Chiếc đèn còi hụ chạy bằng pin mà Alec Pelley để ở hộp giữa của chiếc Explorer có danh tính không rõ ràng. Nó có thể không còn hợp pháp nữa, vi ông đã nghỉ hưu và không còn làm Cảnh sát Tiểu bang, nhưng mặt khác, với tư cách thành viên chấp hành tốt thuộc đội dự bị Cảnh sát Thành phố Cap, thì chiếc đèn lại hợp pháp. Dù bằng cách nào, có vẻ như ông cần đặt nó trên nóc xe và bật sáng nó vào dịp này. Với sự giúp sức của nó, ông đã chạy từ Cap đến Flint trong khoảng thời gian ngắn kỷ lục và đang gõ cửa ngôi nhà số 17 đường Barnum Court lúc 9 giờ 15. Ở đây không có đám báo chí, nhưng đi thêm một đoạn nữa, ông có thể nhìn thấy đèn đóm sáng trưng của đám phóng viên trước nơi mà ông cho là tổ ẩm của gia đình Maitland. Có vẻ như không phải mọi con đom đóm đều bị hút về phía miếng thịt tươi ngon trong buổi họp báo ngẫu hứng của Howie. Không phải như ông đã mong đợi.
Cửa mở và một người đàn ông với mái tóc ngắn màu vàng cát ló mặt ra, anh ta nhíu mày, đôi môi mím chặt đến nỗi khuôn miệng gần như biến mất. Tất cả chỉ chực bung ra những tiếng chửi thể. Người phụ nữ đứng sau lưng anh ta là một cô gái tóc vàng mắt xanh, cao hơn chồng chừng dăm bảy phần và trông đẹp hơn nhiều, dù không trang điểm và đôi mắt sưng vù. Cô ấy hiện đang không khóc, nhưng ở đâu đó phía trong nhà, có tiếng ai đó đang khóc. Một đứa trẻ. Một trong những đứa con của Maitland, Alec cho là vây.
“Ông bà Mattingly? Tôi là Alec Pelley. Howie Gold đã gọi cho các vị chưa?”
“Rồi,” người phụ nữ nói. “Mời vào, ông Pelley.”
Alec định dợm bước vào nhà. Mattingly, thấp hơn ông chừng hai chục phân, đã chặn ông lại với vẻ mặt cương nghị. “Trước tiên, chúng tôi có thể xem giấy tờ tùy thân của ông không?”
“Tất nhiên.” Alec có thể cho họ xem bằng lái, nhưng thay vào đó ông đã chọn Thẻ Dự bị Cảnh sát của mình. Họ không cần phải biết đợt này các ca trực của ông chủ yếu là làm từ thiện, thường là bảo vệ cho các buổi biểu diễn nhạc rock, trò chơi đua xe, đấu vật chuyên nghiệp và cuộc thi xe tải quái vật diễn ra ba năm một lần tại Đẩu trường La Mã. Ông cũng làm việc ở khu vực kinh doanh của thành phố Cap với một cây phấn khi một trong những người ghi vé phạt cáo ốm. Đây là một trải nghiệm có phần khiêm tốn với một người từng chỉ huy một đội gồm bốn thám tử thuộc Cảnh sát Tiểu bang, nhưng Alec không bận tâm; ông thích ở ngoài hít khí trời. Ngoài ra, ông còn là một học giả Kinh thánh, và trong James 4, câu 6, đã tuyên bố, “Chúa Trời phản đối kẻ kiêu ngạo, nhưng lại ban ân điển cho kẻ khiêm nhường.”
“Cảm ơn,” Mattingly nói, đồng thời bước sang một bên và chìa tay ra. “Tom Mattingly.”
Alec bắt tay anh ta, chuẩn bị cho một cái nắm chặt. Ông đã không phải thất vọng.
“Tôi thường không phải là người đa nghi, vì dẫu sao khu này cũng khá yên tĩnh, nhưng tôi đã dặn Jamie rằng chúng tôi phải cực kỹ cẩn thận trong khi trông chừng Sarah và Grace. Rất nhiều người đang giận Huấn luyện viên T, và tin tôi đi, đây mới chỉ là khởi đâu. Một khi những gì anh ta làm vỡ lẽ, mọi chuyên sẽ tồi tệ hơn rất nhiều. Rất vui khi ông đến và giúp chúng tôi trút bỏ được gánh nặng này.”
Jamie Mattingly nhìn chồng đẩy trách móc. “Dù bố chúng có làm gì đi nữa - ấy là nếu Terry có làm thế thật - thì cũng đâu phải lỗi của bọn trẻ.” Và quay sang Alec, cô nói: “Chúng suy sụp lắm, đặc biệt là Gracie. Chúng đã thấy bố mình bị còng tay dẫn đi.”
“Ôi, Chúa ơi, hãy đợi cho đến khi chúng biết tại sao,” Mattingly nói. “Và chúng sẽ sớm biết thôi. Bọn trẻ ngày nay toàn thế. Internet chết tiệt, Facebook chết tiệt, những con chim Tweeter chết tiệt.” Anh ta lắc đầu. “Jamie nói đúng, người ta vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội, đó là kiểu của người Mỹ, nhưng khi họ bắt giữ công khai một người như vậy...” Anh ta thở dài. “Muốn uống gì không, ông Pelley? Jamie có pha trà đá trước trân đâu.”
“Cảm ơn, nhưng tốt hơn là tôi nên đưa bọn trẻ về nhà. Mẹ chúng đang chờ.” Và giao con cho cô ấy chỉ là việc đầu tiên của ông đêm nay. Howie đã dượt qua thật nhanh danh sách việc cần làm ngay trước khi bước vào vùng ánh sáng chói lòa của đám báo chí, và mục số hai là phải chạy hết tốc lực trở lại thành phố Cap, thực hiện các cuộc gọi (và gọi điện nhờ giúp đỡ) trên đường đi. Quay lại với công việc, tốt thôi - tốt hơn nhiều so với việc vạch phấn vào những chiếc lốp xè trên Phố Midland - nhưng việc này cũng chẳng dễ dàng gì.
Hai cô bé đang ở trong một căn phòng mà theo đánh giá của ông thì là chốn riêng của Tom Mattingly, dựa trên con cá nhồi bông đang nhảy trên những bức tường làm bằng gỗ thông đốm loang lổ. Trên màn hình phẳng lớn, SpongeBob đang nhảy tâng tâng trong tập phim Bikini Bottom , nhưng tiếng đã bị tắt. Hai cô bé đang ngồi co ro trên ghế sô-pha, vẫn mặc áo phông và đội mũ bóng chày đội Rồng. Trên mặt chúng vẫn còn nguyên lớp sơn đen và vàng — có lẽ được mẹ vẽ cho cách đây vài giờ, trước khi thế giới thân thiện ngày xưa chồm dây và cắn phập một lỗ vào gia đình họ - nhưng đứa bé hơn đã khóc gắn như kiệt sức.
Đứa lớn nhìn thấy một người đàn ông lạ mặt lù lù bước vào cửa và đã quàng tay ôm chặt lấy cô em gái đang khóc của mình. Dù bản thân Alec không có con, nhưng ông thích nhìn thấy chúng ổn, và cử chỉ bản năng của Sarah Maitland đã làm trái tim ông phải rung lên vì thương xót: một đứa trẻ đang bảo vệ một đứa trẻ.
Ông đứng giữa phòng, hai tay đan lại trước mặt. “Sarah? Bác là bạn của chú Howie Gold. Cháu biết chú ấy, phải không?”
“Vâng. Bố cháu không sao chứ?” Cô bé nói gần như thì thầm, giọng khàn đặc vì khóc. Grace không hề nhìn Alec; cô bé quay mặt vào hõm vai của chị gái mình.
“Ổn. Ông ấy bảo bác đón các cháu về nhà.” Không hẳn vậy, song lúc này không phải là thời điểm cần rạch ròi mọi thứ.
“Bố cháu về nhà chưa?”
“Chưa, nhưng mẹ cháu ở nhà.”
“Chúng cháu có thể đi bộ,” Sarah nói một cách yếu ớt. “Ớ ngay cuối phố thôi mà. Cháu có thể dắt Gracie.”
Dựa vào vai chị gái, đầu của Grace Maitland lắc qua lắc lại thể hiện sự phản đối.
“Không thể sau khi trời tối, cháu yêu ạ,” Jamie Mattingly nói.
Và không phải đêm nay, Alec nghĩ. Cũng không phải trong nhiều đêm tới. Ngày cũng vậy.
“Thôi nào hai nhóc,” Tom nói với sự cổ vũ nồng nhiệt (nhưng có vẻ ma quái thi đúng hơn). “Bác sẽ tiễn các cháu ra cửa.”
Trên hiên, dưới ánh đèn, Jamie Mattingly trông nhợt nhạt hơn bao giờ hết; cô ấy đã từ một bà mẹ chơi thể thao trở nên tái xanh như một bệnh nhân ung thư trong ba giờ ngắn ngủi. “Thật khủng khiếp,” cô nói. “Thế giới đảo lộn cả. Cảm ơn Chúa, con gái của chúng tôi đang đi trại hè. Chúng tôi chỉ có mặt ở trận đấu tối nay vì Sarah và Maureen là bạn thân nhất của nhau.”
Khi nghe nhắc đến người bạn của mình, Sarah Maitland cũng bắt đầu rấm rứt khóc, và điều đó lại càng khiến em gái của cô bé òa khóc lên một lần nữa. Alec cảm ơn vợ chồng Mattingly và dẫn hai cô bé đến chiếc Explorer của ông. Chúng bước đi chậm rãi, cúi đầu và nắm tay nhau như những đứa trẻ trong truyện cổ tích. Ông đã dọn sạch ghế hành khách phía trước vẫn thường chất đống đồ đạc, và chúng ngồi sát rạt vào nhau. Grace một lần nữa úp mặt vào hõm vai của chị gái.
Alec cũng chẳng buồn cố thắt dây an toàn cho chúng; chỗ này chỉ cách nơi đang quy tụ dàn đèn sáng trưng của đám phóng viên trên vỉa hẻ và bãi cỏ nhà Maitland chừng hai ba trăm mét. Trước cửa nhà chỉ còn lại một nhóm. Họ đến từ chỉ nhánh ABC của thành phố Cap, bốn hoặc năm chàng trai đang quầy lại và uống cà phê từ những chiếc cốc xốp dưới bóng của đĩa vệ tinh trên chiếc xe tải của họ. Khi nhìn thấy chiếc Explorer rẽ vào đường lái nhà Maitland, họ vội lao ra.
Alec hạ cửa sổ xuống và nói với họ bằng giọng điệu cứng rắn nhất của mình. “Không được chụp ảnh! Không được chụp bất cứ bức ảnh nào của bọn trẻ!”
Điều đó khiến họ khựng lại trong vài giây, nhưng chỉ vài giây thôi. Bảo đám kền kền đừng quay phim chụp ảnh chẳng khác nào bảo muỗi đừng đốt. Alec vẫn nhớ mọi thứ hồi xưa khác biệt như thế nào (cái thời xa xưa khi các quý ông vẫn còn giữ cửa cho các quý bà), nhưng đó đã là chuyện quá vãng rồi. Người phóng viên duy nhất chọn ở lại còn đường Barnum Court này — một gã người gốc Tây Ban Nha mà Alec lờ mờ nhận ra, một người mê nơ bướm và đảm nhiệm bản tin thời tiết vào cuối tuần — đã lấy mic của anh ta ra và kiểm tra bộ nguồn trên thắt lưng.
Cửa trước ngôi nhà của gia đình Maitland khẽ hé. Sarah nhìn thấy mẹ cô bé đứng đó và định bước ra. “Chờ đã, Sarah,” Alec nói, và với tay ra sau. Ông đã vơ vội vài chiếc khăn tắm từ phòng tắm ở tầng dưới trước khi rời nhà, và bây giờ ông đưa cho mỗi cô bé một chiếc.
“Trùm khăn lên mặt trừ mắt nhé.” Ông mỉm cười. “Giống như những tên cướp trong phim, được chứ?”
Grace chỉ nhìn ông chằm chằm, còn Sarah hiểu ý và trùm một trong những chiếc khăn lên đầu cô em gái của mình. Alec che hết miệng và mũi của Grace trong khi Sarah sửa chiếc khăn của cô bé. Họ bước ra và nhanh chóng vượt qua luồng ánh sáng chói mắt từ chiếc xe tải truyền hình, giữ rịt chiếc khăn tắm kín dưới cằm. Chúng trông không giống những tên cướp mà giống như những chú lùn Bedouin trước cơn bão cất. Chúng cũng giống như những đứa trẻ buồn nhất, tuyệt vọng nhất mà Alec từng thấy.
Marcy Maitland không có khăn che mặt, và người quay phim tập trung vào cô.
“Bà Maitland!” Tên nơ bướm hét vào mặt cô. “Bà có bình luận gì về việc chồng mình bị bắt không? Bà đã nói chuyên với ông ấy chưa?”
Bước tới trước máy quay (và di chuyển nhanh nhẹn khi người quay phim cố lấy một góc rõ ràng), Alec chỉ vào gã nơ bướm. “Đừng bước bước nào lên bãi cỏ, người anh em, nếu không anh có thể hỏi Maitland những câu hỏi nhảm nhí đó từ phòng giam đấy.”
Nơ bướm ném cho ông một cái nhìn khinh bỉ. “Ông gọi ai là người anh em đấy? Tôi có việc phải làm ở đây.”
“Tân công một người phụ nữ quẫn trí và hai đứa nhỏ,” Alec nói. “Đó được gọi là công việc à?”
Nhưng công việc của cá nhân ông ở đây đã xong. Marcy đã kéo được lũ trẻ vào trong nhà. Chúng đã an toàn - an toàn hết mức có thể, dù ông có cảm giác hai đứa trẻ đó sẽ không cảm thấy an toàn ở bất cứ đầu trong một thời gian rất dài.
Tên nơ bướm chạy lon ton xuống vỉa hè, ra hiệu cho người quay phim đi theo khi Alec quay trở lại xe của mình. “Ngài là ai, thưa ngài? Tên ngài là gì?”
“Puddentane. Hãy hỏi lại tôi và tôi sẽ nói với các anh y như vậy. Các anh không có việc ở đây, vì vậy hãy để những người này yên, được chứ? Họ không liên quan gì đến chuyên này.”
Mặc dù ông cũng có thể nói bằng tiếng Nga nữa. Những người hàng xóm đã trở lại bãi cỏ nhà họ, háo hức xem tập tiếp theo của bộ phim truyền hình dài kỳ ở đường Barnum Court.
Alec lùi xuống đường lái xe và hướng về phía Tây, biết rõ mấy tay săn ảnh sẽ chụp biển số xe của ông, sẽ sớm biết ông là ai, và ông đang làm việc cho ai. Đó không phải là tin tức quan trọng, nhưng dù gì nó cũng có thể đóng vai một quả anh đào trên món kem mứt mà họ sẽ phục vụ những người xem theo dõi tin tức lúc 11 giờ đêm. Ông thoáng nghĩ về những gì đang diễn ra trong ngôi nhà đó - người mẹ choáng váng và kinh hãi đang cố gắng an ủi hai cô con gái hoảng loạn, với khuôn mặt vẫn còn sơn đen vàng khi cổ vũ trận đấu.
“Anh ta đã làm điều đó à?” Ông đã hỏi Howie khi Howie gọi và tóm tắt tình hình. Không quan trọng, công việc là công việc, nhưng ông luôn muốn biết. “Anh nghĩ sao?”
“Tôi không biết phải nghĩ gì,” Howie trả lời, “nhưng tôi biết hành động tiếp theo của ông là gi, ngay sau khi ông đưa Sarah và Gracie về nhà.”
Khi nhìn thấy biển hiệu đầu tiên hướng về phía trạm thu phí, Alec đã gọi điện đến Sheraton ở Cap và yêu cầu gặp nhân viên điều phối, người mà ông từng làm việc trước đây.
Chết tiệt, ông đã từng làm việc với hầu hết tất cả bọn họ.
❊ 2 ❊
Ralph và Bill Samuels ngồi trong văn phòng của Ralph với cà vạt đã được lắc lỏng ra còn cổ áo thì hạ bớt cúc. Đèn của đám phóng viên truyền hình bên ngoài đã tắt trước đó mười phút. Cả bốn nút trên chiếc điện thoại bàn của Ralph đều sáng lên, nhưng Sandy McGill đang xử lý các cuộc gọi đến và sẽ làm vậy cho đến khi Gerry Malden đến lúc 11 giờ. Hiện tại, công việc của cô rất đơn giản, nói lặp đi lặp lại một câu duy nhất: Sở Cảnh sát Thành phố Flint không có bĩnh luận gì vào lúc này. Chúng tôi đang tiến hành điều tra.
Trong khi đó, Ralph đang nhận cuộc gọi trên điện thoại riêng của mình. Giờ thì anh đã cất nó vào túi áo khoác.
“Vợ chồng Yune Sablo đã lên phía bắc của bang để thăm bố mẹ. Anh ấy nói đã hoãn việc này hai lần rồi, và lần này anh ấy không còn lựa chọn nào khác, trừ khi anh ấy muốn nằm cả tuần trên chiếc ghế dài. Theo anh ấy, việc đó chắc sẽ rất khó chịu. Anh ấy sẽ về vào ngày mai và tất nhiên anh ấy sẽ có mặt tại phiên luận tội.”
“Vậy thì chúng ta sẽ cử người khác đến Sheraton,” Samuels nói. “Thật tệ là Jack Hoskins lại đang đi nghỉ.”
“Không, không cần vậy đầu,” Ralph nói, và điều đó khiến Samuels bật cười.
“Được rồi, chắc anh cũng biết. Jackie của chúng ta có thể không phải là thám tử tồi tệ nhất ở bang, nhưng tôi thừa nhận là gần như thế. Anh biết mọi thám tử thuộc lực lượng Cảnh sát Thành phố Cap mà. Hãy bắt đầu gọi cho đến khi tóm được một người.”
Ralph lắc đầu. “Chắc chắn phải là Sablo. Anh ấy hiểu vụ việc và là liên lạc viên của chúng tôi với Cảnh sát Tiểu bang. Đây không phải là lúc mạo hiểm chọc giận họ, xét tới tình hình diễn ra tối nay. Đó không phải là việc chúng ta mong đợi.”
Quả là một lời nói giảm nói tránh của năm, nếu không muốn nói là của cả một thế kỷ. Sự ngỡ ngàng và không hề cảm thấy chút tội lỗi nào của Terry đã khiến Ralph dao động thậm chí hơn cả những chứng cứ ngoại phạm bất khả. Chẳng lẽ con quái vật trú ngụ bên trong hắn không chỉ giết chết cậu bé mà còn xóa luôn cả ký ức về những gì hắn đã làm? Và sau đó... thì sao? Ngay lập tức điền vào chỗ trống bằng một ký ức giả vô cùng chỉ tiết về một hội nghị giáo viên ở thành phố Cap?
“Nếu anh không cử ai đó càng sớm càng tốt, gã mà Gold sử dụng...”
“Alec Pelley.”
“Phải, chính ông ta. Ông ta sẽ nhanh chần hơn chúng ta và thành công lấy được băng ghi hình an ninh của khách sạn. Ấy là nếu họ vẫn còn lưu.”
“Họ còn lưu chứ. Ba mươi ngày mà.”
“Anh chắc chứ?”
“Chắc. Nhưng Pelley không có trát.”
“Thôi nào. Anh có nghĩ ông ta cần một cái không?”
Sự thật thì Ralph không nghĩ vậy. Alec Pelley đã là thám tử của lực lượng Cảnh sát Tiểu bang hơn hai mươi năm rồi. Ông ta có rất nhiều mối quan hệ, và làm việc cho một luật sư hình sự thành công như Howard Gold, ông ta chắc chắn vẫn giữ gìn những mối thâm tình ấy.
“Ý tưởng bắt hắn ở chốn đông người của anh giờ có vẻ là một quyết định tồi,” Samuels nói.
Ralph khó chịu nhìn anh ta. “Anh cũng đồng tình còn gì.”
“Miễn cưỡng thôi,” Samuels nói. “Hãy thành thật đi, vì mọi người đều về nhà rồi, còn hai ta thôi. Với anh việc đó có ảnh hưởng rất lớn mà.”
“Chết tiệt, đúng thế,” Ralph nói. “Luôn thế. Và vì chỉ có hai ta, hãy để tôi nhắc anh rằng anh đã góp sức không nhỏ chứ không chỉ đơn thuần là làm theo. Mùa thu này anh có một cuộc bầu cử và việc bắt được nghi phạm trong một vụ án nổi tiếng không làm ảnh hưởng đến cơ hội của anh lắm nhỉ.”
“Tôi chẳng nghĩ đến chuyện đó đâu,” Samuels nói.
“Tốt. Anh chẳng nghĩ gì, anh chỉ thuận theo dòng chảy thôi, nhưng nếu anh nghĩ việc bắt giữ hắn ở sân bóng chỉ là vì con trai tôi, anh cần phải xem lại những bức ảnh hiện trường vụ án đó và nghĩ về phụ lục khám nghiệm tử thi của Felicity Ackerman. Những tên như này không bao giờ dừng lại ở một nạn nhân duy nhất.”
Má Samuels nóng bừng lên. “Anh nghĩ tôi không xem à? Chúa ơi, Ralph, tôi là người đã gọi hắn là kẻ ăn thịt người chết tiệt, trong bản ghi âm đấy.”
Ralph mở rộng bàn tay ra và đưa lên vuốt cằm. Nó ram ráp. “Tranh luận xem ai nói gì và làm gì chẳng ích gì cả. Anh cần nhớ là ai lấy được băng ghi hình an ninh trước không quan trọng. Nếu là Pelley, ông ta không thể cứ thế cắp nách nó mang đi, phải không? Ông ta cũng không thể xóa nó.”
“Đúng thế,” Samuels nói. “Dù không chắc họ có thể dùng chúng làm bằng chứng hay không. Chúng ra có thể nhìn thấy một người đàn ông trông giống Maitland trong một số băng ghi hình an ninh...”
“Rồi, nhưng dựa trên vài cảnh quay mờ mờ để chứng minh được đó là hắn sẽ khó đấy. Đặc biệt là khi nhân chứng và các dấu vân tay của hắn rành rành ra đấy.” Ralph đứng dậy và mở cửa. “Có lẽ băng ghi hình an ninh không phải là quan trọng nhất. Tôi cần gọi điện thoại. Đáng lẽ tôi phải làm việc này rồi mới phải.”
Samuels đi theo Ralph vào khu vực lễ tân. Sandy McGill đang nghe điện thoại. Ralph tiến lại gần cô và làm động tác cắt cổ. Cô cúp máy và nhìn anh đầy mong đợi.
“Everett Roundhill,” anh nói. “Chủ nhiệm khoa tiếng Anh trung học. Hãy liên hệ với anh ta.”
“Liên hệ với anh ta thì không thành vấn đề, vì tôi đã có số của anh ta,” Sandy nói. “Anh ta đã gọi hai lần, đề nghị được gặp điều tra viên chính và tôi đã bảo anh ta là hãy chờ điện thoại.” Cô nhặt một tập giấy ghi chú TRONG KHI ANH RA NGOÀI lên và vẫy chúng về phía anh. “Tôi sẽ đặt những thứ này trên bàn anh vào ngày mai. Tôi biết hôm nay là Chủ nhật, nhưng tôi đã bảo mọi người rằng tôi khá chắc anh sẽ đến.”
Bill Samuels nói rất chậm rãi và nhìn xuống sàn nhà thay vì người đàn ông bên cạnh mình, “Roundhill đã gọi. Hai lần. Tôi không thích điều đó. Tôi không thích điều đó chút nào.”
❊ 3 ❊
Ralph về đến nhà lúc 11 giờ kém 15 đêm thứ Bảy đó. Anh mở cửa nhà để xe, lái xe vào trong, rồi khóa lại. Cánh cửa lạch cạch một cách ngoan ngoẫn trở lại trên thanh ray, ít nhất thì trên đời này vẫn còn một điều lành mạnh và bình thường. Ấn Nút A và, giả sử Ngăn chứa Pin B được xếp đẩy các Duracell tương đối mới, Cửa nhà để xe C mở rồi đóng.
Anh tắt động cơ và chỉ ngồi đó trong bóng tối, gõ nhẹ chiếc nhẫn cưới vào vô-lăng, nhớ về một giai điệu từ những năm tháng tuổi mới lớn cuồng nhiệt của mình: Cạo râu và cắt tóc... đúng thế! Hát bên nhà thổ... tấu lên!
Cửa mở rồi Jeanette bước ra, ăn vận xuềnh xoàng. Ánh sáng từ bếp tràn ra heo hắt, anh nhìn thấy cô đang đi đôi dép thỏ mà anh đã tặng cô như một món quà vui vào ngày sinh nhật năm ngoái của cô. Món quà thực sự là một chuyến đi đến Key West, chỉ có hai người họ và họ đã có một khoảng thời gian tuyệt vời, nhưng giờ đây dư vị về nó cũng đã phai dần trong tâm trí anh, giống như tất cả các kỳ nghỉ sau đó: hệt như dư vị ngôn ngọt còn lại nơi đầu lưỡi sau khi bạn đã nuốt trọn chiếc kẹo bông gòn. Đôi dép màu hồng ấy là thứ bền lâu, thứ được mua từ Dollar Store với đôi mắt nhỏ lố bịch và đôi tai mềm mại hài hước của chúng. Nhìn thấy cô xỏ chúng khiến mắt anh cay cay. Anh cảm thấy như thể mình đã già đi hai mươi tuổi kể từ khi bước vào khu đất trống ở công viên Figgis và chứng kiến cái xác không toàn thấy của một cậu bé có lẽ rất thần tượng Batman và Superman.
Anh bước ra và ôm chặt vợ mình, áp sát cái má đầy râu ria của anh vào gò má nhẵn nhụi của cô, lúc đầu không nói gi, cố kiểm lại những giọt nước mắt muốn chực trào ra.
“Anh yêu,” cô nói. “Anh yêu, anh đã bắt được hắn. Anh đã bắt được hắn rồi, thế thì có chuyên gì vậy?”
“Không gì cả,” anh nói. “Hoặc cũng có thể là mọi thứ. Đáng lẽ anh nên thẩm vấn hắn. Nhưng Chúa ơi, anh đã quá chắc chắn!”
“Vào nhà đi,” cô nói. “Em sẽ pha trà, rồi anh có thể kể cho em về mọi chuyện.”
“Trà làm anh mất ngủ.”
Cô lùi lại và nhìn anh bằng đôi mắt dạt dào tình yêu và sâu thăm thẳm ở tuổi 50 như thể họ mới chỉ 25 thôi vậy. “Anh sẽ ngủ à?” Và khi anh không trả lời: “Vụ án khép lại rồi.”
Derek đang đi trại hè ở Michigan, vì vậy nhà chỉ có hai vợ chồng họ. Cô hỏi anh có muốn xem bản tin 11 giờ đêm trên tivi trong bếp không, và anh lắc đầu. Điều cuối cùng anh muốn là 10 phút đưa tin về việc Quái vật Thành phố Flint đã bị bắt như thế nào. Jeannỉe làm bánh mì nướng nho khô để dùng cùng với trà. Ralph ngồi vào bàn bếp, nhìn vào tay mình và kể cho cô nghe mọi chuyện. Anh dành phần về Everett Roundhill đến cuối cùng.
“Anh ta đã rất tức giận với tất cả bọn anh,” Ralph nói, “nhưng vì cuối cùng anh cũng gọi cho anh ta nên anh hứng đủ.”
“Ý của anh là anh đã xác nhận chuyện của Terry?”
“Chính xác. Roundhill đã đón Terry và hai giáo viên khác - Quade và Grant - tại trường trung học. 10 giờ sáng thứ Ba, như đã hẹn. Họ đến Sheraton ở thành phố Cap vào khoảng 11 giờ 45 phút, vừa kịp lúc lấy thẻ tham gia hội nghị và tham gia tiệc trửa. Roundhill nói anh ta đã mất dấu Terry trong một giờ hoặc lâu hơn sau khi bữa trưa kết thúc, nhưng anh ta nghĩ Quade đã ở cùng Terry. Dẫu sao họ cũng đã tụ họp trở lại vào lúc ba giờ, đó là khi bà Stanhope nói đã nhìn thấy hắn nhấc chiếc xe đạp của Frank Peterson vào thùng xe rồi cùng Frank leo lên chiếc xe van màu trắng bẩn thỉu ở cách đó một trăm cây sô về phía nam.”
“Anh đã nói chuyên với Quade chưa?”
“Rồi. Trên đường về nhà. Anh ta không tỏ ra tức giận - Roundhill đã quá giận dữ đến nỗi dọa sẽ kêu gọi một cuộc điều tra toàn diện từ AG - nhưng anh ta không tin. Phải nói là choáng váng mới đúng. Anh ta nói rằng anh ta và Terry đã đến một cửa hàng sách cũ tên là Second Edition sau bữa trưa, dạo quanh rồi trở về gặp Coben.”
“Còn Grant? Anh ta thì sao?”
“Là phụ nữ - Debbie Grant. Chưa liên lạc được, chồng cô ấy nói cô ấy đi chơi với bạn bè và những lúc như thế cô ấy luôn tắt điện thoại. Anh sẽ liên lạc lại vào sáng mai và lúc đó, anh chắc rằng cô ấy sẽ xác nhận những gì Roundhill và Quade đã nói với anh.” Anh cắn một miếng nhỏ bánh mì nướng, sau đó đặt nó trở lại đĩa. “Đây là lỗi của anh. Nếu anh đưa Terry đến để thẩm vấn vào tối thứ Năm, sau khi Stanhope và cô bé nhà Morris nhận dạng hắn, anh sẽ biết bọn anh gặp vấn đề và tin tức đã không tràn lan trên truyền hình và Internet như bây giờ.”
“Nhưng đến lúc đó, anh đã đối chiếu các mẫu dấu vân tay với dâu vân tay của Terry Maitland rồi mà, không phải vậy sao?”
“Ừ.”
“Dâu vân tay trên chiếc xe van, dấu vân tay trên khóa xe, trên chiếc xe mà hắn đã bỏ lại bên bờ sông, trên nhành cây mà hắn từng...”
“Ừ.”
“Và sau đó còn có thêm các nhân chứng nữa. Người đàn ông phía sau quán Shorty’s, và bạn của anh ta. Thêm cả người tài xế taxi. Và nhân viên phục vụ ở câu lạc bộ thoát y. Tất cả họ đều biết hắn.”
“Uh-huh, và giờ hắn đã bị bắt, anh chắc chắn bọn anh sẽ tìm được vài nhân chứng nữa từ Gentlemen, Please . Hầu hết những người độc thân sẽ không phải giải thích với vợ về những việc họ đang làm ở đó. Đáng ra anh vẫn nên đợi. Có lẽ anh nên gọi cho trường trung học để kiểm tra hành tung của hắn vào ngày xảy ra án mạng, ngoại trừ việc làm như thế chẳng có ý nghĩa gì, đang là kỳ nghỉ hè mà. Họ chỉ có thể nói với anh rằng Anh ấy không ở đây thôi?”
“Và anh sợ rằng nếu anh đặt câu hỏi thì việc đó sẽ đến tai hắn.”
Điều đó đã có vẻ rất hiển nhiên vào lúc ấy, nhưng giờ thật ngớ ngần. Tệ hơn nữa là bất cần. “Anh đã mắc một số sai lầm trong sự nghiệp, nhưng không lần nào như lần này. Cứ như thể anh bị mù vậy.”
Cô lắc đầu quầy quậy. “Anh có nhớ những gì em đã nói khi anh nói với em rằng anh muốn làm điều đó như thế không?”
“Ừ.”
Thôi nào. Hãy tách hắn ra khỏi lũ trẻ càng sớm càng tốt.
Cô đã nói vây đấy.
Họ ngồi đó, nhìn nhau qua bàn.
“Chuyện đó là không thể nào,” Jeannie cuối cùng cũng lên tiếng.
Anh chỉ một ngón tay về phía cô. “Anh nghĩ em đã hiểu vấn đề rồi đấy.”
Cô trầm ngâm nhấp ngụm trà, rồi nhìn anh qua vành cốc. “Người xưa có câu rằng ai cũng có đôi có cặp. Em nghĩ Edgar Allan Poe thậm chí đã viết một câu chuyện về điều đó. William Wilson , tên như thế thì phải.”
“Poe đã viết những câu chuyện của mình trước cả khi người ta biết đến công nghệ phát hiện dấu vân tay và ADN. Bọn anh vẫn chưa có kết quả ADN — đang chờ xử lý - nhưng nếu kết quả ăn khớp thì thủ phạm chắc chắn chính là hắn và anh có lẽ sẽ không sao. Nếu kết quả là người khác, họ sẽ tống anh vào nhà thương điên. Sau khi anh mất việc, bị kiên vi bắt nhẩm người.”
Cô cầm miếng bánh mì nướng lên, rồi lại hạ xuống. “Anh thu được dấu vân tay của hắn ở đây . ADN của hắn ở đây , em chắc chắn thế. Nhưng Ralph... anh không thu được bất kỳ dâu vân tay hoặc ADN nào ở đó . Từ người đã tham dự hội nghị ở thành phố Cap. Nếu như Terry Maitland là người đã giết cậu bé, còn kẻ song trùng của hắn tham gia hội nghị thì sao nhỉ?”
“Nếu ý em là Terry Maitland có một người anh em sinh đôi bị thất lạc với cùng dấu vân tay và ADN thì điều đó là không thể.”
“Em không nói thế. Em muốn nói rằng anh không thu được bất kỳ bằng chứng pháp y nào cho thấy Terry ở thành phố Cap. Nếu Terry ở đây , và bằng chứng pháp y cho thấy điều đó thì kẻ song trùng chắc chắn phải ở đó. Chỉ có thể thế mà thôi.”
Ralph hiểu logic đó, và trong những cuốn tiểu thuyết trinh thám mà Jeannie thích đọc — những Agatha Christie, Rex Stout, và Harlan Coben - sẽ được đặt làm trọng tâm của chương cuối, khi Miss Marple, Nero Wolfe hoặc Myron Bolitar tiết lộ tất cả mọi bí mật. Có một sự thật chắc chắn, chắc như đinh đóng cột là: một người không thể ở hai nơi cùng lúc.
Nhưng nếu Ralph tin những nhân chứng ở đây thì anh cũng phải có hiềm tin như thế với những nhân chứng nói rằng họ đã ở thành phố Cap với Maitland. Làm sao anh có thể nghi ngờ họ? Roundhill, Quade và Grant đều dạy cùng khoa. Họ gặp Maitland mỗi ngày. Có phải anh cho rằng ba giáo viên đó đã thông đồng với Terry trong vụ cưỡng hiếp-giết một đứa trẻ không? Hay họ đã dành hai ngày bên một kẻ song trùng quá hoàn hảo đến mức chẳng mảy may nghi ngờ? Và ngay cả khi anh có thể ép mình tin vào điều đó, liệu Bill Samuels có thuyết phục được bổi thẩm đoàn, đặc biệt là khi Terry có một luật sư bào chữa dày dạn kinh nghiệm và đẩy mưu mô như Howie Gold ở bén không?
“Đi ngủ thôi anh,” Jeanette nói. “Em sẽ lấy cho anh một viên Ambien của em và xoa lưng cho anh. Sáng mai tình hình sẽ ổn hơn.”
“Em nghĩ vậy à?” Anh hỏi.
❊ 4 ❊
Khi Jeanette Anderson đang xoa lưng cho chồng, Fred Peterson và con trai cả của anh (bây giờ, khi Frankie đã ra đi, Fred là con trai duy nhất) dang dọn dẹp bát đĩa, sắp xếp lại phòng khách và phòng sinh hoạt gia đình nhỏ. Và dù đây là bữa ăn tưởng nhớ, nhưng tàn dư để lại cũng chẳng khác là bao so với những bữa tiệc chung vui của cả gia đình.
Ollie đã khiến Fred ngỡ ngàng. Cậu bé là một thiếu niên mới lớn chỉ biết đến bản thân điển hình, người thường sẽ không nhặt tất của mình từ dưới bàn cà phê lên trừ khi bị giục hai ba lần, nhưng tối nay cậu bé đã trở thành một phụ tá kiên nhẫn và hữu ích kể từ khi Arlene tiễn đợt khách cuối cùng của ngày ra về lúc 10 giờ. Bạn bè và hàng xóm đã về thưa bớt từ lúc 7 giờ, và Fred đã hy vọng mọi chuyên sẽ kết thúc vào 8 giờ - Chúa ơi, anh đã quá mệt khi cứ phải gật đầu lúc mọi người nói với anh rằng Frankie đã lên thiên đường - nhưng rồi khi nhân được tin Terence Maitland đã bị bắt vì tội giết Frankie, dòng người chết tiệt đó lại đông đúc trở lại. Lượt thứ hai gần như đã trở thành một bữa tiệc, dù rằng nó là một bữa tiệc nhuốm nỗi đau. Một lần nữa người ta lại nói đi nói lại với Fred rằng a, thật không thể tin được , hay b, huấn luyện viên T luôn tỏ ra rất bình thường và C, tiêm thuốc độc ở McAlester là quá nhân từ với hắn .
Ollie di chuyển qua lại giữa phòng khách và khu bếp, mang theo những chiếc cốc và rất nhiều chồng bát đĩa, cho chúng vào máy rửa bát với sự nhanh nhẹn, gọn gàng mà Fred không bao giờ ngờ tới. Khi máy rửa bát đã đẩy, Ollie khởi động máy, rồi quay ra xả thêm bát đĩa, xếp chúng vào bồn rửa cho lần rửa tiếp theo. Fred mang số đĩa bị bỏ lại phòng ăn vào bếp, và thấy ở bàn ăn ngoài trời ở sân sau còn có nhiều bát đĩa hơn, chỗ này là nơi khách khứa ngồi hút thuốc. Phải đến năm sáu chục người đă ra vào căn nhà của họ trước khi chuyện này kết thúc, hàng xóm cùng phố, bạn bè người quen từ các khu vực khác của thị trấn, chưa kể Cha Brixton và những kẻ theo đóm ăn tàn của Cha từ nhà thờ St. Anthony. Họ kéo nhau đến, từng đoàn từng tốp bày tỏ niềm tiếc thương.
Fred và Ollie lặng lẽ dọn dẹp, mỗi người ôm trong mình những suy nghĩ và nỗi đau riêng. Sau khi nhân được những lời chia buồn suốt nhiều giờ - và công bằng mà nói, ngay cả những người hoàn toàn xa lạ cũng rất chân thành - họ chẳng còn sức mà chia buồn với nhau. Có lẽ điều đó thật kỳ lạ. Có lẽ điều đó buồn đến buốt ruột gan. Có lẽ đó là điều mà văn chương gọi là sự trớ trêu. Fred đã quá mệt mỏi và đau lòng khi nghĩ về điều đó.
Trong lúc ấy, mẹ của cậu bé bị sát hại ngồi trên chiếc ghế sô-pha trong bộ váy lụa đón khách đẹp nhất của mình, hai đầu gối chụm vào nhau, hai bàn tay ôm lấy bắp tay mập mạp như thể trời đang lạnh lắm. Cô đã chẳng nói gì kể từ khi vị khách cuối cùng của buổi tối — bà lão Gibson nhà bên, người rõ ràng đã cố nán lại lâu nhất có thể - cuối cùng cũng ra về.
Bà ấy có thể đi ngay bây giờ, bà ấy đã ăn no rồi , Arlene Peterson đã nói với chồng mình như vậy khi cô khóa cửa trước rồi dựa lưng vào đó.
Arlene Kelly từng rất mảnh mai trong trang phục ren trắng khi người tiền nhiệm của Cha Brixton làm chủ hôn cho họ. Cô vẫn thon gọn và xinh đẹp sau khi sinh Ollie, nhưng đó đã là mười bảy năm trước. Cô bắt đầu tăng cân sau khi sinh Frank, và giờ cô đang trên đà béo phì... dù trông cô vẫn xinh đẹp trong mắt Fred, người từng chẳng có lòng dạ nào nghe Tiến sĩ Connolly đưa ra lời khuyên vào buổi kiểm tra sức khỏe gần nhất của anh: Cậu còn sống được chừng năm mươi năm nữa, Fred ạ, miễn là cậu không nhào ra khỏi một tòa nhà hoặc nhảy bổ ra trước một chiếc xe tải, nhưng vợ cậu mắc bệnh tiểu đường tuýp II và cần giảm 22 cân nếu cô ấy muốn giữ gìn sức khỏe. Câu cần phải giúp cô ấy. Rốt cuộc, cả hai vị đêu có rất nhiều điều đê tiếp tục sống.
Chỉ có điều, sau khi Frankie không những không còn trên cõi đời này nữa mà còn chết trong đau đớn, tất cả mọi mục đích sống của họ đều có vẻ ngu ngốc và tầm thường. Chỉ có Ollie vẫn giữ được tầm quan trọng quý giá trước đây của thằng bé trong tâm trí Fred, và ngay cả khi đang rất đau buồn, anh vẫn biết mình và Arlene phải thật cần trọng ở cách họ đối xử với thằng bé trong quãng thời gian sắp tới. Ollie cũng rất đau buồn. Ollie có thể đỡ đần họ (thực tế là nhiều hơn những gì thằng bé có thể đảm đương), dọn dẹp mớ hỗn độn tàn dư còn lại sau lễ cầu siêu theo nghi thức của gia tộc cho Franklin Victor Peterson, nhưng ngày mai họ sẽ để con trai trở lại làm một cậu bé. Sẽ mất rất nhiều thời gian, nhưng Ollie chắc chắn có thể vượt qua được.
Lần tồi khi nhìn thấy đôi tất của Ollie dưỡi bàn cà phê, mình sẽ vui vẻ , Fred tự hứa với lòng mình. Và mình sẽ phá vỡ sự im lặng khủng khiếp, gượng gạo này ngay khi có thể nghĩ ra điều gì đó để nói.
Nhưng anh chẳng nghĩ được gi; khi Ollie lặng lẽ đi qua anh về phía phòng sinh hoạt gia đình nhỏ và kéo vòi máy hút bụi ra, Fred tâm niệm rằng - không biết anh đã sai đến thế nào trong quá khứ - ít nhất mọi thứ không thể tồi tệ hơn nữa.
Anh bước đến ngưỡng cửa phòng, và đứng nhìn Ollie bắt đầu đưả cái cần gậy màu xám một cách khéo léo và gọn ghẽ đến không ngờ, đẩy lên, kéo xuống rồi đưa ngang nhịp nhàng. Phẩn còn lại của đống vụn bánh quy giòn Nab, Oreo và Ritz đã biên mất như chưa từng ở đó, và Fred cuối cùng đã tìm ra điều gì đó để nói với con. “Bố sẽ dọn phòng khách.”
“Không cần đầu ạ,” Ollie nói. Mắt thằng bé đỏ hoe và sưng húp. Dù có sự chênh lệch tuổi tác giữa hai anh em - bảy tuổi - chúng thân nhau đến kỳ lạ. Hoặc có lẽ cũng không kỳ lạ đến thế, có lẽ là do khoảng cách đó vừa đủ để sự cạnh tranh giữa các anh chị em trong nhà chỉ ở mức tối thiểu. Khiến Ollie giống như người bố thứ hai của Frank.
“Bố biết,” Fred nói, “nhưng cái gì cũng phải đồng đều.”
“Vâng. Chỉ cần bố đừng nói Đó là những gì Frankie muốn . Con sẽ táng bố bằng cây cần hút này mất.”
Fred cười xòa trước những lời đó. Có lẽ đây không phải nụ cười đầu tiên của anh kể từ khi viên cảnh sát kia tới vào thứ Ba tuần trước, nhưng có lẽ đây là nụ cười thực sự đầu tiên. “Chốt nhé.”
Ollie hút bụi ở thảm xong và đưa máy hút cho bố. Khi Fred kéo nó vào phòng khách và bắt đầu từ tấm thảm ở đây, Arlene đứng dậy và lê bước về phía nhà bếp mà không buồn nhìn lại. Fred và Ollie liếc nhìn nhau. Ollie nhún vai. Fred nhún vai đáp lại và bắt đầu hút bụi tiếp. Mọi người đã đến chia buồn với họ, và Fred cho rằng họ thật tử tế, nhưng thành thực mà nói, những gì họ để lại quả là một mớ hỗn độn. Anh tự an ủi mình với suy nghĩ rằng mọi chuyện sẽ còn tồi tệ hơn nhiều nếu đây là tiệc rượu tang của người Ireland, nhưng Fred đã bỏ rượu sau khi Ollie chào đời, và gia đình Peterson luôn tuân thủ nguyên tắc đó.
Từ trong bếp phát ra một âm thanh đầy bất ngờ: tiếng cười.
Fred và Ollie lại nhìn nhau lần nữa. Ollie vội vã vào bếp, nơi mà tiếng cười của mẹ cậu, vốn rất tự nhiên và thoải mái, giờ trở nên hoang dại. Fred giẫm lên nút nguồn của máy hút bụi, làm nó tắt ngúm, rồi đi vào bếp.
Arlene Peterson đang đứng dựa lưng vào bồn rửa tay, ôm lấy cái bụng to và cười sằng sặc. Mặt cô đỏ bừng, như thể đang sốt cao. Nước mắt chảy dài trên đôi gò má.
“Mẹ?” Ollie hỏi. “Chuyện gì vậy ạ?”
Dù bát đĩa đã được dọn sạch khỏi phòng khách và phòng sinh hoạt nhỏ, nhưng vẫn còn cả đống việc cần xử lý nốt ở đây. Có hai quầy ở hai bên bồn rửa, và một cái bàn trong góc bếp, nơi gia đình Peterson vẫn thường cùng nhau dùng bữa tối. Cả mặt quẩy và mặt bàn bây giờ đều chất đầy thịt hầm ăn dở, hộp Tupperware và đồ tồn được bọc trong giấy bạc. Nằm trên bếp là một con gà đã bị khoét một phần cùng một tô nước thịt đẩy cặn màu nâu đông tụ.
“Chúng ta có đủ thức ăn thừa cho cả tháng!” Arlene cố nói. Cô cúi gập người, ngáp một cái rồi đứng thẳng dậy. Má cô chuyển sang sắc tím tái. Mái tóc đỏ của cô, thứ được cô di truyền lại cho đứa con trai cả đang đứng trước mặt và đứa hiện đang nằm dưới đất, xổ tung ra khỏi những chiếc kẹp con con được cô dùng để ghim tạm lại, lòa xòa xung quanh khuôn mặt tròn như một vẩng hào quang với những ánh sáng xoăn. “Tin xấu, Frankie chết rồi! Tin tốt, mẹ sẽ không phải đi mua sắm trong một thời gian rất... rất dài nữa! "
Cô bắt đầu hú lên. Đó là thứ âm thanh điển hình ở một trại thương điên, chứ không phải trong căn bếp của nhà họ. Fred định dợm bước, tiến đến bên cô và ôm lấy cô, nhưng chân anh như bị chôn chặt xuống nền. Ollie là người di chuyển, nhưng trước khi cậu đến được gần mẹ mình, Arlene đã nhặt con gà và quăng vèo đi. Ollie cúi thấp đâu. Con gà bay từ đầu này sang đầu kia của căn bếp, trượt qua đống đồ, và đập vào tường đánh bốp . Nó để lại một vòng tròn dầu mỡ in hằn trên mảng giấy dán tường bên dưới chiếc đồng hồ.
“Mẹ, dừng lại. Dừng lại đi.”
Ollie cố tóm lấy vai mẹ và kéo mẹ vào lòng, nhưng Arlene vùng ra và trườn khỏi cánh tay cậu, lao về phía một trong các quẩy bếp, vừa cười và hú. Cô tóm lấy một đĩa lasagna bằng cả hai tay - món này do một trong các sơ đi cùng Cha Brixton mang đến - và ụp lên đầu mình. Những sợi mì lạnh lẽo lòng thòng vương trên tóc và vai cô. Cô quăng vèo chiếc đĩa về phía phòng khách.
“Frankie chết rồi và chúng ta đã tổ chức một bữa tiệc buffet kiểu Ý chết tiệt!”
Fred lao đến, nhưng Arlene cũng trượt khỏi anh. Cô đang cười như một cô gái phấn khích khi được chơi cút bắt. Cô chộp lấy một hộp Tuppenvare đựng đẩy Marshmallow Delite, nâng nó lên, rồi thả đánh cạch xuống giữa hai bàn chân của mình. Tiếng cười ngưng bặt. Một tay ôm lấy bầu ngực trái to tướng của mình, tay còn lại ấp vào phần ngực phía trên nó. Cô nhìn chổng với đôi mắt mở to ngấn lệ.
Đôi mắt đó , Fred nghĩ. Mình đã từng yêu.
“Mẹ? Mẹ, có chuyên gì vậy?”
“Không có gì,” cô nói, rồi tiếp lời: “Mẹ nghĩ tim mẹ.” Cô cúi xuống nhìn món gà và món tráng miệng marshmallow. Mì ống rơi khỏi tóc. “Hãy nhìn những gì mẹ đã làm này.”
Cô thở phù một hơi dài. Fred tóm lấy cô, nhưng cô quá nặng, vì vậy đã trượt khỏi vòng tay anh. Trước khi cô đổ nghiêng người xuống sàn, Fred thấy màu da cô nhợt dần.
Ollie hét lén và khuỵu sụp xuống bên cạnh cô. “Mẹ! Mẹ! AẠ?!” Câu ngước lên nhìn bố. “Con không nghĩ mẹ còn thở đâu!”
Fred đẩy con trai mình sang một bên. “Gọi 911 đi.”
Không buồn nhìn xem Ollie có đang làm việc đó hay không, Fred trượt một tay quanh chiếc cổ to của vợ mình để cảm nhân nhịp đập. Anh thấy có một nhịp nhưng rất loạn: thịch -thịch, thịch thịch thịch, thịch thịch thịch. Anh dạng chân qua người cô, hai tay đan vào nhau và bắt đầu ấn xuống ngực cô đều đặn theo nhịp. Anh có đang làm đúng không? Như thế này có được coi là hổi sức tim phổi không? Anh không biết, nhưng khi cô mở mắt, trái tim anh như muốn nhảy khỏi lồng ngực. Cô ấy đã tỉnh lại, tỉnh lại rồi.
Đó không phải là một cơn đau tim. Cô ấy đã kiệt sức, thế thôi. Cô ấy đã ngất xỉu. Mình nghĩ đó là do tụt huyết áp thôi. Nhưng chúng ta sẽ phải ăn kiêng, em yêu, và món quà sinh nhật cho em sẽ là một trong những chiếc vòng tay đo...
“Em làm mọi thứ rối cả lên rồi,” Arlene thì thầm. “Em xin lỗi.”
“Đừng cố nói gì cả.”
Ollie đang dùng điện thoại trên tường trong nhà bếp, nói nhanh và to, gần như hét lên mới đúng. Đọc địa chỉ nhà họ. Giục họ nhanh lên.
“Anh sẽ phải dọn lại phòng khách đấy,” cô nói. “Em xin lỗi. Fred, em rất tiếc.”
Trước khi Fred có thể bảo cô đừng nói nữa và cứ nằm đó đến khi cảm thấy khá hơn, Arlene đã hớp một hơi gấp gáp khác. Khi thở ra, mắt cô ấy đảo ngược lên phía đâu. Lòng trắng đỏ ngầu phồng lên, biến cô thành một chiếc mặt nạ kinh dị mà sau này Fred phải cố xóa khỏi tâm trí. Anh không làm được điều đó.
“Bố? Họ đang trên đường đến. Mẹ ổn chứ?”
Fred không nói gì. Anh còn quá bận áp dụng phương pháp hô hấp nhân tạo nửa vời và ước gì mình đã tham gia một lớp học - tại sao anh chưa bao giờ sắp xếp thời gian để làm điều đó? Có rất nhiều điều anh ước ao mình có thể làm được. Anh sẵn sàng đánh đổi linh hồn bất tử của mình để có thể lùi lại một tuần tồi tệ.
Ấn và nhả. Ấn và nhả.
Em sẽ ổn thôi , anh nói với cô. Em phải ổn . Xin lỗi không thể là lời trăng trối của em được. Anh sẽ không cho phép điều đó.
Ấn và nhả. Ấn và nhả.
❊ 5 ❊
Marcy Maitland vui vẻ đưa Grace vào giường khi cô bé đề nghị, nhưng khi cô hỏi Sarah có muốn ngủ cùng mẹ và em khòng, con gái lớn của cô đã lắc đầu.
“Được rồi,” Marcy nói, “nhưng nếu con đổi ý thì cứ sang nhé.”
Một giờ trôi qua, rồi một giờ nữa. Ngày thứ Bảy tồi tệ nhất trong cuộc đời cô đã trườn sang ngày Chủ nhật tồi tệ nhất. Cô nghĩ về Terry, người đáng lẽ phải ở bên cạnh cô lúc này, say giấc nồng (có lẽ đang mơ về chức vô địch City League sắp tới, giờ Đội Gấu đã bị loại), nhưng thay vì thế lại đang ở trong phòng giam. Anh cũng vẫn thức chứ? Tất nhiên rồi.
Cô biết sẽ có những ngày khó khăn phía trước, nhưng Howie sẽ giải quyết ổn thỏa thôi. Terry từng nói với cô rằng người đồng huấn luyện viên Pop Warner của anh là luật sư bào chữa giỏi nhất miền Tây Nam và một ngày nào đó có thể sẽ trở thành thành viên của Tòa án tối cao bang. Với chứng cứ ngoại phạm của Terry trong tay, không đời nào Howie lại thất bại. Nhưng mỗi lần thu được gần như đủ cảm giác thoải mái từ suy nghĩ ấy để chìm vào giấc ngủ, cô lại nghĩ đến Ralph Anderson, tên khốn mà cô từng coi như một người bạn, và rồi hai mắt cô lại thao láo. Ngay khi chuyện này kết thúc, họ sẽ kiện Sở Cảnh sát thành phố Flint về tội bắt giữ nhẩm, bôi nhọ danh dự, hay bất kỳ tội danh nào khác mà Howie Gold có thể nghĩ ra, và khi Howie bắt đầu thả quả bom pháp lý của mình, cô đảm bảo Ralph Anderson sẽ mất tất cả. Họ có thể kiện hắn với tư cách cá nhân không? Tước hết mọi thứ mà hắn có? Cô đã hy vọng như vậy. Cô hy vọng họ có thể tống hắn, vợ hắn và con trai hắn, những kẻ đã gầy ra nỗi đau này cho Terry, ra đường, chần trần áo rách, tay cầm bát ăn xin. Cô đoán những điều như thế không có khả năng xảy ra trong thời đại tần tiến và được cho là đã khai sáng này, nhưng cô có thể mường tượng ra ba người họ trong hoàn cảnh tương tự một cách rõ ràng - những kẻ hành khất trên đường phố Flint - và mỗi lần như vậy, những suy nghĩ ấy lại khiến cô tỉnh như sáo, người run lên vì giận dữ và thỏa mãn.
Chiếc đồng hồ trên tủ đầu giường đã điểm 2 giờ 15 phút khi cô con gái lớn của cô xuất hiện ở ngưỡng cửa, chỉ để lộ đôi chân bên dưới chiếc áo phông Okie City Thunder quá khổ mà cô bé mặc như áo ngủ.
“Mẹ? Mẹ thức rồi à?”
“Ừ.”
“Con có thể ngủ với mẹ và Gracie không?”
Marcy nhỏm dậy và dịch người vào. Sarah trườn vào giường, và khi Marcy ôm và hôn vào gáy con, Sarah bắt đầu khóc.
“Suỵt, con làm em dậy đấy.”
“Con không thể chịu nổi. Con cứ nghĩ mãi về chiếc còng tay. Con xin lỗi.”
“Vậy thì hãy nín đi. Yên lặng nào con.”
Marcy ôm con đến khi Sarah dịu lại. Khi cô bé nằm im chừng năm phút, Marcy nghĩ con đã ngủ rồi, và cô cảm thấy rằng bây giờ, khi nằm đây giữa hai con, cô có thể chợp mắt một chút. Nhưng rồi Sarah lại trở mình quay ra nhìn cô. Đôi mắt ướt nhòe của con bé lấp lánh trong bóng tối.
“Bố sẽ không đi tù, phải không mẹ?”
“Không,” cô nói. “Bố chẳng làm gì sai cả.”
“Nhưng cũng có những người vô tội phải đi tù mà. Nhiều khi là vài năm cho đến khi ai đó phát hiện ra họ vô tội. Rồi họ được thả, nhưng họ già rồi.”
“Không có chuyện đó đâu. Bố con đã ở thành phố Cap khi sự việc xảy ra và họ bắt bố con vì...”
“Con biết họ bắt bố vì lý do gì,” Sarah nói. Cô bé lau mắt. “Con không ngốc.”
“Mẹ biết con không phải là người như thế, con yêu.”
Sarah cựa quậy không yên. “Họ hẳn phải có lý do.”
“Họ có thể nghĩ như vậy, nhưng họ nhẩm rồi. Bác Gold sẽ giải thích về chứng cứ ngoại phạm của bố, và họ sẽ để bố về.”
“Được rồi.” Một khoảng dừng dài. “Nhưng con không muốn quay lại trại hè cộng đồng cho đến khi chuyện này kết thúc và con nghĩ Gracie cũng nên thế.”
“Các con không cần phải làm thế đâu. Đến mùa thu, tất cả những điều này sẽ chỉ còn là ký ức thôi.”
“Một ký ức tồi tệ,” Sarah nói, và sụt sịt.
“Đúng rồi. Bây giờ thì mẹ con mình đi ngủ đi.”
Sarah đã làm vậy. Và với hai cô con gái sưởi ấm ở hai bên, Marcy cũng dần chìm vào giấc ngủ, mặc dù cô mơ thấy ác mộng trong đó Terry bị hai cảnh sát bắt đi, trong khi đám đông nín thở theo dõi, Baibir Patel đã bật khóc, còn Gavin Frick nhìn chằm chằm đẩy hoài nghi.
❊ 6 ❊
Cho tới tận nửa đêm, nhà tù của hạt giống như một sở thú đến giờ cho ăn - những kẻ say rượu ông ổng hát, say rượu khóc, say rượu đứng ở song sắt phòng giam buôn chuyện rồi hò hét. Thậm chí có cả tiếng đánh đấm, dù các phòng giam đều là các ô đơn người; Terry không biết chuyên đó xảy ra thế nào, trừ khi có hai kẻ đấm nhau qua song sắt. Ớ đâu đó, ở phía cuối hành lang, một gã đang rống lên lặp đi lặp lại những câu đầu tiên trong sách John 3:16: “Vì Chúa quá yêu thương thế gian! Vì Chúa quá yêu thương thế gian! Vi Chúa quá yêu TOÀN THẾ THẾ GIAN CHẾT TIỆT NÀY!” Mùi hôi thối pha trộn giữa mùi nước tiểu, phân, chất khử trùng và thứ mì ống ngâm nước sốt nào đó đã được phục vụ cho bữa tối cứ sộc lên.
Lần đầu tiên mình ngồi tù , Terry thảng thốt. Sau bốn mươi năm cuộc đời, mình đã được đặt chân đến trại giam, xà lim, nhà tù, khách sạn đá cũ. Hãy nghĩ về điều đó đi nào.
Anh muốn cảm thấy tức giận, tức giận chính đáng , và anh cho rằng cảm giác đó sẽ dâng lên khi mặt trời tỏa bóng, khi thế giới trở lại tập trung, nhưng bây giờ, vào lúc ba giờ sáng Chủ nhật, khi những tiếng hò hét và hát ca lắng xuống thành tiếng ngáy, tiếng thở phì phò, và thỉnh thoảng là cả tiếng rên rỉ, nỗi xấu hổ choán lấy cơ thể anh. Như thể anh đã thực sự làm gì đó. Ngoại trừ anh chẳng biết mình có làm cái việc mà người ta buộc tội anh không. Nếu anh đủ bệnh hoạn và xấu xa để làm cái hành động suy đồi ấy đối với một đứa trẻ, anh hẳn sẽ phải cảm thấy sợ sệt hệt như con thú hoang mắc bẫy, sẵn sàng nói bất cứ điều gì để thoát ra. Hay đó là sự thật? Làm sao anh biết được một kẻ như thế sẽ nghĩ gì hay cảm thấy thế nào? Việc đó chẳng khác nào cố đọc vị tâm trí của một người ngoài hành tinh vừa từ không gian đáp xuống Trái Đất.
Anh nghĩ rồi thể nào Howie Gold cũng sẽ đưa anh ra khỏi đây; ngay cả bây giờ, trong con hào tối tăm nhất của màn đêm, khi tâm trí anh vẫn đang mò mẫm trên con đường khiến cả đời anh ngoặt hướng trong tích tắc, anh cũng vẫn không nghi ngờ chuyện đó. Nhưng anh biết rằng không phải thứ bùn dơ nào cũng có thể gột sạch được. Anh sẽ được trả tự do cùng một lời xin lỗi - nếu không phải ngày mai thì cũng là tại phiên luận tội, và nếu không phải tại phiên luận tội thì cũng có thể là ở bước tiếp theo, có lẽ sẽ là một phiên điều trần trước đại bổi thẩm đoàn ở Tòa án thành phố Cap - nhưng anh biết anh sẽ thấy gì trong ánh mắt của các học trò khi anh trở lại bục giảng, và sự nghiệp huấn luyện viên thể thao đội trẻ của anh cũng vi thế mà kết thúc. Các cơ quan quản lý sẽ tìm ra lời biện mình nào đó nếu anh không làm cái việc mà họ coi là vì danh dự - tự rút lui và từ chức. Bởi dẫu có làm gì thì anh cũng không thể trở lại làm người hoàn toàn trong sạch, không thể trong mắt bà con xóm phố ở West Side, hay trong mắt người dân của cả thành phố Flint này. Anh sẽ luôn là “nghi phạm” bị bắt vì tội giết Frank Peterson. Anh sẽ luôn là người đàn ông mà họ rỉ tai nhau mỗi khi nhìn thấy: Không có lửa làm sao có khói.
Nếu chỉ có mỗi anh thôi, anh nghĩ mình có thể đương đầu nổi. Anh đã nói gì với bọn nhóc khi chúng rên rỉ về một tình huống không công bằng? Đừng có phàn nàn và quay trỗ lại chỗ đi. Chơi tiếp nào. Thế nhưng không phải chỉ mỗi anh phải ngừng phàn nàn, không phải mỗi anh phải chơi tiếp. Marcy cũng phải chịu trận. Những tiếng xì xào, liếc xéo ở nơi làm việc và ở cửa hàng tạp hóa. Bạn bè sẽ không còn gọi đến. Jamie Mattingly có thể là một ngoại lệ, nhưng anh vẫn nghi hoặc về cô ấy.
Rồi các con anh nữa. Sarah và Gracie sẽ trở thành chủ đề bàn tán cùng những tin đồn ác ý, những trò cô lập mà chỉ những đứa trẻ ở độ tuổi của chúng mới có thể nghĩ ra. Anh đoán Marcy sẽ đủ tỉnh táo để các con trong tầm mắt cho đến khi việc này được giải quyết, nếu chỉ là bao bọc các con tránh xa đám phóng viên săn lùng họ thì đơn giản, nhưng đến mùa thu, ngay cả khi anh đã được xóa tội, chúng cũng vẫn bị “nhúng chàm”. Thấy con bé kia không? Bố nó bị bắt vĩ bị tình nghi cưõng hiếp rồi giết hại một đứa trẻ bằng cách thọc gậy vào mông thằng bé đấy.
Anh nằm im trên bục. Mắt nhìn chăm chăm vào bóng tối. Thứ mùi xú uế của nhà tù sực lên. Anh nghĩ, Gia đình mình sẽ phải chuyển nhà. Có thể đến Tulsa, tới thành phố Cap, hoặc xuống Texas. Rồi thể nào mình cũng sẽ kiếm được việc thôi, ngay cả khi họ buộc mình phải cách xa những buổi tập bóng chày, bóng đá hoặc bóng rổ của các cậu bé cả cây số. Hồ sơ của mình đẹp và họ sẽ sợ bị kỳ thị nếu từ chối.
Chỉ có vụ bắt giữ - và cả cái lý do bắt giữ - sẽ bám riết lấy họ như thứ mùi nồng nặc ở cái nhà tù này. Đặc biệt là các con gái anh. Chỉ riêng Facebook thôi cũng đủ để người ta săn lùng được chúng và kỳ thị chúng. Chúng nó là con của nghi phạm giết người đấy.
Anh phải dừng ngay suy nghĩ này lại và chợp mắt một chút; anh phải ngừng cảm thấy xấu hổ về bản thân vì kẻ nào đó — cụ thể là Ralph Anderson - đã mắc một sai lầm khủng khiếp. Những cảm giác này dường như luôn tồi tệ hơn nhiều trong những canh giờ sáng sớm, anh phải nhớ điều đó. Xét trên vị thế hiện tại của anh, ở trong phòng giam và mặc bộ đồ màu nâu rộng thùng thình với chữ DOC* sau lưng áo, việc nỗi sợ hãi của anh phồng lên như một con bù nhìn trong cơn giông là không thể tránh khỏi. Sớm mai mọi thứ sẽ ổn hơn. Anh chắc chắn.
Department of Corrections: Cục quản lý nhà tù Cải huấn
Đúng thế.
Nhưng vẫn còn đó, sự xấu hổ choáng ngợp khắp không gian.
Terry gác tay lên mắt.
❊ 7 ❊
Howie Gold rời giường lúc 6 giờ 30 sáng Chủ nhật, không phải vì ông có việc cần làm vào giờ đó, và cũng chẳng phải do sở thích cá nhân. Giống như nhiều người đàn ông ở cái tuổi đầu sáu mươi, tuyến tiền liệt của ông đã phình lên cùng với IRA (tài khoản hưu trí cá nhân), trong khi bàng quang cùng ham muốn tình dục có vẻ co lại. Khi thức giấc, não ông như được trượt vào ổ đĩa đánh cạch, vì thế đầu óc luôn tỉnh như sáo và việc quay trở lại giấc ngủ là điều không thể.
Ông để Elaine lại mơ tiếp những giấc mơ mà ông hy vọng là êm đểm, rồi đi chân trần vào bếp để bắt đầu pha cà phê và kiểm tra điện thoại, ông đã để nó ở chế độ im lặng và đặt trên quầy bếp trước khi đi ngủ. Ông nhận được một tin nhắn từ Alec Pelley, gửi lúc 1 giờ 12 phút sáng.
Howie uống cà phê, và đang thưởng thức một bát ngũ cốc Raisin Bran khi Elaine vào bếp, thắt đai áo choàng và ngáp. “Có chuyện gì thế anh?”
“Thời gian sẽ trả lời. Trong lúc đó, em có muốn ăn một chút trứng bác không?”
“Bữa sáng, anh ấy mời tôi kìa.” Bà rót cà phê cho mình. “Hôm nay không phải Lễ tình nhân, cũng không phải sinh nhật em, em có nên nghi ngờ không nhỉ?”
“Anh đang giết thời gian thôi. Anh nhận được tin nhắn từ Alec, nhưng không thể gọi cho anh ta trước 7 giờ.”
“Tin tốt hay xấu?”
“Không rõ. Vậy em có muốn một ít trứng không?”
“Vâng. Hai nhé. Chiên, không khuấy.”
“Em biết là anh luôn làm vỡ lòng đỏ mà.”
“Vì em sẽ ngồi và quan sát, hứa sẽ không càm ràm đâu. Làm cho em cả bánh mì nướng nữa nhé.”
Thật kì diệu khi chỉ có một lòng đỏ bị vỡ. Khi ông đặt đĩa trứng trước mặt vợ, bà nói, “Nếu Terry Maitland giết đứa trẻ đó thì thế giới đảo lộn cả rồi.”
“Thế giới đảo điên thật mà,” Howie nói, “nhưng anh ấy không làm điều đó đâu. Anh ấy có chứng cứ ngoại phạm chắc như chữ S trên ngực của Superman.”
“Vậy tại sao họ lại bắt anh ấy?”
“Vì họ tin bằng chứng họ thu được cũng chắc như chữ s trên ngực của Superman.”
Bà đắn đo một chút trước khi nói. “Kẻ tám lạng người nửa cần?”
“Không có chuyện đó đâu, em yêu.”
Ông liếc nhìn đồng hồ của mình. 7 giờ kém 5 phút. Sát giờ. Ông gọi điện đến nhà Alec.
Điều tra viên của ông trả lời ở hồi chuông thứ ba. “Anh gọi sớm đấy, tôi đang cạo râu. Năm phút nữa gọi lại nhé? Đúng 7 giờ như tôi đã hẹn?”
“Không,” Howie nói, “nhưng tôi sẽ đợi cho đến khi anh lau sạch kem cạo râu trên mặt điện thoại, thế nào?”
“Sếp này khó tính quá,” Alec nói, tỏ ra vui vẻ bất chấp giờ giấc, và dù bị làm phiền trong một nhiệm vụ mà hầu hết cánh đàn ông đều thích làm lúc chẳng có gì làm phiền họ ngoài những dòng suy nghĩ chạy soàn soạt trong đâu. Thứ đó đã cho Howie hy vọng. Ông đã có rất nhiều việc phải xử lý rồi, nhưng ông luôn có thể nấn ná thêm.
“Tin tốt hay tin xấu thế?”
“Chờ tôi một giây được không? Tôi dính hết kem lên điện thoại mất.”
Phải mất một lúc, nhưng sau đó Alec đã trở lại. “Tin tốt, sếp. Tốt cho chúng ta và xấu cho chàng ủy viên công tố quận. Rất xấu.”
“Anh đã xem băng ghi hình an ninh chưa? Có gì nhiều không và có bao nhiêu camera?”
“Tôi xem rồi, nhiều lắm.” Alec dừng lời, và khi ông ta nói trở lại, Howie biết ông đang cười; ông có thể nghe thấy điều đó trong giọng nói của điều tra viên. “Nhưng có một thứ tốt hơn nhiều. Tốt lắm.”
❊ 8 ❊
Jeanette Anderson tỉnh giấc lúc 7 giờ 15 và không thấy chồng mình trên giường. Từ căn bếp tỏa ra mùi cà phê mới pha thơm nức, nhưng Ralph cũng không có ở đó. Cô nhìn ra cửa sổ và thấy anh đang ngồi ở chiếc bàn ăn ngoài trời trong sân sau, vẫn mặc bộ đồ ngủ kẻ sọc và nhấm nháp cà phê đựng trong chiếc cốc in những câu đùa mà Derek đã tặng cho anh trong Ngày của bố năm ngoái. Trên cốc là dòng chữ lớn màu xanh lam EM CÓ QUYỀN GIỮ IM LẶNG CHO ĐẾN KHI ANH UỐNG CÀ PHÊ. Cô lấy cốc của mình, đi ra chỗ chổng, và hôn lên má anh. Hôm nay sẽ là một ngày nóng, nhưng buổi sớm nay vẫn đang rất mát mẻ, yên tĩnh và dễ chịu.
“Anh không thể thôi nghĩ về chuyện đó à?” Cô hỏi.
“Không ai trong chúng ta có thể thôi nghĩ về chuyên này cả,” anh nói. “Ít nhất sẽ không thể như thế trong một thời gian.”
“Hôm nay là Chủ nhật,” cô nói. “Ngày nghỉ. Và anh cần nghỉ ngơi. Em không thích anh nhìn kiểu đó. Theo một bài báo mà em đã đọc trong mục Sức khỏe của tờ New York Times vào tuẫn trước, anh đã bước sang thềm tuổi có thể sẽ phải đối diện với đột quỵ đấy.”
“Đó là cách em cổ vũ anh?”
Cô thở dài. “Anh định làm gì trước?”
“Kiểm tra nốt người giáo viên còn lại, Deborah Grant. Việc đơn giản thôi. Anh chắc rằng cô ấy sẽ xác nhận Terry đã tham gia chuyến đi đến thành phố Cap, dù luôn có khả năng cô ấy sẽ nhận ra điều gì đó khác lạ về hắn mà Roundhill và Quade đã bỏ lỡ. Phụ nữ tinh ý hơn mà.”
Jeannie tỏ vẻ nghi ngờ, thậm chí lời anh nói còn có chút phân biệt giới tính, nhưng giờ không phải lúc bàn về chuyên đó. Thay vì thế, cô gợi lại cuộc thảo luân của họ vào đêm hôm trước. “Terry đã ở đây . Hắn đã làm chuyện đó. Những gì anh cần chỉ là bằng chứng pháp y từ đó thôi. Em đoán ADN thì khó nhưng còn dấu vân tay?”
“Bọn anh có thể phủ bột căn phòng nơi hắn và Quade ở, nhưng họ đã trả phòng vào sáng thứ Tư, căn phòng hẳn đã được dọn dẹp và có người chuyển vào sau đó. Ít nhất cũng phải hơn một lần rồi.”
“Nhưng vẫn có khả năng tìm được mà, phải không? Một số phục vụ khách sạn rất tận tâm, nhưng nhiều người chỉ dọn giường và lau mặt bàn thôi. Nếu anh chỉ tìm thấy dấu vân tay của Quade, còn không thấy của Terry Maitland thi sao?”
Anh thích cái biểu cảm phấn khích của thám tử tập sự trên gương mặt cô, và ước gì anh không phải dội nước lạnh vào nó. “Sẽ chẳng chứng minh được gì cả, em yêu ạ. Howie Gold sẽ nói với bồi thẩm đoàn rằng họ không thể kết tội bất kỳ ai vì không có dấu vân tay cả, và ông ta đúng.”
Cô suy nghĩ một chút. “Được rồi, nhưng em vẫn nghĩ anh nên thu thập các dấu vân tay từ căn phòng đó và xác định càng nhiều càng tốt. Anh có thể làm được điều đó không?”
“Ừ. Đó là một ý kiến hay.” ít nhất đó cũng là một việc đơn giản nữa. “Anh sẽ tìm hiểu xem nó là phòng nào và cố gắng yêu cầu Sheraton đổi phòng khác cho khách đang trú lại đó. Anh nghĩ họ sẽ hợp tác, dựa trên tình hình tin tức trên các phương tiện truyền thông hiện nay. Bọn anh sẽ phủ bột ở mọi ngóc ngách. Nhưng anh thực sự muốn xem đoạn băng ghi hình an ninh của những ngày mà hội thảo diễn ra, và vì thám tử Sablo - anh ấy là người phụ trách chính đội Cảnh sát Tiểu bang lo việc này - phải chiều muộn hôm nay mới về, anh sẽ trực tiếp đến đó. Anh sẽ chậm chân hơn điều tra viên của Gold vài giờ, nhưng điều đó không thể tránh được.”
Cô vòng tay qua người anh. “Hãy hứa với em rằng thỉnh thoảng anh hây dừng lại một chút để nghỉ nhé, anh yêu. Hôm nay là ngày nghỉ duy nhất anh có cho đến ngày mai.”
Anh cười, siết chặt tay cô, rồi buông ra. “Anh cứ nghĩ mãi về những chiếc xe mà hắn đã sử dụng, chiếc xe hắn dùng để bắt cóc cậu bé nhà Peterson và chiếc được dùng để rời thị trấn.”
“Chiếc xe van Econoline và chiếc Subaru.”
“Ừ. Chiếc Subaru không làm anh thấy phiền lòng lắm. Nó được đánh cắp trực tiếp từ một bãi đậu xe trong thành phố và bọn anh đã thấy nhiều vụ trộm tương tự thế kể từ năm 2012 hoặc trước đó lâu hơn. Nút đề máy không chia kiểu mới là người bạn thân thiết của đám trộm xe, vì khi em dừng xe ở đâu đó, đầu óc còn mải nghĩ về những việc lặt vặt phải làm, hay phải ăn gì cho bữa tối, em sẽ không thấy chìa khóa của mình vẫn lủng lẳng trên ổ khóa. Em còn dễ quên chìa điện tử trên xe, đặc biệt nếu em đang đeo tai nghe hoặc nghe điện thoại và không nghe thấy tiếng ô tô báo để quay lại lấy chìa. Chủ sở hữu của chiếc Subaru - Barbara Nearing - đã để chia điện tử của xe trong ngăn đựng cốc và để vé đâu xe trên bảng điều khiển khi rời xe vào chỗ làm lúc 8 giờ. Chiếc xe đã biến mất khi cô ấy quay lại lúc 5 giờ sáng.”
“Người trông xe không nhớ ai đã lái nó ra ngoài?”
“Không, và điều đó không có gì đáng ngạc nhiên cả. Đó là một ga-ra lớn, năm tầng, xe ra xe vào tẩp nập. Có một camera ở lối ra, nhưng băng ghi hình bị xóa sau mỗi bốn mươi tám giờ. Tuy nhiên, chiếc xe van...”
“Chiếc xe van thì sao?”
“Nó thuộc về một người thợ mộc và thợ thủ công bán thời gian tên là Carl Jellison, sống ở spuytenkill, New York, một thị trấn nhỏ kẹp giữa Poughkeepsie và New Paltz. Anh ta cầm theo chìa khóa của mình, nhưng có giấu một chia dự phòng trong một hộp nam châm ở dưới cản sau. Ai đó đã tìm thấy chiếc hộp và đánh cắp chiếc xe. Theo Bill Samuels, kẻ trộm có thể đã lái nó từ New York đến thành phố Cap... hoặc Dubrow... hoặc có thể đến đây, tại thành phố Flint này... Sau đó quẳng nó lại, chìa dự phòng vẫn cắm trong ổ. Terry đã phát hiện ra nó, trộm lại và cất giấu ở đâu đó. Có thể là trong một nhà kho ở bên ngoài thị trấn. Có trời mới biết có bao nhiêu trang trại bị bỏ hoang kể từ đợt suy thoái hổi năm 2008. Hắn quang chiếc xe van ở phía sau quán Shorty's với chiếc chìa khóa vẫn cắm trong ổ, hy vọng vậy - cũng không phải là vô lý - và có ai đó sẽ lấy trộm nó lần thứ ba.”
“Chỉ là không ai làm thế,” Jeannie nói. “Vây là chiếc xe van kèm chia khóa đang bị tạm giữ. Chỗ nào trên xe cũng có dấu tay của Terry Maitland.”
Ralph gật đầu. “Thực ra bọn anh thu được cả tấn vân tay. Chiếc xe đó phải cỡ cả chục năm tuổi và ít nhất phải năm năm rồi không được rửa dọn. Bọn anh đã loại bỏ một vài dấu vân tay trong số đó — Jellison, con trai ông ta, vợ ông ta, hai người làm việc cho ông ta. Thật may khi nhận được báo cáo về chúng trước chiều thứ Năm, tác phong của Cảnh sát Tiểu bang New York, Chúa phù hộ cho họ. Ở một số bang, phải nói là ở hầu hết các bang, bọn anh sẽ phải đợi. Tất nhiên, bọn anh cũng có dấu vân tay của Terry Maitland và Frank Peterson. Bốn dâu của Peterson nằm ở mặt trong của cửa ghế hành khách. Đó là một khu vực nhờn ẩm và chúng rõ như những đồng xu mới đúc. Anh đang nghĩ những dấu tay đó có từ bãi đậu xe ở công viên Figgis, khi Terry cố kéo thằng bé ra khỏi ghế phụ còn đứa trẻ cố cưỡng lại.”
Jeannie nhăn mặt.
“Còn có những dấu vân tay khác từ chiếc xe van mà bọn anh vẫn đang phải chờ thêm; họ đã không liên lạc gì từ thứ Tư tuần trước. Bọn anh có thể nhận được thông tin, cũng có thể không. Bọn anh nghĩ một số dấu vân tay sẽ thuộc về tên trộm xe ban đầu, ở Spuytenkill. Số khác có thể là của bạn bè nhà Jellison khi họ xin quá giang. Nhưng những dấu mới nhất, ngoài dấu vân tay của thằng nhóc nhà Peterson, là của Maitland. Tên trộm ban đầu không quan trọng, nhưng anh muốn biết hắn đã vứt chiếc xe ở đâu.” Ông dừng lại, sau đó nói thêm, “Không có ý nghĩa gì mà, em biết đấy.”
“Không xóa các dấu vân tay ư?”
“Không chỉ có thế đâu. Nếu hắn ăn trộm chiếc xe van và chiếc Subaru ngay từ đầu thi sao? Tại sao lại phải ăn trộm xe để dùng vào việc bẩn thỉu trong khi vẫn định chường mặt ra trước bàn dân thiên hạ?”
Jeannie lắng nghe với sự thất vọng ngày càng tăng. Là vợ của anh, cô không thể hỏi những câu căn vặn: Nếu đã nghi ngờ như vậy, thế quái nào mà anh lại hành động như anh đã làm? Và tại sao anh lại hành động quá hấp tấp như thế? Đúng, cô đã động viên anh, và có lẽ cô cũng có một chút trách nhiệm trong sự việc rắc rối hiện tại, nhưng cô không có tất cả thông tin. Biết là không tốt, nhưng trong hoàn cảnh đó mình chỉ có thể làm vậy... cô nghĩ và lại nhăn mặt.
Như thể đọc được suy nghĩ của cô (sau gần 25 năm kết hôn, anh hoàn toàn có thể làm vậy), anh nói, “Đây không phải kiểu hối hận khi mọi chuyên đã rồi, em biết đấy - đừng hiểu theo lối đó. Bill Samuels và anh đã nói rồi. Anh ta bảo không cần thiết phải hợp lý. Anh ta nói Terry đã làm thế vì hắn phát điên thôi. Rằng động lực thôi thúc hắn làm điều đó - nhu cầu làm việc đó, theo như anh biết, dù anh sẽ không bao giờ trình bày như thế trước tòa — cứ ngày một dày thêm. Đã có những trường hợp tương tự xảy ra. Bill đã nói thế này, Ồ vâng, hắn đã lên kế hoạch làm một điều gì đó, và hắn đã ghép vài mảnh vào vị trí rồi, nhưng khi hắn gặp Frank Peterson vào thứ Ba tuân trước, nhấc chiếc xe đạp bị đứt xích bỏ vào thùng xe, mọi kế hoạch đã tan thành mây khói. Cái mũ che chắn đã bị thổi bay, Tiến sĩ Jekyll đã biến thành Ngài Hyde rồi. .”
“Một kẻ bạo dâm trong cơn cuồng loạn,” cô thì thầm. “Terry Maitland. Huấn luyện viên T.”
“Lúc đó nó hợp lý và giờ cũng vậy,” anh nói, đẩy căm phẫn.
Có thể , cô có thể trả lời như vậy, nhưng sau đó thì sao, anh yêu? Thế còn khi kết thúc, khi hắn đã thoả mãn thì sao? Anh và Bill có cân nhắc đến điều đó không? Tại sao hắn không xóa các dấu vân tay và vẫn chường mặt ở khắp nơi?
Ralph nói: “Có thứ gì đó dưới ghế lái của chiếc xe van.”
“Thật ư? Cái gì thế ạ?”
“Một mẩu giấy vụn. Có thể là một phần của thực đơn mang đi. Có thể là không gì cả, nhưng anh muốn xem xét kỹ nó. Khá chắc rằng nó có thể được sử dụng làm bằng chứng.” Anh hất nốt chút cà phê còn lại trong cốc vào đám cỏ và đứng dậy. “Điều anh mong hơn cả là sẽ xem được băng ghi hình an ninh ở Sheraton vào thứ Ba và thứ Tư tuần trước. Thêm cả băng ghi hình từ nhà hàng nơi hắn và nhóm giáo viên đã đi ăn tối nữa.”
“Nếu anh nhìn rõ được khuôn mặt của hắn trong bất kỳ băng ghi hình an ninh nào, hãy gửi cho em một bản chụp màn hình nhé.” Và khi anh nhướng mày, cô nói, “Em cũng quen biết Terry lầu như anh vậy và nếu người ở thành phô Cap không phải hắn, em sẽ nhận ra ngay.” Cô cười. “Xét cho cùng, phụ nữ thường tinh ý hơn đàn ông. Chính anh đã nói như vậy mà.”
❊ 9 ❊
Sarah và Grace Maitland gần như đã bỏ bữa sáng, việc này không khiến Marcy bân lòng nhiều như việc không thấy các con dính vào điện thoại và máy tính bảng. Cảnh sát đã để chúng giữ lại đồ điện tử, nhưng sau khi lướt một lúc, Sarah và Grace đã để lại chúng ở phòng ngủ. Có lẽ lúc này bọn trẻ không hề muốn biết đến bất kể tin tức hay cuộc trò chuyện nào trên mạng xã hội. Và sau khi thoáng nhìn qua cửa sổ phòng khách, nơi cô thấy hai chiếc xe van của hãng tin tức và một xe tuần tra của Cảnh sát Thành phố Flint đậu ở lể đường, Marcy đã kéo rèm cửa. Ngày hôm nay sẽ dài bao lâu? Và Chúa ơi, cô phải làm gì cho hết ngày đây?
Howie Gold đã trả lời câu hỏi đó cho cô. Ông đã gọi điện đến lúc 8 giờ 15, giọng có vẻ vui.
“Chúng ta sẽ đến gặp Terry vào chiều nay. Cùng nhau. Thường thì phải hẹn trước 24 giờ và đợi được chấp thuận đã, nhưng tôi lo được chuyện này. Nhưng tôi không lo được vụ gặp trực tiếp. Anh ấy đang bị canh giữ với mức độ tối đa. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải nói chuyện với anh ấy qua kính, nhưng không tệ như trong phim đâu. Rồi cô sẽ thấy.”
“Được rồi,” cô nói, cảm thấy khó thở. “Mấy giờ vậy?”
“Tôi sẽ đón cô lúc 1 giờ 30 chiều. Cô nên chuẩn bị bộ vest đẹp nhất, cùng một chiếc cà vạt sẫm màu cho anh ấy. Để dành cho buổi luận tội. Và cô cũng có thể mang cho anh ấy thứ gì ngon để ăn. Các loại hạt, trái cây, kẹo. Bỏ nó vào một chiếc túi trong suốt, được không?”
“Được chứ. Còn bọn trẻ thì sao? Tôi có nên...”
“Không, để bọn trẻ ở nhà. Nhà tù hạt không phải là nơi dành cho chúng. Hãy nhờ ai đó trông chúng để phòng báo chí làm căng. Và nói với chúng rằng mọi chuyện ổn cả.”
Cô không biết mình có tìm được ai không - cô không thích lại phải nhờ đến Jamie sau đêm hôm qua. Chắc chắn nếu cô nhờ viên cảnh sát trực trên chiếc xe tuần tra ở phía trước nhà, anh ta sẽ có thể ngăn đám báo chí lao vào phía trong. Anh ta có thể chứ?
“Mọi việc ổn chứ? Có thật không vậy?”
“Tôi nghĩ là có. Alec Pelley vừa đập vỡ một piñata * cỡ đại ở thành phố Cap, và tất cả các giải thưởng đều rơi vào tay chúng ta. Tôi sẽ gửi cho cô một đường link để xem. Cô chia sẻ nó với bọn trẻ hay không là tùy cô, nhưng nếu là tôi thì tôi sẽ làm vậy.”
Piñata (Những hình nộm may mắn) là một trò chơi xuất phát từ Mexico và đã nhanh chóng trở thành một trò chơi phổ biến ở các nước trên thế giới... Vào mỗi bữa tiệc sinh nhật hay những lễ hội khác, mọi người sẽ cho kẹo hoặc đồ chơi vào bên trong Pinata. Sau đó, họ treo Pinata lên cao. Người chơi bị bịt mắt sẽ cố gắng đập vỡ Pinata bằng một cây gậy; khi pinata vỡ sẽ rớt ra kẹo (đồ chơi) và mọi người xem đây như là một điều may mắn.
Năm phút sau, Marcy đã ngồi xuống trên ghế giữa hai con gái của mình. Họ cùng nhìn vào máy tính bảng mini của Sarah. Máy tính để bàn của Terry hoặc một trong những chiếc máy tính xách tay sẽ tốt hơn, nhưng cảnh sát đã tịch thu chúng rồi. Hóa ra chỉ cần máy tính bảng là đủ. Ngay sau đó, cả ba mẹ con đã cười, hét lên vì sung sướng và đập tay với nhau.
Đây không chỉ là ánh sáng cuối đường hẩm, Marcy nghĩ, nó là cầu vồng sau cơn bão.
❊ 10 ❊
Thịch-thịch-thịch.
Lúc đầu, Merl Cassidy nghĩ rằng mình đang nghe thấy những âm thanh ấy trong một cơn mơ, một cơn mơ tồi tệ, khi bố dượng của cậu chuẩn bị đánh cậu nhừ tử. Gã hói đầu ấy có một cách gõ lên bàn bếp rất riêng, đầu tiên bằng cùi đốt ngón tay, sau đó bằng cả nắm đấm, khi hắn đặt ra những câu hỏi dẫn vào trân đòn tối hôm đó: Mày đã ở đâu? Mày đeo chiếc đồng hồ đó làm gì nếu lúc nào cũng về muộn vào bữa tối? Sao không bao giờ mày giúp mẹ? Mày mangsấch về nhà làm gì nếu không bao giờ định làm bài tập về nhà? Mẹ cậu có thể lên tiếng phản đối, nhưng hắn nào có nghe bà bao giờ. Nếu cố can thiệp, bà có thể bị gạt ra. Sau đó, nắm đấm đang đập lên bàn với lực tăng dần sẽ được chuyển sang cậu.
Thịch-thịch-thịch.
Merl choàng tỉnh, cuống cuồng lao ra khỏi giấc mơ, và rồi ngay sau đó nhận ra một sự thật trớ trêu rằng: cậu đã cách xa tên khốn đó cỡ 2500 cây số là ít... và vẫn lơ mơ chưa tỉnh. Thực tế thì cậu đã không có một đêm trọn vẹn; từ ngày xa nhà, cậu có đêm nào được ngủ ngon đâu.
Thịch-thịch-thịch.
Một cảnh sát đang dùng cây dùi cui của mình gõ vào sườn xe. Kiên nhẫn. Giờ thì ông ấy đang dùng tay còn lại làm một cử chỉ như muốn bảo cậu hạ kính xe xuống.
Trong một khoảnh khắc, Merl không biết mình đang ở đâu, nhưng khi nhìn qua kính chắn gió và thấy cửa hàng có mặt tiền lớn phía bên kia bãi đậu xe dài như cả cây số, cậu đã sực nhớ ra. E1 Paso. Đây là E1 Paso. Chiếc Buick mà cậu đang lái đã cạn gần hết xăng, và cậu cũng chẳng còn mấy đồng. Cậu đã ngoặt xe vào Walmart Supercenter để ngủ vài giờ. Có lẽ đến sáng, khi đầu óc tỉnh táo trở lại, cậu sẽ biết phải làm gì tiếp theo. Chỉ là bây giờ làm gì có phần tiếp theo.
Thịch-thịch-thịch.
Cậu cuộn cửa sổ xuống. “Chào buổi sáng, sĩ quan cảnh sát. Tôi lái xe khuya, và tạt vào đây tranh thủ chợp mắt một lúc. Tôi nghĩ chỉ đậu ở đây một chút ít thời gian thì sẽ không có vẩn đề gì cả. Nếu tôi sai, tôi xin lỗi.”
“Uh-huh, thật sự đáng ngưỡng mộ đấy,” viên cảnh sát nói và khi ông ta mỉm cười, Merl có một chút hy vọng. Đó là một nụ cười thân thiện. “Rất nhiều người vẫn làm thế. Chỉ có điều, hầu hết họ trông không giống một thiếu niên mười bốn tuổi.”
“Tôi mười tám tuổi rồi, chỉ nhỏ con hơn tuổi thôi.” Nhưng cậu cảm thấy cơ thể mình đang rũ ra, nhưng chẳng hề liên quan đến những giấc ngủ chập chờn ngắn ngủi mà cậu có trong những tuần qua.
“À, mọi người luôn nhầm tôi với Tom Hanks đấy. Một số thậm chí còn xin chữ ký của tôi nữa. Hãy cho tôi xem giấy phép và đăng ký xe của cậu.”
Thêm một nỗ lực nữa, yếu ớt như lần giật lên cuối cùng của đôi chân người sắp chết. “Tôi bỏ chúng trong áo khoác, thế nhưng có người đã thó mất nó lúc tôi đi vệ sinh. Tại McDonalds ấy.”
“À à, được rồi. Thế cậu đến từ đâu?”
“Phoenix,” Merl nói mà không tin chắc.
“À, vậy tại sao chiếc xe xinh đẹp này lại có biển Oklahoma?”
Merl im lặng, không có câu trả lời.
“Bước ra khỏi xe ngay, con trai, và dù cậu trông chẳng khác nào một con chó cụp đuôi trước một cơn mưa giông, nhưng hãy đưa tay ra để tôi có thể nhìn rõ chúng.”
Merl ra khỏi xe mà không cảm thấy quá hối tiếc. Cậu đã đi đủ xa. Hơn nữa, thực sự xa; khi nghĩ về hành trình ấy, cậu thấy đó quả thực là một cuộc trốn chạy kỳ diệu. Đáng lẽ ra cậu đã bị bắt cả chục lần từ hồi rời nhà vào cuối tháng Tư, nhưng lần nào cậu cũng trót lọt. Giờ thì cậu bị tóm sống, nhưng thế thi sao cơ chứ? Cậu sẽ đi đến đầu? Không đâu cả. Bất cứ đâu. Miễn tránh xa được tên hói đó.
“Tên cậu là gì, nhóc?”
“Merl Cassidy. Merl, viết tắt của Merlin.”
Một vài người đi mua sắm sớm đã quay ra nhìn họ, sau đó hối hả bước vào nơi kỳ diệu mở suốt cả ngày lẫn đêm Walmart.
“Giống như một thuật sĩ, uh-huh, được rồi. Cậu có giấy tờ tùy thân nào nữa không, Merl?”
Cậu thò tay vào túi quần sau và rút ra một chiếc ví rẻ tiền với đường khâu bằng da hoẵng sờn, món quà sinh nhật mà mẹ tặng cho cậu năm lên tám. Hồi đó chỉ có hai mẹ con, và cuộc sống thật ý nghĩa. Bên trong có một tờ 5 đô-la và hai tờ 1 đô-la. Từ ngăn ngách chứa vài bức ảnh của mẹ, cậu kéo ra một tầm thẻ ép kim có ảnh của cậu trên đó.
“Bộ Thanh niên Poughkeepsie,” viên cảnh sát trầm ngâm. “Cậu đến từ New York?”
“Vâng thưa ngài.” Ngài là từ mà bố dượng đã nhồi vào đầu cậu từ rất sớm.
“Cậu đến từ đó?”
“Không, thưa ngài, nhưng gần đó. Một thị trấn nhỏ tên là Spuytenkill. Cái tên đó có nghĩa là một cái hồ phun . Ít nhất thì mẹ cháu đã nói thế.”
“Uh-huh, được rồi, thật thú vị, mỗi ngày cậu lại học được một điều mới. Cậu đã chạy trốn bao lâu rồi, Merl?”
“Cháu đoán là chừng ba tháng.”
“Thế ai dạy cậu lái xe?”
“Chú cháu, chú Dave. Trên các cánh đồng, chủ yếu là thế. Cháu lái rất tốt. Số hoặc tự động, gì cũng được. Chú Dave của cháu qua đời vì đột quỵ.”
Viên cảnh sát nghĩ ngợi một chút, búng ngón tay vào tâm thẻ ép kim, không phải thịch-thịch-thịch mà là tích-tích-tích . Nhìn chung, Merl thích ông ấy. Ít nhất là cho đến giờ.
“Tay lái lụa này, uh-huh, cậu hẳn đã phải đi cả một quãng đường dài từ New York đến cái lỗ rốn đầy bụi bặm này ở một thị trấn biên giới. Cậu đã ăn trộm bao nhiêu xe rồi, Merl?”
“Ba. Không, bốn. Chiếc này là chiếc thứ tư. Chiếc đầu tiên là xe van. Của người hàng xóm ở cuối phố.”
“Bốn,” cảnh sát nói, nhìn đứa trẻ bẩn thỉu đang đứng trước mặt mình. “Và cậu lấy đâu ra tiền để thực hiện chuyến thám hiểm về phía nam của mình, hả Merl?”
“Dạ?”
“Cậu ăn uống thế nào? Ngủ ở đâu?”
“Chủ yếu là ngủ trên xe. Và ăn trộm nữa.” Cậu cúi gục đâu. “Chủ yếu là ví của mấy bà cô. Có lúc họ không thấy, nhưng nếu họ bắt được... Cháu có thể chạy thật nhanh.” Những giọt nước mắt bắt đầu rơi. Cậu đã khóc một chút trên hành trình mà viên cảnh sát gọi là chuyên thám hiểm về phía nam của cậu, chủ yếu là vào ban đêm, nhưng những giọt nước mắt đó không mang lại cảm giác nhẹ nhõm thực sự. Nhưng giờ thì có. Merl không biết tại sao và cũng không quan tâm.
“Ba tháng, bốn chiếc ô tô,” viên cảnh sát nói, và búng tích-tích-tích vào chiếc thẻ bộ thanh niên của Merl. “Sao cậu lại chạy trốn, nhóc?”
“Bô dượng của cháu. Và nếu ông đưa cháu về với tên khốn đó, cháu sẽ bỏ chạy một lần nữa, ngay khi có cơ hội đầu tiên.”
“À, tôi hiểu rồi. Thế cậu bao nhiêu tuổi, Merl?”
“Mười hai tuổi, nhưng tháng tới cháu sẽ mười ba tuổi.”
“Mười hai. Tôi sẽ gặp rắc rối đây. Đi với tôi nào, Merl. Hãy xem chúng ta sẽ phải làm gì với cháu.”
Tại đồn cảnh sát trên Đại lộ Harrison, trong khi chờ nhân viên công tác xã hội đến, Merl Cassidy được chụp ảnh, tắm rửa và lấy dấu tay. Các dấu vân tay đã được lưu lại. Đây chỉ là một thủ tục.
❊ 11 ❊
Khi Ralph đến đồn cảnh sát nhỏ hơn nhiều ở thành phố Flint với ý định gọi cho Deborah Grant trước khi lấy một chiếc xe tuần tra để chạy đến thành phố Cap, Bill Samuels đang đợi anh. Anh ta trông có vẻ nhợt nhạt. Ngay cả nhúm tóc Alfalfa cũng rũ xuống.
“Chuyện gì vậy?” Ralph hỏi. Ý là còn chuyện gì nữa?
“Alec Pelley đã nhắn tin cho tôi. Gửi kèm một đường link.”
Anh ta mở cặp, lôi iPad ra (tất nhiên là chiếc lớn, loại Pro) và khởi động nó. Anh ta gõ nhẹ hai lần vào màn hình, rồi chuyên nó cho Ralph. Tin nhắn từ Pelley có nội dung, Anh có chắc muốn theo đuổi vụ án chổng lại T. Maitland không? Xem cái này trước đi nhé. Đường link được gửi kèm ở ngay dưới. Ralph gõ vào nó.
Đường link dẫn họ đến một trang web dành cho Kênh 81: NGUỒN TRUY CẬP CÔNG CỘNG CỦA THÀNH PHỐ CAP!
Bên dưới đó là một ô gồm các video cuộc họp của Hội đồng Thành phố, một bản tin thông báo về việc mở lại của một cây cầu, một hướng dẫn có tên THƯ VIỆN CỦA BẠN VÀ CÁCH SỬ DỤNG NÓ, và một mục khác có tên SỞ THÚ THÀNH PHỐ CAP ĐƯỢC TRANG HOÀNG THÊM. Ralph nhìn Samuels tỏ vẻ thắc mắc.
“Cuộn xuống.”
Ralph đã làm theo, và tìm thấy một bài báo có tiêu để HARLAN COBEN PHÁT BIỂU TRƯỚC LIÊN HIỆP GIÁO VIÊN TIẾNG ANH BA TIỂU BANG. Biểu tượng BẬT chồng lên hình ảnh của một người phụ nữ đeo kính với mái tóc được xịt keo cứng quèo, trông như thể bạn có thể đập quả bóng chày vào nó mà không thể làm tổn thương hộp sọ bên dưới. Cô ta đang đứng trên bục. Phía sau cô ta là logo của khách sạn Sheraton. Ralph mở video toàn màn hình.
“Xin chào quý vị! Chào mừng quý vị đến với hội nghị hôm nay! Tôi là Josephine McDermott, chủ tịch đương nhiệm của Liên hiệp giáo viên tiếng Anh ba tiểu bang. Tôi rất vui khi được đứng ở đây và chính thức chào đón quý vị đến với cuộc gặp gỡ trí tuệ của chúng ta ngày hôm nay. Thêm vào đó, tất nhiên, có cả đồ uống dành cho người lớn.” Một tràng cười lịch sự vang lên khe khẽ. “Cuộc gặp gỡ năm nay của chúng ta đặc biệt tuyệt vời; mặc dù tôi rất muốn nghĩ rằng sự hiện diện đẩy quyến rũ của tôi đã góp một phần vào nó,” -thêm một vài tiếng cười lịch sự nữa vang lên - “nhưng tôi nghĩ chủ yếu vẫn là nhờ sự xuất hiện của vị diễn giả khách mời tuyệt vời của chúng ta ngày hôm nay...”
“Maitland đã nói đúng một điều,” Samuels nói. “Phần giới thiệu này dông dài muốn chết. Cô ta điểm qua mọi cuốn sách mà gã này từng viết. Tua đến đoạn chín phút ba mươi giây đi. Cô ta sẽ dừng ở đó.”
Ralph lướt ngón tay dọc theo thanh tua ở cuối video, giờ thì đã biết mình đang xem cái gì. Anh không muốn , nhưng vẫn phải xem. Nó có sức cuốn hút không thể phủ nhận.
“Thưa quý vị và các bạn, xin hãy dành sự chào đón nồng nhiệt cho vị diễn giả khách mời của chúng ta ngày hôm nay, ông Harlan Coben !”
Từ cánh gà, một quý ông hói đầu với cái dáng cao nghều đến nỗi khi cúi xuống bắt tay với cô McDermott, ông ta trông giống như người khổng lồ cúi chào người tí hon trong bộ váy người lớn. Kênh 81 hẳn đã cho rằng sự kiện này rất thú vị nên mới xài tới tận hai máy quay, và hình ảnh bây giờ đang chuyển sang phía khán giả, khiến Coben trông như một chữ O đứng. Và ở đó, tại chiếc bàn gần sân khấu, có ba người đàn ông và một phụ nữ. Ralph cảm thấy bụng anh nhộn nhạo như đi thang máy tốc hành xuống. Anh nhấp vào video, tạm dừng nó.
“Chúa ơi,” anh nói. “Chính là hắn. Terry Maitland cùng Roundhill, Quade và Grant.”
“Dựa trên bằng chứng chúng ta có trong tay, tôi không biết làm sao lại có chuyện đó, nhưng chắc chắn người trong video giống hắn y hệt.”
Trong giây lát, Ralph không thể nói tiếp. Anh kinh ngạc tột độ. “Bill, gã đó huấn luyện con trai tôi. Không chỉ là giống mà chính là hắn đấy.”
“Coben nói trong khoảng bốn mươi phút. Hầu như chỉ có cảnh Ông ta trên bục phát biểu, nhưng thỉnh thoảng vẫn có những cảnh khán giả, họ rộ lên cười trước một số câu nói dí dỏm của ông ta — ông ta là một người hóm hỉnh, tôi nghĩ thế - hoặc chăm chú lắng nghe. Maitland - nếu đó là Maitland thật - xuất hiện trong hầu hết các cảnh quay đó. Nhưng chiếc đinh đóng vào quan tài xuất hiện đúng vào phút thứ năm mươi sáu. Tới đó đi.”
Ralph di tay đến phút thứ 54, để cho chắc. Lúc đó Coben đang nhận các câu hỏi từ khán giả. “Tôi không bao giờ sử dụng câu từ tục tĩu trong sách của mình vì mục đích thô tục,” ông ta nói, “nhưng trong một số trường hợp nhất định, điều đó có vẻ hoàn toàn phù hợp. Một người đàn ông chẳng may nện búa vào ngón tay cái của mình sẽ không nói: Ồ, dưa chua ” Tiếng cười lại rộ lên từ phía khán giả. “Tôi có thời gian cho một hoặc hai câu hỏi nữa. Ông muốn hỏi gì, thưa ông?”
Cảnh quay chuyên từ Coben sang người hỏi tiếp theo. Đó là Terry Maitland, trong một cảnh quay cận sát rạt; hy vọng cuối cùng của Ralph rằng họ đang phải đối mặt với một kẻ song trùng, như Jeannie đã đề xuất, tan thành mây khói. “Thưa ông Coben, khi ngồi xuống viết, ông đã luôn biết thủ phạm là ai rồi hay đôi khi kết cục cũng là một điều bất ngờ đối với ông?”
Hình ảnh quay trở lại với Coben, người đã mỉm cười và nói, “Đó là một câu hỏi rất hay.”
Trước khi ông ta có thể đưa ra một câu trả lời rất hay, Ralph đã tua lại đoạn Terry đứng lên để đặt câu hỏi cho diễn giả. Anh nhìn chằm chằm vào hình ảnh đó trong hai mươi giây, sau đó đưa iPad lại cho ủy viên công tố quận.
“Chà,” Samuels nói. “Vụ của chúng ta tiêu rồi.”
“Vẫn đang chờ kết quả ADN mà,” Ralph nói... hay đúng hơn là nghe thấy mình nói. Anh cảm thấy như thể mình vừa thoát xác. Anh cho rằng đó là cảm giác của các võ sĩ ngay trước khi trọng tài dừng trận đấu. “Và tôi vẫn cần nói chuyên với Deborah Grant. Sau đó, tôi sẽ đến Cap để do thám thêm. Hãy nhỏm mông lên rồi gõ cửa nào , như người ta vẫn thường nói. Nói chuyện với nhân viên khách sạn, và nhân viên ở Firepit, nơi họ đã đi ăn tối.” Rồi anh nghĩ đến Jeannie, “Tôi cũng muốn xem xét khả năng của các bằng chứng pháp y.”
“Anh có biết làm như thế khó đến mức nào ở một khách sạn thuộc thành phố lớn, lại còn là vào thời điểm gần một tuần sau ngày được để cập không?”
“Tôi biết.”
“Nhà hàng có thể còn không mở cửa.” Samuels nói như thể một đứa trẻ vừa bị một đứa lớn hơn xô ngã xuống vỉa hè và bị trẩy xước đầu gối. Ralph dần nhận ra mình không thích anh chàng này lắm. Anh ta ngày càng giống một kẻ bỏ cuộc.
“Nếu nơi đó ở gần khách sạn, rất có thể họ sẽ mở cửa phục vụ bữa xế.”
Samuels lắc đầu, vẫn chăm chú nhìn vào hình ảnh đông cứng của Terry Maitland trên màn hình. “Ngay cả khi chúng ta nhận được kết quả ADN trùng khớp... mà tôi bắt đầu nghi ngờ chuyện đó... anh đã làm công việc này đủ lâu để biết rằng bồi thẩm đoàn hiếm khi kết tội dựa trên ADN và díu vân tay. Vụ OJ là một điển hình.”
“Các nhân chứng...”
“Gold sẽ đập họ tơi tả trên tòa. Stanhope? Già và mắt kém. Có đúng là bà đã từ bỏ giấy phép lái xe ba năm trước không, thưa bà Stanhope? June Morris? Một đứa trẻ nhìn thấy một người đàn ông be bét máu từ bên kia đường. Scowcroft đang uống rượu, và bạn của anh ta cũng vậy. Claude Bolton có tiền án ma túy. Tốt nhất chỉ có Willow Rainwater, và tôi có tin này cho anh đây, anh bạn, ở tiểu bang này người ta không quan tâm lắm đến người da đỏ đâu. Đừng tin tưởng họ quá nhiều.”
“Nhưng chúng ta đã lún quá sâu để có thể rút ra được rồi,” Ralph nói.
“Chuyện thật như đùa.”
Họ ngồi im lặng một lúc. Cửa văn phòng của Ralph để mở và phòng chính của sở cảnh sát vắng tanh như thường lệ vào các buổi sáng Chủ nhật ở thành phố nhỏ phía Tây Nam này. Ralph nghĩ đến việc nói với Samuels rằng đoạn video đã kéo họ ra xa khỏi vẩn để quan trọng: một đứa trẻ đã bị sát hại, và theo như mọi bằng chứng mà họ thu thập được, kẻ giết người đã được xác định. Việc Maitland xuất hiện ở một nơi cách xa một trăm cây số là việc cần làm rõ. Cả hai người họ không được phép nghỉ ngơi chừng nào mọi chuyện vẫn chưa rõ ràng.
“Hãy đến thành phố Cap với tôi, nếu anh muốn.”
“Tôi bận rồi,” Samuels nói. “Tôi sẽ đưa vợ cũ và bọn trẻ đến Hồ Ocoma. Cô ấy đã chuẩn bị đổ cho một buổi dã ngoại. Chúng tôi cuối cùng cũng có thể trở lại quan hệ tốt đẹp như xưa và tôi không muốn phá hỏng nó.”
“Được rồi.” Dù sao thi anh cũng hỏi bâng quơ thôi. Ralph muốn tự đi. Anh muốn làm rõ cái điều tưởng chừng như rất đơn giản nhưng giờ đang rối như mớ bòng bong.
Anh đứng dậy. Bill Samuels đặt iPad lại vào cặp, sau đó đứng lên bên cạnh anh. “Tôi nghĩ chúng ta có thể sẽ mất việc vì chuyện này, Ralph ạ. Và nếu Maitland ra khỏi đây, hắn sẽ khởi kiện. Anh biết hắn sẽ làm vậy mà.”
“Lo cho chuyến dã ngoại của anh đi. Ăn một ít bánh mì kẹp đi nhé. Việc này vẫn chưa kết thúc đâu.”
Samuels rời văn phòng trước anh, và có điều gì đó trong bước đi của anh ta khiến Ralph tức giận - đôi vai rũ xuống, chiếc cặp đập mạnh vào đầu gối. “Bill?”
Samuels quay lại.
“Một đứa trẻ ở thị trấn này đã bị hãm hiếp một cách man rợ. Dù trước hay ngay sau đó, thằng bé có thể đã bị cắn chết. Tôi vẫn đang cố gắng làm rõ chuyện này. Anh nghĩ bố mẹ cậu bé có quan tâm đến chuyện chúng ta mất việc làm hay thành phố bị kiện không?”
Samuels không trả lời, cứ thế băng qua căn phòng vắng vẻ và hòa mình vào ánh nắng ban mai. Hôm nay có thể là một ngày tuyệt vời cho một chuyến dã ngoại, nhưng Ralph biết ủy viên công tố sẽ không vui lắm đâu.
❊ 12 ❊
Fred và Ollie đã đến phòng cấp cứu của Bệnh viện Mercy ngay trước khi đêm thứ Bảy trườn sang sáng Chủ nhật, không quá ba phút sau khi chiếc xe cấp cứu chở Arlene Peterson đến. Vào giờ đó, phòng chờ lớn chật cứng người bẩm dập và chảy máu, người say rượu lè nhè, tiếng khóc và tiếng ho. Giống như hầu hết các phòng cấp cứu khác, phòng cấp cứu của Mercy cực kỳ đông vào các tối thứ Bảy, nhưng đến chín giờ sáng Chủ nhật, nó lại gần như vắng vẻ. Một người đàn ông đang giữ rịt miếng băng cầm máu trên vết thương đang chảy máu ở tay còn lại. Một người phụ nữ ngồi ôm đứa trẻ đang sốt trong lòng, cả hai đang xem Elmo trên tivi được treo cao ở một góc. Một thiếu nữ với mái tóc xoăn đang ngồi, đầu ngửa ra sau, mắt nhắm nghiên và hai tay ôm bụng.
Và thêm cả họ nữa. Những người còn lại của gia đình Peterson. Fred chợp mắt vào khoảng sáu giờ sáng, nhưng Ollie chỉ ngồi đó, nhìn chằm chằm vào chiếc thang máy đã nuốt chửng mẹ cậu, với suy nghĩ rằng nếu cậu ngủ gật, bà sẽ chết. “Con đã không trông chừng cùng ta trong một giờ phải không?” Chúa Giê-su hỏi Peter, và đó là một câu hỏi rất hay, một câu hỏi bạn không thể trả lời được.
Vào lúc 9 giờ 10 phút, cánh cửa thang máy bật mở và bác sĩ mà họ đã nói chuyện ngay sau khi đến bước ra. Ông mặc bộ đồ màu xanh, đội mũ phẫu thuật cùng màu ướt đẫm mồ hôi được trang trí bằng những trái tim màu đỏ đang nhảy múa. Ông trông rất mệt mỏi, và khi nhìn thấy họ, ông quay sang một bên, như thể muốn trốn tránh. Ollie chỉ cần nhìn sự bối rối ấy là biết. Cậu ước mình có thể để bố ngủ qua cơn gió dữ ban đầu, nhưng cậu đã nhầm. Dù sao thì bố cũng đã biết và yêu bà ấy lầu hơn cả những năm tháng Ollie sống trên cõi đời này.
“Hả!” Fred nói, nhỏm dậy khi Ollie lắc vai. “Gì thế con?”
Sau đó, anh nhìn thấy bác sĩ, người đang cởi bỏ chiếc mũ phẫu thuật để lộ mái tóc nâu ướt đẫm mồ hôi. “Hai vị, tôi rất tiếc phải thông báo rằng bà Peterson đã qua đời. Chúng tôi đã rất cố gắng để cứu bà ấy, và ban đầu tôi nghĩ chúng tôi sẽ thành công, nhưng tổn thương quá nghiêm trọng. Một lần nữa, tôi rất, rất xin lỗi.”
Fred nhìn ông ấy chằm chằm như không thể tin nổi điều đó, rồi bật khóc. Cô gái với mái tóc xoăn mở mắt và cứ nhìn anh mãi. Đứa trẻ đang sốt co rúm lại.
Xin lỗi , Ollie nghĩ. Đó là từ dành cho ngày hôm nay. Tuấn trước, chúng ta vẫn là một gia đình, giờ chỉ còn có bố và mình. Xin lỗi là từ có thể lột tả tất cả những điều đó. Đúng nhất, không còn từ nào khác.
Fred bưng mặt khóc. Ollie ôm chặt anh vào lòng.
❊ 13 ❊
Sau bữa trưa mà Marcy và các cô con gái của cô chỉ gảy gót vài thìa, Marcy đi vào phòng ngủ để lục tim trong tủ quần áo của Terry. Anh là chồng cô, nhưng quần áo của anh chỉ chiếm một phần tư chiếc tủ. Terry là một giáo viên tiếng Anh, một huấn luyện viên bóng chày và bóng đá, một người gây quỹ khi cần phải có quỹ, một người chồng và một người bố. Anh làm tốt tất cả những công việc đó, nhưng chỉ có hợp đồng giảng dạy được trả lương và anh cũng không có quá nhiều những bộ quần áo chỉnh tể. Bộ vest màu xanh lam là đẹp nhất, nó làm nổi bật màu mắt của anh, nhưng nó có dâu hiệu bị sờn và ai có gu đều sẽ không nhẩm nó với đổ của Brioni. Nó là đồ của Men’s Wearhouse, và đã mua được bốn năm rồi. Cô thở dài, gỡ nó ra khỏi móc, lấy thêm chiếc áo sơ mi trắng và cà vạt xanh đậm. Cô đang bỏ chúng vào một chiếc túi đựng đồ thi chuông cửa vang lên.
Người đến là Howie, mặc đồ bảnh bao hơn nhiều so với bộ đồ mà Marcy vừa lấy ra khỏi tủ. Ông ôm các con của cô và thơm nhẹ lên má Marcy.
“Bác sẽ đưa bố cháu về nhà chứ?” Gracie hỏi.
“Không phải hôm nay, nhưng sẽ sớm thôi,” ông nói, rồi cầm lấy chiếc túi. “Còn đôi giày thì sao, Marcy?”
“Ôi, Chúa ơi,” cô thốt lên. “Tôi đúng là não cá vàng.”
Đôi màu đen thì ổn, nhưng chúng cần được đánh bóng. Tuy nhiên, không có thời gian cho việc đó bây giờ. Cô cho chúng vào một chiếc túi và quay trở lại phòng khách. “Được rồi, đi thôi.”
“Ổn rồi. Cứ đi tự nhiên và đừng để ý đến đám sói đồng cỏ. Các cháu, hãy khóa cửa cho đến khi mẹ các cháu về nhà và đừng nghe điện thoại trừ khi đó là số của người quen. Các cháu hiểu rồi chứ?”
“Chúng cháu biết rồi,” Sarah nói. Cô bé trông không ổn lắm. Chẳng đứa nào ổn cả. Marcy tự hỏi liệu các cô bé còn chưa lớn có thể giảm cân chỉ trong một đêm không. Chắc chắn là không rồi.
“Đi thôi,” Howie nói với giọng điệu phấn chấn, vui vẻ.
Họ rời nhà, Howie xách túi đồ còn Marcy xách túi giày. Các phóng viên một lần nữa tràn đến rìa bãi cỏ. Bà Maitland, bà đã nói chuyện với chổng chưa? Cảnh sát đã nói gì với bà? Ông Gold, Terry Maitland đã trả lời các cáo buộc chưa? Ông sẽ yêu cầu tại ngoại?
“Chúng tôi không có gì để nói vào thời điểm này,” Howie nói, mặt lạnh như đá, hộ tống Marcy đi đến chiếc Escalade của ông dưới ánh đèn máy quay chói lòa (chắc chắn không cần thiết vào một ngày tháng Bảy rực rỡ như thế này, Marcy nghĩ), ơ cuối đường lái xe, Howie kéo cửa sổ xuống và ngó ra nói chuyện với một trong hai cảnh sát đang làm nhiệm vụ. “Hai đứa trẻ đang ở bên trong. Các anh có trách nhiệm không cho ai làm phiền chúng, đúng chứ?”
Cả hai đều không đáp lại, chỉ nhìn Howie với biểu cảm trống rỗng hoặc căm ghét. Marcy không thể khẳng định, nhưng cô nghiêng về về sau.
Niểm vui và sự nhẹ nhõm mà cô cảm thấy sau khi xem video đó vẫn còn trong cô - Chúa phù hộ cho Kênh 81 - nhưng đám kền kền truyền hình cùng đám phóng viên đông như sói đồng cỏ vẫn rình rập, vẫy micro trước nhà cô. Terry vẫn bị nhốt — “trong nhà tù hạt”, như Howie đã nói, và cụm từ đó quả thật khủng khiếp, giống như một thứ nhảy xổ ra từ một bài hát đồng quê và miền Tầy hoang vu đơn độc. Những kẻ lạ đã khám xét nhà của họ và lấy đi bất cứ thứ gì họ muốn. Tuy nhiên, khuôn mặt dơ như gỗ của đám cảnh sát và sự vô cảm của họ là điều tồi tệ nhất, còn đáng lo ngại hơn nhiều so với ánh đèn máy quay và những câu hỏi được hét lên. Một cỗ máy đã nuốt chửng gia đinh cô. Howie nói rằng họ sẽ thoát ra khỏi đó mà không hề hấn gì, nhưng điều đó vẫn chưa xảy ra.
Chưa, vẫn chưa.
❊ 14 ❊
Marcy nhanh chóng bị một nữ sĩ quan có đôi mắt ngái ngủ áp sát, người này yêu cầu cô bỏ ví vào giỏ nhựa được cung cấp và bước qua máy dò kim loại. Sĩ quan nọ cũng lấy bằng lái xe của họ, cho vào một chiếc túi nhựa và dán nó lên bảng thông báo cùng với nhiều chiếc khác. “Cả bộ quần áo và giày nữa, thưa cô.”
Marcy đưa chúng cho cô ta.
“Tôi muốn thấy anh ấy mặc bộ đồ đó và trông thật chỉn chu khi tôi đến gặp anh ấy vào sáng mai,” Howie nói, và bước qua máy dò kim loại, chiếc máy kêu lên.
“Chúng tôi chắc chắn sẽ nói với người phụ trách của anh ta,” sĩ quan ở phía cuối máy dò nói. “Bây giờ, hãy bỏ nốt những thứ còn lại trong túi của các vị ra và thử lại.”
Vấn đề hóa ra là do móc khóa của ông. Howie đưa nó cho nữ sĩ quan và đi qua máy dò lần hai. “Tôi đã qua đây ít nhất cũng phải đến năm nghìn lần và tôi luôn quên chìa khóa,” ông nói với Marcy. “Chắc kiểu thuộc về ý thức rồi.”
Cô mỉm cười lo lắng và không đáp lại. Cổ họng cô khô khốc, cô nghĩ giờ mà có muốn nói gì chắc cô cũng không thể thốt nên lời.
Một sĩ quan khác dẫn họ đi qua một cánh cửa, rồi một cánh cửa nữa. Marcy nghe thấy tiếng trẻ con cười và tiếng nói chuyện ồn ào của người lớn. Họ đi qua một khu vực thăm phạm nhân với tầm thảm công nghiệp màu nâu trải trên sàn. Bọn trẻ đang chơi đùa. Các tù nhân mặc áo liền quần màu nâu đang nói chuyện với vợ, người yêu, mẹ của họ. Một người đàn ông to lớn với vết bớt màu tím ở một bên mặt và một vết cắt đang lành ở bên kia đang giúp cô con gái nhỏ của mình sắp xếp lại đồ đạc trong một ngôi nhà búp bê.
Đây chỉ là một giấc mơ , Marcy nghĩ. Một giấc mơ cực kỳ sống động. Rồi mình sẽ choàng tỉnh và thấy Terry ở bên cạnh; mình sẽ kể cho anh nghe về cơn ác mộng này, rằng anh ấy bị bắt vì tội giết người. Hai vợ chồng sẽ cười xòa trước điều đó.
Một trong số các tù nhân chỉ tay về phía cô, không cố che giấu cử chỉ của mình. Người phụ nữ bên cạnh anh ta tròn mắt nhìn, rồi thì thầm với một phụ nữ khác. Người cảnh sát đang dẫn đường cho họ có vẻ gặp trục trặc với chiếc thẻ khóa để mở cánh cửa ở cuối khu vực thăm, và Marcy không thể không nghĩ anh ta đang cố tình rể rà. Trước khi ổ khóa kêu đánh cách và anh ta dẫn họ qua, có vẻ như mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía họ. Ngay cả những đứa trẻ.
Cánh cửa dẫn đến một hành lang với những căn phòng nhỏ được ngăn bởi thứ gì đó trông giống như các tấm kính mờ. Terry đang ngồi ở một trong số đó. Khi nhìn thấy anh như bơi trong bộ áo liền quần màu nâu quá rộng, Marcy bật khóc. Cô bước vào phía bên này của căn buồng và nhìn chồng mình qua thứ không phải là kính mà là một tấm Perspex dày. Cô xòe tay ra, áp lên vách ngán, còn anh đưa tay áp vào phía bên kia. Có một vòng tròn gồm các lỗ nhỏ giống như ở ống nghe của loại điện thoại kiểu cũ để họ có thể nói chuyện qua đó. “Đừng khóc nữa, em yêu. Nếu không, anh sẽ khóc mất. Và ngồi xuống đi.”
Cô ngồi, Howie ngồi nhích vào bên cạnh cô trên băng ghế.
“Các con sao rồi?”
“Chúng ổn. Chúng lo cho anh lắm, nhưng hôm nay đỡ hơn rồi. Bọn em có một số tin tức rất tốt. Anh yêu, anh có biết bài phát biểu của Coben đã được một kênh cộng đồng ghi lại không?”
Trong một khoảnh khắc, Terry chỉ biết há hốc miệng. Sau đó anh bắt đầu cười. “Em biết gì không, anh nghĩ người phụ nữ giới thiệu ông ấy đã nói qua thông tin đó nhưng cô ta dông dài quá nên anh hầu như bỏ ngoài tai. Chết tiệt.”
“Đúng vậy, đó thực sự là một điều khó tin,” Howie nói, mỉm cười.
Terry rướn người về phía trước cho đến khi trán anh gần như chạm vào tấm chắn. Đôi mắt anh sáng ngời, chăm chú. “Marcy... Howie... Anh đã hỏi Coben một câu trong phần Hỏi đáp. Anh biết khó có thể xảy ra, nhưng phần đó có thể đã được ghi âm lại. Nếu đúng là thế, có lẽ họ có thể chạy tính năng nhận dạng giọng nói hoặc thứ gì đó và đối chiếu trùng khớp!”
Marcy và Howie nhìn nhau và bắt đầu cười. Đó là một âm thanh không mấy phổ biến trong khu thăm tù, khiến người lính gác ở cuối hành lang ngước nhìn lên, cau mày.
“Gì? Anh đã nói gì sai à?”
“Terry, anh xuất hiện trên video lúc đặt câu hỏi,” Marcy nói. “Anh hiểu không? Anh đã xuất hiện trên video. .”
Trong một khoảnh khắc, Terry dường như không hiểu cô đang nói gì. Sau đó, anh giơ nắm đấm lên ngang thái dương và làm động tác chiến thắng thường thấy mỗi khi đội của anh ghi bàn hoặc thực hiện một lối chơi phòng ngự lạnh lùng. Một cách vô thức, cô cũng giơ tay và bắt chước hành động của anh.
“Em có chắc không? Chắc chắn? Nghĩ kiểu gì anh cũng không tin nối.
“Đó là sự thật,” Howie nói, cười toe toét. “Thực tế là anh đã xuất hiện trong cuốn băng tầm năm sáu lần, khi họ chuyển cảnh quay từ Coben sang cảnh khán giả cười hoặc vỗ tay. Câu hỏi anh đặt ra chỉ là lớp kem phủ trên mặt bánh, lớp kem bơ phủ ngoài cốt bánh chuối.”
“Vậy là vụ án sẽ kết thúc, phải không? Mai tôi được về ư?”
“Chúng ta đừng mừng vội.” Nụ cười toe toét của Howie phai dần. “Ngày mai là buổi luận tội, và họ có một đống bằng chứng pháp y mà họ rất tự hào...”
“Sao lại thế?” Marcy thốt lên. “Làm sao họ có thể có chúng, khi Terry rõ ràng đã ở đó ! Cuốn băng đã chứng minh tất cả!”
Howie giơ tay ra hiệu Dừng lại . “Chúng ta sẽ tính chuyện mâu thuẫn sau, dù tôi có thể nói với anh ngay bây giờ rằng bằng chứng chúng ta có sẽ vượt trội hơn những gì họ có. Dễ bề còn át cả chúng. Nhưng cỗ máy đã nổ.”
“Cỗ máy,” Marcy nói. “Vâng. Chúng ta biết cỗ máy, phải không Ter?”
Anh gật đầu. “Giống như anh đã rơi tọt vào một cuốn tiểu thuyết của Kaíka. Hoặc 1984. Và kéo em cùng các con vào đó.”
“Chà, chà,” Howie nói. “Anh không kéo bất cứ ai cả, họ đã làm thế. Chuyện này sẽ ổn thôi, hai người. Bác Howie hứa và bác đã hứa thì sẽ luôn giữ lời. Anh sẽ bị luận tội vào 9 giờ sáng mai, Terry, trước mặt Thẩm phán Horton. Anh sẽ trông thật chỉnh tế và tươm tất trong bộ đồ đẹp đẽ mà vợ anh mang vào, hiện đang được treo trong tủ đựng đồ của tù nhân. Tôi định gặp Bill Samuels để thảo luận về việc bảo lãnh — tối nay, nếu anh ta đồng ý gặp mặt, hoặc sáng mai nếu không đồng ý. Anh ta không thích điều đó và sẽ khăng khăng đòi giam giữ tại nhà, nhưng nếu chúng ta xin được bảo lãnh, vì rất có thể lúc đó đám phóng viên đã phát hiện ra đoạn video trên Kênh 81 rồi và những vấn đề với bên công tố sẽ trở thành thông tin công khai. Tôi tưởng tượng ra cảnh anh sẽ phải ở trong nhà đến cuồng chân nhưng việc đó không quá rủi ro, trừ khi anh định cắt xiềng cổ chân điện tử và bỏ trốn.”
“Tôi sẽ không đi đâu cả,” Terry nói dứt khoát. Mặt anh ửng đỏ. “Một vị tướng nào đó trong Nội chiến đã nói gì nhỉ? Tôi định sẽ chiến đấu đến cùng trên trận tuyến này dẫu cho mất cả mùa hè.”
“Được rồi, vậy trận chiến tiếp theo là gi?” Marcy hỏi.
“Tôi sẽ nói với ủy viên công tố quận rằng sẽ là một ý kiến tồi nếu trình một bản cáo trạng lên đại bồi thẩm đoàn. Và lập luân đó sẽ chiếm ưu thế. Khi đó anh sẽ được thả tự do.”
Nhưng có được thật không? Marcy tự hỏi. Chúng ta sẽ được như thế chứ? Còn khi họ tuyên hố đã thu thập được dấu vân tay của anh ấy, và những người đã nhìn thấy anh ấy bắt cóc cậu bé đó, sau đó rời công viên Piggis khi toàn thân be bét mấu thĩ sao? Liệu chúng ta có bao giờ được tự do khi kẻ giết người thực sự vẫn chưa bị bắt không?
“Marcy.” Terry đang mỉm cười với cô. “Thoải mái đi nào. Em biết anh vẫn dặn bọn trẻ như thế mà — cứ từng việc mà làm.”
“Tôi muốn hỏi anh một điều,” Howie nói. “Chỉ là một câu hỏi tò mò thôi.”
“Anh cứ hỏi đi.”
“Họ khẳng định có đủ loại bằng chứng pháp y, dù vẫn đang chờ kết quả ADN...”
“Kết quả không thể trùng khớp được,” Terry nói. “Không thể có chuyện đó được.”
“Tôi cũng đã nói như thế về dấu vân tay,” Howie nói.
“Có lẽ có kẻ đã bẫy anh ấy,” Marcy buột miệng. “Tôi biết điều đó nghe có vẻ hoang đường, nhưng...” Cô nhún vai.
“Nhưng tại sao?” Howie hỏi. “Đây là một câu hỏi. Liệu hai vị có nghĩ ra người nào có thể làm tới mức kinh khủng như vậy không?”
Vợ chồng nhà Maitland suy nghĩ, mỗi người đều đuổi theo những suy nghĩ riêng ở một bên tấm Perspex trầy xước, rồi lắc đầu.
“Tôi cũng không nghĩ ra,” Howie nói. “Cuộc sống hiếm khi có thể giống y hệt như những cuốn tiểu thuyết của Robert Ludlum. Tuy nhiên, họ đã có bằng chứng đủ mạnh để lao vào một vụ bắt giữ, tôi chắc rằng giờ họ đang hối hận. Chỉ có điều, tôi e là ngay cả khi tôi có thể đưa anh ra khỏi cỗ máy, cái bóng của nó có thể vẫn còn.”
“Tôi cũng đã nghĩ về điều đó suốt đêm qua,” Terry nói.
“Em cũng thế,” Marcy nói.
Howie rướn người về phía trước, hai tay đan vào nhau. “Nếu chúng ta có một số bằng chứng vật lý để khớp với bằng chứng của họ thì tốt. Video của Kênh 81 là được rồi, thêm cả các đồng nghiệp của anh nữa, chúng ta có thể chỉ cần có thế, nhưng tôi hơi tham lam. Tôi muốn hơn nữa.”
“Bằng chứng vật lý từ một trong những khách sạn nhộn nhịp nhất ở thành phố Cap và đã bốn ngày trôi qua kể từ khi xảy ra sự việc?” Marcy hỏi, không biết rằng cô đang hỏi lại chính câu hỏi của Bill Samuels không lâu trước đó. “Điều đó có vẻ khó xảy ra.”
Terry nhìn bâng quơ, lông mày như nhíu lại. “Không hẳn là không thể.”
“Terry?” Howie hỏi. “Anh đang nghĩ gì đó?”
Anh nhìn họ, mỉm cười. “Có thể có gì đó. Có thể lắm.”
❊ 15 ❊
Thực sự thì đúng là Firepit có mở cửa phục vụ bữa xế, nên Ralph đã đến đó trước. Hai trong số những nhân viên làm việc trong đêm xảy ra án mạng hiện đang trong ca trực: nữ nhân viên lễ tần cùng người bồi bàn tóc húi cua trông vừa đủ tuổi để mua bia. Nhân viên lễ tân không giúp được gì (“Đêm đó chúng tôi đông khách quá, thưa thám tử”), và trong khi người phục vụ mơ hồ nhớ mình có phục vụ một nhóm đông giáo viên, anh ta lại tỏ ra ỡm ờ khi được Ralph cho xem bức ảnh của Terry lấy từ cuốn kỷ yếu trường Trung học Flint năm trước. Anh ta nói rằng, vâng, anh ta nhớ “mang máng” có một anh chàng trông như vậy, nhưng không chắc đó là người trong ảnh. Anh ta nói mình không chắc người kia có đi cùng với dám giáo viên đó không. “Này ông, rất có thể tôi đã từng phục vụ anh ta một đĩa gà chiên lớn ở quẩy bar.”
Chỉ vậy thôi.
Ban đầu, vận may của Ralph ở Sheraton cũng chẳng mấy sáng sủa hơn. Anh có thể xác nhận Maitland và William Quade đã lưu lại phòng 644 vào đêm thứ Ba, và người quản lý khách sạn có thể cho anh xem hóa đơn, nhưng trên đó là chữ ký của Quade. Anh ta đã sử dụng thẻ MasterCard của mình. Người quản lý cũng cho biết từ hôm đó đến nay phòng 644 lúc nào cũng có khách, và được dọn dẹp mỗi sáng.
“Và chúng tôi cung cấp cả dịch vụ dọn phòng buổi tối,” người quản lý nói, với biểu cảm rất lấy làm tiếc. “Điều đó có nghĩa là trong hầu hết các ngày, căn phòng đều được dọn dẹp hai lần.”
Vâng, thám tử Anderson được hoan nghênh xem lại băng ghi hình an ninh, và Ralph đã làm điều đó mà không có bất kỳ phàn nàn nào về việc Alec Pelley đã được phép làm như vậy bằng cách nào. (Ralph không phải là cảnh sát Thành phố Cap, điều đó có nghĩa là nhất cự li nhì quan hệ.) Băng ghi hình có màu, rất sắc nét - không phải loại máy quay xoàng già cỗi như ở Zoney’s Go-Mart. Anh nhìn thấy một người đàn ông trông giống Terry ở sảnh, trong cửa hàng quà tặng, tập thể dục ở phòng thể hình của khách sạn vào sáng thứ Tư và ở bên ngoài phòng hội nghị của khách sạn, xếp hàng chờ xin chữ ký. Báng ghi hình ở sảnh đợi và cửa hàng quà tặng thì không rõ lắm, nhưng chắc chắn - ít nhất là trong tâm trí anh - người đàn ông đăng ký sử dụng thiết bị tập thể dục và người đàn ông đang xếp hàng chờ xin chữ ký chính là huấn luyện viên cũ của con trai anh. Người đã dạy Derek ném bóng và giúp nó chuyển biệt danh từ Swiffer sang Đập nó đi.
Trong tâm trí anh dội lên lời nói của vợ mình, lúc cô bảo anh rằng bằng chứng pháp y từ thành phố Cap chính là mảnh ghép còn thiếu, một tầm vé Vàng. Nếu Terry ở đây , nghĩa là ở thành phố Flint, phạm tội giết người thì kẻ song trùng với hắn phải ở đó. Chỉ có thể thế mà thôi.
“Chẳng có gì hợp lý ở đây cả,” anh lầm bẩm, nhìn vào màn hình. Trên đó là hình ảnh dừng lại là của một người đàn ông trông giống Terry Maitland, đang cười vì điều gì đó trong lúc xếp hàng xin chữ ký với trưởng khoa của mình, Roundhill.
“Gì cơ?” Nhân viên an ninh của khách sạn cho anh xem đoạn băng ghi hình hỏi.
“Không có gì.”
“Tôi có thể cho ông xem gì nữa không?”
“Không, cảm ơn.” Chỉ có kẻ ngốc mới làm thế này. Đoạn video của Kênh 81 đã cho thấy thông tin quá chắc chắn rồi, bởi người xuất hiện trong phần Hỏi đáp chính là Terry. Không ai có thể nghi ngờ điều đó.
Ngoại trừ việc trong tâm trí anh vẫn có chút gì đó ngờ vực. Cái cách Terry đứng lên để đặt câu hỏi, như thể biết rõ có máy quay chiếu vào mình... nó quá hoàn hảo . Có thể đầy chỉ là một sự sắp đặt? Một trò lộn sòng bất ngờ nhưng suy cho cùng lại dễ lộ tẩy? Ralph không xem chuyện đó xảy ra thế nào, nhưng anh không biết David Copperheld đã đi xuyên qua Vạn Lý Trường Thành thế nào và Ralph đã xem sự kiện đó trên tivi. Nếu đúng là thế, Terry Maitland không chỉ là một kẻ sát nhân, anh ta còn là một kẻ sát nhân đang cười phỉnh họ.
“Thám tử, chỉ là một lời nhắc nhở thôi,” nhân viên an ninh khách sạn nói. “Harley Bright, sếp chúng tôi, có nhắn là mọi thứ anh vừa xem là đồ lưu trữ cho một luật sư tên là Howard Gold.”
“Tôi không quan tâm anh sẽ làm gì với nó,” Ralph nói. “Gửi nó cho Sarah Palin ở Whistledick, Alaska, tôi cũng chẳng quan tâm. Tôi sẽ về nhà.” Vâng. Ý hay đấy. Về nhà, ngồi ở sân nhà với Jeannie, làm một lốc sáu lon bia với cô ấy - bốn cho anh, hai cho cô. Và cố đừng nghĩ quá nhiều về cái nghịch lý chết tiệt này.
Nhân viên an ninh tiễn anh đến cửa phòng. “Theo tin tức thì anh đã bắt được kẻ giết đứa trẻ đó.”
“Tin tức có nhiều loại. Cảm ơn vì đã dành thời gian cho tôi.”
“Giúp đỡ cảnh sát luôn là vinh hạnh của tôi.”
Giá mà anh có thái độ đó , Ralph nghĩ.
Anh dừng lại ở phía cuối đại sảnh, đưa tay đẩy cánh cửa xoay, trong đầu chợt lóe lên một ý nghĩ. Có một nơi khác mà anh nên kiểm tra khi ở đây. Theo Terry, Debbie Grant đã dùng nhà vệ sinh ngay sau khi phần phát biểu của Coben kết thúc, và cô ta đã đi một lúc lâu. Tôi đi xuống quầy báo cùng Ev và Billy , Terry đã nói vậy. Cô ấy đã gặp chúng tôi ở đó.
Hóa ra quầy báo lại là kiểu cửa hàng quà tặng đi kèm. Một phụ nữ trang điểm cầu kỹ với mái tóc hoa rầm đang đứng sau quẩy, sắp xếp lại những món đồ trang sức rẻ tiền. Ralph cho cô ta xem giấy tờ tùy thân của mình và hỏi xem cô ta có làm việc vào chiều thứ Ba tuần trước không.
“Anh này,” cô ấy nói, “tôi làm việc ở đây hằng ngày , trừ lúc ốm. Tôi không kiếm được gì thêm từ sách và tạp chí, nhưng khi bán được món đồ trang sức này và những cốc cà phê lưu niệm, tôi được hưởng hoa hồng.”
“Cô có nhớ người đàn ông này không? Anh ta đã ở đây vào thứ Ba tuần trước với một nhóm giáo viên tiếng Anh, để tham dự hội thảo.” Vừa nói anh vừa chìa ảnh của Terry cho cô ta xem.
“Chắc chắn rồi, tôi nhớ anh ta. Anh ta hỏi về cuốn sách Hạt Flint. Người đầu tiên làm điều đó sau một thời gian rất lâu rồi. Tôi không lấy thêm hàng, cuốn đó đã có sẵn ở đây từ khi tôi bắt đầu quản lý địa điểm này hồi năm 2010. Tôi đoán mình nên hạ nó xuống, nhưng sẽ thay thế nó bằng cái gì mới được chứ? Bất cứ thứ gì ở trên hoặc dưới tầm mắt đều vẫn nằm nguyên đó, anh sẽ thấy vậy nếu đi quanh một nơi như thế này. Ít nhất những thứ ở dưới thấp thì thường rẻ. Kệ trên cùng đó là đồ đắt vì sách có kèm ảnh và giấy được phủ bóng.”
“Chúng ta đang nói về cuốn sách gì vậy, thưa cô...” Anh nhìn vào bảng tên của cô ta. “Cô Levelle?”
“Cuốn đó,” cô ta nói, chỉ tay về phía một cuốn sách. “A Pictorial History of Plint County, Douree County, and Canning Toumship” (tạm dịch: Lịch sử Báo ảnh của Hạt Flint, Hạt Douree, và Thị trấn Canning). Đọc sái cả quai hàm nhỉ?”
Anh quay lại và nhìn thấy hai giá để sách bên cạnh một kệ chén đĩa lưu niệm. Một giá đựng tạp chí; cái còn lại đựng lẫn sách bìa mềm và tiểu thuyết bìa cứng hiện đại. Trên kệ trên cùng của giá thứ hai đặt chừng năm hay sáu tập sách lớn hơn, Jeannie gọi chúng là sách trên bàn cà phê. Chúng được bọc màng co để người xem không thể làm mờ các trang hoặc làm quăn góc. Ralph bước tới và ngước nhìn lên. Terry, người cao hơn anh ít nhất tám xen-ti-mét, sẽ không cần phải ngước lên hoặc kiễng chân để lấy một trong số chúng.
Anh bắt đầu với lấy cuốn sách mà cô ta đã để cập, sau đó đổi ý. Anh quay về phía cô Levelle. “Hãy cho tôi biết những gì cô nhớ.”
“Gì cơ, về người đàn ông đó sao? Không có gì nhiều để kể đâu. Cửa hàng quà tặng rất đông khách sau buổi hội thảo, tôi nhớ vậy, nhưng người ra vào nhanh thôi. Anh biết tại sao phải không?”
Ralph lắc đầu, cố gắng kiên nhẫn. Có một cái gì đó ở đây, đúng thế, và anh nghĩ - hy vọng - anh biết nó là gì.
“Họ không muốn để lỡ chỗ xếp hàng và tất nhiên ai cũng sở hữu một cuốn sách mới của ông Coben để đọc trong khi chờ đợi. Nhưng ba quý ông này đã bước vào, và một trong số họ - người béo - đã mua cuốn sách bìa cứng mới của Lisa Gardner. Hai người kia chỉ thăm thú loanh quanh. Sau đó, một phụ nữ thò đầu vào và nói rằng CÔ ấy đã xong, vì vậy họ rời đi. Tôi cho là để có được chữ ký lên cuốn sách mới của họ.”
“Nhưng một trong số họ - người cao - tỏ ra quan tâm đến cuốn sách về Hạt Flint.”
“Đúng vậy, nhưng tôi nghĩ anh ta chú ý đến phần Thị trấn Canning trong tựa sách. Anh ta nói gia đình anh ta đã sông ở đó trong một thời gian dài phải không nhỉ?”
“Tôi không biết,” Ralph nói. “Cô kể cho tôi mà.”
“Khá chắc chắn là anh ta đã từng ở đó. Anh ta lấy nó xuống, nhưng khi nhìn thấy bảng giá - bảy mươi chín phẩy chín chín đô-la - anh ta đặt nó lại giá.”
Và giờ nó ở đây. “Có ai xem cuốn sách đó sau đó không? Lấy nó xuống để xem ấy?
“Cuốn đó ư? Anh đùa à.”
Ralph đi đến giá đỡ, kiễng chân lên và lấy cuốn sách được bọc màng co xuống. Anh dùng hai lòng bàn tay áp vào hai đầu sách và cầm nó. Mặt trước là một bức ảnh chụp đám tang cổ với tông màu nâu đỏ. Sáu gã cao bồi, tất cả đều đội mũ cao bồi và đeo súng ngắn, đang khiêng một chiếc quan tài bằng ván vào một nghĩa trang đầy bụi. Một nhà thuyết giáo (cũng đeo súng có đạn) đang đợi họ ở đâu một ngôi huyệt mới đào với cuốn Kinh thánh trên tay.
Cô Levelle trông khá tươi tỉnh. “Anh thực sự muốn mua cuốn đó?”
“Vâng.”
“Chà, đưa tôi để tôi quét mã.”
té lị
“Tôi không nghĩ vầy.” Anh giơ cuốn sách lên, hướng mã vạch về phía cô ta, và máy kêu tít một tiếng.
“Tám mươi tư phẩy mười bốn đô-la sau thuế, nhưng chúng ta cứ tính tám mươi tư cho chẵn.”
Ralph cẩn thận đặt cuốn sách ở mép bàn để rảnh tay đưa thẻ tín dụng của mình cho cô ta. Anh nhét biên lai vào túi áo ngực, rồi một lần nữa cầm cuốn sách lên chỉ bằng lòng bàn tay, giống như đang cầm một cốc rượu lễ.”
“Anh ta đã cầm nó,” anh nói, để xác nhận lời của cô ta thì ít mà khẳng định sự may mắn của mình thì nhiều. “Cô chắc chắn rằng người đàn ông trong bức ảnh mà tôi cho cô xem đã cầm cuốn sách này.”
“Lấy nó xuống và nói rằng bức ảnh ở bìa đã được chụp ở Thị trấn Canning. Sau đó anh ta nhìn giá và đặt nó trở lại. Giống như tôi đã nói với anh. Nó là bằng chứng, hay gì đó à?”
“Tôi không biết,” Ralph nói, nhìn xuống hình ảnh những người khóc tang thời xưa được vẽ uyển chuyển khắp bìa sách. “Nhưng tôi sẽ tìm ra.”
❊ 16 ❊
Thi thể của Frank Peterson đã được chuyển đến Nhà tang lễ Anh em Donelli vào chiều thứ Năm. Arlene Peterson đã sắp xếp việc này cùng mọi việc khác, bao gồm cáo phó, hoa lễ, buổi viếng sáng thứ Sáu, lễ tang, lễ viếng mộ và buổi tụ họp bạn bè cùng gia đình vào tối thứ Bảy. Chúng đã từng là việc của vợ anh. Fred không phải là người giỏi sắp xếp những nghi lễ xã hội vào các dịp quan trọng.
Nhưng lần này mình phải làm , Fred tự nhủ khi anh và Ollie từ bệnh viện về nhà. Phải vậy thôi, bởi không còn ai khác. Và nhân viên tên Donelli sẽ giúp mình. Họ là những chuyên gia trong lĩnh vực này. Chỉ có điều thật trớ trêu khi anh lại phải trả tiền để tổ chức đám tang thứ hai , ngay sát đám tang đầu tiên? Bảo hiểm có chỉ trả không? Anh không biết. Arlene cũng đã tự xử lý tất cả những việc đó. Họ đã có một thỏa thuận: anh kiếm tiền còn cô thanh toán các hóa đơn. Anh sẽ phải lục lại bàn của cô để tìm giấy tờ bảo hiểm. Y nghĩ đó khiến anh mệt mỏi.
Họ ngồi trong phòng khách. Ollie bật tivi lên. Có một trận đấu bóng đá đang được chiếu. Họ đã xem nó một lúc, dù không ai trong hai bố con thực sự quan tâm đến trận đâu; họ đều là những chàng trai sân cỏ chuyên nghiệp. Cuối cùng Fred cũng đứng dậy, lê bước ra sảnh và mang vào cuốn sổ địa chỉ cũ màu đỏ của Arlene. Anh mở đến chữ D, và vầng, Anh em Donelli đây rồi, nhưng nét chữ gọn gàng thường thấy của cô ấy ở đây lại có phần run rẩy, và tại sao lại không cơ chú? Cô ấy hẳn sẽ không ghi lại số của một nhà tang lễ trước khi Frank chết, sao phải làm việc đó bây giờ? Gia đình Peterson còn lâu mới phải bận tâm đến các nghi thức mai táng. Còn lâu lắm.
Nhìn cuốn sổ địa chỉ, lớp da đỏ của nó đã phai màu và bong tróc, Fred nghĩ về tất cả những lần anh thấy nó trên tay cô, ghi lại những địa chỉ gửi lại thư từ những phong bì thư của ngày xưa, gần đây thì là từ Internet. Anh bắt đầu khóc.
“Bố không thể,” anh nói. “Bố không thể. Không thể ngay sau khi Frankie ra đi.”
Trên tivi, bình luận viên hét lên “VÀOOOOO!” và các cầu thủ áo đỏ bắt đầu lao vào ôm chầm nhau. Ollie tắt nó đi và chìa tay ra.
Con sẽ lo việc đó.
Fred nhìn cậu con trai, mắt đỏ hoe và hai dòng nước mắt không ngừng rơi.
Ollie gật đầu. “Không sao đâu, bố. Thật đấy. Con sẽ lo toàn bộ. Tại sao bố không lên láu và nghỉ chút đi?”
Mặc dù Fred biết việc trút hết mọi gánh nặng lên vai đứa con trai mười bảy tuổi có thể là một sai lầm, nhưng anh vẫn làm vậy. Anh tự hứa với bản thân sẽ gánh vác hết, nhưng ngay lúc này anh cần phải chợp mắt. Anh thực sự quá mệt mỏi rồi.
❊ 17 ❊
Alec Pelley không thể thoát khỏi những nghĩa vụ với gia đình của mình vào ngày Chủ nhật cho đến tận 3 giờ 30 phút. Lúc ông đến khách sạn Sheraton ở thành phố Cap là đã hơn 5 giờ, nhưng ánh mặt trời vẫn hừng hực lửa. Ông đỗ xe ở trước cửa khách sạn, đưa người đỗ xe một tờ 10 đô, và bảo anh ta để xe của mình ở gần thôi, ơ quầy báo, Lorette Levelle đang sắp xếp lại những món đồ trang sức của mình. Alec chỉ tạt qua đó chớp nhoáng. Ông trở ra ngoài, dựa vào chiếc Explorer của mình, và gọi Howie Gold.
“Tôi đã nhanh chân hơn Anderson trong vụ lấy băng ghi hình an ninh - cộng với đoạn video ghi hình - nhưng anh ta đã thắng tôi vụ cuốn sách. Và đã mua nó. Tôi đoán anh sẽ nghĩ như thế là hòa.”
“Chết tiệt,” Howie nói. “Thế quái nào anh ta lại biết về nó nhỉ?”
“Tối không nghĩ anh ta biết. Theo tối, dó là nhờ chút may mắn cùng khả năng đánh hơi của cảnh sát. Người phụ nữ làm việc ở quầy báo nói có một anh chàng đã lấy nó xuống vào ngày Coben diễn thuyết, nhìn giá - gần tám mươi đô-la - và đặt nó về chỗ cũ. Cô ta có vẻ không biết anh ấy là Maitland, chắc cô ta không xem tin tức. Cô ta đã nói vậy với Anderson, và Anderson đã mua cuốn sách đó. Anh ta còn cầm nó bằng lòng bàn tay lúc ra về.”
“Hy vọng dấu vân tay không khớp với dấu vân tay của Terry,” Howie nói, “vậy thì người cầm cuốn sách đó sẽ không phải là Terry. Không được đâu. Có Chúa mới biết có bao nhiêu người đã lấy cuốn sách đó xuống và xem nó.”
“Người phụ nữ quản lý sạp báo nói ngược lại. Cô ta nói chẳng ai mó vào cuốn sách đó trong một thời gian dài rồi.”
“Khác gì đâu.” Howie có vẻ không lo lắng, điều này khiến Alec thoải mái lo cả phần hai người. Không quá nhiều, nhưng có một chút. Một lỗ hổng nhỏ trong một vụ án đã được tạc đẹp như một kiệt tác trong viện bảo tàng. Một lỗ hổng khả thi , ông tự nhủ, và Howie có thể dễ dàng khắc phục nó; bồi thẩm đoàn không quan tầm nhiều đến những gì không có ở đó .
“Tôi chỉ muốn nhắc anh vậy thôi, sếp. Anh trả tiền để tôi làm thế mà.”
“Được rồi, tôi biết rồi. Anh sẽ có mặt ở phiên luận tội ngày mai chứ?”
“Sao lỡ được,” Alec đáp. “Anh có nói chuyện với Samuels về việc bảo lãnh chưa?”
“Tôi nói rồi. Cuộc trò chuyện diễn ra ngắn gọn. Anh ta nói sẽ sống mái với vụ đó. Nguyên văn luôn.”
“Chúa ơi, gã đó không biết mệt à?”
“Một câu hỏi hay đẩy.”
“Dù sao thì anh cũng sẽ lo liêu được chứ?”
“Nhất định rồi. Không chắc chắn, nhưng có khả năng cao mà.”
“Nếu anh làm được, hãy bảo Maitland đừng lượn lờ ra phố. Thời này rất nhiều người luôn mang theo vũ khí phòng thân và giờ anh ấy là người tai tiếng nhất ở thành phố Flint này.”
“Anh ấy sẽ bị giam lỏng trong nhà và đừng lo, cảnh sát sẽ giám sát ngôi nhà.” Howie thở dài. “Về vụ cuốn sách, hơi tiếc một chút.”
Alec kết thúc cuộc gọi và quay vào xe của mình. Ông muốn về nhà sớm để làm bỏng ngô trước khi bộ phim Game of Thrones (Trò chơi vương quyền) bắt đầu chiếu.
❊ 18 ❊
Ralph Anderson và Thám tử Cảnh sát Tiểu bang Yunel Sablo đã gặp ủy viên công tố quận vào tối hôm đó trong phòng sinh hoạt nhỏ nhà Bill Samuels ở phía Bắc của thành phố, một khu phố tầm trung với những ngôi nhà lớn có khao khát vươn tới vị thế của McMansion nhưng lại hụt hơi. Bên ngoài, hai cô con gái nhà Samuels đang đuổi theo nhau qua làn nước vòi phun ở sân sau khi hoàng hôn dần tan thành bóng tối. Vợ cũ của Samuels đã ở lại để nấu bữa tối cho họ. Samuels có tâm trạng rất vui vẻ trong suốt bữa ăn, thường vỗ nhẹ vào tay vợ cũ và thậm chí còn nắm lấy nó trong một khoảng thời gian ngắn, cô này cũng không phản đối. Khá khen cho một cặp vợ chồng sống trong ngôi làng “ly thân” , Ralph nghĩ, tốt cho họ thôi. Nhưng giờ bữa tối đã xong, cô vợ cũ cũng đang thu dọn đồ đạc cho hai đứa nhỏ, và Ralph nghĩ tâm trạng vui vẻ của Samuels rồi cũng sẽ sớm kết thúc.
Cuốn A Pictorial History of Flint County, Douree County, and Canning Toumship được đặt trên bàn cà phê trong phòng. Nó được đựng trong một chiếc túi nhựa trong suốt lấy từ một trong số các ngăn tủ bếp của nhà Ralph và được cẩn thận tròng vào cuốn sách. Chiếc túi giờ trông mờ ảo vì đã được phủ một lớp bột lấy dấu vân tay. Một dấu vân tay duy nhất — một ngón tay cái — nổi bật trên bìa trước của cuốn sách, gần gáy sách. Nó rõ ràng như ngày tháng trên một đồng xu mới.
“Còn bốn dấu rõ nữa ở phía sau,” Ralph nói. “Đó là cách chúng ta vẫn thường cầm một cuốn sách nặng - ngón cái ở phía trước, các ngón còn lại ở phía sau hơi xòe ra để đỡ. Tôi đã in nó ra ngay ở thành phố Cap, nhưng tôi không có dấu vân tay của Terry để so sánh. Vì vậy, tôi đã lấy những gì mình cần ở sở và làm việc này ở nhà.”
Samuels nhướng mày. “Anh lấy thẻ vân tay của hắn từ đống bằng chứng?”
“Không, chụp thôi.”
“Đừng khiến chúng tôi hồi hộp,” Sablo nói.
“Không đâu,” Ralph nói. “Chúng khớp nhau. Các dâu vân tay trên cuốn sách này là của Terry Maitland.”
Ngài Ánh dương ngồi bên cạnh vợ cũ trên bàn ăn đã biến mất. Ngài Bàn lùi thế chỗ. “Anh không thể chắc chắn nếu không so sánh bằng máy tính.”
“Bill, tôi đã làm việc này trước cả khi có thứ gọi là so sánh bằng máy tính.” Cái hồi mà anh vẫn ngồi soi váy của mấy nữ sinh ở trường trung học. “Chúng là dấu vân tay của Maitland và so sánh trên máy tính sẽ xác nhận điều đó. Hãy nhìn những thứ này.”
Anh lấy một xấp thẻ nhỏ từ túi trong của chiếc áo khoác thể thao và xếp chúng thành hai hàng trên bàn cà phê. “Đây là dấu vân tay vừa thu được từ Terry tối qua. Và đầy là dấu vân tay của Terry từ màng co cuốn sách. Giờ các anh hãy xem đi.”
Samuels và Sablo nghiêng người về phía trước, nhìn hàng thẻ từ trái sang phải. Sablo ngồi lùi lại trước. “Tôi xác nhận.”
“Tôi sẽ không thể xác định nếu không có máy tính,” Samuels nói. Những lời anh nói ra nghe không được tự nhiên vì quai hàm của anh ta đang nhô ra. Trong những trường hợp khác, điều đó thật buồn cười.
Ralph không đáp lại ngay lập tức. Anh tò mò về Bill Samuels, và hy vọng (một cách tự nhiên) rằng anh đã sai khi trước đó đã nhận định rằng người đàn ông này có thể co giò bỏ chạy nếu phải đối mặt với một cuộc phản công tinh thần. Vợ cũ của Samuels vẫn coi trọng anh ta ở một khía cạnh nào đó, điều đó quá rõ ràng, và hai cô con gái cũng rất yêu anh ta, nhưng những bằng chứng như vậy chỉ nói lên một khía cạnh trong tính cách của một người đàn ông. Bản thể ở nhà và ở công sở không nhất thiết phải là một, đặc biệt là khi gã đó là người có tham vọng và phải đối mặt với một trở ngại bất ngờ có thể dập tắt mọi kế hoạch lớn của anh ta từ trong trứng nước. Những điều này quan trọng đối với Ralph. Chúng rất quan trọng, bởi anh và Samuels bị ràng buộc với nhau bởi vụ này, dù thắng hay thua.
“Không thể nào,” Samuels nói, một tay đưa lên vuốt nhúm tóc, nhưng đêm nay nó không có ở đó. Đêm nay nó xẹp xuống. “Anh ta không thể ở hai nơi cùng lúc.”
“Vậy mà chuyện như thế đấy,” Sablo nói. “Cho đến phút trước vẫn còn không có bằng chứng pháp y nào ở thành phố Cap. Giờ thì có rồi.”
Mặt Samuels sáng lên. “Có thể hắn đã cầm cuốn sách vào một ngày nào đó trước kia. Làm giả chứng cứ ngoại phạm. Một phần trong kế hoạch đánh lạc hướng.” Dường như anh ta đã quên đánh giá trước đó của mình cho rằng việc sát hại Frank Peterson là hành động bốc đồng của một gã đàn ông không thể kiểm soát được những ham muốn của mình.
“Hay đấy,” Ralph nói, “nhưng tôi đã thấy rất nhiều dấu vân tay và những dấu vân tay này trông khá mới. Các nét vân rất rõ. Không có chuyện như thế nếu hành động này được thực hiện cách đây vài tuần hoặc vài tháng.”
Gần như thì thầm, Sablo lên tiếng, “ ‘Mano , giống như khi anh có được mười hai lá tổng và một lá bài hình.”
“Gì?” Samuels quay ngoắt đầu lại hỏi.
“Xì-dách,” Ralph nói. “Anh ấy muốn nói rằng sẽ tốt hơn nếu chúng ta không tìm ra nó. Nếu chúng ta không đổi quân bài.”
Họ suy nghĩ một lát. Khi cất lời, Samuels nói rất nhẹ nhàng, hệt như giọng điệu tán gẫu bình thường. “Đây chỉ là một giả thuyết thôi nhé. Điều gì sẽ xảy ra nếu anh rắc bột lên lớp màng co mà không tìm thấy gì? Hoặc chỉ vài dấu vết mờ không xác định được?”
“Chúng ta chẳng khá hơn,” Sablo nói, “nhưng cũng chẳng tệ hơn.”
Samuels gật đầu. “Trong trường hợp đó - giả thuyết ấy - Ralph sẽ chỉ là người mua một cuốn sách khá đắt tiền. Anh ấy sẽ không vứt nó đi, anh ấy sẽ gọi nó là một ý tưởng hay nhưng không mang lại kết quả tốt đẹp và đặt nó trên giá của anh ấy. Tất nhiên là sau khi lột màng co và vứt nó đi.”
Sablo đưa mắt nhìn Samuels rồi chuyển sang Ralph, khuôn mặt không chút biểu cảm.
“Thế còn những thẻ dấu vân tay này?” Ralph hỏi. “Còn chúng thì sao?”
“Thẻ gì?” Samuels hỏi. “Tôi có nhìn thấy thẻ nào đâu. Còn anh, Yune?”
“Tôi không biết mình có thấy hay không,” Sablo nói.
“Các anh đang nói về việc tiêu hủy bằng chứng,” Ralph nói.
“Không phải vậy. Tất cả chỉ là giả thuyết.” Samuels lại đưa tay lên để vuốt nhúm tóc không có ở đó. “Nhưng chúng ta cần suy nghĩ về điều này, Ralph. Anh đã đến sở trước, nhưng lại thực hiện việc đối chiếu tại nhà anh. Vợ anh có ở đó không?”
“Jeannie đã đến câu lạc bộ sách.”
“Uh-huh, và nhìn xem. Cuốn sách nằm trong túi Glad thay vì túi chuyên dụng. Không được coi là bằng chứng.”
“Vẫn chưa,” Ralph nói, nhưng thay vì nghĩ về những khía cạnh khác nhau trong con người Bill Samuels, giờ đây anh buộc phải nghĩ về những khía cạnh khác nhau của chính mình.
“Tôi chỉ muốn nói rằng trong đầu anh rất có thể cũng có khả năng nảy ra giả thuyết tương tự.”
Liệu có đúng không? Ralph không thể khẳng định. Và nếu thế thật, thì tại sao lại vậy? Để cứu một bàn thua trong sự nghiệp của mình, một thứ mà giờ không những không có cơ hội gỡ hòa mà còn có nguy cơ thua đậm?
“Không,” anh nói. “Thứ này sẽ được ghi lại thành bằng chứng, và sẽ trở thành một phần của cuộc điều tra. Vi đứa trẻ đó đã chết, Bill. Những gì xảy ra với chúng ta chỉ là chuyện nhỏ so với điều đó.”
“Tôi đồng ý,” Sablo nói.
“Tất nhiên rồi,” Samuels nói. Giọng anh ta nghe có vẻ mệt mỏi. “Trung úy Yune Sablo sẽ lo liệu được dù chuyên rẽ theo hướng nào.”
“Nói về việc lo liệu,” Ralph nói. “Còn Terry Maitland thì sao? Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta thực sự nhẩm người?”
“Chúng ta không nhẩm,” Samuels nói. “Bằng chứng sờ sờ ra đó.”
Và trên tinh thần đó, cuộc họp kết thúc. Ralph quay lại sở. Tại đó, anh nhập cuốn sách mình mua vào cơ sở dữ liệu và đặt nó vào đám bằng chứng chung. Anh rất vui khi trút bỏ được nó.
Khi anh đi vòng qua tòa nhà để lấy xe của mình, di động của anh đổ chuông. Hình ảnh của vợ anh xuất hiện trên màn hình và khi bắt máy, anh đã hoảng hốt khi nghe thấy tiếng cô. “Em yêu? Em khóc à?”
“Derek đã gọi. Từ trại hè.”
Trái tim của Ralph như nhảy khỏi lồng ngực. “Thằng bé ổn chứ?”
“Nó ổn. Thể chất ổn. Nhưng một số bạn bè của nó đã gửi email báo tin về Terry, và thằng bé rất buồn. Nó nói chắc người ta nhẩm, rằng huấn luyện viên T sẽ không bao giờ làm chuyện như vậy.”
“Ồ. Thế thôi hả.” Anh bắt đầu di chuyển trở lại, mân mê chùm chìa khóa bằng bàn tay còn trống của mình.
“Không, đó không phải tất cả” cô nói một cách quyết liệt. “Anh đang ở đâu?”
“Ở sở. Anh đang định về nhà.”
“Anh có thể đến nhà tù hạt trước không? Và nói chuyên với hắn?”
“Với Terry? Anh đoán là được, nếu hắn đồng ý gặp anh, nhưng tại sao?”
“Hãy bỏ bằng chứng sang một bên trong một phút thôi. Tất cả, và hãy trả lời em một câu, thực chân thành. Anh sẽ làm như vậy chứ?”
“Được rồi...” Anh có thể nghe thấy tiếng còi hụ của xe cộ văng vẳng trên xa lộ liên tiểu bang. Gần hơn là vũ khúc mùa hè ngân nga tiếng dế trên những bãi cỏ mọc ven tòa nhà gạch nơi anh đã làm việc suốt nhiều năm. Anh biết cô sẽ hỏi gì.
“Anh có nghĩ Terry Maitland đã giết cậu bé đó không?”
Ralph nghĩ về cái cách mà người đàn ông bắt xe taxi của Willow Rainwater đến Dubrow đã gọi cô ta là quỷ bà thay vì gọi tên, cái tên mà hắn biết rõ. Anh nghĩ về cái cách người đàn ông đậu chiếc xe van màu trắng phía sau quán Shorty’s đã hỏi đường đến phòng khám tư gần nhất, dù Terry Maitland đã sống ở thành phố Flint suốt cả cuộc đời. Anh nghĩ về những người giáo viên thể rằng Terry đã ở bên họ, cả lúc vụ bắt cóc lẫn lúc án mạng xảy ra. Rồi anh nghĩ về việc Terry không chỉ đơn thuần là đặt một câu hỏi trong buổi nói chuyện của Harlan Coben, mà đã đứng dậy, như thể để đảm bảo rằng hắn được nhìn thấy và ghi lại. Ngay cả dấu vân tay trên cuốn sách... nó mới hoàn hảo làm sao?
“Ralph? Anh vẫn ở đó chứ?”
“Anh không biết,” anh nói. “Có lẽ nếu anh đồng huấn luyện với hắn như Howie thì sẽ khác... nhưng anh chỉ xem hắn là huấn luyện viên của Derek mà thôi. Vì vậy, câu trả lời cho câu hỏi của em - một cách chân thành - là anh không biết.”
“Vậy thì hãy đến đó,” cô nói. “Hãy nhìn vào mắt hắn và hỏi hắn điều đó.”
“Samuels sẽ giết anh mất nếu anh ta phát hiện ra,” Ralph nói.
“Em chẳng quan tâm đến Bill Samuels, nhưng em quan tâm đến con trai chúng ta. Và em biết anh cũng vậy. Hãy làm điều đó vì thằng bé, Ralph. Vì Derek.”
❊ 19 ❊
Hóa ra Arlene Peterson có bảo hiểm mai táng, vì vậy mọi chuyện đều ổn cả. Ollie tìm thấy những giấy tờ cần thiết trong ngăn dưới cùng của chiếc bàn nhỏ của mẹ cậu, trong một kẹp tài liệu ghi HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP (cho biết họ đã trả gần xong khoản thế chấp) và GIA HẠN BẢO HÀNH. Cậu gọi điện đến nhà tang lễ, nơi một người đàn ông với giọng nói nhẹ nhàng của một người làm đám chuyên nghiệp - có thể là anh trai của Donelli, có thể không - cảm ơn cậu và nói với cậu rằng “mẹ cậu đã đến”. Như thể bà ấy đã tự đến đó, có thể là trên một chuyến Uber. Người làm đám chuyên nghiệp hỏi liệu Ollie có cần mẫu cáo phó đăng báo không. Ollie nói không. Cậu đang nhìn vào hai mẫu đơn trống ngay đó trên bàn của mẹ. Mẹ cậu - cẩn thận, ngay cả khi đang đứt từng khúc ruột - chắc hẳn đã photo thành nhiều bản mẫu mà bà đã làm cho Frank, phòng trường hợp bà ghi nhầm. Vì vậy, việc đó cũng ổn. Cậu có muốn đến vào ngày mai, sắp xếp cho lễ tang và nghi thức chôn cất không? Ollie nói không. Cậu nghĩ bố mình nên làm điều đó.
Sau khi bài toán về việc thanh toán cho những nghi thức tiễn đưa mẹ cậu về nơi an nghỉ cuối cùng được giải quyết, Ollie gục đầu xuống bàn của bà và khóc một lúc. Cậu đã lặng lẽ làm thế và không muốn làm bố mình tỉnh giấc. Khi những giọt nước mắt đã khô, cậu điền vào một trong những mẫu cáo phó, hằn từng chữ trên giấy vì tay cậu ghi xuống. Sau khi làm xong việc đó, cậu đi ra nhà bếp và xem xét đống hỗn độn ở đó: mì ống vương vãi trên sàn, nửa con gà lăn lóc dưới đồng hồ, đám hộp Tupperware và số đĩa đẩy ắp đồ ăn trên các quẩy bếp. Nó khiến cậu nhớ lại câu mà mẹ thường nói sau những bữa ăn tụ họp đại gia đình — những con lợn đã đến ăn ở đây . Cậu lấy một chiếc túi rác từ dưới bồn rửa và đổ mọi thứ vào đó, bắt đầu với nửa con gà, trông nham nhở đến rợn người. Sau đó, cậu lau sàn. Khi mọi việc tươm tất (như mẹ cậu vẫn thường nói), cậu phát hiện ra mình đang đói. Điều đó có vẻ sai nhưng vẫn là sự thật. Dù sao con người cũng chỉ là một động vật bậc cao. Ngay cả khi mẹ và em trai của cậu đã chết, cậu vẫn phải ăn và đào thải. Đó là nhu cầu tất yếu của cơ thể. Cậu mở tủ lạnh và phát hiện ra nó chật nêm từ trên xuống dưới, từ trái sang phải toàn thịt hẩm, hộp Tupperware và thịt nguội. Cậu chọn một chiếc bánh nhân thịt cừu, phủ đẫm khoai tây nghiền, và đẩy nó vào lò nướng ở 350 độ C. Trong khi cậu dựa lưng vào quẩy bếp chờ bánh nóng, suy nghĩ vẩn vơ, thì bố cậu từ từ lê bước vào. Tóc Fred là một mớ hỗn độn. Trông tóc anh bú rù như tổ quạ , Arlene Peterson sẽ nói như vậy. Anh cần phải cạo râu. Đôi mắt thì sưng húp và thẫn thờ.
“Bố đã uống một viên thuốc của mẹ và ngủ quên mất,” anh nói.
“Bố đừng lo chuyên đó.”
“Con đã dọn dẹp bếp rồi à? Lẽ ra bố phải đỡ con.”
“Không sao đâu.”
“Mẹ con... lễ tang...” Fred dường như không biết làm thế nào để tiếp tục, và Ollie thấy khóa quần bố mình không kéo. Điều này khiến cậu đau đớn đến quặn thắt. Thế nhưng cậu không muốn khóc nữa, cậu đã khóc cạn nước mắt rồi, ít nhất là vào lúc này. Có gì đó khác vẫn ổn. Phải đếm phúc lành chứ, Ollie nghĩ.
“Chúng ta lo được,” câu nói với bố mình. “Mẹ có bảo hiểm mai táng, cả bố và mẹ... đều ở đó. Cùng chỗ. Bố biết đấy, nhà cử hành” Cậu sợ phải nói từ đám tang, vì nó có thể khiến bố cậu ngã quỵ. Nó có thể khiến bố cậu ngã quỵ một lần nữa.
“Ổ. Tốt.” Fred ngồi xuống và chống chót bàn tay lên trán. “Bố lẽ ra phải làm điều đó. Đó là việc của bố. Trách nhiệm của bố. Bố không định ngủ lâu như vậy.”
“Bố có thể đến đó vào ngày mai. Chọn quan tài, và làm tất cả mọi việc.”
“Ở đâu?”
“Anh em Donelli. Giống như Frank.”
“Mẹ con chết rồi,” Fred thảng thốt. “Bố thậm chí không biết phải nghĩ về chuyện đó thế nào.”
“Đúng vậy,” Ollie nói, dù cậu cũng không thể nghĩ được gì khác. Làm sao mẹ lại cứ xin lỗi mãi, cho đến tận lúc ra đi. Như thể đó là lỗi của mẹ khi mẹ không hề có lỗi. “Nhân viên nhà tang lễ nói bố sẽ phải quyết định vài việc. Liệu bố có thể làm được điều đó không?”
“Được chứ. Mai bố sẽ ổn hơn thôi. Có gì thơm thế.”
“Bánh khoai thịt cừu.”
“Mẹ con làm à hay ai mang đến?”
“Con không biết.”
“Chà, thơm quá.”
Họ đã cùng ngồi ăn ở bàn bếp. Ollie xếp bát đĩa vào bổn rửa, vì máy rửa bát đã đây. Họ đi ra phòng khách. Trân đấu bóng chày trên ESPN đang được chiếu, Phillies đấu với Mets. Họ ngồi xem trong yên lặng, mỗi người đuổi theo những suy nghĩ riêng khi phát hiện ra mép lỗ hổng to tướng xuất hiện trong cuộc đời họ, để không bị rơi vào đó. Một lúc sau, Ollie đi ra bậc thang phía sau nhà và ngồi ngước nhìn lên bầu trời đầy sao. Hôm nay trời trong và có rất nhiều sao. Cậu cũng nhìn thấy một thiên thạch, một vệ tinh Trái đất và vài cái máy bay. Cậu nghĩ về việc mẹ cậu đã chết như thế nào và sẽ không được nhìn ngắm những thứ này nữa. Thật vô lý khi điều này lại xảy ra với gia đình cậu. Khi cậu quay vào trong, trận đấu bóng chày đang diễn ra ở hiệp thứ chín, và bố cậu đã ngủ gật trên ghế. Ollie hôn lên đỉnh đầu ông. Fred không cựa quậy.
❊ 20 ❊
Ralph nhân được một tin nhắn trên đường đến nhà tù hạt. Nó được gửi từ Kinderman, ở Bộ phận Pháp Y Công nghệ thuộc Cảnh sát Tiểu bang. Ralph tấp vào lề ngay lập tức và gọi lại. Kinderman trả lời ngay sau hổi chuông đầu tiên.
“Các anh không nghỉ tối Chủ nhật à?” Ralph hỏi.
“Chỉ có thể nói là chúng tôi nghiện việc.” Ralph có thể nghe thấy tiếng bụp bụp như tiếng nhạc heavy metal ở đâu dây bên kia. “Thêm nữa, tôi luôn nghĩ rằng người ta có thể chờ đợi tin tốt còn tin xấu thì nên cho qua ngay. Chúng tôi chưa xử lý các ổ cứng của Maitland để tìm các tệp ẩn và một số người ở đây rất giỏi việc đó, nhưng bể ngoài thi hắn rất sạch sẽ. Không phim khiêu dâm trẻ em, không khiêu dâm dưới bất kỳ hình thức nào. Máy tính để bàn không, máy tính xách tay, iPad, điện thoại cũng không. Hắn trông giống hệt một Quý ngài Mũ Trắng.”
“Còn về lịch sử của hắn?”
“Có rất nhiều, nhưng tất cả đều là những thứ binh thường - các trang web mua sắm như Amazon, blog tin tức như Huffington Post , năm, sáu trang web thể thao. Hắn theo dõi bảng xếp hạng Major League và dường như hắn là một người hâm mộ Tampa Bay Rays cuồng nhiệt. Chỉ điều đó thôi cũng cho thấy có điều gì đó không ổn với đầu óc của hắn. Hắn xem Ozark trên Netflix và The Americans trên iTunes. Tôi cũng thích chương trình đó.”
“Tiếp tục đào xới đi nhé.”
“Nhiệm vụ của tôi mà.”
Ralph đậu xe vào một trong các ô CHỈ DÀNH CHO XE CỦA SĨ QUAN ở phía sau nhà tù hạt, lấy thẻ làm nhiệm vụ từ ngăn đựng găng, và đặt nó trên bảng điều khiển. Một nhân viên cải huấn - L. KEENE, theo bảng tên của anh ta - đang đợi anh, và dẫn anh đến một trong các phòng thẩm vấn. “Việc này bất thường đấy, thám tử. Bây giờ là gân mười giờ rồi.”
“Tôi biết giờ giấc chứ, nhưng tôi có đến đây chơi đâu.”
“ủy viên công tố có biết anh đang ở đây không?”
“Không phải việc của anh, Sĩ quan Keene.”
Ralph ngồi xuống một bên bàn và chờ xem Terry có đồng ý gặp anh hay không. Không có nội dung khiêu dầm trên máy tính của Terry và không có kho nội dung khiêu dâm nào trong nhà, ít nhất đó là những gì họ đã tìm thấy cho đến nay. Nhưng như Kinderman đã chỉ ra, tội phạm ấu dâm có thể rất thông minh.
Tuy nhiên, thông minh thế mà lại chường mặt ra, rồi để lại dấu vân tay ư?
Anh biết Samuels sẽ nói gì: Terry đang hứng tình tột độ. Điều này đã từng (có vẻ như cách đây rất lâu) có ý nghĩa với Ralph.
Keene dẫn Terry vào. Hắn mặc đồng phục tù màu nâu của hạt và đi đôi dép tông rẻ tiền bằng nhựa. Hai tay bị còng trước mặt.
“Cởi còng ra, thưa Sĩ quan.”
Keene lắc đầu. “Quy định rồi.”
“Tôi sẽ chịu trách nhiệm.”
Keene cười không chút hài hước. “Không, thám tử, anh sẽ không chịu được trách nhiệm đâu. Đây là đất của tôi, và nếu anh ta quyết định nhảy qua bàn và bóp cổ anh thì đó là do tôi. Nhưng nói cho anh biết, tôi sẽ không cột anh ta vào vít còng. Thế nào?”
Terry mỉm cười trước đề nghị, như thể muốn nói Anh biết tôi phải đối diện với điều gì chưa?
Ralph thở dài. “Anh có thể để chúng tôi nói chuyện riêng, sĩ quan Keene. Và cảm ơn anh.”
Keene rời đi, nhưng anh ta sẽ quan sát họ qua tấm kính một chiều. Có lẽ là đang nghe nữa. Điều này làm anh nhớ đến Samuels; đơn giản là không thể làm khác được.
Ralph nhìn Terry. “Đừng chỉ đứng đó. Hãy ngồi xuống đi, vì Chúa.”
Terry ngồi khoanh tay trên bàn. Chuỗi còng tay kêu lục cục. “Howie Gold sẽ không để tôi gặp anh.” Hắn tiếp tục cười khi nói.
“Samuels cũng vậy, vì vậy chúng ta hòa.”
“Anh muốn gì?”
“Các câu trả lời. Nếu anh vô tội, tại sao tôi lại có nửa tá nhân chứng xác nhận danh tính của anh? Tại sao lại có dấu vân tay của anh trên cành cầy được sử dụng để cắm vào mông thằng bé, và trên cả chiếc xe van được sử dụng để bắt cóc nó?”
Terry lắc đầu. Nụ cười đã tắt. “Tôi cũng hoang mang như anh vậy. Tôi chỉ biết kêu Chúa, đứa con trai duy nhất của người, và tất cả những vị thánh, chỉ họ mới có thể chứng minh rằng tôi đã ở thành phố Cap. Nếu tôi không làm được thì sao, Ralph? Tôi nghĩ cả hai chúng ta đều biết. Tôi sẽ bị tống đến McAlester trước khi kết thúc mùa hè, và hai nám nữa thì xơi một mũi. Có thể sớm hơn, vì các tòa án giờ lanh lẹ lắm, còn người bạn Samuels của anh sẽ xới nát những lời kêu cứu của tôi như một chiếc xe ủi lu phẳng lâu đài cát của một đứa trẻ.”
Điều đầu tiên đọng lại trên môi Ralph là anh ta không phải bạn tôi. Nhưng anh lại nói, “Chiếc xe van khiến tôi bận tâm. Cái có biển New York ấy.”
“Chẳng giúp gì được anh rồi. Lần cuối cùng tôi ở New York là hồi đi nghỉ tuần trăng mật và chuyện đó cách đây mười sáu nám rồi.”
Đến lượt Ralph mỉm cười. “Tôi không biết điều đó, nhưng tôi biết gần đầy anh không đến đó. Chúng tôi đã kiểm tra lại các chuyến đi của anh trong sáu tháng qua. Không có gì ngoài một chuyên đi đến Ohio vào tháng Tư.”
“Đúng thế, đến Dayton. Kỳ nghỉ xuân của hai đứa nhỏ. Tôi muốn gặp bố tôi, và chúng cũng muốn đi. Marcy cũng vậy.”
“Bố anh sống ở Dayton?”
“Nếu anh có thể gọi những gì ông ấy đang làm trong những ngày này là sống. Đó là một câu chuyện dài và không liên quan gì đến việc này. Không liên quan đến chiếc xe van màu trắng, thậm chí chúng tôi còn không dùng xe gia đình. Chúng tôi bay đến vùng Tây Nam. Tôi không quan tầm anh đã tìm thấy bao nhiêu dấu vân tay của tôi trong chiếc xe van mà gã đó đã dùng để bắt cóc Frank Peterson, nhưng tôi không đánh cắp nó. Tôi thâm chí chưa bao giờ nhìn thấy nó. Tôi không mong anh tin, nhưng đó là sự thật.”
“Không ai nghĩ anh đã lấy trộm chiếc xe van ở New York,” Ralph nói. “Bill Samuels đặt ra giả thuyết là có ai đó đã đánh cắp nó và vứt nó ở một nơi gần khu vực này, với chìa khóa điện vẫn còn trong ổ. Anh đã đánh cắp lại nó và giấu nó ở đâu đó chờ dịp... làm những gì anh đã làm.”
“Có vẻ hơi quá cẩn thận so với một người xử lý công việc với cái mặt chường ra khắp nơi.”
“Samuels sẽ nói với bồi thẩm đoàn rằng anh đã rơi vào trạng thái kích động giết người. Và họ sẽ tin vào điều đó.”
“Liệu họ có còn tin điều đó sau khi Ev, Billy và Debbie làm chứng không? Và sau khi Howie cho bổi thẩm đoàn xem đoạn băng bài phát biểu của Coben?”
Ralph không muốn nói đến đoạn băng đó. Ít nhất là chưa muốn. “Anh có biết Frank Peterson không?”
Terry cười sằng sặc. “Đó là một trong những câu hỏi mà Howie không muốn tôi trả lời.”
“Điều đó có nghĩa là anh sẽ không trả lời?”
“Trên thực tế, tôi sẽ trả lời. Tôi biết thằng bé qua loa - tôi biết hầu hết những đứa trẻ ở West Side - nhưng tôi không biết thằng bé tới mức thân thiết, nếu anh hiểu ý tôi. Thằng bé vẫn đang đi học và không chơi thể thao. Tuy nhiên, không ai không nhớ mái tóc đỏ đó. Giống như một biển báo dừng. Cả nó và anh nó. Tôi đã gặp Ollie ở Little League, nhưng thằng bé không chuyển lên City League khi bước sang tuổi 13. Nó chơi ở vòng ngoài không tệ, và có thể đánh một chút, nhưng hết dam mê. Một số đứa hay thế.”
“Vậy là anh không để mắt đến Frankie?”
“Không, Ralph. Tôi không có hứng thú tình dục với trẻ em.”
“Không phải là chỉ tình cờ thấy cậu bé đi xe đạp ngang qua bãi đậu xe của tạp hóa Gerald’s và nói Aha, cơ hội của mình đây rồi à? .”
Terry nhìn anh với vẻ khinh thường mà Ralph khó có thể chịu đựng nổi. Nhưng anh không được cụp mắt xuống. Sau một lúc, Terry thở dài, đưa đôi tay bị còng của mình ra trước tấm kính một chiều và gọi, “Chúng tôi xong rồi.”
“Chưa,” Ralph nói. “Tôi cần anh trả lời một câu hỏi nữa, và tôi muốn anh nhìn thẳng vào mắt tôi và nói. Anh đã giết Frank Peterson à?”
Ánh mắt của Terry không hề dao động. “Tôi không làm thế.”
Sĩ quan Keene đến đưa Terry đi. Ralph ngồi tại chỗ, đợi Keene quay lại và đưa anh qua ba cánh cửa khóa chặt giữa phòng thẩm vấn và bầu không khí tự do bên ngoài. Giờ anh đã có câu trả lời cho câu hỏi Jeannie bảo anh hỏi, và câu trả lời, được đưa ra với ánh mắt kiên định, là tôi không làm thế .
Ralph muốn tin hắn.
Nhưng không thể.