Kho báu của Sierra Madre

Kho báu của Sierra Madre

Lượt đọc: 1301 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
nguyên tác: the treasure of the sierra madre (1927)

Cái ghế bố Dobbs đang ngồi không được ngon lành cho lắm. Một thanh bị gãy; thanh kế bên thì cong queo, ngồi lên đó chẳng khác nào bị phạt. Dobbs có đáng bị phạt hay không, hay hình phạt này ráng xuống anh một cách oan ức, như đa số mấy vụ phạt vạ khác, thì lúc này anh cũng chẳng có nghĩ tới. Anh chỉ để ý thấy mình ngồi không thoải mái khi có ai đó hỏi anh có ổn không. Mà dĩ nhiên, chẳng có ma nào rảnh mà đi hỏi han anh.

Dobbs còn đang mắc bận nghĩ mấy chuyện khác nên đâu có để ý tới chuyện ngồi sao cho êm. Ngay lúc đó, anh đang tìm cách giải quyết cái khúc mắc ngàn đời làm bao nhiêu người quên hết mọi chuyện khác. Anh vắt óc tìm câu trả lời: Làm sao kiếm được tiền liền bây giờ ta?

Nếu mà đã có sẵn ít tiền rồi, thì kiếm thêm cũng dễ hơn, tại vì mình có thể đầu tư chút đỉnh vô một cái nghề nào coi bộ hứa hẹn. Chứ trong túi không một xu dính túi, thì muốn kiếm ra đồng nào cũng khó khăn hết sức.

Dobbs trắng tay. Thật ra, anh còn thua cả trắng tay nữa, vì ngay cả đồ mặc trên người cũng không ra hồn, không đủ bộ. Mấy bộ đồ tươm tất đôi khi cũng được coi là chút vốn nhỏ để bắt đầu làm ăn.

Ai mà chịu khó làm việc và nghiêm túc với chuyện đó chắc chắn sẽ kiếm ra việc. Chỉ có điều, đừng có tìm tới cái người nói câu đó với bạn, tại vì bản thân ổng đâu có việc gì để giao đâu, mà cũng chẳng biết ai đang cần thợ. Chính vì vậy mà ổng mới nhiệt tình cho bạn cái lời khuyên đó, vì tình nghĩa anh em, với lại cũng để chứng minh ổng hiểu đời ít cỡ nào.

Dobbs thà đẩy xe cút kít chở đá nặng mười tiếng mỗi ngày nếu có ai thuê, nhưng mà lỡ có chỗ làm trống thiệt, thì anh cũng là người cuối cùng được nhận, tại vì đã có cả trăm người xếp hàng sẵn rồi, mà người bản xứ lúc nào cũng được ưu tiên, còn dân ngoại quốc thì... hên xui.

Anh liếc nhìn anh thợ đánh giày ngoài quảng trường coi ổng làm ăn ra sao. Anh thợ này có một cái bục sắt cao, có một ghế ngồi. Trông cũng sang chảnh ghê, dù cái ghế êm ái đó không có khách nào ngồi. Cái nghề này cạnh tranh cũng dữ dằn lắm. Hàng chục mấy thằng nhóc không có tiền mua bục thì cứ chạy như chồn rượt quanh quảng trường kiếm khách. Hễ mà túm được ai đôi giày chưa bóng lộn là tụi nó đeo theo dai nhách, cho đến khi người khách đó phải chịu thua cho tụi nó đánh giày thêm lần nữa cho xong chuyện. Thường thì hai thằng nhóc lanh lẹ làm chung, mỗi thằng lo một chiếc giày của khách rồi chia tiền công. Mấy thằng này đeo theo cái hộp nhỏ xíu, với một cái ghế đẩu, bé tí bằng bàn tay, để ngồi khi làm việc. Dobbs nhẩm tính, cái bộ đồ nghề đó chắc tốn chừng ba peso. Vậy là, so với Dobbs, tụi nó là tư bản rồi, có vốn liếng để làm ăn. Mà thấy tụi nó săn khách như vậy cũng đủ hiểu, kiếm cơm không hề dễ.

Ngay cả khi Dobbs có ba peso để mua đồ nghề, cái nghề đánh giày cũng coi như bỏ, tại vì anh không thể nào làm thợ đánh giày ở đây giữa mấy người bản xứ. Không có thằng Tây nào thèm chạy lòng vòng ở đây mà rao: "Đánh giày, ông ơi?" Thà chết cho xong. Một thằng Tây có thể ngồi ghế đá ngoài quảng trường trong bộ đồ rách bươm, đói gần chết; có thể đi ăn xin và tự hạ thấp mình trước một thằng Tây khác; thậm chí có thể đi trộm cắp hay làm mấy chuyện bậy bạ khác; vì mấy chuyện đó thì mấy thằng Tây kia không có coi thường nó; nó vẫn được tính là một trong bọn họ. Chứ lỡ mà nó đi đánh giày ngoài đường, hay đi xin người bản xứ bất cứ thứ gì ngoài nước uống, hoặc đi bán nước chanh đá đựng trong xô theo ly, thì nó sẽ bị rớt xuống dưới cả tầng lớp thấp nhất của người bản xứ và sẽ chết đói luôn. Chẳng có thằng Tây nào thèm thuê nó nữa, mà người bản xứ thì coi nó là đối thủ cạnh tranh đáng ghét nhất. Mấy thằng nhóc bản xứ sẽ đá đổ xô nước chanh, mà nếu nó có kiếm được đôi giày nào để đánh, thì mấy thằng thợ giày bản xứ sẽ bu lại, chọc ghẹo nó bằng mấy trò chơi khăm với lời lẽ thô tục, làm khách phải bỏ đi trước khi đánh giày xong.

Một người đàn ông mặc đồ trắng đi tới, khoan thai ngồi xuống cái bục đánh giày. Anh thợ đánh giày liền bắt đầu làm việc trên đôi giày da bò của ổng.

Dobbs đứng dậy khỏi ghế, chậm rãi bước tới cái bục, và nói vài câu với người đàn ông mặc đồ trắng. Ông này hầu như không ngước lên, thọc tay vô túi, lấy ra một đồng peso, rồi đưa cho Dobbs.

Trong chốc lát, Dobbs đứng đờ ra, không tin vào mắt mình. Rồi anh lủi thủi quay lại ghế. Anh đã chẳng trông mong gì, hoặc cùng lắm là mười centavos thôi. Anh mân mê đồng peso trong túi. Giờ làm gì với kho báu này đây? Một bữa trưa với một bữa tối? Hay là hai bữa trưa? Hay mười gói thuốc lá Artistas? Hay năm ly cà phê, mỗi ly kèm một ổ bánh mì, hay thứ tụi nó kêu là "pan frances" ở đây?

Sau một hồi suy tính nát óc, anh rời ghế và đi bộ vài dãy phố tới Hotel Oso Negro, Khách sạn Gấu Đen.

Khách sạn Gấu Đen này mà đem về quê nhà thì không thể gọi là khách sạn được. Ngay cả ở cái xứ cộng hòa này, nơi mà khách sạn đàng hoàng hiếm hoi, nó cũng không được xếp vô hàng tử tế. Nó chỉ là một cái nhà trọ giá bèo thôi.

Thời kỳ bùng nổ đang lên tới đỉnh, nên mấy khách sạn ngon lành mắc muốn chết. Tại vì cái đợt bùng nổ tới nhanh hơn cả ngàn lần so với tốc độ xây khách sạn tử tế, nên ở đây ít có chỗ nào xứng đáng với cái tên khách sạn, mà chủ mấy chỗ đó thì cứ hét giá từ mười tới năm chục đô la cho cái phòng tồi tàn với độc một cái giường bố kẽo kẹt, một cái ghế kêu réo và một cái bàn bể nát làm hết nội thất. Khách trọ chỉ mong là cái giường được mắc mùng chống muỗi kỹ lưỡng và khách sạn có nước lạnh cho tắm vòi sen bất cứ lúc nào.

Ở tầng trệt của Hotel Oso Negro, bên trái có một tiệm, do một ông Ả Rập làm chủ, bán giày, ủng, áo sơ mi, xà bông, nước hoa, đồ lót phụ nữ và đủ thứ nhạc cụ. Bên phải là một tiệm khác bán ghế bố, giường đồng tinh xảo, nệm, máy ảnh, súng, súng trường, đạn dược, sách tìm kiếm và khoan dầu, vợt tennis, đồng hồ, báo và tạp chí Mỹ, phụ tùng xe hơi, và đèn pin. Chủ tiệm này là một người Mexico nói tiếng Anh khá sõi và ổng quảng cáo chuyện này khắp cửa sổ.

Giữa hai tiệm này, một hành lang dài dẫn vô sân trong (patio) của khách sạn. Cái hành lang này có thể đóng lại bằng một cánh cửa rất nặng để ngăn với ngoài đường, mà lúc nào cũng mở cả ngày lẫn đêm.

Ở lầu trên của tòa nhà có bốn phòng nhìn ra phố và bốn phòng nhìn vô sân trong. Khó mà tưởng tượng nổi phòng khách sạn nào tệ hại hơn mấy phòng này, vậy mà không phòng nào có giá dưới mười hai đô la cho một đêm — dĩ nhiên là không có phòng tắm. Khách sạn chỉ có hai vòi sen nước lạnh. Nước nóng là cái gì đó xa xỉ. Hai cái vòi sen lạnh đó phải phục vụ cho tất cả khách trọ. Thường xuyên là không có nước để tắm luôn, tại vì nguồn nước có hạn, đa số phải mua lại của mấy người bán dạo chở nước trong mấy can xăng năm gallon trên lưng lừa.

Chỉ có hai phòng ngoài và hai phòng trong ở lầu hai là cho khách thuê; bốn phòng còn lại là của ông chủ khách sạn và gia đình ổng ở. Ông chủ, người Tây Ban Nha, gần như không bao giờ lộ mặt; ổng giao hết mọi công chuyện và việc làm ăn cho nhân viên.

Cái việc làm ăn chính của khách sạn không phải từ mấy căn phòng này, vốn thường trống không cả tuần lễ, vì cái giá, dù đang thời bùng nổ, vẫn bị coi là cắt cổ do khách không thể chịu nổi mấy con rệp quá hai tiếng đồng hồ rồi phải đi kiếm chỗ khác ngủ cho hết đêm. Ông chủ không có giảm giá, và chỉ thỉnh thoảng mới ra tay xử lý lũ rệp. Sau khi ổng tuyên chiến với tụi nó, chín mươi phần trăm lũ rệp cảm thấy vui vẻ hơn trước.

Phần lớn việc làm ăn của khách sạn là từ cái sân trong, nơi khách trọ không quan tâm tới rệp hay nội thất gì hết, cái quan trọng duy nhất là giá thuê một cái giường bố thôi.

Nguyên cái sân trong được bao quanh bởi mấy cái chòi làm bằng mấy tấm ván rẻ tiền nhất, đã mục nát, nứt nẻ, và hư hao theo thời tiết. Mái nhà thì có chỗ lợp tôn lượn sóng, chỗ lợp giấy dầu, chỗ nào cũng dột. Đa số mấy cánh cửa chỉ còn treo bằng một bản lề, mà không cái nào đóng kín được. Chẳng có chút riêng tư nào trong mấy cái chòi này hết. Trên mỗi cánh cửa có viết một con số bằng sơn đen để dễ nhận ra.

Bên trong mấy cái chòi này, mấy cái giường bố được kê sát rạt nhau hơn cả trong bệnh viện dã chiến thời chiến tranh, thiệt là muốn chửi thề. Trên mỗi cái giường bố có đóng một cái nhãn ghi số thứ tự. Mỗi giường có hai cái ra trải, được cho là màu trắng, sạch và không rách. Được cho là vậy thôi. Rồi mỗi giường có một cái mền mỏng. Hầu như không kiếm được cái mền nào mà diện tích vải lành lặn lại nhiều hơn diện tích lỗ thủng. Tại vì mấy cái mền này đều màu tối, nên không biết tụi nó đã được giặt lần nào từ hồi xuất xưởng chưa. Trên mỗi giường là một cái gối nhỏ, cứng ngắc - cứng như khúc củi.

Ánh sáng với không khí lọt vô qua cửa và qua mấy cái khe nứt trên ván. Vậy mà, không khí trong mấy cái phòng này lúc nào cũng đặc quánh, mùi vị không được thơm tho cho lắm. Sàn gỗ gần như bể nát hết, ngay dưới là đất, lúc thì lầy lội, lúc thì khô ráo, nhưng lúc nào cũng đầy chuột, bọ cạp, nhện đen nhỏ có nọc độc, và rết.

Cái sân trong bị mấy tòa nhà bao bọc hết bốn phía, nên không có thông gió gì hết trơn, mà mặt trời, dù có chiếu thẳng xuống sân, cũng không xuyên qua được. Cái khu vệ sinh công cộng chỉ tốt hơn một chút xíu so với trong mấy cái hầm hào chiến đấu thôi, mắc dịch thiệt.

Thêm vô cái bầu không khí khó chịu này là khói đặc từ cái đống lửa cháy giữa sân suốt cả ngày cho đến tận khuya. Họ dùng bất cứ thứ gì trên đời này có thể đốt được làm củi, kể cả giày cũ với phân khô. Trên đống lửa này, một ông Tàu luộc đồ giặt của ổng trong mấy can xăng cũ. Ổng thuê thêm một cái chòi nhỏ, dựng ở góc xa nhất của sân, nơi ổng cùng bốn người đồng hương làm cái tiệm giặt ủi. Với tình hình bùng nổ, cái nghề này lời đậm, mà ông chủ khách sạn cũng hốt được một phần hoa hồng.

Cái sảnh của khách sạn, đóng vai trò là chỗ chờ, chính là cái hành lang dẫn từ ngoài đường vô sân trong. Bên trái, ngay trước khi vô sân, là văn phòng của ông quản lý. Ổng làm việc qua một cái cửa sổ nhỏ trong hành lang. Một cái cửa sổ khác cho phép ổng dòm ngó mọi thứ diễn ra trong sân và coi chừng không để khách nào chiếm giường tốt hơn số tiền đã trả.

Phần lớn văn phòng của ổng bị chiếm bởi mấy cái kệ to đùng, nơi, sau lưới kẽm gai, trong mấy ngăn, rương, hộp, túi xách, va li, bưu kiện và bao tải chất chồng lên tận trần. Trong một cái phòng nhỏ phía sau văn phòng, nối bằng một cánh cửa không bao giờ đóng, còn có thêm nhiều kệ nữa, tất cả đều chứa đầy đồ đạc của khách. Khách trọ nào cũng không dám liều mạng để túi xách hay hộp đồ trong chỗ ngủ nghỉ.

Ở đây, trên mấy cái kệ này, được nhân viên coi giữ kỹ lưỡng, không chỉ có đồ đạc của khách đang trọ, mà còn của mấy người không có tiền trả tiền trọ quá một đêm, và sau đêm đó thì phải ngủ ghế đá hay trong mấy góc kẹt gần bến tàu hoặc dưới mấy gốc cây ven sông, nơi không có ông quản lý nào đòi tiền, mà đôi khi họ bị giết chỉ vì ba mươi centavos trong người.

Sau khi đã trả tiền ít nhất cho một đêm, khách trọ coi đó là quyền của mình khi gửi đồ đạc cho khách sạn giữ. Nếu cần cái áo sơ mi hay cái quần hay bất cứ thứ gì, anh ta tới khách sạn, kêu lấy túi hay gói đồ của mình, lấy ra cái cần rồi trả túi lại cho ông quản lý giữ. Ông quản lý không bao giờ biết người đó còn là khách trọ hay không, mà ổng cũng lịch sự quá hoặc thờ ơ quá nên không hỏi. Rồi tới một ngày, người đàn ông đó cần phải đổi chỗ ở gấp vì lý do nào đó. Anh ta không có tiền tàu xe, nên phải dùng cái phương tiện đi lại miễn phí lúc mới sinh ra. Đi bộ, anh ta không thể vác túi hay rương theo được—không phải ở đây, vùng nhiệt đới này, nơi không có chuyện quá giang. Hôm nay, có lẽ anh ta đang ở Brazil, hoặc Argentina, hoặc Hồng Kông, hoặc xương cốt anh ta đang phơi trắng nắng ở đâu đó gần Venezuela hay Ecuador. Ai mà quan tâm? Có lẽ bị đâm, hoặc chết khát, hoặc bị cọp ăn thịt, hoặc bị rắn cắn. Cái túi của anh ta, bất kể chủ nhân có mệnh hệ gì, vẫn được khách sạn trông nom kỹ lưỡng.

Tới một ngày, mấy cái kệ không còn chỗ chứa tất cả túi xách, hộp, bao tải và va li của mấy ông khách cũ, mà chẳng còn một tấc không gian nào cho túi của khách mới. Ông chủ khách sạn bèn ra lệnh dọn dẹp tổng vệ sinh.

Phiếu gửi đồ chưa bao giờ được cấp; một cái sang chảnh như vậy thì khách sạn này không có. Một số túi có nhãn ghi tên chủ nhân. Mấy cái túi khác mang nhãn của mấy công ty giao nhận, hoặc một con tàu, hoặc một khách sạn ở Tây Ban Nha hay Morocco, hoặc Peru, nhờ đó chủ nhân của nó nhận ra. Mấy cái túi khác có tên khách được viết bằng phấn hoặc bút chì. Thường xuyên xảy ra vụ chủ nhân không lấy lại được gói đồ của mình, thứ mà anh ta nhận ra qua hình dáng bên ngoài, tại vì anh ta quên mất cái tên mình đã khai lúc đưa túi cho ông quản lý, do trong thời gian đó đã đổi tên mấy lần cho tiện.

Từ nhiều va li và hộp, nhãn đã rớt hoặc bị xé mất, hoặc, nếu chúng dính dầu mỡ, bị chuột cắn. Tên viết bằng phấn hay bút chì đã bay màu. Thường thì nhân viên quên hỏi tên chủ nhân, hoặc ông khách vô lúc say xỉn không nhớ nổi tên mình. Nhân viên lúc đó chỉ viết lên túi số giường bố được xếp cho vị khách, người mà dĩ nhiên quên bẵng con số này liền, nếu anh ta có biết.

Khó mà nói mấy món đồ đó được giữ bao lâu. Ông quản lý hay ông chủ khách sạn ước tính số tháng dựa trên độ dày của lớp bụi phủ trên chúng. Họ hiếm khi tính sai bằng cái cách phán đoán này.

Ông chủ khách sạn, có ông quản lý đứng đó, mở hành lý và gói đồ ra, lục lọi tìm kiếm vật có giá trị để đòi lại tiền công giữ đồ. Đa phần, ổng chỉ thấy giẻ rách hoặc đồ lặt vặt, tại vì ai mà có đồ quý giá thì đâu có tới Hotel Oso Negro, mà nếu có tới, cũng không ở quá một đêm.

Mấy cái đồ giẻ rách thì được cho mấy người lảng vảng xung quanh xin xỏ. Ở cái thế giới này, không có cái áo sơ mi, cái quần, hay đôi giày nào tệ hại đến mức không có một người nào đó nói: "Cho tôi xin đi, làm ơn; nhìn cái của tôi nè. Cảm ơn ông!" Tại vì không có người nào nghèo đến mức mà người khác không nghĩ rằng mình vẫn còn nghèo hơn.

Dobbs không có va li theo, ngay cả cái hộp bìa cứng hay túi giấy cũng không. Anh cũng không biết nên bỏ gì vô. Tất cả những gì anh sở hữu trên đời này đều nằm trong túi quần. Hàng tháng trời, anh không có áo gi-lê, cũng không có áo khoác. Mấy thứ đó đã bay màu từ lâu rồi. Mà dù sao thì anh cũng đâu cần. Ở đây không ai mặc áo khoác trừ khách du lịch nước ngoài và mấy ông muốn làm ra vẻ. Ở đây, mặc áo khoác trông ngớ ngẩn như đội mũ chóp trên đầu một người New York không có tiền đi taxi vậy.

Dobbs bước tới trước cửa sổ của nhân viên, nơi trên một tấm ván có đặt một cái bình nước bằng đất nung. Đây là bình nước chung cho tất cả khách trọ. Không có nước trong phòng hay trong chòi. Nếu khát, bạn phải rời giường bố ra đây lấy nước. Mấy ông khách quen kinh nghiệm, nhất là mấy người hay khát nước ban đêm, sẽ mang theo một chai rượu tequila có đầy nước khi đi ngủ.

Ông quản lý, người cũng làm nhân viên tiếp tân ban ngày, là một thanh niên rất trẻ, chưa tới hai lăm tuổi. Anh ta lùn và rất gầy, với cái mũi dài, mỏng. Cái mũi của anh ta cho thấy anh ta sinh ra là để làm nhân viên khách sạn. Má anh ta hóp vô, mắt trũng sâu với quầng thâm. Anh ta đang bị sốt rét, khiến da mặt vàng tái, có bóng xanh. Trông anh ta như thể có thể chết bất cứ lúc nào. Lầm rồi nha ông, tại anh ta có thể đập bất kỳ thằng thủy thủ nào nói bậy quá mức mà nhân viên tiếp tân cho là tử tế. Anh ta làm việc từ năm giờ sáng tới sáu giờ chiều, rồi có nhân viên ca đêm tới thay. Sau đó, anh ta sẽ ra quảng trường đi bộ khoảng năm chục vòng để tập thể dục.

Khách sạn không bao giờ đóng cửa, và mấy nhân viên tiếp tân bận rộn lắm. Không có nửa tiếng nào trong ngày hay đêm mà không có ít nhất một khách cần được gọi dậy vì họ phải đi làm. Ít khách du lịch nào dừng chân ở khách sạn này, mà nếu có, đa phần là nhầm lẫn và họ sẽ về nước kể cho cả thế giới biết cái xứ cộng hòa này dơ dáy cỡ nào.

Khách trọ ở đây gần như toàn là công nhân làm việc, có việc hoặc không, mấy ông thủy thủ bị tàu bỏ lại hoặc bỏ tàu. Thỉnh thoảng có một hai ông làm dầu mỏ ghé qua, mấy người mà tuần trước còn là triệu phú, nhưng đã phá sản vì giếng dầu khô hoặc không ra dầu. Nói chung, khách trọ là công nhân làm bánh, thợ lát đường, bảo vệ, đầu bếp và bồi bàn trong quán cà phê, người bán báo; và nhiều người có mấy cái nghề khó gọi tên hay giải thích ngắn gọn. Nhiều người trong số họ có thể thuê một phòng với một gia đình hoặc trong một căn nhà riêng, nơi họ sẽ ngủ ngon hơn và không phải thường xuyên chung đụng với đủ loại trộm cắp, kẻ gian lận bài bạc, kẻ lang thang, kẻ chơi xúc xắc bịp, kẻ vô gia cư, và mấy thằng phiêu lưu mạo hiểm, những người, miễn là họ trả tiền, cũng sống ở đây. Sự phân biệt giai cấp duy nhất ở đây là qua câu hỏi: "Mày có trả tiền giường bố của mày không hay không?" Chính vì khách sạn này có thể tin tưởng được trong việc gọi khách đúng giờ và đảm bảo họ rời đi nên hàng loạt công nhân tử tế đã ở đây lâu dài. Họ thà sống ở đây giữa cái tầng lớp cặn bã của năm châu lục còn hơn mạo hiểm mất việc vì đi làm trễ.

Cả hai nhân viên tiếp tân đều làm việc hiệu quả. Ngày qua ngày, khách mới đến, khách cũ rời đi. Mỗi giờ, ngày hay đêm, đều thấy mặt mới. Mọi quốc tịch đều có mặt ở đây. Người da trắng, da đen, da nâu, da vàng, và da đỏ đều đến và đi; già trẻ, cao thấp. Nhưng không nhân viên tiếp tân nào làm sai. Ai mà đi qua cửa sổ, nhân viên đang trực đều biết liền là anh ta đã trả tiền hay chưa. Nếu có lấn cấn, anh ta liếc nhìn sổ đăng ký rồi coi chừng người đó đi vô phòng nào. Tại vì không cái chòi nào có khóa, nên không cần chìa khóa. Ai mà khôn lanh thì có thể đi vô bất kỳ cái chòi nào và chiếm một cái giường bố. Nhưng hai nhân viên tiếp tân được luyện kỹ quá nên họ nhận ra ngay mặt khách, cái tên anh ta khai, số chòi và giường bố của anh ta, và khoản thanh toán anh ta đã đưa, và coi mấy chi tiết đó có khớp nhau không.

Một vài căn phòng chứa mấy cái giường cũ nát được ngăn cách với mấy phòng khác bằng mấy tấm ván nứt. Mấy cái chuồng nhỏ này nhỏ xíu tới mức ngoài cái giường ra chỉ còn một khoảng trống hẹp rộng chừng một foot để người ở cởi quần áo. Mấy cái chuồng nhỏ này được cho thuê bởi mấy ông đàn ông dắt phụ nữ theo. Đối với mấy chỗ này thì mỗi người bị tính một peso.

Hai cái chòi được giữ riêng cho khách nữ. Ở đây, cửa cũng không thể khóa hay đóng kín đàng hoàng. Mấy người phụ nữ trọ ở đây đa số là mấy cô gái làm việc trong quán ăn và bếp khách sạn. Mặc dù ai cũng có thể dễ dàng lẻn vô khu vực phụ nữ ban đêm và phần còn lại của khách sạn đầy rẫy đàn ông đủ loại, mấy cô gái lại an toàn hơn ở đây so với nhiều khách sạn khác hay làm dữ về đạo đức. Mấy cô gái không bao giờ bị mấy ông say xỉn quấy rối. Theo luật ngầm của khách sạn và của mấy người đàn ông sống ở đây, bất kỳ người đàn ông nào cố gắng làm hại một trong mấy cô gái sẽ chết trước lúc mặt trời mọc. Mấy người đàn ông thậm chí không bao giờ đi gần khu vực phụ nữ để nhìn lén qua mấy tấm ván nứt. Mấy người phụ nữ là những khách trọ duy nhất trong mấy cái chòi ở sân trong có mùng chống muỗi cho giường bố của họ. Đàn ông phải tự lo liệu.

Nhiều vị khách đã sống ở đây hai, ba, thậm chí năm năm. Mấy ông "lão làng" này thường chiếm mấy cái góc của cái chòi mà họ ngủ, và vì vậy có được chút riêng tư mà mấy người khác không có. Họ tự do hơn ở đây so với ở nhà riêng, tại vì họ có thể tới lui tùy thích. Không bà chủ nhà nào hỏi han họ hay cảm thấy có nghĩa vụ phải làm phiền họ bằng ý kiến riêng của mình về đạo đức và sự trừng phạt sau này.

Mấy cái chòi không có tủ quần áo hay tủ đựng đồ gì hết. Mấy ông khách có giường bố ở giữa chòi thì đặt đồ đạc lên cái ghế bị gãy hoặc cột chúng vô mặt dưới của giường bằng dây. Mấy ông chiếm góc hoặc có giường bố dọc theo tường thì treo quần áo lên đinh. Mấy ông khác giữ đồ trong hộp gỗ dưới gầm giường. Lại có mấy ông, đồ đạc treo trên tường thì dùng bao tải che lại rồi buộc chặt bằng dây chéo vô tường, khiến một tên trộm khó lòng lôi được cái quần hay cái áo sơ mi ra khỏi đống quần áo đó.

Hiếm khi xảy ra chuyện bị chôm đồ. Ai mà rời đi với gói đồ gì cũng bị nhân viên tiếp tân dòm ngó kỹ lưỡng tới mức mà nếu người đó không trung thực, anh ta sẽ đánh rơi gói đồ và bỏ chạy. Một tên trộm trong khách sạn này không bao giờ sợ cảnh sát hay nhà tù. Anh ta chỉ sợ—sợ hú hồn—cái trận đòn mà anh ta sẽ nhận được nếu bị phát hiện. Ông quản lý chỉ cần kêu lớn vô sân trong, nơi lúc nào cũng có hàng chục khách trọ lảng vảng cả ngày lẫn đêm. Họ sẽ lôi tên trộm vô một trong mấy cái chòi rồi giảng cho anh ta một bài đạo đức sẽ tạo ra ấn tượng sâu sắc lên cả đầu óc lẫn thân thể anh ta, khiến trong bảy ngày tiếp theo, anh ta không thể nhúc nhích ngón tay hay mí mắt mà không rên rỉ. Mấy bài thuyết giáo này đã được chứng minh là hiệu quả tới mức khách sạn có thể bảo đảm là sẽ không có vụ trộm nào xảy ra trong hai tháng tới.

Chỉ có mấy ông lão làng mới dám để lại một phần đồ đạc trong mấy cái chòi lúc đi làm. Áo khoác, quần và áo sơ mi của họ đã quá quen mặt với mấy nhân viên tiếp tân tới mức hầu như không thể có ai mặc quần áo bị chôm mà rời đi mà không bị bắt.

Trong cái phòng nơi nhân viên tiếp tân có cái bàn nhỏ, cũng có một cái két sắt để giữ mấy món đồ quý giá của khách, chẳng hạn như tiền mặt, giấy tờ, đồng hồ, nhẫn và dụng cụ. Trong số này có đủ loại dụng cụ được dùng bởi mấy ông địa chất, ông đo đạc địa hình, ông tìm kiếm khoáng sản và thợ mỏ, cũng như súng lục, súng, súng trường và bộ đồ câu cá treo trên tường, hoặc là gửi giữ hoặc để lại thay cho tiền trọ.

Ở mấy góc và trên mấy cái kệ hẹp, trong tầm tay của nhân viên tiếp tân, hàng chục gói nhỏ, hộp bìa cứng và sách được chất chồng. Mấy món này được gửi giữ và sẽ được lấy trong vòng một hoặc hai tiếng. Đa số chúng không bao giờ được nhận lại. Chủ nhân của một số món có lẽ đang ở đầu kia thế giới, tại vì nếu một người cần việc làm và đang ở bến tàu đúng lúc một con tàu, thiếu một hai thủy thủ, đang nhổ neo, anh ta sẽ nhảy lên và bỏ lại bưu kiện hay dụng cụ của mình. Bạn không thể ăn cái máy kinh vĩ và bạn không thể bán nó, không phải với giá hai chục đô la, nếu tất cả mấy tiệm đồ cũ và tiệm cầm đồ đều ngập tràn mấy món đó. Nhưng có việc làm là có cơm ăn, mà một người đàn ông sẽ là thằng khờ nếu không bỏ mặc dụng cụ hay đồ câu cá hay súng ống mà chộp lấy cơ hội nhảy lên một con tàu nơi có ba bữa ăn ngon lành mỗi ngày.

Một cái kệ với mấy ngăn nhỏ chứa đầy thư từ cho khách trọ. Từng bó thư, nhiều bức từ mẹ, vợ hoặc người yêu, chất đống, phủ bụi dày. Mấy người đàn ông nhận thư có thể đã chết, hoặc đang làm việc sâu trong rừng rậm khai phá mấy mỏ dầu mới, hoặc trên một con tàu buôn ở Biển Đông, hoặc giúp mấy ông Bolshevik xây dựng đế chế công nhân, không có thì giờ đâu mà nghĩ tới chuyện người viết thư ở quê nhà có thể đang khóc sưng mắt vì một con cừu lạc.

Cái thứ mà ông quản lý hay nhân viên tiếp tân gọi là bàn làm việc của mình chỉ là một cái bàn nhỏ, lung lay và cũ mèm. Trên đó có sổ đăng ký, vài lá thư và giấy tờ, một lọ mực và một cây viết. Mọi khách trọ đều phải đăng ký, để nhắc nhở là anh ta đang ở trong một xứ văn minh chứ không phải với một bộ lạc thổ dân nào đó. Chỉ tên họ của anh ta được ghi vô, cùng với số chòi và giường bố và số tiền anh ta đã trả. Mọi thông tin khác về khách trọ, quốc tịch, nghề nghiệp, quê quán, đều không được nhân viên tiếp tân hay cảnh sát quan tâm, những người không bao giờ tới kiểm tra sổ đăng ký trừ khi kiếm một tên tội phạm. Mấy ông thuế vụ thường xuyên coi sổ đăng ký để tìm hiểu coi khách sạn có khai man không. Thành phố không có dư thừa quan chức, mà chỉ ở những nơi có nhiều quan chức hơn mức cần thiết, người ta mới bị làm phiền phải kể cho cảnh sát hết mọi chuyện riêng tư của mình.

Dobbs tới cửa sổ, đập đồng peso của mình xuống bàn, và nói: "Dobbs, hai đêm."

Nhân viên tiếp tân cầm sổ đăng ký lên và viết: "Jobbs," tại vì anh ta không nghe rõ tên và quá lịch sự để hỏi lại. Câu trả lời của anh ta là: "Phòng bảy, giường hai." "Phòng" có nghĩa là "chòi," và "giường" có nghĩa là "giường bố."

Dobbs lẩm bẩm điều gì đó, có lẽ là: "Rồi, anh bạn," hoặc có lẽ là: "Hôn tôi chỗ nào đó đi, đồ mặt ngu."

Anh đói bụng và phải đi săn hay đi câu... Nhưng cá không thèm cắn câu. Anh lân la tới một người đàn ông mặc bộ đồ trắng rồi lầm bầm vài tiếng; người đàn ông đó, chẳng thèm nhìn anh, đưa cho anh một đồng toston—tức là nửa peso.

Với năm chục centavos này, Dobbs lật đật chạy vô một tiệm ăn Tàu. Mấy quán Tàu là chỗ rẻ nhất trong cái xứ Cộng hòa này, mà cũng không phải là chỗ dơ dáy nhất. Giờ ăn trưa đã qua lâu rồi, nhưng mà trong tiệm Tàu thì lúc nào cũng có thể kêu bữa tối (còn kêu là “comida corrida”) để ăn. Lỡ mà bữa tối kết thúc rồi, thì bữa ăn đó sẽ được kêu là “cena,” tức là “bữa khuya”, bất kể đồng hồ nhà thờ chỉ mấy giờ.

Dobbs, biết mình có tiền trả, cứ bắt thằng nhỏ Tàu chạy đôn chạy đáo như ma làm. Bất cứ món nào dọn ra, anh cũng kêu đổi món khác, khoái chí khi cảm nhận lại cái cảm giác sung sướng lúc được hành hạ người khác không chút thương tiếc.

Rồi anh lại lết ra quảng trường lần nữa, vừa đi vừa xỉa răng, rồi ngồi trên ghế đá nghỉ mệt cho tới khi cảm thấy thèm cà phê. Anh đi bộ lòng vòng một hồi lâu mà không thành công, cho tới khi một người đàn ông mặc đồ trắng cuối cùng cũng đưa cho anh một đồng bạc, lại là năm chục centavos nữa.

“Trời má ơi,” Dobbs lẩm bẩm, “mình mát tay với mấy ông mặc đồ trắng thiệt.” Anh băng ngang quảng trường tới phía gần bến tàu đậu mấy chiếc tàu chở khách với tàu chở hàng. Ở đây có một cái quán cà phê không tường, không cửa, không cửa sổ, tại đâu cần đâu vì quán mở hai mươi bốn tiếng mỗi ngày.

Dobbs gọi một ly cà phê—phần lớn là sữa nóng rồi mới đổ cà phê lên trên—với hai miếng bánh mì sữa. Anh bỏ tới cả một phần tư pound đường vô ly cà phê. Khi thằng bồi bàn để ly nước đá lên bàn, Dobbs ngước lên nhìn cái bảng giá vẽ trên tường rồi hét toáng lên: “Mấy thằng cướp tụi bây không có tăng giá cái thứ cà phê thúi hoắc này thêm năm xu nữa hả?”

“Ờ,” thằng bồi bàn vừa nhai tăm vừa nói, “chi phí làm ăn càng ngày càng tăng. Tụi tui không thể nào bán giá mười lăm fierros nữa.”

Dobbs thì đâu có thiệt sự phản đối cái giá đó. Anh chỉ muốn càm ràm thôi, tại vì khách hàng nào mà trả tiền được thì cũng cảm thấy mình có quyền làm vậy.

“Đi xuống địa ngục đi! Tao không mua vé số!” Anh gầm lên với một thằng bé nãy giờ cứ giơ mấy tờ vé số ngay dưới mũi anh suốt năm phút.

Thằng bé bán hàng nhỏ xíu đó, chân đất, mặc áo sơ mi rách bươm và quần vải rách te tua, không có buồn lòng; nó quen bị la mắng rồi. “Xổ số bang Michoacan đó, ông ơi,” nó nói; “giải đặc biệt sáu chục ngàn peso lận.”

“Cút đi, thằng cướp, tao không có mua vé!” Dobbs nhúng bánh mì vô cà phê.

“Nguyên tờ có mười peso thôi, ông, trúng chắc luôn.”

“Thằng con của thằng săn trộm, tao đâu có mười peso.”

“Dạ, không sao, thưa ông,” thằng bé nói. “Vậy sao ông không mua một phần tư tờ đi? Có hai peso rưỡi à.”

Dobbs, nuốt cà phê ừng ực, bị phỏng môi. Điều đó làm anh điên tiết, và anh gầm lên: “Mày đi chết đi rồi ở yên đó luôn! Mày không để tao uống cà phê cho yên, tao hất nguyên ly nước này vô mặt mày bây giờ!”

Thằng bé không nhúc nhích. Nó là một thằng bán hàng giỏi. Nó hiểu khách hàng của nó. Một người đàn ông có thể ngồi ở quầy cà phê Tây Ban Nha vào giờ này buổi chiều mà uống một ly cà phê to chà bá và ăn hai miếng bánh mì sữa thì chắc chắn có tiền. Một người có tiền thì lúc nào cũng muốn có thêm nữa, mà lại thích kiếm tiền dễ dàng. Anh này đúng là khách hàng tiềm năng để mua vé số.

“Sao ông không mua một phần mười tờ đi, ông? Con bán cho ông một peso bạc thôi.”

Dobbs cầm ly nước lên và hất nước vô mặt thằng bé. “Tao đã nói rồi mà, thằng quỷ nhỏ, tao sẽ làm vậy nếu mày không để tao yên!”

Thằng bé cười hề hề, lau nước trên mặt, rồi giũ nước trên cái quần rách. Xổ số làm người ta giàu—luôn luôn có một người trong hai chục ngàn người—nhưng thằng bé biết từ kinh nghiệm là kiếm sống bằng cách bán vé số thì an toàn hơn là mua rồi chờ trúng. Nó coi cái vụ tắm miễn phí đó như là dấu hiệu đầu tiên để bắt đầu mối làm ăn với Dobbs.

Dobbs trả tiền cà phê và nhận lại hai chục centavos tiền thối. Vừa thấy hai chục centavos này, thằng bé nói: “Ông ơi, ông nên mua một phần hai chục của cái vé số Monterrey đi. Một phần hai chục có hai chục centavos thôi. Giải đặc biệt năm ngàn peso tiền mặt. Đây, ông lấy đi. Trúng chắc luôn—một con số tuyệt vời. Cộng mấy số lại là ra mười ba. Còn số nào tốt hơn để mua nữa không? Thế nào cũng trúng.”

Dobbs cầm đồng hai chục centavos trên tay cân nhắc. Làm gì với nó đây? Thêm cà phê? Không, không muốn nữa. Thuốc lá? Không muốn hút; anh thích cái vị cà phê trên lưỡi lúc này hơn, mà khói thuốc giết chết mọi vị ngon. Mua vé số, anh nghĩ, là ném tiền qua cửa sổ. Mà thôi, tiền đến rồi tiền đi. Chờ đợi kết quả xổ số cũng vui. Hi vọng vào một cái gì đó thì lúc nào cũng tốt cho tâm hồn. Chỉ còn ba ngày nữa là xổ rồi.

“Thôi được rồi, thằng quỷ nâu,” anh nói. “Đưa tao cái phần hai chục đó đi, cho tao khỏi phải nhìn cái mặt dơ dáy với mấy cái vé chết tiệt của mày nữa.”

Thằng bé bán hàng xé một phần hai chục tờ vé số rồi đưa cho Dobbs. “Đúng là một con số tuyệt vời, ông ơi. Trúng chắc luôn.”

“Nếu mà trúng chắc vậy, sao mày không tự mua mà chơi đi, cha nội?” Dobbs vừa hỏi với vẻ nghi ngờ vừa đùa.

“Con hả? Không, ông ơi,” thằng bé nói. “Con không có khả năng chơi xổ số. Con đâu có tiền.” Nó cầm đồng bạc lên, cắn thử coi có xịn không, rồi nói: “Muchas gracias! Ngàn lần cảm ơn ông. Lần sau ghé lại nha. Con lúc nào cũng có số trúng, toàn là số may mắn không. Buena suerte, chúc may mắn!” Và nó nhảy đi như con thỏ con, chạy theo một ông khách khác mà nó vừa thấy.

Dobbs bỏ tờ vé số vô cái túi đồng hồ mà không thèm nhìn số. Rồi anh quyết định đi tắm sông một bữa.

Đường ra sông thoáng đãng thì xa lắm. Dường như khúc sông này là chỗ tụ họp của tất cả mấy thằng vô công rồi nghề ở bến cảng. Khi Dobbs tới, nước sông đầy nghẹt người Mễ, người da đỏ, và mấy thằng Tây đã xuống cùng đẳng cấp xã hội với Dobbs. Chẳng ai trong số họ mặc đồ bơi. Xa hơn một chút trên thượng nguồn thì mấy cô gái đang tắm, cũng không mặc đồ bơi gì hết, đi kèm với mấy thằng con trai cho thêm phần vui vẻ.

Trên mấy cái đồi cao tạo thành bờ sông về phía Đông là khu dân cư của bến cảng. Ở đây, trong mấy căn nhà gỗ đẹp đẽ kiểu Mỹ hiện đại, là nơi mấy anh Mỹ, Anh, và Hà Lan làm cho mấy công ty dầu mỏ sống cùng gia đình. Thành phố nằm thấp, chỉ cao hơn mực nước biển vài foot, và nóng ngột ngạt muốn chết, tại vì hiếm khi có gió biển thổi vô. Mấy cái khu ở của mấy anh Tây giàu có trên mấy ngọn đồi dọc bờ sông phía Đông này được hưởng gió biển mát mẻ suốt buổi chiều và ban đêm. Đối với mấy buổi tiệc trà và đánh bài buổi chiều, mấy căn nhà gỗ gần rìa đồi nhất, từ đó có thể nhìn thấy sông, là đắt giá nhất. Mấy bà tới tiệc trà ở khu này mang theo ống nhòm, tại vì dĩ nhiên họ không thể xuống sông tham gia mấy nhóm tắm sông, dù họ có khoái làm vậy đi nữa. Qua ống nhòm, họ xem mấy người đàn ông với mấy cô gái tắm mà không mặc đồ bơi. Hấp dẫn tới mức họ không hề nghĩ tới chuyện chơi bài. Có lẽ chính vì lý do này mà cái khu này được gọi là Colonia Buena Vista, có nghĩa là “Cảnh Đẹp.”

Ở vùng nhiệt đới, tắm táp lúc nào cũng sướng. Mà Dobbs còn có thể tiết kiệm được hai chục lăm centavos cho một lần tắm vòi sen ngắn ở khách sạn Oso Negro—một lần tắm chỉ kéo dài ba chục giây. Muốn tắm thêm ba chục giây nữa thì phải trả thêm hai chục lăm centavos nữa, tại vì nước mắc tiền.

Ở khúc sông này thì tắm táp không phải lúc nào cũng sướng. Đáy sông lầy lội và đầy rẫy cua móng ngựa. Bất cứ cái chân nào xâm phạm chỗ ở của tụi nó đều bị mấy con cua khổng lồ đó xử đẹp, và nhiều người tắm sợ rằng mình sẽ phải về nhà mà bị mất một ngón chân.

Tại khúc này, sông trải ra như đồng bằng châu thổ và là nơi mấy người bắt cua ngồi. Chỉ có mấy anh Da Đỏ và mấy người Mễ nghèo mới đi bắt cua, tại vì cái nghề này cần một sự kiên nhẫn thần thánh. Mồi câu là thịt; thịt càng thối thì mồi càng ngon. Một miếng thịt như vậy được buộc vô lưỡi câu giữ bằng một sợi dây dài rồi quăng xuống nước. Ngư dân để mồi chìm xuống bùn rồi nằm yên đó vài phút. Sau đó anh bắt đầu kéo dây lên chậm chạp như chỉ có một anh Da Đỏ mới có thể làm được. Phải mất nhiều phút trước khi anh kéo nó lên bờ thấp. Con cua, hay jaiba như tụi nó kêu, túm lấy mồi bằng cặp càng của nó và, vì ham ăn miếng mồi ngon, nó cứ giữ chặt nên khi dây được kéo lên, con cua bị lôi ra khỏi sông và bị tóm. Không có cách nào biết được con cua đã túm lấy mồi hay chưa. Thường thì phải kéo dây lên tới hai chục lần mới bắt được một con cua. Đôi khi con cua lừa được ngư dân và ăn miếng mồi mà không bị móc câu. Mấy ngư dân kiên nhẫn làm việc từ mặt trời mọc đến mặt trời lặn kiếm sống cũng khá ổn, tại vì mấy nhà hàng trả giá cũng ngon cho cái loại cua này, mà thịt của nó được coi là đặc sản.

Dobbs, cứ ngó nghiêng kiếm cơ hội làm tiền, và dòm mấy người này câu cá, nhưng anh biết cái nghề này không phải dành cho mình. Lớn lên ở một thành phố công nghiệp nhộn nhịp của Mỹ, anh chẳng có chút kiên nhẫn nào cần thiết cho việc bắt cua. Anh sẽ không bắt được một con cua nào trong ba tuần.

Dobbs đi bộ gần ba dặm về lại thành phố. Tắm và đi bộ làm anh đói bụng, nên anh lại đi săn lần nữa. Lâu thiệt lâu mà chẳng có con mồi nào chịu rớt xuống trước phát súng của anh, và anh phải nuốt một đống bài giảng và lời khuyên hay ho cho người thất nghiệp, với mấy lời xỏ xiên khó chịu về mấy thằng vô lại ngoại quốc làm phiền dân tử tế. Bị đói bụng, người ta đâu có thèm để ý mấy lời giảng đạo đó, và cái cảm giác cầu xin làm mất đi phẩm giá của một người Mỹ cũng bay biến khi mà mình cần phải ăn.

Cuối cùng anh thấy một người đàn ông mặc đồ trắng thong thả đi ngang quảng trường về phía rạp chiếu phim Alcazar. Dobbs nghĩ: “Hôm nay mình hên với mấy ông mặc đồ trắng; thử ông này coi.”

Anh thắng. Lại năm chục centavos nữa.

Sau khi ăn tối xong, và đã nghỉ ngơi một giấc dài trên ghế đá ngoài quảng trường, Dobbs nghĩ rằng có chút tiền lẻ trong túi là một ý hay, tại vì mình đâu có biết chuyện gì sẽ xảy ra. Cái ý tưởng hay ho này nảy ra khi anh thấy một người đàn ông đang khoan thai đi bộ bên kia đường—một người đàn ông mặc đồ trắng.

Không chút chần chừ, anh tiến tới người đàn ông đó và lặp lại lời cầu xin của mình. Nạn nhân thọc tay vô túi rồi lấy ra nửa peso. Dobbs đưa tay ra lấy đồng tiền, nhưng người đàn ông giữ đồng tiền giữa mấy ngón tay, rồi khô khan nói: “Nghe nè anh bạn, tui chưa từng gặp cái vụ trơ trẽn nào như vầy từ hồi tui nhớ, và không ai trên đời này có thể làm tui tin cái câu chuyện đó đâu.”

Dobbs đứng ngây người ra, hoàn toàn bối rối. Chưa bao giờ anh gặp ai nói chuyện với mình kiểu đó. Thường thì câu trả lời chỉ là vài lời giận dữ thôi. Anh không biết nên làm gì. Nên chờ hay nên bỏ chạy đây? Anh thấy đồng toston đó, điều đó làm anh chắc chắn là đồng tiền này sớm hay muộn gì cũng vô tay mình. Anh để cho người đàn ông đó thỏa thích giảng đạo, coi như là chút bù lại cho tiền của anh. “Ừ, nếu mình kiếm được năm chục centavos để nghe một bài giảng, thì có thể là tiền kiếm được cực khổ, nhưng mà là tiền mặt,” anh nghĩ. Thế là anh chờ.

“Chiều nay anh nói với tui,” người đàn ông nói tiếp, “là anh chưa ăn tối, nên tui cho anh một peso. Khi tui gặp anh lần nữa, anh nói anh không có tiền trả giường, nên tui cho anh nửa peso. Vài tiếng sau tui gặp anh lần nữa và anh nói anh chưa ăn bữa khuya và anh thấy đói. Tui lại cho anh năm chục centavos nữa. Bây giờ tui có thể lịch sự hỏi anh là: Anh cần tiền để làm gì bây giờ?”

Không kịp suy nghĩ, Dobbs buột miệng: “Để ăn sáng ngày mai đó, ông.”

Người đàn ông cười phá lên, đưa cho anh năm chục centavos, rồi nói: “Đây là lần cuối cùng anh nhận được tiền từ tui nha. Nếu anh muốn làm tui vui, thỉnh thoảng đi xin người khác đi. Nói thật với anh, tui bắt đầu thấy nhàm chán rồi đó.”

“Xin lỗi ông,” Dobbs trả lời, “tôi thiệt sự không có nhận ra là suốt nãy giờ đều là ông hết. Tôi không có nhìn mặt ông, chỉ nhìn tay ông với mấy đồng tiền ông cho tôi thôi. Giờ tôi mới để ý mặt ông lần đầu. Nhưng tôi hứa, ông ơi, tôi sẽ không tới xin ông nữa. Xin lỗi ông.”

“Không sao hết. Đừng có khóc lóc. Mà để chắc chắn là anh không quên lời hứa, cầm thêm năm chục nữa đi để anh có tiền ăn tối ngày mai. Nhưng anh phải hiểu là từ giờ trở đi anh phải cố gắng hết sức để tự kiếm sống mà không cần tui giúp đỡ nữa. Vậy thôi,” rồi người đàn ông đó đi thẳng.

“Có vẻ như,” Dobbs nói khi còn lại một mình, “cái giếng này hết nước rồi, mà hết hẳn luôn. Cái sự may mắn với mấy ông mặc đồ trắng tiêu rồi. Phải ngó qua hướng khác thôi.”

Thế là anh đi tới kết luận rằng có lẽ tốt hơn là rời bến cảng và đi vô trong nội địa để coi tình hình ở đó ra sao.

Tối hôm đó ở khách sạn, anh gặp một người Mỹ khác muốn đi xuống Tuxpam, nhưng không kiếm được ai đi cùng.

Nghe cái từ thần kỳ Tuxpam, Dobbs nắm ngay lấy ý tưởng đi cùng Moulton để ghé thăm mấy mỏ dầu, nơi có lẽ có gì đó để làm.

Đi xuống Tuxpam mà không có tiền bạc thì không dễ. Nửa quãng đường là đường bộ thỉnh thoảng có thể gặp xe hơi; nửa còn lại là một cái hồ lớn, mà xuồng máy thì không có quen chở khách đi nhờ. Bạn phải trả tiền hoặc là ở lại.

Dĩ nhiên bạn có thể đi vòng cái đầm đó. Nhưng hầu như không có đường đi, mà tuyến đường này có thể mất hai tuần. Tuy nhiên, bạn có thể ghé thăm nhiều mỏ dầu hơn, và chính cái tuyến đường dài bằng đường bộ này đã được hai người chọn.

Đầu tiên phải qua sông, tốn hai chục lăm centavos. Tụi nó muốn để dành tiền đó cho việc khác có ích hơn, nên tụi nó chờ phà Huasteca, phà này chở người qua sông mà không tốn tiền. Phà này chỉ qua sông khi nó có đủ hàng hóa để đáng công một chuyến đi. Nó chỉ dành cho công nhân công ty và gia đình họ thôi.

Dobbs và Moulton khởi hành vào buổi sáng ngay sau khi uống một ly cà phê với một ít bánh mì khô. Tới bến phà, tụi nó hỏi ông lái phà khi nào phà có thể qua sông. Anh ta nói có lẽ không sẵn sàng cho tới mười một giờ, nên không có gì để làm ngoài việc chờ đợi.

Cái khúc bờ sông này nhộn nhịp ghê. Vài chục chiếc xuồng máy và nửa trăm chiếc ghe chèo tay chờ khách để chở qua sông. Mấy chiếc canô chở mấy anh lớn dầu mỏ và mấy anh doanh nhân khác chịu trả tiền riêng. Công nhân, mấy người buôn bán nhỏ và mấy người bán dạo thì phải chờ cho tới khi cái ghe taxi có đủ khách để đi với giá taxi bình thường. Chỗ này trông như một cái hội chợ, tại vì người ta phải chờ nên mua trái cây, bữa trưa, áo sơ mi, thuốc lá, súng, đạn dược, đồ sắt, đồ da.

Mấy chiếc ghe với phà chạy ngày đêm. Bên kia sông là tay chân, bên này sông là cái đầu. Bên này có ngân hàng, trụ sở chính của mấy công ty dầu mỏ, mấy tiệm bách hóa giàu có, và mấy chỗ cờ bạc, phòng trà. Bên kia sông là công việc nặng nhọc; bên này sông, trong thành phố, là chỗ giải trí sau giờ làm. Bên kia sông, dầu mỏ gần như không có giá trị gì. Tất cả giá trị mà dầu mỏ có được trên thị trường đều được tạo ra ở bên này sông. Dầu mỏ, cũng như vàng, chẳng có giá trị gì khi ở trạng thái tự nhiên. Nó có giá trị chỉ khi được xử lý và được đưa tới nơi cần thiết.

Hàng triệu triệu đô la đã được chở qua sông; không phải bằng tiền xu hay giấy bạc, cũng không phải bằng chi phiếu. Mấy triệu đô la này thường được chở bằng mấy dòng và con số nguệch ngoạc trong một cuốn sổ tay. Một mảnh đất trị giá hai ngàn đô la hôm qua thì hôm nay trị giá năm trăm ngàn đô la. Sự khác biệt này là do một nhà địa chất chịu trách nhiệm, người mà khẳng định rằng mảnh đất này chắc chắn sẽ cho ra cả chục giếng dầu phun. Tuần sau, mảnh đất đó có thể được rao bán với giá năm trăm đô la, mà chủ nhân thực sự của nó có thể không có tiền để mua một bữa trưa năm chục xu trong tiệm Tàu, tại vì sáu nhà địa chất khác đã đặt cược danh tiếng của mình để tìm ra rằng mảnh đất đó khô cằn như một cái khung hình cũ. Hai tháng sau, có thể không mua được cái lô đất đó với hai chục lăm ngàn đô la tiền mặt.

*

Đã mười hai giờ trưa khi Dobbs và Moulton tới bờ sông bên kia, nơi đông nghẹt mấy chiếc tàu chở dầu đi từ hoặc đi tới mọi nơi trên thế giới. Ở đây bờ sông đầy mấy bồn chứa dầu khổng lồ thuộc về hàng chục công ty dầu mỏ khác nhau.

Cái khu hội chợ ở bờ này còn nhộn nhịp hơn bên kia, mà lại đa dạng hơn, tại vì mấy người buôn bán nhỏ làm ăn ở đây không chỉ phục vụ dân bản xứ, mà còn mấy anh sĩ quan với thủy thủ của mấy chiếc tàu neo đậu. Không chỉ vẹt với khỉ được bày bán, mà còn da sư tử và hổ, sư tử và hổ con, rắn đủ loại, cá sấu con, và thằn lằn khổng lồ. Thủy thủ có thể đem mấy con thú này về nhà rồi kể với mấy cô gái là tụi nó đã chiến đấu và giết hổ để bắt hổ con làm quà cho cô gái ở quê nhà.

Không khí như cắn vô phổi tại vì nó đầy khí độc thoát ra từ mấy nhà máy lọc dầu. Cái vị chua cay trong không khí đó làm việc thở trở nên khó khăn và khó chịu, làm nghẹt cổ họng liên tục có nghĩa là người ta đang kiếm tiền—rất nhiều tiền. Lao động phổ thông kiếm được mười lăm peso một ngày, mà mấy anh Mỹ và Mễ xài năm ngàn đô la một đêm mà chẳng thèm nghĩ tiền đi đâu. Ngày mai sẽ có thêm cả đống tiền nữa. Chắc chắn chuyện này sẽ kéo dài thêm vài trăm năm nữa. Vậy thì lo gì? Cứ xài hết đi trong lúc xài còn dễ dàng và vui vẻ.

Dưới sông một chút là mấy quán rượu, mấy phòng trà, và mấy dãy chòi dài nơi mấy cô gái, ăn mặc sặc sỡ và trang điểm lộng lẫy hơn, đang chờ mấy người bạn thủy thủ của họ, sĩ quan và thủy thủ đoàn. Khắp nơi nhìn đâu cũng thấy tình yêu, ca hát, và rượu như biển. Má đâu có thể lúc nào cũng đi theo thằng con trai thủy thủ để coi chừng nó. Mấy chuyến đi riêng thì tốt hơn là đi một mình.

Thấy nhiều thủy thủ vui vẻ lảng vảng xung quanh tại vì tàu của họ đã treo cờ đỏ báo hiệu là đang nạp dầu, Moulton nảy ra một ý. Anh nói: “Giờ này là mười hai giờ trưa rồi. Sao rồi? Tụi mình nhảy lên cái tàu chở dầu này đi. Biết đâu có cơm trưa đó. Tao ăn được đó, mày.”

Có hai người đàn ông không mặc áo hay đội nón đang đứng trước một người bán trái cây và cố gắng làm cho anh ta hiểu là tụi nó muốn chuối và hỏi giá.

Moulton tới ngay chỗ tụi nó: “Ê, mấy thằng khờ, làm gì đó? Tụi mày đi tàu nào vậy?”

“Norman Bridge,” câu trả lời vang lên, “có chuyện gì không?”

“Tốt. Kiếm gì ăn không?” Moulton hỏi. “Tụi tao phải đi một quãng đường dài chết tiệt, mà lại còn cái nóng nhiệt đới này nữa. Nên tụi mày tốt nhất là dọn cho tụi tao một bữa ăn thịnh soạn đi, chứ không, mẹ kiếp, tao sẽ kể cho bà nội tụi mày ở quê nghe là tụi mày định để hai thằng Mỹ chết đói ở đây, mà lại còn ở xứ lạ nữa chứ.”

“Ôi, trời ơi,” một thủy thủ nói, “đừng có nói nhảm nữa. Nghe mày nói tao mắc ói quá. Lên đi, hai thằng lang thang này, tụi tao sẽ nhét đầy bụng tụi mày cho tới khi tụi mày ói ra. Tụi tao đằng nào cũng vứt đi mà. Thằng quái nào mà ăn nổi trong cái nóng muốn bốc hơi này chứ? Trời đất ơi, tao ước gì tao được về lại cái xứ Los An chết tiệt đó.”

Khi tụi nó rời tàu chở dầu, tụi nó không đi bộ được xa. Tụi nó nằm dài dưới cái cây đầu tiên tụi nó thấy.

“Đó mới gọi là một bữa ăn thịnh soạn, trời má ơi,” Dobbs nói. “Tao sẽ không đi bộ một dặm ngay cả để lấy cái răng voi đâu. Tao ngủ thẳng cẳng hai tiếng tới đây. Tụi mình nên nghỉ ngơi thôi.”

“Tao ok luôn, cưng.”

Tụi nó ngáy to đến nỗi mấy người đi ngang qua mà không thấy tụi nó dưới gốc cây thì hoảng hồn rồi lật đật bỏ đi, tưởng rằng một con sư tử ăn no quá nên đang ngủ trưa.

Moulton thức dậy trước. Anh đẩy vai Dobbs rồi hét: “Ê, thằng kia, dậy đi! Rồi vụ đi Tuxpam thì sao? Lẹ lên trước khi trời tối.”

Với một đống lời than vãn rên rỉ về nỗi khổ của kiếp người, tụi nó bắt đầu đi.

Tụi nó đi lên phía thượng nguồn dọc theo bờ phải. Nguyên con đường, một con đường đất xấu xí, bị bao phủ bởi dầu thô, hình như nó rỉ ra qua mấy vết nứt và lỗ trên mặt đất. Thậm chí có cả vũng dầu và ao dầu. Nó chủ yếu rỉ ra qua mấy chỗ rò rỉ trong đường ống và từ mấy bồn chứa bị tràn, mấy bồn này được xếp dọc trên mấy ngọn đồi dọc bờ sông. Mấy con suối dầu thô chảy xuống sông như nước. Chẳng ai thèm quan tâm tới sự mất mát của mấy ngàn thùng dầu này, thứ đang ngấm vô đất và làm ô nhiễm sông. Cái vùng này hồi đó giàu dầu tới nỗi mấy anh quản lý và giám đốc công ty dường như không bận tâm khi một cái giếng dầu phun ra hai chục ngàn thùng mỗi ngày bị cháy và cháy sạch đến giọt cuối cùng. Ai mà thèm quan tâm tới ba bốn trăm ngàn thùng dầu bị thất thoát mỗi tuần do đường ống bị bể, do đổ đầy bồn chứa cẩu thả, hay do không báo cho người bơm dầu biết là trong khi anh bơm dầu suốt mấy ngày, mấy khúc đường ống đã bị tháo ra để thay bằng ống mới. Dầu càng mất nhiều, giá càng cao. Vậy thì, vỗ tay cho mấy cái ống bể, mấy thằng bơm dầu và thằng coi bồn chứa say xỉn đi!

Ngay cả bầu trời cũng dường như bị phủ dầu. Mây đen dày đặc che khuất mặt trời nhiệt đới sáng chói. Mây độc từ mấy nhà máy lọc dầu bao trùm toàn bộ cảnh quan trong một màn sương làm phổi bạn đau nhói như bị kim đâm.

Sau khi đi bộ được một dặm, cảnh vật bên trái trở nên thân thiện hơn. Dựng trên mấy sườn dốc của bờ sông cao là mấy căn nhà gỗ nơi mấy anh kỹ sư và mấy quan chức khác của mấy công ty dầu mỏ sống cùng gia đình. Tụi nó đã cố gắng làm cho chỗ ở của mình gần giống mấy căn nhà tụi nó từng ở bên Texas. Vậy mà mọi thứ đều vô ích. Sự gần gũi với dầu mỏ đã ngăn cản người ta sống theo ý muốn. Kết quả y chang như khi một người phụ nữ da đen dùng phấn son cố gắng trông giống như một quý cô Thụy Điển vậy.

Chẳng bao lâu sau, hai người tới Villa Cuauhtemoc. Cái thị trấn nhỏ này, nằm trên bờ một cái đầm lớn, và nối với sông và bến cảng bằng một con kênh đẹp như tranh, nơi tàu thuyền đi lại tấp nập, thực chất là cái thị trấn chính của người Da Đỏ cổ xưa ở khu vực này. Mấy anh Tây Ban Nha, sau khi chinh phục khu vực này, thì thích xây thành phố của mình ở bên kia sông hơn, tiện hơn cho việc vận chuyển. Thành phố mới, bến cảng, ngày càng trở nên quan trọng và bỏ xa cái thị trấn cũ tới mức người dân ở bến cảng quên hẳn sự tồn tại của nó; khi họ nghe nói tới, họ nghĩ nó nằm sâu trong rừng rậm và đầy rẫy người Da Đỏ nguyên thủy.

Tới mấy cái chòi cuối cùng của thị trấn đối diện cái đầm, Dobbs và Moulton thấy một người Da Đỏ đang ngồi xổm bên đường trên đỉnh đồi. Anh Da Đỏ mặc quần vải khá tốt, mà còn mặc một chiếc áo sơ mi xanh sạch sẽ, một cái nón lá chóp cao, và mang huaraches—tức là dép da—ở chân. Dưới đất trước mặt anh là một cái túi bằng lá thô đựng vài thứ mà có lẽ là tất cả những gì anh sở hữu trên đời này.

Hai người, đang vội, đi ngang qua anh Da Đỏ mà không thèm để ý gì đặc biệt tới anh.

Một lát sau Dobbs quay đầu lại và nói: “Thằng quỷ Da Đỏ đó muốn gì ở tụi mình vậy? Nó theo dõi tụi mình nửa tiếng rồi đó.”

“Giờ nó đang dừng lại,” Moulton nói. “Có vẻ như đang tìm kiếm gì đó trong bụi rậm. Không biết nó đang kiếm cái gì.”

Tụi nó đi tiếp. Rồi, quay đầu lại, tụi nó lại thấy anh Da Đỏ vẫn theo sát gót, lúc nào cũng giữ khoảng cách chừng năm chục foot. Bất cứ khi nào tụi nó dừng lại để lấy hơi, anh Da Đỏ cũng dừng lại. Tụi nó bắt đầu căng thẳng.

Dường như chẳng có lý do gì để sợ một anh Da Đỏ nghèo khổ, nhưng tụi nó bắt đầu tin chắc rằng cái anh bản xứ đơn độc này chỉ là thám tử cho cả một đám cướp đang háo hức cướp lấy chút đỉnh tài sản của hai người lạ mặt.

“Ước gì tao có khẩu súng,” Dobbs nói, “tao sẽ bắn hạ nó. Tao phát điên rồi. Tao không chịu nổi nữa khi có cái thằng quỷ nâu này cứ theo sát gót chờ cơ hội. Không biết mình có thể tóm nó rồi cột nó vô cây rồi bỏ nó ở đó không.”

“Tao không đồng ý lắm.” Moulton nhìn lại người đàn ông, cố gắng đoán ý định của anh. “Có lẽ anh ta vô hại thôi. Nhưng tao công nhận là nếu tụi mình có thể tống khứ anh ta bằng cách nào đó thì sẽ an toàn hơn.”

“Tụi mình đi tiếp rồi dừng lại đột ngột đi,” Dobbs đề nghị. “Mình để nó tới gần rồi hỏi thẳng nó muốn gì.”

Tụi nó dừng lại dưới một cái cây rồi ngước lên nhìn như thể tụi nó thấy một cái gì đó rất hay ho trên mấy cành cây—một con chim lạ hay trái cây gì đó.

Tuy nhiên, anh Da Đỏ, ngay khi thấy hai người Mỹ dừng lại, anh cũng dừng lại, nhìn tụi nó từ một khoảng cách an toàn.

Dobbs chơi một chiêu để dụ anh Da Đỏ tới gần. Anh giả vờ háo hức về cái thứ anh giả vờ nhìn thấy trên cành cây. Anh và Moulton chỉ trỏ vô mấy tán lá dày đặc rồi khua tay múa chân như mấy thằng điên. Anh Da Đỏ, như tụi nó đoán, mắc bẫy. Cái tính tò mò bẩm sinh của anh ta thắng thế. Từng bước từng bước anh tới gần hơn, mắt anh dán vô mấy cành cây phía trên. Khi anh cuối cùng đứng cạnh hai người, Dobbs làm một cử chỉ phóng đại rồi, chỉ vô bụi cây rậm rạp, hét lên: “Kìa, kìa nó đó, đang chạy đi rồi!” Anh kéo Moulton sát lại như muốn chỉ cho nó thấy rõ cái chỗ mà một con vật lạ nào đó đã biến mất. Cùng lúc đó anh quay người lại rồi ôm chặt tay anh Da Đỏ tới mức anh không thể chạy thoát.

“Nghe nè mày,” anh nói, “mày muốn gì ở tụi tao? Sao mày cứ theo dõi tụi tao hoài vậy?”

“Tôi muốn đi tới đó,” anh Da Đỏ trả lời, chỉ theo hướng mà Dobbs và Moulton đang đi.

“Đi đâu?” Moulton hỏi.

“Cùng chỗ mà mấy ông đang đi đó, mấy ông ơi.”

“Làm sao mày biết tụi tao đi đâu?”

“Tôi biết mấy ông đang đi đâu,” người bản xứ nói nhỏ nhẹ. “Mấy ông đang đi ra mấy mỏ dầu để kiếm việc. Đó cũng là chỗ tôi đang đi. Có lẽ tôi cũng kiếm được việc ở đó. Tôi đã từng làm việc trong mấy trại dầu mỏ rồi.”

Dobbs và Moulton mỉm cười với nhau, mỗi người thầm buộc tội người kia là thằng đần và thằng hèn hơn. Chắc chắn những gì người bản xứ nói là đúng. Anh ta trông giống một công nhân trại và có lẽ đang đi kiếm việc làm đàng hoàng y chang như tụi nó. Nhìn kỹ, chẳng có chút dấu hiệu nào trên mặt anh ta hay xung quanh anh ta gợi nhớ tới cướp cả.

Để chắc chắn tuyệt đối, Dobbs hỏi: “Sao mày không đi một mình? Sao mày cứ theo tụi tao hoài vậy?”

“Nói thật với mấy ông, mấy ông ơi,” anh Da Đỏ giải thích, “tôi đã ngồi bên đường này ba ngày rồi, từ mặt trời mọc đến mặt trời lặn, chờ đợi mấy ông da trắng đi ngang qua để tôi đi cùng tới mấy trại.”

“Mày không tự tìm đường đi một mình được hả?” Moulton hỏi.

“Dạ, tôi có thể. Có lẽ. Nhưng cái tật của tôi là soy un gran cobarde, tôi là một thằng hèn nhát kinh khủng. Tôi sợ đi một mình qua rừng rậm. Có mấy con hổ to chà bá, với mấy con rắn còn to hơn nữa.”

“Tụi tao không sợ bất cứ thứ gì trên đời này đâu, không sợ đâu,” Dobbs nói với vẻ tin tưởng ghê gớm.

“Tôi biết mấy ông không sợ. Đó là lý do tại sao tôi chờ đợi mấy ông da trắng đi cùng đường.”

“Nhưng mấy ông da trắng cũng có thể bị hổ ăn thịt mà,” Moulton nói.

“Không, ông ơi, ông lầm rồi. Hổ và sư tử ở xứ mình không tấn công người Mỹ; tụi nó chỉ tấn công tụi tôi thôi, tại vì tụi tôi cùng một xứ, coi như là đồng hương, và đó là lý do tại sao hổ và sư tử của tụi tôi thích tụi tôi hơn và không bao giờ làm phiền người Mỹ.”

“Hơn nữa, dọc theo con đường ra mấy trại thỉnh thoảng cũng có cả đống cướp ngồi chờ người đi ngang qua để cướp bóc. Bờ Phá Tamiahua này đầy rẫy mấy thằng sát nhân đó.”

“Nghe có vẻ hứa hẹn ghê,” Moulton nói với Dobbs.

Dobbs trả lời: “Mày bị gì vậy? Chuyện gì mắc cười hả?”

“Tao chỉ đang nghĩ là tụi mình đã sợ hãi cái pobre hombre (người đàn ông đáng thương) này biết bao, cái thằng người bé tí này, mà nó lại sợ tụi mình gấp trăm lần.”

“Thôi, câm đi, mày làm tao phát bệnh.” Dobbs muốn quên chuyện đó đi.

“Ngoài ra,” Moulton tiếp tục, “đôi khi không có súng bên hông lại là chuyện tốt, chứ không thì cái thằng đáng thương này đâu còn sống nữa và tụi mình có thể gặp rắc rối chết tiệt rồi, tại đâu có ai trên đời này tin là tụi mình hành động tự vệ.”

Từ lúc đó, anh Da Đỏ đi cùng với tụi nó, hầu như không nói một lời, đi bên cạnh hoặc phía sau, tùy theo con đường cho phép.

Chẳng bao lâu trước khi mặt trời lặn, tụi nó tới một ngôi làng nhỏ của người Da Đỏ, chỉ có vài cái chòi. Dân làng, vốn hiếu khách tận tâm, lại sợ mấy người lạ mặt, vì có nhiều chuyện kể về cướp trong khu vực. Thế là bằng lời lẽ tử tế và nhiều lời xin lỗi, họ thuyết phục ba người đi tiếp và cố gắng tới làng kế tiếp, nơi họ nói là lớn hơn và có chỗ nghỉ tốt hơn—thậm chí có cả fonda, một quán trọ nhỏ—và vì mặt trời chưa lặn hẳn, tụi nó có thể tới được cái làng lớn đó với những tia sáng cuối cùng trong ngày.

Chẳng còn cách nào khác ngoài việc đi tiếp. Tụi nó đi được một dặm mà chẳng thấy bóng dáng ngôi làng nào. Tụi nó đi thêm một dặm nữa mà vẫn không thấy làng.

Giờ thì trời đã tối om rồi và tụi nó không còn thấy đường nữa. Nếu đi tiếp, tụi nó có thể dễ dàng bị lạc trong rừng rậm.

“Mấy người trong làng đó chắc chắn đã nói dối tụi mình về cái chỗ lớn đó mà tụi mình đáng lẽ phải tới sớm rồi.” Moulton giận dữ. “Lẽ ra tụi mình không nên rời làng, mà phải ở lại đó có hoặc không có sự đồng ý của họ, ngay cả khi phải ngủ ngoài trời nhưng vẫn gần mấy cái chòi.”

Dobbs, tâm trạng cũng chẳng khá hơn thằng bạn, nói: “Mấy anh Da Đỏ thường không hành động như vậy. Họ để mình ở lại qua đêm và thậm chí còn chia cho mình một phần thức ăn ít ỏi mà họ có. Hình như họ quá sợ tụi mình. Tụi mình có ba người, và họ có thể nghĩ tụi mình dễ dàng áp đảo họ nếu họ cho tụi mình tá túc. Họ chắc chắn đã có những kinh nghiệm tồi tệ kiểu này, và tao dễ dàng hình dung ra khá nhiều thằng vô lại ở bến cảng, cả Tây lẫn bản xứ, chẳng ngại cướp bóc hay thậm chí giết vài người dân làng nếu không kiếm được thứ mình muốn bằng cách khác. Mà thôi, tranh cãi chuyện này cũng vô ích. Giờ tụi mình đang ở ngoài đường, xung quanh là rừng rậm, và tụi mình phải xoay sở thôi.”

“Tao thấy,” Moulton nói, “có vẻ như tụi mình không thể quay lại cái làng nhỏ đó được nữa, ngay cả khi tụi mình muốn.”

“Đúng vậy,” Dobbs thừa nhận. “Tụi mình sẽ bị lạc. Tao còn không thấy được cục đá dưới chân nữa. Không còn cách nào khác ngoài việc dừng lại ngay chỗ mình đang đứng.”

“Tao nghĩ cái làng lớn đó không thể xa đâu.” Moulton không thích ý tưởng ngủ đêm trên con đường rừng. “Tao để ý thấy có dấu chân ngựa và bò trên đường. Tụi mình chắc chắn là gần rồi. Có lẽ tụi mình nên thử đi thêm một lần nữa.”

“Tao phản đối.” Dobbs kiên quyết. “Cái làng đó có thể gần, mà cũng có thể còn xa tới ba dặm nữa. Tao không mạo hiểm bị lạc giữa rừng rậm đâu. Ở đây tụi mình vẫn còn trên đường và chắc chắn an toàn hơn là ở trong rừng.”

Tụi nó quẹt diêm lên nhìn quanh trên mặt đất để kiếm chỗ tốt nhất để nghỉ đêm. Trông tệ hại lắm. Con đường không hề sạch sẽ. Nó chỉ là một con đường đất, hiếm khi được sử dụng, phủ đầy xương rồng nhỏ và bụi gai thấp. Cả đoàn kiến lửa khổng lồ đang chạy lung tung, và vô số côn trùng khác đang bò và trườn khắp nơi, hầu như không chừa một tấc đất nào chưa bị chúng lùng sục kiếm thức ăn, chỗ an toàn hay niềm vui ái ân.

“Cái anh Da Đỏ này có nói gì về hổ, rắn, và sư tử đang rình rập trong khu vực này không?” Moulton hỏi với giọng tuyệt vọng khi thấy mặt đất trông chẳng hề dễ chịu.

“Anh ta có nói đại khái vậy,” Dobbs nhớ lại. Anh quay sang người bản xứ, người đang đứng gần đó, dường như chẳng hề quan tâm chút nào tới những gì bạn đồng hành đang làm hay nói. Anh ta đang chờ hai người Mỹ quyết định chỗ và cách ngủ đêm, và bất cứ điều gì họ quyết định, anh ta sẽ chấp nhận và ngủ đêm gần họ nhất có thể. Chỗ nào một người Mỹ có thể ngủ và cảm thấy an toàn, thì một người Da Đỏ có thể ngủ còn tốt hơn và an toàn hơn nữa.

Dobbs nói với anh Da Đỏ: “Mày chắc chắn là có hổ quanh đây hả?”

“Chắc chắn rồi, thưa ông. Hay muchos, muchisimo tigres aqui . Có rất rất nhiều hổ ở trong rừng này. Mỗi khi một người Mỹ đi săn một ngày, anh ta không bao giờ trở về vào buổi tối mà không chất ít nhất bốn con hổ lớn lên xe. Tôi đã thấy rồi, thưa mấy ông, nếu không thì tôi đâu có dám nói.”

“Cảm ơn mày đã cho biết thông tin,” Dobbs nói. “À, bạn à, tao sẽ không ngạc nhiên chút nào nếu sáng mai mày thấy tao nằm giữa mấy cái móng vuốt của một con hổ, bị ăn nửa chừng cho bữa sáng.”

“Tốt nhất là đừng có đùa về chuyện đó,” Moulton trả lời. “Tụi mình thậm chí không có đèn pin để đuổi tụi nó đi. Thôi, tao nghĩ giờ không còn cách nào khác ngoài việc cầu nguyện với Chúa, người là Vua của tất cả mọi người và muôn loài.”

Vì nói chuyện, suy nghĩ và đứng loanh quanh, tụi nó bắt đầu buồn ngủ. Không thể nào đứng suốt đêm được, nên tụi nó nằm dài xuống đất, quên hết kiến, bọ cánh cứng và bò sát.

Vừa mới nằm xuống, anh Da Đỏ đã chen chúc vào giữa hai người như một con chó. Anh ta làm điều này rất chậm, cố gắng làm phiền họ ít nhất có thể, nhưng với tất cả sự kiên quyết mà anh ta có. Hai người Mỹ có thể đẩy anh ta, đá anh ta, cố gắng kéo anh ta ra; nhưng ngay khi họ ngừng lại, anh ta lại an tọa giữa họ lần nữa. Anh ta chỉ cảm thấy an toàn khi ở giữa hai người. Họ đành phải bỏ cuộc và để anh ta ngủ ở nơi anh ta muốn. Anh ta thà bị đá và đánh còn hơn là bị móng vuốt của hổ.

Moulton bị đánh thức bởi một con bò sát nhỏ bò qua mặt. Anh lắc nó xuống rồi ngồi dậy. Trong khi cố gắng nhận ra mình đang ở đâu và lắng nghe tiếng hát vĩnh cửu của côn trùng rừng nhiệt đới, anh bị sốc. Hơi thở anh ngừng lại, và giờ anh có thể nghe rất rõ bước chân đang chậm rãi tiến tới. Đó là những bước chân rất khẽ, nhưng nặng. Chắc chắn đó là bước chân của một con vật khổng lồ. Chỉ những con vật rất lớn mới tạo ra những bước chân nặng như vậy, và vì chúng đồng thời rất khẽ, nên chỉ có thể là của một con mèo lớn. Một con hổ. Một con hổ khổng lồ, một tigre real, một trong những con lớn nhất trong khu rừng này.

Moulton không muốn sợ hãi. Anh muốn không đánh thức những người khác cho tới khi anh chắc chắn. Thế là anh lắng nghe lần nữa. Bước chân đã dừng lại. Con thú lớn rõ ràng đang dò đường và tìm kiếm vị trí tốt nhất để nhảy bổ vào nạn nhân. Sau nửa phút, Moulton lại nghe thấy bước chân, chậm hơn và thận trọng hơn trước, và từng bước từng bước tiến lại gần. Chúng nặng hơn bây giờ và mỗi lần anh nghe thấy chúng đặt mạnh hơn trên mặt đất mềm. Khi anh nghĩ rằng một tiếng gầm gừ bị nén đã lọt vào tai, anh giật Dobbs dậy.

“Gì vậy?” Dobbs hỏi bằng giọng ngái ngủ.

“Một con hổ đang ở ngay sau lưng tụi mình.”

“Cái gì?”

“Tao nói vậy đó,” Moulton thì thầm. “Một con hổ đang rình tụi mình.”

Dobbs lắng nghe vào màn đêm. Rồi anh nói: “Mày nói đúng đó, bạn, đó chắc chắn là một con thú khổng lồ. Tao nghĩ nó phải là một con hổ. Một con người sẽ không lén lút trong bụi rậm kiểu này đâu. Nó chỉ có thể là hổ hoặc sư tử.”

Không rõ anh Da Đỏ đã thức được một lúc rồi hay bị đánh thức bởi cuộc nói chuyện kích động của hai người. Nhưng ngay khi hai người bạn đứng dậy, anh ta cũng đứng dậy, giữ sát họ nhất có thể.

“ Es un tigre, muy cierto, por la Madre SantIsima ; đó là một con hổ khổng lồ, xin Đức Trinh Nữ Maria cứu giúp.” Giọng anh ta run rẩy vì sợ hãi. “Nó sẽ nhảy vào tụi mình ngay bất cứ lúc nào. Nó ở đó, cách chưa tới hai chục foot. Tôi có thể thấy ánh sáng xanh lục của mắt nó.” Anh ta nhìn chằm chằm vào bụi cây rậm rạp và đồng thời ôm chặt toàn thân Dobbs. Dobbs rũ anh ta ra. Sau đó anh ta ẩn sát vào Moulton. Anh Da Đỏ khiếp sợ, người chắc chắn biết mùi hổ khi ngửi thấy, đã tước đi chút dũng khí cuối cùng mà Dobbs và Moulton còn giữ được bấy lâu nay. Cả ba giờ đây ôm chặt lấy nhau.

“Tụi mình không thể đứng yên như vầy suốt đêm được,” Dobbs nói sau vài phút. “Tụi mình phải làm gì đó.”

“Tụi mình nên ít cử động nhất có thể,” Moulton khuyên. “Tao có đọc ở đâu đó là mấy con mèo lớn này chỉ nhảy vào con mồi khi thấy nó di chuyển.”

Họ lại lắng nghe vào bóng tối để tìm hiểu xem con vật còn ở gần hay đã biến mất. Suốt nhiều phút họ không nghe thấy gì ngoài tiếng hát không ngừng của côn trùng rừng rậm. Sau đó họ lại nghe thấy bước chân, rất rõ ràng. Chúng dường như vẫn ở cùng khoảng cách như trước.

Anh Da Đỏ thì thầm: “Điều tốt nhất tụi mình có thể làm là leo lên cây.”

“Hổ leo cây cũng dễ dàng như đi trên mặt đất thôi,” Moulton nói.

Dobbs có ý kiến khác. “Tao nghĩ thằng muchacho (thằng bé) này nói đúng. Đó là điều an toàn nhất tụi mình có thể làm. Ngay cả khi con thú đó cố gắng leo cây, nếu tụi mình ở trên cao đủ, tụi mình có thể tự vệ bằng gậy, có lẽ vậy.”

Thận trọng mò mẫm xung quanh, họ tìm thấy một cây gỗ mun. Dobbs là người leo lên trước. Ngay khi anh Da Đỏ nhận thấy Dobbs đang làm gì, anh ta leo ngay theo sau, bám sát anh và đẩy Moulton (người muốn leo kế tiếp) ra khỏi cây. Anh ta tha thiết không muốn là người cuối cùng và do đó là người gần mặt đất nhất. Anh ta coi vị trí an toàn nhất là chính giữa hai người Mỹ, Dobbs ở trên anh ta, và Moulton ở dưới anh ta. Anh ta sẵn sàng hy sinh bất kỳ ai trong số họ miễn là anh ta được an toàn khỏi móng vuốt của hổ. Dù lo lắng muốn leo lên cây, anh ta vẫn không quên mang theo cái túi lá thô của mình. Ngay cả cái túi này anh ta cũng không muốn bỏ lại cho con thú rừng thương xót.

Moulton không còn lựa chọn nào ngoài việc leo theo sau anh Da Đỏ và ở gần mặt đất đến nỗi con hổ có thể dễ dàng chạm tới chân anh chỉ bằng một cú nhảy. Anh tự an ủi mình về vị trí nguy hiểm này bằng cách gọi lên Dobbs: “Cái thằng quỷ Da Đỏ này đã cướp hết cơ hội của tao rồi. Nhưng dù tình hình có tệ đến đâu, tao vẫn an toàn hơn ở đây so với dưới đất. Dưới đất, tao có thể bị con mèo đó tha đi mất, còn ở đây tao có thể bám trụ được một lúc và tao có thể chỉ mất một cái chân thôi. Nghe nè, Dobbs, mày leo lên cao hơn vài foot được không để tao có cơ hội tốt hơn?”

“Không được đâu,” Dobbs nói. “Tao ngồi ngay trên đỉnh cây rồi.”

Sau khi bám trụ ở đó khoảng mười lăm phút, họ bắt đầu cảm thấy dễ chịu hơn. Giờ họ thở thoải mái hơn và bắt đầu nghĩ về sự an toàn hơn. Đêm còn rất dài. Chắc chắn chưa tới mười giờ tối. Và treo trên cây như mấy con khỉ chưa được huấn luyện, họ sợ ngủ quên. Sau đó họ có thể buông tay và rơi xuống đất, có lẽ ngay vào miệng con hổ đang chờ dưới gốc cây cho một tai nạn đáng mừng như vậy. Để tránh điều này, họ tháo thắt lưng ra và buộc chặt cơ thể mình vào thân cây. Làm xong, họ cảm thấy đủ an toàn để thử xem có thể ngủ trong tư thế này không.

Đó là một đêm dài; họ cảm thấy như nó sẽ không bao giờ kết thúc. Giấc ngủ ít ỏi mà họ có được thường xuyên bị gián đoạn bởi những giấc mơ kinh khủng và bởi đủ loại ảo giác hành hạ tâm trí họ. Cả đàn hổ đói và đội quân Da Đỏ hung dữ dường như đang đuổi theo họ.

Cuối cùng bình minh tới với đôi má hồng. Trong ánh sáng rực rỡ của buổi sớm mai, mọi thứ xung quanh họ trông hoàn toàn tự nhiên—dường như không khác gì một vườn cây ăn trái bị bỏ hoang ở Alabama. Ngay cả mặt đất dưới chân họ cũng không hề trông ghê rợn như ban đêm, khi ánh sáng chập chờn của diêm tạo ra một ấn tượng kinh hoàng như vậy.

Cách đó chưa tới năm chục foot, một đồng cỏ xanh được nhìn thấy xuyên qua mấy cái cây. Nó trải dài dưới ánh mặt trời buổi sáng gần giống như một bãi cỏ ở quê nhà. Tất cả những điều tưởng tượng và ảo ảnh mà họ đã có trong đêm dường như lố bịch dưới ánh sáng ban ngày.

Ba người ngồi xuống và hút thuốc. Anh Da Đỏ mở cái túi lá thô của mình ra và lấy ra nửa tá tortillas khô, rồi anh ta chia cho mấy anh Mỹ một cách hòa đồng để ăn sáng.

Trong khi ngồi đó nhai tortillas, thứ mà trong điều kiện này ăn chẳng ngon lành gì, cả ba đột nhiên dừng lại, nín thở, căng cứng cơ thể, và lắng nghe. Rõ ràng, không chút nghi ngờ, họ lại nghe thấy những bước chân kỳ lạ và tiếng gầm gừ hay lẩm bẩm bị nén mà họ đã nghe thấy trong đêm. Những tiếng động đặc biệt và không thể nhầm lẫn này đã in sâu vào ký ức họ đến nỗi suốt quãng đời còn lại họ sẽ không bao giờ quên chúng; họ sẽ nhận ra những âm thanh này ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào. Đây là cùng những bước chân và âm thanh mà họ đã nghe thấy trong đêm. Thật kỳ lạ khi một con hổ lại ra khỏi hang vào ban ngày để tấn công con người.

Nghe thấy âm thanh lần nữa, họ nhảy bật dậy cùng nhau. Họ nhìn chằm chằm giữa mấy cái cây theo hướng mà những bước chân và âm thanh này đang đến, giống như chúng đã đến trong đêm.

Ánh mắt họ rơi vào đồng cỏ xanh. Và con hổ đang ở đó. Con hổ đang lười biếng bước đi xung quanh và ăn cỏ, thỉnh thoảng lại phát ra một tiếng càu nhàu vì quá hài lòng. Con hổ đó hoàn toàn vô hại; nó thực chất là một con burro, một con lừa bình thường bị buộc vào cây bằng một sợi dây dài, chắc chắn là tài sản của một người nông dân ở ngôi làng kế tiếp, cái làng mà chắc chắn không thể xa. Nơi mà một con lừa đơn giản có thể qua đêm và sống sót, thì chắc chắn không thể có hổ ở gần; nếu không thì người nông dân sẽ không để vật nuôi của họ qua đêm trong bụi rậm.

Dobbs nhìn Moulton, và Moulton nhìn Dobbs. Ngay khi Moulton bắt đầu mở miệng để cười phá lên, Dobbs nói với anh ta một cách gay gắt: “Nghe nè mày, nếu mày không muốn tao đấm mày, thì đừng có cười. Hơn nữa, nếu mày dám nói với bất cứ ai một lời về đêm nay và biến cả hai đứa mình thành trò cười của bến cảng, tao—thề có Chúa, tao sẽ giết mày trong máu lạnh và ném xác mày cho lợn ăn.”

“Tao đồng ý luôn, bạn,” Moulton nói; “nếu mày nghĩ vậy thì tao sẽ giữ im lặng. Nhưng tao nghĩ đây là trò đùa hay nhất tao từng nghe.” Có thể thấy qua sự co rút trên mặt anh ta, anh ta đã làm hết sức mình để ngăn mình nổ tung vì cười.

Dobbs nhìn anh ta và nói: “Anh bạn, mày đã được cảnh báo. Đừng có chơi trò gì với tao. Ngay cả một nụ cười mờ nhạt cũng sẽ khiến mày bị bẻ mũi.”

Chính lúc này, anh Da Đỏ nghĩ rằng nên lên tiếng. Anh ta không chấp nhận thất bại. Thế là anh ta nói: “ Por Madre SantIsima  và bởi tất cả các vị thánh trên trời, mấy ông ơi, đây không phải là con hổ đó. Nhưng đêm qua xung quanh tụi tôi là un tigre real y muy grande , đó là một con hổ vương giả thuộc loại lớn nhất.”

“Thôi, câm đi!” Dobbs ngắt lời anh ta.

“Mấy ông, caballeros, có thể nghĩ gì tùy ý. Nhưng tôi biết mi tierra , quê hương nơi tôi sinh ra, và tôi biết rõ thế nào là hổ và thế nào là không. Tôi có thể ngửi thấy. Hơn nữa tôi đã thấy mắt nó xanh lục phát sáng nhìn chằm chằm vào tụi tôi. Và đó không phải là mắt của một con lừa.” Anh Da Đỏ chắc chắn khôn ngoan hơn hai người Mỹ; anh ta biết cách bám vào một câu chuyện hay và tránh bị cười nhạo.

Cái làng lớn mà mấy người Da Đỏ đã nói đêm qua chỉ cách đó chưa tới mười lăm phút đi bộ.

“Bây giờ, tao đã nói với mày đêm qua là mấy người Da Đỏ này không nói dối mà?” Dobbs hỏi khi họ tới làng.

“Nhưng họ nói chỉ cách một giờ đi bộ ngắn thôi mà.”

“À, đó chính là vấn đề với mấy người này, họ không có khái niệm về thời gian và khoảng cách. Họ nói là cách một giờ, nhưng họ không nói cho mày biết là họ có ý nói một giờ chạy của một người Tarnhumare, hay đi bộ hay bò, hay một giờ cưỡi ngựa tốt. Đó là điều mày phải tự suy ra khi một nông dân Da Đỏ nói với mày thị trấn kế tiếp xa bao nhiêu. Mày không thể trách mấy người Da Đỏ tối qua được. Họ nói với tụi mình sự thật theo cách riêng của họ, và điều đó tạo nên sự khác biệt.”

Trong ngôi làng này, ba người tìm thấy sự hiếu khách tuyệt vời. Họ ăn sáng, gồm tortillas, đậu đen, và trà pha từ lá chanh.

Ngay trong ngày đó, họ tới trại dầu mỏ đầu tiên. Không có việc làm.

Anh quản lý nói với họ rằng họ có thể ở lại đó một hoặc hai ngày và có bữa ăn, nhưng anh ta không thể làm gì hơn cho họ.

“Tôi e rằng, mấy anh,” anh ta nói thêm, “không có trại nào quanh đây có việc làm đâu. Tôi nói cho mấy anh nghe một bí mật, tin hay không tùy mấy anh, nhưng tôi là người làm lâu năm rồi và tôi biết khi nào thấy một con mèo, và tôi nói cho mấy anh biết tôi có cảm giác là dầu mỏ sắp tàn ở khu vực này, có lẽ là trong cả cái xứ Cộng hòa chết tiệt này luôn. Tôi đoán tụi tôi sẽ phải về nhà lại Oklahoma thân yêu và trồng đậu một lần nữa. Mọi thứ đang chững lại ở tất cả các trại và với tất cả các công ty. Thời hoàng kim đã qua rồi, có vẻ vậy. Chiến tranh kết thúc quá sớm là rắc rối đó; tôi nghĩ vậy. Có nhiều dầu hơn cả thế giới cần trong mười ngàn năm tới. Chẳng ai muốn mua dầu nữa, và nếu có ai mua, mẹ kiếp, họ trả thẳng hai xu rưỡi cho một thùng, lấy thì lấy hoặc đi chết đi. Tôi biết dầu mỏ và tôi biết khi nào mỡ đã hết. Thôi được rồi, ngồi xuống và đẩy muỗng vô miệng đi. Đừng lo, mấy thằng làm ở đây sẽ lo cho cái bụng mấy anh hôm nay, và ngày mai nữa, nếu mấy anh muốn ở lại.”

Anh Da Đỏ đi tới chỗ người của mình, tới chỗ mấy anh peon của trại, nơi anh ta nhét đầy bụng mình. Mấy anh peon có bếp riêng, được quản lý bởi một người mà họ dường như tin tưởng hơn là hai người Tàu phụ trách phục vụ ăn uống cho mấy anh Mỹ.

Sáng hôm sau Dobbs và Moulton rời đi để thử một trại khác. Anh Da Đỏ lại đi cùng họ. Họ không thể rũ bỏ anh ta. Lý do của anh ta là: “Tôi cần việc, thưa mấy ông, nhưng tôi không thể đi một mình qua rừng rậm, mấy con hổ sẽ bắt tôi. Nhưng mấy con thú kinh khủng này sẽ không làm gì tôi nếu tôi đi cùng gringos. Hổ rất sợ gringos, nhưng một pobre Mexicano  (người Mễ tội nghiệp) thì bị chúng ăn thịt dễ như không khi đi một mình qua rừng.”

Dobbs và Moulton ném đá vào anh ta để cho thấy anh ta không được chào đón. Thật là khó xử cho hai người Mỹ đi kiếm việc và một bữa ăn miễn phí mà lại dắt theo một anh Da Đỏ. Dù họ có đối xử thô lỗ với anh ta thế nào để buộc anh ta ở lại, anh ta vẫn bình thản. Anh ta đi theo họ như một con chó, không hề bận tâm đến đá bị ném vào mình hay lời hứa sẽ bị đánh một trận nhừ tử. Anh ta thậm chí còn chấp nhận bị đánh nếu anh ta có thể giành được quyền đi theo phía sau họ. Cuối cùng, hai người đành để anh ta làm theo ý mình. Vậy là anh ta thắng cuộc sau tất cả.

Họ tới một trại khác. Chuyện cũng y chang vậy. Không có việc làm, và triển vọng cũng chẳng hứa hẹn gì. Anh quản lý mỏ cũng có cảm giác là dầu mỏ không còn là tiền dễ kiếm nữa, chỉ có điều anh ta đưa ra một lời giải thích khác—rằng luật dầu mỏ mới của nước Cộng hòa là nguyên nhân gây ra sự hấp hối của ngành kinh doanh này. “Cái chính phủ chết tiệt đó đang tịch thu hết dầu mỏ, tuyên bố tất cả đất dầu mỏ là tài sản quốc gia. Tại sao, vì Chúa, họ không nghĩ đến chuyện đó năm chục năm trước khi tụi tôi chưa đổ tiền vào? Cả thế giới đang trở nên Bolshevik, mà tôi cũng chẳng thèm quan tâm. Tôi cũng sẽ trở thành Bolshevik, ngay khi tôi thấy nó tới; đó là điều tôi sẽ làm, chơi hết mình luôn. Ngồi xuống và rót đầy bình xăng cũ đi. Tôi nhận được tin từ Trụ sở chính là tụi mình đang đóng cửa đây. Có lẽ tuần sau tôi có thể đi cùng mấy anh, đi hết các trại để kiếm bữa ăn.”

Sau khi đi qua năm trại và nuốt năm câu chuyện khác nhau về việc thiếu việc làm và nguyên nhân ngành kinh doanh dầu mỏ đang thoi thóp, cả Moulton và Dobbs đều quyết định rằng đi tiếp nữa sẽ chỉ là lãng phí thời gian và công sức. Ở hai trại, họ đã gặp những người trở về từ các trại khác, những người đã mất công việc mà họ đã giữ trong nhiều năm.

“Điều tốt nhất tụi mình nên làm,” Moulton nói, “là quay về nơi mình đã tới. Ở thành phố có cơ hội tốt hơn ở đây để kiếm việc và gặp ai đó đang tìm người để dựng trại mới. Xung quanh đây là mấy mỏ cũ đã được thành lập rồi. Không có cơ hội ở đây đâu. Tốt hơn nên tìm mỏ mới.”

“Mày nói có lý đó,” Dobbs trả lời. “Tao được nói là ở phía Bắc sông, gần khu vực Altamira, có thể có gì đó sắp xảy ra. Tao đoán mày nói đúng. Thôi đi bộ về đi.”

Thế là một ngày, vào cuối buổi chiều, họ lại tới bến cảng. Moulton nói: “Tụi mình tới rồi. Giờ thì mỗi người tự lo cho mình lần nữa.”

Với những lời này, mối quan hệ hợp tác của họ đã kết thúc.

Trong khi họ đi vắng, thành phố không có gì thay đổi. Vẫn là những thằng đó lảng vảng quanh lề đường và đẩy bất cứ người đàn ông nào từ các mỏ về thành phố đi uống rượu, ăn bít tết ngon, cờ bạc, và kiếm gái. Không một thằng đánh bóng lề đường nào trong số này rời đi để tìm chỗ tốt hơn. Và chính những thằng đó giữ góc Khách sạn Southern và lối vào ngân hàng ở tầng trệt đang làm y chang những gì chúng đã làm tuần trước, tháng trước, có lẽ là năm ngoái. Tức là, chờ đợi được đưa tới Madrid Bar hay Louisiana để giúp ai đó có tiền say xỉn. Tất cả chúng đều biết những lời cầu xin cần nói vào đúng lúc, đúng cách và với đúng vị thần. Thế là chúng đã tiêu tốn cuộc đời, sức lực và ý chí của mình.

Dobbs không hối hận vì đã ra mấy trại để kiếm việc làm. Công sức bỏ ra là đáng giá để biết rằng ngoài thành phố, việc làm cũng hiếm như trong thành phố thôi. Anh không còn phải lo lắng về việc đã bỏ lỡ cơ hội trong đời hay đã bỏ qua cơ hội gõ cửa sau nữa.

Một buổi sáng, đi dạo dọc theo nhà ga hàng hóa, anh được người quản lý một đại lý máy móc nông nghiệp Mỹ gọi lại. Họ đang dỡ hàng máy móc và anh được hỏi liệu anh có muốn phụ một tay trong một hoặc hai ngày không. Anh chấp nhận và được trả bốn peso một ngày. Mấy người bản xứ làm cùng công việc chỉ được hai peso.

Công việc rất nặng nhọc và khớp ngón tay anh bị lột da mười lần một ngày. Dù sao thì bốn peso cũng là tiền mừng. Sau năm ngày, công việc kết thúc và anh phải đi.

Vài ngày sau, đứng ở bến phà qua sông tới kho Panuco và tự hỏi liệu anh có cơ hội đi tới thị trấn đó để thay đổi không, năm người đàn ông chạy tới để bắt kịp chuyến phà sắp khởi hành.

Một trong những người đàn ông, vai vuông vức và khá to con, thoáng thấy Dobbs, dừng lại, và hét lên: “Mày đang tìm gì? Việc làm hả?”

“Ừ. Có việc cho tao không?”

“Lại đây. Nhanh lên, phà sắp đi rồi. Tao có việc cho mày nếu mày muốn đi. Việc nặng, nhưng lương cao. Đã bao giờ làm việc dựng trại chưa?”

“Rồi.”

“Tao có hợp đồng dựng một trại. Cái chết tiệt là tao đang thiếu một người; một thằng con hoang đã bỏ đi rồi để lại tao một mình. Có lẽ bị sốt rét, hay mẹ gì tao biết, hoặc có lẽ là một con váy đầm chết tiệt đang giữ nó lại. Tao không thể chờ thằng đó xuất hiện được. Thôi được rồi, mày được thuê.”

“Lương bao nhiêu?”

“Tám đô la Mỹ một ngày. Tiền ăn mày tự trả. Tính ra thằng đầu bếp Tàu sẽ tính một đô la tám chục một ngày. Mày kiếm được sáu đô la một ngày sạch. Mẹ kiếp, đừng có đứng đó mà cười ngây ngô; đi theo tao.”

Chỉ mười phút trước Dobbs đã chạy theo một công việc hai đô la một ngày như một con mèo đói chạy theo một con gián mập. Giờ anh lại trông như thể anh đang mong đợi một cái ôm biết ơn vì đã nhận công việc được đề nghị.

“Đi lẹ lên hoặc đi chết đi,” anh thầu la lên. “Mày phải đi theo cái kiểu mày đang mặc; không có thời gian để lấy đồ đạc đâu. Phà không chờ, mà xe lửa cũng không chờ. Và nếu tụi mình không đi ngay bây giờ, tụi mình không thể kịp chuyến xe lửa.”

Không chờ câu trả lời, anh ta nắm lấy tay áo Dobbs và kéo anh lên phà.

Pat McCormick, anh thầu, là một người làm lâu năm. Trước khi tới đây, anh ta đã làm việc ở các mỏ Texas và sau đó là Oklahoma. Anh ta đã tới đây trước chiến tranh, trước khi có bất cứ thứ gì trông giống như một cơn sốt sắp tới. Không có công việc nào liên quan đến dầu mỏ mà anh ta chưa từng thử. Anh ta từng là người đánh xe, tài xế xe tải, người giữ thời gian, thợ khoan, thợ sửa dụng cụ, thợ bơm dầu, thủ kho—bất cứ điều gì đến với anh ta đều được anh ta thử sức. Những năm gần đây anh ta phát hiện ra rằng dựng trại bằng hợp đồng kiếm được nhiều tiền hơn—trả một khoản tiền cho trại sẵn sàng bắt đầu khoan. Anh ta đã có một con mắt tuyệt vời để đánh giá công việc. Anh ta có thể nhìn qua một lô đất trong rừng rậm và ra giá cho công việc theo một cách tính toán kỹ lưỡng đến nỗi công ty nghĩ rằng họ đang mua rẻ, trong khi thực tế anh ta kiếm được lợi nhuận lớn trên mỗi hợp đồng. Mánh khóe của anh ta là kiếm được lao động tốt và hiệu quả với giá rẻ, rẻ hơn bất kỳ công ty nào có thể kiếm được. Một công ty không thể thuê công nhân bằng cách vỗ lưng và nịnh nọt, khiến họ tin rằng họ được nhận vào vì thương hại. Pat biết cách đóng vai người tốt, thậm chí là đồng chí Bolshevik, để bắt công nhân với giá rẻ. Anh ta có thể chửi rủa mấy công ty tư bản lớn và mấy cổ đông vô lương tâm của họ còn hay hơn một diễn giả Cộng sản khi anh ta muốn xoa dịu mấy công nhân giỏi. Theo anh ta, anh ta chưa bao giờ có lời từ hợp đồng của mình; anh ta luôn mất tiền tốt, số tiền kiếm được khó khăn trong thời kỳ tốt hơn, và anh ta nhận hợp đồng, anh ta nói, chỉ vì anh ta không thể nhìn thấy những người muốn làm việc phải chịu thất nghiệp và đói khát. Trong trại anh ta đóng vai đồng nghiệp tốt, đùa giỡn và thân thiện. Toàn bộ công việc anh ta xử lý như thể đó là một loại hợp tác xã mà tất cả cùng tham gia vì lợi ích chung. Anh ta nói về việc Chủ nghĩa Cộng sản tuyệt vời như thế nào; nếu anh ta có quyền, Hoa Kỳ và tất cả Nam Mỹ sẽ trở thành thiên đường cho những người Cộng sản vào ngày mai.

Anh ta không thể dễ dàng bắt mấy anh Mỹ bằng những ý tưởng này. Mấy anh Mỹ quá hiểu cái kiểu Pat này để mà mắc bẫy mấy hợp đồng hợp tác của anh ta. Anh ta chỉ nhận mấy anh Mỹ khi không thể tìm được người khác. Được chào đón nhất là mấy anh Hunks, Séc, Ba Lan, Đức, Ý mới tới, mấy người đã nghe kể ở quê nhà về những người làm việc ở mỏ dầu Mễ và kiếm được từ ba chục đến năm chục đô la một ngày hầu như không cần nhúc nhích một ngón tay. Sau khi tới cái xứ Cộng hòa này, họ biết được trong tuần đầu tiên rằng những mức lương thần thoại như vậy hiếm có như mức lương một người thợ xây kiếm được ở Chicago, theo mấy câu chuyện cổ tích lưu hành ở châu Âu. Sau khi mấy anh này ở đây khoảng hai tháng hoặc lâu hơn, họ quỳ gối trước bất kỳ anh thầu nào trả họ năm đô la một ngày, và nếu anh ta trả tám đô la, họ thờ phượng anh ta như chưa bao giờ thờ phượng Đấng Toàn Năng, và anh thầu muốn làm gì với họ cũng được. Sau sáu tháng thất nghiệp họ sẵn sàng chấp nhận bất cứ thứ gì được đề nghị.

Dobbs sẽ không mắc bẫy mấy giáo điều của Pat McCormick nếu anh ta cố gắng áp dụng chúng với mình. Tình hình kinh tế của anh không cho anh lựa chọn. Anh cũng mừng khi kiếm được công việc này như mấy anh Hunks vậy.

Cái thỏa thuận hợp tác đó bắt buộc tất cả mọi người phải làm việc mười tám giờ trong hai mươi bốn giờ, mỗi ngày miễn là hợp đồng còn kéo dài. Không có trả thêm giờ. Tám đô la là tiền lương cho ngày làm việc, và thời gian ngày làm việc là do Pat quyết định. Không có nghỉ Chủ nhật. Mấy anh Mễ thì được luật pháp bảo vệ. Họ không thể làm việc lâu hơn tám giờ một phút nếu không Pat sẽ bị tống vào tù và bị giữ ở đó cho tới khi anh ta trả mười ngàn peso vì vi phạm luật lao động.

Một loại đường đã được mở ra khỏi rừng rậm để khi trời rất khô, xe tải có thể đi thẳng vào khu đất nơi trại sẽ được dựng. Mấy anh peon Mễ, được Pat gửi đi trước vài tuần, đã phá quang khu vực trại khi mấy anh thợ dựng giàn khoan tới.

Tám đô la một ngày có vẻ là rất nhiều tiền khi Dobbs không có gì trong bụng, nhưng anh biết rằng tám đô la một ngày có thể là lương ít ỏi cho một số công việc nhất định. Cái nóng không bao giờ dưới một trăm độ ở ngoài trời, nơi tất cả công việc phải được thực hiện, bao quanh bởi rừng rậm. Anh bị quấy rầy bởi mười ngàn loại côn trùng và bò sát mà rừng rậm sản sinh ra. Anh nghĩ cả trăm lần một ngày rằng mắt mình sẽ bị cháy vì cái nóng trên cao và xung quanh. Không có gió nào có thể tới được chỗ những người đang làm việc ở đây. Mang ván gỗ, nâng chúng lên cao để xây tháp khoan, và thường xuyên treo lơ lửng hàng phút như khỉ chỉ bằng một tay trên một thanh dầm, hoặc bám vào bằng một chân kiểu rắn quanh một sợi dây và nắm lấy mấy tấm ván nặng đang đu đưa mà phải kéo vào để đóng đinh tán hoặc bắt bu lông, anh đánh cược mạng sống mình hai chục lần mỗi ngày, và tất cả chỉ để lấy tám đô la.

Pat không cho phép nghỉ ngơi ngoại trừ vài giờ ngủ. Cho tới mười một giờ tối tụi nó làm việc dưới ánh đèn gas, và năm giờ sáng hôm sau tụi nó đã cắm đầu vào làm rồi. “Tụi mình phải tận dụng mấy giờ sáng mát mẻ, mấy anh,” Pat sẽ nói khi đánh thức họ dậy. Vừa mới nuốt vội ly cà phê vào bữa ăn và ngồi thảnh thơi xỉa răng thì Pat đã bồn chồn rồi hối thúc họ: “Mấy anh, chắc chắn là nóng. Tôi biết. Tụi mình đang ở vùng nhiệt đới. Ở Texas đôi khi cũng nóng vậy. Mẹ kiếp, không phải lỗi của tôi. Tôi phải hoàn thành cái hợp đồng chết tiệt đó. Tụi mình xong càng sớm, tụi mình càng sớm thoát khỏi cái địa ngục này, và tụi mình sẽ về thị trấn uống nước lạnh. Nè, Harry, kêu mấy thằng Mễ, mấy thằng lười biếng chết tiệt đó, dỡ cái máy hơi nước xuống, rồi bắt đầu điều chỉnh mấy bộ phận. Nhảy vô làm đi. Còn Slick, anh và Dobbs đưa cái trống lên tháp khoan rồi neo nó lại. Tôi sẽ lo mấy cái chòi. Nhanh lên, nhanh lên và bắt tay vô làm đi.”

Pat McCormick chắc chắn đã kiếm được một đống tiền với mấy hợp đồng này. Mấy công ty trả anh ta hậu hĩnh cho mấy hợp đồng dựng giàn khoan. Mấy công ty cho phép trả lương khá và giờ làm việc đàng hoàng cho tất cả mọi người, nhưng Pat càng hoàn thành công việc sớm, thì càng dư ra nhiều tiền chảy vào túi anh ta, vì anh ta không có chi phí nào khác ngoài tiền lương anh ta trả. Để vắt kiệt sức lực cuối cùng của công nhân, anh ta hứa thưởng thêm nếu công việc hoàn thành trong một số ngày nhất định. Lời hứa thưởng thêm này là cái roi của anh ta, vì anh ta biết rằng cái roi của một thằng chủ nô lệ thực thụ sẽ không hiệu quả với công nhân ngày nay. Anh ta thắng; anh ta luôn thắng. Anh ta dựng hai trại trong cùng thời gian mà mấy anh thầu khác chỉ dựng được một trại thôi.

“Thôi được rồi, mấy anh, dốc hết xương máu vào công việc đó đi. Các anh sẽ lại làm với tôi trong hợp đồng kế tiếp của tôi. Tôi đã gần như chắc chắn có được ba cái sắp tới rồi. Làm đi thôi.” Đây là một cái roi khác mà anh ta sử dụng, hứa hẹn cho mấy nô lệ của mình công việc tương lai miễn là họ làm việc theo cách anh ta muốn.

Khi trại được dựng xong, cả nhóm quay lại thành phố. Mấy anh peon Mễ trở về mấy ngôi làng gần đó của họ.

Dobbs nói: “Giờ thì tiền lương sao đây? Tôi chưa thấy một đồng bạc nào từ anh hết, Pat.”

“Có gì mà vội, bạn? Anh sẽ nhận được tiền của mình thôi, đừng lo lắng chút nào. Tôi sẽ không chạy trốn với nó đâu. Anh lại làm với tôi trong hợp đồng kế tiếp tôi có với Mex Gulf mà. Chắc chắn rồi.”

“Giờ nghe nè, Pat,” Dobbs nói, “tôi không có một xu nào để mua ngay cả một cái áo sơ mi mới. Tôi trông như một thằng vô lại tồi tệ nhất.”

“Giờ đừng có khóc lóc gọi mẹ ở đây,” Pat cố gắng trấn an anh. “Tôi nói cho anh biết tôi sẽ làm gì. Tôi sẽ cho anh ba chục phần trăm tiền lương của anh. Đó là tất cả những gì tôi có thể làm cho anh. Và đừng có nói với mấy người khác nha.”

Dobbs biết rằng không ai trong số mấy anh kia nhận được tiền lương đầy đủ. Hai người rất tha thiết muốn lại làm với Pat trong hợp đồng kế tiếp đã khiêm tốn xin “ít nhất một chút, làm ơn, ông Pat,” và họ được thưởng năm phần trăm, để họ có thể có vài bữa ăn; họ chưa ăn gì kể từ khi trở lại thành phố.

Trong vòng vài ngày Dobbs đã nghe nhiều chuyện về Pat McCormick. Pat được biết là không trả tiền mặt cho công nhân của mình nếu anh ta có thể tránh được. Đây là một trong những lý do khiến anh ta hiếm khi có một người Mỹ làm việc với mình trong hợp đồng. Chỉ có người nước ngoài và mấy anh Mỹ nửa mùa mới bị anh ta lừa. Hầu hết bọn họ đều mừng rỡ đi theo anh ta bất cứ khi nào anh ta la lên. Họ có bữa ăn vì Pat trả tiền cho anh đầu bếp Tàu để phục vụ ăn uống như tiền tạm ứng vào lương của mấy anh này. Và thường thì anh ta trả một ít tiền mặt khi mấy anh mà anh ta nợ đang đuổi theo anh ta và than khóc rằng họ không có tiền để ăn và trả giường.

Một buổi chiều, khi Dobbs đang uống một ly cà phê ở quầy bar của quán cà phê Tây Ban Nha trên quảng trường, Curtin, đi ngang qua, thấy anh và bước tới.

“Tao cũng nên uống cà phê. Mày đang làm gì vậy, Dobble?”

Curtin, người California, đã làm việc cho Pat cùng với Dobbs.

“Mày đã lấy được tiền chưa?” Dobbs hỏi.

“Bốn chục phần trăm là tất cả những gì tao đã vắt ra từ thằng cướp đó cho tới giờ.”

“Tao muốn biết một điều—nếu anh ta đã nhận được tiền cho hợp đồng—đó là điều tao muốn biết,” Dobbs nói.

“Khó mà tìm ra lắm,” Curtin trả lời. “Mấy công ty thường hơi chậm trong việc trả tiền hợp đồng. Thường thì họ thiếu tiền mặt có sẵn, vì số tiền họ có ở cái xứ cộng hòa này đều được dùng cho chi phí khoan dầu hoặc để trả cho mấy lựa chọn bất ngờ đã có được.”

“Mày có biết chút gì về công ty nào đã ký hợp đồng không, Cuts?”

“Không biết chút nào. Cũng có thể là cho một người ngoài, một người tư nhân muốn thử vận may với dầu mỏ. Tao biết gì đâu?” Curtin nói.

Cả một tuần lễ Dobbs và Curtin đã đuổi theo Pat. Anh ta không thể tìm thấy ở bất cứ đâu. Tại Khách sạn Bristol, nơi anh ta thường ở, nhân viên tiếp tân nói không biết gì về anh ta.

“Anh ta đang trốn ở đâu đó để ôm tiền bỏ chạy,” Curtin nghĩ. “Anh ta biết rằng tụi mình không thể lảng vảng ở đây mãi. Nên anh ta chờ tới lúc tụi mình nhận công việc khác; rồi anh ta mới chui ra khỏi hang.”

Dobbs, sau một ngụm cà phê nữa, nói: “Tao sẽ không ngạc nhiên chút nào nếu thằng đó dùng tiền của tụi mình để đầu cơ vào một cái giếng mới nào đó. Anh ta có tin tức trên suốt đường tới khu vực Alamo và Ebano.”

Ý nghĩ này làm Curtin nóng máu. “Thằng đó sẽ học được bài học từ tao. Cứ để tao bắt được nó.”

Ngay lúc đó Pat McCormick đang thong thả đi ngang qua quảng trường, với một cô gái Mễ bên cạnh đang diện cái váy mới, giày thanh lịch, và một cái dù lụa màu sắc mới.

“Mày nghĩ sao về chuyện đó?” Dobbs hỏi. “Mấy thứ giẻ rách được trả bằng tiền mồ hôi nước mắt của tụi mình đó.”

“Bắt nó ngay bây giờ đi,” Curtin la lên, “và lần này bắt nó mạnh tay vô.”

Nhanh như chớp, Curtin đã ở bên cạnh Pat, và Dobbs cũng vậy.

Curtin tóm lấy tay áo sơ mi của Pat, vì anh ta không mặc áo khoác.

“Chào mấy anh, muốn uống gì không?” Pat cố gắng thân thiện.

Rồi anh ta nhận thấy hai người này cực kỳ nghiêm túc, nên anh ta nói với cô gái: “ Perdone me, shiucksy dear, mi vida , tôi có chút chuyện làm ăn cần giải quyết với hai quý ông này. Tôi sẽ đưa em qua quán cà phê đó. Em đợi tôi ở đó một lát nha, cưng.”

Anh ta dẫn cô gái tới hàng cột của tòa nhà Light and Power, gọi một ly kem sundae cho cô, vỗ nhẹ vào lưng cô, và nói: “Cứ đợi ở đây nha, mi dulce , tôi sẽ không lâu đâu, chỉ vài phút thôi, no mas que unos minutos , chắc chắn.”

Dobbs và Curtin chờ đợi cách đó chỉ vài foot.

Pat bước xuống vài bậc thang và đi dọc theo con phố dọc quảng trường như thể anh ta một mình. Thấy hai người này không rời đi, mà cứ giữ sát bên cạnh mình, anh ta dừng lại trước văn phòng cáp W.U. và nói: “Uống một ly đi, tôi mời.”

“Được thôi,” Curtin chịu thua. “Uống một ly đi. Nhưng anh phải hiểu đó không phải là lý do tụi tôi theo anh.”

Họ bước vào quán cantina Madrid, và Pat gọi ba ly Scotch.

“Cho tôi ly Hennessy,” Dobbs nói với anh pha chế.

“Cho tôi hai ly,” từ Curtin.

“Scotch vẫn đủ ngon cho tôi,” Pat lặp lại yêu cầu của mình.

Khi đồ uống được đặt trước mặt, Pat hỏi: “Giờ thì mấy anh muốn gì? Chắc chắn rồi, tôi sẽ cho mấy anh làm trong hợp đồng kế tiếp của tôi. Đừng lo.”

“Đừng có giả vờ ngây thơ; anh biết tụi tôi muốn gì mà.” Dobbs đi thẳng vào vấn đề.

“Nghe nè, nói ngắn gọn và rõ ràng,” Curtin kéo ly nước của mình lại gần hơn, “tiền của tụi tôi đâu rồi? Anh sẽ không thoát lần này đâu, tôi nói cho anh biết. Anh biết tụi tôi làm việc còn cực hơn nô lệ da đen mà. Giờ tụi tôi đã chờ ba tuần để nhận lương. Trả đây đi, ngay tại đây và bây giờ, không có lẽ nào nữa.”

Mấy ly nước đã hết.

“Ba ly habanero,” Pat gọi. “Không, Chuchu, làm chúng lớn hơn, làm chúng schooners (ly lớn).”

“Habanero hả? Chơi kiểu keo kiệt hả, anh bạn? Không được đâu,” Dobbs chế giễu. Nhưng anh ta vẫn uống cạn ly nước.

“Giờ nghe nè, mấy anh,” Pat chơi trò của mình. “Thực tế là tôi chưa được trả tiền cho cái hợp đồng chết tiệt đó nữa. Nếu tôi có tiền, tôi sẽ trả cho mấy anh trước tiên. Mấy anh biết mà. Tôi sẽ cho cả hai anh làm trong hợp đồng kế tiếp của tôi, mấy anh có thể tin vào điều đó. Chắc chắn rồi. Nó sẽ được thông qua vào thứ Hai và tụi mình có thể khởi hành vào thứ Sáu. Rất vui được có mấy anh làm việc với tôi lần nữa. Thôi, chúc anh uống say. Uống đi.”

Curtin không bị lời nịnh hót này làm ấn tượng. Anh ta nói: “Anh tốt bụng quá, Pat, cho tụi tôi làm với anh lần nữa. Nhưng đừng có ý định ru ngủ tụi tôi bằng thứ rượu này và cái lưỡi bôi trơn của anh. Tụi tôi đã thuộc lòng mấy bài diễn thuyết đó của anh rồi. Chúng không còn hiệu quả nữa đâu. Trả tiền đây đi, và đừng có trì hoãn nữa. Hiểu không?”

“Thằng con của chó chết tiệt, trả tiền đây đi nếu không thì mày sẽ không rời khỏi cái quán này còn sống đâu! Chúa ơi, tao phát bệnh với cái trò lừa bịp của mày rồi!” Dobbs hét lên, và tấn công anh ta bằng hai tay rồi ép mạnh anh ta vào quầy bar.

“Bình tĩnh, quý ông, làm ơn bình tĩnh, đây là một nơi đàng hoàng,” anh pha chế chen vào. Anh ta không có ý đó. Anh ta chỉ muốn cho thấy anh ta có tiếng nói và rằng, nếu có chuyện nghiêm trọng xảy ra, anh ta có thể tuyên bố rằng anh ta đã cố gắng hết sức để trấn an mấy người này. Anh ta cầm một cái giẻ lên và lau sạch quầy bar. Sau đó anh ta chen vào: “Giống vậy nữa hả, mấy ông?” Không chờ câu trả lời, anh ta đổ đầy rượu habanero vàng vào mấy ly cỡ lớn. Sau đó anh ta châm một điếu thuốc, chống khuỷu tay lên quầy bar, và đọc El Mundo.

Pat có thể dễ dàng đánh bại Dobbs, và cả Curtin, từng người một. Cố gắng đánh bại cả hai cùng một lúc sẽ tốn kém quá đối với anh ta. Vì anh ta có một hợp đồng mới đang chờ, anh ta không thể chấp nhận bất cứ điều gì ngoài hai con mắt đen và vài vết bầm tím. Anh ta có thể thấy rằng Dobbs và Curtin đang ở trong trạng thái mà họ sẽ quên chiến đấu một cách đàng hoàng, và anh ta có mọi cơ hội nhập viện và ở đó hàng tuần, trong khi hợp đồng sẽ rơi vào tay người khác.

Nhận ra rằng trả tiền cho họ là cách rẻ nhất để thoát thân, anh ta nói: “Tôi nói cho mấy anh biết tôi sẽ làm gì. Tôi đã cho mấy anh ba chục phần trăm rồi. Tôi sẽ cho mấy anh bốn chục phần trăm nữa, hay tôi nghĩ tôi có thể cho bốn chục phần trăm. Số dư còn lại cứ cho là giữa tuần sau.”

“Không có tuần sau gì hết,” Curtin khăng khăng. “Ngay tại đây và bây giờ mọi xu anh nợ tụi tôi, hoặc tôi thề anh sẽ không ra khỏi đây. Ít nhất là không còn sống.”

Pat nhếch mép một cách khó coi. “Mấy anh là trộm cắp và cướp đường. Lẽ ra tôi phải biết điều này từ trước. Tôi sẽ không tin tưởng ngủ chung cabin với mấy anh, nếu không thì sáng ra tôi có thể thấy mình bị giết và bị cướp. Tuyển mấy anh làm việc cho tôi lần nữa hả? Không bao giờ. Nếu tôi thấy mấy anh chết trên đường, tôi sẽ không thèm đá mấy anh để cho mấy anh được ân xá cuối cùng đâu. Đây, lấy tiền của mấy anh đi và biến khỏi mắt tôi.”

“Thôi, câm đi,” Dobbs hét lên, “tụi tôi biết mấy bài giảng đạo của anh rồi. Lấy tiền ra và nhanh lên.”

Trong khi Pat nói chuyện, anh ta hẳn đã đếm tiền trong túi rất chính xác vì giờ đây với một cái giật mạnh, anh ta lấy ra một bó tiền đô la, vò chúng trong nắm tay, và đập mạnh chúng lên quầy bar. “Đây là tiền,” anh ta nói. Sau đó anh ta nháy mắt với anh pha chế, quăng một nắm peso lên quầy bar, và hét lên: “Đó là tiền cho mấy ly nước. Tôi không chấp nhận rượu do mấy thằng hôi hám trả tiền. Giữ lấy tiền thối chết tiệt đó và mua cho mày một cái khách sạn đi.”

Nói rồi anh ta nghiêng cái nón ra sau cổ và bỏ đi.

« Lùi
Tiến »