Tối mịt, khi họ ngồi quây quần quanh lửa, hút thuốc và bàn tán chuyện xảy ra trong bốn mươi tiếng vừa rồi, họ thấy những sự việc hai ngày qua đã làm họ kiệt sức đến nỗi mất luôn hứng thú với công việc – thứ đã giúp họ chịu đựng bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn suốt nhiều tháng trời. Họ cảm giác như mình già đi qua một đêm vậy.
Curtin diễn tả cảm xúc đó thành lời: “Chắc Howard nói đúng rồi đó, cái hồi bữa kia ổng nói. Tức là, tốt nhất mình nên đóng cửa mỏ, gói ghém đồ đạc rồi đi thôi. Má ơi, quỷ thần ơi biết chừng nào lính tráng nó kéo lên tới đây. Mình có thể kiếm thêm được mớ nữa nếu ở lại đây hai ba tuần chi đó. Mà thôi, ý tui là mình nên biết ơn những gì mình có rồi về nhà đi.”
Mấy phút chẳng ai trả lời. Rồi Dobbs nói: “Tui thì muốn ở lại thêm vài tuần nữa chớ. Tui nói rồi đó. Cơ mà, nghĩ đi nghĩ lại, sao cũng được, mấy ông ạ. Thôi mình dẹp mỏ, chuẩn bị lết đi thôi. Thiệt tình, tui cũng chẳng còn chút tham vọng nào muốn níu kéo nữa. Mất hết trơn rồi.”
Howard gật đầu mà không nói lời nào.
Lacaud đang hút thuốc. Anh ta còn chẳng thèm nhắc họ đã thỏa thuận với anh ta là sẽ ở lại ít nhất một tuần nữa để giúp anh ta thử nghiệm mấy ý tưởng của mình. Anh ta có vẻ chỉ quan tâm giữ cho đống lửa cháy thật tốt thôi, hơn mọi thứ khác.
Cuối cùng Howard nhìn anh ta: “Lo lắng hả? Lo gì? Dường như mọi chuyện xong xuôi hết rồi mà.”
“À, tui hông có lo, ông bạn. Hông hẳn. Tui hổng biết sao tui phải lo nữa.” Nói xong anh ta lại im lặng.
Có lẽ anh ta đang nghĩ cách làm sao để khơi lại sự hứng thú của họ lần nữa, để họ chịu ở lại giúp anh ta vài ngày. Anh ta không muốn nói thẳng ra ý muốn của mình, nên thử một cách khác.
“Mấy ông có bao giờ nghe câu chuyện về mỏ Ciniega cũ chưa?” Anh ta hỏi hơi đột ngột, có lẽ là quá đột ngột, làm mấy ông đối tác thấy anh ta không có ngay thẳng.
Hơi chán, Howard nói chậm rãi: “Mình biết nhiều chuyện về mấy mỏ cũ đến nỗi hổng biết phải làm sao với nó luôn á.” Anh ta bị ngắt ngang dòng suy nghĩ về chuyện sẽ dùng số tiền kiếm được để sống một cuộc đời an nhàn trong một thị trấn nhỏ, ngồi ở hiên nhà hút thuốc, đọc báo, mấy truyện tranh hài, mấy chuyện phiêu lưu xàm xí, chỉ lo lắng về sức khỏe, bữa ăn của mình, và lên giường sớm, với đủ tiền để ít nhất mỗi tháng say mèm một lần.
Như thể vừa tỉnh giấc, anh ta nhìn Lacaud: “Thiệt tình là tui quên bẵng ông luôn á, Laky,” anh ta nói.
Curtin cười: “Ông thấy chưa, Laky, tụi tui có suy nghĩ của riêng mình, và hổng có ông trong đó. Ba tụi tui đã quá quen nói chuyện với nhau rồi nên đôi khi quên ông đang ở đây. Không có ác ý gì đâu.”
Dobbs chen vào: “Chỉ để ông thấy ông ít quan trọng cỡ nào thôi, ông bạn. Tụi tui ăn chung, đánh lộn chung, thậm chí gần chết chung luôn rồi, mà ông vẫn đứng ngoài cộng đồng, nếu ông hiểu ý tụi tui. Lẽ ra tụi tui đã có thể quý mến nhau rồi. Nhưng giờ, tui nghĩ, quá trễ rồi.”
“Tui hiểu ý mấy ông nói, Dobbs.”
“Nhân tiện mới nhớ,” Howard nói với anh ta; “ông có nói gì về một kế hoạch hông?”
“Ừ, kế hoạch của ông đó.” Dobbs lên tiếng. “Phải, cái kế hoạch của ông đó. Thôi, ông cứ giữ nó như là tài sản ông xứng đáng có đi. Tui hổng có hứng thú chút nào. Tui cùng ý kiến với ông già Curtin; nói cho chính xác hơn, tui muốn gặp gái, coi thử bên trong cô ta như thế nào kìa, ông hiểu hông, và tui có cái ham muốn kỳ cục là được ngồi lại ở một cái bàn đàng hoàng trong nhà hàng, với đồ ăn được nấu ngon lành dọn ra trước mặt.”
“Nhưng mấy ông không thấy hả? Hàng chục ngàn đô la đang nằm đây, sẵn sàng được hốt lên kìa!”
Curtin ngáp: “Thôi được rồi, ông cưng, lượm nó lên rồi vui vẻ đi. Đừng để nó nằm lăn lóc đó, kẻo có ai tới bưng đi mất. Thôi, mấy ông, nếu có ai hỏi giờ tui thấy sao, tui sẽ nói: Tui chuẩn bị đi ngủ đây. Ngủ ngon nha.”
Howard và Dobbs cũng đứng dậy, vươn vai, há hốc miệng ngáp, rồi đi về phía lều.
Curtin, đang đứng sẵn ở cửa lều, gọi: “Nè, Laky, nếu ông muốn ngủ chung với tụi tui, cái ‘căn hộ’ tụi tui có ở đây đủ rộng cho ông luôn đó. Cứ bước vô đi, đừng có đóng cửa mạnh nha.”
“Nếu mấy ông không phiền, tui thích ngủ ở đây cạnh lửa hơn. Tui cần phải suy nghĩ vài kế hoạch nữa, và tui làm điều đó tốt nhất khi có mấy vì sao trên đầu. Cảm ơn lòng tốt của mấy ông.” Lacaud mang đồ đạc và mền của mình lại gần đống lửa. “Chỉ là tui muốn để đồ đạc trong lều mấy ông, lỡ trời mưa.”
“Cứ mang vô đi,” Howard mời. “Chỗ rộng rãi mà; không tính phí lưu kho đâu.”
Khi ba đối tác ở lại một mình trong lều, Curtin nói: “Tui vẫn không hiểu thằng cha đó bị cái gì. Đôi khi nó có vẻ bình thường, rồi lúc khác lại thấy nó khùng khùng hết sức.”
“Tội nghiệp nó,” Howard nói. “Nó có vẻ bị nứt chỗ nào đó rồi. Chắc chắn là nó không còn đủ ốc vít rồi. Tui nghĩ nó là một gã muôn đời.”
“Muôn đời? Ý ông là sao?” Curtin tò mò.
“Một gã muôn đời đào vàng. Nó có thể ở cùng một chỗ đào bới cả chục năm, tin chắc rằng nó đang ở đúng chỗ, rằng không thể sai được, và tất cả những gì nó cần là sự kiên nhẫn. Nó tin chắc rằng một ngày nào đó nó sẽ trúng lớn. Nó cùng một dòng dõi với mấy người hồi xưa dành cả đời và hết tiền của để tìm công thức chế tạo vàng bằng cách trộn kim loại và hóa chất—nấu chảy, nấu nung, và pha chế chúng cho đến khi họ tự mình phát điên. Nó là dạng hiện đại hơn. Nó làm việc ngày đêm với các kế hoạch và mưu đồ y như mấy kẻ muốn phá sản mấy ngân hàng ở khu cờ bạc vậy.”
“Mai nó sẽ coi mỏ của mình,” Dobbs nói.
“Kệ nó đi. Không sao hết, vì mình sắp đi rồi. Mình đóng cửa đàng hoàng, và nếu nó có mở lại thì đó là chuyện của nó, không phải của mình. Tui thiệt tình thấy thương hại thằng cha đó.” Howard thừa nhận. “Thương hại thiệt đó. Nhưng mình không thể chữa được mấy gã này, và tui nghĩ nếu có ai chữa được thì họ cũng không thích đâu. Họ thích ở cái trạng thái này hơn. Đó là toàn bộ lý do để họ sống.”
Dobbs không hoàn toàn bị thuyết phục. Anh ta nói: “Tui không chắc là không có gì khác đằng sau thằng cha đó đâu. Nó có vẻ không bị khùng hết đâu.”
Howard vẫy tay và nhún vai: “Tùy ông nghĩ sao cũng được. Tui gặp loại này rồi. Ngủ ngon nha.”