Khám Phá Rượu Vang

Lượt đọc: 640 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tản Mạn Bên Lề.

2. Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 và rượu vang

Đức.

Viện rượu vang quốc gia Đức (DWI) đã ký hợp đồng độc quyền về việc

bán rượu vang trong thời gian diễn ra Cúp bóng đá thế giới 2006 ở Đức với

Liên đoàn bóng đá quốc tế (FIFA).

Hợp đồng này qui định chỉ có rượu vang Đức được bán trong các sân

vận động hay ở những nơi sẽ diễn ra các sự kiện do Ủy ban tổ chức Cúp thế

giới quy định. Ngược lại, hãng sản xuất bia Mỹ Budweiser được toàn quyền

bán bia Budweiser trong các sân vận động nơi sẽ diễn ra các trận đấu của

Cúp thế giới 2006.

3. Hình ảnh rượu vang Pháp ở nước ngoài

Hãng sản xuất rượu vang Mỹ Gallo vừa ký một hợp đồng với công ty

rượu Taillan có trụ sở ở vùng Bordeaux (Pháp) nhằm kinh doanh rượu Côtes

du Rhône 2003 với nhãn chai có tên” Cầu qua thành phố Avignon”. Cây cầu

nói trên vừa là một di tích lịch sử vừa là tên một bài hát cho trẻ em rất nổi

tiếng ở Pháp và còn được biết đến ở nước ngoài, nhất là Mỹ. Hãng Gallo đã

phải đầu tư đến 5 triệu đô la Mỹ để mua lại bản quyền từ thành phố Avignon

và để quảng cáo cho 6 triệu chai rượu có tên “Cầu qua thành phố Avignon”

sẽ được đưa ra bán trong năm 2005 tại 1.500 cửa hàng chuyên môn và 800

tiệm ăn ở Mỹ, với giá 15 đô la/chai.

Hãng Gallo cũng không ngần ngại khoác cho chai rượu có tên “Chiếc xe

đạp đỏ”, vốn do hợp tác xã sản xuất rượu Sieur d’Arques ở thành phố

Limoux (vùng Languedoc - Roussillon - Pháp) xuất sang Mỹ, nhãn chai với

hình ảnh một nông dân Pháp với chiếc mũ nồi truyền thống đang đi xe đạp,

chạy lon ton phía sau là con chó ngậm trong mõm một chiếc bánh mì, với giá

10 đô la Mỹ/chai.

Theo Liên đoàn các nhà xuất khẩu rượu vang và rượu mạnh Pháp

(FEVS), không chỉ các công ty Mỹ chú trọng đầu tư vào một ngành đã đem

lại đến 7,81 tỷ euros cho cán cân thương mại Pháp, mà các công ty nước

ngoài khác, ví dụ như công ty Hà Lan Dirkzwaser, cũng vừa trở thành cổ

động viên thiểu số cùng với gia đình MAU trong vốn cố định của lâu đài

Cantenac - Brown, một trong những lâu đài lâu đời và nổi tiếng nhất vùng

Bordeaux. Trước đó ít lâu, cũng hãng Dirkzwaser đã cùng gia đình MAU

hùn vốn mua lại lâu đài Preuillac.

4. Bã rượu champagne dùng để sản xuất điện “sạch”

Tháng 01/2005, bộ công nghiệp Pháp đã chọn dự án sản xuất điện

“sạch” từ bã rượu champagne. Dự án này được chọn trong số 15 dự án “năng

lượng tái sinh” và sẽ được triển khai vào năm 2007.

Tổng cộng các nhà máy sản xuất rượu mạnh ở các vùng rượu

Champagne, Bordeaux và Luberon sẽ bán hơn 300.000 mê ga oát điện/năm

cho công ty điện lực quốc gia Pháp (EDF) thông qua công ty EBV, chuyên

sản xuất điện từ các phế thải thực vật.

Ông Thierry Pousse, phụ trách phát triển của công ty EBV, cho rằng

“đây là thử nghiệm sản xuất điện từ bã rượu đầu tiên ở Pháp”, trong khi đó

phương pháp này đã được thực hiện thành công ở Argentina. Italia và Tây

Ban Nha dùng hạt ô liu, còn Malaysia dùng trấu để sản xuất điện “sạch”.

Ông Jean - Marie Keene, tổng giám đốc hãng rượu mạnh Goyard ở

Mareuil - sur - Ay (Marne - Champagne), được thành lập từ năm 1911 và là

một trong những hãng lớn nhất chuyên sử dụng nho vùng Champagne để

làm rượu mạnh, cho rằng đây là phương án tối ưu để thanh lý các phế thải từ

nho. Ông nói: “Năm 2004, chúng tôi đã phải thanh lý tới 113.000 tấn phế

thải từ nho bằng các biện pháp khác: bán lại cho công nghiệp mỹ phẩm, công

nghiệp dược phẩm, dùng làm nhiên liệu hoặc bán rẻ để nuôi gia súc hoặc làm

phân bón”.

Ông Keene thừa nhận rằng việc chuyên chở các phế thải đến nơi tiêu thụ

khiến công ty ông chẳng lời lãi là bao. Trái lại, ông Pousse cho rằng “đây là

một sự hợp tác trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Công ty chúng tôi trả tiền mua

bã rượu và thuê đất làm nhà máy điện, còn nhà máy rượu trả tiền khí đốt và

tiết kiệm được phí vận tải”.

Đúng vậy, hợp đồng ký với công ty EBV quy định hãng Goyard chỉ phải

cho thuê một khoảnh đất để đặt một nhà máy điện nhỏ. Bã rượu sẽ được đốt

để tạo khí mê tan, từ khí mê tan sẽ sản xuất ra điện và nhiệt lượng.

Điện sẽ được bán lại cho công ty điện lực quốc gia với giá cao gấp đôi

giá thông thường, vì đó là “điện sạch”.

Nhiệt lượng sản xuất từ bã rượu sẽ đáp ứng từ 80 - 85% nhu cầu về nhiệt

của nhà máy rượu Goyard.

5. Một số bài viết và trả lời phỏng vấn của ông Tô Việt

Ông Tô Việt - liên đoàn chuyên gia nếm thử rượu Pháp

“Có văn hóa trong ẩm thực cũng là cách để hội nhập”

(06:53’ 10/12/2004 (GMT+7) Người Viễn Xứ)

KIM NGÂN thực hiện

Theo đề nghị của ông Giuseppe Vaccarini, chủ tịch hiệp Hội Chuyên gia

nếm thử rượu quốc tế (ASI), chuyên gia rượu giỏi nhất thế giới 1978 và hội

những người bạn Đà Lạt của thành phố Montpellier (Adaly); ông Tô Việt

(người Pháp gốc Việt), thành viên của Liên đoàn chuyên gia nếm thử rượu

Pháp (USDF) với cương vị là Tùy viên Adaly và giám đốc chương trình văn

hóa rượu vang Việt Nam (PFSCViệt Nam) do Chính phủ Pháp tài trợ, đã

sang Việt Nam đảm nhận việc đào tạo chuyên gia thử nếm và phục vụ rượu ở

Việt Nam. Chúng tôi đã gặp và trao đổi với ông Tô Việt về nội dung chương

trình, xin giới thiệu với bạn đọc.

• PV. Xin ông cho biết đôi chút về bản thân?

Ông Tô Việt: Tôi sống lâu năm ở Pháp và ở Monoco, lấy vợ người Việt

và cũng thường xuyên về Việt Nam. Tôi may mắn được làm học trò của ông

Frank Thomas (Pháp), chuyên gia rượu giỏi nhất Châu Âu năm 2000; đã

từng làm việc ở nhiều khách sạn 4 sao Luxe ở Pháp. Cũng đã có thời gian

sang Anh làm việc với tập đoàn khách sạn Hotel du Vin của chuyên gia rượu

giỏi nhất Châu Âu 1996, nhì thế giới 1992 và 2004 - Gerard Basset.

• Chương trình làm việc của ông lần này ở Việt Nam bao gồm những

nội dung gì?

Tôi sang Việt Nam với tư cách là giám đốc chương trình văn hóa rượu

vang do Chính phủ Pháp tài trợ với sự hợp tác của nhiều trường đại học của

Hà Nội, TP HCM, Đà Lạt, dự định mỗi năm sẽ kéo dài 6 tháng, năm nay sẽ

từ 10/2004 - 02/2005. Chúng tôi sẽ đảm nhận việc đào tạo chuyên gia thử

nếm và phục vụ rượu ở Việt Nam. Đi cùng tôi còn có một đội ngũ các

chuyên gia thuộc hàng quốc tế: ông Giuseppe Vaccarini (Italia), chuyên gia

rượu giỏi nhất thế giới năm 1978; ông Gerard Basset (Anh), chuyên gia rượu

giỏi nhất Châu Âu 1996, thứ nhì thế giới 1992 và 2004; ông Thomas (Pháp),

chuyên gia rượu giỏi nhất Châu Âu 2000; bà bác sĩ Anna Owhadi -

Richatdson (Pháp), chuyên gia về rượu và sức khoẻ.

• Tại sao hiệp hội và cá nhân ông lại chọn Việt Nam là nơi đến cung

cấp những kiến thức hiểu biết về văn hoá rượu vang?

Tất nhiên, Việt Nam không phải là đất nước có truyền thống sản xuất và

tiêu thụ rượu vang, song lại là đất nước có rất nhiều tiềm năng. Thứ nhất,

Việt Nam là một quốc gia đông dân, vì thế sức tiêu thụ rất lớn. Thí dụ như

nước Nhật thì 10 năm trước tính theo bình quân đầu người tiêu thụ một

lượng rượu rất ít (chưa đến 0,5 lít/năm), nay thì đã lên đến 2,8 lít/người/năm.

Thứ hai, là tuy lượng rượu vang tiêu thụ hàng năm không nhiều lắm so với

bia và các loại rượu mạnh, nhưng Việt Nam không lạ lẫm với rượu vang bởi

ảnh hưởng khá đậm nét của văn hoá Châu Âu, Châu Mỹ, nhất là văn hóa

Pháp. Thứ ba, là trong thời hiện đại, không chỉ yêu cầu của quá trình giao

lưu, hội nhập, đòi hỏi phải có nhiều hiểu biết hơn về các nền văn hoá khác

mà khi nền kinh tế phát triển, mức sống được nâng cao, nhu cầu của cuộc

sống cũng ngày càng đa dạng và phong phú hơn. Người ta không chỉ muốn

mặc đẹp hơn, ăn ngon hơn mà trình độ văn hoá cả trong ăn uống cũng đặt ra

cấp thiết hơn. Thứ tư, Việt Nam đang là nước rất có tiềm năng trong thu hút

khách du lịch quốc tế. Nhiều khách sạn cao cấp, nhà hàng được xây dựng,

khách quốc tế nhiều khi rất khó tính, đòi hỏi sự phục vụ phải mang tính

chuyên nghiệp và đạt chuẩn quốc tế... Thật ra lý do có rất nhiều, nhưng với

tôi còn một lý do cá nhân nữa là tôi muốn được mang kiến thức, hiểu biết và

sức lực của mình về phục vụ quê hương.

• Những chuyên gia đạt đến trình độ như ông ở Pháp có đông không,

thưa ông?

Hiệp hội nếm, thử rượu vang ở Pháp được thành lập năm 1968, suốt từ

đó đến nay số chuyên gia được đào tạo về lĩnh vực này là khoảng 4.000

người. Chỉ ở những thành phố lớn mới có trường và có khoa chuyên ngành

đào tạo về rượu, người ta lại chọn ra mỗi năm chỉ một số ít các sinh viên

không chỉ có năng khiếu mà phải cả lòng say mê nghề nghiệp để đào tạo

chuyên gia thử nếm rượu. Còn ở Nhật thì số lượng chuyên gia về nghề này

phát triển khá nhanh, tuy mới hình thành từ 10 năm nay, nhưng con số

chuyên gia được đào tạo đã vào khoảng 8.000 người.

• Vậy còn ở Việt Nam theo đánh giá của ông, các chuyên gia thử, nếm

rượu hiện nay có nhiều không?

Theo tôi biết thì số chuyên gia về thử, nếm rượu ở Việt Nam khá ít, có

thể đếm trên đầu ngón tay. Như con số tôi nắm được là khoảng 20 người

được đào tạo về chuyên ngành rượu vang, về sản phẩm lên men ở các nước

Châu Âu (Pháp, Đức), chủ yếu họ tập trung ở Hà Nội và TP HCM, các tỉnh

không có mấy.

• Ông có thể cho biết về những nội dung chính của khóa học về văn

hóa rượu vang?

Chúng tôi đã lên chương trình đào tạo ngắn hạn 34 giờ, sẽ cung cấp cho

học viên các kiến thức về: các giống nho chính, các vùng trồng nho của Pháp

và thế giới; hương vị rượu; từ vựng về nếm rượu; phương pháp đánh giá

rượu tốt, xấu; lựa chọn và mua rượu; chọn món ăn và rượu sao cho hợp khẩu

vị; cách thưởng thức rượu vang và các loại rượu khác (uống có mức độ để có

lợi cho sức khoẻ); văn hoá phục vụ rượu ở bar, tiệm ăn và khách sạn.

• Các đối tượng được tham dự khóa học?

Chúng tôi đã và đang đào tạo cho cán bộ cao cấp của ngành ngoại giao,

thương mại, ngân hàng, tài chính, du lịch, hàng không, đường thủy; những

người phục vụ tại các nhà hàng, khách sạn; những người làm việc tại các nhà

máy rượu, bia, cửa hàng, đại lý bán rượu, bia và tất cả những ai quan tâm.

Người dự đến kết thúc khoá học sẽ được cấp chứng chỉ của hiệp Hội Chuyên

gia thử nếm rượu vang quốc tế ASI.

• Xin cám ơn và chúc ông thành công mỹ mãn trong những ngày ở

Việt Nam.

Nói chuyện xa quê quanh chén rượu

(10:29’ 07/02/2005 (GMT+7) Người Viễn Xứ)

TÔ VIỆT (Pháp) (Chuyên gia thử nếm - Hiệp hội thử nếm rượu Quốc tế)

Tối qua, sau gần mười năm, mới lại có tuyết rơi ở Nice.

Lúc đầu, tôi nửa tin nửa ngờ, nhưng mới chỉ kịp vào bếp pha ly cà phê,

ngoảnh ra lan can đã thấy tuyết bay tơi tả ngoài trời, như một đàn ong

trắng. Tuyết ơi, đẹp lắm! Thủa bé thơ, tôi thường trèo lên cây đại cổ thụ cuối

sân đọc truyện cổ tích Phần Lan và mơ một ngày nào đó được sang xứ sở

của tuyết, ngồi trên xe do những con tuần lộc kéo, hoặc bên một lò sưởi rưc

hồng, mặc cho bão tuyết gầm rú ngoài trời.

Nhưng hoa tuyết đẹp cũng như một người đàn bà khó tính. Chỉ có thể

nhìn xa, khẽ động vào là tan biến, mong manh. Hơn thế, những buổi mưa

tuyết thế này, còn làm gì được ngoài mời mấy ông bạn vàng đến nhà chơi,

khui một chai vang ngon uống nhâm nhi với pho mát, xúc xích, hoặc giả nếu

cuối tháng hết tiền thì cũng bày ra bàn vài hột lạc rang, dăm ba quả dưa

chuột muối. So với ớ Việt Nam, uống rượu trắng “sếch” với vài quả cóc

hoặc chuối xanh, ngồi bệt ở vỉa hè, lòng đường như mấy anh đạp xích lô

hoặc chở xe Honda “ôm” thì thế này vẫn còn sang chán.

Ừ, thế mà cũng chỉ mấy ngày nữa là đã Tết rồi. Cái không khí gần kề

ngày Tết nó mới lạ làm sao, nó lâng lâng, xao xuyến, bồi hồi, như tình cảm

của một nàng dâu mới, nửa muốn về nhà chồng, nửa muốn ở lại nhà mẹ đẻ.

Tết của người Việt tha hương thấm buồn, nhất là đối với những kẻ ở độ tuổi

hờ hững ngoài 40, chưa đến 50 như tụi chúng tôi. Nhóm sinh viên Việt nam

ở Nice còn có gì để vui thú (tụ họp bạn bè trong khu học xá, sinh viên nữ

làm nộm, bánh chưng, sinh viên nam trang trí, chuẩn bị rượu, bia...). Tôi

cầm điện thoại gọi cho ông bạn cố tri (vẫn bị vợ tôi nói nửa đùa nửa thật là

“một trong những đệ tử trung thành của thần Bacchus”).

Nói đến rượu, bia, dân tộc nào cũng như nhau, “phi tửu bất thành lễ”. Đã

là lễ thì không thể thiếu rượu, ta hay tây cũng vậy. Nhưng giữa ta và tây lại

có nhiều sự khác nhau căn bản, cả về rượu và cách uống. Người phương tây,

khi có điều kiện, thường uống rượu tại bàn, trải khăn trắng muốt, ngày không

sao, tối phải thắp đèn nến sáng trưng. Ly, cốc cũng phải là đồ thứ dữ, không

pha lê thì cũng thủy tinh loại sang như Riedel (Áo) hay Schott (Đức). “Rượu

trẻ”, mạnh mẽ thì rót ra bình thủy trước một hai tiếng để hương vị rượu thêm

thơm ngát, cơ thể rượu được thư giãn, mịn màng, xênh xang, êm ái như

nhung như lụa, uống đến đâu đã đời đến đó. Rượu lâu năm nhiều khi cũng

được rót ra bình thủy để tránh không cho cặn rượu đi theo dòng chảy vào cốc

bạn hiền. Những rượu lâu năm mà sự cân bằng sinh thái mong manh như

trứng để đầu đẳng thì được thận trọng, nâng niu đưa vào lẵng rót rượu và

được mở nút với tất cả sự cẩn trọng như ta nâng đỡ bố mẹ già, rồi khẽ khàng

rót cho bè bạn, người thân như thể “giọt rượu - giọt vàng”. Người uống rượu

cầm ly soi ra trước đèn, trìu mến, nâng niu, đắm say như thể đang giải y một

cô gái đẹp. Những lời bình phẩm về rượu cũng thật là “tửu sắc tương liên”

(rượu và sắc đẹp không thể tách rời); nào là “gương mặt thuỳ mị, hào hoa,

phong nhã”, “cơ thể mảnh mai hoặc tròn trịa, duyên dáng, đầy nữ tính”,

“chân dài quý phái”, “nước mắt như mưa”, “mẫn cảm, đầy sức quyến rũ”...

Đấy thực sự là những ngôn từ chuyên môn của Tây về rượu dịch ra tiếng

Việt, tôi mà nói láo tôi... chết (!)

Người Việt mình uống đơn giản hơn nhiều, rượu trắng thường uống

bằng bát hay ly uống nước, sang hơn thì ly uống rượu Whisky (Tumbler) hay

ly uống rượu khai vị hay tráng miệng. Tựu trung cũng chỉ vì dân mình còn

nghèo, ít có điều kiện trang bị trong gia đình những thứ vẫn còn bị coi là “xa

xỉ phẩm” ấy.

Vẫn chuyện rượu vang. Người Tây phương dùng rượu khá nhiều trong

một bữa ăn dịp tết Noel hay đầu năm mới. Chỉ tính riêng rượu vang họ đã

dùng champagne đầu bữa, tiếp đến là rượu vang ngọt như Sauternes, Sainte -

Croix - du - Mont, Jurancon hoăc Montbazillac với món gan ngỗng hoặc vịt

béo, các loại rượu trắng rượu trắng khô với các món xà lát, súp và sò huyết.

Họ tiếp tục dùng rượu vang trắng khô hoặc đậm với các món tôm, cá, sau đó

là rượu vang đỏ nhẹ (Bourgogne) với món thịt gà tây hầm hạt dẻ. Các món

thịt bỏ lò hoặc thịt rừng bao giờ cũng đi kèm một vài chai vang đỏ Bordeaux

trứ danh như Pauillac, Saint-Julien hoặc Saint- Estèphe. Cùng với món tráng

miệng, hoặc họ quay trở lại dùng rượu Sauternes, hoặc rượu champagne dịu

(champagne demi - sec), hoặc rượu ngọt tự nhiên (vin Doux Naturel). Những

kẻ nô lệ của xì gà bao giờ cũng kết thúc bữa ăn tất niên bằng một ly rượu

rum cao tuổi hoặc một ly Cognac VSOP (Very Special Old Pale) hoặc XO

(Extra Old). Người Việt mình giản tiện hơn nhiều, nhà sang uống Whisky,

Cognac hoặc gần đây hơn là rượu vang, nhà tầm tầm hoặc nghèo chăng nữa

cũng vài chai rượu trắng, nhưng thường là uống từ đầu đến cuối bữa.

Nói về rượu trắng: mấy ông bạn Việt kiều của tôi ở Nice Tết nào cũng

nhăm nhe kiếm chút “mộc tồn”, không phải ăn trong Tết, sợ xui, mà ăn ra

giêng để giải hạn. Bàn tính với nhau đã mấy năm mà có bao giờ thực hiện

được đâu. Ông bạn thân nhất của tôi, đâu có họ hàng dây mơ rễ má gì với

cựu hoàng Bảo Đại, năm nào cũng nhờ mua tận Việt Nam mấy lít “cồn”

chính hiệu làng Vân. Anh thường hỏi tôi: “Việt, mày có biết tại sao thịt

“cầy” không có cái chất “cồn” vào là “vứt”?”. Thấy tôi ngơ ngẩn, anh cười:

“Ấy bởi thịt chó ít nhiều có vị hôi hám, tanh tưởi. Ví như anh Nga ăn trứng

cá tầm mà không sử dụng rượu vodka để cho tiêu cái chất tanh, chất béo,

chất mỡ, chất nhờn của trứng cá tầm”. Vợ tôi ngồi cạnh, từ nãy đến giờ

không nói câu nào, bật cười, lên tiếng: “Gớm, các ông nói ghê ghê là, liệu có

ai còn dám ăn trứng cá tầm với thịt chó nữa?”. Chỉ chờ có thế, anh bạn tôi

giảng giải: “Đàn bà các chị đầu óc chim sẻ, chẳng kể làm gì. Thịt chó, với

cái hôi hám của nó, cũng như người đàn bà ở tuổi 40, bà nào chẳng hôi hám,

khó chịu? Nhưng chính cái hôi hám ở người đàn bà “tứ tuần” ấy lại quyến rũ

đàn ông hơn là các cô mười tám, đôi mươi”. Vợ tôi ngượng đỏ mặt, đánh

trống lảng: “Thôi, để em vào bếp làm cho các bác ít đồ xào nữa”. Anh bạn

tôi rung đùi khoái chí, vỗ tay đánh đét một cái: “Việt, mày thấy chưa, tụi

mình ở xứ người cả mấy chục năm nay, nhưng văn hóa ẩm thực Việt Nam

vẫn còn sâu sắc lắm. Mà cô vợ mày cũng tinh ý đáo để. Thôi, bữa nào tao

phải thết vợ chồng chú mày một chai Saint Emilion Château Cheval Blanc

(*) 1989 là năm gia đình chú mày tao ngộ”. Anh ngồi đến quá nửa đêm, gọi

là để mừng “tuyết mới” và đón “giao thừa trước Tết”. Hai anh em uống hết 4

chai vang thì anh đứng dậy, ôm hôn vợ tôi thắm thiết, rồi về. Chỉ tội nghiệp

vợ tôi, thương chồng mệt, chưa kịp đón giao thừa đã phải quét dọn tưng

bừng đến gần 2 giờ sáng.

Không biết ở quê hương, những người thân của tôi đang làm gì và có

nhớ đến những người con ở phương xa không? Còn chúng tôi thì dẫu ở nơi

nào trên trái đất, dẫu bận bịu mấy thì cũng luôn nhớ về họ, nhất là trong

những ngày Tết này.

T.V (Nice - những ngày giáp Tết Ất Dậu 2005)

6. Bài phát biểu tại hội thảo rượu vang Bordeaux,

Thành phố Hồ Chí Minh, 31/05/2005

Hôm nay, tôi rất vinh dự được thuyết trình về rượu vang Bordeaux và sẽ

cố gắng trong vòng 2 buổi cùng anh Đỗ Vĩnh Bảo, chuyên gia làm rượu

được đào tao tại Pháp, vén lên phần nào bức màn bí mật bao trùm sản phẩm

vốn được coi là “cực kỳ huyền ảo, lung linh nhưng cũng hết sức phức tạp”

này.

Nhà thơ La Mã nổi tiếng Ausone (thế kỷ thứ IV sau Công nguyên) từng

nói: “Tôi tự hào về các ruộng nho vùng Bordeaux hơn là các tác phẩm nghệ

thuật của tôi”. Tại sao như vậy? Bởi Ausone cho rằng rượu vang Bordeaux là

nghệ thuật, là con đường ngắn nhất đưa người đến với người.

Nhà văn Mỹ nổi tiếng Ernest Hemingway lại nói: “rượu vang là sản

phẩm văn minh nhất thế giới”, bởi theo ông, xung quanh ly rượu, các nhà

ngoại giao tìm hiểu nhau kỹ hơn để sau đó đấu khẩu với nhau ít hơn.

Rượu vang tạo ra 3 sự đồng cảm: đồng cảm với đất trồng nho, đồng cảm

với chính mình khi ta uống rượu và đồng cảm với những người khác khi ta

nói chuyện về rượu vang.

Một chai rượu vang Bordeaux ngon là kết quả của một năm nhà trồng

nho vất vả: đó là nụ cười của cô gái hái nho, mồ hôi tầm tã của người thợ ép

nho, tình yêu và nỗ lực của chuyên gia làm rượu để hoàn thành kiệt tác. Tất

cả tinh hoa của con người được truyền vào rượu vang: can đảm, niềm vui,

lòng tin, tính kiên trì, tình yêu, sự lạc quan... Tất cả tinh hoa của thiên nhiên

cũng được đưa vào rượu vang: sức mạnh, ánh sáng, màu sắc, hơi ấm, những

điều bí ẩn... Rượu vang, đó là sự chuyển hóa từ vật chất sang tinh thần mà ta

thấy rất rõ qua thành cốc thuỷ tinh.

Một chai rượu vang Bordeaux ngon, cũng như hội họa, văn chương và

âm nhạc, phải xuất phát từ tình cảm tự nhiên của con người, mà đã là cảm

xúc thì không thể ép buôc hoặc lừa đảo được. Một chai rượu vang Bordeaux

ngon thể hiện tình cảm nội tâm của người làm ra nó. Chính vì nó là tình cảm

của con người nên nó có thể lay động, cảm hóa con người và có được tác

dụng giáo dục thầm lặng, tự nhiên. Cũng như một bản nhạc hay, một tác

phẩm nghệ thuật tuyệt vời, một chai vang Bordeaux thượng hảo hạng có thể

thầm lặng ảnh hưởng đến người tiêu thụ, cảm hóa được người tiêu thụ. Cái

mà các nghệ sĩ gọi là “hồn”.

Chẳng thế mà nhà thơ Charles Baudelaire của Pháp đã ngất ngưởng say

sưa trước vẻ hoàn thiện, hoàn mỹ ấy như trước một thực thể sống, một CON

NGƯỜI. “Trong mỗi chai rượu vang có một linh hồn, và tối tối, linh hồn

ca hát”.

Xin cám ơn sự chú ý của tất cả các bạn.

7. Chuyên gia nếm vang quốc tế Tô Việt

Vang cũng có... linh hồn!

(20/08/2005 02:29 GMT +7 Người Lao động chủ nhật)

Chuyên gia thử nếm

vang quốc tế Tô Việt

(phải) tại lễ trao giải

Pionnier Award tại

Philadelphia - Mỹ

Từ tình cờ đam mê

đến trở thành chuyên gia,

anh Tô Việt, người Pháp

gốc Việt, đã bộc bạch

tình yêu đối với thú tao

nhã là thử nếm những

chai vang ở đẳng cấp

chuyên gia quốc tế của

anh

• Phóng viên: Tại

sao anh lại chọn cái

nghề “chơi cũng lắm

công phu” này?

• Anh Tô Việt: Tôi vốn hay thích hội hè và đã có ý định tìm hiểu về

vang từ khi còn trẻ. Tôi thú vị với 2 câu thơ của thi sĩ Pháp thế kỷ 19 Charles

Beaudelaire: “Trong mỗi chai rượu vang có một linh hồn. Đêm đêm, linh

hồn đó nhảy múa”. Lúc mới sang Pháp, tôi học Công pháp quốc tế. Trong

lớp, các bạn tôi đều là con cái của các luật sư và bác sĩ giàu có. Gia đình các

bạn thường có hầm rượu lớn. Tôi có cảm giác tôi đã mê tìm hiểu về vang từ

lâu lắm rồi nên khi được tiếp xúc với nó, tôi như bị cuốn hút, muốn đi đến

cùng. Tôi theo học khóa đào tạo chuyên gia thử nếm vang trong một năm.

Khóa học dạy chủ yếu về lý thuyết nên tôi tự mày mò khám phá thêm.

Năm 2000, tôi theo học thầy Franc Thomas - chuyên gia thử nếm vang

giỏi nhất Châu Âu. Được học thầy giỏi cộng với đam mê, linh cảm mách bảo

tôi là tôi đã đi đúng hướng.

• Trên thế giới hiện có bao nhiêu chuyên gia thử nếm vang?

• Không có thống kê chính thức nhưng ở Pháp có khoảng 4.000, trong

đó số người được đào tạo không nhiều. Tuy sinh sau đẻ muộn nhưng Nhật

Bản có đến 8.000 chuyên gia...

• Muốn được công nhận là chuyên gia thử nếm vang quốc tế cần có

tiêu chuẩn gì?

• Trước hết phải có mặt trong một số cuộc thử nếm vang quốc tế. Ở

Pháp tương đối có nhiều cuộc như vậy nhưng nổi tiếng là ở Maçon,

Strasbourg; ở Bỉ là Bruxelles; Italia có Venice... Ngoài ra phải tham gia các

cuộc thỉnh giảng, viết sách về văn hóa vang. Quan trọng hơn là phải có tên

tuổi ở nước sở tại.

• Trong 3 bí quyết để trở thành một chuyên gia,

“ngửi” đóng vai trò

như thế nào?

• Ngoài vị giác và xúc giác, khứu giác đóng vai trò đặc biệt quan trọng

trong khâu thẩm định vang. Một chuyên gia giỏi có thể “ngửi” được đến vài

trăm hương vị khác nhau, còn thường thường khoảng từ 10 - 20 hương vị.

Mỗi giống nho đều mang dấu ấn của từng vùng. Loại rượu Nero d’Avola

mang hương vị núi lửa rất đặc trưng của đảo Sicile - Italia. Giống nho Merlot

của Bordeaux, Pháp lại có hương vị đất sét pha sắt rất khó quên. Chỉ riêng

giống nho Gewurztraminer ở vùng Alsace đã mang đến 750 hương vị khác

nhau.

• Vào nhiều cửa hàng mua vang, tôi thường được khuyên mua loại

càng lâu năm uống càng ngon. Có những chai giá khoảng 100.000 đến

200.000 đồng nhưng đều có mác AOC. Đánh giá như vậy đúng hay sai?

• Người Việt Nam nhận thức về vang còn khá mơ hồ. Nói đến vang

Pháp thì họ chỉ coi vang Bordeaux và phải có mác AOC (Appellation

d’Origine Controlée) mới là vang chính cống. Nói chung, vang có mác AOC

thường có chất lượng cao được Cơ quan Kiểm nghiệm quốc gia (INAO)

chứng nhận. Nhưng ở Pháp còn có rất nhiều loại vang “khét tiếng” tranh

hùng với vang Bordeaux mà không cần mác AOC. Mỗi chai vang xuất

xưởng vùng Mas de Daumas Gassac cũng có giá đến 120 euros (khoảng hơn

2 triệu đồng). Italia có loại Sassicaia nổi tiếng toàn thế giới với giá cả rất

cao. Khái niệm vang càng để lâu càng tốt chỉ đúng với loại Grand Cru. Vang

Château Latour, một trong 5 loại vang Bordeaux nổi tiếng nhất, phải để từ 25

- 50 năm uống mới “phê”. Có thể để khoảng từ 5 - 10 năm, tùy thuộc vào

năm đóng chai cũng như độ ngon của nho. Thông thường, thời gian sử dụng

cho vang trắng từ 2 - 3 năm, còn vang đỏ từ 3 - 5 năm kể từ khi đóng chai.

• Đang yên ấm ở Pháp, sao anh lại quay về quê hương?

• Trong huyết quản của tôi vẫn tuôn chảy dòng máu Việt. Tôi cho rằng

tài của tôi ở Pháp chẳng là gì, trong khi đó nếu về Việt Nam tôi làm được

nhiều việc hơn. Kể từ khi trở lại Việt Nam năm 2003, tôi đã tổ chức được

nhiều cuộc hội thảo ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Tham gia thỉnh

giảng ở một số trường đại học như Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Cao

đẳng Công nghệ thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Du lịch -

Khách sạn. Sắp tới, tôi sẽ cho ra cuốn từ điển về từ vựng vang và sách hướng

dẫn về nhập khẩu vang.

• Cảm tưởng của anh khi nhận phần thưởng Pionnier Awards tại

Philadelphia - Mỹ?

• Rất tự hào, vì tôi là người Việt Nam duy nhất trở thành chuyên gia thử

nếm vang quốc tế.

Trích ngang: Thạc sĩ Tô Việt sinh năm 1958 tại Hà Nội, quốc tịch

Pháp:

- Thành viên Hội Thử nếm vang quốc tế (ASI), thành viên Hội Thử nếm

vang Pháp. Giải thưởng Pionnier Award dành cho người có nhiều cố gắng

quảng bá văn hóa vang ở Việt Nam nói riêng và Châu Á nói chung tại cuộc

thi quốc tế vang Starwine lần thứ hai năm 2005 tại Philadelphia (Mỹ).

- Giám đốc chương trình đào tạo chuyên gia thử nếm vang Việt Nam do

Hội Thử nếm vang quốc tế, Hội Những người bạn Đà Lạt (Adaly) và hội

đồng hành chính vung Languedoc - Roussillon tài trợ; cố vấn xuất nhập khẩu

và đào tạo cho các công ty: Thiên Linh Wine & Spirits, Les Cliers d’Asie,

Ware House, các tập đoàn khách sạn Accord và Six Sens.

Bích Diệp thực hiện

8. Chuyên gia quốc tế rượu vang - Tô Việt

“Tôi trở về Việt Nam vì dòng máu Việt”

(08:44’ 29/08/2005 (GMT+7) Người Viễn Xứ)

Minh Diệu

Sinh năm 1958 tại

Hà Nội, năm 1984, Tô

Việt thi đậu học bổng về

Công pháp quốc tế và

theo học tại đại học

Nice. Thành phố Nice là

cửa ngõ biên giới giữa

Pháp và Italia cũng là

nơi giao nhau của hai

nền văn hoá rượu vang

lầu đời nhất Châu Âu.

Cái duyên, cái may mắn

và sự đam mê đã đưa

chân Tô Việt trở thành

một trong những chuyên gia nếm rượu vang hàng đầu thế giới hiện nay.

Từ Duyên nợ và sự đam mê.

Những ngày học, Việt theo chân các bạn đến những hầm rượu nổi tiếng

ở Pháp, những cánh đồng nho, những nơi sản xuất rượu như có một sức hút

mãnh liệt với Việt.

“Nhưng từ đam mê để trở thành một chuyên gia về nếm thử rượu vang

là cả một quá trình mày mò, học hỏi và tích luỹ kinh nghiệm cá nhân và nhất

là phải được đào tạo cơ bản”, anh Việt nhớ lại. Người thực sự khơi dậy đam

mê về rượu vang trong anh chính là ông Frank Thomas, chuyên gia rượu giỏi

nhất Châu Âu năm 2000. Sau một thời gian làm việc, Ông Frank Thomas

sớm phát hiện ra những năng khiếu bẩm sinh, khả năng kỳ lạ của Tô Việt

nên giới thiệu Việt với ông Gérard Basset, một chuyên gia giỏi nhất Châu

Âu năm 1996, thứ nhì thế giới năm 1992 và 2004, lúc đó đang là chủ tập

đoàn khách sạn rượu vang ở Anh quốc. Một năm làm việc với ở Anh dưới sự

dìu dắt của chuyên gia hàng đầu thế giới, Tô Việt đã khám phá ra rất nhiều

điều mới lạ trong “Văn hoá rượu vang”. Anh bảo: “Anh Quốc cũng là vùng

đất phì nhiêu cho tất cả trào lưu văn hoá rượu vang trên thế giới. Ở xứ sở

này, vốn là một quốc gia đa chủng, mỗi người trong cách thưởng thức rượu

vang, Whisky hay vodka đều cố gắng tìm về với bản thể của chính mình. Tôi

biết thử và thưởng thức rượu vang cũng là tìm đến nhân cách phương Đông.

Đó là cái Chân, Thiện, Mỹ”.

Đến chuyên gia hàng đầu

Tô Việt đã nếm hàng ngàn loại rượu vang, có những loại rượu đắt, quý

không thể chỉ mua được bằng tiền mà chính bằng cái tâm, cái hồn của người

biết thưởng thức. Việt bảo: “Nếu như ai cũng có thể ngửi và cảm nhận được

vài chục mùi vị thông thường thì chuyên gia nếm thử rượu phải là một nghệ

sỹ, một nhà văn, một nhạc sỹ, một họa sỹ và nhiều hơn thế bởi để nếm và

thưởng thức rượu là nắm bắt “cái hồn” của rượu và miêu tả cái hồn đó bằng

những từ ngữ vừa cụ thể, chính xác, vừa trừu tượng, bay bướm, hoan hỉ, siêu

phàm...” Những tháng ngày lưu lạc tận Hungary hay Rumania để tìm hiểu

về văn hoá rượu vang, Việt đã được ăn, được ngủ giữa những cánh đồng nho

bạt ngàn hay lên rừng, lên núi tìm hiểu từng cái riêng, nét đặc trưng của mỗi

vùng trồng nho để “cảm” được rượu và vì thế mới nhập vào “hồn rượu”.

Điều thú vị nhất là anh đã được đi nhiều nơi, đến nhiều vùng, không chỉ

thưởng thức được những loại rượu vang đắt nhất thế giới như Pétrus,

Château Latour, Château Lafitte Rothschild, Romanée - Conti (Pháp),

Pingus, Val Buena, Vegas Sicilia (Tây Ban Nha), Tokaj Excencia (Hungary)

mà còn biết đến cả những loại rượu hiếm hoi như rượu hồng Hatten

(Indonesia), rượu Château Merciar (Nhật Bản), Rượu Mehico, rượu Thái

Lan, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ...

Đi đến đâu, dừng chân ở quốc gia, địa phương nào, Tô Việt cũng tìm

hiểu rõ nét đặc trưng của từng loại rượu và anh rút ra được những nhận xét,

triết lý sâu sắc từ những ly rượu. Anh cho biết: “Mùi vị rượu vang mang đậm

dấu ấn của các loại hoa quả Châu Âu, Châu Mỹ hay Châu Úc, thường không

có ở Châu Á, vì thế một người Châu Á miêu tả các mùi vị rượu thường gặp

rất nhiều khó khăn. Việt Nam cũng như phần lớn các nước Châu Á hầu như

không có văn hoá rượu vang mà chỉ có văn hoá rượu gạo (Việt Nam, Trung

Quốc, Lào, Campuchia...) hoặc rượu Sake (Nhật Bản). Cũng là rượu nhưng

đó là rượu ủ từ men chứ không phải từ chưng cất”. Để trở thành một chuyên

gia nếm thử rượu vang, theo Việt cần có các yếu tố: đam mê, năng khiếu

bẩm sinh, thâm niên nghề nghiệp và lòng tin. Anh nói: “Muốn trở thành

chuyên gia nếm thử rượu giỏi cần phải nếm rất nhiều, không ngại khó, ngại

khổ và sẳn sàng đi xa để thăm thú các vườn nho, chịu hy sinh về tiền bạc để

có thể cập nhật những thông tin mới nhất và nếm những loại rượu hiếm hoi

nhất. Người ta có thể tiếc vì mua một món đồ đắt nhưng sẽ không tiếc khi

mua một chai rượu đắt để đãi bạn hiền... Mọi cái đều phải trả giá và không

ai có thể thành công mà không vấp ngã một vài lần”. Theo anh, một chai

rượu vang ngon phải được cảm nhận bằng các giác quan thông qua ba giai

đoạn sau: Kiểm tra bằng mắt: phải quan sát màu sắc, sắc thái, độ trong suốt

và độ ánh của rượu. Kiểm tra bằng khứu giác: cảm nhận hương thơm của

rượu bằng cách ngửi rượu xem đó là mùi của trái cây hay hoa cỏ đồng nội.

Cuối cùng là kiểm tra bằng vị giác: phải phân biệt được các vị khác nhau của

rượu như độ lan toả, độ sánh, độ cồn. Rượu vang ngon phải tổng hợp hài hoá

nhiều vị khác nhau chủ yếu là vị chua, ngọt và chát. Anh ví von: “Rượu vang

ngon như một cô gái đẹp nên khi thưởng thức phải biết nâng niu. Rượu cũng

có đời sống như người đẹp... Khi rượu đạt đến độ tuyệt đỉnh cũng như một

phụ nữ đạt đến độ chín của tài và sắc...”

Là một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới và nhất là người Châu

Á hiếm hoi trong làng nếm thử rượu vang nhưngTô Việt khiêm tốn bảo:

“Trình độ của tôi cũng chỉ là hàng học trò vì còn phải học hỏi nhiều. Rượu

vang là một thực thể lung linh luôn biến động, đòi hỏi mỗi chuyên gia thử

nếm phải thường xuyên trau dồi nghiệp vụ chuyên môn, không lúc nào đựơc

tự cao tự đại, thoả mãn là tự giết chết mình”.

Dòng máu Việt trong huyết quản

Tô Việt tâm sự: “Thị trường rượu vang Việt Nam phát triển rất mạnh

trong 2 - 3 năm gần đây do mức sống người dân được nâng cao, do khách du

lịch vào nhiều và ít nhiều cũng do cả ảnh hưởng của Văn hóa Pháp. Người

Việt Nam sử dụng chủ yếu các loại vang có chất lượng trung bình và giá tiền

hợp vói mức thu nhập của mình.Trong tiềm thức của người Việt, đã là rượu

vang Pháp thì phải là vang Bordeaux, tuy Bordeaux cũng chỉ là một trong

nhiều vùng trồng nho... Xuất phát từ nhận thức mơ hồ như vậy nên trình độ

thưởng thức vang của đại đa số vẫn dừng ở mức độ uống cho có không khí,

uống như uống rượu mạnh, uống 100%. Một anh bạn Việt kiều, chủ một

tiệm ăn có tên tuổi ở Hà Nội kể với tôi: “Nhiều lúc tớ đau lòng lắm cậu ạ.

Hôm vừa rồi có 5 thanh niên vào ăn, đòi chủ quán đem ra loại rượu vang

mắc tiền nhất. Lẽ dĩ nhiên là tớ đưa ra giới thiệu sản phẩm Barolo của nhà

sản xuất lừng danh Antinori. Họ lấy liền một lúc 4 chai, giá mỗi chai 250

USD. Nhưng họ uống như uống nước lã hoặc bia hơi, toàn “dô, dô, 100%”.

Một sản phẩm văn hóa như rượu Barolo lẽ ra phải được nâng niu, trân trọng,

uống nhâm nhi. Nói vậy để biết cậu còn có rất nhiều việc phải làm”.

Và Tô Việt quyết định về Việt Nam

Lúc mới về Việt Nam, nhiều bạn bè thân của tôi chân tình góp ý, khuyên

nên quay lại Pháp vì họ cho rằng cuộc sống ở quê mình còn nghèo khó lắm.

Thậm chí có người còn nói thẳng: “Cậu ở bên ấy đang yên ấm, lương làm 6

tháng cũng đủ sống cả năm, tội gì về đây để làm việc gì cũng như húc đầu

vào bức tường đá? Ở bên ấy nhà cửa đàng hoàng, về bên này tứ cố vô thân...

Quả là thời gian đầu thấy sự mất mát khá lớn: vợ chồng phải xa nhau, tốn

kém về kinh tế vì phần lớn vé máy bay đi về giữa Pháp và Việt Nam do

mình tự lo liệu, phong thổ không hợp vì mình đã sống quá lâu bên Pháp...

Nhưng suy đi tính lại thì thấy chẳng đâu hơn nơi mình đã sinh ra và lớn lên,

với những sắc mầu gợi lại tuổi thiếu thời, con đường mình thường đi, bóng

dáng người con gái đầu tiên mình yêu, rồi bè bạn, gia đình, mùi hoa phong

lan trong mảnh vườn nhỏ nhà bên cạnh, tiếng đàn dương cầm trong hẻm

phố... Nhưng hơn cả vẫn là tiếng nói tự đáy lòng: bên Pháp, dù có giỏi, mình

cũng chỉ là một chuyên gia trong hàng ngàn chuyên gia khác, còn ở Việt

Nam, mình có thể giúp được rất nhiều trong việc quảng bá văn hóa rượu

vang”. “Đến nay công việc của anh tại Việt Nam là gì?” Tôi hỏi. Tô Việt cho

biết: “Tôi về Việt Nam với tư cách là Giám đốc chương trình văn hoá rượu

vang do Chính phủ Pháp tài trợ với sự hợp tác của nhiều trường đại học ở Hà

Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt. Tôi đang đào tạo cho cán bộ cao cấp

của ngành ngoại giao, thương mại, ngân hàng, tài chính, du lịch, hàng không,

đường thuỷ, những chuyên gia phục vụ tại các nhà hàng, khách sạn, chủ đại

lý bán rượu bia và bất kỳ ai quan tâm đến văn hoá rượu vang. Người dự khoá

học đến khi kết thúc sẽ được cấp chứng chỉ của Hiệp Hội Chuyên gia thử

nếm rượu vang quốc tế ASI. Tuy nhiên, điều tôi muốn làm lại xuất phát từ

sâu thẳm trái tim: tôi muốn mang những hiểu biết, kiến thức và sức lực của

mình để phục vụ cho quê hương. Ai cũng có nguồn cội để quay về”.

M.D

Chuyên gia rượu quốc tế Tô Việt

• Sinh năm 1958, tại Hà Nội • Tốt nghiệp khoá 11 - Đại học Ngoại giao

năm 1981. • Thạc sỹ Công pháp quốc tế tại đại học Nice (Pháp).

• Thạc sỹ Luật và Kinh tế các nước đang phát triển tại Đại học Nice

(Pháp).

• Chứng chỉ Chuyên gia thử nếm Rượu vang tại Trường Trung học Du

lịch - Khách sạn Nice (Pháp).

• Thành viên Hội thử nếm Rượu vang quốc tế (ASI)

• Thành viên Hội thử nếm rượu Pháp (USDF),

• Giải “Pioneer Award” dành cho người có nhiều cố gắng quảng bá Văn

hóa rượu vang ở Việt Nam nói riêng và Châu Á nói chung tại cuộc thi quốc

tế Rượu vang Starwine lần thứ hai (23 - 27/02/2005) ở Philadelphia (Mỹ)

• Giám đốc Chương trình đào tạo Chuyên gia thử nếm rượu vang Việt

Nam (PFSViệt Nam) 2004 - 2005 do Hội thử nếm rượu vang quốc tế, Hội

đồng hành chính vùng Languedoc - Roussillon và Hội những người bạn Đà

Lạt (Adaly) thành phố Montpellier (Pháp) tài trợ.

• Giảng viên liên kết của các trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học

Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh, trường Cao đẳng Công nghiệp Thực

phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Đà Lạt, trường tư thục Du

lịch - Khách sạn Hoa Sữa Hà Nội.

• Cố vấn xuất nhập khẩu và đào tạo cho các công ty “Les Celliers

d’Asie”, “Ware House”, “Arowines”, “Ladofoods”, “Dalatfoods”, “Van

Gres”, các tập đoàn khách sạn “Accord” và “Six Sens” Việt Nam.

• Tùy viên pháp ngữ “Vì sự phát triển lâu dài” của Hội những người bạn

Đà Lạt (Adaly) thành phố Montpellier (Pháp).

Bài phát biểu tại hội thảo rượu champagne, Hà Nội, 24/11/2005

Rượu vang nói chung và rượu champagne nói riêng, từ trưóc đến nay,

luôn luôn là một chủ đề được mọi người thích thú mạn đàm như một chủ đề

gắn liền với hội họa, văn chương, âm nhạc, ngoại giao, quân sự và phái đẹp.

Trong một bữa ăn tại một tiệm ăn sang trọng, ở bất cứ đâu, sự có mặt

của một chai champagne trên bàn tiệc bao giờ cũng là một sự kiện đáng ghi

nhớ: nút chai bật nổ như tiếng cười trong trẻo của thiếu nữ dậy thì, vị giác và

khứu giác ta chỉ vừa cảm nhận thấy mùi vị tuyệt vời, quyến rũ của hương thì

thị giác đã no nê với màu sắc rực rỡ của nhãn chai, vẻ lung linh huyền ảo của

chất lỏng trong chai, nét mảnh mai của dòng bọt sủi lăn tăn và sau đó nổ

tung như một chùm pháo hoa, nhất là chuyển động từ dưới lên trên của bọt

rượu làm ta liên tưởng đến những vui thú của cuộc đời như một dòng sông

trôi về vô tận. Thính giác cũng dỏng tai lắng nghe tiếng nút chai nổ bốp vui

vẻ hay thở dài ngao ngán.

Nói đến rượu champagne trong một buổi Hội thảo như ngày hôm nay,

tôi không hề có tham vọng truyền bá một kiến thức uyên thâm mà nhằm trao

đổi thông tin, giải thích và làm cho tất cả mọi người hiểu được:

- Lịch sử rượu champagne và cách nhận biết một chai rượu ngon qua các

tố chất hương vị và sự cấu thành của rượu.

- Lựa rượu champagne cho các món ăn

- Chia sẻ niềm vui sống...

Trước cả tôn giáo, rượu vang nói chung và rượu champagne nói riêng

mang lại cho người ta cảm thức về một tình trạng siêu thoát hay một viễn

tưởng giải thoát khỏi sự hạn hẹp của kiếp nhân sinh.

Người Pháp cho rằng rượu champagne là biểu hiện rõ nét nhất của tự do

- bình đẳng - bác ái, vì nó không là đặc quyền đặc lợi của một giai cấp nào

mà của chung tất cả mọi người. Trong công chuyện làm ăn, ly rượu

champagne dễ dàng thay thế một tách cà phê, vì nó sẽ làm cho câu chuyện

trở nên hấp dẫn. Nó sẽ xoá dần mọi trở ngại và làm cho các quan điểm đối

nghịch trở nên gần nhau hơn.

Rượu champagne còn là cầu nối của các dân tộc. Nếu như Đô đốc Hải

quân Nelson của Anh từng nói “phải căm thù người Pháp như căm thù quỷ

dữ”, ông lại là người vô cùng thích uống rượu champagne. Uống rượu

champagne cũng là cách để chứng tỏ cho người khác thấy đẳng cấp xã hội

của mình. “Hãy nói cho tôi biết bạn ăn uống gì, tôi sẽ nói bạn thuộc đẳng cấp

nào trong xã hội”, câu ngạn ngữ này lúc nào cũng đúng vì nếu bạn gọi một

chai champagne trong một tiệm ăn thì điều đó chứng tỏ sự thành công trên

thương trường hoặc địa vị xã hội của bạn. Đó cũng là một nét rất đặc trưng

của văn hóa phương Tây.

Rượu champagne là cánh cửa của mộng mơ và niểm hoan lạc không bao

giờ dứt. Nhiều khi trong khi sử dụng rượu champagne, bạn sẽ tình cờ trở

thành nhà văn hay nhà thơ với những ý tưởng táo bạo bồng bềnh trong đầu

như những đám mây trắng xốp.

Uống toàn rượu champagne trong một bữa ăn có lợi thế là bạn sẽ không

phải pha trộn các loại rượu, vì thế đầu óc sẽ tỉnh táo, cơ thể nhẹ nhàng.

Rượu champagne có thể coi là loại rượu vang duy nhất có thể phục vụ

với tất cả các món ăn trên bàn tiệc vì nó rất hài hòa với các mùi vị và chất

liệu khác nhau.

Rượu champagne đem đến cho khách sành ăn niềm hân hoan, cuồng

nhiệt và những khoảnh khắc hiếm hoi của sự trao đổi và chia sẻ.

Đối với văn nghệ sỹ, rượu champagne là nguồn cảm hứng, là một nhân

tố không thể thiếu của hội hè và văn hóa.

Uống rượu, trong bất kể tình huống nào, phải là những khoảnh khắc

tuyệt vời trong như pha lê của niềm hạnh phúc chia sẻ cùng bè bạn. Rượu

champagne uống có mức độ sẽ là người bạn đồng hành thân tín luôn sánh

bước cùng ta trên những nẻo đường của một chủ nghĩa hoan lạc tinh xảo

nhưng không vì thế mà tách rời với đời thường.

Nếu như ngày xưa phụ nữ uống rượu phải vụng trộm, uống rồi đỏ mặt

lên, ý tứ nhìn người yêu hay chồng với một ánh mắt chứa chan bao điều

muốn nói thì ngày nay các cô gái trẻ không còn phải giấu giếm khi uống

rượu và cũng không hề đỏ mặt ngượng ngùng khi nhìn vào mắt người yêu.

Điều đó chứng tỏ xã hội đã có một cách nhìn nhận khoan dung, độ lượng

hơn đối với phụ nữ.

Một cô bạn nhà báo Pháp từng nói với tôi “Với rượu Whisky, cậu không

thể chinh phục được phụ nữ, nhưng với rượu champagne thì điều đó trở nên

đơn giản”.

Rượu champagne có sức quyến rũ với nhiều lợi thế: nó đưa lại niềm vui,

làm cho buổi mạn đàm trở nên náo nhiệt, người thuyết trình trở nên tự tin

hơn, lạc quan hơn, choáng ngợp trong hạnh phúc và niềm vui sống.

Rượu champagne cũng được nói đến nhiều như là hình ảnh của những

tình yêu vụng trộm. Nhưng rượu champagne cũng là người bạn đồng hành

của những cặp tình nhân, những đôi vợ chồng thủy chung như nhất, cùng

chia sẻ những giây phút tuyệt vời của năm đầu mới cưới. Nếu trong tình yêu

có những phút sóng gió thì rượu champagne sẽ là tố chất hòa giải không thể

thay thế được.

Rượu champagne là rượu của hoan lạc, nhưng cũng là rượu để giải sầu.

Nếu bạn thất bại trong tình yêu hay trên thương trường, rượu champagne sẽ

giúp bạn quên đi những mặc cảm, tâm tư, giúp bạn vững tin hơn và sẵn sàng

vượt qua những khó khăn, thử thách để tìm đến một tương lai tươi sáng. Đầu

thế kỷ 20, tiêu chí tuyển chọn kỵ binh trong một số trung đoàn kỵ binh tinh

nhuệ của Pháp là trong 3 giờ đồng hồ các tân binh cực kỳ khỏe mạnh phải

vượt một quãng đường 30km với 3 con ngựa bất kham, làm tình với 3 cô gái

làng chơi và uống hết 3 chai rượu champagne. Tiêu chí này ở kỵ binh Anh

còn khó hơn nữa vì quãng đường phải vượt qua là 30km và 48km.

Sau khi về đích, chàng tân binh hân hoan hát bài “Ta uống rượu

champagne vì ngựa, vì phụ nữ và những kẻ khuất phục được những sinh vật

cứng đầu cứng cổ này. Quân chủng kỵ binh muôn năm!”.

Cố Thủ tướng Anh Winston Churchill từng đặt tên rượu champagne Pol

Roger cho 1 con ngựa của ông. Tổng thống Mỹ Gerald Ford chỉ uống rượu

California với một ngoại lệ rượu nước ngoài duy nhất là rượu champagne

Pháp.

Rượu champagne có một ma lực huyền bí: nó kích động công chúng và

tạo ra ảo tưởng là sự hoàn thành tất yếu của một giấc mơ rất lâu không thực

hiện được. Nó vừa là vật thể vừa là phi vật thể. Nó là sự chuyển hóa từ vật

chất sang tinh thần mà ta thấy rất rõ qua thành cốc thuỷ tinh.

Louis Pasteur cho rằng triết lý trong một chai rượu champagne còn hơn

tất cả sách vở trên thế giới. Còn Max Jacob thì quả quyết rằng tiếng rì rào

của bọt rượu champagne khi chạm vào thành cốc thủy tinh giống như tiếng

sóng ru bờ cát.

Vì thế, trước, trong và cả khi kết thúc hội thảo này, mong các bạn hãy

mở lòng đón nhận hình ảnh đầy thơ mộng của rượu champagne, Hoàng đế

của rượu vang và Hoàng đế của đàn bà đẹp, như một kho báu của tâm hồn,

với những đam mê, dằn vặt, khổ đau và khát khao tình yêu cuộc sống.

Xin cám ơn sự chú ý của tất cả các bạn

.

Hà Nội, ngày 24/11/2005

.

Tô Việt.

Tô Việt - duyên nợ, đam mê và thành công

Báo CuoihoiNet - Mục Chân dung Doanh nhân

Một cách tình cờ tôi

biết đến công ty của anh và

khi liên hệ với anh qua điện

thoại tôi đã hình dung đó

phải là một con người thật

lịch lãm. Nhưng giọng nói

trầm ấm và lịch thiệp ấy lại

mang đến một cảm giác gần

gũi lạ lùng. Sự hiếu kỳ

trong tôi càng tăng khi biết

anh là người rất nổi tiếng

tại đất nước Việt Nam xinh

đẹp này. Bắt đầu từ sự tò mò đến khâm phục, ngưỡng mộ, đó là những gì tôi

có thể nói sau buổi gặp gỡ với anh. Tôi đã đứng đợi và đi thang máy cùng

anh song tôi không thể nghĩ đó là anh. Và đến khi biết chắc là thế thì tôi đã

không khỏi thốt lên tiếng kêu ngạc nhiên. Anh khác xa với những gì tôi hình

dung, bình dị và mộc mạc, nhưng cái sự thân mật vẫn mãi hồn hậu như tự

nhiên phải là thế.

Nếu bạn là người am hiểu về rượu vang, hẳn bạn phải biết đến những

dòng vang Pháp, Italia, Tây Ban Nha hay Hungari..., và sẽ biết đến anh

trong thế giới của những chuyên gia thử nếm rượu vang. Đó là Tô Việt - một

chuyên gia người Pháp gốc Việt hàng đầu thế giới trong lĩnh vực thử nếm

rượu vang. Gắn liền với tên tuổi của một Tô Việt thành danh ngay tại quê

hương là nước Pháp hào hoa, phong nhã ấy là một người thoạt nhìn “hết

sức” bình thường. Không chau chuốt bề ngoài như vẻ tráng lệ vốn dĩ của

Pháp, không cầu kỳ, kiểu cách như cái “danh” anh đang có, không tự phụ,

không kiêu hãnh với những gì anh đã trải qua..., đó là tất cả những gì đẹp đẽ

đến không tưởng mà tôi cảm nhận được từ con người anh toát ra. Người ta

có thể biết nhiều về anh với những thông tin sát thực cho những thành công

trên khắp nẻo đường thế giới anh đã đi qua, bất kỳ nơi đâu bước chân anh

đặt đến, có thể là Châu Âu, Châu Á hay một châu lục nào đó..., sự chào đón

nồng nhiệt của những người dân trồng nho, sản xuất rượu, hay các nhà chức

trách, giới chuyên gia...luôn là sự thể hiện niềm tin yêu và mến mộ anh sâu

sắc. Tô Việt đáng được nhận những tình cảm chân thành như thế cho tất cả

những gì anh đã nỗ lực cống hiến trong lĩnh vực truyền bá nền văn hóa rượu

vang này. Song, sẽ có một điều ít ai ngờ rằng cái thú tao nhã đó lại được ấp

ủ, nuôi dưỡng từ khi anh còn rất trẻ và cũng lại từ những câu thơ đầy hình

ảnh sinh động của một thi sĩ người Pháp thế kỷ thứ 19 “Trong mỗi chai rượu

vang có một linh hồn. Đêm đêm, linh hồn đó nhảy múa” (Charles

Beaudelaire). 26 tuổi, thi đậu học bổng Công pháp quốc tế và theo học tại

đại học Nice (Pháp) và cái duyên nợ đã thật khéo đưa anh đến với vùng đất

là cửa ngõ biên giới giữa Pháp và Italia - nơi giao nhau của hai nền văn hóa

rượu vang lâu đời nhất của Châu Âu. Và cái duyên ấy cũng một lần nữa lại

khéo sắp đặt để anh được gặp gỡ với chuyên gia rượu giỏi nhất Châu Âu

năm 2000 - ông Frank Thomas - người đã khơi dậy sự đam mê về rượu vang

trong anh. Cái khao khát của tuổi trẻ, cái sức mạnh tuổi thanh niên, cái đam

mê của người am hiểu, cái năng khiếu bẩm sinh của một thiên tài, thêm cái

duyên nợ với vang đã lôi cuốn anh vào cái thế giới thanh tao và quý tộc đó -

một sức cuốn không thể cưỡng.

Sự dìu dắt của chuyên gia hàng đầu thế giới cùng những nỗ lực tự thân

cao độ đã giúp anh khám phá vô vàn những điều mới lạ trong “văn hóa rượu

vang”. Đi nhiều, hiểu nhiều, biết nhiều, Tô Việt đã nhanh chóng trở thành

“hợp thể” của một nghệ sỹ danh tiếng với cái hồn của một nhà văn, một nhạc

sỹ và một họa sỹ. Chính điều kỳ diệu đó đã giúp anh có thể nắm bắt được

“cái hồn” tinh túy của rượu và thể hiện nó bằng ngôn ngữ của một tiết chế

nghệ thuật đầy hoan hỉ, trừu tượng, và siêu phàm song lại hết sức cụ thể và

chính xác.

Trước sự ngạc nhiên của đồng nghiệp, của người dân nước Pháp, của

bạn bè trên toàn thế giới, của những ai đã từng gắn bó cùng anh trong những

ngày tháng “rong ruổi” với văn hóa rượu vang, anh đã quay về đất mẹ với

niềm mong ước cháy bỏng được truyền bá nét văn hóa độc đáo này. “Rượu

vang là một thực thể lung linh biến động, mỗi chai rượu sẽ ẩn chứa một linh

hồn” - hiểu được điều đó mới thấy để biết thưởng thức thôi cũng không phải

là chuyện đơn giản. Mang tất cả những gì đã dày công vun đắp bao năm qua,

bỏ lại sau lưng những thú vui sum vầy cùng gia đình, những khoản chi phí

khổng lồ mỗi lần đi lại giữa hai quê hương Pháp, Việt, anh đã quay về nơi

chôn rau cắt rốn, quay về với những hoài niệm tuổi thiếu thời, với bóng dáng

người con gái đầu tiên, với mảnh vườn tỏa hương phong lan thơm ngào ngạt

của nhà bên... Đó là quyết định của anh - một chuyên gia hàng đầu thế giới,

người Châu Á hiếm hoi, người Việt Nam duy nhất trong làng nếm thử rượu

vang quốc tế được nhận giải thưởng cao quý Pionnier Award tại Philadelphia

(Mỹ), một thạc sỹ Công pháp quốc tế, một thạc sỹ Luật và kinh tế các nước

đang phát triển... Tôi không thể kể hết những cái “danh” anh đang gánh trên

vai, dường như nó quá nặng với một con người Việt Nam bé nhỏ trong tầm

vóc quốc tế, song lại quá lớn trong niềm tự tôn dân tộc - đó là anh - một

người sinh năm 1958, chảy trong huyết quản dòng máu Việt để biết trong

sâu thẳm trái tim là mong muốn cống hiến cho quê hương đất nước, để biết

rằng “Ai cũng có nguồn cội để quay về”./.

Phương Anh

Nâng cao chất lượng rượu vang Việt Nam lên tầm quốc tế

(13:49’ 06/12/2005 (GMT+7) Người Viễn Xứ)

Minh Diệu - Thùy Mai

Chuyên gia Việt kiều Tô Việt đang trình bày về cảm quan và chất

lượng rượu vang tại lớp học

Sáng ngày

05.12.2005, Công ty Cổ

Phần Thực Phẩm Lâm

Đồng đã phối hợp với

ông Tô Việt, Việt kiều

Pháp - chuyên gia cao

cấp rượu vang thế giới,

Giám đốc chương trình

văn hóa rượu vang Việt

Nam tổ chức hội thảo

chuyên đề mang tên

“Cảm quan và đánh giá

về chất lượng rượu vang

Việt Nam”.

Sau buổi hội thảo này là một khóa bồi dưỡng và đào tạo ngắn hạn kéo

dài ba ngày (từ thứ hai 05/12 đến thứ tư 07/12/2005) nhằm bổ sung kiến

thức, bồi dưỡng những nghiệp vụ chuyên môn sâu về văn hóa rượu vang

cũng như những cách thức trong việc tuyển lựa chất lượng giống nho và

những yếu tố khác nhằm tìm cách nâng chất lượng rượu vang trong nước,

đặc biệt là rượu vang Đà Lạt lên tầm quốc tế.

Anh Phạm Hữu Hà, nhân viên phòng tổng hợp công ty Cổ Phần Thực

Phẩm Lâm Đồng cho biết: đây là lần đầu tiên công ty đã mời một chuyên gia

người Việt có quá trình công tác lâu năm tại nước ngoài, có kinh nghiệm và

bề dày về rượu vang đến giảng dạy và chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực

cảm quan và văn hóa rượu vang.

40 thành viên đã theo học và sau khóa học này họ chính là những người

truyền đạt và hướng dẫn trực tiếp lại cho công nhân của nhà máy, những

người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và chế biến rượu vang.

Được biết, hiện tại có khoảng 100 công nhân đang làm việc tại các bộ

phận sản xuất và chế biến của công ty. Cũng theo anh Hà, hiện tại sản phẩm

rượu vang của công ty ngoài việc phân phối trong nước cũng xuất khẩu đi

một số nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và Campuchia.

Trong tương lai, công ty dự kiến sẽ đẩy mạnh việc xuất khẩu sản phẩm

đi nước ngoài và dự kiến sẽ tiến hành mở rộng thị phần xuất khẩu này.

Trong hướng phát triển của mình, Công ty cổ phần thực phẩm Lâm

Đồng sẽ chú trọng việc xuất khẩu rượu vang Đà Lạt sang các nước nhất là

những nước có đông người Việt sinh sống.

Trên thế giới hiện nay có khoảng 8 triệu ha đất trồng nho đề làm rượu

vang. Tại Việt Nam, rượu vang Đà Lạt đang từng bước khẳng định uy tín,

thương hiệu của mình và được nhiều nước nhất là cộng đồng người Việt ở

nước ngoài ưa chuộng như tại Nhật, Malaysia...

Theo chuyên gia Tô Việt, văn hoá rượu ở Việt Nam đã có từ lâu trong

tổng thể văn hoá ẩm thực của dân tộc nhưng rượu vang còn ít người biết cảm

thụ và thưởng thức. Trong quá trình hội nhập quốc tế và bùng nổ du lịch,

khách nước ngoài, Việt kiều về nước đầu tư, làm ăn ngày càng đông nên việc

nâng cao kiến thức về văn hoá rượu vang cùng các dịch vụ về du lịch, nhà

hàng, khách sạn rất cần thiết..

M.D - T.M

Hội thảo rượu champagne và Alsace tại Hà Nội

CuoihoiNet

9h00 ngày 15/12/2005 tại Trung tâm thể thao văn hóa - 65 Quán Sứ - Hà

Nội sẽ diễn ra hội thảo rượu champagne và Alsace. Đây là một trong những

hội thảo về rượu champagne được tổ chức thường niên tại Việt Nam nhằm

truyền bá nền văn hóa rượu. Hội thảo được tổ chức với sự có mặt của công

ty Thiên Linh Wine và chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực thử nếm

rượu vang - Tô Việt. Tại hội thảo lần này, ông Tô Việt (giám đốc đào tạo và

quan hệ quốc tế, chuyên gia

quốc tế rượu vang, thành

viên Hiệp hội thử nếm rượu

vang quốc tế...) sẽ có bài

phát biểu về lịch sử rượu

champagne và cách nhận

biết một chai rượu hảo

hạng, cũng như việc lựa

champagne cho các món ăn

phù hợp...

Thực chất, văn hóa

rượu đã có từ lâu đời trong

tổng thể nền văn hóa ẩm

thực ở Việt nam, song về rượu vang thì ít người sành trong cả thưởng thức

và cảm thụ. Vì vậy, có thể coi Hội thảo về rượu champagne là một trong

những hoạt động thiết thực nhất thu hút sự tham gia đông đảo của mọi

người. Tại buổi Hội thảo tất cả mọi người đều có cơ hội lắng nghe, giao lưu,

trao đổi với các chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực thử nếm rượu

vang.

Người Pháp luôn tự hào rằng “Không có rượu champagne ngoài nước

Pháp” đủ để thấy rượu vang nói chung và champagne nói riêng được tôn

vinh thế nào tại Pháp - một đất nước đứng đầu thế giới về sản lượng rượu

vang hàng năm, dù diện tích trồng nho tại Pháp chỉ đứng thứ hai thế giới sau

Tây Ban Nha. Tại Pháp rượu champagne được coi là biểu tượng của tự do -

bình đẳng - bác ái, bởi nó không đặc quyền, đặc lợi cho bất kỳ một giai cấp

nào... Và không chỉ có Pháp, ở khắp mọi nơi trên thế giới, nơi nào có sự

hiện diện của thứ chất lỏng mê hoặc đó, nơi đó có sự sáng tạo đến bất tận.

Rượu vang, champagne - những thức uống quý tộc - luôn luôn là một

chủ đề mạn đàm đầy ngẫu hứng và thi vị như mọi chủ đề nghệ thuật khác,

bởi vốn dĩ uống rượu cũng là cả một nghệ thuật và cái nghệ thuật chính

thống này luôn mang đến cho con người một cảm giác bình an, ấm áp. Mọi

câu chuyện sẽ trở nên hấp dẫn hơn nếu có sự góp mặt của một ly champagne,

và mọi khoảng cách, mọi trở ngại sẽ bị xóa bỏ, những quan điểm đối nghịch

vì thế cũng xích lại gần nhau hơn.

Hơn thế nữa, uống champagne là cách chứng tỏ cho người khác biết

đẳng cấp xã hội của bạn, cũng như sự am hiểu của bạn về nét văn hóa độc

đáo này.

Hội thảo hứa hẹn mang lại nhiều điều thú vị, không chỉ đơn giản về

champagne, về vùng đất trồng nho Alsace...

Phương Anh.

Hướng tới văn hóa ẩm thực Pháp

17:17’ 15/12/2005 (GMT+7) Người Viễn Xứ

Nhị Hà

Những hiểu biết lý thú, tinh tế,

đa dạng và phong phú bất ngờ về

hai loại rượu vang khai vị nổi tiếng

có xuất xứ từ Pháp: rượu vang

Alsace và rượu champagne, đã

được ông Tô Việt (Việt kiều Pháp) -

một Chuyên gia về rượu trình bày

tại 65 Quán Sứ - Hà Nội sáng

15/12/2005. Hội thảo dành cho tất

cả những nhà nhập khẩu, phân phối

rượu, những người phục vụ rượu tại

các nhà hàng, khách sạn và những

ai yêu thích ẩm thực Pháp. Có thể

nói, tất cả những người tham dự

Hội thảo trên đã gặp nhau ở niềm

đam mê về rượu cũng như mong

muốn được bổi bổ những kiến thức

quý giá về văn hoá ẩm thực Pháp.

Năm 2005, lần đầu tiên các hội thảo về rượu khai vị kiểu Pháp như trên

được tổ chức tại Việt Nam (2 lần tại thành phố Hồ Chí Minh và 2 lần tại Hà

Nội) đưa lại những thông tin bổ ích cho người quan tâm. Được biết, đây là

một chương trình miễn phí hoàn toàn, nằm trong khuôn khổ của các hoạt

động giới thiệu nền văn hoá ẩm thực Pháp ra thế giới của cơ quan phát triển

các sản phẩm Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm Pháp (Sopexa). Hà

Nội và thành phố Hồ Chí Minh là 2 trong 31 thành phố thuộc 21 quốc gia

trên toàn thế giới tham gia “Lễ hội rượu khai vị kiểu Pháp” - một sáng kiến

độc đáo của Sopexa nhằm quảng bá các sản phẩm nông nghiệp.

N.H

Kỷ niệm xưa

“Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa...”

(16:08’ 26/12/2005 (GMT+7) Người Viễn xứ)

Tô Việt (Việt kiều Pháp) (Chuyên gia nếm thử rượu vang quốc tế)

Chuyến xe Thành Bưởi xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh hồi 18 giờ

ngày chủ nhật đưa tôi lên thành phố Đà Lạt. Theo lịch trình, tôi sẽ lên giảng

về cảm quan rượu vang ở nhà máy rượu vang Đà Lạt trong 3 ngày, từ 05/12

- 07/12/2005.

Đây không phải là lần đầu tiên tôi lên giảng ở Đà Lạt. Từ 2 năm nay,

trong khuôn khổ những hoạt động giảng dạy về văn hóa rượu vang của tôi ở

Việt Nam, tôi thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo và các buổi thử nếm

rượu vang với khách sạn Sofitel Palace Đà Lạt.

Tuy nhiên, mỗi lần lên Đà Lạt thế này, ít nhiều đều có những cảm giác

thương nhớ bâng khuâng.

Đà Lạt gợi cho tôi nhiều kỷ niệm về một vùng xứ lạ tôi đang sống, vùng

Alpes - Maritimes của Pháp. Cũng những con đường ngoằn ngoèo trên núi,

những đồi thông ngút ngàn và đây đó thấp thoáng qua cây lá những ngôi biệt

thự nhỏ mang nét kiến trúc Châu Âu. Không phải ngẫu nhiên mà người Pháp

thời thuộc địa gọi thành phố này là xứ “Thụy Sĩ nhỏ” của Việt Nam, với

những liên tưởng đến khí hậu mát lành, núi đồi, rừng cây, hồ nước.

Xe chúng tôi bị kẹt trong Thành phố Hồ Chí Minh hơn một tiếng đồng

hồ do dân chúng đổ ra những nơi công cộng nhằm theo dõi và cổ động cho

trận chung kết bóng đá khu vực Viêt Nam - Thái Lan. Dẫu không phải là một

fan bóng đá, tôi như cũng hòa chung vào cơn sốt của dòng nguời bất tận

đang nhích từng bước trên các trục phố chính của thành phố. Vào những

ngày như thế này, mới thấy sự kẹt xe ở Thành phố Hồ Chí Minh thật ghê

gớm, chẳng kém gì Paris hay trên các xa lộ mùa hè ở Châu Âu.

Xe ra đến Biên Hòa thì trời lác đác mưa. Một người bạn lữ hành cho tôi

biết năm nay mưa muộn. Hai luồng pha đèn chiếu một khoảng sáng nhạt

nhòa trước mũi xe, những giọt mưa bụi bay xiên ngang lúc dập dồn, khi thư

thả. Hàng quán bên đường thưa thớt, thảng hoặc một vài chiếc xe chạy

ngược chiều với những khuôn mặt mệt mỏi vì thiếu ngủ của hành khách trên

xe làm tôi chạnh lòng nghĩ đến quê nhà, vẫn còn nghèo khó lắm.

Trong những đêm mưa thế này, kỷ niệm tuổi thơ dồn dập về, tíu tít trong

đầu như những bầy ong nhỏ. Thủa ấy, gia đình tôi 5 người sống trong một

căn phòng nhỏ khoảng 20m2 ở phố Thợ Nhuộm - Hà Nội. Cả nhà ngủ trên

một chiếc giường đôi khai nồng mùi nước đái đứa em trai mới lên 3 tuổi.

Giữa nhà là đường máng nước cho cả 2 khối nhà, vì thế mỗi khi mưa to, bố

mẹ tôi phải mang chậu to chậu nhỏ ra hứng nước mưa dột, cả nhà như có

chiến tranh.

Cái giường đôi độc nhất ấy nằm cạnh cửa sổ trông ra sân. Tôi vừa sợ

vừa thích thú ngắm những bọt nước sủi tăm trong sân qua ánh sáng của

những tia chớp. Sau một tiếng sét khủng khiếp làm rung cửa, cậu em út của

tôi òa khóc, vừa ôm chặt lấy mẹ vừa ngây thơ nói: anh Việt nằm ngoài cùng,

thế nếu sét đánh vào anh thì làm sao? Thương anh! Thương anh!

Năm lên 8 tuổi, tôi đi sơ tán. Hành trang chỉ 2 bộ quần áo xanh và con

cá nhựa mầu đỏ Bordeaux là thứ đồ chơi xa xỉ bố tôi mua cho trong một lần

đi công tác ở Liên Xô. Cũng lần đầu tiên tôi thấy những cơn mưa đầu hè, xối

xả. Đang đêm mà cả nhà nao nức dậy lấy đơm đi hôi cá tràn từ ao cá hợp tác

xã lên đường làng. Tôi nín thở nhìn cô hàng xóm học lớp 7 vén quần đi xúc

cá. Tuy là gái nhà quê mà đùi cô trắng quá, nõn nà. Chúng tôi mê mải đuổi

theo những chú cá rô đang ra sức rạch qua đường làng lát gạch. Vô tình,

cùng thò tay vào đơm bắt cá, tay tôi chạm vào tay thôn nữ. Cô rụt tay lại,

không hiểu cô có đỏ mặt lên không, nhưng tôi nhớ rất rõ ánh mắt cô lấp lánh

qua những giọt mưa, làm cho hồn tôi lên mây. Trong nhiều năm trời, cô thôn

nữ ấy là thần tượng của tôi, là mối tình đầu thầm kín của tôi, cho đến khi tôi

rời nông thôn về thành phố.

Thời gian thấm thoát trôi. Rồi các em tôi lớn lên, bố mẹ già đi. Tôi lưu

lạc du học sang trời Tây, lòng vẫn đau đáu nhớ về những kỷ niệm thân

thương nơi quê nhà. Dù là trời mưa ở Pháp, ở Đức, ở Anh hay Mỹ, tôi đều

có những liên tưởng đến các cơn mưa ở Việt Nam. Đến nỗi nhiều khi vào

cuối đông, lặn lội mặc áo gió đi ra phố để cảm nhận cái lơn phơn của cơn gió

lạnh và những giọt mưa bụi mặn mòi ve vuốt má... Chiếc xe vẫn lầm lũi rũ

mưa đi. Mưa ơi, vô tình hay hữu ý, những cơn mưa thi vị giúp cho con

đường dài hơn hay ngắn lại tùy theo tâm tưởng của khách lữ hành...

Chiều nay, trên con đường nhỏ ngoằn ngoèo, cũng những đồi thông nho

nhỏ, cũng cái lạnh buốt thịt da, tôi lại nhớ về Đà Lạt, nhớ về cơn mưa muộn

ở Sài Gòn, nhớ về những kỷ niệm của quê hương một thời luôn nhoi nhói

trong tim...

Alpes - Maritimes - những ngày cuối năm 2005 - T.V

Thư phương xa

Đêm tất niên ở Nice

(11:26’ 04/01/2006 (GMT+7) Nguoi Vien Xu)

Tô Việt (Việt kiều Pháp)

“Ok, tối nay anh và hai đứa nhỏ sẽ lên nhà Nicolas đón giao thừa. Em đã

gọi điện cho Michel, hai vợ chồng nó sẽ ghé qua đón anh vào 7 giờ 15”. Vợ

tôi, vẫn vẻ tất tả thường ngày, tuy đã lấy 1 tuần phép để có thể gần gũi chồng

con nhiều hơn trong quãng thời gian tôi trở lại Pháp, vừa đẩy máy hút bụi

quanh phòng khách vừa nói. Tôi vốn biết vợ không thích đi đường núi ngoằn

ngoèo, vì hay bị say ô tô, nhưng vẫn cố nài nỉ: “Thôi, em cố lên chút xíu, cả

năm chỉ có một ngày”. Đứa con trai cũng hùa theo bố: “Đúng thế, nếu mẹ

không đi thì bạn gái con cũng ở nhà luôn”.

Dù đã làm áp lực đến thế, hai bố con chúng tôi vẫn không lay chuyển

được tình thế. Dọn dẹp nhà cửa xong xuôi, vợ tôi rút cuốn “Cánh đồng bất

tận” mà cô bạn gái phóng viên Người Viễn Xứ tặng trước khi tôi về Pháp,

thoải mái ngả người trên ghế canapé và chỉ loáng sau đã bị hút hồn theo

những nhân vật trong truyện. Lắc đầu chán nản, con trai tôi vào buồng lấy ra

chiếc chăn len nhẹ tôi mang về trong một đợt đi công tác ở Anh, đắp lên

người mẹ. Nó làm thế cho bõ ghét, vì tôi biết vợ tôi không thích chiếc chăn

này, nói đắp vào thường bị ngứa. Nhưng cô ấy vẫn thản nhiên như không có

chuyên gì xảy ra. Hai bố con đành chịu trận, gọi điện khẳng định lại với

Niclolas là sẽ lên 3 người đón tất niên chứ không phải là 4. Cậu bạn tôi lùng

bùng câu gì không rõ trong điện thoại, vẻ không được hài lòng cho lắm.

Nicolas rất muốn vợ tôi lên núi, vì hai gia đình quen biết nhau hơn 10 năm

nay, từ thủa hai đứa chúng tôi sống chết có nhau trong những cuộc đua thể

thao chạy việt dã, marathon hay trèo núi.

Biết đem gì lên nhà Nicolas đây? Suy đi tính lại, tôi chọn trong đống đồ

mang ở Việt Nam về một gói mứt gừng, một gói kẹo lạc, ít bò khô, gọi là

của ít lòng nhiều.

Anh bạn Nicolas của tôi, vốn sinh ra ở Guadeloupe, một tỉnh hải ngoại

của Pháp trong biển Caraibes, rất thích xài đồ ăn Châu Á. Tôi còn nhớ, mội

lần đi Guadelouupe về, thế nào Nicolas cũng mang cho tôi vài chai rượu

Rhum “cất tại nhà - fait main”, anh nhấn mạnh vào chữ “fait main” như kiểu

một anh nông dân chân đất mắt toét cậy cục đem một bình rượu đất nung nút

lá chuối ra thành phố tặng người thân và tự hào khoe: “Rượu này bu nó nhà

em chọn kỹ từng hạt thóc, chưng cất lấy nước đầu tiên, lại còn cất công hạ

thổ 9 tháng mười ngày, mang nặng đẻ đau ghê gớm lắm bác ạ”.

Lo xong khoản khai vị và tráng miệng rồi, tôi xuống hầm rượu chọn vài

chai thết bạn (và cả tự thưởng cho mình).

Xa nhà đã vài tháng, tôi không có thời gian ngó ngàng đến cái “vườn

cấm” nho nhỏ của tôi. Khu vườn địa đàng này chỉ rộng khoảng 4m vuông,

nhưng tôi cũng khéo xếp được vài trăm chai rượu, kỷ niệm của những lần đi

thử nếm khắp nơi trên thế giới. Thôi thì đủ cả rượu Pháp, Tây Ban Nha,

Italia, Australia, Anh, Đức, Thụy Sĩ, Algeria, Ma-rốc, Nam Phi... Đối với

tôi, mỗi một chai rượu có một cuộc đời riêng, một tình cảm riêng, một linh

hồn riêng, một nét văn hóa riêng, muôn màu muôn vẻ... Mỗi khi vào “cái

thế giới của riêng tôi ấy”, tôi ở lại hàng giờ, say đắm trong cái không gian

mờ mờ ảo ảo, nửa tối nửa sáng qua khung cửa tò vò rộng chừng 15cm. Tôi

tưởng như nghe thấy mỗi chai rượu rì rầm ca hát, kể lại cho tôi những gì đã

xảy ra trong thời gian tôi vắng nhà, những vui buồn chúng đã trải qua, những

đổi thay mà chúng cảm nhận được về thời tiết, khí hậu, ánh sáng, về những

tia nắng ban mai, những vì sao le lói, cả những đêm trăng rời rợi khiến cây lá

bên ngoài khung cửa tò vò cũng như sáng rực lên, tràn trề sức sống. Tôi hít

căng lồng ngực cái không khí hơi tù hãm đượm mùi ẩm mốc và phảng phất

hương rượu, cái phần bay hơi tinh túy, phần của các thiên thần “la part des

Anges” đó, như hít hương của vợ hoặc một tình nhân lâu lắm rồi không gặp.

Tôi sờ lên những nhãn chai xù xì hay trơn láng và tưởng tượng đó là làn da

mềm mại của phụ nữ hay một anh lực điền suốt ngày bán mặt cho đất, bán

lưng cho trời. Này nhé, chai rượu Muffalar đến từ Rumania vẫn còn nồng

hương cô gái nông dân vùng núi Carpates. Chai Ice Wine (rượu từ nho thu

hoạch trên tuyết) đến từ Canada mang hơi thở nóng rực của lũ sói săn tìm

hươu Caribou trên băng tuyết tháng 1...

Lần lữa mãi, cuối cùng tôi cũng chọn được 1 chai vang trắng Savoie và

hai chai vang đỏ vùng Provence, niên hiệu 2001.

Michel và vợ đến đón chúng tôi rất đúng giờ. Đêm tất niên, lại thêm cái

lạnh 3

0C khiến trời như cao thêm, mông mênh, với muôn vàn vì tinh tú. Con

đường lên núi thật đẹp, lượn lờ giữa cây lá và những ngôi biệt thự lấp lánh

ánh đèn trang trí của các cây thông, tự nhiên hay nhân tạo. Một cơn mưa nhỏ

chợt đến, chợt đi, chỉ đủ láng mặt đường và lòng chúng tôi mềm lại, với

những xúc cảm lẫn lộn nửa vui nửa buồn. Vui vì sắp được đón năm “Bính

Tuất”, buồn vì sắp phải ly biệt năm “Ất Dậu”.

Hồi ba tôi còn sống, vẫn kể rằng cứ mỗi giao thừa, cậu em trai út của tôi

thường hỏi ba giao thừa là gì? “Là lúc giao nhau của năm cũ và năm mới”.

“Thế năm cũ và năm mới giao nhau vào lúc nào và ở đâu hở ba?”.

Ba giải thích rằng năm cũ và năm mới giao nhau vào 12 giờ đêm, và ở

bất cứ đâu, trong mỗi gia đình, mỗi thành phố, mỗi quốc gia trên thế giới.

Cậu em trai tôi lè lưỡi, nói: “Khiếp, thế giao thừa còn nhanh hơn cả máy bay

phản lực của Mỹ à”.

Xa lắm rồi những kỷ niệm êm đềm ấy. Và cuộc sống vẫn trôi. Nicolas

và lũ nhỏ ra tận cửa đón chúng tôi. Con gái anh tên Laura, còn con trai tên

Jérémy. Laura 11 tuổi, Jérémy 14.

Lâu không gặp, tôi thấy Laura lớn bổng lên, còn Jérémy đã có dáng dấp

của một thanh niên tuy vẫn còn giữ nhiều tính cách hồn nhiên của thiếu niên.

Cả nhà vồn vã đưa chúng tôi vào phòng khách. Vợ Nicolas, Sophie, bận tíu

tít trong bếp. Khi được hỏi chị sẽ đãi khách những gì, chị cười hiền hậu, nói:

“Gan béo, cá hồi hun khói, thịt bò bỏ lò, còn món tráng miệng là kem”.

Chúng tôi ngồi hàn huyên bên lò sưởi rực hồng, nhâm nhi rượu

champagne với bánh mì, trứng cá tầm và pho mát Kiri. Sophie là bác sỹ

chuyên về thể thao, chị mới chuyển phòng mạch từ Nice lên Sainte Blaise từ

hơn một tháng nay và tỏ ra rất hài lòng vì phòng mạch mới của chị chỉ cách

nhà hơn cây số.

Bữa ăn kéo dài khá lâu, vì theo phong tục phương Tây, mọi thành viên

trong gia đình và bè bạn sẽ đón giao thừa ngay tại bàn tiệc. Chai vang trắng

Savoie tuyệt vời với món cá hồi. Nicolas mở một chai vang ngọt

Montbazillac để dùng với món gan béo. Món bò bỏ lò, còn hơi rỉ máu, rất

hợp với hai chai vang đỏ tôi mang lên.

Mải trò chuyện, chợt chúng tôi nghe thấy nhiều tiếng nổ lớn, liên tiếp.

Tôi chạy ra sân. Cả một vùng núi non sáng rực lên dưới ánh pháo bông và

pháo hoa. Thú vị nhất là nhà ai trong xóm còn đốt cả một tràng pháo tép,

chắc mua ở một tiệm tạp hóa Châu Á trong phố.

Chủ và khách hôn nhau, nói những lời chúc mừng cho một năm mới

2006 hạnh phúc, sức khỏe và thành đạt.

Khi chúng tôi xuống núi, đường chân trời phía biển Địa Trung Hải đã có

ráng phớt hồng, báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Xin chúc mừng năm mới

mẹ và các em ở Việt Nam!

Đêm 31/12/2005 - T.V

Những ngày trên đảo Sicile

07:27’ 12/01/2006 (GMT+7) Nguoi Vien Xu

Tô Việt (Pháp)

03.01.2006

Tôi bay từ Nice bằng máy bay của Alitalia, Mac Donald Douglas MD -

80, 2 động cơ phản lực, thường được mệnh danh là taxi bay vì chở được

nhiều khách và điều khiển dễ dàng. Trên đường băng, chiếc máy bay này

giống như 1 con cá lóc khổng lồ, không biết trên trời sẽ ra sao?

Bay 1 giờ 30 phút thì đến Rome, sau đó chuyển máy bay để đi Palermo.

Phi công Italia lái máy bay như lái xe đua Ferrari, chạy nhanh, ngoặt gấp

làm nhiều khi đứng tim hành khách.

Chiêu đãi viên tỉnh khô nói tiếng Italia dù bạn có biết hay không.

Người soát vé ở cửa ra sân bay Fiucimino (Rome) rất hài hước, thấy tôi

là người ngoại quốc, anh kiểm tra hộ chiếu rồi... vờ đưa cho cô gái Sicile

xinh đẹp đứng bên cạnh tôi trước khi cười rất tươi và xin lỗi, cũng bằng tiếng

Italia.

Tiếng Anh: nếu có bạn đọc nào đó phản ánh trên Vietnam Express Daily

rằng trình độ tiếng Anh của nhân viên tiếp thị Vietnam Airlines là không thể

chấp nhận được thì tôi sẽ lấy làm sung sướng được nghe thứ tiếng Anh đó

hơn là nghe chiêu đãi viên hàng không Alitalia nói (tất nhiên, tôi không vơ

đũa cả nắm, có những tiếp viên nói rất giỏi).

Rời sân bay Rome, máy bay bay dọc bờ biển, ở độ cao tương đối thấp,

vì thế tôi có thể quan sát thấy các thành phố lung linh ánh điện như những

chuỗi ngọc trai đeo cổ.

Đến Palermo 11 giờ 30 tối, chậm 40 phút so với dự kiến.

Sân bay sát biển, một bên là những vách núi dựng đứng. Vào phòng chờ

lấy hành lý, tôi thất vọng vì mãi không thấy dây chuyền chuyển động. Đến

khi hành lý chạy ra thì mọi người chen lấn xô đẩy để lấy cho nhanh, chẳng

khác gì cảnh lấy hành lý ở Nội Bài hay Tân Sơn Nhất.

Hải quan sân bay đứng sẵn với chó nghiệp vụ ngửi va ly tìm thuốc

phiện. Tôi liên tưởng đến phim “Bố già” và gia đình Corleonne.

Vừa kéo va ly ra đến cửa, đã thấy cả gia đình Việt kiều Trần Thị Hằng,

Giuseppe Giusto, Salvatore, Daniela ra đón. Giuseppe Giusto, 50 tuổi, chồng

Hằng, làm nghề kiểm lâm. Hằng, 33 tuổi, sang Italia từ năm 1995, làm bác sĩ

châm cứu ở thị trấn Alcamo, cạnh Palermo. Salvatore, 5 tuổi, con trai

Giuseppe và Hằng. Em gái Salvatore là Daniela, 4 tuổi.

Đêm, cả nhà ăn mì gói, uống rượu Nero d’Avola + Merlot. Chai rượu

tương đối ngon, nhưng vì quá mệt sau chuyến đi dài nên tôi chỉ mong bữa ăn

chóng xong để đánh răng đi ngủ.

Ngủ trong phòng tụi nhỏ, 2 giường, 2 máy vi tính, sạch sẽ và ngăn nắp.

Đêm Sicile khá lạnh nên ngủ ngon, chỉ thức dậy lúc 8 giờ sáng, tuy nhiên rất

tiến bộ là không phải nhờ ai đánh thức.

Lẳng lặng đi tắm, đánh răng, rửa mặt. Mặc quần áo xong xuôi thì vợ

chồng Hằng cũng thức giấc. Giuseppe pha cà phê, còn Hằng xuống phố mua

bánh mì.

Cà phê rất ngon, nhưng đặc đến mức người Việt mình gọi là “cà phê

cắm tăm”. Khi Hằng dịch câu nói đùa này của tôi cho Giuseppe nghe, anh rất

khoái và ép tôi uống thêm một tách nữa.

Chúng tôi rời thị trấn Alcamo lúc 9 giờ sáng. Cùng đi với chúng tôi có

thêm 2 người bạn Italia là Giuseppe “pépé”, vì ông đã nghỉ hưu, và cô Tecla,

phụ trách kinh doanh của một hãng rượu ở Palermo.

Ra khỏi Alcamo đã thấy những ruộng nho mênh mông nằm sát đường

quốc lộ hay trên những sườn đồi thoai thoải. Sicile có khoảng 150.000ha đất

trồng nho, lớn hơn cả vùng Bordeaux của Pháp tuy diện tích đảo chỉ có

25.708km vuông.

Cảnh quan Sicile rất đa dạng. Nếu như dải đồng bằng ven biển khá xanh

tốt với những ruộng rau, những vườn cây ăn quả và đồng cỏ thì vùng cao

nguyên (từ độ cao 350m trên mực nước biển) lại khá cằn cỗi, với những

ruộng nho và vườn ôliu, đây đó trên sườn đồi một trang trại bỏ không, hoặc

một xưởng làm rượu đã đóng cửa. Chúng tôi dừng lại tham quan một pháo

đài cổ hoang tàn, xiêu vẹo đã từ nhiều thế kỷ nay, nghe gió hú qua từng kẽ

đá và nhớ về cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với bài hát “hỏi đá rêu phong bao

nhiêu tuổi đời?”. Nhiều thế hệ đã qua đi trên mảnh đất này, nhưng sỏi đá vẫn

trơ gan cùng nhật nguyệt.

Chúng tôi đến lãnh địa Monte Olympo hồi 10 giờ sáng. Lãnh địa này có

800ha đất trồng nho. Các giống nho trắng địa phương nổi tiếng là Cataratto,

Greanico, Grillo và Insolia. Các giống nho đỏ địa phương là Nero d’Avola

và Nerello Mascalese. Lãnh địa có một số giống nho quốc tế như

Chardonnay (trắng), Cabernet Sauvignon, Merlot và Syrah (đỏ).

Xưởng làm rượu được trang bị những máy móc hiện đại nhất thế giới

của Pháp và Italia. Hầm nuôi rượu có 1.000 thùng gổ sồi nhập từ Slovénie.

Sau khi đi thăm các ruộng nho và hưởng cái thú được lội bì bõm trong bùn,

trong cái lạnh 10

0C, chúng tôi quay lại thử nếm:

- Một chai Greanico, nhiều tính chất hoa quả tươi mát;

- Một chai Grillo + Chardonnay, vừa có tính khoáng chất của dòng nho

Grillo, vừa đậm đà, tròn trịa với dấu ấn rõ rệt của dòng nho Chardonnay;

- Một chai Nero d’Avola, mang hương vị hoa quả, mùi đá núi lửa và gia

vị thảo mộc vùng đồi núi;

- Một chai Nero d’Avola + Syrah tinh tế, rất hợp với phụ nữ;

- Và cuối cùng, 1 chai Luxus tuyệt vời, là sự phối hợp của 5 dòng nho

Cabernet Sauvignon, Merlot, Syrah, Nero d’Avola và Petit Verdot.

Niềm hân hoan ấy còn được tiếp tục trong tiệm ăn ngon nhất của thị trấn

Sambucca, với những món ăn rất đặc trưng của đảo Sicile và món mì

Spaghetti “al Dente - giòn sần sật” của Italia. Bữa ăn kết thúc lúc 3 giờ

chiều, với tách “cà phê cắm tăm” đậm đặc đến mức có thể quật ngã bất cứ

thanh niên nào nếu người đó chưa có gì lót dạ.

Cơn mưa núi ập đến tiễn chúng tôi ra cửa. Con đường xuống núi nhòe

trong một tấm màn nước trắng xóa, nhưng hai chiếc gạt nước, dù đã làm việc

hết công xuất, vẫn không xóa được những dư âm của tình bạn Việt Nam -

Italia trong sâu thẳm trái tim.

05.01.2006

Sáng, dậy từ 7 giờ 30 nhưng vẫn nán lại giường thêm chút nữa để tận

hưởng cái cảm giác thú vị của cuộc sống trong một thị trấn nhỏ không có

tiếng ồn. Qua khung cửa sổ trông sang dãy phố đối diện, tôi thấy một cô

nàng dậy sớm đang đứng trên ban công nhìn ra phố. Cái cảm giác ấy thật dễ

chịu làm sao: một vẻ đẹp rất phụ nữ và tươi tắn, một chấm sáng nhỏ lung

linh sưởi ấm cho đời trong buổi mai se lạnh. Tôi không khỏi bật cười khi

nghĩ rằng phụ nữ cũng có lúc ba máu sáu cơn, làm cho ngay cả những anh

hùng hảo hán nhất cũng phải kiềng mặt. Ít nhất là lúc này, tôi thấy lòng mình

ấm lên, mọi mặc cảm, muộn phiền, vất vả, nhọc nhằn của cuộc sống nay đây

mai đó biến mất, và quyết định tung chăn nhỏm dậy để không phí một ngày

tuyệt vời như thế.

Giuseppe và Hằng hôm nay dậy sớm hơn tôi (chắc tại hôm qua đi ngủ

sớm). Giuseppe làm cho tôi một ly Cappuccino và một ly Expresso “cắm

tăm”, Hằng tranh thủ xuống dưới phố mua bánh mì ăn sáng. Giuseppe không

dùng Expresso, nói với tôi rằng bụng dạ anh sáng nay hơi lủng củng.

Trong khi đợi một người bạn Sicile đến đi cùng, tôi tranh thủ vào mạng.

Phương Anh, phóng viên báo Cưới Hỏi Net gửi bài viết về rượu champagne

nhờ mình xem hộ. Cô bé này quả là một hiện tượng độc đáo, rất chăm chú

tìm hiểu về rượu vang và có những bài viết mang tính chuyên môn tương đối

sắc sảo.

9 giờ sáng, Giuseppe “pépé” đến, chúng tôi khởi hành đi thăm một hầm

rượu ở Marsala mang tên hầm rượu Mathia. Công ty tư vấn về tất cả các vấn

đề liên quan đến rượu vang với một phòng thí nghiệm nằm cạnh bãi biển

Marsala và đầu tư có chiều sâu vào 20ha nho, mua ở những vùng tương

đương với khái niệm “Terroir” của Pháp, dù chỉ là vang vùng (IGT).

Giám đốc hầm rượu Mathia, anh Gaspare Vinci, còn rất trẻ, rất đam mê

về rượu. Anh được đào tạo về làm rượu ở Marsala, nhưng cũng như tất cả

các chuyên gia rượu Italia nổi tiếng khác, anh tu nghiệp 5 năm tại vùng

Piemont là cái nôi sản sinh ra các thiên tài về thử nếm và làm rượu.

Đứng từ phía biển, tôi có cảm giác tấm biển đồng in phù hiệu của hầm

rượu hơi kỳ quái, với hình hai chú khuyển đực đang say sưa hoan lạc với

một nàng khuyển cái cả từ phía trước và phía sau. Nhưng tôi tự nhủ: có thể

lắm chứ, người Việt Nam mình chả nói: xực như cẩu, hỗn như cẩu, vậy thì

loạn như cẩu có gì là lạ, nhất là trong những lúc say sưa bí tỉ với thứ chất

lỏng tuyệt vời này? Tuy nhiên, khi tiến lại gần, tôi mới rõ đó là hình chạm

hai con sư tử đực đang vồ xé một con trâu rừng lực lưỡng. Được hỏi tại sao

hầm rượu Mathia lại chọn biểu tượng nói trên, anh Gaspare cười và trả lời tôi

rằng hình tượng sư tử cắn xé trâu rừng là hình ảnh mạnh gắn liền với lịch sử

dân tộc La Mã, vốn đam mê các cuộc đấu giữa nô lệ và thú dữ, hoặc trâu

rừng và thú dữ trong các đấu trường. Vả lại, theo anh, rượu vang của hầm

rượu Mathia mạnh đến mức có thể quật ngã bất cứ tửu đồ lực lưỡng nào. Đó

là chưa nói đến khía cạnh nghề nghiệp trong thời buổi này, muốn cạnh tranh

được với các đối thủ khác cần phải hết sức hùnh mạnh, như beo, như cọp,

như sư tử.

Chúng tôi cùng thử nếm một chai Grillo, một chai Insolia (2 dòng nho

trắng đặc trưng của Sicilia) và một chai Grillo - Chardonnay. Quả thật rượu

rất ngon, nhưng để có thể đè bẹp được mọi đối thủ với rượu này thì tôi chưa

tin lắm. Dù sao sự liên tưởng cũng rất thú vị, nó nói lên tham vọng của một

giám đốc trẻ đầy nhiệt huyết.

Anh Gaspare cũng mời tôi thử nếm một chai Nero d’Avola, một chai

Nero d’Avola - Cabernet Sauvignon và một chai Nero d’Avola nuôi trong

thùng gỗ sồi.

Cũng cần nói thêm là đảo Sicilia không có truyền thống làm rượu Nero

d’Avola trong thùng gỗ sồi, vì các chuyên gia Italia cho rằng giống nho này

không chịu được gỗ sồi; hơn thế, khi nuôi trong thùng gỗ sồi, rượu sẽ mất đi

tính chất hoa quả tươi mát. Anh Gaspare rất khoái khi tôi đưa ra các nhận

xét, đánh giá về rượu vang, và nói anh rất hân hạnh được đón tiếp chuyên gia

rượu người Châu Á đầu tiên đến hầm rượu Mathia, đồng thời bày tỏ với

chúng tôi nguyện vọng của các nhà làm rượu đảo Sicilia muốn hợp tác lâu

dài với Việt Nam trong lĩnh vực này.

Thử rượu xong, chúng tôi lên xe đi thăm các ruộng nho Chardonnay và

Grillo của lãnh địa Mathia. Các ruộng nho này có khi chỉ nằm cách bờ biển

10 - 15m, vì thế các luống nho luôn được những làn gió biển mặn mòi ve

vuốt cả mùa đông lẫn mùa hè, đem lại cái hương vị có một không hai là mùi

i-ốt.

Để có thể vào thăm các ruộng nho, xe chúng tôi chạy dọc bờ biển, qua

vùng làm muối. Gaspare giải thích cho tôi rằng nếu như nước biển có màu

xanh thì nước ruộng muối có màu phớt đỏ vì hàm lượng muối trong nước rất

lớn.

Sau khi thăm các ruộng nho và được Gaspare thuyết trình rất say sưa về

thổ nhưỡng, khí hậu và cách làm rượu ở hầm rượu Mathia, cụ thể đến từng

chi tiết nhỏ, chúng tôi đi ăn trưa trong thành cổ Marsala. Tiệm ăn bình dân,

bàn ghế mộc mạc, song đồ ăn rất ngon và rất đặc trưng (bạch tuộc xào, tôm

hùm nấu mì ống). Ông chủ tự mang tôm cá (vẫn còn giẫy đành đạch do dân

chài vừa mới đánh bắt từ vịnh biển lên) ra cho khách chọn, sau khi nấu xong

lại tự tay phục vụ cho khách để tỏ lòng quý mến theo phong tục Sicilia.

Do người dân đảo Sicilia ăn trưa rất muộn (2 - 3 giờ chiều) nên sau khi

uống cà phê, chúng tôi vội vã đưa Hằng về phòng mạch vì chị có hẹn với

khách đến châm cứu, còn tôi đi tiếp với Giuseppe Giusto và Giuseppe

“pépé”. Buổi chiều hôm ấy, chúng tôi thăm cơ sở sản xuất đồ chuyên dụng

nhà hàng - khách sạn Verat của anh Vito Amodeo, sau đó chạy xe dạo quanh

thành phố Alcamo. Trên một trục chính của thành phố, tôi buột miệng “Cây

Bao báp”. Giuseppe “pepe” nhìn tôi cười và nói “Không phải cây Bao báp

đâu, vì Bao báp mọc ở châu Phi, còn đây là cây Erythria của Sicilia, rất

giống cây Bao báp”.

Chạy chừng 15 phút, chúng tôi vào thị trấn Castellammare và lên đỉnh

cao nhất, nơi có một tiệm ăn nổi tiếng nằm chênh vênh trên vách núi, dưới

chân là vịnh biển sâu thăm thẳm. Trong vịnh có bè nuôi cá hợp tác với Nhật

Bản (cá thu).

Giuseppe “pépé” kể với tôi rằng, năm ngoái, trong một lần biển động, bè

cá bị vỡ khiến một số cá thu thoát được ra ngoài. Tuy nhiên, do không quen

với cuộc sống tự do nên nhiều con lại quanh quẩn vào bờ kiếm mồi và nhiều

người dân ở Alcamo, trong đó có Giuseppe Giusto, đã dùng lao đâm cá bắt

được vài con nặng đến 400kg.

06.01.2006

Là ngày lễ nên Giuseppe và Hằng dậy muộn. Hẹn với vài người bạn đi

uống cà phê trong một quán Bar ở Alcamo. Hằng muốn tôi thử một loại bánh

ngọt với nhân làm từ sữa cừu. Chần chừ giây lát, tôi gọi một chiếc, thấy rất

ngon. Hơn thế, tôi thấy ai vào bar cũng gọi một chiếc bánh này, uống với cà

phê Cappuccino hoặc Expresso. Thấy tôi có vẻ thòm thèm, Giuseppe gọi

thêm một chiếc nữa. Tôi làm ra vẻ từ chối, nhưng khi anh đưa thì ăn ngay.

Ngon tuyệt!

Đi tham quan một hầm rượu (Paradoxo) với Giovanni, phụ trách về

nông nghiệp của tiểu bang Sicilia.

Người phụ trách hầm rượu Paradoxo còn trẻ, rất có cảm tình, tên

Salvatoré Giuffrida. Lãnh địa Paradoxo có 120ha nho, với nhà máy rất hiện

đại, sản lượng 1.000.000 chai/năm.

Ngoài các giống nho địa phương, Paradoxo còn trồng nhiều giống nho

quốc tế như Cabernet Sauvignon, Merlot, Petit Verdot, Syrah (đỏ).

Chardonnay, Viognier (trắng). Sau khi thử nếm, tôi nói với Salvatore rằng

anh rất thành công với các giống nho Petit Verdot, Syrah và Merlot.

Salvatore rất thích thú và nói nếu có dịp anh sẽ gửi sang Việt Nam cho tôi

vài chai niên hiệu 2005, vẫn còn nuôi trong bồn inox.

Trên đường từ lãnh địa Paradoxo về thành phố, Giovanni mời chúng tôi

vào thăm trang trại của gia đình anh (bỏ hoang, chỉ có một công nhân ở trong

ngôi nhà nhỏ bên cạnh để trông nom và làm vườn). Trang trại rất rộng, kiến

trúc kiểu thế kỷ 18 (sau cánh cổng sắt là cả một quần thể khép kín, với sân

gạch ở chính giữa, đối diện với cổng là nhà chính với ban công trông ra

vườn, hai bên là dãy nhà phụ để máy móc nông nghiệp). Giovanni rất hăng

hái vào nhà phụ, thay bộ comple đang mặc bằng một bộ quần áo bảo hộ lao

động, đi ủng cao su ra vườn hái cho chúng tôi cả chục ký chanh và quýt.

Quýt ở đảo Sicile rất đậm đà.

Chiều tối, tôi sang phòng mạch của Hằng ngồi viết lách. Không có cảm

hứng lắm nên giết thời giờ bắng cách lên mạng tìm các hình ảnh về đảo

Sicile.

07.01.2006

Thứ bảy, các nơi đều nghỉ nên ông Eligio Asta, Chủ tịch Liên hiệp các

doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Italia, đồng thời là chủ một hãng bán xe ô tô

Citroen của Pháp ở tỉnh Trapani hẹn tôi và Giuseppe đi ăn sáng. Trên đường

đi gặp Giuseppe Corso, chủ hãng làm đồ gỗ Corso của tỉnh Trapani. Ngoài

các hoạt động về đồ gỗ, Giuseppe còn có ruộng nho và mỗi năm anh đặt làm

khoảng vài chục ngàn chai như là quà biếu của công ty. Uống cà phê và ăn

sáng xong, Giuseppe Corso mời chúng tôi về nhà, đích thân xuống hầm rượu

lấy 12 chai, tặng tôi 6 chai, những người khác 2 chai.

Chiều, tranh thủ làm việc trong phòng mạch của Hằng vì có mạng.

Tối, đi ăn cùng Hằng, Giuseppe Giusto, Eligio Asta và vợ là chị Maria

Asta, Vito Amodeo và vợ là chị Francesca Amodeo ở tiệm ăn trên núi. Đồ ăn

rất ngon, nhưng quá nhiều món làm cho Giuseppe Giusto phải hai ba lần cản

không cho Vito Amadeo gọi thêm món. Kết thúc bữa ăn, chủ quán đem ra 3

chai rượu mạnh, ra sức nài chúng tôi cùng uống. Kết quả là tôi lăn quay ra

ngủ trong xe trên đường về Alcamo. Không biết tôi có ngáy như bò rống hay

không, nhưng khi về đến nhà, tôi cứ để nguyên cả quần áo, chỉ kịp tháo giầy

và tất, nằm vật xuống giường ngủ một mạch đến 8 giờ sáng hôm sau.

08.01.2006

Đánh răng rửa mặt xong, vào bếp, đã thấy Hằng đang dọn dẹp. Nghe

Hằng kể lại là cả nhóm còn ngồi nán lại nhà Hằng đến 3 giờ sáng để chờ lên

mạng xem một vụ xì căng đan liên quan đến con gái một nhân vật quan trọng

trong chính quyền địa phương, nghe đâu các hình ảnh khỏa thân của cô bị

nhân tình đưa lên mạng như vụ Đinh Thoại - Yến Vy hồi nào. Tôi nhớ một

cô bạn nhà báo phàn nàn với tôi rằng ở Việt Nam bây giờ quanh đi quẩn lại

chỉ thấy dân chúng háo hức tìm đọc trên báo các mục cướp, giết, hiếp. Thì

ngay ở Sicile là nơi có truyền thống văn minh Hy Lạp - La Mã từ hàng ngàn

năm nay, những người bạn mới của tôi, tri thức đầy người, còn không thoát

khỏi những ham muốn tầm thường như vậy.

9 giờ 30, một nhóm các nhà sản xuất rượu đến gặp chúng tôi để bàn về

chương trình hợp tác trong tương lai. Họ tỏ ra rất quan tâm đến việc tôi giúp

họ quảng bá văn hóa và các sản phẩm rượu vang đảo Sicilia ở Việt Nam.

Hiền, em gái Hằng, xuống phố mua lên một hộp bánh ngọt. Tôi ăn liền 3 cái,

vì cũng như mọi sáng, Giuseppe Giusto ép uống đến 3 ly cà phê Expresso

“cắm tăm” làm tôi chóng mặt, nhức đầu và ruột non ruột già sôi sục biểu tình

đòi miếng cơm manh áo.

Chiều, tiếp tục làm việc trong phòng mạch. Tòa nhà quá rộng, không để

sưởi nên có lẽ bị cảm lạnh, thấy người gây gây. Tối không muốn ăn cơm,

nhưng Hiền và Hằng nài nỉ mãi nên lên nhà ăn súp. Được cái hoa quả ở

Sicile rất sẵn nên Hiền vắt một lô nước cam cho Giuseppe và tôi. Cô bé thật

chu đáo.

Lần đầu tiên kể từ hôm tôi sang Sicile, đi ngủ từ 8 giờ 30.

09.01.2006

Ngày cuối cùng ở Sicile. Tôi dậy từ sớm tắm rửa và chuẩn bị hành lý.

Lúc đi mang ít đồ, vậy mà khi về tay xách nách mang vì Giuseppe Corso

tặng 6 chai, Gaspare Vinci tặng 3 chai, Giovanni Maggio tặng 1 chai Luxus.

Hiền lại còn chạy xuống phố mua cho 2 ổ bánh mì kẹp xúc xích, nói là để tôi

ăn trong lúc chờ máy bay ở Rome (máy bay đến Rome lúc 2 giờ chiều,

nhưng tôi phải đợi đến 5 giờ hơn mới có máy bay đi Nice) và 1 hộp bánh

ngọt, “quà đặc biệt của Sicile cho chị ấy và cháu Nam”.

Trên đường ra sân bay Falcone, Giuseppe tranh thủ đưa tôi đi thăm Chủ

tịch phòng thương mại và công nghiệp Sicile, ông Giuseppe Pace. Ông này

còn trẻ, rất vui tính, cứ bắt tôi phải đem về Nice 2 chai Marsala và 1 đống

sách vở bằng tiếng Italia, tuy tôi đã giải thích rằng tôi chỉ bập bẹ được chút

ít.

Vào phòng làm thủ tục lên máy bay, Hằng giữ hai túi xách ở ngoài vì sợ

rằng khách đông, người làm thủ tục bay sẽ gây khó dễ. Quả thế, khi cô này

thấy ông khách đứng trước tôi có 2 túi xách to thì cứ nhất định đòi cân, làm

ông này phải chuyển bớt một ít đồ cho vợ. Điều tôi ngại nhất là 6 chai rượu

để trong va ly không biết có bị vỡ không, của một đồng công một nén.

Máy bay ra đường băng, tăng tốc rồi nhẹ nhàng rời mặt đất. Phía bên

phải là biển xanh thăm thẳm, còn phía bên trái là những ngọn đồi thoai thoải

như những phụ nữ để ngực trần, với hoa cúc dại vàng như mắt ai thương

nhớ.

Sicile ơi, tạm biệt!

Thư phương xa

Tết Việt và cành đào ở Nice

07:42’ 17/01/2006 (GMT+7) Nguoi Vien Xu

Tô Việt (Pháp)

Yann, anh ban người Pháp có một thời gian cùng làm việc với tôi ở

Công quốc Monaco, gọi điện hỏi xem vợ chồng tôi có tổ chức ăn uống gì

trong dịp Tết Bính Tuất sắp đến.

Lẽ tất nhiên, từ hai năm nay, năm nào Yann cũng đến cùng cô bạn gái

Sophie, không đúng Tết vì bận việc thì cũng chỉ một vài ngày sau đó. Đặc

biệt, Yann là một trong những người bạn Pháp hiếm hoi rất khoái bánh

chưng, nên năm nào vợ tôi cũng đặt xôm ra vài chiếc, vừa để chồng con ăn

cho thoải mái, vừa để đãi khách của chồng.

Đồ đón Tết, hai vợ chồng tôi đã lo tàm tạm. Bánh chưng đặt đám sinh

viên Việt Nam trường Đại học Văn khoa Nice, măng, miến, mộc nhĩ, đợt về

Việt Nam dạy học vừa rồi, tôi mang sang cả một va ly có dư, giò chả mua ở

cửa hàng tạp hóa người Việt. Chỉ còn thiếu cành đào và chậu quất thì dù ở

xứ người mình vẫn có thể hưởng trăm phần trăm Tết Việt Nam. Vui hơn nữa

là thời tiết dường như cũng chiều lòng người, mấy hôm trước vừa lạnh vừa

có tuyết thì từ sáng nay, trời chỉ còn hơi se lạnh.

Chợt tôi nhớ mấy hôm trước, khi chạy xe qua môt chỗ ngoặt trên núi

cách nhà tụi tôi khoảng năm mươi cây số, trên đường đi Puget - Thénier, có

môt bãi hoang với vài cây đào dại đang trổ hoa rất đẹp. Tôi ướm thử xem

Yann có đồng ý qua nhà đón tôi cùng lên núi để làm cái việc không được

đường hoàng cho lắm là xin thiên nhiên một cành nhỏ đón xuân. Không

ngần ngại, Yann lấy ngay xe hơi xuống Nice. Vừa mới vào phòng khách,

Yann đã hỏi ngay “Việt ơi, tụi mình có thể ghé vào đâu uống chút cà phê

trước khi hành sự được không?”. “Lẽ tất nhiên, tụi mình có cả buổi chiều

nay để làm chuyện đó mà”. Là một chuyên gia rượu trẻ ham học hỏi, khi

cùng làm với tôi ở khách sạn 4 sao Luxe Grand Hotel du Cap Ferrat, mỗi kỳ

nghỉ phép, hai đứa từng ngao du khắp nơi trên đất Pháp, thăm thú các vùng

trồng nho, làm rượu và cũng từng có những kỷ niệm uống rượu vang “lên bờ

xuống ruộng” khi bà xã tôi và cô bạn gái của Yann bận việc không thể đi

cùng.

Tôi lấy áo khoác, rồi hai thằng chúng tôi ra xe, nổ máy, nhằm hướng

Puget - Thénier. Yann cầm lái, tôi ngồi bên. Rời thành phố, bắt đầu vào

đường núi ngoằn ngoèo, chiếc xe như trôi đi trong thời gian, trong khoảng

không bát ngát những rừng cuối đông trơ trụi. Đây đó điểm xuyết một vài

khóm cây thay lá, vàng rực trong ánh chiều tà.Chạy được chừng nửa tiếng,

chúng tôi quyết định dừng xe lại nghỉ trong một làng nhỏ ven đường, nhân

thể ghé vào quán uống cà phê. Chủ quán, một người đàn ông xấp xỉ năm

mươi, vồn vã đón khách với tất cả những gì chân chất của một người “nhà

phê” quen đón dân thành phố lên leo núi.

Hỡi những ai chưa từng một lần ghé vào những quán nhỏ trong một làng

hẻo lánh trên đất Pháp. Những quán này thực sự có hồn. Ta hãy thử tưởng

tượng một ngôi nhà bằng đá, tường dầy gần một thước, với vòm trần thấp mà

những ai cao to gần hai thước như anh bạn Yann của tôi không cẩn thận cúi

gập người thì có thể vỡ đầu sứt trán như chơi. Bàn ghế trong nhà bằng gỗ sến

hoặc gỗ sồi, mặt ghế hoặc bàn đều nhẵn bóng vì nhiều thế hệ trong làng và

cả khách qua đường đã ngồi lên hoặc đặt tay lên đó. Giữa nhà là một lò sưởi

lớn, trên bệ để các vỏ chai rượu vang rỗng hoặc rượu mạnh, kỷ niệm của

những sự kiện đáng ghi nhớ. Cạnh lò sưởi là một thùng rượu vang rỗng bằng

gỗ sồi, trên mặt bày các dụng cụ mở rượu mà nhiều cái đã hàng trăm năm

tuổi. Thấy tôi đi đi lại lại ngắm nghía không biết chán những thứ đồ mở rượu

này, ông chủ quán khẽ khàng gợi chuyện. Biết chúng tôi là chuyên gia thử

nếm rượu chuyên nghiệp, ông cao hứng hẳn lên, kể cho chúng tôi về xuất xứ

của những đồ gia bảo đó.

Thì ra không phải thứ dụng cụ mở rượu hoen gỉ nào cũng tầm thường.

Lần đầu tiên, tôi được biết rằng những người đầu tiên phát minh ra dụng cụ

mở rượu là người Anh. Lúc đầu, đó là một dụng cụ hình chữ T, lưỡi xoắn

bằng thép, nhưng tay cầm có thể bằng gỗ hay một khúc thân cây nho (phải

chăng để nâng cao tính nghệ thuật?). Mãi về sau này dụng cụ mở rượu hình

chữ T mới được cải tiến thành dao mở rượu như bây giờ. Ông chủ quán còn

tự hào khoe trong số đồ mở rượu được trưng bày, có thứ đồ cổ trị giá ngang

một chai rượu vang Pétrus là loại rượu vang Bordeaux mắc tiền nhất. Vẻ bí

hiểm, ông nháy mắt với tôi rồi hạ giọng “Ông có biết tại sao tôi lại để chúng

ở chỗ tranh tối tranh sáng thế không?”. Chừng thấy tôi chậm trả lời, ông

giảng giải “Sự giáp giới giữa ánh sáng và bóng tối bao giờ cũng gợi sự tò

mò, ví như một kẻ nói nửa nạc nửa mỡ, người đàn bà nửa đứng đắn nửa

phong tình. Nhưng thôi, bởi các ông là người sành rượu, tôi xin thết các ông

một sản phẩm cây nhà lá vườn gọi là để làm quen”.

Ông cao giọng gọi “Claire ơi!”. Một giọng phụ nữ du dương đáp lại

“Thưa cha, con đây!”. Rồi như từ một khoảng hư vô nào đó, có thể từ trong

bếp đi ra, có thể từ hầm rượu đi lên, một thiếu nữ mười tám đôi mươi. Trong

khoảng một giây, cả Yann và tôi như bị hút hồn bởi cái luồng sáng huyền bí

ấy. Cô gái vào, như đem vào phòng cái ánh sáng huyền ảo lung linh của

khoảng trời xanh sắp tắt nắng bên ngoài và mùi hăng hăng của thảm lá mục

mùa đông. Cô dong dỏng cao, mặc quần bò, phủ ra ngoài là một chiếc áo len

màu xanh da trời, làn tóc vàng óng ả chảy mượt trên đôi vai gầy nhỏ. Mặt cô

đỏ hồng màu nắng, rõ ra một thôn nữ tiếp xúc nhiều với thiên nhiên. Mắt cô

lóng lánh sắc nâu pha xanh lá cây, cái nhìn chăm chú và mẫn cảm. Đôi chân

nhỏ xinh bó gọn trong đôi giày da thú lót lông bên trong với những dây tua

rua bên ngoài, loại giày của thổ dân da đỏ Châu Mỹ.

Cô khẽ lướt qua, như thể không để ý đến chúng tôi. Ông chủ quán hả hê

ngắm cô con gái xinh đẹp của ông như một anh hà tiện ngắm ngọc ngà châu

báu. “Claire này, con xuống hầm rượu lấy cho cha và hai ông khách đây chai

Vouvray 1989 của nhà làm rượu Huet. Xin giới thiệu để hai ông rõ, nhà làm

rượu trứ danh Huet vùng Loire Valley có họ với gia đình tôi, vì thế tôi mới

dám thưa là hầu rượu hai ông sản phẩm cây nhà lá vườn”. “Vâng, thưa cha”.

Tiếng bước chân nhẹ nhàng rời xa. Chừng vài phút sau, cô gái quay lên với

một chai rượu ngọt màu vàng hổ phách. “Thưa cha, con có phải chuyển rượu

ra bình thủy không ạ?”. “Con gái yêu của cha ơi, chuyển đứt đuôi ra chứ lị.

Con phải nhớ rằng chai rượu này đã có 15 năm tuổi, không thể tránh được có

cặn dưới đáy”. “Vâng, nếu hai ông đây cho phép”. Yann nhanh nhẩu nói

ngay “Xin cô cứ tự nhiên”. Cô gái quay vào bar lấy ra một bình thủy tinh

tròn cao cổ, dùng dao mở rượu cắt một đường xung quanh cổ chai, sau đó

chậm rãi bỏ phần nút thiếc đã được cắt vào một đĩa đựng tách nhỏ bên cạnh,

nhẹ nhàng ấn mũi xoắn vào tim nút bấc, dùng đòn bẩy lấy nút bấc ra một

cách thành thạo, như thể suốt đời cô chỉ làm chuyện đó. Cô xin phép chúng

tôi rót một chút rượu ra ly, khẽ nghiêng người thử nếm, rồi bằng một động

tác quả quyết, đưa bình thủy hướng ra phía cửa sổ và chuyển rượu từ chai

vào bình. Yann và tôi im lặng ngắm những động tác chuẩn xác của con gái

ông chủ quán, không khỏi thán phục. Trong ánh nắng chiều hôm vàng rực

rọi vào phòng qua khung cửa, tôi có cảm giác như cô gái là hiện thân của

dòng chảy vàng óng ấy...

Mãi trôi theo dòng suy nghĩ, tôi chợt giật thót người khi Yann nói “Việt,

mày ngủ hay sao, đã gần sáu giờ chiều, thôi mình thanh toán rồi còn đi lấy

cành đào để còn kịp về Nice trước khi trời tối hẳn”.

Chúng tôi đứng dậy trả tiền, nhưng ông chủ quán nhất định chỉ lấy tiền

cà phê. “Hai ông uống rượu cùng tôi để lấy hên cho cô Claire vừa trúng

tuyển hoa hậu vùng này”. Yann và tôi chẳng biết làm gì hơn là cám ơn ông

chủ quán và chúc cô Claire gặp nhiều may mắn trong những vòng thi hoa

hậu quốc gia và quốc tế.

Mãi tận tám giờ tối Yann và tôi mới về đến Nice. Tết này, trong căn hộ

của chúng tôi, có một cành đào nhỏ cứ sáng mãi lên những đốm đỏ như gợi

lại một kỷ niệm khó quên, đâu đó, qua một chỗ quẹo nơi hẻm núi.

T.V

Tết tha hương này, ai tỉnh ai say?

Tô Việt (Pháp)

Giữ đúng lời hứa, như mọi năm, mấy ngày trước Tết Việt Nam, tôi ghé

qua siêu thị Promo Asia mua 1 hộp mứt và 2 chiếc bánh chưng cho anh bạn

thân Guy Meulnart, chủ lãnh địa Clos Bernarde, một vùng sản xuất rượu có

nguồn gốc xuất xứ được xác định ở vùng Provence, cách thành phố Nice

khoảng 100km.

Siêu thị khá đông người, chủ yếu là người Việt Nam, Trung Quốc, Lào,

Campuchia vào mua sắm Tết, nhưng cũng có cả một vài cặp vợ chồng trẻ

người Pháp, chồng đẩy xe nôi, vợ xách làn đi chợ. Cô bé bán hàng người

Campuchia gốc Trung Quốc, nhưng nói tiếng Việt Nam rất giỏi vì có một

thời gian dài sống ở Sài Gòn. Cô giúp tôi chọn hai chiếc bánh chưng làm ở

Marseille, vì theo cô, “bánh chưng Marseille dền hơn là bánh chưng đặt chị

Lan ở Nice”.

Mọi năm, vợ tôi vẫn thường đặt chị Lan, vì thế tôi lấy thử 2 chiếc bánh

chưng Marseille xem có gì khác. Đi ngang qua quầy đồ hộp, tôi lấy thêm 1

hộp kiệu, 1 hộp vải thiều và 1 chai rượu mạnh Mei kei lu của Trung Quốc.

Thường thì tôi vẫn mang vài chai rượu nếp Từ Sơn (Bắc Ninh) về Nice làm

quà cho bè bạn, nhưng không hiểu sao đợt này gấp gáp quá nên ra đến sân

bay Nội Bài mới ngã ngửa người, không làm thế nào vớt vát lại nỗi đau khổ

ngàn đời đó. Người ta đi một ngày đàng, học một sàng khôn, còn tôi đi đó đi

đây khá nhiều mà đầu óc vẫn quên quên nhớ nhớ.

Ái chà, đúng như cô bán hàng giới thiệu, chuẩn bị cho Tết có khác,

trong siêu thị có đủ cả măng, miến, mộc nhĩ, nấm hương, bánh đa nem, lá

dong, gạo nếp, đậu xanh, bánh, mứt, kẹo hộp lớn hộp nhỏ nhập từ Việt Nam

và Thái Lan, bánh chưng, bánh tét, giò, chả.... Một vài Việt Kiều có nhà trên

núi còn mang cả cành đào xuống bán.

Tôi lân la khoảng nửa tiếng trong siêu thị. Dù đã rất cố gắng, la cà trong

các cửa hàng không phải là cái thú của giới mày râu, càng không phải của

tôi. Họa chăng là la cà trong các cửa hàng bán rượu hay trong các hầm rượu

tranh tối tranh sáng. Cũng xin bật mí ở đây là cảm giác ấy cũng giông giống

cảm giác của anh trai tơ mới yêu lần đầu, anh ta lên chín tầng mây thế nào

trong vòng tay người yêu thì khoái cảm tột đỉnh của tôi khi nhìn thấy chiếc

thùng tô nô trong hầm rượu cũng không hơn không kém.

Xe chạy từ Nice đến Le Luc mất khoảng 1 giờ. Xa lộ A8 đường tốt,

ngày thường lại ít người nên tôi chạy 45 phút đã đến đoạn rẽ vào nhà Guy.

Từ đây, còn phải lấy một con đường nhỏ chạy giữa rừng, dài khoảng 700m.

Lãnh địa Clos Bernarde có khoảng 80ha, trong đó 50ha trồng nho, gồm

các dòng Grenache, Syrah, Cinsault, Mourvedre (đỏ) và Grenache Blanc,

Rolle, Viognier, Clairette (trắng). Đất rất nghèo nàn, chủ yếu là đất cát, sỏi

trên một tầng đá vôi, nằm ở độ cao 150m so với mực nước biển. Toàn bộ các

ruộng nho của lãnh địa Clos Bernarde bị bao bọc bởi các khu rừng sồi và

rừng cây lúp xúp rất đặc trưng cho vùng Địa Trung Hải.

Tôi dừng xe giữa rừng, không dằn lòng được trước một vẻ đẹp thiên

nhiên tuyệt vời như thế. Bây giờ hãy còn là mùa đông. Con đường nhỏ phủ

đầy lá mục kêu lạo xạo dưới mỗi bước chân. Rừng sồi vươn những cành

khẳng khiu trụi lá trên nền trời xanh xám màu chì, bồng bềnh những đám

mây trắng đục. Không gian tĩnh lặng đến mức tôi chỉ nghe thấy tiếng lá vỡ

vụn dưới chân. Cái lạnh, sắc và khô, như cứa vào da thịt.

Đúng như dự đoán, xe tôi chạy vào trong sân, chỉ có con chó Bill cao

lớn lông xù vui vẻ vẫy đuôi ra đón. Guy còn mê mải với công việc trên cánh

đồng nho. Tháng giêng là tháng tỉa cành. Jacqueline, cô bạn gái của anh,

đang đi phố mua sắm.

Tôi rút điện thoại di động gọi Guy. Anh lập cập bỏ tất cả đồ lề vào thùng

xe, chạy ngay về đón tôi.

Guy vẫn như thế, mặc dù tôi xa Nice đã gần 5 tháng. Dong dỏng cao,

đeo kính cận, trông anh giống một nhà khoa học làm việc trong phòng thí

nghiệm hơn là một nhà trồng nho, cho dù anh có là ông chủ lãnh địa đi

chăng nữa.

Guy mời tôi vào văn phòng. Anh nói sơ qua về vụ thu hoạch nho 2005,

những vui buồn tỉnh lẻ. Sau đó, chúng tôi cùng đi thăm hầm nuôi rượu bằng

bê-tông quét sơn thực phẩm (Epoxy), lên phòng thí nghiệm của anh thử vài

loại rượu đang nuôi, cả đỏ và trắng, sau đó vào phòng thử nếm, “khu vườn

cấm” chỉ dành cho những bạn bè thân thiết và những khách đặc biệt.

Chúng tôi mê ly trong những ly rượu Clos Bernarde 2003 trắng làm từ

nho Grenache Blanc và Rolle, những ly Clos Bernarde 2000 và 2001 đỏ làm

từ nho Grenache đỏ, Syrah và Mourvedre. Rượu của lãnh địa Clos Bernarde

đặc biệt ở chỗ Guy nuôi 1 năm trong thùng bê tông, sau đó đóng chai và nuôi

ít nhất 2 năm nữa trong hầm rượu trước khi đem bán. Kết quả là những dòng

rượu hoàn toàn tự nhiên, không chịu ảnh hưởng của gỗ sồi, nhưng đậm đặc,

đầy tính chất hoa quả khi còn trẻ; được nuôi một thời gian trong hầm rượu sẽ

trở nên đa dạng, phức tạp, muôn hình muôn vẻ, như một “bàn tay sắt trong

chiếc găng nhung”.

Thử nếm xong thì đã khoảng gần 1 giờ chiều. Guy mời tôi ở lại ăn trưa

và gọi điện cho Jacqueline, nhắn cô mua về ít đồ nguội.

Trong khi chờ đợi, chúng tôi xuống khu nhà ở vốn dành cho công nhân

vào mùa thu hoạch nho. Guy giữ lại 3 phòng làm nhà nghỉ mùa hè và nơi

tiếp khách “thân tình, suồng sã”, nghĩa là những người anh không muốn mời

ra tiệm ăn.

Ngôi nhà nhỏ nằm lọt thỏm giữa rừng sồi và cánh đồng nho. Những

cánh cửa sổ sơn màu xanh da trời. Ngói ống màu đỏ, như tất cả những ngôi

nhà dung dị khác của vùng Provence.

Một khóm hồng gai trước cánh cửa gỗ. Qua khung cửa kính, chúng tôi

thấy một khoảng trời xám xịt vần vũ những đám mây trĩu nước. Juan thở dài

nói “từ năm 2001 đến giờ, trông thì có vẻ ghê gớm lắm, nhưng thực tế là

mưa chỉ lất phất vài ngày, không đủ nước cho nho, vì thế sản lương năm

2005 chẳng hạn thấp hơn cả năm 2004”.

Tôi bỏ ra bàn mấy món quà cho Guy và bạn gái của anh: 1 chiếc cà vạt

lụa tơ tằm, 1 chiếc khăn lụa cho Jacqueline, 2 chiếc bánh chưng, 1 hộp mứt,

1 hộp kiệu, 1 hộp vải thiều, 1 chai rượu Mei kei lu. Guy nói: “Thằng này

được, vẫn không quên rượu mạnh sau bữa ăn. Chỉ buồn là không phải rượu

Việt Nam, nhưng tao tha thứ cho mày vì người Việt Nam và người Trung

Quốc có chung cái Tết”. Tôi giúp Guy bầy dao, nĩa, bát lên bàn, cắt bánh mì

cho vào lẵng, vừa kịp Jacqueline về đến nơi.

Chị vẫn thế, xinh đẹp, dịu dàng, mẫn cảm, đôi mắt to màu xanh lá cây

với đồng tử pha chút ánh vàng, mái tóc bạch kim ngả sang màu vàng sậm,

“màu của mùa đông” như chị thường hài hước pha trò. Căn phòng chưa đủ

ấm nên sau khi cởi áo măng-tô, Jacqueline cho thêm một khúc gỗ to vào lò

sưởi. Củi cháy nổ lách tách, tung ra ngoài những đốm nhỏ như sao. Mùi khói

nhựa thông thơm dễ chịu. Bữa ăn trưa có xà lách trộn dầu giấm, bánh mì

giăm bông và cơm với thịt gà quay Jacqueline mua trên đường về. Guy lấy

cho tôi thử một chai Clos Bernarde đỏ 1999. Rượu ngon tuyệt, màu sắc đậm

đặc, chất chát tuy chưa hoàn toàn nhuần nhuyễn xong lại tạo cho ta cảm giác

về một dư vị kéo dài, ngòn ngọt, nồng nàn mùi gia vị phương Đông như quế,

vani và hạt tiêu, mùi nấm hương và da lông thú. Khi tôi nói những nhận xét

đó, Guy cười và nói “Nhưng dứt khoát không phải là mùi lông chú chó Bill

vừa đi nhởn ngoài đồng về này”.

Bill, từ nãy giờ vẫn nằm dưới gầm bàn, vội nhổm lên và kêu ư ử. Bill là

dòng chó chăn cừu cao gần 1m và nặng khoảng 70 ký. Bill có bộ lông dầy và

dài, che lấp cả hai con mắt. Tuy cao to như vậy nhưng giống chó này lại rất

hiền. Thủa xa xưa, khi chó sói vẫn còn trong những cánh rừng ở Châu Âu,

giống chó Saint Bernard này là trợ thủ đắc lực của những người chăn cừu, nó

không những bảo vệ cừu mà bảo vệ luôn cả trẻ nhỏ chống lại chó sói.

Chúng tôi ăn xong thì đã khoảng 3 giờ chiều. Trong lúc Jacqueline pha

cà phê, Guy và tôi ngả người trên ghế phô tơi, tận hưởng mỗi người 1 ly to

rượu Mei kei lu mà tôi cố vớt vát với anh bạn thân ấy rằng về cơ bản nó

không khác gì rượu quốc lủi Việt Nam. Guy cười cười, nói sự khác nhau có

rất nhiều, nhưng tốt nhất là anh để yên cho đến khi hết Tết Viêt Nam sẽ gọi

tôi lên nhà anh lần nữa để trị tôi về cái tội “treo đầu dê bán thịt chó”.

“À, mà trời sắp mưa to, thôi mày ở đây với tụi tao, sáng sớm mai hãy về

Nice. Nếu sợ vợ thì để tao gọi cho Oanh Oanh”.

Quả như lời Guy nói, những giọt mưa đầu tiên bắt đầu rơi trên mái nhà

lộp bộp, hắt cả vào khung cửa kính. Gió đẩy tung cánh cửa ra vào, làm căn

phòng tràn ngập mùi lá ẩm mục. Guy nhấp một ngụm rượu, mơ màng nhìn

vòm cây lay động qua khung cửa kính “Cuộc đời thật tuyệt phải không Việt,

nhất là trong một ngôi nhà nhỏ giữa rừng như thế này, với những người bạn,

cùng chia sẻ một chai vang”. Jacqueline cũng đồng tình “Vua Henri IV

chẳng từng nói: rượu ngon bếp khéo là thiên đường trên mặt đất là gì”.

Tôi không nói gì, mơ màng trong một trạng thái bồng bềnh, không tỉnh

không say, nhưng vô cùng dễ chịu. Ngoài trời, gió tạt mưa như đưa đẩy áo

xiêm một nàng tiên nữ. Đêm nay, trên những thửa ruộng nho và trên con

đường nhỏ trong rừng lấp loáng những vũng nước mưa, sẽ có những thần dê

(Satyre) say sưa cuồng nhiệt trong một vũ điệu mê hồn cùng những nàng

tiên, hay nói đúng hơn là những hồn nho lả lướt.

T.V - Đêm 24/01/2006

Chuyên gia rượu vang Tô Việt: vang sẽ mãi là mối tình đầu của tôi

Thu Huyền (thực hiện)

Bài trong Tạp chí ý tưởng Sản phẩm, số 52 - 53, tháng 1 - 2/2006.

• Sinh năm 1958, tại Hà Nội

• Tốt nghiệp khoá 11 Đại học Ngoại giao năm 1981.

• Thạc sỹ Công pháp quốc tế tại Đại học Nice (Pháp).

• Thạc sỹ Luật và Kinh tế các nước đang phát triển tại Đại học Nice

(Pháp).

• Chứng chỉ Chuyên gia thử nếm rượu vang tại Trường Trung học Du

lịch - Khách sạn Nice (Pháp).

• Thành viên Hội thử nếm rượu vang quốc tế (ASI)

• Thành viên Hội thử nếm rượu Pháp (USDF)

• Giải “Pioneer Award” dành cho người có nhiều cố gắng quảng bá văn

hóa rượu vang ở Việt Nam nói riêng và Châu Á nói chung tại cuộc thi quốc

tế rượu vang Starwine lần thứ hai (23 - 27/02/2005) ở Philadelphia (Mỹ)

• Giám đốc chương trình đào tạo Chuyên gia thử nếm rượu vang Việt

Nam (PFSViệt Nam) 2004 - 2005 do Hội thử nếm Rượu vang quốc tế, Hội

đồng hành chính vùng Languedoc - Roussillon và Hội những người bạn Đà

Lạt (Adaly) thành phố Montpellier (Pháp) tài trợ.

• Giảng viên liên kết của các trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học

Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, trường Cao đẳng Công nghiệp Thực

phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Đà Lạt, trường tư thục Du

lịch - Khách sạn Hoa Sữa Hà Nội.

Mặc dù đã định cư tại Pháp trên 20 năm, nhưng đối với giới sành rượu

vang ở Việt Nam, anh nổi tiếng chẳng kém một minh tinh màn bạc! Họ kháo

rằng, anh có một cái mũi thính đặc biệt, phân biệt được đến 30 mùi trong

một ly rượu vang! Đó là chàng Việt kiều Pháp, Thạc sĩ Tô Việt - người Việt

Nam đầu tiên trở thành chuyên gia nếm rượu vang đẳng cấp thế giới. Sự tò

mò, hiếu kỳ và ngưỡng mộ đã khiến tôi không thể cưỡng lại ý muốn viết về

anh. Dịp đầu xuân này, tôi đã được chát với anh qua mạng, khám phá anh

như lần đầu tiên khám phá một chai rượu vang danh tiếng vậy!

• Chào anh! Niềm đam mê rượu vang ở anh bắt đầu từ khi nào vậy?

Th.s Tô Việt: Cũng không biết chính xác từ khi nào nữa. Còn nhỏ, mình

thường hay lục lọi xem những bộ sưu tập sách nước ngoài của bố, trong đó

có nhiều hình ảnh các nền văn hóa thế giới và có cả văn hóa rượu vang. Khái

niệm ban đầu của mình về rượu vang rất sơ khai, chỉ là ấn tượng về các

chùm nho chín mọng, các cánh đồng nho xanh rời rợi mùa hè, vàng rực mùa

thu, các hầm rượu tranh tối tranh sáng, vẻ đẹp thiên thần của các cô gái hái

nho. Lớn lên, đi du học ở Pháp, được tiếp cận với hai nền văn hóa rượu vang

lớn là Pháp và Italia do mình học ở Đại học Nice, cửa ngõ biên giới giữa hai

nước, mình càng cảm thấy cái duyên nợ ấy đã có từ lâu lắm trong tâm tưởng

rồi.

• Phải chăng, vì học ở Nice nên anh đã được hiểu hơn về rượu vang?

Th.s Tô Việt: Hồi ấy, bọn mình hay có những buổi dã ngoại tại các vùng

trồng nho, làm rượu của Pháp, đặc biệt hơn là những tối say sưa trong các

hầm rượu gia đình, để cảm nhận “hồn” rượu trong ánh sáng mờ mờ ảo ảo

của cây bạch lạp và ánh mắt long lanh của nữ chủ nhân. Kỷ niệm đáng nhớ

nhất là khi một cô bạn gái lỡ va chai rượu quý Cheval Blanc 1983 vào thành

hầm và anh bạn thân nhất của mình đã thè lưỡi liếm ngay trên tường cái

dòng chảy xênh xang màu ngói đó trước khi nó chạm đất. Nhưng hiểu vang

thật sự thì mãi đến sau này, khi mình gặp các chuyên gia rượu vang quốc tế!

• Những người thầy ấy hẳn đã giúp anh rất nhiều trong nghề nếm

rượu đặc biệt này?

Th.s Tô Việt: Người thầy đầu tiên của mình là Frank Thomas, chuyên

gia đứng thứ nhất Châu Âu năm 2000. Theo thầy, nhược điểm lớn nhất của

các chuyên gia rượu người Việt là luôn in đậm trong tâm trí những hương vị

thân quen như mùi phở buổi sáng, mùi chua nồng của măng, miến, mộc nhĩ,

bánh đa nem, mùi tanh của tôm, cua, ốc, hến ngoài chợ. Trong khi rượu vang

là một sản phẩm truyền thống của Châu Âu. Thầy cũng nói rằng nghề thử

nếm rượu vang đòi hỏi rất nhiều nỗ lực về thể chất, trí tuệ để tạo cho mình

một sự tinh thông đến mức chỉ cần nhìn một bức ảnh vệ tinh cũng có thể nói

được vùng trồng nho đó ở đâu, hoặc chỉ ngửi và nếm thôi cũng đã nói được

đó là giống nho gì, trồng ở khu vực nào, đóng chai năm nào. Người thầy thứ

hai của mình là Gérard Basset, chuyên gia rượu đứng thứ nhất Châu Âu năm

1996, thứ nhì thế giới 1992 và 2004, có những liên tưởng táo bạo hơn:

chuyên gia thử nếm rượu cần có sự đam mê, và sự đam mê đó phải thường

xuyên, như không khí, thức ăn và nước uống vậy.

• Anh có thể bật mí về năng khiếu hay tố chất đặc biệt trong việc

nếm rượu của mình không?

Th.s Tô Việt: À, chắc do bố mẹ “đẻ nhầm ngày nhầm giờ” thì phải!

Mình tuổi Tuất (1958), có thể vì thế mà có cái mũi thính... như cẩu chăng?

Sau là nỗ lực học hỏi, công phu lắm chứ. Phải thử nếm hàng trăm, hàng ngàn

loại rượu trong một năm, mình mới có thể nói được một câu mà nhiều người

cho là vớ vẩn: rượu này uống được! Rượu này ngon! Rượu này nhạt như

nước ốc!.

• Anh còn nhớ lần đầu tiên nhấp rượu vang chứ?Và đến giờ, cảm

xúc về vang của anh là gì?

Th.s Tô Việt: Này, bên đó có phải là tửu đồ của vang không mà hỏi kỹ

thế? Thú thực, chỉ là một sự vô cảm, nhà báo à, dù là rượu đắt tiền! Mình đã

nghĩ như bất cứ một người Việt Nam nào khác: chua chua, chát chát, thà

uống nước hoa quả hay uống bia còn thú vị hơn! Sau này mới biết, rượu

vang cũng như mối tình đầu, lúc đầu thấy hồi hộp lắm, nhưng càng tìm hiểu

thì càng say mê. Cái chua chua chát chát ấy càng uống càng say. Rượu chỉ

ngon khi ta hiểu tường tận về nó.

• Vậy, có khi nào anh gặp sự cố khi nếm rượu không? Ví dụ là phán

đoán nhầm lẫn chẳng hạn?

Th.s Tô Việt: Sự cố ấy à? Có chứ! Là những khi bị cảm cúm chẳng hạn,

hoặc khi bị xáo động mạnh về tinh thần. Nhưng không thể nhầm lẫn rượu

vang đỏ với rượu vang trắng được, vì nhìn là biết mà.

• Anh có thể cho biết đặc trưng của rượu vang các vùng không?

Th.s Tô Việt: Dễ ợt! Y như thầy bói đoán rằng truyện Kiều có mùi son

phấn...Ví dụ như rượu Chablis có mùi vỏ sò (cả vùng này nằm trên một tầng

trầm tích vỏ sò), rượu Pomerol có mùi gỉ sắt, rượu Sancerre có mùi đá lửa,

rượu Nero d’Avola của Italia có mùi nham thạch, rượu Xerez của Tây Ban

Nha có mùi i-ốt...

• Vừa rồi, về nước với vai trò là giám đốc chươngtrình quảng bá văn

hoá rượu vang ở Việt Nam, vậy, anh có thể cho biết qua về sự phát triển

của chương trình này và dự định sắp tới của mình?

Th.s Tô Việt: Dự án này bắt đầu cuối năm 2004, khi ông Giuseppe

Vaccarini, Chủ tịch Hội thử nếm rượu vang quốc tế vào Việt Nam để tổ chức

các buổi hội thảo và thử nếm rượu. Năm 2005, chương trình này tiếp tục

thực hiện với Cơ quan phát triển các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu Pháp

(Sopexa). Hiện mình làm việc với Sopexa và Hội đồng hành chính vùng

Languedoc - Roussillon về chương trình cụ thể năm 2006 ở Việt Nam. Nhiều

khả năng các đối tác khác sẽ tham gia chương trình này.

• Liệu 20 năm nữa, cụ già Tô Việt sẽ ở hẳn Việt Nam không nhỉ? Và

sáng sáng tay cầm ly rượu vang sánh đỏ, khà khà thưởng thức, nhâm

nhi?

Nhiều người khuyên hãy cố làm việc ở nước ngoài đi rồi an nhàn hưởng

tuổi già ở Việt Nam. Nhưng mình đang ở độ tuổi có thể làm việc và giúp ích

được nhiều nhất cho đất nước, như một dòng sông không ngừng nghỉ đem

phù sa bồi đắp cho đời, thì tại sao lại phải đợi đến tuổi già? Ước vọng lớn

nhất là mình giúp được các nhà máy sản xuất rượu vang trong nước cải tiến

chất lượng sản phẩm, đưa rượu vang Việt Nam lên ngang tầm quốc tế.

• Một chút tò mò! Tô Việt ơi, hồi nhỏ anh là cậu bé như thế nào?

Một cậu bé nhút nhát, nhưng rất thích đọc sách, rất tò mò, đã muốn làm

cái gì là làm cho kỳ được, thích ngắm cảnh và miên man với các ước mơ.

Những đặc tính này giúp cho mình rất nhiều trong nghiệp thử nếm rượu

vang: tò mò, ham hiểu biết, đam mê, cũng như định hình cho mình về cảm

quan với rượu vang: biết cảm nhận, phân tích và lý giải những hương vị.

Sinh viên Việt Nam ăn tết ở Nice, Pháp

15:38’ 30/01/2006 (GMT+7) NVX

Việt Hương Châu (Pháp)

Năm nay, theo lệ thường, sinh viên Việt Nam du học tại Nice biểu quyết

tổ chức Tết ở khu học xá Jean Medecin. Đây là môt khu học xá nằm trên đồi.

Từ sảnh tiếp tân, chúng tôi có thể nhìn thấy vịnh “Các thiên thần” và biển

Địa Trung Hải.

Mấy hôm nay, trời mưa suốt. Không phải là những cơn mưa ào ạt chỉ

một lúc tạnh, mà là những cơn mưa dai dẳng, đìu hiu trong một bầu trời màu

xám chì, với những đám mây trĩu nước. Ở khu học xá trên đồi cao này, vào

những chiều mưa, chúng tôi có cảm giác như sống trong một câu chuyện cổ

tích, với mây và bụi nước bồng bềnh lãng đãng ngang người, bay cả vào

sảnh đợi.

Ở một khía cạnh nào đó, cơn mưa này gợi nhớ lại những cơn mưa xuân

ở Việt Nam, chỉ khác ở chỗ khí hậu bên này đỡ ẩm ướt hơn, không có hiện

tượng “tường chẩy nước” như ở quê nhà. Dù sao đi nữa thì đối với đám du

học sinh chúng tôi, khung cảnh nên thơ của khu học xá cũng không làm

chúng tôi nguôi ngoai được nỗi nhớ quê hương, thứ tình cảm nhiều khi

không nói được nên lời, như cảnh biệt ly trong thơ Thâm Tâm:

Đưa người ta không đưa sang sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Nắng chiều không thắm, không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Tôi mê mải ngắm những con sóng bạc đầu như một đàn ngựa hoang phi

nước đại vào bờ vịnh “Các thiên thần”, rồi lại rút ra xa, tít tắp.

Phía bên kia, sau Địa Trung Hải, sau Đại Tây Dương, sau Thái Bình

Dương, có một dải đất hình chữ S. Quê hương tôi đó.

Giờ này, đã là đêm mồng Một. Chúng tôi bên này mới chỉ là trưa.

Do bận thi cử, tôi được miễn không tham gia công tác chuẩn bị, chỉ bị

“sai” đi chợ Liberation mua một cành đào. Lẽ dĩ nhiên là tôi không thể đi

một mình, vì quả thật tôi rất đoảng trong việc mua bán. Cả sáng thứ bảy 30

Tết, tôi gạ gẫm bố mẹ tôi đi cùng để chọn cành đào. Đang mải mê với cuốn

sách ông đang viết về rượu vang, bố tôi từ chối. Mẹ tôi miễn cưỡng nhận lời

sau giây phút đắn đo. Tôi biết mẹ chẳng từ chối tôi điều gì, thật đúng là lòng

mẹ yêu con như trời như biển.

Mẹ mua cho tôi một cành đào nhỏ, giá 8 euros, nhưng rất đẹp, với

những nụ hồng chúm chím. So với cành đào bố tôi “chôm” ở Puget - Thénier

tuần trước thì không được “hoành tráng” bằng, nhưng thôi, mỗi người mỗi

cảnh, tôi không có đủ can đảm nài bố lái xe đưa lên núi hái đào lần nữa.

11 giờ trưa, đi xe buýt với cô bạn gái học cùng lớp, chúng tôi lên khu

học xá Jean Medecin, tay xách nách mang nào là rượu vang, nào là cành đào,

nào là hộp các-tông đựng bát, đũa lỉnh kỉnh.

Các sinh viên nữ được phân công làm công tác tiếp tân, dịu dàng, tươi

như hoa, đón chúng tôi từ cổng. Các bạn chỉ cho chúng tôi chỗ ngồi đã được

ghi số thứ tự từ đêm hôm trước. Hôi trường được trang hoàng rất lộng lẫy,

chăng đèn, kết hoa, với lá cờ đỏ sao vàng treo chính giữa sảnh, hai bên là đôi

câu đối. Dưới lá cờ Tổ Quốc là ban thờ với đầy đủ bài vị và các đồ cúng lễ.

Sau bài phát biểu của anh Duy, Chủ tịch hội sinh viên Việt Nam du học

ở Nice, một bạn trai được cử lên đốt pháo. Dư âm của những tiếng nổ chát

chúa và mùi diêm tiêu còn phảng phất, chúng tôi đứng dậy nâng cốc chúc

mừng sinh viên, những kẻ tha hương và gia đình, bè bạn còn lại ở Việt Nam

một năm mới tốt lành. Trên bàn, tùy hứng, chúng tôi có thể chọn rượu

champagne, vang trắng hoặc vang đỏ. Mấy tay sinh viên nghịch ngợm của

Viện đại học Kỹ thuật (IUT) còn mang tới cả mấy thùng bia Hà Nội, nói là

để dành cho trận đấu bóng đá giao hữu đầu năm giữa sinh viên Việt Nam và

sinh viên khu nội trú Jean Medecin.

Món ăn đầu được bưng ra: bánh cuốn nhân thịt mà các bạn Thảo, Hà,

Thủy và Thu Hà đã đặt tất cả tình yêu đất nước vào đó trong chiều thứ bảy.

Tiếp đến là món nộm đu đủ với thịt bò khô. Sau ly rượu đầu tiên, câu chuyện

đã nổ như pháo rang. Ai muốn uống rượu nữa nào? Tất cả đám con trai đều

giơ tay không sót một ai, kể cả những người ngày thường không uống rượu.

Đáng uống quá đi chứ, cả năm chỉ có một ngày vui vẻ, tụ bạ như thế này!

Sau mỗi một ly theo đúng phong cách sinh viên Việt Nam, nghĩa là 100%,

có cậu nào còn hét tướng lên: “Ta uống ly này cho tình yêu, cho sự nghiệp,

cho người thân và mong rằng sẽ có nhiều dịp trong năm như thế này để...

uống”. Tất cả cùng phá lên cười vui vẻ.

Các món ăn khác lần lượt được bầy ra bàn: bánh chưng, giò lụa, giò bì,

canh măng, miến xào, nem, thịt lợn quay, thịt gà luộc với mấy đĩa nhỏ muối

tiêu và lá chanh.

Trước món tráng miệng, phái nữ túm tụm lại trong một góc phòng để

bầu một...hoa hậu sinh viên Việt Nam tại Nice. Ngoài những tiêu chí bình

thường như chiều cao, cân nặng, số đo... hoa hậu tương lai còn phải đáp ứng

một tiêu chí đặc biệt nữa là... lãng tử và có tửu lượng không kém giới mày

râu. Sau một hồi thảo luận, chị em nhất trí bầu Thu Hiền, cô sinh viên Đà Lạt

xinh đẹp, giỏi giang, nhưng cũng rất chịu chơi, uống bia không kém gì

những sinh viên bợm nhậu nhất ở Nice. Chỉ trong 15 phút, Thu Hiền đã bị

“phái yếu” lột phăng bộ áo dài Việt Nam, thay vào đó là một bộ váy áo xanh

lá cây với những chùm nho bằng kim tuyến điểm xuyết đây đó. Các bạn nữ

không quên đặt trên đầu “nữ thần” của ruộng nho và rượu vang chiếc vương

miện kết bằng dây gai, với những chùm nho chín mọng mua vội ở siêu thị.

Thu Hiền, với sự giúp đỡ của một bạn gái nữa, luồn lách qua các bàn

tiệc với một bình rượu 3 lít, đổ vào miệng các chàng sinh viên tranh nhau

nhận ân huệ của người đẹp tới mức rượu sặc cả lên mũi lên miệng! Đã chuẩn

bị từ trước, cô bạn gái đi cùng Hiền có một chiếc khăn vải, sẵn sàng lau cằm

cho những đấng nam nhi quá say sưa.

Sau bữa ăn, tất cả các bạn sinh viên nữ trong những tà áo dài truyền

thống Việt Nam ra vườn chụp chung một tấm ảnh kỷ niệm. Mưa vẫn nặng

hạt, nhưng đâu đây, có tiếng mùa xuân về trong cây lá và hương đất mẹ

trong từng miếng bánh chưng mới luộc đêm qua, béo ngậy thịt ba chỉ, nhuần

nhuyễn nhân đỗ xanh và nồng nàn mùi nếp mới quê nhà.

Ai dám bảo Tết sinh viên là khổ?

Nice, chiều 29/01/2006

V.H.C

Gương mặt nữ doanh nhân việt nam. Tại hội chợ rượu vang

Vinisud (Pháp).

Tô Việt (Pháp)

19/02: Qua chị Anna Ohwadi - Richardson, một bác sĩ đã nghỉ hưu, Chủ

tịch Hội những người bạn Đà Lạt theo vết chân Yersin (Adaly) của thành

phố Montpellier, tôi được biết có vài nhà nhập khẩu rượu Việt Nam sẽ sang

dự hội chợ rượu vang Vinisud (Montpellier) từ 20 - 22/02/2006.

Vào trang Web của Hội chợ Vinisud, tôi thấy tên Võ Thị Thu Hồng,

giám đốc chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh của công ty nhập khẩu rượu

vang trực tiếp vang Pháp Vàng (Les Celliers d’Asie) và Đinh Thu Hường,

giám đốc điều hành công ty Thiên Linh Wine&Spirits, Hà Nội.

Đến phút chót, chị Đinh Thu Hường bận việc công ty nên không sang

được. Tôi thực tình tiếc cho chị vì Vinisud là một sự kiện chỉ kém quan

trọng hơn hội chợ rượu vang Vinexpo Bordeaux chút ít.

Tôi biết Võ Thị Thu Hồng từ năm 2004 và rất có cảm tình với cô bé dễ

thương gốc Huế này. Hơn nữa, đã lâu không gặp gỡ hàn huyên với người

Việt, tôi quyết định đi dự hội chợ Vinisud, chẳng gì cũng một công đôi việc:

thử nếm các sản phẩm rượu vang mới và hỏi thăm Hồng những tin tức sốt

dẻo nhất ở quê nhà.

Sáng chủ nhật 19/02, tôi ra bến xe buýt trước cửa nhà đợi lấy chuyến xe

số 23 là xe sẽ chạy qua ga Nice, rồi từ đó lấy tàu đi Montpellier. Bến xe buýt

vắng tanh, một ông già uể oải đạp xe trong phố, những đám mây xám vần vũ

trong bầu trời. Nghe nói trong ngày sẽ có mưa lớn ở Nice.

Xe đến trễ 20 phút, tôi đã tính gọi điện thoại về nhà nhờ con trai đưa ra

ga. Vừa rút điện thoại ra bấm số máy bàn thì xe số 23 rà tới. Trên xe chỉ có

lác đác vài người: một phụ nữ đứng tuổi với chiếc làn mây đi chợ; một cặp

vợ chồng già, mỗi người kẹp chặt trong đùi một túi da nhỏ, mắt láo liên dò

xét chung quanh, đầy vẻ nghi ngại, như thể trong xe có kẻ cắp rình mò; một

cô bé chừng 14 - 15 tuổi đang mải mê nghe nhạc từ chiếc máy MP3 nhỏ xíu

màu trắng bạc đeo lủng lẳng trước ngực, chân gõ nhịp dưới sàn xe; một

thanh niên da đen cao to đang rụt cổ ngủ thiêm thiếp trong chiếc áo bluson ở

hàng ghế cuối, có vẻ như một bảo vệ trở về nhà sau giờ gác đêm mệt nhọc.

Cả bác tài cũng có vẻ thất thần, lơ đễnh ngó trân ngoài cửa sổ khi tôi hỏi

mua vé xe buýt. Bằng một động tác máy móc, bác ta xếp tiền lẻ vào ngăn

kéo, bấm số để chiếc vé tự động tòi ra khỏi ổ vé, tâm hồn vẫn để đâu đâu.

Tôi tự hỏi không biết bác ta có nhìn đường khi lái?

Đến ga, tôi không phải chờ lâu, cũng chỉ có vài người đứng xếp hàng

mua vé.

Tôi hài lòng vì lấy được tàu chạy thẳng từ Nice xuống Montpellier chứ

không phải đổi tàu ở Marseille. Tàu chạy được một lúc thì trời mưa to. Cùng

với những tiếng động lách cách đều đều của bánh xe trên đường ray là tiếng

mưa rơi lộp bộp trên nóc toa và tiếng rào rạt vi vu khi xa khi gần của dòng

nước chạy xiên trên cửa kính, tùy theo chiều gió.

Tôi thiu thiu ngủ trong một cảm giác êm ái dễ chịu.

Tàu đến ga Montpellier lúc 14 giờ 50, chậm hơn 20 phút so với dự kiến.

Từ lúc nào, trời đã sáng bừng lên và nắng vàng rực rỡ như chưa từng thấy

bao giờ. Chỉ tội nghiệp ông Robert Amalric, giám đốc khu vực Châu Á của

cơ quan xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp (Septimanie Export) của vùng

Languedoc - Roussillon phải chờ tôi khá lâu.

Sau khi chào hỏi nhau và trao đổi danh thiếp, chúng tôi lên xe về khách

sạn Mercure Antigone là nơi hai đoàn Việt Nam và Trung Quốc ở.

Ông Amalric nói sơ qua về những dự định trong năm 2006 của cơ quan

Septimanie Export ở Châu Á, trong đó có những nỗ lực hợp tác với Việt

Nam trong việc xuất - nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Ông đã sang

Việt Nam năm 2004, khi còn là giám đốc Septimanie Export ở Bắc Kinh.

Được hỏi ông đã đi những đâu ở Việt nam, ông cười và nói: “Tôi chỉ có một

tuần ở Việt Nam nên đâu có đi được nhiều, chỉ đi tham quan vịnh Hạ Long

và một số danh lam thắng cảnh ở Hà Nội. Đất nước của các bạn rất đẹp,

nhưng ấn tượng nhất của tôi về Hà Nội là nhưng dòng xe ô tô, xe máy đi như

mắc cửi, đến nỗi tôi không dám đi qua đường. Vả lại, các phố ở Hà Nội có

quá ít đèn xanh đèn đỏ; khi đèn đã đỏ rồi vẫn còn nhiều xe máy cố tình vượt

ẩu. Luật ở bên này rất coi trọng người qua đường, đã có đèn đỏ hoặc khi có

người đi bộ qua đường là mọi phương tiện cơ giới đều phải dừng lại”.

Ông nói đến đó thì cô hướng dẫn viên của đoàn Châu Á, một cô gái trẻ

người Nhật lấy chồng Pháp và đã ở Montpellier 7 năm, đến nói nhỏ với tôi

rằng đã đến giờ đoàn phải lên xe đi thăm hầm rượu của tu viện Valmagne.

Tôi vội xin lỗi ông Amalric, ra lễ tân lấy chìa khóa phòng và lên phòng tôi ở

tầng 3.

Tắm rửa vội vàng trong vòng 15 phút, tôi lộn xuống sảnh đợi. Võ Thu

Hồng đã ở đó, nhỏ nhắn, dễ thương.

Hồng nói với tôi rằng em rất có cảm tình với người dân ở thành phố

Montpellier, rằng họ rất nhiệt tình giúp đỡ người nước ngoài và cảm giác

đầu tiên của em về thành phố này là “cái gì cũng sạch sẽ, ngăn nắp, quy

hoạch đâu ra đấy, và toát lên tính thẩm mỹ và văn hóa”.

Trên xe, Hồng tíu tít khoe với tôi rằng em mang sang một va li đầy

những loại mắm và đồ ăn đặc sản Huế cho cô em gái đang học tiến sĩ về

Toán ở Paris, đồng thời ngạc nhiên hỏi tôi “Ủa, mà em không thấy hải quan

bên này khám đồ chi cả. Nếu khám thì em ngượng quá đi mất vì trong va-li

toàn là gói, bọc với chai, lọ lỉnh kỉnh đủ kiểu”.

Rồi Hồng mở máy ảnh kỹ thuật số ra khoe với tôi hàng chục kiểu ảnh

em chụp trong hai ngày thứ sáu 17/02 và thứ bảy 18/02. Cô bé rất có ấn

tượng với chuyến đi thăm vùng Camargues, được tham quan những ngôi nhà

nông dân tường đất quét vôi trắng, mái tranh (tất nhiên là nhà bảo tàng).

“Anh biết không, tối thứ bẩy tụi em được mời ăn cơm ở nhà một cặp vợ

chồng người Pháp, trồng nho, làm rượu, nhưng thích nhất là họ đã từng sang

và rất có cảm tình với Việt Nam. Nhà của họ to như một tòa lâu đài, và rượu

vang thì ngon tuyệt. Chỉ tiếc là tối đó em bị mệt nên dùng cơm được rất ít”.

Tôi như cũng vui lây

niềm vui rất con trẻ của

Hồng.

Xe đến tu viện

Valmagne khoảng 5 giờ

chiều.

Tu viện nằm dưới chân

một ngọn đồi nhỏ, giữa

những

ruộng nho trơ gốc. Hàng

bầy quạ đen xao xác bay

lượn giữa những hàng cây

ngô đồng hàng trăm năm

tuổi, như trong một câu

chuyện cổ tích. Bên bờ ao,

dưới ánh hoàng hôn, một chú vịt trời đứng lặng trong một chậu hoa bằng đá

khối, các chú khác trên bờ chân co chân duỗi ngắm mặt nước bí ẩn, âm u.

Tôi tưởng như sống lại thời Trung cổ, với những tu sĩ mặc áo dài đen khắc

khổ, vừa đi trên những lối đi rải sỏi vừa lần tràng hạt, càng làm tăng thêm vẻ

huyền bí của chốn linh thiêng.

Tu viện Valmagne, một trong những tu viện đẹp nhất nước Pháp của

dòng tu Cisteaux, được xây dựng năm 1139. Nhà thờ lớn của tu viện với kiến

trúc kiểu gô tích của các nhà thờ lớn vùng phía Bắc nước Pháp, dài 83m, cao

24m, chỉ thua kém nhà thờ Đức Bà Paris về chiều cao.

Năm 1789, với cuộc Cách mạng Pháp, những tu sĩ cuối cùng của tu viện

Valmagne bị những nông dân vũ trang truy đuổi, thư viện bị đốt cháy cùng

với những tranh ảnh nghệ thuật vô giá, bàn ghế đồ đạc bị chiếm dụng làm

của riêng. Nhà nước cách mạng bán lại tu viện như một tài sản quốc gia cho

gia đình ông Granier. Nhà trồng nho này đã sử dụng tu viện như một hầm

rượu khổng lồ, mà ngày nay du khách vẫn còn có thể chiêm ngưỡng các

thùng rượu bằng gỗ sồi chứa được đến hàng trăm ngàn lít, dưới các vòm đá

khổng lồ của nhà thờ lớn.

Sau tu viện Valmagne, chúng tôi được mời đi ăn tối ở nhà hàng “Le

Prana”, nằm trên một doi đất

trông ra vịnh Thau. Vịnh

Thau rất nổi tiếng với việc

nuôi hải sản nhân tạo, nhất là

sò điệp. Bữa cơm rất ngon,

có gan béo, sò điệp nướng, cá

Cabillaud sốt kem béo trộn

cơm. Chủ quán đem ra đãi

khách rượu vang trắng

Domaine Puech - Haut từ hai

dòng nho Marsanne -

Roussanne, và rượu vang đỏ

cũng cùng một lãnh địa, từ

các dòng nho Grenache -

Syrah và Mourvedre.

Đêm nay, ngồi trong một

tiệm ăn trông ra biển, nơi có

hàng ngàn đốm sáng nhỏ

nhấp nháy như sao sa, cùng

với những người bạn Pháp,

Canada, Nhật, Ấn Độ và

Trung Quốc, tôi và Hồng

cùng ngất ngây trong men rượu say nồng. Chúng tôi cảm nhận rõ ràng rằng,

cũng như một bản nhạc hay, một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời, một bữa ăn

ngon với những chai vang Puech - Haut thượng hảo hạng có thể thầm lặng

ảnh hưởng đến người tiêu thụ, cảm hóa được người tiêu thụ. Cái mà các

nghệ sĩ gọi là “hồn”.

Trong tiệm ăn “Le Prana”

Chẳng thế mà nhà thơ Charles Baudelaire của Pháp đã ngất ngưởng say

sưa trước vẻ hoàn thiện, hoàn mỹ ấy như trước một thực thể sống, một CON

NGƯỜI. “Trong mỗi chai rượu vang có một linh hồn, và tối tối, linh hồn ca

hát”.

11 giờ tối, chúng tôi lên xe về lại khách sạn Mercure Antigone. Xe chạy

ngay sát bờ biển. Những con sóng nhỏ ánh lân tinh dạt dào xô bờ cát và xa

lắm ngoài khơi, có ánh đèn của một chiếc thuyền câu như mắt nàng tiên cá

nhấp nháy, mời chào.

20/02. Xe đến khách sạn đón chúng tôi từ 9 giờ. Hội chợ khai mạc vào

10 giờ. Tôi nóng lòng muốn tham gia buổi họp báo của ông Georges Freche,

Chủ tịch Hội đồng hành chính vùng Languedoc - Roussillon.

Nghe nói hoa hậu

Pháp 2005 Alexandra

Rosenfeld, gốc vùng

Languedoc - Roussillon,

sẽ đến dự buổi họp báo

này theo lời mời của ban

tổ chức hội chợ.

Cửa vào hội chợ

chật như nêm cối. Chúng

tôi đang đứng chờ sau

một hàng người dài dằng

dặc thì một người trong

đoàn bỗng thốt lên “Ô

hay, sao mình lại đứng

xếp hàng ở đây, cửa này dành cho những người chưa có thẻ ra vào cơ mà,

còn bọn mình ai cũng đã có thẻ”.

Quả là cửa phía bên kia, dành cho những người đã làm thẻ, vắng hơn

đến mấy lần. Chúng tôi nhanh chóng vào sau khi bảo vệ dùng máy scan mã

số thẻ.

Vì tôi phải lên phòng họp báo, tôi và Hồng chia tay nhau.

Phòng họp báo được tổ chức rất chu đáo, có khoảng 10 máy vi tính với

mạng internet cho phóng viên làm việc, 2 máy fax và 1 máy photocopy. 3 nữ

tiếp viên xinh đẹp với nụ cười thường trực luôn miệng hỏi phóng viên có cần

gì không để họ phục vụ, nào là cà phê, bánh ngọt, nước hoa quả, nước

khoáng, nào là photocopy hay fax giùm bài vở.

Tôi tranh thủ chạy lên ngắm bàn chủ tọa: quả là ngoài cùng bên phải có

tên Alexandra Rosenfeld. Tôi quyết phải chụp một bức ảnh của cô Hoa hậu

này để gửi cho Người Viễn Xứ.

10 giờ 15 phút, có tiếng ồn ào ngoài cửa rồi một nhóm phóng viên nhiếp

ảnh ùa vào phòng, phía sau họ là hoa hậu Pháp 2005, rực rỡ, trẻ trung. Các

quan chức của Hội đồng hành chính vùng Languedoc - Roussillon theo sát

gót.

Trong vòng 5 phút, flash máy ảnh nháy liên tục. Biết mình không chen

lấn nổi trong đám phóng viên được trang bị những kỹ thuật tân tiến nhất kia,

tôi im lặng chờ thời với chiếc máy Canon kỹ thuật số cậu con trai thải hồi

cho, vì theo lớp trẻ ngày nay, loại 3,2 triệu pixels đã trở nên quá lỗi thời.

Ông Georges Freche, Chủ tịch Hội đồng hành chính vùng Languedoc -

Roussillon đọc lời khai mạc. Lợi dụng lúc đám phóng viên kia đổ xô đến

chụp ảnh cận cảnh ông Georges Freche, tôi len lén nhích đến gần hàng ghế

đầu, chớp được 2 kiểu ảnh hoa hậu Pháp 2005. Tuy mới tham gia ngày đầu

Vinisud 2006 mà tôi cảm thấy như đã mãn nguyện được một nửa rồi. Bao

người khác phải mất tiền mà chắc gì đã được đứng gần nàng đến thế, chỉ

cách chừng 5m.

Trong lúc trên

phòng họp báo, hoa hậu

Pháp 2005 là trung tâm

điểm của mọi sự chú ý

thì trong hội chợ, Võ

Thu Hồng cũng là Hoa

hậu một ngày của đoàn

Châu Á khi phóng viên

báo địa phương Midi

Libre đã có một cuộc

phỏng vấn chớp nhoáng

với em về cảm tưởng của

người Việt Nam và Châu

Á nói chung với thứ đồ

uống này. Võ Thu Hồng nói “Ở Việt Nam, chúng tôi bắt đầu uống rượu

vang, nhưng chủ yếu rượu vang vẫn được dùng làm quà tặng sinh nhật hay

uống trong các dịp lễ Tết”.

Sáng sớm hôm sau, câu nói này của em đã xuất hiện trong báo Midi

Libre và còn được nhiều tờ báo khác đăng lại. Xuống ăn sáng, tôi cẩn thận

lấy ở chỗ tiếp tân một tờ Midi Libre, định dành cho Hồng một bất ngờ nho

nhỏ. Không ngờ khi em xuống chờ xe, đã có cả một đám fan Nhật Bản và

Trung Quốc chen lấn, xô đẩy nhau đến nhìn mặt cô gái sông Hương. Không

kém gì một chính trị gia nổi tiếng hay một minh tinh màn bạc. Tôi tiu nghỉu

như chó cụp tai, nhét tờ báo vào trong cặp.

Cả ngày hôm đó, chúng tôi bận rộn với những cuộc thử nếm liên miên

trong 13 phòng hội chợ rộng mênh mông. Tôi nhận thấy ngày càng có nhiều

phụ nữ là giám đốc hay giữ các vị trí quan trọng trong các hãng sản xuất và

nhập khẩu rượu lớn, và phải công nhận một điều là dung nhan, trí thông

minh, cách ứng xử khéo léo của chị em đã góp một phần không nhỏ vào

thành công của công ty. Mãi đến tối, trong buổi chiêu đãi do Hội đồng hành

chính vùng Languedoc - Roussillon tổ chức, tôi mới gặp lại Hồng và đưa lại

em tờ báo. Hồng có vẻ ngạc nhiên và bẽn lẽn hỏi tôi “Anh ơi, lúc họ phỏng

vấn, em bối rối quá nên nói đại, không hiểu mọi người ở nhà khi đọc báo có

cười em không?”. Có thể cười vì câu trả lời hơi... lạc hậu so với thực trạng

sử dụng rượu vang ở Việt Nam, nhưng tự hào lắm chứ, vì em là người Châu

Á duy nhất, lại là phụ nữ, được trả lời phỏng vấn.

21/02. Sau một ngày lê mòn chân qua các quầy thử nếm, tối đó, khi về

khách sạn, tôi và Hồng quyết định đi ăn cơm Việt Nam.

Hồng hỏi lễ tân khách sạn và được họ đưa cho cuốn hướng dẫn khách du

lịch. Tuy nhiên, vì đã đến Montpellier nhiều lần nên tôi mang máng nhớ rằng

trong khu đi bộ gần khách sạn Mercure Antigone có một vài nhà hàng Việt

Nam và Trung Quốc.

Hồng không muốn đi bộ mà muốn lấy tàu điện, song cuối cùng tôi cũng

thuyết phục được cô bé đi bộ ra quảng trường Antigone.

Đi chừng 15 phút, chúng tôi gặp một tiệm ăn Trung Quốc có tên “Thuốc

phiện đen”. Tôi nói đùa với Hồng: “Anh cứ tưởng chỉ ở Việt Nam mới có

chuyện hút chích thuốc phiện, không ngờ ở xứ sở văn minh này cũng có”.

Chủ tiệm là một phụ nữ trẻ người Trung Quốc, còn người phục vụ là

một thanh niên gốc Lào, bố mẹ sang Pháp năm 1978.

Chúng tôi vừa ngồi yên chỗ thì trời đổ mưa. Một cơn mưa nhỏ, như chỉ

đủ láng cho mặt hè thêm bóng, cho cây lá thêm xanh. Qua ô cửa tiệm ăn,

chúng tôi thấy một khoảng tối ngoài hè với những bóng lá thông run rẩy.

“Này anh, tại sao bên xứ này lắm thông như vậy, ở phố này chỗ nào em

cũng thấy thông?”.

Tại sao, ừ nhỉ, tại sao? Tôi giải thích cho Hồng rằng người Pháp rất chú

trọng đến việc trồng cùng một loại cây trong một khu phố, nhiều khi trong cả

một thành phố, có lẽ để tạo thuận lợi cho việc gây giống, chăm nom, và cũng

để dễ xử lý khi cây ngã bệnh.

Chúng tôi gọi hai bát xúp, sau đó ăn cơm với thịt bò xào nấm hương và

thịt gà cà-ri. Khi đang ăn, tôi sực nhớ ra rằng ở Pháp cũng đang ồn ã vụ mấy

con chim trời chết vì cúm H5N1.

Hồng kể cho tôi về công việc của em, về gia đình em ở Huế, về người

bạn trai sắp sang với em ở Paris để rồi lại cùng về Việt Nam trên một chuyến

bay.

Tôi cười và nói “Tình yêu trong thời buổi @ phơi phới thật, chắp cánh

cho tất cả các lứa đôi”.

Hồng phản công lại ngay “Anh chỉ được cái hay đùa, nhưng có lẽ vì anh

hay đùa mà anh giữ được tuổi trẻ”.

Lúc ra cửa, đi ngang chiếc gương lớn, tôi lén nhìn trộm mình trong đó.

Đuôi mắt tôi đã có những nếp nhăn, và tóc trên đỉnh đầu đã hói gần hết. Phụ

nữ, vô tình hay hữu ý, có những lời khen tuyệt vời như vậy! Chúng tôi chia

tay nhau trước cửa khách sạn Mercure Antigone. Khi tôi hỏi em có những dự

định gì trong những ngày đến, em sôi nổi nói:

“Em sẽ đi tham quan Bordeaux với những lâu đài rượu vang nổi tiếng,

tham quan Amsterdam với những kênh đào đã trở nên bất tử với bài hát của

ca sĩ Jacques Brel, và nếu như nước Anh mở cửa hơn nữa với những qui

định của Công ước Schengen về tự do đi lại thì dứt khoát là em sẽ bay sang

London để thơ thẩn dọc sông Thames hay trong công viên Hyde Park”.

“Nhưng em sợ đi nước ngoài nhiều quá rồi lại thấy thương cho người

Việt Nam mình, mới thấy rằng dân tộc mình còn kém xa các nước khác ”.

Hồng cười, mắt sáng rỡ. Qua ánh mắt em, tôi thấy rõ hạnh phúc là

những cuộc gặp gỡ kỳ thú, là những ước mong cho một ngày mai sáng lạn

hơn ở quê nhà, nơi chưa phải tất cả mọi cái đều đã hoàn hảo; nhưng nếu như

ở những xứ sở văn minh hiện đại nhất Châu Âu mà ta còn tìm ra nhiều

khiếm khuyết thì liệu có thể có cái gì hoàn hảo trên đời?

Nice, tối 07/03/2006.

Tham khảo:

Hội chợ rượu vang quốc tế Vinisud 2006

Tô Việt, Chuyên gia quốc tế rượu vang.

Hội chợ quốc tế rượu vang và rượu mạnh các nước ven

Địa Trung Hải lần thứ 7 đã được tổ chức ở thành phố Montpellier (Pháp) vào

các ngày 20 - 21 và 22/2/2006.

Nếu như trong lịch sử, vùng Địa Trung Hải từng là cái nôi văn hóa rượu

vang của nhân loại thì vai trò đó vẫn được duy trì cho đến tận hôm nay. Năm

2004, các nước ven bờ Địa Trung Hải sản xuất ra 138 triệu hectolit rượu

vang, chiếm 50% sản lượng toàn thế giới.

Vào thời điểm mà sự cạnh tranh trên thế giới trong lĩnh vực sản xuất và

kinh doanh rượu vang rất khốc liệt, hội chợ quốc tế rượu vang và rượu mạnh

Vinisud là nơi giới thiệu cho các nhà nhập khẩu đến từ các quốc gia trên thế

giới hình ảnh rượu vang vùng Địa Trung Hải, mềm mại, tròn trĩnh, đầy

hương vị mặn mòi của biển và ánh nắng mặt trời. Đây cũng là nơi các nhà

sản xuất và nhập khẩu gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm, thử nếm, lựa chọn sản

phẩm và ký kết các hợp đồng xuất nhập khẩu.

Mở rộng thị trường xuất khẩu sang các quốc gia khác trên thế giới và

đón tiếp ngày càng nhiều khách tham quan, đó là mục tiêu hàng đầu của ban

tổ chức hội chợ rượu vang quốc tế này.

Tuy là một trong những sự kiện quốc tế lớn trong năm 2006, Ban tổ

chức hội chợ đã hết sức cố gắng hạn chế số lượng các gian hàng tham gia hội

chợ để đảm bảo tính chất vừa chuyên môn vừa thân hữu “cây nhà lá vườn”

của sự kiện. Số lượng các gian hàng vì thế được ấn định là 1.500, trong đó

các gian hàng của vùng Languedoc - Roussillon chiếm phần lớn nhất (741

gian hàng), vùng Côtes du Rhône (319 gian hàng), vùng Tây Nam (111 gian

hàng), vùng Provence và đảo Corse (101 gian hàng). Các vùng trồng nho,

làm rượu khác của Pháp như Bordeaux, Bourgogne, Champagne, Alsace,

Loire Valley và Jura - Savoie không có đại diện tham gia, do không nằm ven

bờ Địa Trung Hải.

Các nhà sản xuất rượu vang của Tây Ban Nha (102 gian hàng), Italia (81

gian hàng) đã chứng tỏ quyết tâm thâm nhập mạnh hơn vào thị trường rượu

vang thế giới. Bên cạnh đó, sự có mặt của nhiều nhà sản xuất rượu vang đến

từ Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Algeria, Tunisia, Ma-rốc cũng nói lên hội nhập

kinh tế thế giới là xu thế tất yếu của thời đại.

Được tổ chức 2 năm một lần ở thành phố Montpellier như hội chợ rượu

vang quốc tế Vinexpo ở Bordeaux, năm nay Vinisud hy vọng đón nhận

khoảng 32.500 lượt khách, được chia thành các nhóm lớn. Theo các số liệu

năm 2004, tỷ lệ giữa các nhóm như sau: 41% là các nhà nhập khẩu, buôn bán

rượu, 7% là các nhà phụ trách về mua bán cho các tập đoàn siêu thị lớn, 25%

là các đại lý bán buôn, bán lẻ, 17% là các chuyên gia trong các lĩnh vực nhà

hàng, khách sạn...

Năm nay, ngoài các đoàn khách đến từ các vùng của nước Pháp, trọng

tâm của Vinisud 2006 sẽ nhằm vào các đại diện đến từ Nhật Bản, Nam Triều

Tiên, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, các nước ven

biển Baltic, Nga, Mỹ, Brésil...

Cũng như các năm trước, Cung đại hội Địa Trung Hải sẽ được dành cho

các buổi thử nếm do Hiệp hội các chuyên gia làm rượu của Pháp tổ chức.

Mỗi nhà sản xuất tham gia Hội chợ Vinisud 2006 sẽ gửi đến Cung đại hội

các loại rượu vang ngon nhất của họ nhằm tạo điều kiện cho khách tham

quan thử nếm và lựa chọn sản phẩm trong những điều kiện tối ưu.

Tại các gian hàng, nhiều chủ đề về thử nếm rượu vang đã được đề cập

đến: thử nếm mù, thử nếm theo niên hiệu, thử nếm theo dòng nho, sự kết hợp

giữa rượu vang và các món ăn, sự kết hợp giữa rượu vang và pho mát, giữa

rượu vang và gan béo, giữa rượu vang và chocolates, giữa rượu vang và các

món ăn Châu Á...

Hội chợ bế mạc chiều tối ngày 22/02/2006.

« Lùi
Tiến »