỏ lại chiếc Subaru. Cũng có thể hắn đã băng bó chúng, mặc dù các mẫu máu quá nhỏ nên tôi nghĩ điều này khó xảy ra. Khả quan nhất thì chúng cũng chỉ là những vết cắt nhỏ.
Theo tôi, các anh nên nhanh chóng xác định nhóm máu của bất kỳ nghi phạm nào, do tính hiếm có của nhóm AB+.
ADN:
Mẫu chờ xét nghiệm ADN ở thành phố Cap luôn rất dài, và thường thì phải nhiều tuần hoặc thậm chí vài tháng mới có kết quả. Tuy nhiên, do mức độ tàn bạo tột độ của vụ án này và độ tuổi của nạn nhân, các mẫu vật thu được tại hiện trường vụ án đã được ưu tiên "hàng đầu".
Chủ yếu trong số này là tinh dịch được tìm thấy trên đùi và mông của nạn nhân, nhưng các mẫu da cũng được bóc tách từ cành cây được dùng để khống chế Peterson, và tất nhiên có cả những mẫu máu mà tôi đã thảo luận. Tuần tới sẽ có báo cáo ADN từ tỉnh dịch được tìm thấy tại hiện trường để đối chiếu với nghi phạm. Trung sĩ stanton nói với tôi rằng báo cáo có thể có sớm hơn, nhưng tôi từng xử lý các trường hợp ADN nhiều lần trước đây và cho rằng thứ Sáu tới có vẻ khả thi hơn, ngay cả trong trường hợp ưu tiên như thế này.
Dù không đúng luật, nhưng tôi không thể không bổ sung một ghi chú cá nhân ở đây. Tôi đã xử lý bằng chứng từ nhiều vụ giết người, nhưng cho đến nay đây là tội ác tồi tệ nhất mà tôi từng xử lý và người đã làm việc này cần phải bị bắt càng sớm càng tốt.
Báo cáo do Tiến sĩ Edward Bogan viết lúc 11 giờ sáng
❊ 21 ❊
Howie Gold kết thúc cuộc gặp riêng với Terry lúc 8 giờ 40 phút tối, đúng mười phút trước hạn nửa tiếng mà ông được phép. Lúc đó, Ralph và Bill Samuels đã có thêm cộng sự hỗ trợ là Troy Ramage và Stephanie Gould, nữ cảnh sát tuần tra có ca làm lúc 8 giờ tối. Cô ấy có một bộ test ADN, vẫn còn trong túi nhựa. Bỏ qua lời bình luận rắc rối lớn, rất lớn của Howie, Ralph hỏi viên luật sư rằng liệu ông ta và khách hàng của ông ta có đồng ý để họ lấy gạc ADN không.
Howie đang dùng chân chặn cửa phòng thẩm vấn đề nó không bị sập lại. “Họ muốn lấy gạc má, Terry. Anh ổn chứ? Dù sao thì đó cũng là việc của họ, còn tôi cần gọi nhanh một vài cuộc điện thoại.”
“Được,” Terry nói. Những quấng thâm đã bắt đầu xuất hiện dưới mắt hắn, nhưng hắn có vẻ bình tĩnh. “Hãy làm mọi thứ chúng ta phải làm để tôi có thể rời khỏi đây trước nửa đêm.”
Người đàn ông này có vẻ chắc cú rằng điều đó sẽ xảy ra. Ralph và Samuels liếc nhìn nhau. Samuels nhướng mày, hành động này khiến anh ta trông giống Alfalfa hơn bao giờ hết.
“Gọi cho vợ tôi,” Terry nói. “Nói với cô ấy rằng tôi ổn.”
Howie cười toe toét. “Việc số một trong danh sách của tôi đấy.”
“Đi đến cuối hành lang,” Ralph nói. “Ở đó sóng ổn nhất.”
“Tôi biết,” Howie nói. “Trước kia tôi từng đến đây rồi. Nó giống như kiểu vòng luân hồi ấy. “Và rồi ông ta quay sang nói với Terry: “Đừng nói gì cho đến khi tôi quay lại.”
Sĩ quan Ramage lấy các miếng gạc, mỗi má một miếng, và giơ chúng lên camera trước khi cho từng miếng gạc vào lọ nhỏ. Sĩ quan Gould đặt những chiếc lọ trở lại túi và giơ nó lên trước camera khi đã niêm phong nó bằng một miếng dán bằng chứng màu đỏ. Sau đó, cô ký vào bảng chuỗi hành trình. Hai sĩ quan sẽ mang các mẫu xuống căn phòng có kích thước bằng tủ quần áo, nơi lưu giữ vật chứng của Cảnh sát thành phố Flint. ơ đó, một lần nữa chúng được giơ ra trước một camera ở trên cao trước khi được nộp. Hai sĩ quan nữa, có lẽ là Cảnh sát Tiểu bang, sẽ chuyển nó đến thành phố Cap vào ngày hôm sau. Do đó, chuỗi bằng chứng vẫn còn nguyên vẹn, như Tiến sĩ Bogan từng nói. Việc này nghe có vẻ hơi rắc rối, nhưng không đùa được. Ralph cho rằng mọi mắt xích trong chuỗi đó đều không được phép sơ hở. Không chút nhẩm lẫn nào. Không gì có thể phá vỡ. Không phải trong trường hợp này.
Ủy viên công tố quận Samuels bắt đầu quay trở lại phòng thẩm vấn trong khi Howie thực hiện vài cuộc điện thoại cạnh cửa văn phòng chính, nhưng Ralph đã nán lại, muốn nghe thêm. Howie trò chuyện sơ qua với vợ của Terry — Ralph nghe ông ta nói rằng Sẽ ổn thôi, Marcy - và sau đó thực hiện một cuộc gọi thứ hai, thậm chí còn ngắn gọn hơn, nói chuyện với người đang trông giúp các con của Terry và nhắc người đó rằng đám phóng viên sẽ mắc mùng ở Barnum Court, phải tùy cơ ứng biến. Sau đó, ông ta trở lại phòng thẩm vấn. “Được rồi, hãy sắp xếp lại mớ hỗn độn này thôi.”
Ralph và Samuels ngồi xuống bên bàn đối diện với Terry. Chiếc ghế giữa họ vẫn bị bỏ trống. Howie chọn đứng bên cạnh khách hàng của mình, một tay đặt trên vai Terry.
Samuels bắt đầu bằng một nụ cười mỉm.
“Anh rất thích những cậu bé phải không, huấn luyện viên?”
Terry không hề do dự. “Rất thích. Tôi cũng thích cả các bé gái nữa, vì tôi có hai cô con gái nhỏ.”
“Và tôi chắc chắn rằng hai đứa nhỏ nhà anh cũng chơi thể thao, vi bố chúng là huấn luyện viên T, sao chúng lại không chơi chứ? Nhưng anh không huấn luyện đội tuyển nữ nào, phải không? Không bóng đá, không bóng mếm, bóng chuyên cũng không. Anh tập trung vào các cậu bé. Bóng chày vào mùa hè, Pop Warner vào mùa thu, và bóng rổ Y vào mùa đông, dù tôi đoán anh chỉ xem môn đó. Mọi chuyên đi vào các chiều thứ Bảy đến Y của anh đều là để chiêu quân phải không? Tìm kiếm những cậu bé có tốc độ và sự lanh lợi. Và có thể là cả kiểm tra xem chúng trông như thế nào khi mặc quần đùi nữa nhỉ.”
Ralph đợi Howie ngắt lời Samuels, nhưng Howie vẫn im lặng, ít nhất là vào lúc này. Khuôn mặt ông hoàn toàn trống rỗng, không có bộ phận nào chuyển động ngoại trừ đôi mắt, lướt từ người nói này sang người nói tiếp theo. Ông ta có lẽ là một tay chuyên chơi xì phé , Ralph nghĩ.
Tuy nhiên, Terry đã thực sự mỉm cười. “Anh có được thông tin đó từ Willow Rainwater. Hẳn là vậy rồi. Cô ta có liên quan đến chuyện này, đúng không? Anh nên được nghe cô ta hú hét vào các buổi chiêu thứ Bảy. Box out*, box out, nhấc chân lên, CHẠY ĐẾN RỔ ĐI! Cứ ấy thế nào?”
Thuật ngữ chỉ cách ngăn cản không cho đối phương đến gán rổ để bắt trái bóng bật từ bảng xuống.
“Anh phải cho tôi biết chứ,” Samuels nói. “Rốt cuộc, anh mới gặp cô ta vào tôi thứ Ba mà.”
“Tôi không...”
Howie siết nhẹ vai Terry trước khi hắn có thể nói thêm bất cứ điều gì khác. “Tại sao chúng ta không dừng việc thẩm vấn căn bản này đi nhỉ? Chỉ cần cho chúng tôi biết tại sao Terry lại ở đây. Nói rõ đi.”
“Hãy cho chúng tôi biết anh đã ở đâu vào thứ Ba,” Samuels phản bác. “Anh là người bắt đầu, giờ thì kết thúc đi.”
“Tôi đã...”
Nhưng Howie Gold lại siết vai Terry lần nữa, lần này mạnh hơn, trước khi hắn có thể tiếp tục nói. “Không, Bill, theo hướng đó không được đâu. Hãy cho chúng tôi biết các anh có gì, hoặc tôi sẽ đến gặp báo chí và nói với họ rằng các anh đã bắt giữ một trong những công dân ưu tú của thành phố Flint vì tội giết Frank Peterson, vấy bùn lên danh tiếng của anh ấy, khiến vợ và các con gái anh ấy kinh hâi, nhưng lại không cho thân chủ của tôi biết lý do.”
Samuels nhìn Ralph, anh nhún vai. Nếu ủy viên công tố của quận không có mặt ở đây, Ralph có thể đã xòe ra bằng chứng, với hy vọng sẽ nhanh chóng nhận được lời thú tội.
“Thôi nào, Bill,” Howie nói. “Người đàn ông này cần về nhà và ở bên gia đình của mình.”
Samuels mỉm cười, nhưng không có sự hài hước nào trong mắt anh ta; anh ta chỉ nhếch môi khoe bộ nhá của mình. “Hắn sẽ được gặp họ trước tòa, Howard. Tại buổi luận tội vào thứ Hai.”
Ralph có thể cảm nhận được sợi dây lịch thiệp đang trở nên mảnh như tơ nhện, và đổ lỗi phần lớn cho Bill, người thực sự phẫn nộ với tội ác, và với người đã gây ra tội ác. Bất kỳ ai rơi vào hoàn cảnh này đều thế cả... nhưng cả giận mất khôn, như ông của Ralph từng nói.
“Này, trước khi chúng ta bắt đầu, tôi có một câu hỏi,” Ralph nói, cố làm ra vẻ phấn chấn. “Chỉ một cầu thôi. Được chứ, ông cố vấn? Dù sao thì kiểu gì chúng tôi chẳng tìm ra.”
Howie có vẻ hàm ơn vì cuối cùng ông ta cũng thoát được Samuels. “Để nghe xem nào.”
“Nhóm máu của anh là gì, Terry? Anh có biết không?”
Terry nhìn Howie, người đang nhún vai, rồi quay lại nhìn Ralph. “Tôi phải biết chứ. Tôi hiến máu sáu lần một năm tại Hội Chữ thập đỏ, vì nhóm máu của tôi khá hiếm.”
“AB+?”
Terry chớp mắt. “Làm sao anh biết được điều đó?” Nhưng rồi chợt nhận ra câu trả lời nên là: “Nhưng không hiếm đến thế. Nếu nói đến hiếm thì phải là AB-. Chỉ 1% dân số. Hội Chữ thập đỏ luôn lưu số của những người này trong danh mục quay số nhanh, tin tôi đi.”
“Khi nói đến sự hiếm hoi, tôi luôn nghĩ đến các dấu vân tay,” Samuels nhận xét, nhẹ như gió. “Tôi cho là vì chúng xuất hiện quá thường xuyên ở tòa.”
“Nơi chúng hiếm khi đóng vai trò gì trong quyết định của bồi thẩm đoàn,” Howie nói.
Samuels phớt lờ ông ta. “Không bao giờ có hai dấu vân tay giống hệt nhau. Có những biến thể rất nhỏ ở dấu vân tay của các cặp song sinh cùng trứng. Anh không tình cờ có anh chị em sinh đôi cùng trứng đó chứ, Terry?”
“Anh không định nói rằng anh đã phát hiện ra dấu vân tay của tôi tại hiện trường nơi cậu bé Peterson bị giết đó chứ?” Biểu hiện trên mặt Terry đẩy hoài nghi. Ralph phải cho hắn xem; hắn là một diễn viên chết tiệt, và dường như đang có ý định đò đưa đến cùng.
“Chúng tôi tim được quá nhiều dấu vân tay đến nỗi không đếm nổi,” Ralph nói. “Chúng ở khắp nơi trên chiếc xe van màu trắng mà anh từng dùng để bắt cóc cậu bé nhà Peterson. Chúng ở trên chiếc xe đạp của cậu bé mà chúng tôi tim thấy ở phía sau xe. Chúng ở trên hộp công cụ trong xe tải. Chúng xuất hiện khắp nơi trên chiếc Subaru mà anh đã đánh cắp ở phía sau quán Shorty's.” Anh dừng lại. “Và chúng ở trên cành cây mà anh đã dùng để cắm phập vào mông cậu bé, một hành vi tẩn công man rợ mà chỉ riêng nội thương thôi cũng đủ khiến thằng bé phải bỏ mạng.”
“Không cần đến bột phát hiện dấu vân tay hoặc phải chiếu đèn UV lên,” Samuels nói. “Các dấu vân tay có cả trong máu của cậu bé.”
Đây là thời điểm mà hầu hết các nghi phạm - đến chín mươi lăm phần trăm - sẽ vỡ vụn, dù có luật sư hay không. Nhưng không phải trong trường hợp này. Ralph thấy vẻ kinh ngạc và sửng sốt trên gương mặt người đàn ông ấy, nhưng vẫn không hề thấy chút tội lỗi nào.
Howie tóm lời. “Các anh có các dấu vân tay. Tốt thôi. Đây không phải là lần đầu tiên các dấu vân tay được lưu lại.”
“Một vài thì có thể,” Ralph nói. “Nhưng bảy mươi? Tám mươi? Trong máu, trên chính vũ khí thì sao?”
“Chúng tôi cũng có một loạt nhân chứng,” Samuels nói. Anh bắt đầu xòe ngón tay ra bấm. “Có người nhìn thấy anh đưa Petérson lên xe trong bãi đậu xe của tạp hóa Geralds. Anh đã nhấc xe đạp của thằng bé lên và để vào phía sau chiếc xe van mà anh dùng. Cậu bé đã cùng vào xe với anh. Người ta cũng nhìn thấy anh rời khỏi bụi rậm nơi xảy ra án mạng, người bê bết máu. Tôi có thể nói tiếp, nhưng mẹ tôi luôn bảo tôi rằng phải giữ lại một chút để phòng thân.”
“Nhân chứng hiếm khi đáng tin cậy,” Howie nói. “Các dấu vân tay có thể đúng cũng có thể sai, nhưng nhân chứng...” Ông ta lắc đầu.
Ralph nhảy vào. “Tôi đồng ý, ít nhất là trong hầu hết các trường hợp. Nhưng vụ này thì không. Gần đây tôi đã thẩm vấn một người và người đó nói rằng thành phố Flint chỉ nhỏ như lòng bàn tay. Tôi không chắc về điều đó, nhưng West Side khá đông đúc và ở đây ai chẳng biết anh Maitland. Terry, người phụ nữ nhận ra anh ở Gerald’s là một người hàng xóm của anh, và cô bé nhìn thấy anh bước ra từ bụi rậm ở công viên Figgis biết rất rõ về anh, không chỉ vì cô bé sống gần nhà anh trên Phố Barnum, mà còn vì anh từng tìm ra con chó bị lạc của cô bé.”
“June Morris?” Terry nhìn thẳng vào Ralph với vẻ hoài nghi. Junie.
“Còn những người khác nữa,” Samuels nói. “Nhiều đấy.”
“Willow?” Terry nghe như bị nghẹt thở, như thể hắn vừa bị thọi vào họng. “Cô ta nữa à?”
“Nhiều đấy,” Samuels lặp lại.
“Mỗi người trong số họ đều đã chọn hình anh trong sáu hình mà chúng tôi đưa ra,” Ralph nói. “Không chẩn chừ.”
“Bức ảnh chụp khách hàng của tôi đội mũ lưỡi trai của đội Rồng Vàng và mặc áo sơ mi có chữ C lớn?” Howie hỏi. “Bức ảnh đó đã bị bàn tay của sĩ quan hỏi cung chạm vào chưa?”
“Ông biết rõ đấy,” Ralph nói. “ít nhất tôi hy vọng là ông biết.”
Terry nói, “Đây đúng là một cơn ác mộng.”
Samuels mỉm cười thông cảm. “Tôi hiểu điều đó. Và tất cả những gì anh phải làm để kết thúc nó là cho chúng tôi biết tại sao anh lại làm như vậy.”
Như thể trên đời này có lý do thuyết phục để biện mình cho hành vi ấy vậy , Ralph nghĩ.
“Mọi chuyện sẽ khác.” Samuels nói với giọng điệu gần như dỗ dành. “Nhưng anh nên làm điều đó trước khi có kết quả ADN. Chúng tôi có rất nhiều mẫu, và khi nó khớp với những miếng gạc má đó...” Anh ta nhún vai.
“Hãy cho chúng tôi biết,” Ralph nói. “Tôi không biết đó là sự điên rồ nhất thời hay hành động bốc đồng của anh trong tình trạng mất ý thức, sự động dục, hay bất cứ điều gì, nhưng hãy cho chúng tôi biết.” Anh nghe thấy giọng mình vút lên, nghĩ đến việc ghìm nó lại, rồi nghĩ việc quái gì phải thế. “Hãy ra, mặt đàn ông và cho chúng tôi biết đi!”
Như thể đang nói với chính mình hơn là với những người đàn ông ở phía bên kia bàn, Terry thì thào, “Tôi không biết tại sao chuyện này lại có thể xảy ra. Tôi thậm chí đã không ở thị trấn vào thứ Ba.”
“Vậy thì anh đã ở đâu?” Samuels hỏi. “Tiếp tục đi, cho chúng tôi biết. Tôi thích một câu chuyện hay. Tôi đọc truyện của Agatha Christie suốt hồi trung học.”
Terry quay lại nhìn Gold, và thấy ông gật đầu. Nhưng Ralph nghĩ Howie lúc này trông có vẻ lo lắng. Những thông tin về nhóm máu và dấu vân tay đã khiến ông ta choáng váng, các nhân chứng còn hơn thế. Nhưng hơn hết, có lẽ ông ta cảm thấy bấn loạn nhất bởi thông tin từ cô bé Junie Morris, người có chú chó bị lạc được tìm về nhờ người huấn luyện viên T đáng tin cậy của những ngày xưa.
“Tôi đã ở thành phố Cap. Rời đi lúc 10 giờ sáng thứ Ba, trở về vào đêm thứ Tư. Chà, tắm 9 giờ 30 phút hoặc hơn, khá muộn đối với tôi.”
“Tôi không nghĩ có ai đi cùng anh,” Samuels nói. “Đi một mình để xốc lại tinh thần phải không? Chuẩn bị sẵn sàng cho trận đấu lớn?”
“Tôi...”
“Anh đi xe hơi hay xe van màu trắng? Nhân tiện, anh đã giấu chiếc xe van đó ở đâu? Và làm thế nào mà từ đầu anh lại đánh cắp được một chiếc xe biển New York? Tôi đã đặt ra giả thuyết cho chuyên đó, nhưng tôi muốn anh xác nhận ...”
“Anh có muốn nghe điều này không?” Terry hỏi. Hắn đã bắt đầu mỉm cười trở lại. “Có thể anh sẽ sợ khi nghe thấy đấy. Và có lẽ anh nên sợ đi là vừa. Cơn đau kéo đến thắt lưng rồi, anh Samuels, và nó ngày càng bén ngọt hơn.”
“Vậy sao? Vậy thì tại sao tôi lại là người có thể bước ra khỏi đây và về nhà khi cuộc thẩm vấn này kết thúc nhỉ?”
“Bình tĩnh đi,” Ralph nói khẽ.
Samuels quay sang anh, nhúm tóc bò liếm lúc lắc qua lại. Lúc này Ralph chẳng thấy nó hài hước gì cả. “Đừng bảo tôi bình tĩnh, thám tử. Chúng ta đang ngồi đây cùng kẻ đã cưỡng hiếp một đứa trẻ bằng cành cây, sau đó xé toạc họng thằng bé như... như một kẻ ăn thịt người chết tiệt!”
Gold nhìn thẳng lên camera ở góc tường, nói như thể đang trình bày trước một vị thẩm phán và bồi thẩm đoàn tương lai nào đó. “Đừng hành động như một đứa trẻ cáu kỉnh thế chứ, anh ủy viên công tố quận, nếu không tôi sẽ chấm dứt cuộc thẩm vấn này ngay tại đây.”
“Tôi không đi một mình,” Terry nói, “và tôi không biết chiếc xe van màu trắng nào cả. Tôi đã đi cùng Everett Roundhill, Billy Quade và Debbie Grant. Nói cách khác thi là toàn bộ Khoa tiếng Anh của Trường Trung học Flint. Chiếc Expedition của tôi đang được đem đi sửa vì điều hòa xe bị hỏng, vì vậy chúng tôi đã đi xe hơi của Ev. Anh ấy là trưởng khoa và anh ấy có một chiếc BMW. Nhiều chỗ. Chúng tôi rời trường trung học lúc 10 giờ.”
Samuels tạm thời có vẻ bối rối trước câu trả lời ấy nên Ralph thế chỗ. “Ớ thành phố Cap có chuyện gì mà bốn giáo viên tiếng Anh phải thân chinh đến đó vào giữa kỳ nghỉ hè vậy?”
“Harlan Coben,” Terry nói.
“Harlan Coben là ai?” Bill Samuels hỏi. Anh ta tỏ ra vô cùng hứng thú với những cầu chuyện bí ẩn nhờ Agatha Christie.
Ralph biết; anh không phải là một người thích đọc tiểu thuyết, nhưng vợ anh thi có. “Nhà văn bí ẩn?”
“Nhà văn bí ẩn,” Terry tỏ ra đồng tình. “Xem nào, có một nhóm có tên là Liên hiệp các giáo viên tiếng Anh ba tiểu bang và hằng năm họ tổ chức hội nghị giữa mùa hè kéo dài ba ngày. Đây là lần duy nhất mọi người có thể quy tụ đông đủ. Có các cuộc hội thảo và những cuộc thảo luận của ban hội thẩm, đại loại vậy. Mỗi năm sự kiện này được tổ chức ở một thành phố khác nhau. Năm nay là ở Cap. Giáo viên tiếng Anh cũng giống như bất kỳ ai khác, thật khó để họ có thể gặp nhau ngay cả trong mùa hè, bởi họ còn phải lo quá nhiều việc - tất cả những thứ chưa được hoàn thành trong năm học, các kỳ nghỉ gia đình, cùng các hoạt động mùa hè khác. Đối với tôi thì đó là Little League và City League. Vì vậy, Liên hiệp các giáo viên tiếng Anh ba tiểu bang luôn cố gắng mời một diễn giả tên tuổi làm điểm thu hút cho ngày trung tuần, đó là lúc hầu hết những người tham dự xuất hiện.”
“Trong trường hợp này là thứ Ba tuân trước?” Ralph hỏi.
“Đúng. Hội nghị năm nay diễn ra tại Sheraton, từ ngày 9 tháng 7 - thứ Hai - đến ngày 11 tháng 7, thứ Tư. Tôi đã không tham dự hội nghị đó suốt năm năm rồi, nhưng khi Ev nói với tôi rằng Coben Sẽ là diễn giả chính và các giáo viên tiếng Anh khác cũng sẽ tham dự, tôi đã sắp xếp để Gavin Frick và bố của Baibir Patel lo huấn luyện vào thứ Ba và thứ Tư. Tôi lo lắm vì trận bán kết sắp diễn ra, nhưng tôi biết mình sẽ có thể trở lại huấn luyện vào thứ Năm và thứ Sáu, và tôi không muốn bỏ lỡ Coben. Tôi đã đọc tất cả sách của ông ấy. Ông ấy mạnh về cốt truyện và có khiếu hài hước. Ngoài ra, chủ để của hội nghị năm nay là dạy các tiểu thuyết người lớn nổi tiếng cho học sinh từ lớp Bảy đến lớp Mười hai, một vấn đề nổi cộm trong nhiều năm, đặc biệt là ở khu vực này của đất nước.”
“Bớt dông dài đi,” Samuels nói. “Đi thẳng vào vấn đề chính nào.”
“Được rồi. Chúng tôi đã đến đó, tham gia tiệc trưa, nghe Coben chia sẻ, rồi dành cả buổi tối để tham gia buổi thảo luận lúc 8 giờ. Ev và Debbie dùng phòng đơn, còn tôi ở cùng phòng với Billy Quade. Đó là ý tưởng của anh ấy. Anh ấy bảo đang cơi nới thêm nhà nên phải tiết kiệm. Họ sẽ làm chứng cho tôi.” Hắn nhìn Ralph và đưa hai tay lên, lòng bàn tay hướng ra ngoài. “Tôi đã ở đó. Đó là điểm mấu chốt.”
Căn phòng chìm trong im lặng. Cuối cùng, Samuels lên tiếng, “Coben phát biểu lúc mấy giờ?”
“Ba giờ,” Terry nói. “Ba giờ chiều thứ Ba.”
“Tiện quá,” Samuels nói một cách chua chát.
Howie Gold cười thật tươi. “Không phải cho anh.”
Ba giờ, Ralph nghĩ. Gần như cùng thời điểm mà bà Arlene Stanhope khai đã nhìn thấy Terry đưa chiếc xe đạp của Frank Peterson vào phía sau chiếc xe van màu trắng đánh cắp được, rồi cùng cậu bé rời đi trên ghế phụ. Không, thậm chí là chuẩn xác về giờ. Bà Stanhope cho biết bà đã nghe thấy tiếng chuông đồng hồ ở Tòa thị chính điểm ba giờ.
“Bài phát biểu diễn ra trong phòng họp lớn ở Sheraton?” Ralph hỏi.
“Vâng. Ngay đối diện phòng tiệc.”
“Và anh chắc chắn nó bắt đầu lúc ba giờ.”
“Chà, đó là lúc chủ tịch Liên hiệp chủ trì phần giới thiệu. Mất ít nhất cũng phải chừng mười phút.”
“Uh-huh, và Coben đã nói trong bao lâu?”
“Tôi nghĩ là khoảng chừng 45 phút. Sau đó, ông ấy trả lời các câu hỏi. Xong xuôi hết thì chừng bốn rưỡi.”
Những suy nghĩ của Ralph rối như tơ vò. Anh không thể nhớ mình đã từng hoàn toàn rối trí như vậy bao giờ chưa. Lẽ ra họ nên kiểm tra trước các hoạt động của Terry, nhưng đó là buổi tập vào sáng thứ Hai đầu tuần. Anh, Samuels và Yune Sablo của lực lượng Cảnh sát Tiểu bang đều đồng ý rằng những câu hỏi về Maitland trước khi bị bắt chẳng khác nào rút dây động rừng. Và dường như chẳng cần thế, vì bằng chứng đã quá đủ rỗi. Tuy nhiên, bây giờ...
Anh liếc Samuels, nhưng không thấy sự trợ giúp nào tức thì từ đó; trên gương mặt của ủy viên công tố là sự pha trộn giữa nghi ngờ và bối rối.
“Các anh đã mắc một sai lầm tệ hại đấy,” Gold nói. “Chắc hẳn hai quý ông đây đều thấy điều đó.”
“Không đời nào,” Ralph nói. “Chúng tôi có dấu vân tay của anh ta, có những nhân chứng biết anh ta và không lâu nữa chúng tôi sẽ có kết quả ADN đầu tiên. Sự trùng khớp sẽ chứng minh điều đó.”
“À, nhưng chúng ta có thể sẽ có được thứ gì đó khác sớm thôi,” Gold nói. “Điều tra viên của tôi đang chuẩn bị trong lúc chúng ta trao đổi và ông ấy rất tự tin.”
“Gì?” Samuels cáu kỉnh hỏi.
Gold mỉm cười. “Sao chúng ta lại phải bật mí bí mật mà không chờ xem Alec có thể mang tới điều gì? Nếu khách hàng của tôi nói thật, tôi nghĩ nó sẽ đục thêm một lỗ khác trên chiếc thuyền của anh, Bill ạ, và thuyền của anh thủng lỗ chỗ rồi.”
Alec mà Gold nhắc đến là Alec Pelley, một cựu thám tử từng thuộc lực lượng Cảnh sát Tiểu bang hiện đã nghỉ hưu, và đang làm việc riêng cho các luật sư bào chữa các vụ hình sự. Phí của ông ta cao nhưng chất lượng công việc thi tuyệt vời. Một lần, bên bàn nhậu, Ralph đã hỏi Pelley tại sao ông lại đến Dark Side. Pelley cho biết ông từng tống khứ ít nhất bốn gã mà sau này ông tin là vô tội và thấy mình phải chuộc lỗi. “Ngoài ra,” ông nói, “nghỉ hưu sẽ rất tệ nếu anh không chơi golf.”
Suy đoán về điều Pelley đang theo đuổi lần này sẽ chẳng ích gì... Ralph nhìn Terry chằm chằm, một lần nữa tìm kiếm cảm giác tội lỗi nhưng chỉ thấy nỗi lo lắng, sự tức giận và hoang mang trào lên - những biểu hiện của một người đàn ông đã bị bắt vì điều gì đó mà anh ta chưa từng làm.
Ngoại trừ việc hắn đã làm điều đó, mọi bằng chứng đều chĩa mũi dùi vào hắn, và ADN sẽ đóng chiếc đinh cuối cùng lên chiếc quan tài của hắn. Chứng cứ ngoại phạm của hắn chỉ được dựng lên để đánh lạc hướng, đầy ngụy tạo như vừa được lôi ra từ tiểu thuyết của Agatha Christie (hoặc Harlan Coben). Ralph sẽ lột chiếc mặt nạ ấy vào sáng mai, bắt đầu bằng việc thẩm vấn các đồng nghiệp của Terry, rồi kiểm tra lại phía hội nghị, tập trung vào thời gian Coben bắt đầu và kết thúc bài phát biểu.
Ngay cả trước khi bắt đầu việc đó - việc mà anh vẫn làm - anh cũng đã nhìn thấy một lỗ hổng trong chứng cứ ngoại phạm của Terry. Arlene Stanhope đã thấy Frank Peterson lên chiếc xe van trắng với Terry lúc ba giờ. June Morris đã thấy Terry ở Công viên Figgis, người bê bết máu, chừng 6 giờ 30 - mẹ của cô bé cho hay lúc cô bé rời đi, trên tivi đang phát bản tin dự báo thời tiết, và điều đó đã vạch mặt hắn. Khoảng thời gian từ lúc bà Stanhope nhìn thấy Terry đến lúc June Morris nhìn thấy hắn là ba tiếng rưỡi, quá đủ thời gian để lái xe một trăm cây số từ Cap đến Flint.
Giả sử người mà bà Stanhope nhìn thấy ở bãi đậu xe của Gerald’s không phải Terry Maitland thì sao? Giả sử đó là một đồng phạm trông giống Terry? Hoặc có thể hắn chỉ ăn vận giống Terry, đội mũ lưỡi trai và mặc áo sơ mi của đội Rồng Vàng? Điều đó khó xảy ra cho đến khi tính đến tuổi của bà Stanhope... và cặp kính dày mà bà ấy đang đeo...
“Chúng ta đã xong chuyện ở đây chưa hai vị?” Gold hỏi. “Vì nếu các anh thực sự có ý định giữ Maitland, tôi sẽ có rất nhiều việc phải làm. Đứng đầu danh sách là phát biểu trước báo chí. Không phải việc tôi thích nhưng...”
“Anh nói dối,” Samuels nói một cách chua chát.
“Nhưng nếu tôi làm thế, họ có thể rút quân khỏi nhà Terry và cho các con của anh ấy cơ hội vào nhà mà không bị săn đuổi hay chụp ảnh. Hơn hết, việc đó sẽ mang lại cho gia đình đó chút bình yên mà các anh đã liều lĩnh đánh cắp khỏi họ.”
“Hãy dành điều đó cho cánh tin tức truyền hình,” Samuels nói. Anh ta chỉ tay về phía Terry, cũng đang trong vai một thẩm phán và bồi thẩm đoàn nào đó. “Khách hàng của anh đã tra tấn và sát hại một đứa trẻ, và nêu gia đình anh ta phải chịu đựng những thiệt hại liên đới, thì tất cả cũng là do anh ta”.
“Thật không thể chịu nổi anh,” Terry nói. “Anh thậm chí còn không hỏi tôi câu nào trước khi bắt tôi. Không một câu hỏi nào.”
Ralph nói, “Anh đã làm gì sau bài phát biểu, Terry?”
Terry lắc đầu, không phải để phủ định mà như thể để làm rõ điều đó. “Sau đó ư? Tôi vào hàng với mọi người. Nhưng chúng tôi đã tụt lại khá xa, vì Debbie. Cô ấy phải sử dụng nhà vệ sinh và muốn chúng tôi đợi cô ấy để cả nhóm đi cùng nhau. Cô ấy đi khá lâu. Rất nhiều người cũng phải đi vệ sinh ngay sau phần hỏi đáp, nhưng phụ nữ luôn mất nhiều thời gian hơn, vì anh biết đấy, phụ nữ lắm khâu. Tôi đi xuống quẩy báo cùng Ev và Billy, rồi loanh quanh ở đó. Đến khi cô ấy ra thì hàng người đã đi hết vào sảnh đợi.”
“Hàng gì?” Samuels hỏi.
“Anh là người rừng à, anh Samuels? Hàng người xin chữ kỷ. Mọi người đều mua một bản sách mới của ông ấy, I Told You I Would . Nó đã được bao gồm trong giá vé tham dự hội nghị. Tôi cũng có một cuốn, đã ký tên và ghi ngày tháng, và sẽ rất vui khi được khoe nó với với anh. Đẩy là trong trường hợp anh chưa mang nó ra khỏi nhà tôi cùng với những thứ khác. Lúc chúng tôi đến bàn ký tặng thì đã hơn 5 giờ 30 rồi.”
Nếu vậy, Ralph nghĩ, khoảng trống tưởng tượng của anh trong chứng cứ ngoại phạm của Terry vừa mới co lại thành một lỗ kim. Về mặt lý thuyết, hắn có thể lái xe từ Cap về Flint trong một giờ, giới hạn tốc độ là 11270 cây số và hắn có thể đi thẳng một mạch về nhà mà không bị cảnh sát dừng lại trừ khi hắn nhích lên 136 hoặc thậm chí là 145 cây số - nhưng làm sao Terry có thời gian để phạm tội được đây? Trừ khi có một kẻ đồng phạm trông giống hắn đã làm việc đó, và nếu thế thì sao dấu vân tay của Terry lại xuất hiện ở khắp nơi được, kể cả trên cành cầy cũng có? Câu trả lời là không thể nào. Ngoài ra, tại sao Terry lại muốn có một đồng phạm giống hệt hắn, ăn vận giống hắn, hoặc cả hai? Câu trả lời là hắn sẽ không đời nào muốn thế.
“Các giáo viên tiếng Anh khác có ở cùng anh trong suốt thời gian anh đứng xếp hàng không?” Samuels hỏi.
“Có.”
“Buổi ký tặng cũng ở trong phòng lớn?”
“Đúng thế. Tôi nghĩ họ gọi đó là phòng khiêu vũ.”
“Và khi tất cả các vị đều xin được chữ ký rồi thì mọi người làm gì?”
“Đi ăn tối cùng với một số giáo viên tiếng Anh từ Broken Arrow mà chúng tôi đã gặp khi đang xếp hàng.”
“Đi ăn tối ở đâu?” Ralph hỏi.
“Firepit. Đó là một nhà hàng bít tết cách khách sạn chừng ba dãy nhà. Chúng tôi đến đó vào khoảng 6 giờ, uống vài ly, rồi dùng tráng miệng sau đó. Chúng tôi đã rất vui.” Hắn nói nhẹ như không. “Tôi nghĩ chúng tôi có tổng cộng chín người. Chúng tôi cùng nhau đi bộ trở về khách sạn và tham dự cuộc thảo luận buổi tối, bàn về cách giải quyết những thách thức khi dạy các cuốn sách như To Kill a Mockingbird (Giết con chim nhại) và Slaughterhouse-Five (Lò sát sinh số 5). Ev và Debbie đã rời đi trước khi cuộc thảo luận kết thúc, nhưng tôi và Billy vẫn ở lại đến cuối cùng.”
“Chừng mấy giờ?” Ralph hỏi.
“9 giờ 30 hoặc muộn hơn.”
“Và sau đó?”
“Billy và tôi làm vài cốc bia ở bar, sau đó chúng tôi lên phòng và đi ngủ.”
Nghe bài phát biểu của một nhà văn bí ẩn nổi tiếng khi cậu bé Peterson bị bắt cóc , Ralph nghĩ. Ăn tối với ít nhất tám người khác khi cậu bé Peterson bị sát hại. Tham dự một cuộc thảo luân về những cuốn sách bị cấm khi Willow Rainwater khẳng định đã đưa hắn đi bằng xe taxi của cô từ Gentlemen, Please đến ga xe lửa ở Dubrow. Hắn hẳn phải biết rằng chúng tôi sẽ đến gặp các đồng nghiệp, các giáo viên từ Broken Arrow để đối chứng, và rằng chúng tôi sẽ nói chuyên với cả người pha chế ở quầy bar tại Sheraton. Hắn chắc hẳn cũng phải biết chúng tôi sẽ kiểm tra băng ghi hình an ninh của khách sạn, và thậm chí cả chữ ký trong bản sao cuốn sách mới nhất của Harlan Coben. Hắn chắc hẳn phải biết những điều này, hắn đâu có ngu.
Kết luận - rằng câu chuyện của hắn sẽ được kiểm chứng - vừa khó tránh khỏi vừa khó tin.
Samuels chồm người qua bàn, cằm hếch lên. “Anh nghĩ chúng tôi tin anh đã ở bên những người khác suốt từ 3 giờ đến 8 giờ vào thứ Ba à? Toàn bộ thời gian?”
Terry ném về phía anh ta ánh nhìn của một người thầy dành cho đứa học trò xấc láo: Cả hai chúng ta đều biết trò thật lảo lếu, nhưng tôi sẽ không lầm bẽ mặt trò bằng cách nói điều đó trước mặt bạn bè của trò. “Dĩ nhiên là không. Tôi đã đi vệ sinh trước khi bài phát biểu của Coben bắt đâu. Và tôi đã đi một lần nữa ở nhà hàng. Có lẽ anh có thể thuyết phục bồi thẩm đoàn rằng tôi đã trở lại Flint, giết Frankie Peterson tội nghiệp, và quay trở lại thành phố Cap trong phút rưỡi mà tôi dùng để làm trống bàng quang của mình. Anh nghĩ họ có tin anh không?”
Samuels nhìn Ralph. Ralph nhún vai.
“Tôi nghĩ chúng tôi không còn câu hỏi nào nữa,” Samuels nói. “Ông Maitland sẽ được áp giải đến nhà tù của hạt và bị giam giữ cho đến buổi luận tội vào thứ Hai.”
Vai của Terry chùng xuống.
“Anh định làm tới cùng,” Gold nói. “Các anh thực sự định làm thế.”
Ralph mong đợi một sự bùng nổ khác từ Samuels, nhưng lần này ủy viên công tố đã khiến anh ngạc nhiên. Anh ta có vẻ bơ phờ hệt như Maitland. “Thôi nào, Howie. Anh biết tôi không có lựa chọn nào khác dựa trên những bằng chứng có sẵn. Và khi kết quả ADN khớp, trò chơi sẽ kết thúc thôi.”
Anh ta lại nghiêng người về phía trước, một lán nữa xâm nhập vào không gian của Terry.
“Anh vẫn còn cơ hội để tránh khỏi việc phải xơi một mũi, Terry ạ. Đó không phải là một kết cục tốt đẹp, nhưng chuyện phải thế. Tôi mong anh hiểu. Bớt nói nhảm nhí và thú nhân đi. Hãy làm điều đó vì Fred và Arlene Peterson, những người đã mất con trai theo cách tồi tệ nhất mà chúng ta có thể tưởng tượng ra. Anh sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn phần nào.”
Terry không chùn bước như Samuels mong đợi. Thay vào đó, hắn rướn người về phía trước, và ủy viên công tố mới là người phải lùi lại, như thể sợ người đàn ông ở phía bên kia bàn mang mẩm bệnh lầy nhiễm mà anh ta, Samuels, có thể mắc phải. “Không có gì phải thú nhân cả, thưa ngài công tố viên. Tôi không giết Frankie Peterson. Tôi sẽ không bao giờ làm tổn thương một đứa trẻ. Anh bắt nhẩm người rồi.”
Samuels thở dài và đứng dậy. “Được rồi, anh đã có cơ hội của mình. Bây giờ thì... Cầu Chúa giúp anh.”
❊ 22 ❊
BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ PLINTKhoa bệnh lý và huyết thanh học
Gửi: Thám tử Ralph Anderson
Trung úy Yunel Sablo
Ủy viên công tố quận William Samuels
Từ: Tiến sĩ F. Ackerman, Trưởng khoa Bệnh lý
Ngày: 12 tháng 7
Tiêu đề: Phụ lục khám nghiệm tử thi/CÁ NHÂN VÀ BẢO MẬT
Theo yêu cầu, ý kiến của tôi được trình bày cụ thể như sau.
Dù Frank Peterson có thể sống sót hay không thể sống sót sau hành động cưỡng hiếp được ghi nhận trong báo cáo khám nghiệm tử thi (do chính tôi thực hiện ngày 11 tháng 7, với sự hỗ trợ của Tiến sĩ Alvin Barkland), rõ ràng nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của cậu bé là do kiệt máu (tức là, mất nhiều máu).
Dấu răng được tìm thấy trên các phần còn lại của khuôn mặt, cổ họng, vai, ngực, sườn bên phải và thân của Peterson. Các vết thưong cùng với các bức ảnh chụp hiện trường vụ án, cho thấy trình tự gây án của hung thủ như sau: Peterson bị quật ngửa xuống đất rất mạnh và bị cắn ít nhất sáu lần, có lẽ lên đến hàng chục lần. Đây là hành vi thú tính. Sau đó, cậu bé bị lật cho nằm sấp và bị hãm hiếp. Lúc đó Peterson gần như chắc chắn đã bất tỉnh. Trong lúc giao cấu hoặc ngay sau đó, thủ phạm đã xuất tinh.
Tôi đã đánh dấu phụ lục này là cá nhân và bảo mật vì một số khía cạnh của vụ án này, nếu được tiết lộ, sẽ được báo chí giật tít không chỉ ở địa phương mà còn trên toàn quốc. Các bộ phận trên cơ thể Peterson, cụ thể nhất là dái tai phải, núm vú phải, một phần khí quản và thực quản, đều biến mất. Có thể hung thủ đã xẻo những bộ phận cơ thể này cùng với một phần đáng kể thịt ở gáy cậu bé để làm chiến lợi phẩm. Đó là trong trường hợp khả quan nhất. Nếu không, chắc hẳn hung thủ đã ăn phần thịt đó.
Là người chịu trách nhiệm về vụ án, các anh sẽ biết làm sao cho phù hợp, nhưng theo tôi, những dữ kiện này và kết luận sau đó của tôi, không chỉ cần được giữ kín với báo chí mà còn không được trình ra bất kỳ phiên tòa nào, trừ khi thực sự cần thiết để đảm bảo phán quyết chuẩn xác. Chúng ta có thể tưởng tượng được phản ứng của bố mẹ cậu bé trước những thông tin như vậy, nhưng ai lại muốn thế? Hãy thứ lỗi cho tôi nếu các anh thấy tôi đã đi quá giới hạn, song trong trường hợp này, tôi cảm thấy điều đó là cần thiết. Tôi là bác sĩ, giám định viên y tế của hạt, nhưng tôi cũng là một người mẹ.
Xin các anh sớm bắt được kê đã hãm hiếp và sát hại đứa trẻ này. Nếu các anh không làm như vậy, gần như chắc chắn các anh sẽ phải chứng kiến những vụ tương tự.
Felicity Ackerman, Bác sĩ y khoa
Bệnh viện Đa khoa Thành phố Flint
Trưởng khoa Bệnh lý
Giám định viên Y tế trưởng Hạt Flint
❊ 23 ❊
Phòng chính của Sở cảnh sát thành phố Flint rất rộng, nhưng bốn người đàn ông đang đợi Terry Maitland dường như đã choán hết cả căn phòng - hai Cảnh sát Tiểu bang và hai nhân viên cải huấn từ nhà tù hạt, những người vô cùng to cao lực lưỡng. Dù vẫn còn choáng váng trước những gì đã xảy ra với mình (những gì vẫn đang xảy ra), Terry không khỏi có chút thích thú. Nhà tù hạt chỉ cách đó bốn dãy nhà. Một đám trâu mộng đã được huy động để dẫn anh đi quãng đường gần một cây số.
“Đưa tay ra đây,” một trong những nhân viên cải huấn nói.
Terry chìa tay ra và quan sát khi một chiếc còng mới được kẹp vào cổ tay anh. Anh đưa mắt tìm Howie, đột nhiên lo lắng như đứa trẻ lên năm, khi mẹ buông tay anh vào ngày đầu tiên anh đến trường mẫu giáo. Howie đang ngồi ở góc một chiếc bàn trống, nói chuyện điện thoại, nhưng khi nhìn thấy ánh mắt của Terry, ông đã kết thúc cuộc gọi và vội vã chạy đến.
“Không được chạm vào phạm nhân, thưa ngài,” viên sĩ quan còng tay Terry nói.
Gold phớt lờ anh ta. Ông choàng tay qua vai Terry và thì thầm, “Mọi chuyện sẽ ổn thôi.” Sau đó - trước sự ngạc nhiên của Gold cũng như khách hàng của mình - ông đã hôn lên má Terry.
Terry mang nụ hôn ấy theo mình khi bốn gã lực lưỡng hộ tống anh xuống các bậc thang để đến nơi có một chiếc xe van của hạt đang chờ phía sau một xe tuần tra của Cảnh sát Tiểu bang với những chùm đèn như đèn xổ số phát sáng liên tục. Và cả những tiếng huyên náo nữa. Đặc biệt khi camera nhấp nháy và những bóng đèn của đám phóng viên truyền hình bật sáng cùng những câu hỏi bay về phía anh như đạn lạc: Anh có bị buộc tội không, anh có làm điều đó không, anh có vô tội không, anh đã thú nhận chưa, anh có thế nói gì với bố mẹ của Frank Peterson.
Mọi chuyện sẽ ổn thôi , Gold nói, và đó là những gì Terry bám víu vào.
Nhưng tất nhiên là không ổn rồi.