Khai Phong chí quái (Bộ 3 Tập)

Lượt đọc: 5485 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chú Thích

.

[1] Si mị chỉ các loài yêu quỷ ở ao, đầm...; võng lượng chỉ các loài yêu quỷ ở núi, rừng sâu... Nói chung, si mị võng lượng dùng để chỉ chung các loài quỷ quái do sơn thần, thủy tinh biến hiện hại người nơi rừng thiêng nước độc.

[2] Hỏa chiết tử là dụng cụ thắp lửa mà người xưa thường mang theo bên mình, luôn cháy âm ỉ, khi thổi sẽ bốc lửa lên.

[3] Tụ tiễn: mũi tên nhỏ được giấu trong tay áo.

[4] Kiêu đào: những quả đào qua mùa đông vẫn không rụng, khô héo trên cây trông như đầu người bị bêu lên sau khi hành quyết.

[5] Tinh quái: Các loài tu thành tinh.

[6] Giáp Tý (甲子) là kết hợp thứ nhất trong hệ thống đánh số Can Chi của người Á Đông. Trong chu kỳ của lịch Trung Quốc, một Giáp Tý (một Giáp) hay Hoa Giáp được tính là 60 năm. Nửa Giáp là 30 năm.

[7] Thường nói đánh rắn bảy tấc (hoặc ba tấc), bảy (ba) tấc này chính là vị trí 1/7 và 1/3 chiều dài được tính từ đầu đến đuôi rắn. Đây thường được coi là 2 điểm yếu trí mạng của rắn, bảy tấc là nhằm vào phần tim rắn (giết chết ngay), còn ba tấc là nhằm vào đốt sống thứ ba của rắn (không bò trườn được nữa).

[8] Một chức quan lưu hành từ thời nhà Hán, theo quy chế, quan viên hưởng 600 thạch lương trở lên được gọi là trưởng lại.

[9] Họ Xa 佘 đồng âm với xà 蛇 tức là con rắn.

[10] Lầu Tần: Ngôi lầu do vua Tần Mục Công dựng lên để rước Tiêu Sử về dạy thổi sáo cho công chúa Lộng Ngọc, về sau hai người yêu rồi lấy nhau. Quán Sở: Nơi vua Sở Tương Vương nằm mộng được chung chăn gối với tiên nữ ở núi Vu Sơn. Lầu Tần quán Sở sau đó được dùng để chỉ chốn hưởng lạc ân ái, tường hoa ngõ liễu, thanh lâu...

[11] Thất xuất: Bảy lý do bỏ vợ trong thời phong kiến gồm: Không con, lăng loàn, không thờ cha mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông, bị bệnh khó chữa.

[12] Thi ban hay còn gọi là vết hoen tử thi, là hiện tượng ứ máu tĩnh mạch tại những vùng trũng trên cơ thể, biểu hiện là xuất hiện những đốm đỏ, tím trên da.

[13] Ngỗ tác: người làm nghề khám nghiệm tử thi thời phong kiến.

[14] Thanh oa có nghĩa là con ếch xanh.

[15] Thời cổ, tên người, triều đại hay quốc gia, thường gắn thêm chữ “thị” (氏) ở phía sau, ví dụ như Thần Nông thị (神農氏), Cát Thiên thị (葛天氏), Hữu thị (有扈氏)... Ở đây chữ “thị” này không mang hàm ý chỉ giới tính nữ.

[16] Phượng gáy Kỳ Sơn (Phụng minh Kỳ Sơn) hay còn gọi là Phượng gáy núi Kỳ, tương truyền vào cuối thời nhà Thương, người ta nghe thấy tiếng chim phượng gáy trên núi Kỳ Châu, báo hiệu có thánh nhân ra đời.

[17] Ý chỉ cảnh thiên hạ thái bình, không còn dụng tới binh đao, ngựa chiến. Trích từ điển tích Chu Vũ Vương thảo phạt Thương Trụ Vương, từ ấy áp dụng các chính sách làm lợi kinh tế, nhân từ với chúng dần thiên hạ, hòa hảo với lân bang phiên quốc, đưa thiên hạ tới cảnh giới thái bình thịnh trị: đao kiếm cất kho, ngựa thả chân núi, mùa màng bội thu, dân vui ca hát.

[18] Điện có nghĩa là cúng tế.

Image

Đinh Quỳnh Anh (dịch)
Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »