Thủ Quỹ trông giống Ben Kingsley.
Cái đầu dài và hói, đôi mắt kính tròn nhỏ, nụ cười ngoác miệng để lộ toàn bộ hai hàm răng chẳng khác nào những phím đàn và mấy nếp nhăn hằn sâu trên trán cũng thanh nhã chẳng khác nào các dòng kẻ trên khuông nhạc. Vả lại, Alpha có cảm giác rằng tất cả những gã bị giam cầm trong nhà tù đều giống với các diễn viên người Mỹ. Cậu đã nhìn thấy Bruce Willis đi ra từ nhà xí, một De Niro già nua nói chuyện một mình ở góc sân, một Robert Downey Jr và một Hugh Jackman tranh thủ thời gian đi dạo buổi sáng để tập cơ bụng.
Ben Thủ Quỹ lại gần, bám sát cậu, hai người đi cạnh nhau suốt vài mét dọc theo tường nhà tù, nơi khuất gió. Ông ta chỉ thốt lên ba từ, thậm chí không nhìn Alpha.
— Tao nghe đây.
Alpha thở ra một hơi trước khi lên tiếng. Cậu phải cân nhắc lời lẽ. Cậu biết rằng Thủ Quỹ, cũng như cậu, đã tự nguyện để mình bị tống vào tù, mặc dù với Alpha là vài giờ còn với Thủ Quỹ là vài năm. Bởi vì nhất định phải có ai đó ở bên trong để điều hành công việc, giống như những tập đoàn đa quốc gia cần gửi nhân viên đến tận vùng Mãn Châu xa xôi hoặc đến Arlit ở giữa sa mạc Sahara. Một số người, như Thủ Quỹ, chấp thuận, bởi việc này là tạm thời và được trả lương hậu hĩnh. Alpha trình bày kế hoạch của mình bằng vài câu vắn tắt, và chủ yếu là đưa ra các mật mã để lấy một hồ sơ lưu trữ trong một tài khoản Dropbox. Họ sẽ tìm thấy trong hồ sơ đó toàn bộ các chi tiết, kế hoạch tài chính, các đầu mối liên hệ, các kỳ hạn. Tất cả đã được dự kiến, mọi chuyện đã được chuẩn bị đâu vào đấy. Rồi Alpha nhấn mạnh đến các khoản lợi nhuận, những khoản lợi nhuận khổng lồ, nhưng phải tiến hành nhanh chóng.
Trái ngược với DeVito, Ben Thủ Quỹ có vẻ quan tâm ngay lập tức. Ông ta ném cho Alpha nụ cười của một ông chủ nhà băng. Chỉ thiếu nước ông ta bắt tay cậu mà thôi.
— Tôi sẽ truyền đạt lại. Chúng tôi sẽ nghiên cứu.
Alpha quyết định đẩy lợi thế đi xa hơn.
— Phải tiến hành thật sự nhanh. Con tàu sẽ không trống lâu đâu.
Vừa nói xong, cậu cảm thấy hối tiếc ngay lập tức. Ben đã tách ra xa. Cuộc trò chuyện kéo dài chưa đầy một phút. Thủ Quỹ là người đưa ra ý kiến cuối cùng.
— Chúng tôi không có thói quen lần chần. Ở chỗ chúng tôi, thông tin được truyền tải nhanh chóng. Nó đã được đưa lên rồi. Mọi chuyện sẽ được giải quyết trong sáng nay.
7h04
Cảm ơn.
Chỉ hai từ đó, chỉ thoáng thốt ra, chỉ được thì thầm trong một hơi thở, cứ lặp đi lặp lại mãi trong tiềm thức của Jourdain Blanc-Martin. Khi ông bật máy vi tính lên, chính xác là vào lúc 7 giờ sáng nay, ở nền màn hình, tại vị trí của bức ảnh quen thuộc chụp con tàu Marité ngoài khơi bán đảo Port-de-Bouc, hiện lên khuôn mặt mẹ ông. Ông phải mất vài giây mới hiểu, trước khi nhớ ra rằng ông đã lên chương trình cho việc này từ nhiều tháng trước, để không quên ngày.
Cách đây mười năm, không sai một ngày, mẹ ông đã thiếp ngủ trong vòng tay ông, trên chiếc giường lớn tại nhà của bà Sausset-les-Pins, đại lộ Côte-Bleue, nằm đối diện quần đảo Frioul. Bình lặng. Thanh thản, giống như một ngôi sao nhỏ nhòa đi vào buổi sớm để nhường chỗ cho ánh sáng. Có lẽ là hạnh phúc hơn bất cứ thời khắc nào trong đời bà.
Cảm ơn, bà đã thì thầm với ông trước khi nhắm mắt để cho bóng tối len vào.
Cảm ơn con, Jordy.
Đó là những lời cuối cùng của mẹ ông, Blanc-Martin thầm nghĩ. Đó cũng là lần cuối cùng có một người gọi ông bằng tên thật của ông.
Jordy.
Từ khi mẹ ông ra đi, mọi người đều gọi ông là Jourdain. Sáu trăm nhân viên của ông, mười lăm thành viên trong hội đồng quản trị, ba đứa con trai và vợ ông.
Blanc-Martin gửi lại chỉ dẫn lần thứ ba cho nữ thư ký. Đừng quên gửi một vòng hoa đến nghĩa trang Saint-Roch và một vòng hoa nữa đến buổi lễ mixa sẽ được tổ chức lúc 11 giờ tại nhà thờ Saint-Cézaire.
Mặc dù đã ra sức lục lọi trong tận cùng trí nhớ, ông vẫn chỉ giữ được rất ít kỷ niệm về thời tuổi trẻ khi sống cùng mẹ. Vài hình ảnh và âm thanh của những cuộc biểu tình nơi mẹ ông đưa ông đến, khi đó ông vẫn còn bé tẹo, đứng trên đại lộ Canebière, một thằng nhóc đứng dưới ngọn cờ của Tổng Liên đoàn Lao động Quốc tế. Annette Blanc là một nữ chiến binh tích cực, một chiến sĩ, một phụ nữ dấn thân vì lý tưởng bị cuốn theo luồng gió phản kháng xã hội. Một hồng nhân! Bà càng nhiệt huyết bao nhiêu thì cha ông, Bernard Martin, lại càng mờ nhạt bấy nhiêu. Trung lập. Không quan tâm đến chính trị. Người theo chủ nghĩa bỏ phiếu trắng. Chẳng đấu tranh cho điều gì, coi mọi thứ là hư vô sau khi các công trường tàu biển ở Port-de-Bouc bị đóng cửa. Jordy đã lớn lên trong tình cảnh mắc kẹt giữa biển và những tòa chung cư ở Les Aigues Douces, học cấp hai ở trường trung học Victor-Hugo và học cấp ba ở trường trung học Frédéric-Mistral. Trong những buổi gặp gỡ giữa phụ huynh và giáo viên, nơi chỉ có mẹ ông có mặt, để la hét, ông là thằng nhóc không được mọi người nhớ đến. Jordy ư? Jordy gì nhỉ? Jordy Martin à? Cô chờ nhé… Thằng nhóc mà giáo viên bình luận về những điểm số, không đến nỗi tệ cho lắm, nhưng không nhớ được giọng nói của nó.
Jourdain ngắm nghía bức ảnh chân dung mẹ ông suốt nhiều giây liền, rồi cuối cùng cũng mở tập tin văn bản ra. Mọi thứ trong biệt thự Lavéra đều im ắng. Ông có chút thời gian trước khi Safietou mang bữa sáng đến. Nếu ông tập trung, khoảng thời gian này là đủ để vạch ra những nét chính trong bài diễn văn mà ngày mai ông phải phát biểu để khai mạc hội nghị chuyên đề của Frontex tại lâu đài Pharo. Cơ quan châu Âu này, để mua sự trong sạch cho mình, đã áp dụng chiến lược mạo hiểm là giao phó bài diễn văn mở đầu hội nghị cho các tổ chức tư nhân.
Toàn quyền hành động.
Blanc-Martin sẽ không làm họ thất vọng…
Tuy nhiên, ông vẫn để mình lơ đãng một lát trước khi gõ những từ đầu tiên trên bàn phím, lúc đầu là đưa ánh mắt thèm muốn về phía bể bơi, rồi nhìn sang hàng hiên bằng gỗ teak và quang cảnh trên bến cảng. Jourdain thích so sánh vũng tàu Port-de-Bouc với phần hàm của một con mãnh thú. Từ trên cao biệt thự của ông, ảo ảnh đó thật thuyết phục: mỏm con đê chắn sóng uốn vòng tạo thành một cái răng nanh hoàn hảo, trong khi các vũng cảng, bến du thuyền ở phía Bắc, bến tàu dầu ở phía Nam, vươn ra vùng vịnh hé mở chẳng khác nào những chiếc răng sắc nhọn. Sáng nay gió đã nổi lên. Ông vẫn ngồi, đấu tranh chống lại mong muốn được đi ra kiểm tra xem Escaillon, Maribor và các tàu khác trong bến có được neo buộc chắc chắn không.
Bài diễn văn khai mạc của ông sẽ theo kiểu truyền thống và phổ thông. Nó sẽ làm vui lòng những người đứng đầu các tổ chức địa phương và làm yên lòng các khách mời quốc tế. Jourdain sẽ nhắc nhớ đến giai đoạn mùa hè năm 1947 khi mà Port-de-Bouc được đưa lên trang nhất của thời sự quốc tế, khi mà 4.500 người tị nạn, những người Do Thái, những người thoát khỏi thảm sát Holocaust, bị trục xuất khỏi tàu Exodus, đã bị người Anh quây nhốt ở đây, trên ba tàu-nhà tù, suốt ba tuần, trong những điều kiện phi nhân đạo sẽ khiến cả thế giới phải choáng váng.
Blanc-Martin không nhấn mạnh đến trang sử này, mà sẽ thu hút sự chú ý vào sợi dây đoàn kết tự phát được các cư dân Port-de-Bouc tổ chức, mẹ ông thuộc nhóm những người phụ nữ tích cực nhất, vượt xa thái độ chần chừ của chính quyền Pháp và chính quyền Anh. Mặt khác, có lẽ chính ông đã thành lập Vogelzug, tại đây, ở Port-de-Bouc này, là nhằm tưởng nhớ đến thời kỳ đã được khắc ghi vào ký ức cộng đồng này. Ông sẽ dẫn dắt sang một bài học đạo đức hơi ngây thơ, nhưng sẽ được đánh giá cao bởi các chính khách lãnh đạo dựa trên kết quả điều tra. Thông thường, ông sẽ khẳng định bằng cách lấy ví dụ về chủ nghĩa anh hùng hàng ngày của người dân Port-de-Bouc, những người đàn ông và phụ nữ luôn khẳng định không muốn chia sẻ lãnh thổ của mình với người di cư, người tị nạn, lại là những người đầu tiên ra tay giúp đỡ những người ngoại quốc chìa ra bàn tay tuyệt vọng khi chỉ còn cách miền đất hứa của họ vài mét. Như thể chủ nghĩa phân biệt chủng tộc công khai của họ chỉ là chiếc áo giáp mà họ khoác lên mình để chống lại chính bản chất hào hiệp của họ. Bắt đầu bằng một bài học về lòng nhân đạo. Tất cả mọi người sẽ vui lòng, từ ông thị trưởng Port-de-Bouc đến các đại diện của Thổ Nhĩ Kỳ, của đảo Síp và của Hungari.
Ông mỉm cười khi đọc lại những ghi chép đầu tiên, rồi nhăn nhó khó chịu. Ông lưỡng lự đôi chút về cụm từ phân biệt chủng tộc, ông những muốn tìm ra một cụm từ khác thích hợp hơn để chỉ nỗi sợ hãi trước những người tị nạn. Ông khó mà tập trung được. Sáng nay, ngày giỗ của mẹ ông đã đưa ông trở lại nhiều năm về trước.
Jordy Martin.
Tháng chín năm 1971, ông ghi danh vào đại học Luật Aix-Marseille. Trong tiết luật hiến pháp đầu tiên, trong số hai trăm sinh viên, Jordy không nhận ra bất cứ thanh niên nào ở Port-de-Bouc. Ông có cảm giác rằng tất cả các sinh viên khác đều xuất thân từ những khu phố giàu có và những vùng sang trọng, từ Aix hoặc từ phía Nam Marseille, rằng cái tên cũng như xuất thân của ông khiến ông không bao giờ được nằm trong số mười lăm sinh viên sẽ ra khỏi mô hình đào tạo hình phễu năm năm sau, trong túi là một tấm bằng thạc sĩ quốc tế hoặc một suất thi công chức cấp cao. Khi giảng viên cho cả lớp chuyền tay nhau danh sách ghi tên vào các tiết học thực hành, Jordy chỉ viết tên riêng của mình bằng nét chữ gần như không thể đọc nổi.
Jordy trở thành Jourdain.
Cũng trên tờ danh sách đó, ông đã ghép họ của cha mẹ mình, hai người chưa từng kết hôn, Annette Blanc và Bernard Martin. Thật lạ lùng, chỉ cần kết hợp hai cái họ ngớ ngẩn đó lại là có một cái họ mới thật kêu, chẳng khác nào một dòng họ lãnh chúa.
Kể từ lễ khai giảng năm 1971 ấy, và với tất cả những người ông gặp từ đó về sau, ông sẽ là Jourdain Blanc-Martin.
Jourdain say mê quyền trẻ em, các nạn nhân chiến tranh và nạn nhân của các thảm họa tự nhiên, những người không có giấy tờ tùy thân. Ông nhanh chóng tự thuyết phục mình rằng người ta có thể trở nên giàu có khi chuyên tâm vào quyền của những người nghèo khổ ngang với khi chuyên tâm vào ngành luật kinh doanh. Vài năm sau, khi mới đang làm thạc sĩ về Quyền con người và Luật nhân đạo, ông đã thành lập tổ chức Vogelzug.
Blanc-Martin chăm chú nhìn lần cuối vào một điểm tưởng tượng ở phía biển, rồi lại chúi mũi vào màn hình. Sau phần mở đầu đầy trịnh trọng này, các khách mời của Frontex hẳn sẽ chờ đợi ông mạnh mẽ lên án những kẻ đưa người vượt biên, hàng vài chục tỷ thu được từ việc buôn người da đen này, hàng ngàn người chết đuối trên biển Địa Trung Hải.
Ông sẽ không phục vụ họ cái điệu hát nhàm tai đó! Họ không cần đến ông vì điều đó, những bảng tính được phân phát trong tập hồ sơ dành cho người tham dự hội nghị đầy ắp những con số này đến mức khiến người ta buồn nôn. Frontex có đặc quyền lạ lùng là được Liên minh châu Âu giao cho nhiệm vụ đánh giá các vấn đề liên quan đến người di cư… và giải quyết chúng. Nói cách khác, cơ quan này xác định mức độ rủi ro, phục vụ cho việc đàm phán ngân sách, đã nhân gấp bảy trong mười năm, để có thể mua bổ sung cho mình vài chiếc máy bay hoặc trực thăng. Tuy nhiên, ông sẽ tránh việc tấn công trực diện cơ quan Frontex, trong phòng hội nghị hẳn sẽ có vài chục chiến binh sẵn sàng tố cáo quá trình tư nhân hóa và xu hướng trở thành một cơ quan bán quân sự của nó. Ông muốn đón nhận ý kiến của họ bằng việc trích dẫn câu nói tất yếu của Stefan Zweig. Ông thường xuyên dùng nó, và nó luôn mang lại tác động nhất định.
Không điều gì có thể khiến tình trạng thụt lùi khủng khiếp mà thế giới đã phải chịu đựng từ Thế chiến thứ nhất trở nên rõ rệt hơn là những hạn chế đặt ra với tự do của con người. Trước năm 1914, trái đất từng thuộc về tất cả mọi người. Ai muốn đi đâu tùy ý và có thể ở lại đó lâu chừng nào anh ta muốn.
Sau đó, ông sẽ chuyển ý bằng cách nhắc nhở rằng nhân loại từng vẫn sống mà không cần hộ chiếu. Con người chỉ sáng tạo ra mảnh giấy đó nhân Thế chiến thứ nhất, đồng thời cam kết là sẽ hủy bỏ nó ngay khi hòa bình được lập lại. Lời hứa đó đã trở thành chủ đề tranh cãi từ lâu của Hội Quốc Liên, rồi của Liên Hiệp Quốc, trước khi bị vĩnh viễn chôn vùi vào những năm 1960. Việc tự do di chuyển của con người trên trái đất này, cái quyền cơ bản, có tính lịch sử và đã tồn tại hàng ngàn năm đó chỉ trở thành một ảo tưởng trong vòng chưa đầy năm mươi năm trở lại đây, và ngay cả những người theo lý tưởng chủ nghĩa nhiệt thành nhất cũng không còn tin vào nó nữa.
Một cái tát đích đáng vào những ý tưởng đã được đưa ra! Ông sẽ xoáy sâu thêm cái đinh bằng cách nhấn mạnh rằng số người di cư thực tế trên hành tinh này vẫn ổn định từ nhiều năm nay, chiếm khoảng 3% dân số thế giới, ít hơn khoảng ba lần so với thế kỷ 19. Một nghịch lý trong một xã hội toàn cầu hóa, nơi mọi thứ đều di chuyển nhanh hơn và xa hơn so với các thế kỷ trước, từ tiền bạc, thông tin, năng lượng cho đến văn hóa. Tất cả. Tất cả trừ con người. Trừ đa số nhân loại. Hiện nay, các chính thể dân chủ đang dựng nên những bức tường. Một căn bệnh truyền nhiễm thực sự kể từ ngày 11 tháng Chín năm 2001. Những bức tường không phải là để che chắn, mà là để sàng lọc. Để phân loại, để sàng lọc con người thành những người được mong muốn và những kẻ không ai muốn dung nạp. Không có biên giới nào bị quân sự hóa, đắt đỏ và làm chết nhiều người hơn là biên giới giữa Mỹ và Mexico, trong khi mỗi năm vẫn có hàng vài chục triệu phương tiện giao thông đi lại giữa Tijuana và San Diego.
Jourdain đọc lại bài viết, và rất thích thú. Sáng nay, ông thấy mình thật trữ tình. Thậm chí ông còn tự hỏi liệu mình có thể tiến xa hơn không, bằng việc đề xuất hủy bỏ, một cách đơn giản và thuần chất, các đường biên giới. Không còn biên giới và không còn người nhập cư bất hợp pháp. Vấn đề đã được giải quyết! Frontex sẽ chẳng còn tác dụng gì. Đó là một thực tế được chứng minh ở mọi nơi, và đặc biệt là với sự sụp đổ của bức tường Berlin hoặc việc lập ra khối Schengen: Con người càng tự do di chuyển, họ càng ít đến sống ở nơi khác hơn.
Ông ngước mắt lên. Chỉ riêng ông mới có thể cho phép mình đẩy sự khiêu khích đi xa đến thế. Với Vogelzug, ông đã xây dựng một đế chế cũng mơ hồ chẳng khác nào Frontex. Tình trạng di cư bất hợp pháp đã nuôi sống vài trăm nhân viên và hội đồng quản trị của ông. Gia đình ông. Một cuộc sống rất ổn.
Ở chân trời, xa ngoài mũi Carro, ông nhìn thấy vũng Côte Bleue, những ngọn đồi phủ rợp bóng cây,nơi ẩn mình của thôn trang Sausset-les-Pins mà ông tặng cho cha mẹ mình vào năm 1995. Một trang viên trên sườn đồi, nơi chỉ riêng phòng tắm cũng rộng hơn căn hộ của họ ở Les Aigues Douces. Phải khó khăn lắm mẹ ông mới chấp thuận sự xa hoa đó. Nhưng con trai Jordy bé nhỏ của bà thì rất tự hào. Từ chối món quà khủng này cũng có nghĩa là coi thường thành công của ông. Bà đã sống một mình ở đó chín năm, sau khi cha ông mất, bị quật ngã bởi một cơn tai biến mạch máu não, trên bến nổi nơi ông cụ đang câu cá.
Cùng với cái chết của cha mẹ, cậu bé Jordy cũng chết theo.
Xuất phát từ tay trắng, leo lên đến nấc thang tít trên cao. Ánh mắt ông lướt trên dãy chung cư của Les Aigues Douces, quay ra biển nhưng lại bị ngăn cách với phần còn lại của thành phố bằng một mê cung tạo bởi những ngõ cụt. Sự thăng tiến mà các con của ông sẽ không bao giờ biết đến, cho dù trong vài tháng hoặc vài năm nữa, Geoffrey sẽ thừa kế ghế chủ tịch tổ chức. Ông ngồi thẳng dậy trên ghế rồi khó chịu ước lượng độ cao của hàng rào bảo vệ biệt thự, những bức tường bao quanh khu vườn, giống hệt với những bức tường bảo vệ tòa nhà của các con trai ông, ở Eguilles, Cabriès, Carry-le-Rouet. Sinh ra ở tít trên cao. Được rào kín để ở lại trên đó.
Jourdain xem đồng hồ. Ông cho bản thân nửa giờ nữa để viết thêm. Ông vẫn còn nhiều điểm cần đề cập. Những chủ đề gây tranh cãi cần tháo gỡ. Sự bất ổn trong xã hội Pháp là do sự xuất hiện của vài trăm ngàn người tị nạn chăng? Bốn triệu người Liban đã đón nhận, trên lãnh thổ nhỏ xíu có mật độ dân cư gấp sáu lần mật độ dân cư của nước Pháp, một triệu rưỡi người Syria. Một thảm họa cho nền tài chính công ư? Tất cả các nhà kinh tế học đều thống nhất khẳng định rằng việc đón nhận người lao động nước ngoài là một cơ hội cho nền kinh tế, rằng lực lượng này sẽ mang lại nhiều hơn chi phí mà các nền kinh tế phải bỏ ra cho họ. Vì họ đã được đào tạo. Và còn chưa nghỉ hưu.
Jourdain Blanc-Martin đang chuẩn bị bóp chết thêm một sự thật sai lệch khác thì bị bản Adagio của Barber cắt ngang. Ông lấy điện thoại di động từ trong túi ra.
Petar. Petar Velika.
Một dự cảm không lành khiến cổ họng ông nghẹn lại. Chắc chắn là viên thiếu tá cảnh sát không gọi cho ông vào giờ này để thông báo rằng ông ta đã tóm được ả sát nhân giết François Valioni. Ông đứng dậy và ngắm nghía làn gió mistral đang làm các vỏ tàu trong cảng Renaissance rung lắc.
— Ông Blanc-Martin?
— Chính ông ta đây.
— Tôi sẽ không vòng vo đâu. Chúng tôi. Chúng tôi lại có một xác chết mới… Jean-Lou Courtois. Nghi thức vẫn giống hệt như đã làm với Valioni. Bị trói. Mạch máu cổ tay bị cắt. Tìm thấy trong một phòng ở khách sạn Red Corner. Lần này là phòng Caravansérail và…
— Các ông không cử người mai phục trước của khách sạn sao? – Blanc-Martin ngạc nhiên hỏi.
— Có chứ, đương nhiên là có rồi. Ông sẽ thấy chuyện này thật khó tin nhưng…
— Dù sao đi nữa. – Vị chủ tịch cắt ngang, không thèm quan tâm đến những lời biện minh của viên cảnh sát. – Jean-Clou Courtois không còn làm việc cho Vogelzug nữa. Từ gần hai mươi năm nay rồi. Hẳn lý do này đủ để tổ chức của tôi không phải dính vào tất cả những chuyện này nữa. Tôi trông cậy vào ông đấy, Velika a.
8h21
Gió thổi sập cánh cửa sổ phòng Caravansérail ở khách sạn Red Corner, cánh cửa mà Petar Velika đã yêu cầu mở ra. Cách duy nhất, theo viên thiếu tá, để khỏi tin rằng mình vừa bị dịch chuyển vào sa mạc. Ông đứng bên cửa sổ tầng bốn một lát, cửa sổ này trông ra vùng ngoại vi và khu thương mại, rồi quay trở vào căn phòng có trần bằng vải và những bức tường bằng cát. Serge Tisserant, viên quản lý khách sạn, đứng trước mặt ông, trang phục vẫn chỉnh tề không chê vào đâu được. Bên dưới mái lều theo kiểu phương Đông, hai chân lún sâu trong lớp thảm dày, trông ông ta chẳng khác nào một viên chức thuộc địa có trách nhiệm thông báo với đám người Ả Rập du cư rằng người ta vừa tìm thấy dầu dưới lòng đất và họ sẽ phải biến đi chỗ khác.
— Phòng của các khách sạn Red Corner trên khắp thế giới thực sự là giống hệt nhau sao? – Petar hỏi.
Tisserant gật đầu.
— Cho tôi xem nào. – Viên thiếu tá nói. – Nếu chúng ta phải đương đầu với một ả giết người hàng loạt mỗi sáng lại để lại cho chúng ta một xác chết ở khắp bốn phương trên hành tinh này, chỉ bằng cách đổi phòng mỗi tối, tôi muốn thử hình dung xem cô ta sẽ đi săn mồi ở đâu vào ngày mai.
Ông quay sang trung úy Julo Flores, anh đang ngồi trên chiếc ghế đôn bọc vải thêu, ngoan ngoãn chờ lệnh cấp trên.
— Trong lúc tôi dạo một vòng quanh cơ ngơi này, cậu chuẩn bị cho tôi bản tóm tắt chi tiết nhé?
Julo sững sờ nhìn theo viên thiếu tá đang đi xa dần. Petar đã quàng một tay qua vai viên quản lý và trò chuyện với ông ta như thể ông ta là một nhân viên môi giới bất động sản.
— Thế nào, Serge, hãy cho tôi biết xem, có phải trong phòng Sen hồng, các bức tường đều được phủ tranh khắc gỗ tả cảnh khiêu dâm của Nhật Bản, còn các ngăn kéo thì chất đầy bóng Benwa không? Còn trong phòng Carioca, ta sẽ tìm thấy cả loạt quần lọt khe, quần lót dây và đủ loại quần lót khác? Đưa tôi đi thăm đi, anh bạn, cho tôi thấy tất cả những thứ đó.
Nửa giờ sau, Petar quay trở lại, một mình. Ông đến gặp Julo quầy bar khách sạn Red Corner, kéo ghế và ngồi đối diện với viên cảnh sát phụ tá. Viên trung úy đặt một chai nước lên bàn, đặt cốc trước mặt ông.
— Thế nào rồi?
Julo trình bày một bản tóm tắt ngắn gọn. Thông tin tiếp tục được thu thập ngay lập tức. Nạn nhân, Jean-Lou Courtois, có vẻ là một ông bố không điều tiếng gì, rất tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng, là chủ tịch của một hiệp hội trợ giúp các cha mẹ có con bị hội chứng Down. Mối liên hệ duy nhất giữa ông ta với François Valioni là Vogelzug, ông ta đã làm việc cho tổ chức này trong gần mười năm, trước khi từ chức.
Petar Velika im lặng không nói gì.
— Còn đâu thì. – Julo nói tiếp. – Kịch bản của vụ giết người này giống hệt vụ Valioni. Bác sĩ pháp y sẽ gửi báo cáo đầu tiên cho chúng ta trong sáng nay. Chúng tôi đang kiểm tra băng ghi hình của các camera giám sát để xem có phải là cùng cô gái đó không.
Lần này, ánh mắt Petar sáng lên. Ông quay đầu về phía cửa ra vào của khách sạn Red Corner nơi hạ sĩ Taleb đang gà gật. Taleb đã cắm chốt trước của khách sạn Red Corner cả đêm. Chẳng ích gì. Làm sao họ có thể hình dung được rằng ả sát nhân tìm ra cách giết hại nạn nhân của mình trong phòng Caravansérail mà không đi vào qua cửa duy nhất của khách sạn?
— Thưa thiếu tá. – Julo cắt ngang, hơi lớn giọng thêm một chút. – Dù thế nào, hiện trường vụ án cũng cho chúng ta thấy hai điểm mới rõ rệt so với vụ sát hại François Valioni. Tôi nói chi tiết cho ông nghe nhé?
— Tôi nghe đây.
— Trước hết, chúng tôi đã tìm thấy những mảnh thủy tinh vỡ trên tấm thảm, gần xác Courtois. Nhóm cảnh sát khoa học cho rằng đây là một món đồ trang sức nhỏ, một thứ không có giá trị, nhưng họ vẫn chưa tái tạo được hình dáng của nó.
— OK, họ sẽ gọi cho chúng ta sau khi kết thúc trò chơi ghép hình. Thế còn manh mối thứ hai của cậu?
— Máu. Jean-Lou Courtois đã cắn được vào kẻ sát nhân. Vào bàn tay, theo các bác sĩ pháp y. Chúng tôi đã tìm thấy máu trên quần áo, trên môi và trên răng cửa của ông ta. Trộn lẫn với máu của chính ông ta. Đương nhiên, chúng tôi sẽ chuyển toàn bộ những thứ này đến cơ quan lưu trữ dấu vân tay quốc gia, nhưng tôi không quá tin rằng ADN đó sẽ giúp chúng ta lần ra cô ta.
— Ờ. Thế cậu tin vào cái gì, anh chàng ranh mãnh?
— Nhóm máu của cô ta. Mất chưa đầy năm phút để biết.
— Thế thì sao?
— AB. Một trong những nhóm máu hiếm nhất. Nó chỉ chảy trong huyết mạch của 4% dân số thế giới.
— Tuyệt vời… Như thế chúng ta chỉ còn lại chừng vài triệu nữ nghi phạm.
Trung úy Flores xem đồng hồ, uống cạn cốc nước, cầm cái chai rồi phác cử chỉ như sắp đứng dậy.
— Tôi không muốn hối thúc ông, sếp ạ, nhưng mười lăm phút nữa chúng ta có hẹn ở Trung tâm Al Islâh. Tôi rất tiếc, lần này tôi không có thời gian đi mua cà phê Starbucks cho ông.
— Chết tiệt. – Viên thiếu tá thốt lên. Làm sao tôi có thể qua nổi một ngày nếu không có món Kati Kati Ethiopia?
Julo vừa đứng dậy vừa mỉm cười. Thiếu tá Velika đi theo anh bằng bước chân rề rà, rõ ràng ông không mấy thích thú với việc đi gặp một chuyên gia về châu Phi cổ, lại càng không thích khi ông không phải là người quyết định nơi hẹn. Giờ mà các giảng viên đại học lại còn bắt đầu giở bài của các ngôi sao bận rộn thì… Trong khi họ đi bộ trên vỉa hè hướng về phía chiếc Renault Safrane, Julo nhân khoảng im lặng để đưa ra thông tin cuối cùng.
— Chúng tôi đã kịp kiểm tra máy tính xách tay của Jean-Lou Courtois. Cách thức tạo lập mối liên hệ cũng giống như cách tiếp cận Valioni. Ông ta đã có thời gian trò chuyện dài với nữ sát nhân giả định của mình trên Facebook, từ nhiều tháng nay, bằng tin nhắn riêng. Chính cô ta là người tìm đến ông ta.
— Dù sao cũng không phải bằng cái biệt danh Bambi13 chứ?
— Không. Lần này, cô ta lấy tên là Faline95.
— 95? Tỉnh Val-d’Oise? Không hẳn là cánh cửa bên cạnh Marseille.
— Trừ phi 95 không phải là con số của tỉnh, mà là năm sinh của cô ta. Hai mươi mốt tuổi, cũng phù hợp đấy chứ.
Petar dừng lại trước chiếc Safrane màu xanh da trời mạ kim loại.
— Phù hợp với cái gì? Làm sao cậu có thể chắc chắn rằng ả Faline95 này cũng chính là cô người yêu bé nhỏ của cậu, Bambi13?
Đến lượt Julo dừng lại trước chiếc xe, phía ghế hành khách, và chăm chăm nhìn cấp trên.
— Ông biết ai là Faline không, thiếu tá?
— Không hề… Một nữ ca sĩ à?
— Một con hươu cái, thưa sếp.
Velika nhìn Julo với vẻ lạ lùng, và nhắc lại như thể ông chưa nghe rõ:
— Một con hươu cái ư?
— Faline chính là bạn tình của Bambi.
— Mę kiếp…
Viên thiếu tá đứng vững một lát đằng trước chiếc xe cảnh sát, rồi, đột nhiên, ném chìa khóa xe cho viên phụ tá.
— Lái đi, Sherlock! Chúng ta sẽ chơi lớn. Tôi gọi Ryan để yêu cầu anh ta chính thức tìm thông tin về Bamby Maal, để anh ta kiểm tra xem họ đã thả tự do cho em trai cô ta chưa, và nhất là để anh ta sắp xếp cho chúng ta gặp Leyli, mẹ của hai thiên thần đó. Lần này, Cục Cảnh sát hình sự sẽ trải thảm đỏ cho chúng ta.
8h27
— Mở mắt ra, Tidiane!
— Không cần đâu ông ơi!
Khi cụp mi mắt lại, ngay sau lúc đi qua bùng binh, Tidiane nhận ra rằng không cần nhìn cậu cũng có thể tìm đường đến tận trường học. Não bộ cậu đã ghi nhận toàn bộ từ khi cậu còn nhỏ, mà thậm chí cậu còn không nhận ra điều đó. Tiếng bước chân cậu vang lên trên lớp sỏi khi cậu băng qua công viên, tiếng chim hót trên những cây ô-liu trồng dọc đại lộ Jean-Jaurès, cho đến mùi bánh tỏa ra từ tiệm bánh mì ở góc đại lộ Pasteur. Chờ đèn đỏ. Lắng nghe những chiếc xe hơi dừng lại. Đi sang đường.
— Mở mắt ra, Tidiane!
Tidiane không cho ông ngoại Moussa cầm tay. Dù thế nào, cậu cũng cần một tay để ôm quả bóng, còn tay kia để quờ quạng trong bóng tối trước mặt. Tuy nhiên, cậu vẫn để cho ông ngoại đặt một tay lên vai cậu để dẫn cậu sang đường.
— Chú ý vỉa hè nào, cháu yêu!
Tidiane nhấc chân lên. Thật dễ dàng bước đi trong bóng tối nếu ta chú ý đến từng tiếng động. Cậu đã nghe thấy tiếng la hét của lũ trẻ từ xa, trong sân trường. Cậu chỉ còn phải đi dọc phố. Cậu nghe thấy ông ngoại bước đi bên cạnh, hình dung hai cánh tay ông chìa ra sẵn sàng túm lấy cậu, như khi người ta canh chừng những bước chân đầu tiên của một em bé.
Một em bé.
Tidiane không muốn bạn bè nhìn thấy cậu trong cảnh này cho lắm. Khi ước chừng còn khoảng vài chục mét nữa là đến cổng trường, rốt cuộc cậu cũng mở mắt ra.
Thành công rồi! Cậu đang đứng trước đúng số nhà 12, ngôi nhà có chuồng chim ở ban công.
Lần này, ông ngoại túm lấy cổ tay giữ cậu lại.
— Chú nhóc này, lẽ ra ông không bao giờ nên kể cho cháu nghe chuyện mặt trời đã khiến mẹ cháu bị mù mới phải!
— Nhờ có ông, ông ngoại Moussa ạ, cháu sẽ mạnh mẽ như mẹ. Cháu sẽ rèn luyện cho đến khi nhận biết được mùi như một chú chó chăn cừu, nhìn được trong bóng tối như một con mèo, di chuyển trong bóng tối như một con chuột nhắt.
Ông ngoại chỉnh lại cổ áo sơ mi cho đứa cháu.
— Thế chuyện đó có ích gì cho cháu?
— Nó sẽ giúp cháu tìm ra kho báu của mẹ. Rồi sau đó là bảo vệ nó…
Người ta nghe thấy những tiếng la hét từ phía bên kia bức tường. Tiếng một quả bóng đập vào gạch. Tidiane ôm siết lấy quả bóng mà cậu đang kẹp ở nách. Lần này, cậu sốt ruột muốn gặp lại các bạn. Ông ngoại trìu mến nhìn cậu, nhưng vẫn không buông tay cậu.
— Ông đã từng như cháu, Tidiane ạ. Giống như cháu ở tuổi cháu. Trong đầu ông chỉ có toàn những chuyện về kho báu.
Tidiane vươn cổ ra, tò mò.
— Cả mẹ của ông cũng có một kho báu sao?
— Không, không phải mẹ ông. Mà là ông nội ông. Một kho báu mà không người nào có thể bảo vệ được. Nếu người ta không đánh cắp mất kho báu đó, có lẽ đã không có bất kỳ điều bất hạnh nào xảy ra với chúng ta.
Những tiếng la hét bùng lên trong sân trường. Một trong hai đội vừa ghi bàn. Lần này, Tidiane không thể ngăn mình chạy về phía cổng trường.
Hai mắt mở to.
— Tối nay ông sẽ kể chuyện đó cho cháu nghe, ông ngoại Moussa nhé!
9h17
Noura đứng vững trước mặt Ruben.
— Ông trả lương gấp đôi cho tôi sao?
Người quản lý khách sạn Ibis quan sát cô gái trẻ người châu Phi, đôi mắt tròn xoe. Như cô đã thông báo với ông, cô chỉ đến vào lúc 9 giờ sáng, nét mặt bơ phờ, mái tóc xoăn xù lên như một phù thủy đang đi tìm cái chổi. Cô bận rộn chừng mười lăm phút, trước khi giận dữ lao đến trước quầy.
— Ôi nào, nữ thần của tôi, có chuyện gì không ổn sao?
Noura là một tạo vật lạ lùng. Hoạt động bằng pin. Ban đêm, cô hát và nhảy, mang đến niềm vui cho các khách trọ bất hợp pháp. Ban ngày, cô đi đi lại lại trong hành lang và các phòng của khách sạn Ibis, tai nghe úp chặt vào tai, chẳng khác nào một cỗ máy chạy điện đang được sạc pin. Sáng nay, đôi tai nghe lủng lẳng quanh cổ cô.
— Chuyện không ổn, Ruben ạ, là về lý thuyết mà nói, chúng tôi có hai người làm công việc quét dọn!
Noura là một tạo vật kỳ lạ… và hay ghen. Cô thường than thở là có quá nhiều việc ở Ibis, nhưng lại không thể chịu đựng được việc ông nhận Leyli vào làm, lại càng không chịu được việc người mới đến này có kinh nghiệm hơn và làm tốt hơn cô. Nghị lực hơn, sống động hơn, hiệu quả hơn. Và đỉnh điểm của mọi sự, Leyli lại còn xinh xắn và vui vẻ, thuộc loại người có thể đốt nóng trái tim của đàn ông mặc dù không tỏ vẻ gì là như thế. Một người có khả năng tỏa sáng.
— Cô bé dịu dàng của ta ơi, Leyli đã đến nhận ca làm việc từ 6 giờ sáng nay. Cô ấy đi bộ, đi bộ suốt một giờ vì không có xe buýt lúc sớm như thế, cô ấy đã phải nhờ người trông giúp thằng bé con, cô ấy…
— Chẳng liên quan gì đến đời sống riêng của chị ta hết. Nếu chị ta ở đây, thì phải làm việc, chấm hết.
Noura thở ra một hơi dài, rồi, như thể có một thông báo Pin yếu đang nhấp nháy trong não, cô chụp tai nghe lên rồi bỏ đi, tay nắm chặt chổi.
Ruben tìm thấy Leyli ngồi trên giường phòng 23. Chị đang khóc. Dưới chân chị, đống ga trải giường và khăn tắm màu trắng khiến người ta có cảm giác chị đã dùng hết cả vài kilo khăn mùi soa. Trước khi Ruben kịp thốt ra lời nào, Leyli đã quay mặt về phía ông.
— Tôi bị triệu tập đến Sở Cảnh sát Port-de-Bouc. Chiều nay. Lúc 16 giờ.
— Tại sao?
— Lần này là chuyện liên quan đến Bamby. Họ… họ đang tìm kiếm con bé…
— Thế còn Alpha?
— Nó đã gửi tin nhắn cho tôi. Nó được ra rồi. Sáng sớm nay. Sớm hơn dự kiến.
— Thế còn con gái cô, Bamby. Con bé đang ở đâu?
Nước mắt lại tiếp tục chảy, lúc đầu là lăn chầm chậm dọc theo hai gò má Leyli, rồi đột ngột rơi xuống thành những viên bi nhỏ trên tạp dề bằng nhựa màu xanh và vỡ tan trên đùi chị. Ruben không hỏi lại câu vừa rồi, ông chỉ nói thêm:
— Nếu con gái cô gặp vấn đề, tôi có thể giúp con bé.
Leyli đã cho ông xem ảnh các con. Bamby rất xinh, xinh như Noura, vóc dáng mảnh mai, thân hình như được tạo ra để khiêu vũ, những đường cong như được vẽ nên để lắc mình uyển chuyển, một cần cổ bằng đồng để cất lên giọng nói trầm ấm, đôi môi như quả đào mộng mịn màng như nhung.
Ruben ngồi xuống bên cạnh Leyli.
— Sáu tiếng nữa mới đến giờ cô bị triệu tập. Chúng ta vẫn còn thời gian… Cô có muốn một cốc cà phê không?
Leyli đồng ý.
— Tôi mang từ đảo Halmahera ở Indonesia về đấy. Ba xe bò cà phê mà những người theo chủ nghĩa độc lập đã tặng cho tôi sau khi tôi bí mật chứa chấp lãnh đạo của họ, Johan Teterissa, trong vòng ba mươi sáu tháng, ông ta bị toàn bộ quân cảnh ở Djakarta truy tìm.
Leyli mỉm cười. Ruben đứng dậy đi lấy mật hoa Moluques trong văn phòng ông.
— Khi tôi quay trở lại. – Ông vừa nói vừa quay về phía Leyli. – Cô sẽ kể chuyện cho tôi nghe. Cuộc đời cô còn thú vị hơn cuộc đời tôi rất nhiều.
Leyli không nói gì, nhưng sự im lặng ấy có nghĩa là chị không tin chắc về điều đó. Ruben nhìn thẳng vào mắt chị, không thể giấu nổi chút sầu não.
— Ít nhất, cô cũng không bịa ra nó.
Leily - 6
Tôi cập bến ở Tanger vào tháng chín năm 1994. Nadia đã giúp tôi liên hệ với Caritas Maroc, một tổ chức chăm sóc cho các phụ nữ có thai. Nhiều phụ nữ di cư từ Hạ Sahara có thai trước cả khi tới được châu Âu. Phần lớn là sau khi bị cưỡng hiếp, những người khác thì ngược lại, họ đã tìm cách để quan hệ tình dục vào thời kỳ rụng trứng, phương pháp tốt nhất để đàn ông không còn đụng chạm đến họ trong suốt chín tháng. Một lợi thế khác, khi các trại tập trung dành cho người nhập cư bất hợp pháp bị nhà cầm quyền Maroc hoặc Algeria dỡ bỏ, phụ nữ được ưu tiên chăm sóc bởi các tổ chức xã hội, nhờ thế họ tránh được việc bị lục soát, bị đánh đập, bị tiếp tục hãm hiếp trong các nhà tù ở các đồn biên giới trong sa mạc. Dòng người chờ đợi gồm toàn các phụ nữ có thai kéo dài ở Caritas Maroc, nhưng những người mù, cũng giống như những người bị cụt chân tay, có may mắn là được ưu tiên.
Tôi đã kể lại câu chuyện của mình, chỉ không tiết lộ những thứ chứa trong chiếc túi Adidas mà tôi không bao giờ rời khỏi tay. Nó chứa tiền, nhiều tiền, tiền của tôi. Nhưng không chỉ có thế. Phần còn lại, phần chiến lợi phẩm thuộc về Adil mà tôi mang theo, tôi sẽ không bao giờ kể với bất kỳ ai, kể cả ông, Ruben ạ. Tôi sẽ chỉ nói với ông rằng tôi không thể vứt bỏ nó, nhưng cũng không thể tiêu nó. Thế đấy, Ruben ạ. Không có kho báu nào lại không đi kèm với lời nguyền.
Với các nữ y tá của Caritas Maroc, tôi nhắc đi nhắc lại chẳng khác nào một con điên rằng tôi muốn được phẫu thuật giác mạc. Một ca ghép giác mạc. Tôi có tiền. Tôi kể rằng gia đình tôi đã tiết kiệm tiền cho việc này. Tôi tin rằng Caritas đã điều tra đôi chút để xác minh câu chuyện của tôi. Thế là tôi biết được rằng Adil Zairi không phải là người tình như tôi vẫn tưởng. Anh ta rất quen thuộc với các mạng lưới người di cư, chơi trò hai mặt với tổ chức hỗ trợ người tị nạn, và kiếm thêm bằng cách đưa người di cư bất hợp pháp. Những cô gái khác cũng gục ngã trong vòng tay anh ta, tất cả cuối cùng đều trở thành gái điếm, rồi bị bỏ rơi, nhưng không có ai ở lại lâu như tôi. Có thể bởi vì anh ta yêu tôi nhiều hơn những cô gái khác chăng? Có thể bởi vì tôi mất nhiều thời gian hơn để hiểu ra sự thật hiển nhiên đó chăng? Không ai biết anh ta ra sao. Có còn sống không, hay đám buôn lậu đã ném xác anh ta xuống cảng Sousse.
Tôi không quan tâm. Tôi chỉ có một nỗi ám ảnh. Sáng mắt trở lại trước khi sinh con. Nhìn thấy con tôi ra đời. Tôi đã cầu xin vị bác sĩ phẫu thuật chịu trách nhiệm thực hiện ca ghép giác mạc cho tôi. Đó là một người đàn ông có giọng nói đanh thép và the thé, giống như giọng của một con chó nhỏ được cưng chiều. Tôi khóc lóc, nguyền rủa, nhưng ông ấy chỉ cần nói vài lời đã khiến tôi bình tâm trở lại.
— Việc đó quá nguy hiểm cho đứa bé.
Ông ấy nói về việc gây tê tại chỗ, về những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến đào thải miếng ghép, nhiễm trùng, chảy máu.
Tôi chỉ ghi nhớ được một điều.
Việc đó quá nguy hiểm cho đứa bé.
Tôi sinh con ngày 27 tháng Ba năm 1995, tại bệnh viện Bouregreg ở Rabat. Bác sĩ Roquet đã đồng ý mổ mắt cho tôi bốn tuần sau đó, vẫn tại Rabat. Ca mổ kéo dài hơn một giờ, gần bốn mươi phút cho mỗi bên mắt. Nếu ông biết tôi đã hét vào mặt bác sĩ như thế nào khi biết được điều đó. Thậm chí không gây mê toàn thân, không cần đến một tuần nằm viện. 90.000 dirham cho hai cú rạch dao mổ!
Quá nguy hiểm cho đứa bé, ông ấy đã khẳng định như thế.
Tôi đã giận bác sĩ Roquet rất nhiều. Con tôi ngủ cạnh tôi, trong nôi của nó, từ khi ra đời, thế mà tôi không biết trông nó như thế nào. Tôi cho nó bú, thay tã cho nó, tắm cho nó, hôn nó, làn da mềm mại và thơm tho của nó khiến tôi hạnh phúc đến phát điên, mặc dù không biết làn da đó có màu gì.
Tuy nhiên, vị bác sĩ phẫu thuật đã nói đúng, tôi chỉ hiểu ra điều đó sau ca phẫu thuật.
Thứ đầu tiên mà tôi nhìn thấy, khi mở mắt ra, đó là Bamby.
Sau đó tôi hoàn toàn có thể nhắm mắt mãi mãi. Chỉ hình ảnh duy nhất đó đã đủ cho suốt phần đời còn lại của tôi.
Bamby, kho báu của tôi, sắc đẹp của tôi, phép mầu của tôi. Đứa con yêu dấu của tôi.
Vài tuần sau, tôi quay về sống ở Ségou, cùng với cha mẹ tôi, các anh chị em họ của tôi và hàng xóm. Với một phần số tiền còn lại, tôi mua một ngôi nhà nhỏ gần bờ sông.
Bamby lớn lên. Một bông hoa trên cát. Yếu ớt. Như thể làn da sáng màu của một đứa bé lai da trắng khiến nó trông mỏng manh hơn đám con gái và con trai cùng tuổi. Như thể nó thiếu mất tấm áo giáp màu mun. Bamby ghê sợ làn nước đỏ son của dòng sông, ghét nhìn thấy váy của nó bị vấy bẩn vì đất sét, sợ đến tái người khi một con lạc đà đi qua. Hoàn toàn trái ngược với tính cách giống hệt con trai của tôi khi ở vào tuổi nó.
Bamby ngay lập tức thích đi học. Khoảng năm chục học sinh ngồi chen chúc trong phòng học duy nhất, các giờ học chỉ diễn ra vào buổi sáng và một bà giáo già nói tiếng Bambara nhiều hơn là tiếng Pháp phụ trách giảng bài. Không có trường nào khác trong vòng ba mươi kilomet xung quanh.
Dần dần, ý tưởng điên rồ đã nảy mầm.
Lại ra đi. Sang châu Âu. Đưa con gái tôi đến đó.
Tôi đã đến châu Âu, tôi đã sượt tay vào nó, ở Marsala, ở Marseille, ở Almería. Tôi không nhìn thấy gì ở bờ bên kia của Địa Trung Hải, nhưng tôi biết nơi đó. Ở Ségou, chúng tôi nhận được thư từ và một chút tiền của những người chị họ sống ở Montreuil, trong vùng Paris. Tôi chỉ có những ký ức mơ hồ về các chị ấy. Những cô bé không được lanh lợi lắm tôi từng chơi cùng khi còn nhỏ. Theo thư của các chị ấy, họ làm việc tại tòa thị chính, họ kiếm được nhiều ngàn franc mỗi tháng (thậm chí tôi không dám tính xem số tiền tương đương bằng đồng CFA là bao nhiêu), đến thư viện cùng gia đình, đi xem phim ở rạp chiếu phim.
Nếu hai cô nàng Nalo và Binetou ngốc nghếch đó thành công, nếu họ tặng được cho con mình tương lai như thế, vậy nhân danh điều gì mà tôi lại phải từ bỏ? Tôi đã vượt biên được một lần, khi còn bị mù. Tôi sẽ thành công lần thứ hai, khi đã sáng mắt. Nếu mọi chuyện diễn ra tốt đẹp, vì tôi vẫn còn khá nhiều tiền cho việc này, tôi có thể để Bamby lại cho bố mẹ tôi và vào châu Âu trong vài tuần. Khoảng thời gian để tìm được một việc làm, một chỗ đứng, rồi tôi sẽ đưa Bamby đến ở cùng. Ở Pháp, con bé sẽ có cơ hội. Con gái tôi là một bông hoa quá mong manh mọc lên trong sa mạc. Cứ ở đây, cuối cùng nó sẽ trở thành xương rồng. Ở Pháp, nó có thể trở thành hoa hồng, hoa diên vĩ, hoa lan.
Càng nghĩ về chuyện đó, quyết tâm của tôi càng trở nên mạnh mẽ, như một điều hiển nhiên.
Tôi phải tìm cách vượt biên vì Bamby. Ở lại chính là bỏ rơi nó. Tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho mình về chuyện đó. Có thể ông sẽ thấy kỳ lạ, Ruben ạ, khi tôi lập luận như thế, khi nghĩ rằng lại bên con gái tôi lại chính là bỏ rơi nó. Nhưng bởi vì ông đã đi rất nhiều nơi, hẳn ông phải hiểu rõ rằng tôi không phải là người duy nhất, rằng trên thế giới có hàng ngàn hàng vạn người mẹ không cam chịu, ở châu Phi và ở nơi khác nữa, những người mẹ cũng cảm thấy sự gấp gáp giống như tôi, những người đã chấp nhận hy sinh giống như tôi. Để con mình ở lại để tặng cho nó cơ hội có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Thậm chí không phải là một cuộc sống tốt đẹp hơn. Một cuộc sống khác, đơn giản thế thôi. Lần thứ hai mang đến cho chúng cuộc sống.
Chuyến đi tốn 3.000 franc. Khởi hành từ Tombouchou, băng qua Sahara, đến Nador, rồi cắm trại trong rừng ở Gourougou, vài kilomet phía trên Melilla, miền đất của Tây Ban Nha lọt giữa Maroc, trước biển Địa Trung Hải. Vào thời kỳ đó, người ta còn chưa xây dựng những bức tường quá cao, không có nhiều binh lính người Tây Ban Nha như hiện nay. Ít ra là những người dẫn đường kể với chúng tôi như thế. Ceuta và Gibraltar bị đóng cửa, nhưng Melilla thì không, có thể đi qua được. Một khi đã vào đến Melilla, ta đã ở châu Âu, ta đã được cứu sống.
Bố mẹ tôi, dù ông có tin hay không, Ruben ạ, thậm chí còn không tìm cách ngăn cản tôi. Họ biết rằng tôi chấp nhận mạo hiểm nhân danh tất cả. Vì món tiền mà tôi sẽ gửi cho họ từ Pháp. Rằng một ngày nào đó, tôi có thể đưa cả họ đến nữa.
Tôi muốn miễn cho ông những chi tiết của vụ băng qua sa mạc thì hơn, Ruben ạ, bốn ngàn kilomet đường mòn đi bằng xe boulboule, loại xe thay thế cho lũ lạc đà một bướu, mười hai người ngồi chen chúc nhau bên dưới những tấm bạt, ban đêm nhiệt độ xuống dưới 0 và ban ngày trên 50 độ, những cảnh thiếu nước, những bi-đông xăng chôn trong sa mạc và phải tìm kiếm trong nhiều giờ, thời gian chờ đợi dài đằng đẵng ở Gao, ở cánh cửa sa mạc, rồi hành trình đến Kidal. Chiếc xe boulboule bị hỏng và chặng đường mà chúng tôi phải tiếp tục đi bộ trong vùng Adrar ở Ifoghas. Những người bạn đồng hành bị bỏ lại vì họ bị đau bụng hoặc bị sốt rét. Trong tổng số ba mươi lăm người khởi hành, chỉ còn lại mười chín người đến được Tinzakuten để vượt biên sang Algeria.
Tinza, nước cộng hòa của người di cư bất hợp pháp, thành phố biên giới nơi chen chúc những người di cư từ Nam Sahara, những người mới đến gặp những người bị trục xuất, mỗi đợt cảnh sát Algeria tống khứ cả mấy trăm người. Chờ đợi nhiều ngày giữa những chiếc xe tải, lại trả tiền cho những người đưa đường vượt biên lần nữa, thoát khỏi đám binh lính lần theo những con đường mòn bằng trực thăng, chuồn theo hướng Tamanrasset, thủ đô của sa mạc. Rốt cuộc cũng được ngủ lại đó vài đêm dưới một mái nhà; đổi sang một chiếc xe khác cũ hơn nhưng có biển đăng ký ở Algeria, thương lượng tại mỗi chốt kiểm tra để ra khỏi thành phố, lần nào cũng phải trả tiền, cho đến khi các đội tuần tra thưa dần. Cuối cùng, đi thẳng về hướng Bắc, nhắm đến sa mạc, hai ngàn kilomet không ngừng nghỉ, kể cả để uống nước, chỉ dừng chốc lát để đi vệ sinh, các tài xế thay nhau lái cả ngày lẫn đêm. Bốn ngày kinh hoàng thêm vào chuỗi ngày trước đó, chỉ có những người đàn ông khỏe nhất mới sống sót được, Ruben ạ, chỉ có những người phụ nữ khỏe nhất, giá như người Pháp có thể hiểu được điều đó. Bốn ngày tra tấn tưởng gãy cả lưng và cổ, ngủ trong cáu ghét và mặc cho gió cuốn mùi nước tiểu và mùi mật đi, để rồi cuối cùng cũng đến được Oujda, trước ngưỡng cửa Maroc.
Chờ đợi, còn lâu hơn thời gian chờ đợi ở Tinza. Dốc tiền cho những người xa lạ, chuẩn bị tinh thần hàng đêm, và đột nhiên bị đánh thức. Chúng tôi khởi hành, đi bộ, chúng tôi có cả thảy mười lăm người, được tháp tùng bởi đám lính biến chất, về hướng Nador, phía Nam Melilla, cách đó một trăm năm mươi kilomet. Sáu ngày đi bộ qua Rif, nỗi sợ thường trực trong lòng, sợ rằng những người dẫn đường sẽ bắn một viên đạn vào lưng chúng tôi trên bờ một con kênh, sợ gặp phải những chiếc xe jeep của quân cảnh Maroc và thế là mọi chuyện chấm hết. Nỗi mệt mỏi không thể chịu nổi cơn điên rồ thúc đẩy ta sống sót, niềm hy vọng kỳ cục khiến chúng ta hoang tưởng, cho đến khi cuối cùng ta cũng đến được khu rừng Gourougou, ngọn núi nhỏ có rừng bao phủ nhô lên phía trên Melilla và Địa Trung Hải. Khách sạn của những người di cư bất hợp pháp, như những người di cư vẫn thường gọi. Khu rừng-ký túc. Cánh cửa thiên đường. Châu Âu cách đó chưa đầy một kilomet, chỉ cần vượt qua một bức tường cao ba mét, nhưng những người lẩn trốn trong rừng phải mất nhiều ngày để chuẩn bị cho các vụ tấn công, để đẽo sào, để thu thập thang. Không thể thất bại khi đã đến sát đích như thế. Hàng ngàn người di cư, gần như tất cả đều xuất thân từ Hạ Sahara, Bờ Biển Ngà, Congo, Gabon, tìm kiếm kẽ hở. Chờ đợi thời điểm thích hợp. Một đội quân đầy quyết tâm.
Những cánh cửa thiên đường, Ruben ạ. Tôi nói thật với ông là thế. Nhưng thiên đường là một miền đất kẹt giữa địa ngục.
Trong rừng cũng có cả phụ nữ. Ít hơn, ít hơn nhiều so với đàn ông. Lần này tôi không bị mù, Ruben ạ. Tôi đã nhìn được. Tôi đã thấy những người phụ nữ đó đi ra xa chỗ cắm trại để tắm rửa, hoặc chỉ là đi vệ sinh. Tôi đã thấy những người đàn ông đi theo họ. Tôi đã thấy những người phụ nữ đó cởi quần áo, và những người đàn ông cũng cởi quần áo. Tôi đã thấy những người phụ nữ đó mặc cho đám đàn ông muốn làm gì thì làm, để khỏi bị đánh, họ bị chiếm đoạt bởi một người đàn ông, rồi người thứ hai, người thứ ba, mà không dùng bao cao su.
Một tối tháng Sáu, đến lượt đám đàn ông nhìn thấy tôi đi xa khỏi khu trại. Họ có năm người.
Tôi ở cách căn lều đầu tiên chừng hơn một kilomet thì họ vây lấy tôi. Giống như một bầy sư tử bao vây một con linh dương. Gã đầu tiên, một gã xuất thân từ Bờ Biển Ngà, nói với tôi bằng tiếng Pháp.
— Bọn ta không muốn làm hại cô em. Nếu cô em chiều bọn ta, mọi chuyện sẽ êm đẹp.
Bốn gã khác đã cởi quần.
— Em gặp may đấy. – Gã người Bờ Biển Ngà nói thêm. – Em có thể gặp phải những kẻ còn tệ hơn bọn ta. Bọn ta là những quý ông.
Gã không nói dối, Ruben ạ. Trong khi những gã khác đã tụt quần xuống đến mắt cá chân, gã lấy từ trong túi ra một cái hộp đựng mười chiếc bao cao su.
9h25
Sébastopol là một du thuyền ba mươi mét thuộc về một nhà tỷ phú người Ukraina, được neo buộc rất lâu ở Monaco, và được rao bán từ khi thương gia đó thích đầu tư vào một đội bóng Bulgari hơn. Giá bán là 2.500.000 euro, mẩu tin quảng cáo trên plaisance.fr nêu rõ. Gavril Boukine được trả 70 euro mỗi ngày để xả nước cho du thuyền trong vòng một giờ, chạy động cơ, đánh bóng qua loa vỏ thuyền và các cửa sổ, cho khách mua xem du thuyền nếu có, và được thưởng thêm 150 euro nếu người mua muốn chạy thử ra biển.
Ông ta ngạc nhiên khi phát hiện những người khách tiến lại gần vào buổi sáng. Một người da đen khổng lồ, mặc quần jean, áo thun ố bẩn và áo vest nhàu nhĩ, râu ria lởm chởm, dây giày buộc cẩu thả, như thể vừa chui từ trong tù ra, đi cùng một gã lùn dị dạng ăn mặc chỉnh tề, nhợt nhạt như một xác chết trôi và có mái tóc bạc trắng được chải mượt không chê vào đâu được. Laurel và Hardy phiên bản Đen và Trắng.
Gavril đưa họ đi thăm du thuyền một vòng, cả ba người chỉ thăm qua phòng máy, phòng lạnh, bếp, rồi dừng lại hồi lâu trong phòng lớn dưới hầm tàu, rộng gần tám mươi mét vuông. Người da đen cao lớn dường như đang thầm tính toán trong đầu, ngoẹo cổ ngắm lên trần nhà để tính chiều cao nhằm không va đầu vào đó.
— Hoàn hảo, xin ông cho chúng tôi ở riêng với nhau một chút. – Cuối cùng người da đen bảo với Gavril.
Gavril đồng ý, không nói gì. Ông ta leo lên boong tàu, tuy nhiên vẫn cảnh giác trông chừng cặp đôi Laurel và Hardy kia. Không phải là ông ta muốn rình rập họ, ông ta chỉ nghe thấy vài mẩu đứt đoạn trong câu chuyện mà họ đang trao đổi, nhưng những yêu cầu mà ông ta phải làm theo là rất cụ thể: không để khách hàng ở một mình trên du thuyền chừng nào họ chưa trả tiền! Tuy nhiên, Gavril khó mà tưởng tượng được có thứ gì có thể đánh cắp trong chiếc vỏ ốc mà chủ nhân đã vét sạch đồ đạc bên trong này. Ông ta bám vào lan can và ngắm nghía những đám mây tầng tích đang duỗi dài ra, cho đến khi tan rã thành những mảng rách lớn khiến người ta nghĩ đến những lá buồm của một con tàu ma. Gió nổi lên và ông ta cầu mong để hai người khách không yêu cầu ông ta đưa họ dạo một vòng trên biển.
— Hai triệu rưỡi euro, đó là một món đáng kể đấy.
— Một khoản đầu tư. – Alpha đính chính. – Một khoản đầu tư tốt.
Trong khi người đối thoại với cậu đang suy nghĩ, Alpha nhớ lại diễn biến các sự kiện từ sáng nay. Thủ Quỹ đã hành động rất hiệu quả. Cậu không biết ông ta có liên quan gì đến việc cậu được ra tù từ sáng sớm hay không, nhưng ngay khi cậu được thả ra, một chiếc taxi đã chờ cậu trên vỉa hè đối diện. Thẳng hướng bến tàu, đi cùng một gã hẳn phải là ngang hàng với Thủ Quỹ, nhưng ở ngoài nhà tù. Max-Olivier. Một người đàn ông quyến rũ, da trắng, trạc tuổi ngũ tuần, chính xác là kiểu chủ ngân hàng mà ta thường gặp khi đi vòng quanh các quầy giao dịch để vay tiền mua nhà. Một người đầy lòng trắc ẩn lắng nghe những nhu cầu của ta và giải thích tỉ mỉ cho ta về những hậu quả của một khoản nợ trong vòng ba mươi năm. Một người đầy thông cảm không ngần ngại nhắc cho ta nhớ, ngay khi ta không thể trả nợ và phải ra đường: “Tôi đã cảnh báo anh trước rồi còn gì.”
Ông chủ ngân hàng hoài nghi đi lại trong hầm tàu bụi bặm, các vách gỗ bị gặm nhấm bởi những đám mạng nhện.
— Anh Maal này, tôi đã nghiên cứu chi tiết kế hoạch tài chính của anh, và phải thú thực là tôi vẫn còn một số điểm nghi ngờ.
Giọng ông ta vang vọng trong căn phòng rộng không đồ đạc. Tuy nhiên, Alpha lại lớn tiếng thêm một chút.
— Cả ông lẫn tôi đều biết rõ các mức giá. Từ 3.000 đến 5.000 euro cho một người di cư để cho họ trèo lên những chiếc Zodiac lúc nào cũng có nguy cơ chìm nghỉm, và chắc chắn sẽ bị lực lượng bảo vệ bờ biển châu Âu phát hiện. 3.000 euro nhân với năm mươi hành khách chất chồng lên nhau, tính nhanh cũng ra 150.000 euro cho một chiếc thuyền bơm hơi, không thuế, trong một vụ làm ăn tự sát. Thứ tôi đề xuất là một mô hình kinh tế khác.
Viên chủ nhà băng rít lên giữa các kẽ răng.
— Lại còn thế nữa.
— Ông biết rất rõ tôi đang muốn nói đến chuyện gì. Thị trường người di cư cũng giống như tất cả các thị trường khác, nó biến động tùy theo cung và cầu. Frontex càng làm tốt công việc của mình, thì lại càng ít người di cư bất hợp pháp vượt biên được, và giá cả lại càng tăng. Tôi không dạy ông làm việc của ông, Max-Olivier ạ. Chính hải quan đã sinh ra buôn lậu, chứ không phải là ngược lại. Chính bằng cách cấm rượu mà nước Mỹ giúp lũ vô lại làm giàu. Không có Thời kỳ cấm rượu thì không có Al Capone.
Alpha khá tự hào về cách nói của mình, cậu đã tỉa tót nó trong suốt nhiều tuần, nhưng dường như những gì cậu vừa nói không gây ấn tượng với viên chủ nhà băng.
— Tôi rất biết về việc làm ăn qua biên giới, Maal ạ. Chúng ta đồng ý với nhau là tất cả mọi người cùng có lợi. Hải quan và buôn lậu. Nhưng điều tôi quan tâm, là cậu sẽ làm thế nào để có thể kiếm được nhiều hơn những người khác?
Alpha ngừng một chút để hít thở. Chiếc du thuyền khổng lồ này có dáng dấp như một giáo đường.
— Tôi xuất phát từ một ý tưởng hết sức đơn giản. Tặng cho những người di cư ba sự bảo đảm. An toàn, tiện nghi và khả năng vượt biên thành công cao nhất. Nghĩa là tất cả những gì đám đưa người vượt biên truyền thống không thể hứa hẹn. Đối với ba sự đảm bảo này, tôi tin chắc là nhiều người di cư sẽ sẵn sàng trả giá cao hơn, đắt hơn nhiều so với thị trường hiện nay.
— Bao nhiêu?
— 10.000, 15.000 euro? Ông thử tưởng tượng xem. Chúng ta đưa người di cư lên du thuyền, ngoài khơi châu Phi một chút, vào ban đêm, xa khỏi những ánh mắt tọc mạch. Họ xuống hầm tàu. Nếu cải tạo đôi chút, ta có thể lắp đặt ở đây năm chục chiếc giường, không để họ phải chồng chất lên nhau, có phòng vệ sinh, phòng tắm, có đồ uống và đồ ăn, và trên boong tàu, trong trường hợp có đội tuần tra bờ biển đi qua, chúng ta sẽ cắm chốt vài cô nàng tóc vàng mặc áo tắm một mảnh, một gã phục vụ người da đen bê một khay mojito, một lái tàu lực lưỡng mặc áo thủy thủ. Không hề có nguy cơ bị chìm tàu hay bị khám xét. Một khi đã cập bờ, vào bất cứ bến du thuyền nào ở châu Âu, Ajaccio, Saint-Tropez hay San Remo, ta chỉ cần chờ đêm xuống, thuê vài gã canh gác, rồi những người di cư sẽ biến mất từng người một như lũ mèo hoang. Không ai thấy, chẳng ai hay.
— Một thủ đoạn như thế sẽ không bí mật được lâu.
— Đồng ý. Nhưng ông hãy tính toán xem, Max-Olivier. 15.000 euro nhân với năm mươi hành khách, có nghĩa là một chuyến ta sẽ có doanh thu 750.000 euro. Đủ trả tiền cho chiếc du thuyền sau ba lượt khách!
— 15.000 euro mỗi hành khách? Cậu sẽ tìm được những người di cư chịu trả khoản tiền đó chứ?
Alpha tỏ ra phấn khích. Ông chủ nhà băng này chẳng còn lý lẽ nào để phản bác cậu.
— Ông đã đọc hồ sơ rồi chứ? – Cậu trả lời, cao giọng thêm chút nữa. – Ông đã đọc những lời tuyên bố chưa? Các gia đình người Mali, Bờ Biển Ngà, Ghana, họ sẵn sàng vay nợ nhiều hơn nếu được người ta bảo đảm về kết quả. Tôi có các mạng lưới ở bên này và bên kia bờ Địa Trung Hải, tôi có ý tưởng, tôi có con người, tôi có tàu, tôi chỉ thiếu tiền.
Ông chủ nhà băng im lặng một lát, hạ thấp giọng xuống một bậc, như để xoa dịu cơn phấn khích của Alpha.
— Đồng ý rằng đó là ý tưởng của cậu. Đó là mạng lưới của cậu. Nhưng nếu chúng tôi đầu tư cho cậu, cậu sẽ là nhân viên của chúng tôi. Một hợp đồng nhượng quyền, nếu cậu muốn thế hơn. Hoàn toàn độc lập chừng nào cậu trả hết tiền cho chúng tôi.
— Ông yên tâm đi. – Alpha được dịp khua môi múa mép. – Tôi sẽ không trả ông bằng vỏ ốc đâu!
Viên quản lý nhà băng ném cho cậu một nụ cười đầy ẩn ý.
— Tôi sẽ nói thẳng, Maal ạ, tôi không chắc là chúng tôi có thể tin tưởng vào cậu. Cậu quá tự tin vào chính mình. Linh cảm của tôi đang thì thầm với tôi rằng cậu còn che giấu chúng tôi điều gì đó, nhưng hồ sơ của cậu đã được xem xét và phê duyệt. Hoan hô! Quyền hạn của tôi chỉ dừng lại ở đây. Tôi sẽ làm những điều cần thiết để cậu trở thành chủ sở hữu của con tàu này trước cuối tuần.
Viên chủ nhà băng bước lên boong tàu và tranh luận chừng hơn mười lăm phút với người đàn ông chịu trách nhiệm bảo trì và dẫn khách đi thăm du thuyền Sébastopol. Một gã có chòm râu dài lòng thòng và mái tóc thưa thớt. Ông ta bị mất hai cái răng, mắt bên phải nháy liên tục, và Alpha tưởng tượng rằng ông ta tiết kiệm tiền để tặng cho mình một cái chân gỗ và một cái móc sắt thay cho cánh tay.
Khi viên chủ nhà băng đã đi xa, Alpha lại gần vị thuyền trưởng móm răng. Cậu ngước mắt nhìn về phía những ô cửa kính mờ và phần mái thông với khoang lái của du thuyền Sébastopol.
— Bây giờ khi mọi chuyện đã giải quyết xong, ta có thể đi thử một chút không?
10h05
Ngồi ngoài hàng hiên của Dar Zaki, đối diện trung tâm Al Islâh, Petar Velika rủa thầm: đã quá giờ hẹn năm phút mà vẫn chưa thấy bóng dáng vị giảng viên đại học đâu. Viên thiếu tá cố gắng xác định giữa những người đàn ông mặc áo dài Bắc Phi đang ra vào trung tâm Hồi giáo một người nào đó xách cặp, đeo kính, thậm chí mặc một bộ com-lê kiểu phương Tây. Ông không thể nào đoán nổi trung tâm Al Islâh này là một giáo đường Hồi giáo, một ngôi trường, một trung tâm đào tạo, hay cả ba cùng lúc.
Julo có vẻ không quan tâm đến những chuyện đó, anh đang chăm chú nhìn vào màn hình điện thoại di động. Giá người ta có dịch chuyển tức thời anh đến một khu phố người Hoa nào đó thì anh cũng chẳng ngỡ ngàng gì mà vẫn tiếp tục lướt net, như thể thế giới xung quanh anh là một bối cảnh ảo lướt đi mà không liên quan gì đến anh. Một chuyện khác cũng chẳng thú vị gì, đó là Ryan vừa gọi đến từ Sở Cảnh sát. Cho đến lúc này, Bamby Maal vẫn bặt tăm. Em trai cô ta, Alpha, đã được thả từ sáng sớm nay, trước khi phản lệnh đến nơi, và chỉ có mẹ của họ, Leyli Maal, khẳng định rằng chị ta sẽ có mặt ở Sở Cảnh sát Port-de-Bouc vào lúc 16 giờ! Tạm thế đã! Ryan đã làm việc như điên để sắp xếp mọi việc, thuyết phục Bộ Nội vụ, Cục Cảnh sát hình sự và thẩm phán Madelin, người được thừa hưởng vụ này từ sáng nay. Lúc này, Petar hy vọng rằng ngày hôm nay sẽ bình yên, không có thêm xác chết nào, không có nhân chứng mới nào nhảy ra từ mũ của Julo, để không phải dời cuộc hẹn sang thời gian khác.
Petar khẽ búng ngón tay vào điện thoại di động của viên cảnh sát phụ tá.
— Alo, alo, La Mecque đây. Chính xác thì cậu biết gì về vị giảng viên này?
— Tôi chẳng biết gì hết! Tôi chỉ đọc những bài báo mà ông ta đã công bố. Bằng ba cú nhấp chuột, ta hiểu rằng đây là chuyên gia giỏi nhất về chủ đề này…
— Chuyên gia hay không, tôi cũng không mất cả buổi sáng để chờ ông ta đâu.
Một chiếc xe mô-tô xuất hiện như trong một pha quay chậm trên vỉa hè đúng lúc Petar đứng dậy, suýt chút nữa thì húc ngã ông. Người lái xe tắt động cơ, vừa dừng chân chống xe vừa tháo mũ bảo hiểm. Trạc ba mươi tuổi, dáng dấp như một vận động viên, nét mặt rạng rỡ, anh ta vừa đưa tay bắt tay họ vừa và cho mái tóc đen dài rối tung lên.
— Mohamed Toufik. Xin lỗi vì tôi đến muộn, tôi có một buổi dạy thực hành ở trường đại học sáng nay. Và lúc 11 giờ, tôi tiếp tục có một giờ dạy tiếng Ả Rập văn học tiền Coran.
Petar chăm chăm nhìn Toufik, sững sờ. Trên cằm anh không có lấy một sợi râu. Một viên kim cương to đùng gắn ở tai phải. Có lẽ ông cũng không ngạc nhiên hơn được nếu nhìn thấy có vết mascara xung quanh mắt anh.
— Vậy ra chính anh là chuyên gia giỏi nhất về ốc tiền? – Viên thiếu tá mỉa mai.
— Tôi chỉ là nghiên cứu sinh thôi. Năm thứ ba, nhưng nếu ngày nay, ông không xuất bản được năm bài báo mỗi năm, không viết được một cuốn sách bằng tiếng Anh, một cuốn sách khác bằng tiếng Pháp và cuốn thứ ba bằng tiếng Ả Rập trước khi bảo vệ luận án, ông sẽ không có cơ may nào để được tuyển dụng đâu.
Anh phá lên cười. Hàm răng trắng. Ánh mắt giống như Omar Sharif. Bộ mặt khiến người ta chỉ muốn cho vài cái tát.
— Nếu anh vội thì trùng hợp quá, bởi vì chúng tôi cũng vậy. Thôi nào, hãy kể cho chúng tôi nghe tất cả những gì anh biết về đám ốc tiền trứ danh đó.
Mohamed Toufik hiểu rằng anh sẽ không có thời gian để gọi một cốc trà, hút một điếu thuốc hoặc chỉ đơn giản là hỏi xem tại sao hai cảnh sát này lại muốn hỏi chuyện mình. Julo, để tỏ ý xoa dịu, đặt lên bàn những chiếc vỏ ốc giống hệt những chiếc đã tìm thấy trong túi François Valioni. Mohamed lần lượt nhìn Petar, Julo, mấy cái vỏ ốc, rồi bắt đầu một bài độc thoại dài dằng dặc. Xuất sắc, chính xác, mô phạm. Ngay cả Petar cũng quên bẵng tiếng la hét của các thầy tu báo kinh và những câu chuyện bằng tiếng Ả Rập xung quanh ông.
— Ốc tiền là một loại ốc đặc biệt, gần như chỉ có tại vùng biển Maldives, điều này khiến chúng trở nên hiếm hoi đồng thời rất dễ nhận biết. Những vỏ ốc này được sử dụng từ rất sớm như một công cụ giao thương giữa các dân tộc, để hai người có một mốc thời gian, ta có thể nói là bắt đầu từ năm 1000 trước công nguyên. Ta có thể coi những vỏ ốc này như loại tiền cổ nhất thế giới. Bởi vì chúng ta đang vội nên rất tiếc, tôi sẽ nhảy cóc hai ngàn năm lịch sử và đến thẳng năm 1000. Đó là thời điểm bắt đầu của thương mại quốc tế, đặc biệt là giữa Tây Phi và châu Á, thông qua các thương nhân người Ả Rập. Ốc tiền trở thành loại tiền tệ trao đổi chủ yếu giữa các châu lục. Không thể làm giả, vận chuyển dễ dàng, tính khối lượng dễ dàng. Đồng tiền lý tưởng. Việc sử dụng ốc tiền lại càng được mở rộng vào thời kỳ buôn bán nô lệ, người ta nói đến hàng chục tỷ vỏ ốc được người Hà Lan, người Pháp, người Anh vận chuyển dưới dạng vòng tay, vòng cổ hoặc trong những chiếc giỏ đựng hàng chục ngàn ốc tiền!
Trong thời kỳ thuộc địa, người châu Âu sẽ dần dần áp dụng các hệ thống tiền tệ quốc gia mà chúng ta biết ngày nay, nhưng ốc tiền vẫn vô cùng phổ biến ở Tây Phi. Không chỉ là phương tiện trao đổi chủ yếu, ốc tiền còn trở thành biểu tượng của sự sinh sôi nảy nở, người ta dùng chúng trong thuật bói toán, tô điểm các trang phục và mặt nạ mang tính nghi lễ. Dần dần, người châu Âu nhận thấy ốc tiền giống như một biểu tượng của phong trào kháng chiến chống thực dân. Hết sức đột ngột, từ năm 1890 đến năm 1900, người Pháp, người Anh và người Bồ Đào Nha thống nhất cấm ngặt việc sử dụng loại tiền này. Chỉ bằng một bộ luật, thế là hôm trước hôm sau, ốc tiền chẳng còn chút giá trị nào hết! Một phương pháp vô cùng triệt để nhằm áp đặt một trật tự xã hội mới, các vị không thấy thế sao? Cả một xã hội sẽ sụp đổ. Tất cả mọi người đều bị tác động, từ những người nghèo nhất, những người trước đó vẫn có thể có vài vỏ ốc để trả những khoản vặt vãnh, cho đến những người giàu hơn, những người đã dành cả đời để gom góp của cải và vị thế trong xã hội bằng cách tích trữ hàng tấn vỏ ốc. Những người bán hàng, các thương gia, thợ thủ công, vốn quen với việc cân và đếm hàng ngàn ốc tiền theo túi, theo vại, theo chum, không thể nào làm quen được với đồng tiền mới. Từ đó trở đi, thuế má, lệ phí, tiền phạt đều phải trả bằng đồng franc, đồng livre hoặc đồng real. Chủ nghĩa tư bản châu Âu có thể giành thắng lợi huy hoàng.
— Ngày nay ốc tiền không còn giá trị gì nữa sao? – Julo hỏi.
Trước khi trả lời, Toufik đưa mắt dõi theo hai cô gái đang đi vào trung tâm Al Islâh. Chẳng khác nào hai cô nàng Marilyn theo đạo Hồi, họ để mặc cho ngọn gió đang thốc phần phật trên khoảng trống đằng trước trung tâm thổi tung khăn choàng và chiếc váy dài họ đang mặc.
— Không. Chúng không còn bất cứ giá trị tiền tệ nào từ một thế kỷ nay. Nhưng sự kháng cự trên thị trường quốc tế được tổ chức theo cách khác. Nguyên tắc về một đồng tiền không chính thức chưa bao giờ mang tính thời sự như hiện nay.
Lần này, chính Petar là người phản ứng đầu tiên.
— Anh giải thích xem nào?
— Thế này nhé, cùng với các dòng di cư trên thế giới, các cộng đồng rải rác trên thế giới và giao dịch tài chính giữa các cộng đồng, ta bắt gặp ở khắp nơi các hình thức chuyển tiền không chính thức, hệ thống hawala trong thế giới Ả Rập, hệ thống hundi ở Ấn Độ, padala ở Philippines… Các hệ thống giao dịch tư bản không có sự chuyển dịch thực tế của đồng tiền, không thông qua các ngân hàng chính thức, hơn nữa tỷ lệ chiết khấu còn thấp hơn rất nhiều. Các hình thức chuyển tiền này có lẽ chiếm khoảng 50% các giao dịch tiền tệ trên thế giới, và thoát khỏi tất cả các hình thức kiểm soát… Toàn bộ hệ thống này dựa vào lòng tin giữa người môi giới và người trung gian, danh dự, tình đoàn kết dân tộc. Không có bất cứ cơ sở pháp lý nào! Cũng giống như ốc tiền, đây là những bản sao hiện đại của những cách thức rất xưa cũ, để tránh sự nguy hiểm khi phải vận chuyển vàng trên đường hoặc giữa chợ, ở châu Phi hoặc châu Á.
— Tôi xin lỗi. – Petar lên tiếng. – Có lẽ tôi cũng dốt kinh tế chẳng kém gì các ông tổ của anh, những người không thể chuyển đổi từ ốc tiền sang đồng franc, nhưng tôi không thấy có mối liên hệ nào giữa hệ thống hawala của anh và mớ vỏ ốc của chúng tôi.
Toufik cầm mấy con ốc để trên mặt bàn lên tay như để ước chừng trọng lượng của chúng.
— Hết sức đơn giản, rồi ông sẽ hiểu thôi. Chúng ta hoàn toàn có thể hình dung rằng một ốc tiền tương đương với, cứ cho là 100 đô-la đi. Nhưng nó chỉ có giá trị này trong một chu trình khép kín và chỉ có những người am hiểu mới biết được. Nếu ông mang theo trên người 500 đô-la, nhất là nếu ông phải đi qua châu Phi mà không có hành lý gì, ông có nguy cơ bị giết rất cao. Nhưng ai mà tìm cách giết ông chỉ vì năm cái vỏ ốc cơ chứ?
Anh ta để mặc cho hai viên cảnh sát suy nghĩ, vẫn không rời mắt khỏi mấy cái vỏ ốc, như thể mỗi vỏ ốc thực sự có giá trị là 100 đô-la, rồi nhân dịp đó đứng dậy.
— Tôi chuồn đây. Tôi có giờ dạy.
Hai viên cảnh sát nhìn anh đi xa dần. Ngay khi anh bước qua ngưỡng cửa trung tâm Al Islâh, họ nhận ra một bầy thiếu nữ, xách cặp ở tay hoặc đeo ba lô trên lưng, che mạng kín mít nhưng vẫn hết sức phấn khích, bám theo gót anh.
Đến lượt trung úy Julo Flores đứng dậy.
— Tôi sẽ uống một cốc trà.
— Cậu hỏi xem họ có bia không nhé?
Ngay khi Julo quay trở lại, tay cầm một ấm trà bằng bạc bốc khói và một cái ly chạm trổ hoa văn, viên thiếu tá nói với anh.
— Ryan vừa gọi đến. Họ đã chơi xong trò xếp hình với các mảnh thủy tinh tìm thấy trong phòng Caravansérail. Đứng cho vững nhé, cậu có biết họ đã tái tạo được thứ gì không?
— Một con cá heo ư? Một con chim cú? Hay một con ốc tiền? – Julo kể ra một loạt.
— Một cái tháp! Tháp Burj Khalifa, tòa tháp cao nhất thế giới, một món đồ chơi chỉ được bán trong sân bay Dubai, họ đã xác minh rồi.
Julo suy nghĩ. Chi tiết này bổ sung thêm cho mô hình chiếc máy bay A380 của Emirates Airlines tìm thấy trong vali của Jean-Lou Courtois. Thêm một bí ẩn nữa. Jean-Lou Courtois, từ khi rời khỏi tổ chức Vogelzug, gần như không còn đi công tác, hoặc đi càng ít càng tốt, để không phải rời xa cậu con trai bị hội chứng Down. Tuy nhiên, Dubai là một trong những tham số phải đưa thêm vào phương trình. Thêm một câu đố hóc búa, khó giải hơn nhiều so với việc gắn lại những mảnh thủy tinh vỡ.
Anh thổi cốc trà trên tay, lưỡng lự không biết có nên mời cấp trên uống cùng không, bị bỏng lưỡi khi nếm thử xem nhiệt độ thế nào, rồi lên tiếng.
— Cả tôi cũng có một thông tin.
Petar thèm muốn nhìn sang hàng hiên của khách sạn-nhà hàng ở bên kia đường, nơi dường như người ta có phục vụ rượu.
— Ngoài những điều tra thông thường liên quan đến Leyli Maal, công việc, hồ sơ phạm tội, điều tra hàng xóm và gia đình, tôi đã tìm thông tin nhóm máu của chị ta. Chuyện đó không khó lắm, chỉ cần gọi điện thoại đến phòng xét nghiệm của Port-de-Bouc. Leyli có hồ sơ ở đó. Như tôi đã dự đoán, Leyli thuộc nhóm máu A+.
— A+? Thông tin của cậu đấy sao? 40% dân số trên thế giới thuộc nhóm máu A+!
Julo nhấp môi vào cốc trà nóng bỏng, rồi lấy từ trong túi ra bảng các nhóm máu không thể cùng huyết thống do giáo sư Waqnine đưa cho.
— Còn phức tạp hơn thế, sếp ạ. Chúng ta biết rằng Leyli Maal có nhóm máu A+, và Faline95, nữ sát thủ giả định trong vụ giết Jean-Lou Courtois, có nhóm máu B+. Chúng ta hãy hình dung rằng nữ sát thủ này chính là Bamby Maal, con gái của Leyli. Thế thì… (anh đưa ngón tay lần theo một dòng trên bảng), bố cô ta chỉ có thể thuộc nhóm máu AB hoặc B… ông ta chắc chắn không thể thuộc nhóm máu O hoặc A.
Petar đưa ánh mắt tuyệt vọng nhìn vào bảng, chẳng khác nào một học trò lớp chín phải đối mặt với một bảng lượng giác.
— Tôi rất tiếc, anh bạn ạ, hẳn là sáng nay tôi phải rất ngu ngốc, nhưng tôi không hiểu cậu định đi đến đâu với chuyện này.
— Tôi muốn đi đến, đúng ra là quay trở lại, với giả thuyết ban đầu của tôi. Cô gái này, ta hãy gọi là Bambi13, Bamby Maal hay Faline95, đang tìm kiếm bố mình. Nếu người đàn ông mà cô ta cắt mạch máu, sau khi đã lấy máu để thử, thuộc nhóm máu O hoặc A, ông ta không thể là bố cô ta. Và bởi vì 90% dân số thế giới thuộc nhóm máu O hoặc A, phạm vi các khả năng được thu hẹp đáng kể. Ta hãy hình dung là Bambi có trong tay một danh sách ba hoặc bốn ông bố tiềm năng, theo quy luật nhóm máu, như thế cô ta hoàn toàn có cơ may xác định được ông ta chỉ bằng việc thử máu.
11h03
— Fleur đúng không?
Cô chỉ khẳng định bằng một nụ cười, không lưu ý với ông ta rằng cô đã chờ đợi ba mươi phút. Yan Segalen hẳn phải coi đến muộn là một triết lý sống. Cô quan sát ông ta từ đầu đến chân trong lúc ông ta ngồi xuống bên cạnh cô trên hàng hiện của hệ thống Gordon’s Café. Quần vải màu đỏ son, áo vest ngắn cũng sặc sỡ không kém, sơ mi trắng cổ tàu, cả bộ trang phục như muốn thể hiện Xin lỗi, tôi vừa về sau một cuộc đi săn ở châu Phi. Một gia tài quần áo nho nhỏ của một chiến binh giàu có và thích gây sốc. Yan đánh giá cô bằng ánh mắt màu xanh miền nhiệt đới của mình, lùa bàn tay lên chải mái tóc vàng điểm hoa râm, rất ăn nhập với bộ râu theo phong cách cẩu thả không chê vào đâu được. Tuổi trạc ngũ tuần, năng động, mạnh mẽ, chải chuốt, mặc dù chiếc áo sơ mi rộng khiến người ta hình dung ra vóc dáng đã hơi phì ra của viên giám đốc phụ trách hậu cần cho Vogelzug. Sáng tập thể hình, buổi trưa ăn nhậu.
— Tôi rất tiếc, Fleur ạ, tôi không có nhiều thời gian. – Segalen vẫn trơ tráo nói.
Cô không đáp lại. Trên thực tế, cô đã không nhận thấy nửa tiếng trôi qua khi chờ vị giám đốc có trách nhiệm thực hiện một màn phỏng vấn tuyển dụng với cô. Cô đã thiu thiu ngủ trước ly nước khoáng Perrier có chanh, thỉnh thoảng lại ngẩng đầu lên ngắm nghía cảnh náo nhiệt trong phố Monot và quảng trường Martyrs. Sự náo nhiệt của những con người tứ xứ như cô vẫn hằng thích thú. Đó là điều đầu tiên quyến rũ cô khi cô đến Marseille. Sự pha trộn của các dân tộc. Những chiếc váy dài Bắc Phi, khăn choàng, cà vạt, mũ, xe đẩy,quần soóc ngắn cũn, những tấm choàng mạng, áo thụng, quần ống rộng, xa ri, mũ chỏm, xường xám. Tất nhiên, từ hồi đó, cô đã hiểu rằng người nào sẽ trở về khu của người nấy ngay khi màn đêm buông xuống, nhưng lần đầu tiên cô đi bộ trên phố Canebière, cái nơi hỗn độn vui vẻ đa sắc tộc này đã chinh phục cô.
— Tôi báo trước với cô. – Yan Segalen nói tiếp. – Tôi sẽ không tiến hành với cô một cuộc phỏng vấn tuyển dụng truyền thống. Tôi không quan tâm đến những lý do khiến cô muốn làm việc trong lĩnh vực nhân đạo, tôi không cần cô rao giảng với tôi bài diễn thuyết quen thuộc của những bà xơ Emmanuelle học việc. Thế nên hãy trả lời đúng một câu hỏi này thôi: tại sao tôi phải tuyển dụng cô? Tại sao tôi phải tuyển dụng cô, chính cô chứ không phải người khác?
Yan luôn đến muộn.
Ông ta gỡ gạc lại khi đến nơi.
Ông ta cởi quần áo rất nhanh. Ông ta muốn ta chạm vào thân thể ông ta.
Ông ta tin rằng ta cũng thế.
Nadia bảo với ta rằng ông ta đẹp trai theo cách ta không thể hình dung ra.
Ta tưởng tượng, ta chỉ biết về ông ta qua những phần cơ bắp mà ông ta cương lên để chiếm đoạt ta.
Cô tỏ vẻ suy nghĩ. Cô thích thú nhận thấy Yan bỏ nhiều công sức với cô vì một hợp đồng ba tháng trong bộ phận hậu cần của ông ta, và công việc chủ yếu dường như chỉ là đóng kiện thùng carton trong một kho hàng rồi gửi chúng đến những điểm nóng trên địa cầu. Nếu đích thân giám đốc bộ phận hậu cần chấp nhận di chuyển, thì hẳn là ông ta không thờ ơ với bức ảnh của cô trên CV, với phần mái của bộ tóc vàng hoàn toàn đối lập với khuôn mặt rám nắng, đôi mắt màu ngọc lục bảo bạo dạn của cô phía sau cặp kính nhỏ gọng tròn.
Khi chuẩn bị để đến cuộc gặp này, cô đã cố tình nhấn mạnh vào sự lập lờ. Một chiếc áo sơ mi hiền lành, nhưng cởi cúc đủ để Yan không thể bỏ lỡ lớp đăng ten viền trên áo ngực màu trắng bất cứ khi nào cô cúi người về phía ly nước khoáng. Một chiếc váy nhã nhặn và thẳng tắp phủ xuống quá đầu gối, trừ khi cô bắt tréo chân và lớp vải bị kéo lên đến giữa đùi.
— Chuyện là. – Cô nũng nịu. – Tôi rất có động lực. Tôi thích cảm thấy mình là người hữu ích. Có biết bao bất công trên thế giới này cho nên…
Cô căng thẳng dùng ống hút khuấy đảo lát chanh trong ly nước. Yan đột ngột chộp lấy tay cô.
— Stop! Thưa cô, đây chính xác là câu trả lời mà tôi muốn tránh.
Ông ta nhấc tay lên rồi trượt dọc theo những ngón tay cô, lần đến tận cổ tay, rồi ve vẩy bàn tay đó trong không khí để gọi người phục vụ. Thậm chí không thèm hỏi ý kiến cô, ông ta gọi hai ly vang trắng, loại Château-Musar, rồi cúi xuống chiếc cặp da có trang trí những họa tiết châu Phi, lấy từ trong đó ra hai tờ giấy.
Fleur nhận ra đó là CV của cô. Yan tập trung vài phút vào danh sách những giấy tờ chứng nhận của cô, tất cả đều là giả mạo, rồi lại nhìn cô chằm chằm. Ánh mắt ông ta không còn lướt trên cặp đùi hay phần ngực dưới cổ áo trễ sâu, mà ông ta lục lọi cô từ bên trong. Người đàn ông này là một con thú săn mồi. Loại nguy hiểm nhất trong các loại thú săn mồi: ông ta cố gắng tìm hiểu người phụ nữ trước mặt mình. Như thể đó là một điều tuyệt đối cần thiết. Lột trần cô trước khi lột hết quần áo cô. Cô tự hỏi liệu có phải ông ta hành xử như thế với tất cả các phụ nữ mà ông ta quyến rũ, hay bản năng thì thầm với ông ta rằng có điều gì đó không ổn trong CV của cô nàng quá đỗi xinh đẹp này.
— Rất tiếc phải làm cô thất vọng, Fleur ạ, nhưng trông cô không có phong cách của Mẹ Teresa cho lắm… và CV của những cô gái như cô, biết nhiều thứ tiếng, có nhiều bằng cấp, tôi nhận được cả chục cái mỗi ngày. Phải có nhiều hơn thế mới mong thuyết phục nổi tôi.
Nhân viên phục vụ mang đến hai ly rượu vang Château-Musar. Yan đưa cho cô một ly, cầm ly còn lại lên và cụng ly với cô.
— Uống vì cuộc phiêu lưu nào, Fleur. Bây giờ đến lượt cô. Hãy quyến rũ tôi đi.
Ông ta công khai nhìn đồng hồ đeo tay.
— Cô có năm phút.
Cô nảy ra ý tưởng nâng ly của mình lên và đề nghị ông ta cụng ly lần nữa.
— Vì những điều mới mẻ, Yan. Vì những cuộc gặp gỡ tốt đẹp. Tôi tin rằng đó chính là điều thu hút tôi trong lĩnh vực nhân đạo. Những cuộc gặp gỡ. Với những người phụ nữ. Với những người đàn ông. Khác biệt. Bất ổn. Lôi cuốn.
Yan khẽ liếm quanh viền ly, ông ta nhìn như muốn uống lấy cô.
— Tốt hơn rồi đấy, Fleur ạ. Nhưng vẫn chỉ là chém gió thôi. Tôi cần sự việc. Bằng chứng. Hành động.
Ông ta đọc lướt CV của cô lần cuối, tỏ vẻ định bỏ nó vào trong cặp. Cô đột nhiên cao giọng.
— Yan này, ông hãy chờ đã. Hãy cho tôi một cơ hội! Tôi có thể làm gì ngoài việc đề nghị ông tin tưởng tôi? Nếu tôi nói với ông rằng tôi dũng cảm hơn vẻ bề ngoài của mình. Rằng tôi không phải là người hay sợ sệt. Rằng tôi sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm… – Cô dừng lại một chút và cố gắng bắt lấy ánh mắt ông ta. – Mạo hiểm tất cả.
Yan đã đứng dậy, như thể ông ta không còn để ý đến lời cô nói nữa. Một con thú săn mồi, cô vẫn nghĩ đến điều đó. Một con thú săn mồi đáng gờm.
— Tôi phải đi đây, Fleur ạ. Nhưng cô đã thắng, tôi dành tặng cô thêm một cơ hội nữa. Cô có thời gian rảnh cho một cuộc phỏng vấn khác không? – Thậm chí ông ta còn không thèm xem lịch làm việc của chính mình. – Ở đây. Tối nay, có được không?
— Được.
Cô chịu đựng ánh mắt ông ta, lần này thì không còn chút mập mờ nào hết. Ông ta đã trầm giọng hơn một chút khi thốt ra hai từ Tối nay, cô đã để từ Được kéo dài đến mức tưởng chừng ngạt thở vì nó.
Yan để cho khoảng im lặng kéo dài, đột nhiên ông ta không còn vội vàng như lúc trước nữa. Một lần nữa, ông ta nhìn cô chằm chằm như để tìm hiểu xem cơ chế nào chắc chắn sẽ dẫn cô gái xinh đẹp rạng rỡ trẻ hơn ông ta ba mươi tuổi này lên giường. Ông ta có vẻ ngạc nhiên về điều đó, và đó chính là vũ khí của ông ta, một thứ vũ khí không ai tránh nổi.
— Tôi báo trước với cô, Fleur ạ, cả ngày hôm nay tôi sẽ nghĩ đến cuộc phỏng vấn thứ hai này. Thậm chí tôi tin rằng tôi sẽ mơ nó xoay theo hướng, nói thế nào nhỉ, thân mật hơn.
— Tôi đã sẵn sàng. Chấp nhận mạo hiểm tất cả. Tôi đã nói với ông rồi mà.
Cô đáp lại mà không chút do dự, ông ta cho rằng có thể đẩy lợi thế của mình đi xa hơn.
— Tôi thích thẳng thắn hơn, Fleur ạ. Để không có sự hiểu lầm nào giữa hai chúng ta. Cho dù cuộc phỏng vấn mang tính chất cá nhân và riêng tư ấy có diễn ra vô cùng thuận lợi, nhưng cũng không vì thế mà cô được tuyển dụng cho vị trí này. Tôi không làm việc theo cách đó…
Cô nâng ly rượu vang Château-Musar của mình lên, uống cạn, rồi đưa ánh mắt thách thức nhìn viên giám đốc bộ phận hậu cần.
— Ông đi đi, Yan, ông sắp bị muộn rồi đấy. Và tôi báo trước với ông, cho dù cuộc phỏng vấn thân mật của chúng ta có diễn ra vô cùng thuận lợi, thì tôi hứa với ông là chưa chắc tôi đã chấp nhận vị trí mà ông sẽ dành cho tôi.
Ông ta phá lên cười. Bị chinh phục.
Một giây sau, ông ta biến mất trong đám đông ô hợp trên quảng trường Martyrs.
Cô chờ thêm một lát, rồi lấy điện thoại di động ra, nó không ngừng rung trong túi cô suốt thời gian trò chuyện.
Vụ phỏng vấn tuyển dụng của cậu thế nào rồi?
Tớ đang dừng xe, tớ chuồn đây
Cẩn thận nhé nàng hươu của tớ
Chérine
Cô mỉm cười.
Cuộc phỏng vấn với Yan Segalen kéo dài chưa đầy mười lăm phút. Có vẻ như quyến rũ ông ta chỉ là trò trẻ con, một thủ tục đơn giản nếu so sánh với quá trình tiếp cận lâu dài để Jean-Lou rơi vào vòng tay cô.
Yan Segalen là một con mồi dễ dàng.
Quá dễ dàng.
Một đèn báo động nhấp nháy trong não cô, mọi thứ diễn ra thật nhanh, quá nhanh để cô kịp có thời gian suy nghĩ.
Chẳng sao cả…
Hoặc càng tốt. Cô không còn thời gian mà chờ đợi, cảnh sát đang thu thập từng mảnh một trong trò ghép hình, chắp nối chúng lại, dệt thành tấm lưới của họ.
Trước khi đứng dậy, cô uống cạn ly nước khoáng để loại bỏ hết vị rượu vang, kéo váy, chỉnh lại bộ tóc giả.
Tối nay, đêm nay, sáng mai, mọi chuyện sẽ kết thúc. Với cô. Và cả với Alpha.
12h18
Hãy uống cạn bầu sữa đầy sinh khí!
Nghe thổi về gió mát của đại dương!⦾
Gavril ngạc nhiên quan sát anh chàng da đen khổng lồ đóng vai DiCaprio trước mũi du thuyền Sébastopol, đứng đối mặt với biển, ngâm nga những câu thơ. Anh ta muốn lòe ai? Hay là đang tập luyện? Để sẵn sàng khi đưa đám con gái xuống hầm tàu chăng?
Gavril bíu lấy lan can. Họ chưa ra đến ngoài khơi nhưng bờ biển đã mất hút được vài phút. Anh chàng da đen tiếp tục ngâm nga bài tán tụng của mình trước chân trời hoang vắng.
Gió đã lên! Hãy gắng sống kiếp này!
Gió xoay hướng, sách đời tôi mở, đóng.
Mà anh ta nói không sai, gió đang nổi lên. Anh ta sẽ sớm vòng lại thôi. Nếu Laurel và Hardy muốn mua du thuyền này, họ đã xem đủ rồi. Laurel phiên bản da đen có thể khẳng định điều đó với bạn mình, gã đó có cuốn séc. Chiếc Sébastopol bồng bềnh!
Nhưng trước đó, Gavril rất muốn chơi quân bài riêng của mình. Ông ta cao giọng để át tiếng nổ của động cơ và tiếng sóng.
— Đọc thơ trên thuyền cũng là một phần trong những chuyến du hành tương lai của anh chăng?
Alpha lại gần ông ta, hai bàn tay thọc sâu trong túi áo vest. Cậu tựa vai vào buồng lái.
— Không, chỉ để cho vui thôi.
Vui ư?
Gavril lại có một quan điểm khác về niềm vui. Laurel phiên bản da đen hẳn là đã hiểu được, qua nụ cười móm răng của ông ta, rằng Gavril không bị thuyết phục với câu trả lời đó, bởi vì cậu nói thêm:
— Tôi vừa đọc Nghĩa trang trên biển của Paul Valéry. Tôi học bài thơ đó ở trường, khi còn rất nhỏ. Ông không thấy biển là một nghĩa trang khổng lồ hay sao?
Gavril nhún vai. Ông ta bắt đầu ngắt ga để du thuyền chạy chậm lại. Tiếng gầm của động cơ dịu dần, nhưng không vì thế mà âm thanh lắng xuống. Những con sóng đập vào mạn tàu dường như tăng lên gấp đôi, mặc dù chiếc Sébastopol chỉ hơi tròng trành.
Gavril húng hắng ho, như thể đến lượt ông ta cũng sắp ngâm nga một bài thơ.
— Có đúng là những gì anh vừa nói với người góp vốn trong khoang tàu… Ờ, về những cô nàng tóc vàng ở trần ấy?
Bị bất ngờ, Alpha suýt mất thăng bằng. Cậu vội túm lấy cái phao cứu hộ treo gần đó.
— Không hẳn là tôi nghe trộm câu chuyện của hai người đâu. – Gavril lúng túng. – Tôi chỉ nghe bập bõm được vài câu, chúng tự lọt vào tai tôi, cũng giống như đám bụi nước mà ta bị bắn vào mặt ấy, nếu anh hiểu ý tôi… Hai người nói về những cô nàng mặc áo tắm một mảnh trên boong tàu, về nhân viên phục vụ mang những ly mojito, một gã mặc áo thun thủy thủ cầm bánh lái. Nếu hai người mua con tàu này cho một kế hoạch như thế, tôi rất muốn tham gia. Từ khi còn làm lái tàu trên Địa Trung Hải, tôi chỉ chở toàn những ông bà già chạy men bờ, giữa một xưởng ép dầu ô-liu, hai nhà hàng và ba đền thờ Hy Lạp. Tôi kín đáo, tôi có thể lái tàu thành thạo. Thậm chí tôi có thể làm lại bộ răng, nếu các anh muốn thế vì khách của các anh.
Alpha bước lên, hai tay đã lại thọc sâu trong túi. Cậu đã chụp một chiếc mũ tròn lên đầu nhưng gió vẫn táp vào mặt.
— Anh không cần trả lời ngay lập tức. – Gavril nài nỉ. – Từ mười lăm năm nay tôi cầm lái cho những du thuyền dài hơn ba mươi mét, tôi chưa bao giờ thấy xuất hiện một cặp vú nào trên boong tàu! Tôi hiểu rằng hai người muốn cải tạo lại hầm tàu, lắp đặt thêm giường, phòng tắm… – Ông ta nháy mắt với Alpha. – Nếu là để dành cho đám gái điếm cao cấp hoặc quay phim khiêu dâm, tôi cũng thấy ổn. Nhân danh một thủy thủ, tôi sẽ câm như hến! Một nghĩa trang trên biển!
Lúc này, tàu Sébastopol đã dừng lại giữa biển. Gavril dường như đang chờ đợi câu trả lời trước khi nổ máy trở lại và xoay bánh lái để quay về bến tàu.
— Có nhiên liệu không? – Alpha lo lắng hỏi.
— Đủ để đi vòng quanh thế giới!
Gavril chờ thêm vài giây nữa, nhưng Laurel đã lại quay người về phía biển, hai bàn tay nắm chặt đút trong túi quần, mũ sụp xuống mặt, ánh mắt nhìn xa xăm.
Ôi, biển cả cuồng mê đầy kinh hãi
Da báo rằn loang lổ chiếc áo choàng
Ngàn tượng hình qua ánh sáng long lanh
Thân xanh biếc say sưa trong tuyệt cảnh
Ngọn sóng thần uốn thân hình óng ánh
Lúc lặng im, lúc ồ ạt bủa vây
Hắn không quan tâm đến lời nói của mình! Người lái tàu nghĩ. Giận dữ, ông ta vừa hét to vừa khua khoắng cánh tay chẳng khác nào một gã xà ích ra roi quất ngựa.
— Phi nước đại đi, lũ ngựa! Ta về nhà thôi. Chưa đầy một giờ nữa chúng ta sẽ về đến nơi, anh sẽ thấy Sébastopol có gì trong bụng!
Gavril cúi xuống vài giây để điều khiển tay ga. Khi ông ta ngước mắt lên…
Một họng súng lục đang chĩa vào ông ta.
Viên lái tàu lắp bắp, run rẩy, nhăn nhó, run cầm cập như sắp rơi nốt những chiếc răng cuối cùng.
— Tôi… tôi nói linh tinh về chuyện đám gái điếm… Tôi… Tôi không nghe thấy gì cả… Tôi…
— Bình tĩnh nào, ông bạn! Nếu ông bạn lái ổn, mọi chuyện sẽ tốt đẹp cả. Tôi chỉ chuyển hướng con tàu của ông thôi.
Tuy nhiên, giọng nói bình thản của anh chàng da đen có khả năng đọc thơ Paul Valéry còn lâu mới khiến Gavril yên tâm. Chẳng khác nào gã vừa chui ra từ một bộ phim của Tarantino!
Gavril nhìn anh ta bằng ánh mắt dò hỏi, càng lúc càng khiếp sợ, như thể ông ta đang phải đối mặt với một kẻ thánh chiến chĩa súng vào mặt ông ta trong buồng lái một chiếc Boeing 747. Ông ta chằm chằm nhìn ra mặt biển hoang vắng một cách ngớ ngẩn, hình dung ra cảnh sắc thấy xuất hiện một hòn đảo và bị người ta bắt phải lao tàu vào đó.
— Chúng ta… chúng ta đi đâu?
— Đi thẳng. Trước mặt. Đến bờ bên kia Địa Trung Hải.
16h01
Julo đang ngất ngây.
Ngay khi Leyli Maal vừa bước vào Sở Cảnh sát Port-de-Bouc và tiến đến trước mặt ba viên cảnh sát, giống như một nữ diễn viên hơi xúc động nhưng tự tin vào tài năng của chính mình và mạnh mẽ nhờ tất cả những gì chị đã trải qua, Julo đã yêu quý chị.
Tình cảm đó không hề giống với một tình yêu sét đánh, Leyli Maal hoàn toàn có thể là mẹ của anh, nhưng từ người phụ nữ này toát ra một nghị lực không thể vùi lấp, hay có thể gọi là sức bền va nếu ta muốn dùng một từ bác học để chỉ ý chí của chị, giống như những con kiến luôn đi theo con đường của chúng cho dù có chuyện gì xảy ra, chúng sẽ vòng qua chướng ngại vật, kéo dài chặng đường nhưng luôn đi đến đích, ngay cả khi đang mang một gánh nặng lớn hơn trọng lượng của chính mình.
Một nàng kiến đã không từ bỏ việc giữ cho mình xinh đẹp. Xức mật hoa cho thơm và tô điểm bằng một nhánh hoa anh thảo. Những sắc màu trên người chị, ánh tím trên đôi mắt, những viên ngọc trai màu đỏ trên mái tóc, màu vàng cam của chiếc váy dài, tất cả giống như những mảnh bùa chống lại màu xám xịt của cuộc đời.
Ba người họ cùng tham gia hỏi cung Leyli, Petar, Julo và thiếu tá Tòni Frediani, một cảnh sát nắm rất rõ vùng Marseille, và đặc biệt là các mạng lưới xã hội đen gắn với hoạt động nhập cư. Thẩm phán Madelin đã yêu cầu ông tham gia cuộc trò chuyện này. Từ khi phát hiện ra xác chết thứ hai vào sáng nay, vụ án Valioni-Courtois đã mang tầm cỡ của một vụ việc quan trọng. Các ý kiến chỉ đạo bắn ra từ khắp ngả, và có lẽ sẽ phải mất vài giờ trước khi chính quyền địa phương, Bộ Nội vụ, Cục Cảnh sát hình sự xoa dịu tình hình và nêu rõ trách nhiệm của mỗi bên liên quan.
Leyli ngồi xuống trước mặt ba viên cảnh sát.
— Tôi thuộc tình trạng cư trú hợp thức. – Chị bắt đầu bằng việc nói rõ. – Tôi có giấy phép cư trú mười năm, tôi có hợp đồng lao động, tôi…
Petar ngắt lời chị mà không hề cao giọng.
— Chúng tôi biết, chị Maal ạ, chúng tôi biết.
Julo gật đầu xác nhận. Anh đã đọc nhanh hồ sơ được lập về Leyli Maal. Đúng là chị đã ở trong tình trạng bất hợp pháp trong vòng vài năm, sau khi đến Pháp, nhưng lại gần như không ngừng làm việc, và thậm chí còn đóng thuế. (Julo vẫn không thể hiểu làm sao những người nhập cư bất hợp pháp, không có giấy tờ, lúc nào cũng có nguy cơ bị trục xuất, lại có thể được tuyển dụng một cách hợp pháp… và đóng thuế.) Leyli đã được hợp pháp hóa tình trạng cư trú từ ba năm trước. Và làm việc từ hồi đó. Chị vừa có được một hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Một chặng đường mẫu mực.
— Chị có mang ảnh con gái chị đến không? – Thiếu tá Velika hỏi.
Giữa lúc Leyli lục tìm trong chiếc túi đeo chéo to tướng, Julo để mặc cho đầu óc suy nghĩ mông lung. Anh đã dò xét kỹ càng trang Facebook của Faline95. Cũng giống như trang Facebook của Bambi13, trang của Faline95 có vài bức ảnh gợi cảm, nhưng không ảnh nào chụp mặt. Tuy nhiên, khác với album ảnh của Bambi13, tất cả ảnh của Faline95 đều được chụp trong vùng Marseille, trên bãi biển Estaque, đối diện với quần đảo Frioul, gần các vũng đá Goudes, ở bể bơi công cộng của khu Pointe-Rouge…
Tuy nhiên, phương pháp quyến rũ Jean-Lou Courtois vẫn giống như vụ trước. Một màn phô trương tình tứ ảo khá ngớ ngẩn đối với những cô gái trẻ biết rằng mình xinh đẹp. Những bức ảnh mặc áo tắm, những trò tương phản ánh sáng trên các đường cong của một cơ thể trần trụi, những bức ảnh chụp cận cảnh các chi tiết gợi cảm trên thân hình. Faline95 và Bambi13 có vẻ đều xinh đẹp không ai kém ai. Hai thân hình như chị em sinh đôi của hai cô gái lại ở tuổi vị thành niên.
Julo, cũng giống như Petar, đã dành hơn một giờ đồng hồ để chơi trò tìm ra điểm khác biệt. Mà không thấy điểm nào.
Tất cả đều khiến họ nghĩ rằng Bambi13 và Faline95 chỉ là một cô gái duy nhất. Nhưng không thể chắc chắn.
Các bức ảnh đã được gửi tới phòng phân tích, Julo không biết liệu các chuyên gia tin học, từ những bức ảnh mờ ảo hoặc thừa sáng chụp bằng điện thoại thông minh, có thể xác định được nét tương đồng của kết cấu da, tính toán được kích thước chính xác của một khung chậu, độ dài của một bên đùi hoặc đường tiệm cận của bầu ngực tròn trịa. Và dù họ có làm được, cũng chẳng có gì chứng tỏ rằng những bức ảnh trên Facebook đó không bị photoshop. Ngày nay, bất kỳ ai cũng có thể chế ảnh mà.
Giữa lúc trung úy Flores chìm đắm trong dòng suy nghĩ của riêng mình, Leyli Maal đã đưa vài bức ảnh của con gái chị cho hai viên cảnh sát còn lại chuyền tay nhau. Trái ngược đến lạ lùng với những bức ảnh của Bambi13 và Faline95, ảnh của Bamby Maal thể hiện một cô gái trẻ dưới các góc chụp tự nhiên, chỉ hơi trang điểm nhẹ, đi giày thể thao, mặc quần jean và áo thun rộng. Petar cùng Tòni xem xét các bức ảnh hồi lâu, trước khi đưa chúng cho Julo. Trung úy Flores đã ghi khắc trong đầu bức chân dung mờ nhạt trên camera giám sát của khách sạn Red Corner, cô gái có khuôn mặt bị che kín một phần bởi tấm khăn choàng có in hình chim cú đó. Đôi mắt. Khuôn miệng. Anh bị nhấn chìm bởi linh cảm đầu tiên, một sự hiển nhiên chắc chắn.
Chính là cô ấy.
Bamby Maal chính là cô gái đã bị camera giám sát ghi lại. Cũng độ sâu ấy của đôi đồng tử trong mắt, cũng ánh mắt đầy thách thức xen lẫn chút u sầu khôn tả. Ánh mắt khiến người ta dễ dàng đem lòng yêu.
Chính là cô ấy.
Julo tiếp tục xem xét kỹ càng ba bức ảnh mà Leyli Maal mang đến. Sau một hồi nấn ná trước những bức ảnh đó, nỗi hoài nghi chợt nảy sinh trong anh.
Làm sao có thể chắc chắn về sự giống nhau, gần như đập vào mắt, mà chỉ dựa trên một ánh mắt? Không có cả hình dáng của cái mũi hay khuôn mặt, những thứ đó quá mờ nhạt trên hình ảnh ghi lại trong băng video. Làm sao có thể chắc chắn rằng đó không phải là một ảo tưởng, một trò trang điểm, một sự bắt chước?
Petar cũng không để lộ thái độ gì, Julo nhớ đến nhiều giờ cấp trên của anh đã bỏ ra để so sánh hình ảnh mờ nhạt này với ảnh chụp tất cả gái điếm trong thành phố, mà không tìm được bức ảnh nào tương đồng.
Phải chăng viên thiếu tá cũng đã đi đến đánh giá tương tự? Chính là cô ta, Bamby Maal! Julo tin chắc đến 80%, thậm chí là 90%… Nhưng điều đó vẫn không tạo thành một bằng chứng chính thức, và lại càng không giải quyết được vấn đề cơ bản ban đầu: làm sao cô gái sống ở vùng cần ưu tiên đô thị hóa này lại có thể là cô nàng Bambi13 đi khắp thế giới kia?
Petar tiếp tục lên tiếng. Ông diễn đạt nhẹ nhàng, như thể ông đang xin lỗi vì đã làm phiền Leyli Maal. Chuyện này không giống ông cho lắm. Có lẽ là sự hiện diện của Tòni Frediani đã khiến ông bối rối.
— Nếu chị cho phép, chúng tôi sẽ giữ những bức ảnh này của con gái chị. Chúng tôi đã cố gắng liên hệ với cô ấy bằng số điện thoại di động mà chị đã cho chúng tôi. Từ sáng nay. Nhưng không hề nhận được câu trả lời. Chị Maal này, chị gặp Bamby lần cuối khi nào?
Leyli trả lời không chút ngập ngừng.
— Tối qua. Lúc 19 giờ 30… Chính xác là từ 19 giờ 30 đến 20 giờ.
Sự chính xác trong câu trả lời của Leyli khiến ba cảnh sát bất ngờ. Cũng giống như khoảng cách giữa các mốc trong thời gian biểu thể hiện trong câu nói đó.
Nếu Leyli Maal nói dối, chị đã thực hiện việc đó với sự cả gan khiến người ta phải bối rối.
— Chị Maal này. – Petar nhấn mạnh thêm. – Làm sao chị có thể nói chính xác đến thế?
— Con gái tôi đã ăn tối cùng với tôi. Tối nào chúng tôi cũng ăn tối vào lúc 7 giờ rưỡi. Thiếu tá ạ, chúng ta hãy nói cụ thể vào việc đi, con gái tôi bị buộc tội gì vậy?
Ba cảnh sát nhìn nhau. Peter liền đưa ra quyết định. Không nói một lời, ông mở hồ sơ Valioni và Courtois rồi đẩy chúng về phía Leyli. Hồ sơ chủ yếu bao gồm những bức ảnh chụp hiện trường hai vụ án, hai cái xác bị mất máu, cũng như ảnh chân dung của hai nạn nhân. Một cách thức trực tiếp và tàn nhẫn để khiến người mẹ này hiểu rằng con gái chị đang bị buộc tội gì!
Julo tập trung vào từng cử chỉ của Leyli, từng biểu hiện trên khuôn mặt chị, khi chị mở hồ sơ ra, khi chị cầm từng bức ảnh lên, khi chị quan sát chúng; anh thấy chị sững người khi run rẩy đưa tay đóng bìa hồ sơ lại. Đó không chỉ là một phản ứng ngạc nhiên, thậm chí cũng không phải nỗi ghê sợ có thể hiểu được khi phải đối diện với những bức ảnh khủng khiếp đó. Khuôn mặt Leyli Maal như bị tê liệt trong một cơn co giật của nỗi kinh hoàng. Một tích tắc trước khi chị bình tĩnh trở lại.
Petar vừa xin lỗi vừa lấy lại tập hồ sơ.
— Tôi rất tiếc vì phải buộc chị chịu đựng thử thách này, chị Maal ạ. Và chúng tôi cũng chưa có bất cứ lý do khách quan nào để nghĩ rằng con gái chị đã gây ra những tội ác này.
Tranh thủ lúc Petar nói những câu nói lịch sự theo khuôn mẫu vừa cầu kỳ vừa bất ngờ, Julo hình dung lại một lần nữa trước mắt mình cảnh tượng vừa xảy ra. Biểu hiện lo lắng của Leyli Maal chỉ kéo dài khoảng một phần tư giây trước khi chị lấy lại được sự kiểm soát, nhưng nó đã nhấn chìm chị vào một thời điểm chính xác. Không phải là khi chị cụp mắt nhìn xuống những bức ảnh chụp các xác chết, cũng không phải khi chị phát hiện ra ảnh chân dung của François Valioni và Jean-Lou Courtois. Mà là sau đó. Ngay sau đó.
Khi chị nhìn thấy họ tên của hai người đó trên tập hồ sơ!
Như thể chị không nhận ra khuôn mặt họ. Nhưng lại biết họ là ai.
Phải chăng cả Petar cũng nhận thấy điều đó? Hay ông đã để mình bị đánh lừa bởi nỗi xúc động tự nhiên của một phụ nữ khi phải đối mặt với hai bức ảnh chết chóc? Julo cảm thấy có chút tự hào khi hình dung rằng anh là người duy nhất nhận ra chi tiết mấu chốt đó.
— Thưa thiếu tá. – Leyli nói bằng giọng bình thản. – Tôi không ngu ngốc, nếu ông nghĩ rằng con gái tôi chẳng có gì liên quan đến hai vụ giết người, ông sẽ không cho tôi xem những bức ảnh này. Nhưng ông đi sai hướng rồi. Con gái tôi có bằng chứng ngoại phạm vào đêm qua.
Ba cảnh sát nhìn nhau. Họ chờ cho Leyli ngả bài. Để xem thế nào.
— Tôi sẽ thành thật với các ông, tôi không biết con gái tôi ở đâu từ lúc 20 giờ 30 đến nửa đêm, con bé đã khẳng định với tôi rằng nó đến cửa hàng KFC với một cô bạn gái, nhưng tôi không có bất cứ bằng chứng nào cho việc đó. Ngược lại, từ nửa đêm trở đi, con gái tôi ở khách sạn Ibis, trong khu kinh tế Ecopolis. Đó chính là nơi tôi làm việc.
Petar gãi đầu. Cuộc hỏi chuyện đã xoay theo chiều hướng mà ông không còn kiểm soát được nữa.
— Chị Maal này, con gái chị làm gì ở đó vào lúc nửa đêm?
— Con bé hát.
— Xin lỗi, chị nói gì?
Leyli Maal lưỡng lự một chút trước khi trả lời. Hai bàn tay chị vặn vẹo bấu chặt lấy dây đeo túi xách.
— Đơn… đơn giản nhất là các ông hãy liên hệ với viên quản lý khách sạn. Ruben Liberos. Tôi ngờ rằng các ông sẽ không tin tưởng một người mẹ bảo vệ con gái mình. Nhưng ông Liberos sẽ khẳng định tất cả với các ông.
Thiếu tá Tòni Frediani lên tiếng lần đầu tiên. Chất giọng Marseille của ông càng làm nổi bật thêm sắc thái mỉa mai trong câu nói.
— Tôi cho rằng con gái chị không phục vụ bài hát đó khi chỉ có một mình lúc nửa đêm cùng với ông chủ của chị. Hẳn là phải có những người khác làm chứng cho màn biểu diễn hát hò đó chứ?
— Có. – Leyli khẳng định. – Khoảng chục người. Có lẽ là nhiều hơn.
Petar lấy ra một chiếc khăn mùi soa để lau mồ hôi trán. Ông ghi lại thông tin liên hệ của khách sạn Ibis, hỏi han Leyli thêm vài phút nữa, để lấy lệ, rồi cảm ơn chị.
Leyli vừa cầm túi lên thì Julo lao đến bên chị.
— Để tôi tiễn chị về.
Anh dẫn Leyli ra khỏi văn phòng, tránh quay nhìn về phía hai đồng nghiệp. Khi chỉ còn lại hai người họ trong hành lang, anh cẩn thận đóng cánh cửa lại sau lưng và nói thẳng với Leyli.
— Nếu chị cần bất cứ điều gì, hãy gọi cho tôi.
Anh đưa cho Leyli tấm danh thiếp. Julo không thể nào phân tích nổi suy nghĩ nào đã thúc đẩy anh hành động như thế.
— Nếu chị cần, dù chỉ là nói chuyện thôi cũng được. Về các con chị. Về hai người đàn ông bị sát hại. Về… về tổ chức nơi họ từng làm việc. Vogelzug.
Leyli cầm tấm danh thiếp, nhìn chăm chăm vào mặt anh hồi lâu, như để đánh giá xem chị có thể tin tưởng ở Julo không, rồi đi xa dần mà không nói lời nào. Trước khi đẩy cánh cửa văn phòng Sở Cảnh sát, chị đeo cặp kính mát có màu đỏ rực được tô điểm bằng một bông hồng màu hồng điều với những chiếc gai và lá chạy dọc gọng kính.
Một phụ nữ lạ lùng…
Khi nhìn chị bước ra ngoài, vẫn thẳng người và kiêu hãnh như khi bước vào, không mấy hề hấn gì, chẳng khác nào một người mẹ được triệu tập vì con trai chị ta đã quên bấm số mua vé tự động trên tàu điện, Julo đã hiểu tại sao anh tin chắc đến thế rằng Bamby Maal, Bambi13 và Faline95 chỉ là một cô gái duy nhất. Không chỉ vì nét giống mơ hồ trên một hình ảnh trích từ băng ghi hình. Linh cảm đó dựa trên vẻ quyết tâm mãnh liệt toát ra từ mỗi cử chỉ, mỗi lời nói của Leyli Maal, giống hệt vẻ quyết tâm của ả giết người bí ẩn kia. Một bản năng sinh tồn. Bản năng của một người vừa thoát nạn. Như thể họ vừa từ địa ngục trở về, và không còn điều gì có thể tác động đến họ nữa.
Vài giây sau, anh đẩy cánh cửa phòng làm việc.
— Thế nào? – Tòni hỏi, trong giọng nói có chút sốt ruột.
Julo còn chưa kịp trả lời. Petar đã lên tiếng trước. Rõ ràng là ông chờ đến khi cả ba người cùng họp để đưa ra các ý kiến kết luận.
— Vậy là. – Petar bình luận. – Mọi chuyện đã rõ ràng. Con gái chị ta chính là khách hàng của chúng ta! Không còn nghi ngờ gì nữa. Sự giống nhau giữa các bức ảnh chụp cô nàng Bamby con gái chị ta và nữ sát nhân của chúng ta đã rõ mồn một. Và đỉnh điểm của mọi sự là người phụ nữ này biết họ tên của hai nạn nhân!
Julo cắn môi. Cả Petar cũng đã nhận thấy vẻ kinh ngạc trong thoáng chốc của Leyli! Mặc dù anh ghét sự đối lập giữa giọng nói dửng dưng của viên thiếu tá cấp trên và cung cách tế nhị của ông khi nói chuyện với Leyli Maal, Julo vẫn phải thừa nhận rằng ông là một cảnh sát cực kỳ giỏi.
— Chỉ có điều. – Velika nói tiếp. – Với bằng chứng ngoại phạm của cô ta, chúng ta đang rơi vào một mớ rắc rối chết tiệt.
Ông nhìn đồng hồ.
— Chúng ta có ba mươi phút để đến gặp gã Ruben Liberos ở khách sạn Ibis. Cách đây chưa đầy hai kilomet.
Julo, vẫn đứng đằng trước cánh cửa, tự cho phép mình lên tiếng phản bác.
— Nếu Leyli Maal quen biết các nạn nhân, giữa chị ta và Vogelzug có mối liên hệ gì?
Tòni Frediani dỏng tại lên khi nghe nhắc đến cái tên Vogelzug. Petar đã đứng dậy.
— Chính xác thì cậu muốn ám chỉ điều gì?
— Lạy chúa, thưa sếp, chuyện đó đập vào mắt chúng ta còn gì. Leyli Maal đã sống trong cảnh không giấy tờ tùy thân ở Pháp suốt mấy năm. Mọi chuyện đều dẫn chúng ta đến với họ, những người vô hình, những người nhập cư bất hợp pháp. Những chiếc vòng đeo ở cổ tay họ, cũng là thứ mà chúng ta tìm thấy trong túi của Valioni, những chiếc vỏ ốc dùng thay cho đồng tiền châu Phi, Alpha, con trai của Leyli, kẻ muốn học đòi tập tành làm môi giới đưa người vượt biên. Chúng ta ở đây, ở Port-de-Bouc này, trong thành phố nơi đặt trụ sở của một trong những tổ chức trợ giúp người tị nạn lớn nhất, tổ chức nơi François Valioni và Jean-Lou Courtois từng làm việc. Ở đây, nằm ngay giữa quãng đường nối Sở Cảnh sát với khách sạn Ibis, là cơ ngơi của ông chủ lớn của Vogelzug, Jourdain Blanc-Martin.
Petar đi qua trước mặt viên cảnh sát phụ tá và đặt tay lên tay nắm cửa.
— Chúng ta sẽ xem xem, nhóc ạ. Trước hết, chúng ta sẽ tìm ra ai, và sau đó sẽ quan tâm đến vụ tại sao.
Petar mở cửa, Tòni Frediani chăm chú đánh giá cuộc đấu lý tay đôi giữa hai người đồng nghiệp, không can thiệp. Julo vẫn cố.
— Ông không nhận thấy là chúng ta nên ghé thăm Jourdain Blanc-Martin một chút sao?
Viên thiếu tá đã ra ngoài. Trước khi bám gót ông, Julo nhìn ông đi xa, như anh đã làm với Leyli Maal vài phút trước. Anh vừa hiểu ra tại sao anh lại đưa danh thiếp của mình mà không báo cáo lại với cấp trên: bởi vì Petar đã không đặt ra cho chị ta những câu hỏi thích đáng, không hỏi chị ta về quá khứ.
Bởi vì, nếu ông hỏi, có lẽ Leyli Maal sẽ không trả lời.
Bởi vì Leyli Maal sợ ông.
Anh chạy nước rút để bắt kịp cấp trên.
Bởi vì, và anh tưởng mình chìm sâu vào một cơn tâm thần phân liệt khi trí óc anh đưa ra giả thuyết này, Leyli, Bamby, và có thể là cả Alpha nữa, họ cần anh.
16h15
— Ông ngoại ơi, ông ngoại ơiiiiiiiiiiiiiiiiiiii!
Tidiane hét lên, tuyệt vọng. Dưới gốc cây cam.
— Ông ngoại ơi, ông ngoại ơiiiiiiiiiii…
Khuôn mặt ông ngoại Moussa cuối cùng cũng hiện ra ở cửa sổ tầng ba, tóc tai bù xù, như vừa bị một cơn ác mộng đánh thức giữa giấc ngủ trưa.
— Có chuyện gì thế, cháu yêu?
— Quả bóng của cháu. Quả bóng Maroc của cháu… Nó rơi mất rồi! Xuống dưới đó…
Tidiane chỉ tay vào một miệng cống bên dưới đường rãnh bao quanh sân của cư xá Olympe. Ông ngoại Moussa đưa tay dụi mắt.
— Sao lại đến nông nỗi đó thế?
— Cháu… Cháu chơi… Nhắm mắt… Để rèn luyện… Cháu không nhìn thấy nó lăn xuống.
Ông ngoại thở dài.
— Chờ một chút, ông xuống đây.
Một lát sau, cả hai ông cháu đã cúi người lom khom trên miệng cống đen sì. Ông ngoại thò bàn tay vào bên trong cái cống tối đen, rồi cả cánh tay, rồi một cái gậy, nhưng không có kết quả gì.
— Quả bóng của cháu rơi xuống địa ngục rồi, cháu yêu ạ.
— Vậy chúng ta sẽ đi tìm nó!
— Không dễ thế đâu, Tidy ạ. Thứ mà chúng ta gọi là địa ngục, là toàn bộ phần cống ngầm của cư xá này, nhiều kilomet hành lang, những cái hầm, mỗi hầm tương ứng với một căn hộ, cả những bãi đỗ xe, những đường ống thoát nước, những cống ngầm.
— Ông đã bảo cháu rằng tối nay mẹ bận, mẹ sẽ về muộn. Vậy chúng ta có thời gian!
— Ngày mai, Tidy ạ. Ngày mai, cháu không phải đi học. Quả bóng của cháu không bay mất được. Chúng ta sẽ phải trang bị dụng cụ. Một ngọn đèn cho cháu và một ngọn đèn cho ông.
— Không cần đâu, bây giờ cháu đã nhìn được trong bóng tối, giống như mẹ cháu!
Ông ngoại lùa tay vào mái tóc đứa cháu. Ông rất thích những khi Tidy thả hồn theo trí tưởng tượng. Một trí tưởng tượng mang lại cho thằng bé lòng quyết tâm vô hạn. Chiến thắng giải Vô địch thế giới, giải phóng Endor, ngược thời gian về thời của thổ dân da đỏ để cứu sống lũ bò rừng. Thứ lòng dũng cảm vô lo khiến những thằng bé mười tuổi trở nên vô cùng đáng yêu.
— Ông cũng sẽ mang theo một sợi dây. – Ông ngoại nói thêm. – Giống như Ariadne, để chúng ta khỏi bị lạc trong mê cung của địa ngục.
— Kho báu của mẹ cháu, nó cũng được cất giấu trong địa ngục phải không?
Ông ngoại cụp mắt nhìn xuống miệng cống đen sì đã nuốt chứng quả bóng.
— Có lẽ thế…
Tidiane đột nhiên đứng thẳng dậy và chớp ngay lấy cơ hội.
— Thế còn kho báu của ông nội ông thì sao? Sáng nay ông đã hứa là sẽ kể cho cháu nghe.
— Được rồi, Tidy ạ, được rồi.
Hai ông cháu đi bộ một chút rồi đến ngồi tựa lưng vào thân cây cam. Tidiane rất thích. Trên bầu trời, gió thổi những đám mây bay nhanh đến nỗi khiến chúng trông giống như những bông hoa giấy, nhưng trong sân cư xá Olympe, hai ông cháu lại ở nơi khuất gió. Trong một lát, Tidiane tưởng ông ngoại cậu đã ngủ thiếp đi, nhưng không phải, ông chỉ đang suy nghĩ, như thể đang tải về tâm trí mình câu chuyện của ông nội ông. Tốc độ tải không được nhanh lắm. Hẳn là tín hiệu mạng trong não ông ngoại không được mạnh lắm. Cuối cùng, ông ngoại Moussa cũng bắt đầu kể. Chậm rãi. Giống như mẹ cậu, ông ngoại có thói quen kể chuyện rề rà, để cậu ngủ thiếp đi khi kể được nửa chuyện. Nhưng Tidiane không bao giờ thiếp ngủ. Bây giờ, khi cậu đã lớn thì lại càng không.
— Ông nội ông tên là Gali. Cụ làm những chiếc vò. Vò trông giống như những chiếc bình lớn, những cái lọ để cắm những bông hoa khổng lồ ấy. – Ông ngoại Moussa giải thích. – Nhưng những chiếc bình của cụ không dùng để trồng cây. Chúng dùng để đựng vỏ ốc. Vào thời kỳ đó, vỏ ốc thay thế cho các loại tiền. Mỗi chiếc bình có thể đựng được vài ngàn vỏ ốc, và cụ Gali có khả năng đoán được, chỉ bằng cách nhấc thử vò, xem có bị thiếu vỏ ốc không, dù chỉ là một chiếc. Cụ Tosha, vợ của cụ Gali, cũng rất giỏi, cụ đếm vỏ ốc nhanh hơn bất cứ ai. Nghề của hai cụ chính là như thế, đếm vỏ ốc, cất giữ chúng, trả lại chúng, đổi chúng lấy các đồ vật. Hai cụ của cháu hồi đó rất giàu có, nhưng điều quan trọng hơn hết thảy, hai cụ được mọi người tôn trọng, bởi vì hai cụ không bao giờ tự cho phép mình lấy cắp dù chỉ một vỏ ốc. Ngược lại, hai cụ thường xuyên tặng vỏ ốc cho những người nghèo khổ. Thế rồi, một hôm, một quý ông đến và nói rằng vỏ ốc chỉ còn là vỏ ốc mà thôi.
Tidiane không hiểu lắm phần này của câu chuyện, nên ông ngoại Moussa liền cố gắng giải thích cho cậu hiểu rằng con người có những quyền lực kỳ lạ, chẳng hạn như quyết định rằng một vỏ ốc đáng giá rất nhiều tiền, hoặc chỉ giá trị không hơn một hạt cát hoặc một viên sỏi nhặt được trong sân.
— Những ngày hôm đó. – Ông ngoại nói tiếp. – Cụ Gali đã mất hết. Thế là cụ lên đường, cùng với cả gia đình, mang theo một cái lều và vài con bò. Cụ trở thành người chăn nuôi gia súc và đi qua sa mạc trong nhiều năm, cùng với con cháu của cụ, trước khi dừng bước bên bờ con sông Niger hùng vĩ, ở Ségou. Đó chính là nơi ông ra đời. Cũng là nơi mẹ cháu ra đời.
— Vậy là không còn kho báu nữa hả ông? – Tidiane hỏi.
Ông ngoại Moussa tựa hẳn người vào thân cây cam để lựa tư thế thoải mái hơn nữa.
— Tất nhiên là vẫn còn chứ. Nghe này, hãy nghe ông này, Tidy, và đừng bao giờ quên những điều ông sắp nói với cháu. Cháu sẽ tìm thấy kho báu, kho báu thực sự, ở nơi là gốc rễ của chúng ta.
17h14
Tấm biển trạm dừng Littoral run rẩy. Gió mistral thổi lồng lộng suốt cả ngày. Ngay khi Leyli đặt chân ra ngoài xe buýt, chị cảm thấy gió thốc vào tận bên trong áo. Dường như Leyli đã mua đồ phòng bão và mỗi bên tay xách một túi nặng. Sữa, cam, thịt gà, khoai tây… Ba cân mỗi bên!
Chị khập khiễng đi men vỉa hè, hướng đến tòa G và tòa H của khu Les Aigues Douces, dọc theo những tấm mành sắt của các cửa hàng đóng kín. Chẳng liên quan gì đến nguy cơ thủy triều dâng, mà là do nhiều cửa hàng đã dứt khoát nộp hồ sơ phá sản. Những mặt tiền màu xám được dùng làm bảng vẽ cho tất cả những tay thợ vẽ tranh graffiti trong khu phố. Các gam màu nóng và hình dạng sơ sài nhắc chị nhớ đến những bức tranh khắc trên đá của người Dogon, trong các hang đá cheo leo ở Bandiagara, phía Bắc Mali. Đôi khi tranh vẽ khá đẹp, giống như không gian vui chơi rộng rãi nằm giữa biển và những tòa chung cư, do tòa thị chính lập ra. Vòi phun nước, cầu khỉ, xích đu, sàn đấm bốc mini, bể bơi mini, lũ trẻ có thể chơi đùa bên bờ biển mà không gặp nguy hiểm gì, trong tầm mắt trông chừng của người lớn từ mỗi ban công có lan can ở Les Aigues Douces. Tám khối tám cột căn hộ chồng chất lên nhau thành tám tầng.
Một nơi đẹp đẽ để lớn lên. Mặc dù các tòa nhà đã bị gặm nhấm từ bên trong bởi căn bệnh ung thư của thời gian, điện thoại nội bộ bị vỡ, thùng thư lòi ruột, nhưng liệu có cư dân nào chấp nhận chuyển nhà đi nơi khác chứ?
Leyli vòng qua góc tòa nhà G14. Một trận cuồng phong lập tức quất mạnh vào người chị. Ở dưới chân các tòa nhà, gió mistral đóng vai những người dọn rác điên cuồng. Nó thổi tung túi nilon, hộp giấy, mút xốp, mẩu thuốc lá, vỏ lon, tất cả các loại rác thải chất đống trong những thùng rác quá đầy, những thùng chứa không được dọn sạch, và gió chịu trách nhiệm rắc ra khắp nơi. Một đợt tổng vệ sinh với các luồng gió thay cho máy phun rửa áp lực cao Kärcher. Mọi thứ đều bị cuốn ra biển, và sáng mai, mặt đường bê tông của khu phố sẽ chẳng khác gì vừa được tẩy rửa.
Hai tay nặng trĩu, Leyli oằn người. Đầu cúi thấp.
Chị không nhìn thấy chiếc Mercedes Class C dừng lại dọc vỉa hè, trước mặt chị vài mét. Chị không nhìn thấy người đàn ông bước ra khỏi xe. Chị chỉ thấy ánh sáng của mấy ngọn đèn pha nhấp nháy khi ông ta khóa cửa xe. Một người đàn ông chừng sáu mươi tuổi. Cao lớn. Lịch lãm. Mặc bộ com-lê cắt may hoàn hảo không chút tì vết, giống hệt chiếc xe của ông ta. Kiểu người chỉ mạo hiểm đến khu phố này trước đợt bầu cử vài tháng. Một vị dân biểu chăng? Một công chức? Hay một thương gia? Leyli chưa bao giờ gặp ông ta.
— Leyli Maal? – Có vẻ như ông ta biết chị.
— Tôi là Jourdain Blanc-Martin.
Leyli dừng lại. Ông ta tiến lên và bằng một cử chỉ có vẻ cũng tự nhiên như bắt tay, đề nghị xách giúp chị hai cái túi. Chị không từ chối.
Jourdain Blanc-Martin.
Ông chủ của Vogelzug. Đứa con ngôi sao của khu phố. Leyli biết ông ta là ai, đương nhiên.
— Tôi đã nghe nói rất nhiều về chị, chị Maal ạ.
— Thật sao? – Có chút mỉa mai trong giọng nói của chị.
— Tôi có thể đi cùng chị đến tận chân cầu thang nhà chị không?
— Thậm chí ông có thể mang đồ lên tận tầng tám giúp tôi ấy chứ!
Mặc dù đối đáp như thế, nhưng Leyli vẫn cảnh giác.
Jourdain Blanc-Martin không ngẫu nhiên mà đến bắt chuyện với chị. Ông ta chỉ chưa chịu ngả bài thôi. Ông ta bước đi cạnh chị, tử tế, tươi cười, lịch sự, nhưng chị đã có thói quen đề phòng trước những bàn tay đưa ra cho mình.
Blanc-Martin ngước mắt về phía mặt tiền của tòa nhà gần nhất và chăm chăm nhìn đám khăn mặt đang bay phấp phới trên ban công, những chiếc ăng ten chảo rung rinh, hàng dây phơi quần áo như những cánh tay bị trật khớp.
— Đây chính là nơi tôi đã lớn lên. – Ông ta nói. – Tòa nhà G12. Trường cấp hai Victor-Hugo, trường cấp ba Mistral. Chẳng có gì thực sự thay đổi từ năm mươi năm nay.
— Làm sao ông biết được? – Leyli phản bác, cố tình tỏ thái độ đanh thép. – Ông có thể hiểu gì về những người đang sống ở đây hôm nay?
Blanc-Martin im lặng hồi lâu, lần này ông ta bận ngắm mặt biển đang nổi sóng.
— Chị nói đúng, Leyli ạ. Tôi sống cách Les Aigues Douces một kilomet và tôi tin rằng lần cuối cùng mình đặt chân đến đây, chính là khi dọn nhà cho mẹ tôi, hai mươi năm trước, để lấy hết đồ đạc trong căn hộ của bà ấy ở tòa G12 và đưa bà ấy đến ở trong một biệt thự trên đồi tại Sausset-les-Pins. Tôi đã quyết định mọi chuyện thay cho bà ấy. Mẹ tôi chưa bao giờ thừa nhận với tôi, nhưng bà ấy vẫn luôn tiếc nhớ khu phố này. Bà ấy không quan tâm đến sự giàu có, dưới bất cứ hình thức nào. Bà ấy có được sự xa xỉ tuyệt đối là hạnh phúc đến mức khinh bỉ tiền bạc.
Hai người họ dừng lại và cùng xoay người, quay lưng về phía đám bụi nước, như thể bị đè bẹp dưới chín tầng lan can trước mặt họ.
— Ông muốn gì ở tôi, ông Blanc-Martin?
Viên chủ tịch có vẻ nhẹ nhõm khi Leyli là người đi bước đầu tiên.
— Cảnh báo chị, giúp đỡ chị. Tôi biết chuyện của chị, từng giai đoạn trong câu chuyện của chị. Tôi biết chị đã phải chịu đựng đến mức nào để có thể đến được đây. Tôi biết chị đã trải qua những thử thách nào, đã phải chấp nhận những hy sinh gì. Chặng đường chị đã trải qua là một cuộc chiến, Leyli ạ. – Ông ta cố ý im lặng một lát, không rời mắt khỏi những ban công chất đầy đồ đạc. – Tôi biết số người chết mà chị đã phải bỏ lại sau lưng.
Leyli chăm chú nhìn ông ta, nhưng không thể thu hút được ánh mắt trốn chạy của ông ta. Chị lưỡng lự không biết có nên lấy lại hai túi đồ và để mặc ông ta đứng đó không. Cảnh báo ai đó về một mối nguy hiểm thường không là gì khác ngoài một lời đe dọa được ngụy trang.
— Tôi không cần ông giúp đỡ.
Blanc-Martin vẫn không nhìn chị, nhưng ông ta đã dừng mắt ở độ cao của tầng thứ tám, tòa nhà H9. Ban công nhà chị. Blanc-Martin biết chị sống ở đâu! Ông ta tiếp tục nói một mình bằng chất giọng ngọt nhạt, một lần nữa lại pha chút mỉa mai.
— Chị thích kể chuyện của mình, Leyli ạ. Ai có thể chỉ trích điều đó chứ? Câu chuyện đó đầy tính xây dựng. Vô cùng hấp dẫn. Thật dũng cảm biết bao! Thật là một tấm gương! Ai có thể vô tình với một số phận như thế?
Leyli quả quyết bước về phía chân cầu thang của tòa H9, được gió đẩy đi. Chủ tịch của tổ chức Vogelzug đi theo chị, cách chừng một mét, hai tay trĩu nặng vì hai túi đồ. Leyli đưa mắt quét một lượt mặt tiền tòa nhà, những mong nhìn thấy Guy ở ban công tầng bảy, hay thậm chí là Kamila. Không có ai cả! Vì gió mistral đang thốc, mọi người đều rút vào trong nhà.
Đến chân tòa nhà, chị quay lại. Gió mistral quất vào mặt chị.
— Tôi hỏi một lần nữa, ông muốn gì ở tôi, ông Blanc-Martin?
— Hãy trông chừng các con chị.
— Xin lỗi, ông nói gì?
— Tôi chẳng có gì chống lại chị, Leyli ạ. Nhưng chị phải giúp chúng tôi tìm ra cô con gái Bamby của chị. Cô con gái Bamby và cậu con trai Alpha của chị.
Leyli không trả lời. Chị tuyệt vọng chờ xem có ai đó ra khỏi khoang cầu thang. Áo gi-lê của chị bay tung. Những lời nói của Blanc-Martin tạt vào mặt chị còn mạnh hơn cả gió thốc. Chị đưa hai tay ra để viên chủ tịch trả lại hai túi đồ ăn.
— Tôi đang rất vội, ông Blanc-Martin ạ. Tôi phải đi đón thằng con út.
— Hãy hiểu cho kỹ, Leyli ạ. Bamby và Alpha đang gặp nguy hiểm.
— Con gái tôi chẳng có liên quan gì đến những vụ giết người đó. Con trai tôi cũng không phải là một đứa vô lại. Ông không phải là cảnh sát! Tôi không hiểu ông định ẩn ý gì.
Chị dữ tợn giằng lấy hai chiếc túi nilon. Blanc-Martin nắm cổ tay chị giữ lại.
— Nếu vậy, tôi sẽ nói rõ hơn. Tôi biết bí mật của chị. Tôi biết chị không phải là người như chị vẫn trưng ra. Mọi người tin vào lời nói của chị, họ tin tưởng chị. Mọi người ngưỡng mộ chị, Leyli ạ. Mọi người thương cảm chị. Mọi người yêu quý chị. Chị biết cách quyến rũ. Hàng xóm của chị. Các ông chủ của chị. Bố mẹ chị. Các con chị. Những người cho chị thuê nhà. Các chủ nợ. Kể cả cảnh sát… Làm sao họ có thể ngờ được rằng tất cả bọn họ đã bị thao túng một cách ngoạn mục?
— Ông điên rồi!
— Không, Leyli ạ. Cả chị lẫn tôi, không ai điên cả. Chị biết điều đó cũng rõ như tôi. Những lời nói dối của chị được chị kiểm soát một cách hoàn hảo. Nhưng những lời nói dối đó đã gieo mầm điên rồ vào đầu óc các con chị.
— Ông điên rồi!
Leyli lao nhanh hết mức vào khoang cầu thang tối om. Ẩn náu. Nhưng không đủ nhanh để khỏi phải nghe những lời cuối cùng của Blanc-Martin.
— Hãy nghĩ đi, Leyli ạ. Tôi chỉ cần nói một câu thôi. Và tất cả những gì chị đã kiên trì xây dựng sẽ sụp đổ hết.
17h17
— Thưa các vị, mời các vị ngồi, tôi chỉ có chiếc sofa giản dị này để mời các vị, và không có thứ đồ uống nào khác ngoài những thứ được phân phát bởi gã người máy giống như một đứa trẻ rối loạn tính nết chỉ làm theo ý mình và cứ hai cốc cà phê thì lại quên bỏ đường một cốc này.
Thiếu tá Petar Velika và trung úy Julo Flores ngạc nhiên nhìn chăm chăm viên quản lý khách sạn Ibis ở Port-de-Bouc. Cứng họng trước tràng lời nói đó, họ ngồi xuống chiếc sofa đỏ rực ở quầy lễ tân.
— Hai người làm tôi nhớ đến David Brown và Fred Yates, hai điều tra viên của Dunwoody, ở phía Bắc Atlanta, đến bảo vệ cho Goldie, một cô nàng người Mỹ gốc Phi tội nghiệp ẩn náu trong khách sạn xoàng xĩnh của tôi sau vụ sát hại một chủ trang trại da trắng. Khách sạn Alamo. Bị bao vây bởi hai trăm gã đội mũ trùm màu trắng khua khoắng những cây thập tự lửa. Nhờ thiện ý của tôi, cô ấy qua đêm ở chỗ tôi, rồi Brown và Yates đã chứng minh rằng Goldie vô tội. Thậm chí tôi còn tin rằng Freddie, anh chàng điều tra viên nhỏ bé, đã đem lòng yêu cô ấy và hiện nay họ vẫn đang sống cùng nhau…
Ruben Liberos nhìn chằm chằm Julo hồi lâu, như thể anh chính là hiện thân của viên cảnh sát người Mỹ, rồi lấy tiền lẻ và lại gần máy bán cà phê tự động.
Petar bỏ công kiểm tra để chắc rằng người cải trang thành vũ sư tango trước mặt ông không phải một gã điên đang lên cơn, mà đúng là viên quản lý chính thức của cái khách sạn thảm hại nằm ở ngoại vi Port-de-Bouc.
— OK, thưa ông Liberos, chúng tôi hơi vội. Ông có thể khẳng định với chúng tôi rằng Bamby Maal, con gái nhân viên của ông, có mặt trong khách sạn của ông, vào đêm qua, khoảng nửa đêm không?
— Tôi khẳng định với hai vị điều đó. Chính thức.
Ông nhét mấy đồng xu vào máy bán cà phê tự động và vỗ mạnh lòng bàn tay để cái cốc rơi xuống.
— Tôi xin lỗi, thưa ông Liberos. Nhưng cô ấy đến khách sạn của ông làm gì vào lúc nửa đêm? Nhân viên của ông, mẹ cô ấy, Leyli, đã tiết lộ với chúng tôi rằng cô ấy đến để… hát.
— Thiếu tá này, liệu tôi có thể trông cậy vào sự kín đáo của ông không?
Petar càu nhàu. Không ra có cũng chẳng ra không. Ruben nói tiếp.
— Ông là một người trọng danh dự, thiếu tá ạ. Hãy tin tôi, tôi biết cách nhận ra những gã lính chỉ tuân theo mệnh lệnh của trái tim.
Ruben tới gần hai viên cảnh sát và kể lại vắn tắt, với vẻ dè dặt có tính toán, rằng đôi khi ông chứa chấp những người không có giấy tờ tùy thân, và cùng họ tổ chức, vì họ, những đêm nhạc hội, và không hiếm khi các khách vãng lai cũng tham gia.
— Các buổi tiệc tùng của ông chỉ bắt đầu lúc nửa đêm hay sao? – Petar hỏi.
Ruben Liberos đưa cái cốc cho ông.
— Cầm lấy này, thiếu tá. Cappuccino đấy. Hãy tin vào câu chuyện tình dài của tôi với cái máy đỏng đảnh này, cappuccino là thứ thuốc sắc duy nhất có thể uống được mà nó có khả năng pha cho ông.
Ông chờ Petar cầm được cái cốc nhựa nóng bỏng rồi mới tiếp tục.
— Những buổi tiệc tối của chúng tôi bắt đầu ngay khi đêm xuống. Nói thật với hai vị, tôi may mắn có được một nữ danh ca, Noura, cô gái trẻ duyên dáng mà hai vị sắp nhìn thấy hiện ra và biến mất sau lưng mình, lúc thì cưỡi chổi, lúc thì khua khoắng cây phất trần. Nhưng tôi cần cô ấy phục vụ bữa ăn nhẹ buổi sáng cho các du khách chia tay chúng tôi ngay lúc bình minh. Thế nên cô nàng Lọ Lem sơn ca của chúng tôi phải rời bỏ chúng tôi khi mười hai tiếng chuông báo hiệu nửa đêm vang lên, và Bamby sẽ lên sân khấu, mặc dù âm sắc giọng hát của cô ấy kém tinh tế hơn rất nhiều so với giọng của Noura. – Ông nghiêng người về phía hai viên cảnh sát, ánh mắt lấp lánh, và thì thầm khi nói gần hết câu. – Tôi trông cậy ở ông, mong ông không nhắc lại điều này với mẹ cô ấy.
Julo không thể ngăn mình nhìn ra phía sau lưng. Trong lúc chờ vũ hội tiếp theo, quả thực là Lọ Lem đã quay trở về với công việc dọn dẹp của mình. Một cô gái lai xinh đẹp tận dụng cơn gió thốc trước cửa ra vào để giũ bụi cho những tấm ga giường.
Noura.
Bộ óc Julo thực hiện kết nối trước cả khi anh kịp yêu cầu nó dè chừng những sự trùng hợp.
Noura giống Bamby đến lạ lùng! Cũng vóc dáng trẻ trung đó. Cũng làn da rám nắng đó. Cũng nét thanh lịch trong từng cử chỉ, trong từng kiểu tạo dáng, được nhấn mạnh thêm bởi thoáng kiêu ngạo vì biết mình là người được ngắm nhìn và thèm muốn.
Quá sững sờ trước những tiết lộ điên rồ của Ruben Liberos, Petar không thèm quay lại. Ngón tay ông co quắp đầy nguy hiểm trên cái cốc đầy tràn một thứ bọt trắng tạo bởi hóa chất có mùi vị sô-cô-la.
Liberos tiếp tục lại gần máy bán cà phê cappuccino tự động. Đến lượt Julo.
Petar nhìn đồng hồ và quyết định tăng tốc.
— Trong trường hợp đó, ông Liberos ạ, tôi cho rằng ông có nhiều nhân chứng để khẳng định lời ông nói?
Ruben đập lòng bàn tay vào vỏ máy cũ kỹ. Chiếc cốc thứ hai rơi ra.
— Ít thôi, thiếu tá ạ… Ít thôi… Cùng lắm là khoảng hai chục người… Ông có biết rằng vào năm 1988, tôi đã tập hợp được hơn một trăm năm mươi người trong khách sạn Ibis ở Targoviste để nghe một nghệ sĩ violon người Digan bị Securitate de Ceauşescu truy đuổi không? Một buổi hòa nhạc không thể nào quên và…
— Hai mươi nhân chứng là rất đủ rồi. – Petar cắt lời ông. – Tôi có thể liên hệ với họ ở đâu?
Những nỗ lực siêu nhiên của thiếu tá để giữ bình tĩnh bắt đầu khiến Julo thấy thích thú. Ruben Liberos đưa cho anh một cốc cappuccino giống hệt cốc của Petar, rồi tiến về phía quầy lễ tân và quay trở lại với chừng hai chục tờ giấy được kẹp lại với nhau.
— Đây, thưa thiếu tá. Những lời khai danh dự của toàn bộ các nhân chứng, họ khẳng định rằng đã nghe Bamby hát trong khán phòng khiêm tốn của tôi từ nửa đêm đến 6 giờ sáng. Ông sẽ tìm thấy họ, tên và chữ ký của họ. Tổng cộng là mười chín người.
Petar kín đáo liếc mắt nhìn tờ giấy.
— Tôi cho rằng ông có địa chỉ của tất cả các công dân trung thực này, hoặc số điện thoại, hoặc bất cứ thứ gì cho phép chúng tôi triệu tập họ đến Sở Cảnh sát chứ?
Có lẽ Julo sắp bị vẹo cổ đến nơi. Anh không ngừng ngoái cổ để lén quan sát Noura, người đang bận rộn phơi những tấm chăn, đồng thời cố gắng không bỏ sót bất cứ điều gì trong màn diễn đầy cuốn hút của viên quản lý khách sạn.
— Thiếu tá này, ông nghĩ việc một công dân thế giới đang sống trong tình trạng bất hợp pháp ở Pháp, có thể bị trục xuất bất cứ lúc nào, đích thân đến làm chứng tại một Sở Cảnh sát, liệu có hợp lý không? Hãy yêu cầu tôi cung cấp cho ông một cuộn băng nếu mảnh giấy này còn chưa đủ, một băng ghi hình danh dự.
Petar đặt cốc cappuccino xuống trước mặt. Ông vẫn chưa hề nhấp môi. Ông đã hiểu rằng nếu cứ thế này, mọi chuyện có thể sẽ tiếp tục vòng vèo nhiều giờ nữa. Ruben Liberos đang tranh thủ thời gian. Vui đùa. Dắt mũi họ. Phương pháp du kích truyền thống của các chiến binh đoàn kết chống lại luật pháp mù quáng.
— Nếu bản lời khai này còn quá mơ hồ, thiếu tá ạ, tôi có thể yêu cầu những người chịu ơn mình làm rõ tất cả với ông: danh sách các bài hát được trình diễn, giờ bắt đầu và kết thúc chính xác của buổi hòa nhạc. Trong một vụ án giết người, tôi cho rằng…
Petar Velika dường như sắp nổ tung đến nơi. Ông đột ngột cao giọng.
— Không cần thiết đâu, ông Liberos ạ.
— Tôi hy vọng ông sẽ không cho rằng tôi đã tạo ra tất cả những lời khai này. Tất cả các nhân chứng đều là những người có uy tín ở nước họ, những đại biểu phe đối lập bị truy đuổi, thẩm phán, giáo viên, bác sĩ.
Viên thiếu tá cảm thấy chút kháng cự cuối cùng của ông trước phép lịch sự đã sụp đổ. Viên quản lý khách sạn sẽ tiếp tục bài diễn văn dài dòng kia chừng nào ông chưa tìm ra nút tắt dòng diễn văn đó. Ông quyết định làm rõ mọi chuyện một cách triệt để.
— Chúng tôi sẽ kiểm tra những lời khai của các ông, hãy tin tôi đi, chúng tôi sẽ xem xét kỹ từng cái tên một. Nhưng điều duy nhất quan trọng với chúng tôi, ông Liberos ạ, đó là biết xem liệu có đúng là cô Bamby Maal có mặt ở Port-de-Bouc đêm qua, như lời mẹ cô ấy khẳng định với chúng tôi, như lời ông khẳng định với chúng tôi hay không. Ông Liberos ạ, ông có biết vụ giết người mà cô Bamby Maal bị kết tội là đã thực hiện xảy ra ở đâu không?
Julo vươn thẳng người lên. Cả anh cũng đã đặt cốc cappuccino kinh khủng của mình xuống. Anh có cảm giác luồng gió sau lưng mình đã dừng lại, như thể Noura đã ngừng làm việc để lắng nghe câu chuyện của họ.
— Tôi chẳng biết gì cả, Liberos thừa nhận. Leyli chỉ nói với tôi rằng…
— Vụ sát hại Jean-Lou Courtois, tên nạn nhân, được thực hiện trong phòng Caravansérail của một khách sạn thuộc chuỗi Red Corner. Trong khoảng từ 5 đến 6 giờ sáng, theo các chuyên gia pháp y.
— Tôi… tôi hiểu ông muốn nói đến chuyện gì, thiếu tá ạ. – Viên quản lý khách sạn lúng búng. – Khách sạn Red Corner ở Port-de-Bouc, cầu Chúa phù hộ để tôi không phải đứng đầu một khách sạn như thế một ngày nào đó, nằm cách đây hai kilomet, khoảng hai mươi phút đi bộ. Ông tưởng tượng rằng Bamby Maal có thể đã vắng mặt nửa giờ và…
— Tôi chẳng hề tưởng tượng bất cứ điều gì, ông Liberos ạ.
Khách sạn chìm sâu trong bầu không khí im lặng trầm lắng suốt nhiều giây dài dằng dặc, trước khi thiếu tá Velika kết thúc câu nói của mình.
— Jean-Lou Courtois không bị sát hại ở Port-de-Bouc. Có cả trăm khách sạn Red Corner trên thế giới, y hệt nhau, cũng giống như hệ thống khách sạn Ibis của ông.
Trong khi Petar Velika dừng lại một lần nữa, Ruben Liberos quay về phía bản đồ các khách sạn Ibis tại Pháp. Người ta có thể đọc thấy cả chục khách sạn thuộc chuỗi khách sạn của ông chỉ riêng trong vùng Marseille. Phần cuối câu nói của viên thiếu tá khiến ông lâng lâng, lay động tâm hồn ông, xâm chiếm suy nghĩ của ông và nhấn chìm tất cả những niềm tin chắc chắn trong ông.
— Jean-Lou Courtois đã bị sát hại trong khách sạn Red Corner ở Dubai. Cách đây năm ngàn kilomet!
Ruben Liberos đảo mắt hoài nghi, không thể thốt nên lời nào. Viên thiếu tá húng hắng ho, dường như ông đột nhiên thấm mệt, bị ngợp trước các sự kiện, rồi quay sang viên phụ tá.
— Cho ông ấy biết tất cả các chi tiết đi, Julo.
Trung úy Flores cất giọng bình tĩnh.
— Jean-Lou Courtois ở Dubai để tham dự Hội nghị của các đại diện hàng đầu của tổ chức quốc tế nơi ông ta làm việc, SoliC@re. Ông ta ở hai đêm tại khách sạn Radisson Blu, đối diện với bến cảng cũ của Dubai, trên bờ sông Deira Creek. Ngày đến, ở cửa hàng miễn thuế tại sân bay Dubai, ông ta đã mua các sản phẩm của L’Occitane en Provence cho vợ, một chiếc máy bay mô hình cho con trai, và một mặt dây chuyền bằng thủy tinh hình tháp Burj Khalifa, hẳn là ông ta đã tặng nó cho kẻ giết mình, Faline95. Ông ta đã uống một ly với cô ta vào buổi tối đầu tiên, trong sảnh khách sạn Radisson Blu, và ăn tối với cô ta vào buổi tối thứ hai trong một nhà hàng được gắn sao, Reflets, một trong số mười nhà hàng do Pierre Gagnaire điều hành trên thế giới. Ông ta ra khỏi nhà hàng cùng cô gái đó vào khoảng nửa đêm, họ bắt taxi đến tận khách sạn Red Corner. Viên tài xế người Dubai là người cuối cùng nhìn thấy Jean-Lou Courtois còn sống, ngoại trừ Faline95, đương nhiên. Kể từ sáng nay, chúng tôi hợp tác chặt chẽ với cảnh sát Dubai, và nhất là với Ban Hợp tác Quốc tế của Đại sứ quán Pháp ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Trong khi chúng tôi xem xét xem phòng Caravansérail ở khách sạn Red Corner tại đây trông như thế nào, họ đã gửi cho chúng tôi những bức ảnh chụp hiện trường vụ án, các kết quả phân tích máu, và cố gắng thiết lập chân dung cô gái đó. Chúng tôi đã biết được rằng cô ta là người lai, và đang chờ các thông tin tiếp theo.
Ruben Liberos đứng dậy. Ông nhặt hai cốc cà phê cappuccino và ném chúng vào thùng rác gần nhất, thậm chí không thèm dốc hết cà phê bên trong.
— Thưa hai vị cảnh sát điều tra, ông nói bằng giọng vui vẻ, tôi hy vọng rằng hai vị không vội, tôi sẽ đi thay thế thứ đồ uống kinh khủng này bằng một chai sâm panh thật ngon ngay lập tức. Nếu năm nghìn kilomet ngăn cách hiện trường vụ án với khách sạn khiêm nhường của chúng tôi, thì tôi tin rằng điều đó hoàn toàn đủ để chứng minh sự vô tội của cô bạn Bamby Maal của chúng ta rồi.
Chu Thich
← Theo bản dịch bài thơ Nghĩa trang trên biển (Paul Valéry) của tác giả David Lý Lãng Nhân.