7.33 Ý kiến bình luận công bằng về vấn đề mà công chúng quan tâm được miễn khiếu kiện.
Charles Arnold Baker
Điều lệ Ban quản trị hội đồng địa phương
In lần thứ bảy
❀❀❀
I
Mưa tầm tã rơi trên mộ Barry Fairbrother. Mực trên những tấm thiếp đã nhòa nhạt. Bông hoa hướng dương to tướng của Siobhan vẫn nguyên vẹn dưới làn mưa như trút nước, nhưng đám hoa huệ tây và kim châm của Mary đã tan tác. Mái chèo kết bằng hoa cúc héo rữa thâm đen lại. Trận mưa làm nước sông dềnh lên, biến các rãnh thoát nước thành những dòng suối nhỏ và làm những con đường dốc ngặt đổ về Pagford trở nên trơn trượt đầy bất trắc. Những cánh cửa sổ trên xe buýt trường học đặc mờ hơi nước, mấy giỏ hoa treo trên quảng trường sũng nước, và Samantha Mollison dù đã bật cần gạt nước ở mức tối đa vẫn bị va quệt nhẹ với một xe khác trên đường từ chỗ làm trên thành phố về nhà.
Một tờ báo Yarvil và District Gazette thòi ra khe bỏ thư trên cửa nhà bà Catherine Weedon trên đường Hope suốt ba ngày liền cho tới khi nó ướt sũng ra không còn đọc được nữa. Cuối cùng chính cô nhân viên xã hội Kay Bawden đã kéo nó ra khỏi khe bỏ thư, ghé mắt qua nắp khe rỉ sét và thấy bà cụ đang nằm sõng soài dưới chân cầu thang. Một cảnh sát đến giúp phá cửa, bà Weedon được đưa lên xe cứu thương chở về bệnh viện Trung tâm Tây Nam.
Mưa vẫn rơi rầm rập, người thợ sơn được thuê vẽ lại bảng hiệu tiệm giày cũ phải tạm hoãn công việc. Trời mưa suốt ngày, kéo dài đến đêm, quảng trường đầy người lom khom đi dưới áo mưa, những cây dù va cả vào nhau trên những vỉa hè chật hẹp.
Howard Mollison thấy tiếng mưa gõ lộp độp vào cánh cửa sổ tối đen thật dễ chịu. Lão đang ngồi trong phòng sách, trước vốn là phòng ngủ của cô con gái Patricia, nghiền ngẫm bức email vừa nhận được từ tờ báo địa phương. Họ quyết định cho đăng bài báo của cố ủy viên hội động Fairbrother, cho rằng khu Fields vẫn phải thuộc địa phận Pagford, nhưng để đối trọng, họ hy vọng một ủy viên khác sẽ viết bài phản biện trong số kế tiếp.
Phản tác dụng quá hả, Fairbrother? - Howard khoái trá nghĩ - Cứ nghĩ là chuyện theo ý mình rồi hả…
Lão đóng email, quay sang chồng giấy tờ nho nhỏ đặt bên cạnh. Thư yêu cầu tổ chức bầu cử để tìm người thay ghế Barry vẫn rỉ rả đổ về. Theo quy định, cần có chín đơn yêu cầu mới đủ điều kiện tổ chức bầu cử công khai, tới giờ lão đã nhận được mười. Lão đọc qua một lượt trong khi bà vợ và bà bạn làm ăn nhỏ to bàn tán trong bếp, hăng hái bóc tước vụ scandal nóng hổi về bà cụ Weedon ngã gục trong nhà rồi mãi sau mới được phát hiện.
- Đâu ai tự dưng đòi bỏ bác sĩ của mình, phải không? Bà ấy gào hết cỡ, Karen nói...
- Nói bà ta bị cho thuốc không đúng, ờ, tôi biết thế - Shirley đáp, bà tự coi mình là người duy nhất được lên giọng trong các vấn đề y khoa, chẳng gì cũng là tình nguyện viên trong bệnh viện mà. - Tôi nghĩ họ sẽ làm cả loạt xét nghiệm ở bệnh viện Trung tâm.
- Tôi mà là bác sĩ Jawanda thì giờ hẳn đã lo phát sốt lên rồi.
- Chắc bà ta nghĩ người nhà Weedon ngờ nghệch không biết đi kiện, nhưng nếu bệnh viện Trung tâm phát hiện ra nguyên nhân là do đơn thuốc sai thì bà ta cũng không thoát nổi đâu.
- Thế thì bà ta coi như xong.
- Đúng thế - Shirley đồng tình - Tôi nghĩ chắc nhiều người sẽ thấy nhẹ cả người. Nhẹ cả người đi ấy.
Howard cẩn thận phân loại mớ thư. Đơn ứng cử hoàn chỉnh của Miles để riêng một bên. Số còn lại là từ các ủy viên quen biết trong hội đồng khu. Chẳng có gì lạ, từ lúc Parminder gửi email thông báo bà biết có người muốn ứng cử vào vị trí của Barry, lão đã đoán thế nào sáu người kia cũng ủng hộ bà mà yêu cầu đòi bầu cử. Cùng với Tai Cụp, họ là những người mà lão nhạo là “dàn bè inh ỏi” mà ông nhạc trưởng vừa mới ngã xuống. Trên đỉnh chồng thư này, Howard đặt đơn ứng cử của Colin Wall, ứng viên phe bên kia lựa chọn.
Ở chồng thứ ba, lão để ra bốn lá thư nữa, cũng trong dự đoán cả: Mấy “chuyên gia than vãn” ở Pagford mà Howard xếp vào loại luôn nghi ngờ và không khi nào thấy hài lòng, đám này thường xuyên viết đơn thư gửi tờ Yarvil và District Gazette. Mỗi người trong số đó đều bị ám ảnh bởi một vấn đề địa phương thâm sâu nào đó, và tự cho mình là “người có đầu óc độc lập”; hẳn nếu thằng Miles mà được chọn kiểu chỉ định thì thể nào đây cũng là đám đầu tiên gào lên “gia đình trị”; nhưng bên cạnh đó, đám đó cũng là những tay chống-khu-Fields tích cực nhất trong thị trấn.
Howard hai tay cầm lên hai lá thư cuối cùng, thử ước lượng khả năng. Một trong hai là từ một phụ nữ lão chưa từng gặp, bà này tự xưng (Howard chẳng hề tin) là làm việc tại trung tâm cai nghiện Bellchapel (nhưng khi thấy bà này gọi mình là “Ms” lão lại đâm ra tin chuyện đó). Sau khi lưỡng lự một lúc, Howard đặt bức này lên trên đơn ứng tuyển của Wall “Tủ”.
Lá thư cuối cùng được đánh máy, không có chữ ký, yêu cầu tổ chức bầu cử bằng giọng điệu không hợp cách chút nào. Có vẻ nó được viết vội vàng cẩu thả, đầy lỗi đánh máy. Thư ca ngợi đạo đức tốt đẹp của Barry Fairbrother và chỉ đích danh Miles “không phù hợp thế chưn ông ấy”. Howard tự hỏi liệu đây có phải một khách hàng bất mãn với con trai mình, gã này có thể tạo nên trò lố bịch được đây. Được cảnh báo trước mấy mối nguy hiểm kiểu thế cũng tốt. Nhưng Howard vẫn không chắc liệu lá thư nặc danh này có được tính là một yêu cầu bầu cử hợp lệ không. Cuối cùng lão nhét nó vào cái máy cắt giấy nhỏ để bàn mà Shirley tặng ông chồng nhân dịp Giáng Sinh.
II
Công ty Edward Collins & Đồng sự, cố vấn pháp luật cho thị trấn Pagford, đóng đô tại tầng trên tòa nhà gạch liên kế, tầng dưới là một hiệu mắt kính. Edward Collins đã mất, giờ công ty chỉ gồm hai người: Gavin Hughes là đối tác lĩnh lương không phần hùn, ngồi trong văn phòng một cửa sổ; người kia là Miles Mollison, đối tác kiêm cổ đông, ngồi văn phòng có hai cửa sổ. Họ có chung cô thư ký hai tám tuổi còn độc thân, tính tình đơn giản nhưng thân hình khá đẹp. Hễ Miles pha trò là Shona cười không ngớt nhưng cô đối với Gavin đầy vẻ kẻ cả, gần như khó chịu.
Hôm thứ sáu sau lễ tang của Barry Fairbrother, Miles gõ cửa phòng Gavin lúc một giờ rồi đẩy cửa vào luôn không đợi mời. Anh ta thấy cộng sự của mình đang dán mắt vào nền trời xám xịt qua khung kính cửa sổ lấm tấm nước mưa.
- Tôi chạy vội đi ăn trưa cái - Miles nói - Nếu Lucy Bevan tới sớm, anh nói bà ấy chờ tôi một lát nhé? Shona ra ngoài rồi.
- Ờ, được - Gavin đáp.
- Mọi chuyện ổn cả chứ?
- Mary gọi đến. Có chút rắc rối về vụ bảo hiểm nhân thọ của Barry. Bà ấy muốn tôi giúp.
- Ờ, thế cậu làm đi, nhé? Hai giờ là tôi quay lại rồi.
Miles khoác áo, chạy xuống cầu thang dốc rồi sải bước mạnh mẽ trên con đường nhỏ ướt mưa về hướng quảng trường. Tầng mây thoáng hé ra chốc lát, ánh mặt trời phủ tràn đài tưởng niệm chiến tranh lóng lánh nước và mấy giỏ hoa treo. Miles chợt dậy lên niềm tự hào mang tính di truyền khi anh vội vã băng ngang quảng trường đi về hướng cửa hàng Mollison và Lowe, Pagford thân quen, khu trung tâm tuyệt diệu nhất, nơi cảm giác thân thuộc chỉ ngày càng đậm sâu chứ chưa bao giờ phai nhạt.
Tiếng chuông vang lên leng keng khi Miles đẩy cửa. Không khí trong tiệm nhuốm vẻ hối hả của giờ nghỉ trưa. Một hàng dài tám người đang đứng chờ trước quầy. Howard vẫn mặc trang phục thường lệ khi đứng tiệm, mớ mồi câu giả lấp lánh trên cái mũ hai vành, miệng nói liến thoắng.
-... thêm một phần tư cân olive đen, Rosemary, của bà đấy. Hết rồi phải không? Rosemary, chỉ thế thôi... như vậy tổng cộng là tám bảng sáu mươi hai xu, tính tròn là tám bảng thôi, vì mối hợp tác lâu dài tốt đẹp bấy nay...
Tiếng cười rinh rích và mấy câu cảm ơn; ngăn kéo tiền lạch cạch loảng xoảng.
- Chàng luật sư của tôi đây rồi, lại đây xem nào - Howard gọi oang oang, nháy mắt cười với Miles qua đầu hàng người. - Nếu ông vui lòng chờ tôi đằng sau, thưa ông, tôi sẽ ráng giữ mồm không nói gì bất lợi cho bà Howson đâu...
Miles mỉm cười với mấy bà trung niên đang chờ, họ cũng tươi cười đáp lại. Cao ráo, mái tóc bắt đầu ngả xám cắt rất sát, cặp mắt xanh tròn to, cái bụng phệ đã được chiếc áo khoác đậm màu khéo giấu, rõ ràng Miles là gia vị thêm vào khá hấp dẫn bên cạnh món bánh quy tự nướng và phô-mai địa phương của tiệm. Anh cẩn thận len qua giữa những chiếc bàn nhỏ chất đầy thức ăn hấp dẫn và dừng ngay khung cửa lớn nối tiệm thực phẩm và hiệu giày cũ, lần đầu tiên người ta tháo tấm nhựa chắn bụi chỗ này ra. Maureen (Miles vẫn nhớ nét chữ viết tay của bà) đã đặt tấm biển trên bảng quảng cáo ngay giữa cửa: Không đi lối này. Sắp mở cửa... Quán Ấm Đồng. Miles lách vào gian phòng trống sạch sẽ sắp trở thành quán café mới đẹp nhất thị trấn; nó đã được trát vữa và sơn sửa lại, sàn nhà đen mới đánh bóng loáng dưới chân.
Anh rón rén bước vòng qua góc quầy, né người bước ngang Maureen lúc này đang chạy máy cắt thịt làm bà này có cớ cười rú lên thô lỗ, rồi lách nhanh qua cánh cửa dẫn đến căn phòng nhỏ xám xịt đằng sau. Trên cái bàn lót formica để tờ Daily Mail của Maureen. Áo khoác của Howard và Maureen treo trên mắc, cánh cửa khác dẫn đến bồn rửa tỏa mùi oải hương nhân tạo. Miles cũng treo áo khoác lên rồi kéo chiếc ghế cũ ngồi vào bàn.
Một, hai phút sau, Howard xuất hiện với hai dĩa đồ ăn ngon đầy ụ.
- Đã nhất trí chọn tên Ấm Đồng rồi ạ? - Miles hỏi.
- Ờ, Mo thích tên này - Howard trả lời, đặt một dĩa xuống trước mặt con trai.
Lão lại kềnh càng quay ra rồi cầm vào hai chai bia, giơ chân khép cửa làm căn phòng không cửa sổ tối sầm, chỉ còn mỗi ánh sáng lờ mờ từ ngọn đèn treo. Howard ngồi xuống, rên một tiếng đùng đục. Hồi giữa giờ sáng lão đã tỏ ra úp úp mở mở chuyện gì đó trên điện thoại, giờ bắt Miles chờ thêm chút nữa trong lúc khui nắp một chai bia.
- Wall gửi đơn ứng cử tới rồi - Cuối cùng lão lên tiếng, đưa chai bia cho cậu con.
- À - Miles thốt.
- Bố phải đặt ra kỳ hạn mới được. Mọi người được đăng ký trong vòng hai tuần kể từ hôm nay.
- Thế là đẹp rồi - Miles bình luận.
- Mẹ con nói gã nhà Price này vẫn muốn tham gia. Con hỏi Sam xem có biết anh ta là người thế nào chưa?
- Chưa ạ - Miles đáp.
Howard gãi gãi rãnh bụng dưới gần chạm tới đầu gối khi ông ngồi trên chiếc ghế kẽo kẹt.
- Con với Sam vẫn ổn chứ hả?
Miles khâm phục tài đoán chuyện như thần của ông bố, trước giờ anh vẫn thấy thế.
- Cũng không êm đẹp lắm.
Anh không muốn thừa nhận chuyện này với mẹ, vì gắng không châm dầu vào cuộc chiến tranh lạnh thường trực giữa mẹ chồng và nàng dâu, trong cuộc chiến đó Miles vừa là con tin vừa là chiến lợi phẩm.
- Cô ấy không thích chuyện con ra ứng cử - Miles thận trọng nói. Howard nhướng cặp lông mày nhạt, hàm dưới đong đưa theo nhịp nhai. - Con không biết cô ấy bị cái quái gì nữa. Hình như đang lên cơn ghét Pagford hay sao đó.
Howard thong thả nuốt cho xong. Lão quệt miệng bằng miếng khăn giấy rồi ợ một phát.
- Một khi con đã vào được hội đồng thì con bé quay ngoắt thái độ ngay thôi - lão bình thản nói. - Lợi ích xã hội mà. Mấy bà vợ được nhiều thứ lắm. Được dự mấy buổi tiệc ở Dinh thự Sweetlove này. Con bé sẽ được ở đúng sàn diễn nó thích. - Howard nốc thêm ngụm bia, gãi gãi bụng.
- Con không nhớ được anh chàng Price gì đó - Miles nói, trở lại chủ đề chính - Con chỉ mang máng nhớ là thằng con anh ta học chung lớp với Lexie ở trường Thánh Thomas.
- Nhưng được sinh ra ở khu Fields, đó, vấn đề là chỗ đó - Howard nói - Chi tiết này sẽ có lợi cho ta. Phe ủng hộ khu Fields sẽ chia phiếu giữa anh chàng này với nhà Wall.
- À đúng rồi - Miles khâm phục - Có lý lắm.
Anh chưa từng nghĩ tới chuyện này. Lúc nào anh cũng ngưỡng mộ đầu óc ông bố.
- Mẹ con đã gọi cho vợ anh ta chỉ cách tải các mẫu phiếu đăng ký cho chồng. Có lẽ bố sẽ bảo mẹ con gọi lại tối nay, bảo vợ anh ta là chỉ còn hai tuần, phải nhanh chóng động tay động chân đi.
- Thế là tổng cộng có ba ứng cử viên phải không? - Miles hỏi - tính luôn Colin Wall.
- Tới giờ bố chưa nghe nói có ai khác. Nhưng khi đăng chi tiết thông báo lên website thì có thể sẽ còn người khác nộp đơn. Dù gì thì bố con mình cũng thắng mà. Chắc chắn thế. Aubrey có gọi tới - Howard nói thêm. Cứ mỗi khi nhắc tới tên thánh của Aubrey Fawley là ông lại lên giọng trịnh trọng. - Ủng hộ con hết mình, rành là thế. Tối nay ông ấy sẽ quay lại. Giờ ông ấy đang ở thành phố.
Thường dân Pagford nói “ở thành phố” có nghĩa là “ở Yarvil”. Nhưng Howard và Shirley học theo cách nói của Aubrey Fawley, nói “ở thành phố” nghĩa là “ở London.”
- Ông ấy nói đại khái mọi người nên cùng ngồi họp mặt trò chuyện. Có thể ngay ngày mai. Có khi mời ta đến nhà đấy nữa. Con bé Sam sẽ thích vụ này.
Miles vừa ngoạm một miếng lớn bánh mì phết paté gan nhưng vẫn trịnh trọng gật đầu ra ý đồng tình. Anh khoái chí khi biết ông Aubrey Fawley “ủng hộ hết mình”. Samantha cứ giễu bố mẹ anh quỵ lụy nhà Fawleys, nhưng anh để ý chính cô, trong vài dịp hiếm hoi khi chạm mặt ông Aubrey hay bà Julia, cũng sửa giọng và làm điệu bộ ra vẻ trang nhã hơn nhiều.
- Còn nữa, - Howard lại gãi bụng - Sáng nay có email từ tờ Yarvil và District Gazette. Họ muốn nghe quan điểm của bố về khu Fields. Với tư cách chủ tịch hội đồng khu.
- Bố đùa sao? Con nghĩ chính Fairbrother là người đưa ra vụ này...
- Phản tác dụng, hả? - Howard khoái trá đáp. - Họ đăng bài của ông ấy, nhưng cũng muốn đăng thêm ý kiến phản biện vào số kế tiếp tuần sau. Để có góc nhìn khác mà. Con giúp một tay thì tốt. Thêm mấy thuật ngữ kiểu luật sư, đại khái thế.
- Chuyện nhỏ thôi - Miles nói - ta có thể viết về cái trung tâm cai nghiện chết toi đó. Sẽ hiệu quả đấy.
- Phải, ý kiến hay, tuyệt vời.
Howard hưng phấn ngốn một miếng quá cỡ và phát sặc, Miles phải đập mạnh vào lưng cho ông bố bớt ho. Cuối cùng, vừa chấm chấm cặp mắt đầy nước, Howard vừa khào khào nói: “Anbrey đang kêu gọi quận cắt bớt ngân sách từ phía họ, bố sẽ vin vào đó yêu cầu chấm dứt cho thuê tòa nhà đó. Đưa vụ đó lên báo cũng chẳng hại gì. Phí biết bao nhiêu thời gian tiền bạc vào cái chỗ đấy mà chẳng được nước mẹ gì. Bố có đủ số liệu rồi đây.” Howard lại ợ một phát ầm ĩ - Nhục như chó. Xin lỗi.
III
Tối hôm đó, Gavin nấu một bữa ăn để mời Kay lại nhà, gã mở các lon đồ hộp và hăng hái nghiền tỏi như tấn công kẻ thù.
Sau lúc chiến tranh thì ta phải nói một số điều nhất định để đạt được thỏa thuận đình chiến, lệ là thế rồi, ai cũng biết. Gavin gọi điện cho Kay trên đường lái xe về sau đám tang của Barry, gã nói ước gì cô có mặt ở đó, rằng cả ngày hôm đó đúng là khủng khiếp, mong là tối nay gã được gặp cô. Gã cân nhắc nói ra mấy lời phải chăng, không nhiều không ít hơn cái giá phải trả cho một buổi tối có người bầu bạn.
Nhưng Kay xem trọng những lời ấy hơn nhiều trong tư thế của người chịu hạ giá ở lần tái đàm phán này. Anh nhớ em. Lúc buồn anh thực sự cần em. Anh rất xin lỗi vì ta không đi chung với nhau như một đôi. Thôi đừng để chuyện thế xảy ra nữa nhé. Từ lúc đó cách cô đối xử với Gavin có gì đó đầy thỏa mãn, cô hoạt bát vui vẻ trong niềm kỳ vọng mới nhen nhóm lại.
Tối nay gã muốn làm món mì Ý Bonlognese, gã cố tình không mua sẵn bánh pudding hay trải sẵn khăn bàn, cố tỏ cho cô thấy gã không hề đổ quá nhiều công sức chuẩn bị cho buổi tối này. Nhưng xem ra Kay không để ý tới, cô vẫn thấy nỗ lực bình thường đó thật đáng quý. Cô ngồi bên chiếc bàn nhỏ trong bếp, vừa nói chuyện giữa tiếng mưa lộp độp trên cửa sổ mái vừa nhìn quanh quất mấy món đồ bếp. Cô vốn không thường đến đây.
- Em đoán Lisa chọn màu vàng này, phải không?
Cô lại thế, lại phạm vào chủ đề cấm kỵ, cứ như gần đây quan hệ giữa họ đã tiến gần thêm một mức. Gavin không bao giờ muốn nhắc tới Lisa trừ khi bất đắc dĩ, hẳn cô đã biết thế rồi chứ? Gã rắc nắm kinh giới lên chỗ thịt băm trong chảo, đáp - Không, mọi thứ đều do người chủ cũ để lại. Anh cũng định mà chưa có giờ thay.
- Ồ - cô nhấp thêm ngụm rượu vang - màu đẹp mà. Hơi nhạt chút.
Gavin bực mình, gã luôn nghĩ nội thất ở Nhà Thợ Rèn chỗ nào cũng đẹp hơn nhiều so với căn nhà số 10 trên đường Hope. Gã quay lưng lại cô, nhìn nồi mì sôi lục bục.
- Anh biết sao không? - Cô lại lên tiếng - Chiều nay em gặp Samantha Mollison đấy.
Gavin ngoảnh lại, làm sao Kay biết Samantha Mollison được?
- Ngay bên ngoài hiệu thực phẩm chỗ quảng trường đấy, lúc em đi mua cái này. - cô búng nhẹ vào chai rượu đặt cạnh - cô ấy hỏi em có phải bạn gái của Gavin không.
Kay nhấn mạnh, vẻ trêu chọc, nhưng thực tình cô rất vui sướng khi nghe cái từ ấy từ miệng Samantha, cô nghĩ chắc Gavin giới thiệu mình với các bạn anh như thế.
- Rồi em nói sao?
- Thì, thì em nói là phải.
Cô tiu nghỉu đáp. Gavin không định bật ra câu hỏi ấy với vẻ gay gắt thế. Hẳn giọng gã tỏ rõ không muốn Kay và Samantha gặp nhau chút nào.
- Dù sao thì - Kay nói tiếp, giọng hơi sượng lại - cô ấy mời chúng mình cùng ăn tối vào thứ Sáu tới. Tức là tròn một tuần kể từ hôm nay.
- Đúng là chết tiệt! - Gavin cáu kỉnh bật ra.
Vẻ phấn khởi của Kay hoàn toàn biến mất.
- Có chuyện gì sao?
- Không. Không có gì - Gã nói, tay quậy mì - Chỉ là anh gặp Miles suốt giờ làm đã phát ngán rồi, thực sự thế.
Đó đúng là điều mà gã luôn lo sợ, rằng cô sẽ tìm cách len lách vào mạng lưới quan hệ xã hội của gã, biến gã với cô thành cặp đôi Gavin-và-Kay, thế thì càng khó mà gạt cô ra khỏi cuộc sống của gã. Sao gã lại để chuyện xảy ra thế này? Sao gã lại để cô dọn về đây chứ? Nỗi giận mình nhanh chóng chuyển sang cô bạn gái. Sao cô không chịu hiểu rằng gã đâu có khao khát cô đến thế, sao không tự dứt ra trước khi gã phải chơi bẩn đi? Gã chắt ráo mì trong bồn, lầm bầm chửi thề vì bị nước sôi văng trúng.
- Thế thôi anh gọi cho Miles với Samantha bảo “không” đi - Kay nói.
Giọng cô đã mất vẻ mềm mại. Theo đúng cái thói quen ăn sâu bắt rễ trong mình, Gavin vội vàng đẩy mâu thuẫn sắp bùng ra đi chỗ khác, mặc cho sau này ra sao thì ra.
- Không, đâu có - gã vừa đáp vừa thấm thấm chỗ áo ướt bằng cái khăn lau bát - Ta cứ đi thôi. Ổn mà. Cứ đi thôi.
Cái vẻ kém nhiệt tình che đậy của gã đặt sẵn một dấu mốc để sau này gã có thể lấy đó làm cớ. Em biết mà, lúc trước anh đâu muốn đi. Không, anh đâu có thích. Anh không muốn chuyện đó lặp lại lần nữa đâu.
Cả hai cùng chìm vào im lặng. Gavin cứ ngỡ lại sắp cãi nhau trận nữa nếu Kay lại ép gã nói cho ra ngô ra khoai mấy lý do thật sự đằng sau. Gã loay hoay tìm gì đó để nói, rồi bắt đầu kể cho cô nghe chuyện Mary Fairbrother và công ty bảo hiểm nhân thọ.
- Đúng là lũ khốn - gã kể - ông ấy bảo hiểm đầy đủ hết, thế mà bọn luật sư bên đó đang tìm cách để không trả tiền bảo hiểm đấy. Chúng nó đang dựng chuyện ông ấy không khai thật hết tình trạng của mình.
- Như thế nào?
- À thì, cũng có một ông chú trong họ bị chứng phình mạch. Bà Mary thề là ông Barry có báo cho đại lý bảo hiểm chuyện đó khi ký hợp đồng, nhưng trong hợp đồng lại chẳng thể hiện chi tiết này. Chắc tay đại lý đó không biết chứng đó có khả năng di truyền. Anh không biết Barry...
Giọng Gavin vỡ ra. Hoảng hốt và xấu hổ với cơn xúc động bất ngờ, gã chúi gương mặt nóng bừng xuống đĩa. Cổ họng gã nghẹn tắc đau xót, cố nuốt mãi không trôi. Có tiếng ghế Kay dịch chuyển trên sàn, gã hy vọng cô sẽ vào nhà tắm, nhưng rồi bàn tay cô đã quàng qua vai kéo gã vào lòng. Không nghĩ ngợi, gã cũng quàng một tay qua người cô.
Được ôm thật dễ chịu. Ước gì mối quan hệ giữa hai bên có thể cô rút lại thành những cử chỉ đơn giản không lời mà dễ chịu này. Sao con người lại học nói làm gì chứ?
Gã dây cả nước mũi vào lưng áo cô.
- Xin lỗi em - Gã nói giọng đặc nghẹt, lấy khăn ăn lau vết bẩn đi.
Gã nhấc mình khỏi người cô rồi xì mũi. Cô kéo ghế xích lại ngồi cạnh, đặt tay lên cánh tay gã. Gã yêu biết bao những lúc cô im lặng thế này, gương mặt cô dịu hiền quan tâm như thế này, như lúc này.
- Anh vẫn không thể nào... ông ấy là một tay rất được - gã nói - Barry ấy. Thực sự là rất tốt.
- Vâng, ai cũng nói vậy về ông ấy - Kay nhẹ nhàng.
Cô chưa bao giờ được gặp ông Barry Fairbrother nổi tiếng ấy, nhưng cô ngạc nhiên trước cơn xúc cảm của Gavin và cái người khiến gã phải xúc động đến thế.
- Ông ấy có vui tính không? - Cô hỏi, bởi cô hình dung người như Gavin sẽ bị hút bởi người có khiếu hài hước mạnh hay kiểu thủ lĩnh khua chiêng gióng trống, đạp đổ mọi rào cản.
- Ờ... anh nghĩ thế. Mà không hẳn. Cũng bình thường, ông ấy thích cười… nhưng ông ấy là một... một tay tử tế. Ông ấy quý mến con người, em hiểu không.
Cô đợi nghe thêm nhưng xem ra Gavin không còn gì để nói về cái tử tế của Barry nữa.
- Rồi còn bọn trẻ... và bà Mary... bà Mary tội nghiệp... Chúa ơi, em không hiểu đâu...
Kay vẫn vỗ về tay gã nhè nhẹ, nhưng sự cảm thông của cô đã nguội đi đôi chút. Không biết gì à, cô nghĩ, lẽ nào cô không hiểu một mình là thế nào sao? Không biết đơn thân cáng đáng gia đình là vất vả thế nào à? Sao gã không tội nghiệp cho chính cô đây?
- Khi trước họ hạnh phúc lắm - Gavin run giọng - bà ấy tan nát cả cõi lòng.
Kay im lặng vỗ mạnh hắn, như thể nói cô chưa bao giờ có quyền suy sụp.
- Anh không sao - gã nói, lấy khăn ăn chùi mũi rồi lại cầm nĩa lên. Gã hơi rụt tay lại rất kín đáo, tỏ ý đến lúc cô nên bỏ tay ra.
IV
Samantha mời Kay đến ăn tối phần vì muốn trả đũa, phần vì buồn chán. Cô xem đó là để trả miếng Miles vì anh chàng lúc nào cũng bận với những kế hoạch này nọ, đã không bàn với cô lời nào lại đi mong cô hợp tác; rồi xem anh ta thấy thế nào khi cô xếp đặt mọi sự mà không bàn trước với anh ta. Vả lại làm thế cô cũng trên cơ được Maureen và Shirley, hai con quạ già thóc mách đó đều háo chuyện riêng của Gavin nhưng gần như chẳng biết gì về quan hệ của anh ta với cô bạn gái London. Rốt cục cô cũng có dịp thử móng vuốt với Gavin vì tội lần chần chết nhát trong chuyện tình cảm; cô sẽ đặt thẳng vấn đề đám cưới trước mặt Kay, hoặc sẽ vờ bình luận kiểu thật mừng là cuối cùng Gavin cũng có ý định nghiêm túc lâu dài.
Dù sao đi nữa, cái kế hoạch hạ bệ kẻ khác đó của Samantha không vui như cô mong đợi. Lúc sáng thứ bảy, khi kể với Miles chuyện này, anh chàng tỏ ra hào hứng một cách dè dặt.
- Hay thế, ờ, lâu lắm rồi chưa mời Gavin ăn tối chung. Em làm quen với Kay cũng hay đấy.
- Sao thế?
- À thì, khi trước em luôn vui vẻ với Lisa mà, phải không?
- Kìa Miles, em ghét Lisa mà.
- Ờ, thì thôi… nhưng có khi em thích Kay hơn thì sao.
Cô lườm anh chồng, không biết cái thói hài hước này từ đâu ra. Lexie và Libby cuối tuần về nhà chơi gặp trời mưa đành ru rú trong phòng khách xem DVD ca nhạc; bản ballad lấy tiếng guitar làm chủ đạo dội vào căn bếp chỗ bố mẹ chúng đang đứng nói chuyện.
- Em này - Miles vung vẩy chiếc điện thoại - Aubrey muốn nói chuyện với anh về vụ hội đồng. Anh vừa gọi cho bố, rồi nhà Fawleys mời nhà ta tối nay cùng ăn cơm tối ở Sweetlove...
- Thôi cảm ơn - Samantha ngắt lời. Đột nhiên cô thấy trào lên cơn giận mà chính cô cũng không hiểu nổi. Cô bỏ ra khỏi phòng.
Suốt ngày, hai người họ hạ giọng cãi vã nhau khắp nơi trong nhà, cố không làm hỏng kỳ nghỉ cuối tuần của các con. Samantha vẫn khăng khăng giữ nguyên ý định mà không giải thích lý do. Miles ngại nổi cáu với vợ bèn chọn chiến lược thương thuyết bình tĩnh.
- Thế em không đến thì còn ra thể thống gì nữa, em nghĩ mà xem? - Anh nói lúc tám giờ kém mười tối, khi đứng ở cửa phòng khách, người đã đóng bộ sẵn sàng chuẩn bị lên đường.
- Đâu liên quan gì tới em đâu, Miles - Samantha hờ hững - anh mới là người đang tranh cử mà.
Cô khoái nhìn anh chần chừ bất quyết. Cô biết anh rất sợ đến trễ, nhưng vẫn mong thuyết phục được cô đi cùng.
- Em biết là nhà họ mong hai vợ chồng cùng đến mà.
- Thật à? Đâu có ai ngỏ lời mời em đâu.
- Trời ơi thôi mà em, Sam, em biết ý họ thế mà, họ coi đó là điều hiển nhiên...
- Thế thì họ càng vớ vẩn. Em đã nói rồi. Em không hứng vụ này đâu. Anh đi nhanh đi. Đừng có để Bố yêu với Mẹ yêu chờ.
Anh đi khỏi. Cô nghe tiếng xe de xuống đường rồi trở vào bếp, mở chai rượu và mang vào phòng khách kèm cái ly. Cô hình dung cảnh Howard, Shirley và Miles đang cùng ăn tối ở Dinh thự Sweetlove. Hẳn là nhiều năm rồi bà già Shirley mới được vài phút sung sướng thế.
Suy nghĩ của cô lại ngoặt sang chuyện viên kế toán lải nhải bên tai suốt tuần nay. Lợi nhuận đang sụt cho dù cô vờ vĩnh thế nào trước mặt Howard đi nữa. Bên kế toán còn nghiêm túc đề nghị đóng cửa tiệm và chuyển hướng tập trung kinh doanh qua mạng. Làm thế chẳng khác nào thừa nhận thất bại mà bây giờ Samantha không hề sẵn sàng tiếp nhận. Một phần vì bà Shirley sẽ tha hồ thích chí nếu cửa hàng bị dẹp. Lúc mới khai trương bà ta chê nó không tiếc lời. Mẹ rất tiếc, Sam, nhưng không phải gu của mẹ... kiểu cách hơi quá lố đấy... Nhưng Samantha yêu cái cửa hàng trang trí hai màu đen đỏ tại Yarvil, yêu cảm giác được đi khỏi Pagford hàng ngày, tán chuyện với khách hàng, buôn chuyện với cô trợ lý Carly. Nếu không còn cái cửa hàng cô đã bỏ công chăm sóc suốt mười bốn năm nay, thế giới của cô sẽ nhỏ bé đến đáng thương. Nói gọn lại là, chỉ còn quanh quẩn ở Pagford.
(Pagford. Pagford khốn kiếp. Samantha chưa khi nào định ăn đời ở kiếp tại đây. Cô và Miles đã bàn nhau dành hẳn một năm đi chơi trước khi bắt đầu cày cuốc, kiểu như du lịch vòng quanh thế giới. Hai người họ thậm chí đã vạch ra lộ trình, chuẩn bị xong Visa. Samantha đã mơ tới cảnh hai người tay trong tay dạo chân trần trên bờ biển Úc cát trắng. Rồi đột nhiên cô phát hiện mình có thai.
Cô đành phải hạ giá đi gặp anh ta ở nhà bố mẹ anh, chỉ một ngày sau khi thử que, một tuần sau ngày cô và anh tốt nghiệp. Họ đã định đi Singapore sau tám ngày nữa.
Samantha không muốn kể với Miles trong lúc ở nhà bố mẹ, cô sợ họ nghe được. Cô lúc nào cũng có cảm giác Shirley rình sau mọi cánh cửa mà Samantha mở ra tại căn nhà kiểu bungalow đó.
Thế nên cô đợi tới lúc họ cùng ngồi xuống góc bàn tối tại Black Canon. Cô nhớ quai hàm Miles cứng lại khi nghe cô kể; không hiểu sao anh trông già hẳn đi khi nghe cái tin đó.
Sau nhiều giây im lặng sững sờ, cuối cùng anh mở miệng: “Được. Vậy ta sẽ làm đám cưới.”
Anh bảo với cô anh đã mua sẵn nhẫn, rằng anh đã định tìm chỗ nào đó thật phù hợp, như đỉnh Ayers Rock chẳng hạn. Đúng là anh nói thật, khi họ trở lại nhà bố mẹ anh, anh moi ra trong balô ra cái hộp nhỏ giấu sẵn trong đó. Chiếc nhẫn nạm viên kim cương nhỏ mua tại hiệu kim hoàn ở Yarvil, anh mua nó bằng số tiền bà ngoại để lại. Samantha đã ngồi trên mép giường của Miles mà khóc, khóc mãi. Ba tháng sau, họ cưới nhau.)
Khi còn lại một mình với chai rượu, Samantha bật tivi. Màn hình hiện lên DVD ca nhạc mà Lexie và Libby xem khi nãy: Băng dừng tại cảnh bốn chàng trai trẻ mặc áo thun đang hát, trông họ đã hơi quá tuổi teen. Cô ấn nút play. Sau khi nhóm nhạc nam hát xong, DVD chuyển sang mục phỏng vấn, Samantha nhấp rượu, xem nhóm nhạc pha trò, trêu đùa nhau, rồi chuyển sang vẻ đứng đắn khi bày tỏ họ yêu quý người hâm mộ đến thế nào. Cô nghĩ giả mà có tắt âm thì cô vẫn nhận ra mấy cậu này là người Mỹ. Mấy hàm răng đẹp đến hoàn hảo.
Đã khá muộn. Cô tạm dừng đĩa, lên lầu bảo bọn trẻ thôi chơi Playstation và đi ngủ, rồi cô quay lại phòng khách, tiếp tục với chai rượu đã cạn ba phần tư. Cô không bật đèn, chỉ ấn nút play và tiếp tục uống. Khi đĩa DVD đã hết, cô lại bật từ đầu để xem đoạn chưa xem.
Có một cậu trong nhóm trông chững chạc hơn hẳn hai cậu kia. Cậu có vai rộng hơn, bắp tay nổi múi dưới tay áo thun ngắn, cái cổ dày khỏe và quai hàm vuông. Samantha ngắm nhìn cậu nhún nhảy, gương mặt điển trai tập trung hướng về phía ống kính toàn góc với cạnh, nổi lên cặp chân mày đen xếch.
Cô nghĩ tới chuyện làm tình cùng Miles. Lần gần đây nhất đã cách nay ba tuần rồi. Động tác của anh dễ đoán như cái điệu bắt tay của thành viên hội Tam điểm. Một trong những câu châm ngôn anh ưa thích là “cái gì không hỏng thì đừng sửa.”
Samantha trút nốt phần rượu còn trong chai ra cốc rồi tưởng tượng cảnh làm tình với cậu trai trên màn hình. Mấy hôm nay ngực cô khi đóng áo vào trông khá hơn, nhưng khi nằm xuống nó cứ chảy ra làm cô thấy mình phẳng lì và kỳ cục. Cô mơ tới cảnh mình bị ép vào tường, một chân co lên, váy vén lên tận bụng, cậu trai mạnh mẽ đó quần tụt tới đầu gối, háo hức khám phá...
Trong cảm giác lâng lâng gần như là hạnh phúc, cô nghe tiếng xe rẽ vào nhà, làn sáng đèn pha quét qua căn phòng khách tối om.
Cô dò dẫm mãi một lúc mới tóm được cái điều khiển chuyển kênh tin tức; cô nhét bừa chai rượu rỗng xuống dưới ghế sofa rồi nắm chặt lấy chiếc ly còn chút ít như điểm tựa. Cánh cửa trước mở ra rồi khép lại. Sau lưng cô, Miles bước vào nhà.
- Sao em ngồi trong bóng tối thế?
Anh bật đèn, cô ngẩng lên nhìn. Trông anh ta vẫn bảnh chọe như hồi mới ra khỏi nhà, chỉ có vai áo khoác lấm mấy giọt nước mưa.
- Bữa tối thế nào?
- Tốt đẹp mà - anh đáp - em không đi tiếc quá. Ông bà Aubrey và Julia đều lấy làm tiếc là em không đến được.
- Ờ, chắc chắn rồi. Cá là mẹ anh đến òa khóc vì thất vọng đấy nhỉ.
Anh ngồi xuống chiếc ghế bên phải cô, nhìn vợ chằm chằm. Cô gạt món tóc vương vào mắt.
- Chuyện này là thế nào vậy hả Sam?
- À, nếu anh còn chưa biết...
Nhưng chính cô cũng không biết chắc thật ra có chuyện gì, hay ít nhất, cô không biết làm sao diễn đạt cho mạch lạc cái cảm giác ức chế vì bị đối xử không ra sao này.
- Anh thấy vụ anh ra ứng cử hội đồng khu không...
- Ôi trời ơi, Miles! - Cô gào lên, hơi giật lui vì chính tiếng hét của mình.
- Thế em giải thích cho anh nghe đi - anh hỏi - anh ứng cử thì có ảnh hưởng gì tới em chứ?
Cô trừng trừng nhìn anh, cố tìm cách giải thích cho cái đầu óc luật sư mô phạm chỉ giỏi vạch ra chỗ hớ hênh trong lời nói mà không thấy nổi bức tranh toàn cảnh. Sao có thể nói cho anh hiểu được? Rằng cô thấy mấy cuộc nói chuyện vô tận giữa bố mẹ chồng về hội đồng khu chán như quỷ? Rằng chưa cần khoác thêm chuyện khu Fields (mà thật ra chẳng biết gì), thì bản thân con người anh bây giờ đã chán ngắt ra rồi, suốt ngày cứ nhai lại vinh quang từ hồi còn tham gia câu lạc bộ bóng bầu dục và khoe mẽ thành tích công việc.
- Đại để, em có cảm giác là - Samantha cất tiếng giữa căn phòng khách sáng lờ mờ - nhà ta đã đổi kế hoạch khác.
- Như thế nào kia? - Miles hỏi - Em định nói gì thế?
- Ta đã thống nhất là - Samantha chọn từ thật kỹ càng sau miệng ly run bần bật - khi các con đã học xong, ta sẽ cùng đi du lịch. Vợ chồng mình đã hứa với nhau điều đó, anh nhớ không?
Cơn điên giận và đau đớn từng xâm chiếm người cô khi Miles tuyên bố ý định ứng cử vào hội đồng khu chưa khi nào gợi cho cô nhớ tiếc năm du lịch từng bỏ lỡ ấy, nhưng vào lúc này, nó có vẻ đã trở thành vấn đề thực sự đối với cô; hay ít ra, nó là lý do gần nhất để nổ bùng nỗi phản kháng lẫn khát khao trong lòng.
Miles xem ra hoàn toàn bối rối.
- Em đang nói chuyện gì thế?
- Khi em mang bầu con Lexie - Samantha lớn tiếng - mình không đi du lịch được, rồi bà mẹ già nhà anh ép mình vội vội vàng vàng đám cưới, rồi ông bố kiếm được cho anh một suất ở hãng Edward Colllins, rồi anh nói “ta thỏa thuận thế”, rằng khi mấy đứa nhỏ trưởng thành, ta sẽ làm chuyện đó; ta sẽ đi thật xa và làm mọi thứ hồi xưa bỏ lỡ.
Anh chầm chậm lắc đầu.
- Đúng là chuyện mới đối với anh. Em đào từ chỗ quái nào ra thế?
- Miles, lúc đó mình ở Black Canon mà. Em báo với anh là em có bầu, rồi anh, trời ơi Miles, em nói với anh là em có bầu, rồi anh hứa với em, anh đã hứa...
- Em muốn đi nghỉ? - Miles ngắt lời - phải thế không? Em muốn đi chơi phải không?
- Không Miles, em không muốn đi nghỉ nghiếc gì hết, em muốn, anh không nhớ gì hết hả? Mình đã nói là sẽ dành hẳn một năm đi du lịch cùng nhau, khi các con đã trưởng thành.
- Ờ, thế được thôi - anh sốt ruột muốn kết thúc cho xong - Được thôi. Khi Libby mười tám tuổi, nghĩa là bốn năm nữa, ta lại bàn về chuyện này nhé. Anh thấy việc làm ủy viên hội đồng đâu có ảnh hưởng gì đâu.
- Thế hả, ngoài chuyện phải buồn chán như quỷ khi suốt ngày nghe anh với bố mẹ anh lải nhải về khu Fields trong khi hưởng nốt phần tuổi thọ trời cho còn lại...
- Tuổi thọ trời cho à - anh cười mỉa - thế trái với nó là...
- Nhảm nhí - cô nhổ toẹt - đừng có ra vẻ thông thái tởm đặc thế. Miles, chỉ bịp được bà mẹ anh thôi...
- Này, thật tình là anh vẫn chưa thấy vấn đề là ở đâu...
- Vấn đề hả - cô gào lên - vấn đề ở chỗ đây là tương lai của chúng ta đó Miles. Tương lai của chúng mình. Em không muốn chờ bốn năm nữa mới bắt đầu nói về chuyện đó, chết tiệt, em muốn nói ngay bây giờ.
- Anh nghĩ em nên ăn cái gì đi - Miles đứng dậy - em uống đủ rồi đấy.
- Chết toi nhà anh đi Miles.
- Thôi nhé, nếu em cứ chửi rủa cái kiểu đó...
Anh quay người bước khỏi phòng. Suýt chút nữa cô ném ly rượu trên tay vào lưng chồng.
Cái hội đồng đó, hễ đã vào là anh ta sẽ không bao giờ xin ra, anh ta sẽ không bao giờ từ bỏ cái ghế của mình, có cơ trở thành nhân vật tai to mặt lớn như ông bố mà. Anh ta sẽ lại tái nhiệm, lại long trọng thề hứa với thị trấn quê hương anh ta, lại cam kết gắn bó với cái tương lai hoàn toàn khác với tương lai anh từng hứa với vị hôn thê rối trí nức nở trên mép giường ngày xưa.
Lần cuối cùng họ bàn chuyện du lịch vòng quanh thế giới cùng nhau là khi nào? Cô không chắc. Lâu rồi, nhiều năm trước, chắc thế, nhưng tối hôm nay, Samantha đã quyết ý ít ra cô sẽ không thay đổi ý định. Phải, cô luôn trông đợi cái ngày họ có thể đóng gói hành lý và ra đi để tìm lại những nồng nàn và tự do, để cách thật xa Pagford, bà mẹ chồng, cửa hiệu Mollison và Lowe, những cơn mưa và cuộc sống tủn mủn lặp đi lặp lại. Có lẽ đã lâu rồi cô không còn quá khát khao khi mơ đến bãi biển cát trắng ở Úc hay Singapore, nhưng dù cặp đùi đã hóa nặng nề còn bụng nhão ra vì sinh đẻ, cô vẫn muốn tới đó hơn là ở đây, hơn là bị cầm tù trong cái thị trấn Pagford này để nhìn Miles từ từ biến thành người như bố anh.
Cô vật ra ghế sofa, mò tìm cái điều khiển rồi lại bật dĩa DVD của Libby. Vẫn nhóm nhạc ấy nhưng đã đổi thành trang phục đen trắng, đang vừa đi vừa hát dọc bãi biển dài vắng ngắt. Chiếc áo sơ mi của cậu trai vai rộng phật mở trong gió. Một vệt lông mỏng kéo dài từ rốn xuống mất hút trong quần jean cậu ta.
V
Alison Jenkins, phóng viên tờ Yarvil và District Gazette cuối cùng cũng tìm thấy căn nhà Krystal sống trong nhiều hộ mang họ Weedon khác. Chuyện này chẳng dễ dàng gì, vì địa chỉ này chẳng có ai đãng ký bầu cử và cũng không có số điện thoại bàn.
Hôm chủ nhật, Alison tự tìm đến đường Foley, nhưng lúc đó Krystal ra ngoài, còn Terri vì nghi ngờ và bất hợp tác không chịu nói khi nào con bé về, cũng không thừa nhận nó đúng là sống tại đây.
Krystal về nhà chỉ sau khi cô phóng viên đánh xe đi độ hai mươi phút, con bé lại cãi một trận với mẹ.
- Sao mẹ không nói cổ chờ hả? Cô đó sẽ phỏng vấn tui về khu Fields với mấy chuyện liên quan.
- Phỏng vấn mày ấy hả? Láo toét. Để làm cái quái gì chứ?
Vụ cãi cọ càng lúc càng to, Krystal lại bỏ ra ngoài sang nhà Nikki, chiếc di động của Terri nhét trong túi áo ấm. Con bé thường xoáy chiếc điện thoại này, và nhiều cuộc cãi vã giữa hai mẹ con bắt đầu chỉ vì mẹ nó đòi lại cái điện thoại, còn Krystal cứ vờ như không biết nó ở đâu. Krystal hơi hơi hy vọng cô phóng viên biết số điện thoại và sẽ gọi thẳng cho nó.
Điện thoại réo lên khi nó đang ngồi trong một quán café đông nghẹt ồn ào trong trung tâm mua sắm, kể với Nikki và Leanne nghe về vụ phóng viên.
- Lô? Cô là phóng viên hả?
- … ô... erri?
- Krystal đây. Ai đấy?
-… chị... mẹ... của cháu...
- Lô? - Krystal hét to. Nó lấy ngón tay bịt tai kia, len lỏi giữa mấy bàn café đông chật để ra chỗ yên tĩnh hơn.
- Dì Danielle đây - giọng phụ nữ đầu dây kia đã nghe rõ hơn - dì là chị của mẹ cháu.
- À thế - Krystal thất vọng.
Đồ quỷ cái hợm hĩnh - Mẹ nó lúc nào cũng nói thế khi nhắc tới tên dì Danielle. Krystal còn không nhớ đã từng gặp bà dì này chưa.
- Dì muốn báo tin về bà cố.
- Sao?
- Bà cố Nana Cath của cháu đấy mà - giọng Danielle có vẻ sốt ruột. Krystal bước ra chỗ ban-công nhìn ra sân trước trung tâm thương mại, đứng chỗ này tín hiệu rất rõ. Nó dừng lại.
- Bà bị làm sao? - Krystal hỏi. Nó nghe dạ dày hẫng sốc, hệt như hồi còn nhỏ nó nhảy lộn qua cái lan can y như cái trước mặt bây giờ. Độ chục thước dưới chân nó, đám đông vội vã đi lại, xách theo túi nhựa, đẩy xe nôi hay dắt theo con cái.
- Bà đang nằm ở bệnh viện Trung tâm Tây Nam. Bà đã nằm đó cả tuần rồi. Bà bị đột quỵ.
- Bà nằm cả tuần rồi hả? - Krystal hỏi lại, bụng nó hãy còn thốn lên - chẳng nghe ai nói gì cả.
- Thì bà không nói năng gì được rõ ràng nữa, nhưng bà có gọi tên cháu hai lần.
- Tên tui ấy hả? - Krystal hỏi, tay nắm chặt cái điện thoại.
- Phải. Dì nghĩ bà muốn gặp cháu. Bà bị nặng lắm. Bác sĩ ở đó nói có thể không hồi phục được đâu.
- Bà nằm khu nào? - Krystal hỏi, đầu óc lùng bùng.
- Mười hai. Khu bệnh nặng không tự phục vụ được. Giờ thăm bệnh là từ mười hai giờ đến bốn giờ, sáu giờ đến tám giờ, cháu nghe kịp chưa?
-Vậy...
- Dì phải đi cái đã. Dì chỉ báo cháu biết để có ghé thăm thì ghé. Thôi chào cháu.
Đường dây im bặt. Krystal nhìn sững khung kính, hạ điện thoại xuống. Nó dùng ngón cái bấm liên tục vào một phím cho đến khi cho đến khi thấy hiện lên chữ “khóa”. Dì nó đã từ chối không nhận cuộc gọi từ nó.
Krystal quay lại với Nikki và Leanne. Hai đứa lập tức biết có chuyện xảy ra.
- Đi thăm bà đi - Nikki nói, mở điện thoại xem giờ - Tới đó là độ hai giờ. Đi xe buýt ấy.
- Ờ - Krystal bần thần đáp.
Nó nghĩ tới chuyện về nhà tìm mẹ rồi cùng bà với Robbie đi thăm bà cố, nhưng mới năm ngoái mẹ với bà cố cãi nhau to một trận rồi tuyệt không liên hệ gì nữa. Krystal biết chắc phải tốn cả đống công thuyết phục mới kéo được bà mẹ vào bệnh viện, mà cũng không chắc bà cố có muốn gặp mẹ không nữa.
Bà bị nặng lắm. Bác sĩ ở đó nói có thể không hồi phục được đâu.
- Mày còn đủ tiền mặt không? - Leanne vừa hỏi vừa lục túi khi cả ba đang đi bộ ra trạm xe buýt.
- Có - Krystal cũng lục túi - Đáp xe tới bệnh viện chỉ cần một “tờ” thôi phải không?
Ba đứa vẫn đủ thời gian chia nhau điếu thuốc trước khi chiếc xe số hai mươi trờ tới. Nikki và Leanne vẫy vẫy tay, như thể nó đang đi tới chỗ nào vui vẻ lắm. Tới phút chót, đột nhiên Krystal phát hoảng, nó những muốn gào lên “đi với tao đi”, nhưng chiếc buýt đã rời trạm và hai đứa kia cũng đã quay đi, vừa đi vừa tám chuyện.
Chiếc ghế xe buýt phủ lớp vải cũ bốc mùi cọ vào người ran rát. Chiếc xe lăn bánh trên con đường dọc khu mua sắm đi bộ rồi rẽ phải vào phố lớn có những cửa hiệu đình đám nhất thị trấn.
Nỗi sợ vẫn đánh nhoi nhói trong bụng Krystal như có một bào thai nghịch ngợm. Nó biết bà cố Nana Cath ngày càng già yếu đi, nhưng vẫn mơ hồ mong bà có thể lột xác trở lại thời kỳ mạnh khỏe ngỡ như kéo dài vô tận; để tóc bà lại đen, lưng bà lại thẳng và trí nhớ của bà sắc sảo lại như miệng lưỡi bà. Con bé chưa khi nào nghĩ bà cố sắp chết, hễ nhớ tới bà là nó nghĩ tới sự dẻo dai không gì tổn thương nổi. Nếu có nghĩ tới chăng nữa, Krystal chỉ coi bộ ngực nhẽo và vô số nếp nhăn dọc ngang trên mặt bà là những vết sẹo đầy vinh quang trong suốt cuộc đấu tranh để tồn tại của bà. Trước giờ chưa có ai gần gũi Krystal chết vì tuổi già cả.
(Những người trong vòng quan hệ với mẹ đều chết trẻ, thậm chí có người chết trước khi gương mặt và cơ thể của họ kịp héo mòn đi vì thời gian. Cái xác mà Krystal tìm thấy trong nhà tắm năm lên sáu là của một người đàn ông trẻ tuổi, trắng ngần và đáng yêu như pho tượng, ít ra là trong ký ức con bé anh ta trông như vậy. Nhưng đôi lúc nó cảm thấy trí nhớ cũng hỗn loạn và không tin vào đó nhiều nữa. Thật khó mà biết phải tin vào điều gì. Khi còn nhỏ, nó thường nghe nhiều điều mà sau này người lớn chối biến. Nó thậm chí dám thề Terri từng nói rằng: “Đây là bố mày”. Nhưng rồi, rất lâu sau, bà lại nói “Đừng có ngớ ngẩn thế, bố mày đã chết đâu, chả ở Bristol, nghe chưa?” Thế là Krystal phải cố gắng nhồi lại vào đầu ý niệm về Banger, tên gã đàn ông họ cho là bố của nó.
Nhưng dù có thế nào thì sau lưng nó vẫn còn có bà cố Nana Cath. Nó từng trốn khỏi nhà bố mẹ nuôi để về với bà, bà lúc nào cũng dang tay chờ nó tại Pagford này, tấm lưới đỡ chắc chắn dù không lấy gì làm êm ái. Khi đó vừa trút xuống đầu Terri lẫn các nhân viên xã hội cơn thịnh nộ với hàng tràng chửi rủa, bà vừa dắt đứa chắt cũng đang gào thét cáu kỉnh hệt như thế về nhà.
Chính Krystal cũng không chắc nó yêu hay ghét căn nhà nhỏ trên phố Hope. Trong nhà xám bẩn và nồng mùi thuốc tẩy, làm người trong đó có cảm giác như bị giam cầm. Nhưng đồng thời nó rất an toàn, hoàn toàn an ổn. Không ai được bước chân qua cửa nếu Nana Cath chưa cho phép. Có mấy miếng xà phòng thơm loại cũ trong cái bình thủy tinh đặt góc cuối nhà tắm.)
Nếu cạnh giường bà cố lúc này có ai khác nữa thì sao nhỉ? Con bé không biết phân nửa họ hàng nhà mình, nó sợ gặp phải người lạ hoắc nào đó cùng chung máu mủ. Mẹ Terri có rất nhiều chị em cùng cha khác mẹ, kết quả những mối tình lăng nhăng chằng chịt của ông bố mà chính bà cũng chưa từng thấy mặt; nhưng Nana Cath vẫn cố kiên trì giữ mối liên lạc với đại gia đình xa cách mà con trai bà đã tạo ra. Lâu lắm rồi, thảng hoặc vài người họ hàng mà Krystal không quen xuất hiện ở nhà bà cố khi con bé có ở đó. Krystal nhớ họ nghiêng mắt nhìn nó ngờ vực và thì thầm gì đó về nó với bà cố; khi đó nó vờ như không nghe và đợi họ biến đi, khi đó bà cố sẽ lại là của mình nó. Nó đặc biệt ghét nghĩ rằng bà cố còn có những đứa cháu khác ngoài nó.
(Chúng nó là ai thế? Năm lên chín, Krystal vừa hỏi vừa ghen tị trỏ tay vào tấm ảnh lồng khung hình hai đứa bé trai mặc đồng phục trường Trung học Paxton đặt trên tủ ly nhà bà cố.
- Hai đứa chắt trai của bà đấy mà. - Bà Nana Cath nói - Đây là Dan, đây là Ricky. Anh họ cháu đấy.
Krystal không muốn đám anh em họ đó, cũng không muốn chúng xuất hiện trên nóc tủ ly nhà bà cố.
- Còn đó là đứa nào? - Nó chỉ tay vào con bé gái tóc vàng xoăn.
- Con gái của thằng Michael nhà bà, nó tên Rhiannon, trong hình là lúc nó năm tuổi đấy. Xinh nhỉ. Nhưng nó lại đi cưới một thằng mọi đen.
Chưa khi nào hình thằng Robbie xuất hiện trên tủ ly nhà bà.
Mày thậm chí không biết thằng cha nó là ai, phải không hả con đĩ? Tao không muốn dính gì tới mày nữa đâu. Tao quá đủ rồi, Terri, mày tự đi mà chăm sóc nó đi.)
Chiếc xe tiếp tục xuyên qua thị trấn, qua đám đông đi mua sắm chiều Chủ Nhật. Khi Krystal còn nhỏ, hầu như cuối tuần nào mẹ cũng dẫn nó lên khu trung tâm Yarvil, ấn nó vào xe đẩy dù nó đã quá tuổi cần ngồi xe từ lâu, đơn giản vì xe đẩy có khối chỗ giấu hàng ăn cắp, ví như nhét dưới chân đứa bé hay bỏ sau túi đặt trong giỏ dưới gầm xe.
Có khi Terri bắt tay Cheryl, người chị mà chị ta chịu nói chuyện, để cùng đi “ăn hàng” trong mấy cửa hiệu. Bà dì này cưới Shane Tully, nhà bà cũng ở khu Fields, cách nhà Terri bốn phố. Hai chị em gấu ó suốt, và cứ mỗi lần thế lại khiến xung quanh phát hoảng với mớ ngôn từ họ tuôn ra. Krystal không biết liệu nó với thằng Tully có phải “tham chiến” không, dù sao từ lâu nó cũng không màng để ý mấy vụ cãi cọ đó và vẫn nói chuyện với Dane mỗi khi hai đứa chạm mặt. Hai đứa từng ngủ với nhau một lần sau khi cưa hết chai rượu táo ở sân chơi năm mười bốn tuổi. Sau đó không đứa nào từng nhắc tới chuyện đó nữa. Krystal không chắc làm tình với anh họ có hợp pháp hay không, nhưng theo vài điều Nikki nói, con bé thấy có lẽ câu trả lời là không.
Xe buýt rẽ lên tuyến đường dẫn tới cổng chính bệnh viện Trung tâm Tây Nam rồi dừng cách chiếc tòa nhà khổng lồ hình hộp xám ốp kính độ hai mươi thước. Trước tòa nhà có vài mảng cỏ cắt tỉa gọn gàng, mấy cây nhỏ và cả rừng biển chỉ dẫn.
Krystal theo chân hai bà cụ cùng xuống xe buýt ở trạm này rồi đứng đó nhìn quanh, tay đút túi. Nó đã quên béng dì Danielle bảo bà nó nằm khoa nào, chỉ nhớ mỗi con số mười hai. Nó ra vẻ thờ ơ bước lại biển báo gần nhất rồi liếc mắt đọc ra vẻ nhân thể giết thời gian. Tấm biển dày đặc những dòng chữ khin khít với những từ phức tạp dài bằng cả cánh tay Krystal và hàng đống mũi tên chỉ trái chỉ phải chỉ chéo. Krystal đọc không thạo lắm, đứng trước cả đống chữ thế này làm nó thấy bị đe dọa và phát khùng. Sau nhiều cú liếc ngấm ngầm về phía mấy mũi tên, cuối cùng nó gút lại là chả có con số nào cả, thế là nó theo chân hai bà cụ tiến tới cánh cửa đôi bằng kính ở mặt tiền tòa nhà chính.
Phòng chờ đông đặc và còn rối hơn cả đám bảng chỉ dẫn. Có một cửa hiệu rộn rịp người ra vào ngăn cách với sảnh chính bằng tấm cửa sổ kéo dài từ trần lên sàn. Có mấy hàng ghế nhựa đầy người đang ngồi nhai bánh kẹp và quán café chật ních chỗ trong góc; giữa phòng có một quầy hình lục giác, mấy phụ nữ ngồi đó vừa kiểm tra trên máy tính vừa trả lời câu hỏi. Krystal tiến tới đó, tay vẫn đút túi.
- Khu mười hai ở đâu? - Krystal hỏi một nhân viên nữ bằng giọng không lấy gì làm thân thiện.
- Tầng ba - chị nhân viên đáp cộc lốc bằng giọng điệu tương tự.
Krystal tự ái không hỏi thêm gì nữa, nó quay người đi lòng vòng cho tới khi nhìn thấy thang máy đặt tận góc xa cuối phòng chờ và len vào một chiếc đang lên.
Con bé mất gần mười lăm phút để tìm khu cần tới. Sao họ không đặt con số kèm mũi tên chỉ dẫn mà lại ghi hàng đống chữ ngu ngốc làm quái gì nhỉ? Lúc đang miết giày thể thao ken két trên hàng lang phủ vải son xanh bạc màu, có người gọi tên nó.
- Ê Krystal?
Bà dì Cheryl dềnh dàng trong cái váy vải jean và áo nịt trắng chật căng, tóc nhuộm màu vàng chuối nhưng chân tóc đen đã lộ ra. Dì ta xăm mình từ đốt tay đến tận bắp tay trên dày mập, mỗi tai đeo hàng đống khuyên to như vòng treo rèm cửa. Tay dì cầm một lon Cô-ca.
- Đâu có buồn tới, hả? - Bà dì đứng dạng cặp giò không mang tất nom như lính gác.
- Ai chớ?
- Thì Terri. Mẹ mày không muốn tới hả?
- Mẹ còn chưa biết. Tui thì mới nghe. Dì Danielle gọi tới báo tui.
Cheryl giật khoen lon, hớp một hớp Cô-ca, cặp mắt nhỏ tí chìm lút trong gương mặt rộng bèn bẹt đầy đốm nám như miếng thịt bò muối của dì ta chòng chọc nhìn Krystal qua lon nước.
- Tao nói Danielle gọi mày khi biết chuyện. Bà nằm ba ngày trong cái nhà đó mà không ai biết cái mẹ gì. Tình trạng bây giờ. Chả mong nước mẹ gì nữa.
Krystal không hỏi Cheryl sao không chịu bước vài bước từ đường Foley tới nhà nó để báo tin cho Terri. Rõ ràng mấy chị em lại cãi cọ gì đó. Không cách gì mà hòa hảo được lâu.
- Bà nằm đâu rồi? - Krystal hỏi.
Cheryl dẫn đường, lê dép loẹt xoẹt trên cầu thang.
- Nè - Dì vừa đi vừa cất tiếng - có con nhà báo gọi tao hỏi về mày.
- Thiệt hả?
- Có cho tao số đây.
Krystal còn muốn hỏi thêm nhưng cả hai đã bước vào một khu cực kỳ yên tĩnh đến độ đột nhiên nó phát rét. Nó không ưa cái mùi này.
Hầu như chẳng thể nào nhận ra bà cố Nana Cath. Một bên mặt của bà dúm dó kinh khủng tới nỗi tưởng như các bắp thịt bị dây quấn kéo. Miệng bà nhệch về một phía, cả một bên mắt cũng xệ xuống. Khắp người bà nối ống, tay cắm kim. Khi nằm, bộ ngực biến dạng của bà nom càng lộ rõ. Tấm đắp người nhấp nhô ở những chỗ kỳ quặc như thể cái đầu biến dạng cắm trên cần cổ khẳng khiu kia ló ra từ cái thùng ton-nô.
Khi Krystal ngồi xuống bên cạnh, bà cố không nhúc nhích. Bà chỉ nhìn nó chằm chằm. Một bên tay khẽ run.
- Bà không nói gì, nhưng có gọi tên mày hai lần, hồi tối qua - Cheryl bảo, u ám nhìn qua vành lon nước.
Ngực Krystal thắt lại. Nó không biết nắm tay bà cố có làm bà đau không. Nó vươn tay ra chỉ còn cách tay bà độ gang tay, nhưng cuối cùng chỉ sờ vào tấm đắp.
- Rhiannon có ghé - dì Cheryl kể - John với Sue cũng ghé. Con Sue đang ráng tìm cách báo với Anne-Marrie.
Tim Krystal nảy lên.
- Đang ở đâu? - nó hỏi bà dì.
- Đâu đó chỗ đường Frenchay. Giờ nó có một đứa con rồi, mày biết chưa?
- Có, có nghe nói - Krystal đáp - nó tên gì?
- Đâu biết - Cheryl lại nốc nước ngọt.
Trong trường có đứa từng bảo nó: Ê Krystal, chị mày úp thúng rồi kìa! Hồi nghe tin đó nó rất vui. Nó sắp lên chức dì rồi, dù chưa bao giờ được thấy mặt đứa nhỏ. Từ trước đến nay nó luôn yêu quý Anne-Marrie, cô chị bị đưa đi trước khi Krystal ra đời. Cô chị sống động trong một chiều kích khác, như kiểu nhân vật cổ tích, cũng xinh đẹp và bí ẩn như người thanh niên chết trong phòng tắm nhà mẹ Terri.
Cặp môi Nana Cath mấp máy.
- Sao ạ? - Krystal hỏi, nó cúi gần xuống, vừa mừng vừa sợ.
- Bà muốn gì không hả bà? - Dì Cheryl nó hỏi to tới nỗi mấy vị khách thăm bệnh khác đang rì rầm trò chuyện phải ngoảnh lại nhìn.
Krystal nghe tiếng rít khò khè trong họng bà cố, nhưng dường như bà đang cố nói rõ một từ nào đó. Cheryl cũng cúi người phía bên kia giường, tay bám vào mấy thanh kim loại phía đầu giường.
- Ờmm... - Bà lắp bắp.
- Sao ạ? - Krystal và dì Cheryl đồng thanh hỏi.
Cặp mắt bà chuyển động vài milimét, cặp đồng tử kéo màng ướt át nhìn gương mặt trẻ trung nhẵn mịn của Krystal, miệng nó hé mở khi chồm người tới cạnh bà cố, vừa bối rối vừa mừng, vừa sợ.
- Chè.. è... - bà rặn giọng lào khào.
- Vẫn chả hiểu bà nói cái gì - bà dì ngoái lại oang oang giải thích với cặp khách thăm rụt rè giường bên - Ba ngày bị bỏ nằm trên sàn mà, làm quái gì mà không ra thế, hả?
Nước mắt dâng mờ mắt Krystal. Căn phòng với những cửa sổ cao nhòa nhạt thành những bóng và vệt sáng trắng; con bé như thấy lóe lên trước mắt ánh mặt trời rực rỡ rọi trên làn nước xanh thẳm vỡ vụn long lanh theo nhịp mái chèo lên xuống.
- Dạ - Nó thì thầm với bà cố - Được, con sẽ đi chèo thuyền, bà cố ạ.
Nhưng sẽ không còn nữa. Vì ông Fairbrother đã chết.
VI
- Mặt mày bị cái quái gì thế hả? Lại ngã xe đạp à? - Fats hỏi.
- Đâu có - Andrew đáp - lão Si đánh tao. Lúc tao cố bảo cho cái lão đít ngu ấy thủng vụ nhầm lẫn về Fairbrother.
Andrew và bố lúc đó đang lượm củi, chất đầy mấy giỏ thường đặt hai bên lò sưởi trong phòng khách. Simon lấy cả khúc gỗ nện vào đầu Andrew, xô nó ngã vập mặt xuống đống củi xước cả một bên má đầy mụn.
Sao mày dám nghĩ mày rành hơn tao vụ này, hả thằng lỏi chết toi? Nếu tao mà nghe mày hở ra lời nào về chuyện gì trong nhà này...
Con không có...
Thì tao sẽ lột da sống mày, nghe chưa? Sao mày dám chắc thằng cha Fairbrother không tháu cáy, hả? Chẳng lẽ chỉ thằng chó kia mới ngu tới mức để bị bắt hay sao?
Rồi không rõ vì tự ái, coi thường hay cơn cuồng tưởng sẽ hốt bạc một cách dễ dàng không bị thực tế phũ phàng đánh bay, Simon gửi luôn đơn ứng cử. Rồi cả gia đình sẽ bị bẽ mặt, chắc chắn thế.
Phá bĩnh. Andrew nghiền ngẫm từ này trong đầu. Nó muốn đẩy ồng bố từ cõi mơ vơ tiền như rác lộn nhào xuống đất. Nó tha thiết muốn làm chuyện đó nhưng phải cố làm sao để (thắng lợi mà không cần hy sinh vẫn là hơn) ông bố không bao giờ phát hiện ra kẻ nào đã khiến tham vọng của ông ta vỡ tan như bong bóng.
Nó không hé chuyện này với ai, kể cả Fats. Andrew chia sẻ với Fats hầu như mọi chuyện, nhưng chừa lại vài điều lớn lao đang choán chỗ trong tim óc nó. Háo hức ngồi bên thằng Fats với sự kích động khi dò tìm những hình ảnh kích dục trên mạng là một chuyện, nhưng thừa nhận cuộc nói chuyện nào của nó cũng có xu hướng lái về “đề tài Gaia Bawden” là chuyện khác. Cũng thế, ngồi trong Hốc Đá mà gọi ông bố là đít-ngu thì dễ lắm, nhưng Andrew giấu nhẹm chuyện mỗi khi ông bố nổi cơn là tay chân nó lạnh toát, dạ dày quặn cả lại.
Nhưng đã tới lúc thay đổi mọi thứ. Ban đầu nó chỉ bắt nguồn từ nỗi khát khao nicotine và người đẹp. Cơn mưa cuối cùng đã tạnh, ánh mặt trời mùa xuân nhợt nhạt chiếu sáng những ngấn bẩn như vảy cá trên cửa sổ xe buýt khi nó lắc lư xóc nảy trên những con đường hẹp của Pagford như mọi khi. Andrew ngồi gần cuối xe nên không thấy được Gaia, cô nàng đang ngồi phía trước giữa Sukhvinder và hai cô con gái mồ côi của Fairbrother vừa đi học trở lại. Suốt cả ngày Andrew hầu như chẳng có cơ hội gặp được cô nàng và buổi tối chán ngắt sẽ chỉ có những tấm hình nàng trên Facebook an ủi nó chút ít.
Khi chiếc buýt lăn vào đường Hope, Andrew chợt nhận ra hiện giờ bố mẹ nó đều không có nhà nên sẽ không biết con trai mình vắng mặt. Ba điếu thuốc Fats cho vẫn nằm nguyên trong túi áo trong; Gaia đã đứng lên sẵn để chuẩn bị xuống, vừa bám chặt vào thanh ngang ở sau ghế vừa mải mê nói chuyện với Sukhvinder Jawanda.
Sao không? Sao không chứ?
Andrew đứng dậy, khoác túi qua vai và khi xe buýt dừng hẳn, nó quả quyết bước dọc lối đi xuống xe theo hai cô gái.
- Gặp ở nhà nhé! - Nó ném lại một câu cho thằng Paul đang đực mặt nhìn khi đi ngang.
Andrew đặt chân xuống vệ đường đầy nắng, chiếc xe buýt lại ồn ĩ lên đường. Nó châm điếu thuốc, dõi theo Gaia và Sukhvinder qua bàn tay khum khum. Hai cô gái không về nhà Gaia ở đường Hope mà thong thả đi tới quảng trường. Vừa rít thuốc, Andrew vừa bất giác học theo cái vẻ hơi cau có của Fats, đứa giỏi phớt tỉnh nhất mà nó biết. Andrew đi theo đôi bạn, tận hưởng vẻ đẹp của mái tóc màu nâu đồng bồng bềnh trên vai Gaia, ngắm váy nàng lất phất theo nhịp hông đong đưa.
Khi tới quảng trường, hai cô gái chậm bước rồi tiến tới hiệu Mollison và Lowe với mặt tiền hào nhoáng nhất dãy: Những chữ cái màu xanh và vàng chạy ngang cửa trước, lại thêm bốn giỏ hoa treo. Andrew chùn chân lưỡng lự. Hai cô gái cũng dừng lại đọc kỹ tấm biển trắng nhỏ dán trên cửa sổ quán café mới rồi biến mấy sau cánh cửa hiệu thực phẩm.
Andrew dạo một vòng quanh quảng trường, đi qua quán rượu Black Canon và khách sạn George rồi cũng đứng lại trước tấm biển. Trên đó có vài hàng viết tay thông báo cần tuyển nhân viên làm việc cuối tuần.
Đám mụn trứng cá đúng là tai ác, nhất là vào lúc thế này, nó lo lắng nghĩ, dụi tắt điếu thuốc, đút phần thừa còn khá dài vào túi rồi theo chân Gaia và Sukhvinder vào bên trong.
Hai cô gái đang đứng cạnh chiếc bàn nhỏ chất đầy bánh yến mạch và bánh quy giòn đóng hộp chờ một ông khổng lồ đội mũ hai vành sau quầy nói chuyện với một khách hàng lớn tuổi. Nghe tiếng chuông cửa, Gaia ngoái nhìn.
- Chào - Andrew chào, miệng khô khốc.
- Chào - Cô bạn đáp lại.
Choáng ngợp vì sự táo bạo của chính mình, Andrew tiến lại gần hơn, chiếc túi đi học đeo trên vai đập vào cái kệ xoay đựng tài liệu hướng dẫn du lịch Pagford và Công thức nấu ăn kiểu miền Tây truyền thống. Andrew nắm lấy cái kệ giữ nó đứng vững rồi vội vàng hạ túi xuống.
- Bạn cũng tìm việc à? - Gaia thì thào hỏi bằng chất giọng London tuyệt diệu.
- Ừ - Andrew đáp - Cũng vậy hả?
Cô bạn gật đầu.
- Cứ đăng nó lên trang đề xuất đi Eddie - Howard nói với khách hàng, tiếng như lệnh vỡ. - Cứ đăng lên website đi rồi tôi sẽ đưa nó vào chương trình họp cho anh. Pagford Parish Council, mỗi từ đều viết nguyên nhé; chấm co, chấm UK, gạch ngang, trangdexuat. Hoặc vào đường dẫn là Pagford... - Lão đánh vần thật chậm, người đàn ông lôi bút giấy ra viết vội -... Parish...
Howard quét mắt qua ba cô cậu thiếu niên đang lặng lẽ đứng chờ cạnh chồng bánh quy thơm ngon. Cả ba đều mặc đồng phục có họa tiết nửa trái tim của Winterdown, đồng phục trường này cho phép thêm thắt tùy tiện tới mức chẳng ra dáng đồng phục gì nữa (khác hẳn đồng phục trường Thánh Anne gồm váy kẻ ô gọn gàng và áo khoác). Cô bé da trắng đẹp đến choáng váng như viên kim cương mài khéo nổi bật cạnh cô con gái bình thường nhà Jawanda, Howard không biết tên cô này, bên cạnh là cậu nhóc tóc nâu xỉn, da mặt cứ như núi lửa phun.
Vị khách cót két đẩy cửa bước ra, chiếc chuông lại rung lên.
- Các cháu cần gì - Howard hỏi, mắt chỉ nhìn Gaia.
- Vâng - Cô bé bước lên trước một bước - Nghe nói ở đây cần tuyển người ạ - Gaia chỉ vào tấm biển nhỏ đặt trong cửa sổ.
- À phải - Howard ngoác miệng cười. Vài ngày trước, cậu phục vụ làm cuối tuần vừa tuyển đã bỏ việc để đi làm trong siêu thị tại Yarvil. - Phải rồi phải rồi, muốn làm phục vụ phải không? Lương bổng thì thấp thôi, thứ Bảy làm từ chín giờ sáng tới năm giờ rưỡi chiều; Chủ Nhật từ mười hai giờ tới năm giờ rưỡi chiều. Hai tuần nữa là tiệm khai trương, có huấn luyện cho nhân viên mới. Cháu bao nhiêu tuổi rồi cưng?
Con bé thật hoàn hảo, hoàn hảo, đúng như lão tưởng tượng: Gương mặt trẻ trung, thân hình đâu ra đó; kiểu này mà mặc váy đen ôm sát và tạp dề trắng viền ren thì phải biết. Lão sẽ chỉ con bé cách mở ngăn để tiền và dẫn đi xem phòng kho; đùa cợt với nó chút đỉnh, và cho thêm chút tiền thưởng vào những ngày doanh thu tăng.
Howard lách ra khỏi quầy, phớt lờ Sukhvinder và Andrew, nắm lấy cánh tay Gaia dẫn cô bé đi qua chiếc cổng vòm giữa tiệm và quán café. Quán chưa có bàn ghế gì nhưng đã gắn quầy, trên tường lát bức tranh hai màu đen và kem với cảnh quảng trường hồi xửa xưa. Trong tranh là đám đông phụ nữ mặc váy phồng và đàn ông đội mũ cao, chiếc xe độc mã dừng ngoài cửa tiệm có dòng chữ “Mollison và Lowe” rõ ràng, cạnh đó là quán café nhỏ Ấm Đồng. Người họa sĩ đã linh hoạt biến đài tưởng niệm chiến tranh thành đài phun nước trang trí.
Andrew và Sukhvinder bị bỏ lại phía sau, lúng túng đứng đó, không khí giữa hai đứa thoáng mùi thù địch.
- À? Hai cháu cần gì?
Một bà già lòm khòm, tóc phồng đen nhánh ló ra từ căn phòng phía sau. Andrew và Sukhvinder lầm bầm bảo chúng đang đứng chờ, rồi Howard và Gaia cùng quay lại chỗ cổng vòm. Khi thấy Maureen, Howard buông tay Gaia ra, từ nãy giờ lão vẫn đãng trí nắm tay cô bé khi ra sức giảng giải công việc phục vụ cần làm những gì.
- Tôi tìm được thêm người giúp cho tiệm Ấm Đồng đây Mo - lão bảo.
- À thế hả - Maureen hau háu soi Gaia. - Cháu có kinh nghiệm gì chưa?
Nhưng Howard đã át giọng bà, lớn tiếng khoe với Gaia về hiệu thực phẩm, rằng lão muốn coi nó là một phần nhỏ tạo nên Pagford này, một nét đặc trưng nho nhỏ.
- Ba mươi lăm năm rồi đấy nhé - Howard trịnh trọng giới thiệu, nghiêm trang phớt lờ tấm tranh lát tường - Quý cô đây mới tới thị trấn, chị Mo à - lão bảo thêm.
- Hai cháu cũng đến xin việc phải không? - Maureen hỏi Sukhvinder và Andrew.
Sukhvinder lắc đầu, Andrew nhích vai kiểu nước đôi, nhưng Gaia đã bảo cô bạn - Nào, bạn nói sẽ thử mà.
Howard ngắm nghía Sukhvinder, rõ ràng cô bé này không mấy hợp với váy đen bó và tạp dề đăng ten, nhưng bộ óc linh hoạt và đầy ý tưởng của lão vẫn ráo riết cân nhắc mọi hướng. Nhận nó để cảm ơn ông bố, và phần nào kìm chân bà mẹ, đúng là món lợi không cầu mà được. Có lẽ phải xét tới những thứ khác nữa ngoài chuyện ngoại hình đẹp xấu đơn thuần.
- Thế này nhé, nếu công việc làm ăn ổn thỏa, thì có khi bác sẽ thuê cả hai phục vụ - lão nói, gãi gãi cằm và liếc nhìn Sukhvinder, con bé đang đỏ mặt nhưng trông chẳng dễ thương thêm chút nào.
- Cháu không... - Sukhvinder lên tiếng nhưng Gaia đã giục giã.
- Làm đi. Cùng với mình.
Sukhvinder bối rối, mắt bắt đầu ầng ậng nước.
- Cháu...
- Nhận đi - Gaia thì thầm.
- Cháu... được ạ.
- Thế sẽ cho cháu thử việc nhé, cô Jawanda - Howard nói.
Sukhvinder nghẹn cả thở vì sợ. Rồi mẹ nó sẽ nói gì đây?
- Thế cháu đang tìm chân phụ việc phải không? Howard ầm ĩ quay sang Andrew.
Phụ việc?
- Ở đây cần người phụ mấy việc nặng, anh bạn nhé - Howard nói, Andrew bối rối chớp chớp mắt, nó chỉ đọc mỗi phần tiêu đề viết lớn trên tấm biển. - Mang hàng vào kho, khuân sữa từ dưới hầm lên, đưa mấy túi rác ra đằng sau. Thuần là việc chân tay thôi. Cháu nghĩ làm nổi không?
- Vâng, có - Andrew đáp. Thế là nó được ở đây cùng Gaia phải không? Đó là điều duy nhất quan trọng.
- Cháu phải đến sớm đấy. Có lẽ độ tám giờ. Trước mắt thì cháu làm từ tám giờ sáng tới ba giờ chiều, rồi xem thế nào. Thử việc hai tuần.
- Vâng, được ạ - Andrew đáp.
- Cháu tên gì?
Khi nghe câu đáp, Howard nhướng mày.
- Thế Simon là cha cháu phải không? Simon Price?
- Vâng.
Andrew đâm mất bình tĩnh. Thường đâu ai biết bố nó là ai.
Howard bảo hai cô bé quay lại vào chiều Chủ Nhật, lúc đó kết quầy thu ngân xong lão sẽ có thời gian rảnh chỉ bảo hai đứa. Ông chủ có vẻ còn muốn chuyện trò thêm nữa với Gaia nhưng một khách hàng vừa bước vào, mấy cô cậu liền nhân cơ hội đó lách ra ngoài luôn.
Khi cả ba đã ở bên ngoài chiếc cửa kính gắn chuông leng keng, Andrew không biết nên nói gì, nhưng trước khi nó kịp sắp xếp xong ý tứ thì Gaia đã hờ hững buông một tiếng “bye” rồi quay đi cùng Sukhvinder. Andrew châm điếu thuốc thứ hai Fats cho (Không có thì giờ lục tìm mẩu thuốc hút dở) để có cớ đứng nguyên đó nhìn cô bạn bước đi, bóng đổ dài.
- Sao tụi nó gọi cậu ta là “Củ Lạc” thế? - Gaia hỏi Sukhvinder khi cả hai đã cách Andrew một quãng đủ xa.
- Cậu ta bị dị ứng - Sukhvinder giải thích. Nó đang chết khiếp trước viễn cảnh phải báo với mẹ chuyện mình vừa làm. Giọng nó lạc đi như của người khác - Hồi ở trường Thánh Thomas, cậu ta có lần suýt chết. Đứa nào đó nhét một hột lạc vào miếng kẹo dẻo.
- À thế hả - Gaia đùa - thế mà tưởng do thằng nhỏ của cậu ta bé tí chứ.
Gaia phá ra cười, Sukhvinder gượng cười theo, vờ như suốt ngày toàn nghe đùa bỡn về của quý của tụi con trai.
Thấy hai cô gái đều ngoái lại liếc nhìn mình mà cười, Andrew biết họ đã nói về mình. Cười là có hy vọng rồi, dù sao nó hiểu bọn con gái đủ nhiều để biết thế. Andrew cũng nhe răng cười vô cớ với bầu không khí mát lạnh rồi túi khoác vai, tay cầm điếu thuốc, nó băng ngang qua quảng trường về phố Church Row, từ đó mất thêm bốn chục phút leo dốc lên Nhà Trên Đồi.
Hàng rào căn nhà trắng mờ mờ ma quái trong ánh hoàng hôn; hai bên nhà những bụi mận gai đang nở rộ; đám hoa dại màu vàng dọc lối vào nhà mang những chiếc lá hình tim tí xíu sáng bóng. Hương hoa cỏ, cảm giác dễ chịu vì điếu thuốc và viễn cảnh cuối cùng được ở cạnh Gaia, tất cả hòa trộn với nhau thành khúc nhạc đẹp đẽ phấn chấn rộn lên trong lòng Andrew khi nó hổn hển leo đồi. Lần sau, khi bố Simon hỏi: “Mày có việc làm chưa hả thằng mặt pizza?” nó đã có thể đáp “rồi”. Andrew sắp trở thành đồng nghiệp với Gaia mỗi cuối tuần.
VII
Sau khi cơn hứng đùa ác đã xẹp, Samantha đâm ra cay đắng vì trót mời Kay và Gavin đến dự tiệc. Suốt sáng thứ Sáu, cô cười đùa với cô trợ lý về buổi tối “khủng khiếp” không tránh khỏi, nhưng tâm trạng cô xìu xuống ngay khi rời tiệm, để Carly một mình coi sóc Tiệm Áo Lót Cho Siêu Ngực “Hot” (Lần đầu nghe cái tên này Howard cười khiếp đến nỗi lên cơn suyễn, từ đó trở đi hễ nghe tới nó là bà Shirley lại cau mày). Cô tranh thủ lái xe về Pagford trước giờ cao điểm để ghé tiệm mua vài thứ nguyên liệu nấu nướng, Samantha gắng tự xốc lại tinh thần bằng cách nghĩ sẵn mấy câu hỏi xoáy Gavin. Có khi cô sẽ làm bộ tự hỏi sao Kay không tới với anh ta, câu này hay đây.
Trên đường từ quảng trường về nhà, tay xách lỉnh kỉnh túi lớn túi nhỏ mua ở tiệm Mollison và Lowe, cô gặp Mary Fairbrother đang đứng cạnh máy rút tiền gắn ở vách tường ngân hàng Barry làm khi trước.
- Ồ, Mary... chị khỏe không?
Mary trông xanh xao hốc hác, mắt thâm quầng. Cuộc nói chuyện giữa hai người nghe xa cách và kém tự nhiên. Kể từ sau chuyến đi chung trên xe cấp cứu, Samantha chỉ trao đổi với cô ta vài lời chia buồn ngắn ngủi vụng về hôm đám tang.
- Tôi đang định ghé qua nhà anh chị đây - Mary lên tiếng - anh chị tốt với tôi là thế, với lại tôi muốn cảm ơn Miles...
- Không cần đâu - Samantha lúng túng đáp.
- Ồ, nhưng tôi định...
- À vậy thì, xin mời cứ...
Sau khi Mary đi khỏi, Samantha giật mình thấy hình như cô vừa làm Mary ngỡ rằng đến luôn tối đó thì tiện nhất.
Khi về đến nhà, cô bỏ mớ túi trong hành lang rồi điện lên công ty báo cho Miles vụ vừa rồi, anh vẫn kìm chế nhưng rõ ràng khá cáu kỉnh trước cảnh có thêm bà góa chen vào bữa tối tay bốn của họ.
- Không sao đâu, thật đấy - anh bảo - Mary có dịp ra ngoài thì cũng tốt.
- Nhưng em chưa nói có Gavin và Kay đến...
- Mary quý Gav mà - Miles ngắt lời - không lo đâu.
Hẳn là anh ta cũng “xoắn” đấy, Samantha nghĩ, chỉ giả vờ giả vịt thôi, rõ ràng muốn trả đũa cô vụ không chịu tới Dinh thự Sweetlove lần trước đây mà. Sau khi gác máy, cô cân nhắc chuyện gọi cho Mary bảo chị ta tối nay đừng đến nhưng lại sợ thất lễ, đành miễn cưỡng mong cô ta tự thấy không nên đến vậy.
Cô bỏ vào phòng khách, bật đĩa DVD nhóm nhạc nam của Libby lớn hết cỡ để trong bếp vẫn nghe được, rồi xách đống túi vào sửa soạn làm món thịt hầm và bánh sôcôla kiểu Mississippi, loại bánh này không mất nhiều công sửa soạn. Cô định mua một chiếc ga-tô lớn ở tiệm Mollison và Lowe để đỡ mất công nhưng thể nào chuyện đó cũng đến thẳng tai bà mẹ chồng, bà này vốn đã hay chê Samantha quá phụ thuộc vào đồ đông lạnh và thức ăn làm sẵn.
Samantha thuộc cái đĩa nhạc ấy đến nỗi giờ đứng trong bếp nghe nhạc cô cũng mường tượng ra được cảnh quay tương ứng. Cô xem đi xem lại đĩa này nhiều lần trong tuần khi Miles lên lầu làm việc hay nói chuyện điện thoại với bố. Khi nghe đoạn dạo đầu bài nhạc có cảnh cậu trai cơ bắp bước đi dọc bãi biển, áo sơ mi phất phơ, cô đeo nguyên tạp dề bước ra xem, vô thức mút mát những ngón tay đầy sôcôla.
Cô định tắm một trận thỏa thích trong khi Miles dọn bàn, quên mất rằng anh sẽ về trễ vì phải lái xe đến Yarvil đón hai cô con gái đang học trường Thánh Anne. Khi nhớ ra lý do chồng mình còn chưa có mặt ở nhà lúc này và lát nữa hai cô con gái cũng sẽ về cùng, cô vội vội vàng vàng tự chuẩn bị phòng ăn rồi tìm gì đó cho Lexie và Libby dằn bụng trước khi khách tới. Lúc bảy giờ ba mươi, Miles về tới nhà vẫn thấy cô vợ còn mặc nguyên đồ đi làm, mồ hôi nhễ nhại, rối mù và có vẻ như sắp sửa nổi cáu với anh vì chuyện do chính cô gợi ý trước.
Cô con gái mười bốn tuổi Libby không buồn chào mẹ, đi thẳng vào phòng khách rút đĩa nhạc ra.
- Ồ may quá, con đang không biết bỏ nó đâu rồi - Cô bé nói - Sao tivi mở thế ạ? Mẹ đang mở đĩa à?
Đôi lúc Samantha thấy cô con gái nhỏ xét nét cô như bà mẹ chồng.
- Mẹ đang xem tin tức mà Libby. Làm gì có giờ xem DVD. Vào đây đi, pizza cho con xong rồi này. Nhà ta sắp có khách đấy.
- Lại pizza đông lạnh nữa hả?
- Miles! Em phải thay đồ! Anh nghiền khoai tây cho em nhé? Miles?
Nhưng anh đã biến lên lầu, Samantha đành tự nghiền khoai, mấy cô con gái ngồi ăn ngay bàn bếp. Libby dựng vỏ đĩa DVD lên cốc Pepsi ăn kiêng của mình mà nhìn chòng chọc.
- Mikey sao mà trông ngonnn thếee - Con bé rên lên đầy khoái cảm làm Samantha phải giật mình, nhưng cậu trai cơ bắp tên Jake mà. Tự nhiên cô thấy vui vui vì hai mẹ con không thích cùng người.
Lexie đang tự tin liếng thoắng chuyện trường chuyện lớp, tuôn ra cả tràng liên thanh về hàng loạt cô bạn mẹ nó không quen cùng đủ trò trêu đùa hiềm khích kéo bè kéo nhóm của chúng nó, Samantha chịu không nghe kịp.
- Thôi đủ rồi, hai đứa, mẹ phải thay đồ đã. Ăn xong thì dọn cho mẹ, nhé?
Cô vặn nhỏ lửa nồi thịt hầm rồi vội vã lên lầu. Miles đang đứng trước cái gương gắn trên tủ quần áo cài nốt cúc áo sơ mi. Căn phòng nồng mùi xà phòng và nước xoa mặt.
- Mọi thứ xong xuôi ổn thỏa hết chưa cưng?
- À cảm ơn anh hỏi thăm nhé. Mừng là anh kịp về đúng giờ để tắm - Samantha bật lại, kéo ra chiếc váy dài ưa thích và áo đi kèm rồi dập cửa tủ.
- Thì giờ em cũng tắm một cái đi.
- Mười phút nữa là họ tới rồi, làm gì kịp thời gian sấy tóc với trang điểm nữa chứ - Cô đá văng đôi giày đang mang, một chiếc va vào lò sưởi kêu đánh bộp - Anh tỉa tót xong rồi thì làm ơn xuống lầu chuẩn bị đồ uống đi nhé?
Khi anh chồng ra khỏi phòng rồi, cô vội vàng chải gỡ mái tóc dày và chuẩn bị đồ trang điểm. Trông cô chẳng ra làm sao. Thay đồ xong xuôi rồi cô mới thấy mình mặc áo ngực không hợp với phần áo trên bó sát. Cuống cuồng bới tìm hồi lâu cô mới nhớ ra cái áo phù hợp lại đang phơi trong phòng giặt. Cô vội chạy ra đầu cầu thang nhưng chuông cửa đã reo. Vừa văng tục cô vừa vội vàng chạy ngược vào phòng ngủ. Phòng Libby dội ra bài hát của nhóm nhạc nam.
Gavin và Kay đến đúng tám giờ, anh chàng vốn sợ bị Samantha châm chích nếu đến trễ. Gã tưởng tượng có khi chị chàng cho rằng họ mải lăn lộn vui thú đến quên cả thời gian, hoặc không thì hẳn vừa cãi nhau. Hình như chị ta nghĩ hễ có gia đình rồi là có quyền bình luận và chen vào đời sống tình cảm của mấy kẻ độc thân thì phải. Chị ta còn nghĩ cái thói ăn nói thô tục tùy tiện, nhất là khi có rượu vào, là hài hước lắm.
- Xin chàooo, xin chàoooo - Miles hồ hỏi, lui lại cho Gavin và Kay bước vào. - Mời vào mời vào. Chào mừng đến với nhà Mollison.
Anh hôn cả hai má Kay rồi đỡ lấy hộp sôcôla cô đang cầm.
- Mang cho chúng tôi phải không? Cảm ơn nhiều lắm nhé. Cuối cùng cũng hẹn được hai người một bữa tử tế. Cậu Gav giấu cô kỹ quá đấy.
Miles chộp lấy chai rượu từ tay Gavin rồi vỗ bộp vào lưng anh này làm Gavin hết sức bực bội.
- Nào, qua đây. Sam xuống ngay đấy. Hai người uống gì nào?
Cũng dễ hiểu là Kay thấy Miles cố vẻ thơn thớt và thân mật quá đáng, nhưng cô quyết định tạm khoan hẵng đánh giá. Các cặp đôi phải học cách hòa trộn vòng quan hệ cá nhân với nhau và học cách ứng xử hòa hợp. Tối hôm nay đánh dấu bước tiến lớn trong công cuộc len lách vào mảng cuộc sống mà Gavin chưa khi nào nhìn nhận cô, cô muốn cho anh thấy mình vẫn cư xử tự nhiên trong căn nhà to hào nhoáng này của Mollison, và anh không cần phải gạt cô ra rìa nữa. Thế là cô cười đáp lại Miles, nói muốn một cốc rượu vang đỏ và ngỏ lời khen ngợi căn phòng rộng rãi có sàn lót ván gỗ thông để mộc, bộ sofa đệm dày lút êm ái và những bức tranh in lồng khung.
- Chúng tôi ở đây, ờ, đến nay là mười bốn năm rồi đấy - Miles nói, loay hoay với đồ khui rượu - Cô ở phố Hope phải không nhỉ? Mấy căn nhà ở đó nhỏ nhắn mà đẹp, có vài chỗ mà chịu đầu tư sửa sang là ăn tiền lắm đấy.
Samantha xuất hiện, mỉm cười lạt lẽo. Kay lần trước gặp Samantha khi cô ta quấn trong áo khoác, giờ mới để ý cái áo da cam căng ních hằn rõ từng chi tiết của chiếc áo ngực viền ren bên dưới. Mặt cô ta còn rám nâu hơn phần ngực trông như da thuộc; mắt đánh quá dày trông thật giả tạo, đôi bông tai vàng lủng lẳng kèm đôi dép cao gót vàng chóe trông diêm dúa mà rẻ tiền. Samantha gây cho cô ấn tượng rằng chị ta thuộc kiểu đàn bà ban đêm hay ra ngoài tụ bạ ầm ĩ, khoái trò múa thoát y và say xỉn đong đưa với chồng bất kỳ ai trong bữa tiệc.
- Chào mọi người - Samantha mỉm cười với Kay và hôn nhẹ Gavin. - Hay quá, mọi người bắt đầu uống rồi. Miles ơi, em cũng muốn một ly giống Kay.
Cô lùi lại ngồi xuống ghế, đã kịp đánh giá vị khách nữ trước mặt: Kay có ngực nhỏ, hông dày, rõ ràng cô này chọn mặc quần đen để giấu bớt cặp mông. Samantha nghĩ cô ta chân ngắn thế thì nên đi giày cao gót, nhìn đỡ hơn. Mặt cô ta cũng khá được, da màu ô-liu mịn màng, mắt đen to, miệng rộng. Thế nhưng mái tóc cắt ngắn như con trai và đôi giày đế bằng sát đất cho thấy hẳn cô này thuộc kiểu bó cứng với một số quan niệm bất di bất dịch. Rước về cô nàng khô khốc độc tài kiểu này thì đời anh chàng Gavin lại khốn khổ thôi.
- Thế - Samantha hào hứng nâng cốc - Vì Gavin và Kay.
Cô thỏa mãn nhìn Gavin nhăn mặt gượng cười, nhưng cô chưa kịp hành hạ anh chàng thêm hay khai thác vài chuyện riêng tư để nhấp nhử trước mũi Shirley và Maureen thì chuông cửa lại réo lên.
Mary trông yếu đuối và gầy guộc, nhất là khi đứng cạnh Miles, anh này đưa vị khách mới đến vào phòng. Chiếc áo thun như mắc lõng thõng trên xương quai xanh nhô cả ra.
- Ồ - cô sững lại trên bậc cửa - tôi không biết nhà ta đang có...
- Gavin với Kay vừa ghé qua thôi mà - giọng Samantha hơi suồng sã. Vào đi, chị Mary, mời vào... dùng một ly.
- Chị Mary, đây là Kay - Miles giới thiệu - Kay, đây là chị Mary Fairbrother.
- Ồ - Kay hơi lúng túng, cô cứ ngỡ chỉ có bốn người bọn họ - Vâng, chào chị.
Gavin vỗ vỗ chỗ ngồi cạnh mình trên sofa, gã thấy rõ Mary không hề có ý định dự vào bữa tiệc tối thế này và đang nhấp nhỏm quay lui. Cô ngồi xuống với nụ cười yếu ớt. Gặp cô gã mừng như vớ được cọc. Cô ta là tấm chắn của gã, ngay cả Samantha cũng phải thấy rằng cái món đùa bỡn sở trường đầy nhục dục của cô không thích hợp phô bày trước người đàn bà vừa mất chồng; thêm nữa cái thế hai-cặp-đôi vừa khít giữa bốn người bọn họ đã bị phá vỡ.
- Chị thế nào? - gã khẽ hỏi - tôi đang định gọi cho chị, thật đấy... vụ bảo hiểm có tiến triển rồi...
- Mình không có gì để nhấm nháp sao Sam? - Miles hỏi.
Samantha cáu kỉnh bỏ ra khỏi phòng. Vừa mở cửa nhà bếp, mùi thịt cháy sém đã xộc ra nồng nặc.
- Ối, chết tử chết tiệt...
Cô đã hoàn toàn quên khuấy món thịt hầm, giờ nó đã khô cạn nước. Vài mẩu thịt và rau còn sót lại nằm trơ trọi dưới đáy nồi cháy đen. Samantha đổ vội rượu vang với nước dùng vào, lấy muỗng cạy phần dính đáy nồi, quậy lia lịa, toát cả mồ hôi vì nóng. Giọng cười chói lói của Miles vọng ra từ phòng khách. Samantha bỏ vội cây bồng cải xanh vào nồi hấp, nốc sạch cốc rượu, xé một túi bánh bột bắp giòn và hộp xốt hạt đậu rồi đổ vội vào mấy cái bát.
Lúc trở lại phòng khách, cô thấy Mary và Gavin vẫn đang thấp giọng trò chuyện ở ghế sofa, còn Miles đang cho Kay xem một bức ảnh thị trấn Pagford lồng khung đã chỉnh sửa kha khá, lại lên lớp cho cô này cả một bài về lịch sử thị trấn. Samantha để mấy cái tô xuống bàn café, tự rót thêm một ly rồi ngồi xuống ghế, không buồn tham gia cuộc nói chuyện nào. Có Mary ở đây thật khó chịu, cái không khí tang thương quanh chị ta nặng tới nỗi tưởng như Mary kéo theo tấm vải liệm khi bước vào. Chắc hẳn chị ta sẽ biết điều mà về trước khi dọn bữa.
Gavin thì nhất định giữ Mary lại. Khi bàn về những tiến triển mới nhất trong cuộc tranh chấp với công ty bảo hiểm, gã thấy tự chủ và thư giãn hơn nhiều so với những lúc khác có mặt Miles và Samantha. Không ai đâm chọc hay ra vẻ kẻ cả với gã, và nhờ Miles mà tạm thời gã không phải lo gì đến Kay.
-... Và ngay ở đây, trong hình không thấy đâu - Miles say sưa nói, chỉ tay vào một điểm cách khung ảnh độ vài centimét, là Dinh thự Sweetlove của nhà Fawley, Trang viên xây theo phong cách thời nữ hoàng Anne, có cửa sổ giếng trời, góc tường ốp đá... tuyệt vời lắm, cô nên đi tham quan xem, nhà mở cửa cho công chúng vào xem vào các Chủ Nhật trong dịp hè đấy. Nhà Fawley, một thế gia vọng tộc ở địa phương.
Cái gì mà “Góc tường ốp đá” với cả “thế gia vọng tộc địa phương?”, đúng là đồ con lừa!
Samantha nhấc mình khỏi ghế quay vào bếp. Giờ món hầm đã có nước nhưng mùi khét cháy vẫn nồng. Món bông cải xanh mềm nhũn và nhạt nhẽo; khoai tây nghiền đã khô mặt và lạnh ngắt. Chán không buồn quản nữa, cô múc các món ra đĩa rồi đặt phịch xuống bàn ăn theo hình vòng tròn.
- Bữa tối xong rồi đây - Cô gọi với lên phòng khách.
- Thôi tôi đi đây - Mary đứng bật dậy - tôi không định...
- Ấy chớ, ấy chớ - Gavin nói bằng cái giọng vừa dịu dàng vừa mơn trớn mà Kay chưa từng nghe thấy trước đây - chị ăn chút ít sẽ khỏe hơn đấy, bọn trẻ tự chăm sóc nhau ở nhà thêm độ một tiếng cũng không sao đâu.
Miles cũng chèo kéo, Mary do dự liếc mắt nhìn Samantha, cô này cũng đành phải góp lời mời theo rồi quay vội vào phòng ăn bày thêm một phần ăn nữa.
Cô mời Mary ngồi giữa Gavin và Miles, vì nếu để cô ta ngồi cạnh phụ nữ thì xem ra cái sự vắng-chồng của Mary càng rõ hơn. Kay và Miles đã chuyển sang chủ đề công tác xã hội.
- Tôi chẳng ghen tị với cô chút nào đâu Kay ạ - anh vừa nói vừa múc cho Kay một muôi đầy thịt hầm, Samantha có thể thấy vài vụn cháy nồi còn lẫn trong nước hầm loang ra cái đĩa trắng - Việc nhọc chết người đi.
- À vâng, chúng tôi lúc nào cũng thiếu thốn đủ thứ - Kay đáp - nhưng có lúc cũng thấy vui, nhất là khi thấy mình tạo ra được sự khác biệt.
Cô nghĩ tới nhà Weedon. Mẩu nước tiểu của Terri hôm qua cho kết quả âm tính, Robbie cả tuần được đi nhà trẻ đầy đủ. Nhớ lại chuyện đó, cô thấy dịu bớt cảm giác bừng bực vì Gavin hoàn toàn chú tâm vào Mary và chẳng hề đỡ lời cho cô chút nào khi cô nói chuyện với các bạn anh.
- Hình như cô có một cháu gái rồi phải không Kay?
- Vâng, cháu Gaia, năm nay được mười sáu rồi.
- Bằng tuổi con Lexie nhà này, đúng ra nên cho bọn nhỏ gặp nhau cho vui - Miles nói.
- Cô ly dị hả?
- Không - Kay bình tĩnh đáp - chúng tôi chưa chính thức kết hôn. Anh ấy là bạn trai hồi đại học của tôi. Cháu nó ra đời chưa bao lâu thì chúng tôi chia tay.
- Thế à, Miles với tôi cũng vừa mới ra khỏi trường đại học là dính luôn - Samantha nói.
Kay không rõ Samantha có cố tình chỉ rõ sự khác biệt giữa cô ta, người cưới được ông bố bảnh choẹ ngon lành của mấy đứa nhỏ, còn Kay thì bị bỏ rơi... Nhưng Samantha làm sao biết được Brendan bỏ cô kia chứ...
- Thật ra Gaia vừa tìm được việc làm thêm ngày thứ Bảy ngay chỗ bố anh đấy - Kay nói với Miles - ở tiệm café mới mở.
Miles phấn khởi hẳn lên. Anh ta luôn cực kỳ khoái nghĩ rằng anh và ông bố đóng vai trò quan trọng trong thị trấn, mọi người ở Pagford này đều liên quan tới họ theo cách này hay cách khác: bạn bè, khách hàng, thân chủ hay nhân viên. Gavin lúc đó mải nhai đi nhai lại miếng thịt dai ngoách, thấy dạ dày hẫng một cái trước tin này. Gã chưa biết vụ Gaia làm việc ở chỗ bố Miles. Gã quên bẵng mất Kay hãy còn Gaia, thêm một thứ công cụ mạnh mẽ gắn kết cô với Pagford. Khi không phải đối phó tới những cú sập cửa, cái nhìn hằn học và mấy câu chua ngoa của con bé, Gavin quên bẵng mất rằng Gaia cũng là một cá thể tồn tại độc lập chứ không đơn giản là một phần phông nền khó chịu của mối quan hệ dùng dằng giữa Kay và gã, bên cạnh những tấm vải trải giường cũ rích, mấy món ăn dở tệ và nỗi oán giận âm ỉ giữa hai bên.
- Gaia có thích Pagford không? - Samantha hỏi.
- Thật ra thì chỗ này hơi lặng lẽ hơn so với Hackney - Kay đáp - nhưng con bé đang thích nghi khá tốt.
Cô nhấp một ngụm lớn rượu vang để rửa trôi câu nói dối. Tối nay trước khi cô đi, hai mẹ con vừa cãi nhau thêm một chập.
(- Con bị làm sao đấy? - Kay hỏi Gaia lúc cô bé đang ngồi trên bàn bếp, cúi người ôm laptop, tròng váy ngủ ngoài bộ đồ đang mặc. Bốn, năm khung chat đang mở cùng lúc trên màn hình. Kay biết Gaia đang tán chuyện với các bạn bè cũ ở Hackney, đa số mấy đứa này Gaia chơi từ hồi cấp một.
- Gaia?
Không chịu trả lời, chiêu mới này không báo trước điều gì hay ho. Kay đã quen với những cơn bùng nổ của con bé với cô và nhất là với Gavin.
- Gaia, mẹ đang nói chuyện với con đấy.
- Con biết, con nghe mẹ nói mà.
- Thế thì con ít ra cũng phải lịch sự một chút mà trả lời mẹ đi chứ.
Mấy dòng chữ đen hiện lên trên các khung chat kèm icon nhỏ vui vẻ đang nháy mắt và lúc lắc.
- Gaia, con trả lời mẹ được chứ?
- Gì? Mẹ muốn nói gì?
- Mẹ đang hỏi con ngày hôm nay của con thế nào.
- Ngày hôm nay khốn nạn. Hôm qua khốn nạn. Ngày mai cũng sẽ như vậy.
- Con về nhà hồi mấy giờ?
- Đúng giờ con thường về nhà.
Sau nhiều năm sống thế này, đôi khi Gaia tỏ ra oán giận vì phải tự mở cửa vào nhà, và Kay không có nhà để đón con như kiểu mấy bà mẹ trong truyện.
- Con muốn kể mẹ nghe sao ngày của con lại khốn nạn không?
- Vì mẹ lôi con đến sống ở cái chỗ khốn kiếp này.
Kay kìm mình để không quát lên. Cách đây chưa lâu ở nhà đã xảy ra trận ầm ĩ mà cô biết chắc cả khu phố đều nghe thấy.
- Con biết tối nay mẹ ra ngoài với chú Gavin chứ?
Gaia lẩm bẩm gì đó trong mồm.
- Sao?
- Con nói, ông ấy không khoái gì đưa mẹ đi chơi đâu.
- Ý con là sao?
Gaia không buồn trả lời nữa, chúi mũi trả lời mấy câu chat mới hiện lên. Kay lưỡng lự một lát, vừa muốn ép con nói cho ra nhẽ vừa sợ phải nghe điều nó có thể phun ra.
- Khoảng nửa đêm mẹ với chú sẽ về nhà.
Gaia không đáp. Kay xuống sảnh ngồi chờ Kavin.)
- Gaia kết bạn - Kay kể tiếp với Miles - với một cô bé nhà cũng trên đường này, tên cô bé ấy là gì ấy nhỉ, Narinder?
- Sukhvinder - Miles và Samantha đồng thanh.
- Cô bé ấy dễ thương lắm - Mary nói.
- Cô gặp ông bố nó chưa? - Samantha hỏi Kay.
- Chưa. - Kay đáp.
- Ông ấy là bác sĩ phẫu thuật tim - Samantha kể, cô đã kịp nuốt bốn cốc rượu - Đẹp trai choáng váng.
- Thế à - Kay không biết nên nói gì.
- Trông cứ như tài tử Bollywood ấy.
Samantha nhận thấy không ai thèm giữ lịch sự tối thiểu mà khen cô một câu rằng bữa tối rất ngon, dù thật ra nó chẳng ra gì. Nếu không thể hành hạ Gavin thì ít ra cô cũng sẽ khiêu khích được anh chồng tí chút.
- Vikram là thứ sáng giá duy nhất trong cái xó ảm đạm này, tôi nói cô biết - Samantha nói - Gợi tình tới tận lỗ chân lông.
- Còn bà vợ là bác sĩ đa khoa - Miles tiếp - cũng là ủy viên hội đồng khu của chúng tôi. Cô sẽ ký hợp đồng làm việc với hội đồng quận Yarvil phải không Kay?
- Phải - Kay đáp - nhưng phần lớn thời gian tôi làm việc tại khu Fields. Trên nguyên tắc thì khu đó trực thuộc hội đồng khu Pagford, phải không?
Đừng có nói chuyện khu Fields chứ - Samantha nghĩ - Đừng có nhắc tới cái khu Fields chết tiệt đó.
- À - Miles nở nụ cười đầy ý nghĩa - Chính thế, khu Fields đúng là thuộc Pagford, trên nguyên tắc. Trên nguyên tắc là thế. Cứ nhắc tới nó là nhức hết cả đầu đây cô Kay ạ.
- Thật à? Vì sao thế? - Kay hỏi, cô chỉ muốn nói mấy chủ đề chung chung để ai cũng tham gia được vì Gavin vẫn đang mải hạ giọng thì thầm với bà góa phụ.
- À thì, cô biết đấy, nói tới vụ này là phải nhắc lại chuyện những năm năm mươi kia - Miles bắt đầu mở máy phát bài diễn văn thuộc nhừ - Yarvil muốn mở rộng khu Cantermill Estate, rồi thay vì xây dựng thêm về mé Tây, chỗ đường vòng bây giờ...
- Gavin? Chị Mary? Thêm rượu nhé? - Samantha hỏi to.
- ... họ cũng hơi ma mãnh chút, lúc mua đất họ không nói rõ họ định làm gì, sau họ mở rộng khu nhà đó lấn ranh giới vào địa phận của hội đồng khu Pagford.
- Sao anh không kể về ông già Anbrey Fawley đi Miles? - Samantha chen vào. Cuối cùng cô cũng đạt tới trạng thái say tê tê khi mà miệng lưỡi cô cay độc nhất và đầu óc thì chẳng còn sợ gì đến hậu quả nữa, giờ cô chỉ hăm hở tìm chuyện khích bác đâm thọc làm vui thôi. - Thật ra ông già Anbrey Fawley, chủ sở hữu trước đây của mấy cái tòa nhà bọc đá đẹp đẽ hay gì gì đó, như Miles kể hồi nãy với cô đó, ông ấy, thì thụt sau lưng mọi người...
- Nói thế là không công bằng đâu Sam - Miles lên tiếng nhưng cô đã lại át lời.
-... rồi ông già bán phéng cái mảnh đất mà bây giờ mọc lên khu Fields đấy, đút túi mớ tiền, tôi chả biết là bao nhiêu nhưng chắc cũng phải phần tư triệu bảng...
- Đừng có nói vớ vẩn Sam, hồi năm năm mươi làm sao có giá đó?
-... rồi hả, khi thấy ai cũng nổi điên lên với ổng, ổng làm bộ không biết làm thế sẽ khiến mọi chuyện bầy hầy ra. Gã già ngu thượng lưu. Còn nát rượu nữa. - Samantha bồi thêm.
- Anh phải nói là hoàn toàn không đúng thế - Miles dứt khoát nói. - Kay ạ, cô muốn hiểu tường tận vấn đề thì trước tiên phải rõ ràng lịch sử địa phương.
Samantha chống tay lên cằm, vờ chán ngán trượt khuỷu tay khỏi bàn. Dù không ưa gì Samantha, Kay vẫn cười phá lên, Gavin và Mary cũng ngưng cuộc nói chuyện riêng.
- Mọi người đang nói về khu Fields - Kay bảo, ra ý nhắc Gavin rằng cô đang ngồi sờ sờ ở đây, anh đúng ra phải ủng hộ cô chứ.
Miles, Samantha và Gavin đều nhận thấy khơi lên chủ đề về khu Fields trước mặt Mary là chuyện tối kỵ, khi trước Barry với Howard đụng độ nhau nhiều nhất cũng là về chuyện này.
- Khu đó quả là có hơi làm địa phương mình phát mệt đấy nhỉ - Kay lên tiếng hòng ép Gavin vào cuộc.
- Ừm - Gavin ậm ờ, rồi quay sang Mary - Thế trận bóng đá sắp tới của Declan thế nào rồi?
Cơn giận thúc mạnh vào lòng Kay. Mary mới phải chịu mất mát thật đấy, nhưng Gavin việc gì phải quan tâm thái quá thế. Cô cứ ngỡ bữa cơm tối nay khác hẳn thế này, nghĩa là chỉ bốn người họ với nhau, và Gavin phải thừa nhận họ đúng là một cặp; nhưng nhìn hai người họ thế này, chẳng ai nghĩ họ hơn được cái mức quen biết. Mà đồ ăn thì phát tởm. Cố nuốt được ba phần tư phần mình thì Kay bỏ dao nĩa xuống không ăn nữa - cử chỉ này không thoát khỏi mắt Samantha - rồi cô lại quay sang Miles.
- Vậy là anh lớn lên ở Pagford này phải không?
- E là đúng thế đấy - Miles mỉm cười tự mãn - Tôi sinh ngay chỗ bệnh viện Kelland cũ, chỗ đó đóng cửa hồi năm tám mươi rồi.
- Còn chị… - Kay quay sang Samantha, cô này không đợi nghe hết câu ngắt lời luôn.
- Lạy trời, không. Tôi ở đây là vì chẳng đặng đừng đó thôi.
- Xin lỗi tôi chưa biết, chị làm công việc gì đấy nhỉ Samantha? - Kay hỏi.
- Tôi có việc kinh doanh riêng...
- Cô ấy bán áo ngực ngoại cỡ ấy mà - Miles chêm vào.
Samantha thô lỗ đứng bật dậy đi lấy thêm chai rượu nữa. Khi cô quay lại bàn, Miles đang kể cho Kay nghe một chuyện hài hước đã thành giai thoại, rõ ràng là để chứng tỏ ở Pagford này ai cũng biết nhau; rằng tối đó anh bị viên cảnh sát yêu cầu tấp xe vào lề đường, hóa ra anh này lại là cậu bạn học chung hồi tiểu học. Chi tiết mấy câu đùa bỡn giữa anh ta và Steve Edwards đã quá nhàm tai Samantha. Khi đi quanh bàn rót thêm rượu, cô để ý vẻ mặt cứng ngắc của Kay, rõ ràng cô này không hề thấy việc lái xe khi say rượu có gì buồn cười.
-... thế rồi Steve rút ra cái túi đo nồng độ cồn qua hơi thở, tôi đang tính thổi vào đó, rồi tự dưng hai đứa tôi cùng tuôn ra cả tràng. Tay cảnh sát còn lại chẳng hiểu chuyện quái gì xảy ra, anh chàng đứng nhìn thế này - Miles nhái bộ nghiêng đầu qua lại vẻ ngạc nhiên - rồi Steve gập cả người xuống cười lăn lộn vì lúc đó hai chúng tôi nhớ ra lần sau cùng cậu ta giữ thứ gì đó cho tôi thổi vào, là gần hai chục năm trước rồi, và...
- Thổi cái con búp bê bơm hơi đấy mà - Samantha không cười, buông người ngồi xuống cạnh Miles. - Miles với Steve bỏ con búp bê đó vào giường bố mẹ của Ian hôm sinh nhật mười tám tuổi của cậu ta. Dẫu sao cuối cùng Miles cũng bị phạt một khoản ra trò và ghi thêm ba điểm phạt trên bằng lái vì đó là lần thứ hai anh ấy chạy xe quá tốc độ rồi. Đoạn đó mới là vui cực đấy.
Nụ cười toét vẫn ngớ ngẩn treo trên mồm Miles như quả bóng xì hơi sót lại sau buổi tiệc. Cả bàn đột nhiên im bặt gượng gạo. Dù thấy Miles quả là đáng chán, Kay vẫn thấy cảm tình với anh ta, dù sao thì anh là người duy nhất ở đây có vẻ ủng hộ con đường hòa nhập vào đời sống xã hội tại Pagford của cô.
- Phải nói là, dân khu Fields khá là gai góc - cô nói, lái khỏi chủ đề có vẻ làm Miles không thoải mái, cô vẫn không nhận thấy không nên nhắc tới chuyện này khi có Mary ở đây. - Tôi từng làm việc tại các khu nghèo ở vùng nội ô lâu đời nhưng không ngờ ở vùng nông thôn lại có nơi bần cùng đến thế, không khác gì mấy khu nghèo ở London, nhưng, tất nhiên là dân cư ở đây ít tạp hơn.
- À vâng, ở đây có đám nghiện với mấy tay vô công rồi nghề - Miles nói. - Chắc anh chỉ ăn được đến chừng này thôi Sam ạ - Anh nói thêm, đẩy cái đĩa còn khá đầy ra.
Samantha bắt đầu dọn bàn, Mary đứng dậy giúp một tay.
- Không sao đâu chị Mary, được mà, chị cứ nghỉ đi - Samantha nói. Kay bực bội nhìn Gavin cũng nhảy phắt dậy ân cần bắt Mary ngồi xuống lại, nhưng chị ta vẫn quyết phụ một tay.
- Bữa tối tuyệt lắm Sam - cô nói lúc hai người cùng đổ mớ đồ ăn gần như chưa suy suyển bao nhiêu vào thùng rác.
- Không đâu, bữa tối tệ lắm - Samantha đứng dậy mới thấy mình say cỡ nào - chị thấy cô Kay thế nào?
- Không biết nữa, không như tôi hình dung - Mary nói.
- Còn tôi thì thấy đúng như mình hình dung - Samantha lấy ra mấy cái đĩa ăn bánh - đúng là cô Lisa thứ hai.
- Ôi trời, không phải chứ - Mary kêu lên - Lúc này anh ta xứng đáng có được người phụ nữ tốt bên mình.
Ý này quả là mới lạ với Samantha, cô lúc nào cũng thấy Gavin đáng gặp mấy mối không ra sao vì thói cái gà ướt của mình.
Hai người quay lại phòng ăn, Kay và Miles vẫn đang sôi nổi chuyện trò trong khi Gavin ngồi im bên cạnh.
-... trút hết trách nhiệm cho họ, tôi nghĩ cung cách đó khá là tự mãn, cứ coi mình là trung tâm...
- Đấy, tôi thấy cô dùng chữ “trách nhiệm” là hay lắm - Miles ngắt lời - trọng tâm vấn đề đúng là ở chỗ đó, phải không? Câu hỏi ở đây là, làm sao vạch được chính xác ranh giới?
- Ranh giới đó nằm ngoài phạm vi khu Fields, rõ ràng là thế rồi - Kay bật cười ra vẻ hiểu biết - Anh muốn vạch ra ranh giới rõ ràng giữa tầng lớp trung lưu có sở hữu nhà và tầng lớp thấp hơn...
- Pagford toàn người đổ mồ hôi kiếm miếng ăn Kay ạ. Điểm khác biệt chính là, đa số dân ở đây có lao động. Cô có biết bao nhiêu dân khu Fields sống nhờ trợ cấp không? Trách nhiệm, như chính cô vừa nhắc tới đây, trách nhiệm cá nhân của họ ở đâu? Nhiều năm nay trường chúng tôi luôn có những em học sinh mà trong nhà không có lấy một người đi làm, khái niệm đi làm kiếm sống hoàn toàn xa lạ với họ; hàng mấy thế hệ không ai lao động cả, rồi thì trông đợi chúng ta trợ cấp...
- Vậy giải pháp của anh là đẩy vấn đề sang cho Yarvil - Kay nói - để không phải dính dáng gì tới...
- Mọi người ăn bánh sôcôla Mississippi nhé? - Samantha hỏi.
Gavin và Mary lên tiếng cảm ơn rồi lấy mấy lát; còn Kay chỉ chìa đĩa ra vì mải trò chuyện với Miles. Samantha bực điên người, cứ làm như cô là phục vụ bàn vậy.
-... trung tâm cai nghiện, chỗ đó rõ ràng vô cùng cần thiết, thế mà rõ ràng có người đang vận động hành lang để buộc nó đóng cửa...
- À, nếu đã bàn đến trung tâm Bellchapel - Miles lắc đầu cười nhạt - mong là cô lưu ý đến tỉ lệ thành công, Kay ạ. Thảm hại, thật đấy, hoàn toàn thảm hại. Tôi đã được xem cái số liệu rồi, sáng nay tôi vừa xem xong, nói thật với cô, chỗ đó đóng cửa càng sớm càng...
- Thế số liệu mà anh nói tới là...?
- Là tỉ lệ cai nghiện thành công, Kay ạ, chính xác là số người thực sự ngưng dùng thuốc và lành mạnh trở lại...
- Xin lỗi anh, nhưng cách nhìn nhận như vậy quá là ấu trĩ, nếu anh chỉ đánh giá thành công từ góc độ...
- Nhưng không thế thì phải đánh giá thành công của một trung tâm cai nghiện qua tiêu chí nào mới được? - Miles nghi ngờ hỏi vặn - Theo như tôi biết, ở trung tâm Bellchapel đó người ta đơn giản là phân phát methadone thôi, và nửa số con nghiện trong chương trình vẫn dùng heroin kèm với nó.
- Tổng thể vấn đề nghiện hút là vô cùng phức tạp - Kay phản đối - và quả là đơn giản ấu trĩ nếu xét vấn đề từ góc độ là có dùng thuốc hay không...
Nhưng Miles đã lắc đầu mà cười. Còn Kay vốn đang hào hứng tranh biện với anh luật sư tự mãn này bỗng dưng nổi giận.
- Được, để tôi cho anh một ví dụ thuyết phục về những gì Bellchapel đã làm được nhé: Một gia đình tôi đang tham vấn - bà mẹ, đứa con gái tuổi teen và cậu con trai nhỏ - nếu bà mẹ không dùng methadone thì chắc chắn chị ta sẽ lại ra đường để cố kiếm tiền thỏa mãn cơn nghiện, và mấy đứa trẻ rõ ràng có được lợi ích lớn hơn nhiều...
- Nếu trong hoàn cảnh đó thì tốt hơn là nên tách chúng ra khỏi bà mẹ - Miles ngắt lời.
- Thế theo anh thì nên đẩy chúng đi đâu?
- Gia đình bố mẹ nuôi nào đó tử tế, ban đầu thế là ổn - Miles nói.
- Thế anh có biết có bao nhiêu gia đình nhận nuôi so với số lượng trẻ có nhu cầu hay không? - Kay hỏi.
- Vậy giải pháp tốt nhất là cho nhận con nuôi ngay từ lúc chúng mới ra đời...
- Hay tuyệt nhỉ. Ước gì tôi có cỗ máy thời gian - Kay vặn lại.
- Này, tôi biết có gia đình đang rất muốn nhận con nuôi đấy - Samantha chêm vào, vô tình đứng về phe Miles. Cô ta không tha thứ cho Kay về tội chìa đĩa ra một cách bất lịch sự thế. Người phụ nữ này cực đoan và trịch thượng y như Lisa. Cô này hay độc chiếm diễn đàn trong mọi cuộc họp mặt với mớ quan điểm chính trị và cái nghề luật sư gia đình của mình, lại còn luôn xem thường Samantha vì cô này bán áo ngực. - Adam và Janice đấy - cô quay sang nhắc Miles, anh này gật đầu - Có tình thương với tiền cũng đâu kiếm được đứa bé sơ sinh nào, phải không?
- À phải, một đứa trẻ sơ sinh - Kay đảo mắt - ai cũng muốn trẻ sơ sinh kia. Robbie gần bốn tuổi rồi, nó không còn đeo tã nữa, nó phát triển chậm hơn tuổi, và chắc chắn là nó đã phải chứng kiến những hành vi tình dục không thích hợp với tuổi nó. Thế bạn của các vị còn muốn nhận nuôi cháu đó không?
- Nhưng vấn đề là ở chỗ, nếu tách rời nó ngay khỏi mẹ từ khi mới sinh...
- Lúc sinh nó thì chị ta đã bỏ thuốc và có tiến bộ rất khá - Kay nói - Chị ta thương con, muốn giữ con và lúc đó đáp ứng tốt những nhu cầu của con mình. Chị ta đã nuôi lớn được Krystal, với sự hỗ trợ từ phía gia đình...
- Krystal - Samantha ré lên - Ôi trời ơi, đang nói về nhà Weedon đó hả?
Kay điếng người nhận ra cô vừa nhắc tới tên tuổi cụ thể, ở London thì chuyện này không sao, nhưng ở Pagford này thì quả thực hình như ai cũng biết nhau.
- Tôi không...
Nhưng Miles và Samantha đã phá ra cười ầm ĩ, còn Mary mặt mày căng thẳng. Kay vẫn chưa hề động đến miếng bánh và món trước chỉ ăn chút đỉnh, giờ thấy mình đã uống quá nhiều. Vừa rồi cô không chú ý cứ nhấp rượu đều đều, giờ lại nói năng hớ hênh đến thế. Nhưng đã quá trễ để rút lời, cơn giận át hết mọi suy xét khác.
- Krystal Weedon làm sao thay thế kỹ năng làm mẹ của người phụ nữ đó được - Miles nhận xét.
- Krystal đang cố gắng hết sức để gìn giữ gia đình - Kay phản đối - Con bé thương em lắm, nó luôn sợ em nó bị đưa đi…
- Tôi thì tôi không dám cậy Krystal Weedon luộc cái trứng nữa ấy chứ - Miles nói, cô vợ anh lại phá ra cười - Ờ thì nó thương thằng em là tốt, nhưng thằng bé đâu có được nâng niu gì…
- Phải, tôi cũng biết thế - Kay bật lại, nhớ tới cái mông đít bẩn thỉu của Robbie - nhưng nó vẫn được yêu thương.
- Krystal bắt nạt con bé Lexie nhà này - Samantha nói - vì thế tôi thấy nó từ góc độ khác hẳn cái vẻ ngoài mà chắc chắn là nó phô ra với cô.
- Thế này nhé, ta đều biết cuộc sống của con bé Krystal không dễ dàng - Miles nói - không ai phủ nhận chuyện đó hết. Tôi lo là lo bà mẹ nghiện ngập của nó kia.
- Thật ra thì bây giờ chị ta đang tiến triển rất tốt theo chương trình của Bellchapel.
- Nhưng với cái tiền sử của chị ta - Miles nhấn mạnh - không cần phải là chuyên gia cũng đoán được rằng chị ta sẽ tái nghiện, đúng chứ?
- Nếu áp dụng quy tắc đó của anh thì anh cũng không được có bằng lái xe, vì theo tiền sử anh sẽ lại lái xe khi say rượu tiếp thôi.
Miles cứng họng nhưng Samantha đã lạnh lẽo nói: “Tôi nghĩ đây là hai chuyện khác nhau.”
- Thế à? - Kay không nhường - nguyên tắc thì vẫn như nhau mà.
- Thì đôi khi các nguyên tắc chính là vấn đề đấy - Miles chống chế - thường thì ta chỉ cần xét theo lẽ thường tình.
- Đó là cái tên người ta hay dùng để gọi từ “thành kiến” đấy - Kay phản đối.
- Theo Nietzsche - một giọng lạ lanh lảnh vang lên làm mọi người đều giật mình - triết học là hồi ký của triết gia.
Bản sao thu nhỏ của Samantha đang đứng ở cửa, cô bé khoảng mười sáu tuổi, ngực nở nang, quần Jean bó sát đi với áo thun, cô bé đang ăn một vốc nho và trông khá tự mãn.
- Mọi người, đây là cháu Lexie - Miles tự hào giới thiệu - Cảm ơn cục cưng giỏi giang.
- Không có chi - Lexie xấc xược nói rồi bỏ lên lầu.
Không khí nặng nề trùm xuống bàn ăn. Không hiểu sao cả Samantha, Miles và Kay đều liếc nhìn về phía Mary, trông cô ta như thể sắp òa khóc.
- Café thôi - Samantha lảo đảo đứng dậy. Mary bỏ vào nhà tắm.
- Đi qua đó ngồi đi nào - Miles thấy rõ không khí đã đổi khác nhưng anh vẫn tự tin nghĩ chỉ cần vài câu và cái vẻ xởi lởi thường lệ, chẳng mấy lúc mà mọi người sẽ lại vui vẻ với nhau. - Nhớ mang cốc uống rượu theo nhé.
Mấy lời biện luận của Kay khi nãy với anh chỉ như gió thoảng ngoài tai, những tín điều trong lòng anh ta vẫn vững như bàn thạch. Anh thấy cô đáng thương hơn là đáng ghét. Anh là người ít say nhất bàn dù rượu châm liên tục, nhưng khi vào phòng khách anh thấy bàng quang căng cứng.
- Bật nhạc lên đi Gav, tôi đi một lát, sẵn lấy ít sôcôla luôn.
Nhưng Gavin không lại chỗ chồng CD đặt trên mấy cái kệ Perspex đẹp đẽ. Dường như anh ta đợi Kay bắt đầu trút lên mình. Quả vậy, Miles vừa khuất khỏi tầm mắt là Kay nói luôn: “Cảm ơn anh lắm nhé Gav. Cảm ơn đã ủng hộ em hết mình nhé.”
Suốt bữa Gavin uống còn nhiều hơn Kay, tự chúc mừng vì cuối cùng anh ta cũng không bị biến thành vật hy sinh cho mấy trò châm chọc của Samantha. Gã nhìn thẳng Kay với sự can đảm mới bùng lên phần vì rượu, phần vì suốt cả tiếng qua gã được Mary cư xử như một người thực sự quan trọng, hiểu biết và ân cần.
- Xem ra em cũng tự mình xoay xở khá tốt đấy - Gã nói.
Thật ra dù chỉ tự cho phép lọt tai chút ít cuộc tranh cãi giữa Miles và Kay, gã vẫn kịp cảm thấy cảnh này đã xảy ra trước đây rồi: Nếu không phân tâm vì Mary, hẳn gã đã nhớ lại cái buổi tối khó quên đó, cũng trong căn phòng ăn như thế này, khi đó Lisa bảo Miles rằng anh ta là hình mẫu điển hình của tất cả những gì sai trái với xã hội; Miles đã cười vào mặt cô ta, và Lisa tức giận tới mức từ chối ở lại dùng café. Chẳng bao lâu sau đó, Lisa thừa nhận đã ngủ với một cộng sự trong hãng và khuyên Gavin nên đi xét nghiệm bệnh lậu.
- Em đâu có quen ai ở đây - Kay tức giận - và anh chẳng hề làm cái quái gì cho em dễ hòa nhập một chút, đúng không?
- Thế em muốn anh làm gì? - Gavin hỏi lại. Gã đang bình tĩnh đến đáng ngạc nhiên, lại càng thêm vững dạ vì vợ chồng Mollison và Mary sắp trở lại, lại thêm lượng lớn rượu vang đã đổ vào bụng. - Anh không muốn tranh cãi về khu Fields. Anh không quan tâm tới khu Fields. Với lại - gã nói thêm - đó là vấn đề rất nhạy cảm đối với bà Mary; ông Barry khi trước đấu tranh trong hội đồng để giữ khu Fields thuộc về Pagford.
- Thế sao anh không nói cho em biết hay nháy em cũng được?
Gã phá ra cười, hệt như Miles vừa cười vào mặt cô. Trước khi Kay kịp trả miếng, mấy người kia đã lục tục quay lại phòng như đám rước [1]: Samantha bưng khay cốc tách, Mary bưng ấm pha café, Miles mang theo gói kẹo sôcôla Kay đem tới. Nhìn sợi dây ruy-băng vàng chói thắt trên hộp, Kay nhớ lúc mua nó mình đã háo hức về bữa tối nay biết chừng nào. Cô quay mặt đi nén cơn giận lẫn mong muốn gào thật to vào mặt Gavin, đồng thời cô cũng muốn òa ra khóc.
[1] Magi bearing gifts: trong Kinh Thánh, Magi là tên gọi ba nhà thông thái phương Đông mang quà đến tặng Chúa Hài Đồng. Ở đây dịch là “đám rước” cho gần gũi, lấy từ việc mỗi người đều bưng gì đó trên tay.
- Tối nay tuyệt quá - cô nghe tiếng Mary đặc nghẹt, rõ ràng cô cũng vừa khóc - nhưng tôi không nán lại dùng café được, tôi không về trễ được. Thằng Declan hơi... lúc này hơi bất ổn. Cảm ơn nhiều lắm nhé Sam, Miles, được... được ra ngoài chốc lát thật dễ chịu quá.
- Tôi sẽ tiễn bà ra... - Miles mở miệng nhưng Gavin đã dứt khoát nói tranh.
- Anh ở lại đây, Miles. Tôi sẽ tiễn bà Mary ra. Tôi sẽ đi bộ cùng bà ra đến đường. Chỉ năm phút thôi mà. Trời tối mịt rồi.
Kay nghẹn cả thở, toàn thân cô rung lên nỗi ghê tởm tay Miles tự mãn, cô ả Samantha diêm dúa rẻ tiền, bà Mary mong manh ủ rũ và trên hết là Gavin.
- À tốt thôi - cô nghe giọng mình vang lên vì dường như mọi người có ý đợi cô cho phép - Ừ, anh tiễn chị Mary về nhà đi Gav.
Cô nghe tiếng cửa trước đóng lại, Gavin đã đi. Miles rót café cho Kay. Cô nhìn dòng chất lỏng đen nóng hổi đổ xuống và đột nhiên đau đớn nhận ra rằng cô đã liều cả cuộc đời của mình vì người đàn ông đang bỏ đi trong đêm với người phụ nữ khác.
VIII
Colin Wall nhìn thấy Gavin và Mary đi ngang qua cửa sổ phòng làm việc nhà mình. Ông nhận ra bóng Mary ngay lập tức nhưng phải nheo mắt nhìn mới nhận ra người đàn ông cao gầy đi bên cạnh trước khi hai người đi khỏi vùng sáng từ ánh đèn đường, ông hơi nhổm mình khỏi cái ghế trước bàn vi tính khom người nhìn chằm chằm theo hai dáng người khuất vào bóng tối.
Ông choáng váng. Với ông, Mary đang trong thời gian thu mình kiểu “cấm cung”, và thường chỉ tiếp khách nữ trong cái cung cấm là nhà cô ta, trong số đó có Tessa cứ cách ngày lại ghé qua. Chưa bao giờ ông nghĩ tới chuyện Mary tham gia cuộc giao tế nào đó bên ngoài sau khi trời tối, mà lại còn đi cùng đàn ông độc thân nữa chứ. Ông thấy mình như bị phản bội, như thể bị Mary cắm sừng về mặt tinh thần.
Không biết cô ta có cho phép Gavin đến viếng thi hài ông Barry lần cuối không nhỉ? Tối tối Gavin có ngồi trên chiếc ghế ông Barry ưa thích cạnh lò sưởi không? Liệu Gavin và bà vợ góa Mary... có thể nào bọn họ...? Dù sao thì loại chuyện này vẫn xảy ra mỗi ngày đó thôi. Có lẽ... thậm chí có lẽ trước khi ông Barry qua đời...?
Colin lúc nào cũng khiếp hãi trước cái đạo đức mòn xơ của người đời. Thế là để đỡ sốc, ông luôn buộc mình phải tưởng tượng tới tình huống tồi tệ nhất, nghĩa là cố tưởng tượng ra những giả thiết trụy lạc và phản bội thay vì chờ sự thật tự bóc trần ra trong cõi hoang tưởng ngây thơ của ông. Với Colin, cuộc đời từ lâu luôn đồng nghĩa với nỗi đau và thất vọng; và trừ vợ ông, tất cả mọi người đều là kẻ thù, trừ khi họ chứng minh được điều ngược lại.
Ông suýt nữa lao xuống lầu kể cho Tessa nghe điều vừa chứng kiến, có lẽ vợ ông sẽ đưa ra được lời giải thích về chuyến đi đêm của Mary và khẳng định rằng bà vợ góa của bạn thân đã và vẫn trung thành với ông chồng. Nhưng cuối cùng ông ghìm lại mong muốn đó vì hãy còn giận Tessa.
Sao vợ ông lại nhất quyết giữ thái độ thờ ơ trước việc ông sắp ứng cử hội đồng? Lẽ nào cô ấy không nhận ra ông đã căng thẳng đến như thế nào kể từ khi gửi đơn ứng cử? Dù đã lường trước tâm trạng này, nhưng ông không vì thế mà thấy đỡ hơn, như thể sắp bị xe lửa đâm mà nhìn thấy nó lừ lừ tiến tới cũng chẳng đỡ tan nát hơn. Thế là Colin khổ sở gấp đôi vì hiện thực lẫn những gì dự kiến sẽ xảy ra.
Cơn ác mộng của ông xoay đi xoay lại quanh cha con nhà Mollison và những mũi dùi mà phe ấy có thể chĩa vào ông. Đủ thứ lập luận phản biện, giải thích, chống đỡ chạy xành xạch suốt trong đầu ông. Ông hình dung một mình giữa vòng vây, tả xung hữu đột vì danh tiếng bản thân. Chứng hoang tưởng của Colin trước thế giới bên ngoài càng trở nặng, còn Tessa vờ lờ đi chẳng biết và chẳng hề giúp làm dịu đi cơn căng thẳng khủng khiếp đó của ông chồng chút nào.
Ông biết vợ mình nghĩ đức ông chồng không việc gì phải ra ứng cử. Có lẽ cô quá sợ Howard Mollison xé toang cái nút thắt âm ỉ trong quá khứ và vứt cái bí mật khủng khiếp đó ra cho những cái mỏ kền kền thóc mách ở Pagford tha hồ xâu xé.
Colin đã điện cho vài người khi trước hết lòng ủng hộ Barry. Ông vừa ngạc nhiên vừa cảm động khi thấy chẳng ai trong số họ vặn vẹo ông về năng lực hay những vấn đề trong hội đồng. Người nào người nấy đều bày tỏ lòng tiếc thương sâu sắc trước sự ra đi của Barry và nỗi căm ghét mạnh mẽ với Howard Mollison, hay “gã khốn kiếp siêu tự mãn”, như lời một cử tri ít ý tứ đã huỵch toẹt ra. “Cố mà bơm thổi thằng con trai”. Ông ta “cười không ngậm miệng nổi” khi “nghe tin Barry chết”. Colin đã soạn sẵn cả danh sách luận điểm ủng hộ khu Fields nhưng không cần nhìn giấy lấy một lần. Cho tới lúc này, xem ra điểm ăn khách của ông trước cử tri là tình bạn với Barry, và ông không phải mang họ Mollison.
Tấm chân dung đen trắng mỉm cười với ông từ màn hình máy tính. Suốt tối ông ngồi lỳ ở đó, gắng soạn nội dung tờ rơi vận động tranh cử, ông định dùng tấm hình đang đăng trên website của trường Winterdown: chụp nguyên mặt, nụ cười nhẹ ấm áp, cái trán cao bóng loáng. Tấm hình này có lợi là nó đã ra mắt công chúng mà không làm ông bị chế nhạo hay mang tai mang tiếng gì, thế là quá ổn. Nhưng dưới bức hình, chỗ điền thông tin cá nhân mới chỉ có một hai dòng ngập ngừng. Suốt hai tiếng đồng hồ Colin hết gõ lại xóa, có lúc ông viết xong được cả đoạn nhưng lại xóa sạch hết từ này tới từ khác bằng ngón trỏ lập cập căng thẳng.
Đột nhiên hết chịu nổi cảnh một mình ngồi đó quay đi tính lại, ông nhảy bật ra khỏi ghế và chạy xuống lầu. Tessa đang nằm dài gà gật trên ghế sofa ở phòng khách, tivi vẫn mở.
- Sao rồi anh? - Cô mở mắt hỏi vẻ ngái ngủ.
- Chị Mary mới đi ngang đấy. Cùng với Gavin Hughes.
- Thế à - Tessa bảo - Chị ấy có nói định ghé nhà Miles và Samantha hồi tối này. Chắc Gavin ở đó rồi tiễn chị ấy về nhà ấy mà.
Colin chấn động cả người. Mary đến thăm Miles, cái gã thuộc phe đối nghịch đang rắp ranh thế chỗ chồng chị ta để làm gì?
- Chị ấy làm cái gì ở nhà Mollison mới được chứ?
- Thì hai vợ chồng nhà họ đi kèm chị ấy đến bệnh viện, anh biết mà - Tessa rên khẽ một tiếng, vặn mình ngồi dậy duỗi thẳng đôi chân ngắn - Từ lúc đó đến giờ chị ấy đã có thời gian nói chuyện được ra đầu ra đũa với họ đâu. Chị ấy muốn sang cảm ơn thôi. Anh làm xong nội dung tờ rơi chưa?
- Gần xong rồi. Này, phần thông tin ứng viên, ý anh là thông tin về mặt cá nhân ấy, có nên ghi mấy vị trí đã từng đảm nhiệm không? Hay chỉ nên ghi công việc ở trường Winterdown thôi?
- Em nghĩ anh ghi nơi làm việc hiện giờ thôi là đủ. Nhưng sao anh không hỏi chị Minda đi? Chị ấy… - Tessa ngáp -... chị ấy từng làm rồi mà.
- Ờ phải - Colin nói. ông đứng đó đợi nhưng xem ra bà vợ không định ngỏ ý giúp, thậm chí không muốn đọc phần ông đã viết. - Ừ, ý hay đấy - ông nhắc lại to hơn - anh sẽ nhờ Minda xem lại.
Tessa chỉ ậm ừ xoa xoa mắt cá nhân, ông tự ái đành bỏ ra khỏi phòng. Vợ ông không thể nào biết ông đang trong tâm trạng thế nào, ngủ nghỉ ít ỏi ra sao, lại cả cái dạ dày cứ xoắn lên bên trong.
Tessa thật ra chỉ vờ ngủ. Mười phút trước, tiếng bước chân của Mary và Gavin đã đánh thức cô dậy.
Tessa không biết nhiều về Gavin, anh ta nhỏ hơn cô với Colin cả mười lăm tuổi, nhưng khoảng cách giữa gia đình cô với anh ta không phải vì tuổi tác mà vì Colin luôn ghen tị với những bạn bè khác của Barry.
- Vụ bảo hiểm ấy, cậu ta thật đáng kinh ngạc - lúc trước Mary có kể với Tessa thế qua điện thoại - Cậu ta gọi cho bên công ty mỗi ngày, theo chỗ tôi biết, và cứ bảo tôi đừng có lo về chuyện phí tổn. Trời ơi Tessa, nếu bọn họ không chịu trả tiền…
- Gavin sẽ lo vụ ấy cho chị thôi mà - Tessa an ủi - Chắc chắn cậu ấy sẽ lo.
Vừa khát nước vừa mỏi cứng người trên ghế sofa, Tessa vừa nghĩ giá mà vợ chồng cô mời Mary đến nhà được thì tốt quá, để chị ta được thay đổi không khí chút đỉnh và có thể ép Mary ăn, nhưng không thể được: Mary thấy Colin khó tính, lúc nào cũng căng thẳng. Cái sự thực không mấy dễ chịu này giờ dần hé lộ sau cái chết của Barry như đám phiêu vật trơ ra khi thủy triều rút. Rõ ràng Mary chỉ muốn gần Tessa. Bà vợ góa né tránh mọi lời đề nghị giúp đỡ từ Colin và không muốn nói chuyện với ông quá lâu qua điện thoại. Nhiều năm nay hai gia đình gặp gỡ tay tư khá thường xuyên nhưng mối ác cảm của Mary chưa khi nào lộ rõ vì sự hài hước của Barry đã át hẳn đi.
Thế là Tessa phải khéo léo xử lý tình thế mới. Cô đã thuyết phục được Colin rằng cứ để Mary cạnh mấy bà bạn là chị ấy vui nhất. Hôm đám tang coi như một thất bại của cô, vì Colin “đón lõng” Mary sau khi họ rời nhà thờ Thánh Michael và sụt sùi giải thích rằng ông muốn ra ứng cử vị trí của Barry trong hội đồng, để tiếp tục công việc mà ông bạn còn bỏ dở, để Barry vẫn sống mãi dù đã ra đi. Nhìn vẻ choáng váng và khó chịu của Mary, Tessa kéo vội chồng đi.
Một hay hai lần sau đó, Colin ngỏ ý muốn sang cho Mary xem các tài liệu tranh cử để nhắm xem nếu là Barry thì có đồng ý hay không; ông thậm chí còn muốn nhờ bà hướng dẫn cách Barry tiến hành vận động bầu cử. Rốt cuộc Tessa phải dứt khoát bảo ông chồng đừng có quấy quả Mary về vụ hội đồng khu nữa. Tất nhiên là ông mếch lòng, nhưng thế vẫn hơn, Tessa nghĩ, thà ông giận vợ còn hơn làm Mary căng thẳng thêm, hoặc đẩy chị ta tới bước phải từ chối thẳng thừng như vụ viếng thi hài Barry.
- Nhưng mà, đó là nhà Mollison - Colin trở lại phòng, tay cầm tách trà. Ông không mang trà cho vợ, vốn ông hay ích kỷ trong mấy chuyện vặt vãnh kiểu thế vì quá bận tâm đến những mối lo riêng.- Bao nhiêu người xung quanh mà lại chọn ăn tối với nhà đấy! Nhà họ chống lại tất cả mọi thứ Barry ủng hộ kia mà.
- Nói thế hơi cường điệu quá đấy Col - Tessa khuyên - Dù sao thì chị Mary cũng đâu bao giờ quan tâm nhiều tới khu Fields như Barry đâu.
Nhưng đối với Colin, tình yêu nghĩa là luôn kèm với lòng chung thủy vô hạn và sự khoan dung không bờ bến. Xét theo tiêu chuẩn đó, Mary đã không đạt, không sao cứu vãn được nữa.
IX
- Thế mày đi đâu đó? - Simon hỏi, đứng chắn ngay giữa hàng lang chật hẹp.
Cửa trước đang mở, cổng vòm ốp kính phía sau gã để đầy giày với áo khoác và kéo rèm kín mít, chắn ánh mặt trời rực rỡ trong buổi sáng thứ Bảy làm bóng người Simon tối sẫm. Bóng gã lắc lư đổ dài trên cầu thang vừa chạm tới bậc Andrew đang đứng.
- Xuống phố với thằng Fats.
- Xong hết bài tập rồi, hả?
- Vâng.
Andrew nói dối, nhưng ông bố Simon không buồn kiểm tra.
- Ruth ơi? Ruth!
Ruth mặt mày đỏ ửng còn đeo nguyên tạp dề hiện ra ở cửa bếp, tay cô còn trắng xóa bột mì.
- Sao?
- Nhà mình có cần mua gì dưới phố không?
- Sao kia? Không, em nghĩ không cần gì đâu.
- Lấy xe tao đi hả? - Simon hỏi vặn Andrew.
- Vâng, con định…
- Bỏ nó ở nhà thằng Fats hả?
-Vâng.
- Mấy giờ muốn nó về nhà? - Simon hỏi, quay sang Ruth.
- Trời em không biết đâu, Si - Ruth sốt một đáp. Cô bớt nhún nhường chồng trong những lúc Simon đang có tâm trạng tốt nhưng vẫn bày đặt ra luật lệ này nọ cho vui. Thường Andrew với Fats thường xuống phố với nhau và lệ là Andrew sẽ về nhà trước khi trời tối.
- Thế thì năm giờ - Simon độc đoán ra lệnh - về chậm phút nào là mày bị cấm túc đấy nhé.
- Vâng - Andrew đáp.
Nó vẫn nhét tay phải trong túi áo khoác, nắm chặt mảnh giấy gấp chặt, cảm nhận rõ nó trong bàn tay như quả lựu đạn đang tích tắc. Suốt cả tuần Andrew cứ nơm nớp lo đánh mất mảnh giấy có dòng mã lệnh và đoạn văn với biết bao nhiêu là dập xóa, viết lại và chỉnh sửa. Nó lúc nào cũng mang thứ này bên mình, thậm chí ngủ cũng nhét dưới gối.
Simon hơi nhích người qua một chút, Andrew phải nghiêng người mới lách ra cổng được, mấy ngón tay vẫn nắm chặt tờ giấy. Nó cứ sợ ông bố đòi lộn túi mình ra để kiểm tra xem có thuốc lá không.
- Chào bố.
Simon không đáp lời. Andrew vào garage, lôi mảnh giấy ra, vuốt phẳng rồi đọc. Nó biết là không cần phải thế, ông bố chỉ đứng gần thôi thì không thể nào thay đổi mấy tờ giấy được, nhưng Andrew vẫn muốn chắc. Rồi khi đã an tâm mớ giấy vẫn an toàn, nó xếp gọn lại, nhét sâu vào túi áo, bấm nút cài bên ngoài rồi dắt chiếc xe đạp xuống đường. Andrew dám cá ông bố đang dõi theo qua cánh cửa, mong thấy thằng con ngã xe hay lỡ làm hư hỏng gì đó trên chiếc xe đạp.
Pagford trải dài dưới chân Andrew, lờ mờ sương dưới ánh mặt trời mùa xuân lạnh lẽo, không khí tươi mát trong lành. Andrew cảm nhận được lúc ánh mắt của bố không còn dõi theo nó được nữa, như thể vừa nhấc gánh nặng khỏi lưng.
Suốt đoạn đổ dốc xuống Pagford, Andrew lao vun vút không chạm tới thắng rồi ngoặt vào phố Church Row. Đến khoảng giữa đường, nó giảm tốc và điềm đạm guồng chân rẽ vào nhà Wall, cẩn thận tránh xe hơi của ông thầy Tủ.
- Chào Andy - Tessa nói khi mở cửa.
- Chào cô Wall ạ.
Andrew phải công nhận là cha mẹ Fats trông thật tức cười. Tessa béo mập và không biết làm đỏm, tóc tai chẳng ra kiểu gì còn cái váy mới thật đáng xấu hổ. Ông thầy Tủ thì trông cứng nhắc đến nực cười. Nhưng nếu là con của ông bà này chắc mình cũng xoay ra mến họ mất, Andrew nghĩ. Họ thật là văn minh lịch sự. Ở trong nhà họ không bao giờ có cảm giác sàn nhà đột nhiên sụp xuống đẩy người ta vào giữa đống hỗn loạn.
Fats đang ngồi dưới chân cầu thang mang giày thể thao. Một túi thuốc lá rời nhô rõ trên túi ngực áo khoác.
- Arf.
- Fats.
- Cháu muốn cất xe đạp của cha cháu vào garage không Andy?
- Vâng, cảm ơn cô Wall.
(Lúc nào cô ấy cũng dùng từ “cha cháu”, không bao giờ gọi “bố cháu”, luôn như vậy. Cậu biết Tessa ghét cay ghét đắng ông bố mình, đây cũng là một trong những lý do khiến cậu rộng lượng bỏ qua trang phục xấu mù thẳng đuồn đuột và phần tóc mái quê mùa của cô.
Mối ác cảm của cô với Simon bắt nguồn từ một sự cố khủng khiếp khó quên từ nhiều năm trước. Lần đó cậu nhóc Fats sáu tuổi đến chơi Nhà Trên Đồi lần đầu tiên vào chiều thứ Bảy. Lúc đang mải nhón chân cheo leo trên cái thùng trong garage để cố với lấy cặp vợt cầu lông cũ, hai cậu bé vô tình làm đổ mấy món đồ trên cái kệ ọp ẹp gần đó.
Andrew hãy còn nhớ hộp dầu creosote rớt xuống, đập mạnh vào nóc xe hơi rồi bật tung ra. Cơn khủng khiếp ập lấy người nó mạnh tới nỗi Andrew không thốt nổi nên lời với thằng bạn đang cười rinh rích không biết hai đứa vừa rước vào thân tai vạ gì.
Simon nghe tiếng đổ vỡ. Gã lao ra garage, xông tới chỗ hai đứa nhỏ, hàm dưới chìa ra, gã rít lên bằng cái giọng súc vật trầm đục trước khi gào thét đòi giã cho hai đứa một trận, dí sát nắm đấm vào hai gương mặt nhỏ bé đang ngước nhìn lên.
Fats tè cả ra quần. Nước tiểu tóe ra quần chảy xuống sàn garage. Ruth nghe tiếng thét vội chạy từ nhà bếp ra để ngăn cản: “Thôi, Si, Si, Không - tai nạn thôi mà!” Fats sợ run lẩy bẩy, trắng nhợt cả người. Nó chỉ muốn về nhà ngay, nó đòi mẹ.
Lúc Tessa đến, Fats chạy ào ra khóc với cái quần short ướt đẫm. Đó cũng là lần duy nhất trong đời Andrew thấy cha mình lúng túng chịu lún. Không biết bằng cách nào đó, Tessa phát ra cơn thịnh nộ cao độ của cô mà không cần lên giọng, không cần đe dọa, cũng không phải dùng tới vũ lực. Cô viết luôn một tấm séc và ấn vào tay Simon bắt nhận trong khi Ruth cứ nói đi nói lại “không không, không cần đâu, không cần đâu”. Simon lẽo đẽo đi theo hai mẹ con tới tận cửa xe, cố đùa cho qua nhưng Tessa đã ném cho gã cái nhìn đầy khinh miệt khi đặt thằng bé Fats hãy còn thút thít vào ghế và sập cửa vào giữa mặt cười nhăn nhở của Simon. Andrew thấy cái vẻ mặt của cha mẹ nó lúc đó: Tessa đã mang xuống thị trấn điều gì thường bị giấu kín đâu đó trong căn nhà trên đỉnh đồi.)
Dạo này Fats ra sức làm vui cho Simon. Cứ mỗi lần đến Nhà Trên Đồi là Fats lại làm Simon cười theo cái kiểu của nó. Ngược lại Simon cũng hồ hởi mỗi lần Fats ghé, gã khoái mấy chuyện cười thô tục nhất của thằng này như thể đó là chuyện do chính gã nghĩ ra. Nhưng khi chỉ còn một mình với Andrew, Fats vẫn “toàn tâm toàn ý” đồng tình rằng Simon là cái đít ngu hạng A, mạ vàng 24 carat.
- Tao gọi nó là con ái - Fats nói khi hai đứa đi bộ ngang qua Nhà Giáo Sĩ Cũ tối sẫm dưới bóng râm cây thông xứ Scotland và những dây thường xuân lan tràn khắp mặt tiền.
- Mẹ mày ấy à? - Andrew lơ đãng hỏi, nó đang mải nghĩ chuyện khác.
- Cái gì? - thằng Fats ré lên, Andrew thấy rõ là nó phát cáu thật - Bỏ mẹ! Mày nói con Sukhvinder Jawanda.
- Ờ, thế. Phải rồi.
Andrew phá ra cười, Fats cũng cười theo.
Xe buýt đi Yarvil đông kín. Andrew và Fats phải ngồi sát nhau thay vì mỗi thằng chiếm một cái ghế đôi như thói thường. Khi qua khỏi khúc cuối đường Hope, Andrew liếc mắt dọc con phố, nhưng chẳng thấy bóng ai. Kể từ buổi chiều hai đứa được nhận vào làm tại tiệm Ấm Đồng, nó không gặp lại Gaia lần nào ngoài ở trường học. Hiệu café sẽ mở vào cuối tuần tới, cứ nghĩ đến chuyện đó là lòng dạ nó lại cồn lên phấn khích.
- Chiến dịch vận động tranh cử của lão Si vẫn đều đều chứ hả? - Fats hỏi, tay cuốn thuốc lá. Một cẳng chân dài ngoẵng thò cả ra lối đi, nhưng người trên xe bước qua chứ không buồn bảo nó nhúc nhích - Lão Tủ nhà tao bắt đầu phọt phẹt rồi, mới đang làm tờ rơi thôi.
- Ờ, ổng cũng bận - Andrew nói, nuốt xuống cơn sợ đang lặng lẽ cuộn lên trong dạ dày.
Nó nhớ tới cảnh bố mẹ mình ngồi chỗ bàn bếp suốt mấy tối trong tuần rồi; nhớ cái hộp đựng mớ tờ rơi ngu ngốc ông bố tranh thủ in ở chỗ làm và cả danh sách luận điểm mẹ nó giúp biên soạn, và ông bố dùng cái đó mỗi tối khi gọi điện thoại cho tất cả mọi người quen biết trong phạm vi bầu cử. Simon làm tất cả những chuyện đó với sự nỗ lực phi thường. Ở nhà gã căng như thùng thuốc súng, suốt ngày hùng hổ với hai cậu con trai như thể đang phải cõng trên vai cái gánh nặng mà chúng lẩn tránh. Chủ đề duy nhất trong mọi bữa cơm là cuộc bầu cử, hai vợ chồng ngồi suy tính những thế lực bất lợi với Simon. Hai người họ coi những ứng viên khác đang ứng cử vào chiếc ghế cũ của Barry đều là kẻ địch cả. Xem ra họ đinh ninh Colin Wall và Miles Mollison suốt ngày chỉ có mỗi việc bàn mưu tính kế với nhau, chĩa mũi dùi vào Nhà Trên Đồi và tập trung toàn lực để đánh bại người đàn ông trong cái pháo đài đó.
Andrew lại sờ thử mẩu giấy trong túi. Nó vẫn không nói với Fats việc sắp làm, sợ thằng bạn đi rêu rao khắp nơi. Andrew không biết làm sao để thằng bạn thực sự hiểu rằng cần phải giữ bí mật tuyệt đối, rằng cái gã điên gàn làm hai thằng bé tè ra quần khi xưa hãy còn sống sờ sờ ra đó, mà hơn nữa lại sống trong nhà Andrew.
- Lão Tủ không quá bận tâm về lão Si nhà mày đâu - Fats bình luận - lão nghĩ đối thủ chính là Miles Mollison kia.
- Ờ - Andrew đáp. Nó đã nghe bố mẹ bàn về vụ này. Hai người họ đều làm như bà Shirley phản bội họ vậy, đúng ra bà ta phải cấm ông con đối đầu với Simon chứ.
- Đây là cả một cuộc chiến thần thánh với lão Tủ nhà tao, nói cho mày biết - Fats cuộn tròn điếu thuốc lá giữa ngón trỏ và ngón cái - Giương tiếp ngọn cờ của người chung chí hướng đã gục mà. Ôlê Bary Fairbrother!
Nó lấy que diêm dém lại mấy cọng thuốc lá thòi ra từ đuôi điếu thuốc.
- Vợ gã Miles Mollison có bộ ngực khủng thật! - Fats nói.
Một phụ nữ lớn tuổi ngồi trên quay xuống nhìn Fats chằm chằm. Andrew lại bật cười.
- Hai trái bầu khổng lồ nhún nhảy - Fats lớn tiếng, quắc mắt cau mặt nhìn lại. - Trái cây Cỡ F đúp căng tròn mọng nước đây quý bà quý cô ơi!
Bà ta từ từ quay bộ mặt đỏ nhừ lên phía trước như cũ. Andrew nín cả thở.
Hai thằng xuống xe ngay trung tâm Yarvil, gần khu phố mua sắm của thành phố rồi vừa luồn lách qua đám đông người mua sắm vừa hút điếu thuốc thằng Fats mới cuộn. Andrew hầu như nhẵn túi, khoản lương sẽ được nhận từ Howard Mollison sẽ hữu dụng lắm đây.
Tấm biển màu cam sáng của quán café internet đập vào mắt Andrew ngay từ đằng xa, hút nó tiến lại Andrew không nghe được thằng Fats đang hỏi gì. Mày sẽ làm chứ? Nó hỏi đi hỏi lại bản thân. Mày sẽ làm chứ?
Nó không chắc. Chân cứ bước đều, tấm biển ngày càng lớn dần, vẫy gọi đầy mê hoặc.
Nếu tao phát hiện mày hở ra lời nào về chuyện trong cái nhà này, tao sẽ lột da sống mày.
Nhưng nếu không... sẽ nhục biết mấy nếu Simon phô con người gã ra trước mọi người; cái giá cả gia đình phải trả khi mà gã thất bại, hiển nhiên là thế, sau nhiều tuần đoán già đoán non và làm đủ trò ngu ngốc. Rồi sẽ là những cơn thịnh nộ, tra tấn, quyết bắt mọi người phải trả giá vì quyết định điên rồ của riêng mình gã. Mới tối hôm ttước thôi, mẹ nó còn hào hứng bảo: “Để hai đứa nó đi dán tờ rơi khắp Pagford cho anh.” Andrew nhận ra cái ánh mắt hoảng sợ của thằng em đang gắng liếc nhìn mình.
- Tao muốn vào đây - Andrew lẩm bẩm, ngoặt phải.
Hay đứa mua thẻ với mã số dùng máy rồi ngồi xuống hai máy cách nhau hai ghế đã có khách, ông trung niên ngồi bên phải Andrew cứ khụt khà khụt khịt, người tỏa ra mùi mồ hôi và thuốc lá lưu cữu.
Andrew đăng nhập internet, gõ website: Pagford... Parish... Council... chấm… co... chấm... uk...
Trang chủ mang hai màu trắng và xanh của huy hiệu hội đồng thị trấn, một tấm hình Pagford chụp từ góc gần Nhà Trên Đồi, thấy rõ hình tu viện Pargetter in bóng trên nền trời. Andrew đã thử mở trang này từ máy nhà trường, trông nó lạc hậu và nghiệp dư. Andrew không dám vọc vạch gì tới nó từ chiếc laptop cá nhân. Có thể ông bố nó mù tịt về internet đấy, nhưng nhỡ lão nhờ được ai ở chỗ làm điều tra hộ thì sao, sau khi Andrew làm việc này...
Chỗ này vô danh ồn ĩ thật, nhưng không tránh được ngày tháng hôm nay cũng sẽ hiện lên kèm theo bài đăng, Andrew cũng không thể nào vờ là hôm đăng bài nó không đi Yarvil; nhưng dù sao Simon chưa bao giờ vào quán café internet, có khi còn chẳng biết có loại quán đó trên đời nữa.
Tim Andrew đập thình thịch tới đau nhói. Nó nhanh chóng cuộn trang xuống phần bản tin, xem ra chẳng được mấy người truy cập. Chỉ có ba đường dẫn có tên: “Từ chối quyên góp - một dấu hỏỉ”, “Địa bàn tuyển sinh của trường tại Crampton” và “Thiếu nhân công?”. Cứ độ mười bài lại có một bài từ quản trị trang, đính kèm biên bản cuộc họp hộp đồng khu mới nhất. Ngay cuối trang là tiêu đề: Ông Barry Fairbrother qua đời. Bài này được 152 lượt xem và 43 bài trả lời. Ở trang hai của bảng tin, nó tìm được thứ mình cần: Một bài đăng từ người đã khuất.
Vài tháng trước, lớp vi tính của Andrew do một thầy giáo trẻ phụ trách, ông thầy này muốn gây ấn tượng với lớp nó. Đúng ra thầy ấy đừng bao giờ nên nói tới mấy cách táy máy vào SQL, vì Andrew dám chắc nó không phải đứa duy nhất hôm đó đi thẳng về nhà tra thêm về vụ này. Andrew lôi ra mảnh giấy viết đoạn mã tìm được trong những lúc tranh thủ được ở trường rồi vào mục đăng nhập vào website hội đồng. Rõ ràng website này được một gã tay mơ nào đó tạo ra lâu rồi và chưa bao giờ được bảo vệ trước trò hack cổ điển đơn giản nhất.
Nó cẩn thận dùng ngón trỏ nhập vào đoạn ký tự đầy ma thuật.
Nó đọc lại hai lần để chắc từng dấu nháy đơn cũng đặt đúng chỗ, do dự trong tích tắc, thở hổn hển, rồi ấn nút quay lại.
Andrew hân hoan thở gấp như đứa trẻ, cố kìm mong muốn gào lên thật to hay đấm tay lên trời. Nó đã làm được bước đầu tiên ngay từ lần thử đầu. Trên màn hình hiện ra đầy đủ thông tin của người dùng Barry Fairbrother: Tên, mật khẩu, và toàn bộ thông tin cá nhân.
Andrew vuốt phẳng tờ giấy đầy sức mạnh đã xếp dưới gối suốt tuần qua rồi bắt đầu. Gõ lại đoạn đã viết với cả đống dập xóa lại là chuyện vất vả hơn hack vào website nhiều.
Nó gắng dùng cách hành vãn khách quan và khó truy nguyên nhất có thể, kiểu văn phong không thiên vị của phóng viên báo chính thống.
Ứng viên đang khao khát tham gia hội đồng khu Simon Price muốn đi đầu cắt giảm các khoản chi phí phạm của hội đồng. Ông Price hẳn đã quen với việc giảm thiểu chi phí và có thể làm lợi cho hội đồng thông qua nhiều mối quan hệ hữu ích riêng. Ở nhà riêng, ông tiết kiệm tiền bằng cách mua đồ ăn cắp, mà món mới nhất là một chiếc máy tính để bàn. Nếu ai muốn in ấn giá rẻ, ông sẵn lòng nhận tiền để hỗ trợ việc đó lúc quản lý xưởng in Harcourt-Walsh đã về nhà.
Andrew đọc lại đoạn này hai lần. Nó đã nhẩm đi nhẩm lại nó biết bao nhiêu lần trong đầu. Hãy còn rất nhiều lời buộc tội khác nó muốn gán cho Simon, nhưng không có phiên tòa nào thực sự diễn ra để Andrew có thể thực sự cáo buộc ông bố với bằng chứng xuất trình là ký ức về những lần bị ngược đãi tinh thần lẫn thể xác nặng nề. Tất cả những gì nó biết là những vụ phạm pháp cỏn con đã nghe ông bố khoe khoang, nó chọn hai chuyện cụ thể nhất: cái máy tính hàng ăn cắp và in tài liệu lén ngoài giờ làm việc, vì hai điều này đều gắn chặt với chỗ làm của Simon. Đồng nghiệp trong xưởng in đều biết Simon làm mấy chuyện này, họ có thể kể với bạn bè, người thân hay bất kỳ ai chứ.
Bụng dạ Andrew lại nhói lên sợ hãi như những lần Simon phát khùng và trút lên đầu bất kỳ ai quanh gã khi đó. Nhìn cái bằng chứng phản bội bố mình hiển thị rành rành trên màn hình quả là đáng sợ.
- Mày đang làm cái quái gì thế? - giọng thằng Fats thì thầm bên tai.
Ông trung niên bốc mùi đã đi khỏi, Fats dời qua và đang đọc mấy dòng Andrew viết.
- Quỷ thần ơi - Fats kinh ngạc.
Miệng Andrew khô khốc. Tay nó khựng lại trên con chuột.
- Sao mày vào được? - Fats thì thào.
- Chèn mã lệnh SQL - Andrew đáp - Trên mạng chỉ đầy ra. Bảo mật của trang này vứt.
Fats trông vừa phục lăn thằng bạn vừa thích điên. Andrew nhìn nó nửa mừng nửa sợ.
- Chuyện này mày phải giữ…
- Để tao làm một cái về lão Tủ.
- Không được!
Andrew lách chuột khỏi mấy ngón tay Fats đang vươn tới. Hành động chơi xấu ông bố trái đạo làm con này bùng phát từ hỗn hợp nguyên sơ của cơn giận, nỗi thất vọng lẫn nỗi sợ phủ tràn cả cuộc đời nghe theo lý trí của nó, nhưng Andrew không biết phải nói điều đó thế nào với Fats, chỉ cụt ngủn: “Tao không phải đang đùa thôi đâu.”
Nó đọc đoạn vừa gõ lại lần thứ ba rồi thêm tiêu đề. Fats nhấp nhỏm đầy phấn khích sau lưng như thể hai thằng đang xem phim nóng. Andrew bốc lên ham muốn gây ấn tượng thêm tí nữa.
- Xem nhá - cậu bảo, đổi tên đăng nhập của Barry thành Hồn-Ma-Của-Barry-Fairbrother.
Fats cười sằng sặc. Mấy ngón tay của Andrew trên chuột run bần bật. Nó kéo mũi tên nháy ra ngoài. Không chắc nếu không có thằng Fats ngồi chình ình bên cạnh thì nó có hoàn thành nổi vụ này không. Chỉ với một cú click chuột, tin mới đã hiện ra ngay trên đầu bảng tin hội đồng khu Pagford: Simon Price không thích hợp tranh cử tham gia hội đồng.
Ra đến ngoài vỉa hè, hai thằng đứng nhìn nhau cười sằng sặc đến tắc thở, chuyện vừa mới làm đúng là đỉnh. Andrew mượn diêm Fats châm lửa đốt mảnh giấy viết đoạn tin và nhìn nó cháy tan thành tro, rụng lả tả xuống vỉa hè bẩn thỉu và biến mất dưới vô số bước chân người qua kẻ lại.
X
Andrew rời Yavil lúc ba giờ rưỡi để kịp về Nhà Trên Đồi trước năm giờ. Fats đi với thằng bạn ra trạm xe buýt rồi bỗng dưng bảo là sẽ nán lại thành phố thêm một lát.
Fats có hẹn sơ với Krystal là sẽ gặp ở trung tâm mua sắm. Nó sải bước về mấy cửa hàng, vừa đi vừa nghĩ chuyện Andrew vừa làm trong quán café internet, cố nén những cảm xúc hiện thời xuống.
Phải nói là nó ấn tượng, thậm chí còn có cảm giác bị qua mặt. Andrew im ỉm tự nghĩ ra từ đầu tới cuối vụ này, giữ bí mật và làm ngon lành. Đáng kể đấy. Fats hơi bực là thằng bạn lên kế hoạch mà không hề bàn với nó lời nào. Thế thì có lẽ nó cũng chẳng nên chê trách gì kiểu công kích giấu mặt của Andrew với bố nó. Chơi thế này lại không phải là quanh co trí trá quá hay sao? Ném thẳng mặt Simon câu đe dọa hay cú đấm thì “mã thượng” hơn nhiều chứ?
Thì đúng là lão Simon khốn nạn, nhưng rõ ràng gã là một thằng khốn thẳng thắn, nghĩa là gã làm chuyện gã muốn bất kỳ lúc nào mà không thèm chịu sự câu thúc của xã hội hay lề thói đạo lý thông thường. Fats tự hỏi mình liệu nó có nên đồng tình với Simon hay không, nó vốn hay chọc cười gã này bằng mấy câu châm biếm thô lỗ về cái bọn tự trát phân lên mặt hay chịu là nạn nhân của mấy trò tếu. Fats thường tự nhủ, thà có đối thủ xứng tầm dành sẵn cho nó như gã Simon với cái tính đồng bóng không biết khi nào bộc phát cơn điên, còn hơn là ông bố hiện giờ.
Nhưng mặt khác, Fats hãy còn chưa quên hộp dầu creosote rơi xuống, gương mặt hung ác và nắm đấm của Simon, tiếng thét khiếp hãi và cảm giác dòng nước tiểu ấm nóng chảy dọc xuống chân, và (có lẽ là chuyện xấu hổ nhất) khi đó nó thật sự mong mỏi mẹ Tessa đến đưa nó đi tới chỗ an toàn. Fats vẫn chưa trơ cứng tới mức không cảm thông được với mong muốn trả thù của Andrew.
Fats lại quay về ý nghĩ ban đầu: Chuyện thằng Andrew làm đúng là táo gan, tài tình, hậu quả còn hơn thả bom. Nghĩ tới đó Fats lại thấy bực dọc, sao nó lại không nghĩ ra trò này chứ. Nó cố gạt bỏ cái thói lụy ngôn từ đầy vẻ tiểu tư sản của mình, nhưng quả là khó mà dứt bỏ môn chơi nó vốn quá xuất sắc. Thế rồi vừa sải bước trên nền gạch bóng loáng của sân trước trung tâm thương mại, đầu nó vừa hiện ra những dòng chữ chắc hẳn đủ thổi bay cái bộ ra vẻ quan trọng của lão Tủ và lột trần lão ra trước sự nhạo báng của mọi người...
Nó nhận ra Krystal đứng với mấy đứa khu Fields cạnh mấy băng ghế dài đặt giữa lối đi rộng giữa mấy cửa hàng. Trong đám còn có Nikki, Leanne và Dane Tully. Fats không hề chậm chân hay vội thêm một mảy, nó cứ bước đều đều, tay đút túi, vào thẳng tầm soi của mấy cặp mắt tò mò nhòm nó từ đầu tới chân.
- Ngon lành hả, Fatboy? - Leanne gọi trước.
- Ờ ngon lành, hả? - Fats đáp. Leanne thì thầm gì đó với Nikki làm con bé này cười lục khục. Krystal đang chóp chép nhai kẹo cao su, má đỏ ửng, nó vuốt hất tóc ra sau khoe đôi bông tai lúc lắc và nhổm phắt dậy.
- Ngon lành hả? - Fats chào riêng nó.
- Ờ. - Nó đáp.
- Mẹ mày biết mày ra ngoài chơi không Fats? - Nikki hỏi.
- Có, mẹ đưa tao đi - Fats bình thản đáp trước đám bạn đang im lặng hau háu chực cười. - mẹ tao đang chờ ngoài xe kia kìa, bà bảo tao kịp chơi cú tàu nhanh trước khi về nhà uống trà chiều đấy.
Cả đám cùng phá ra cười, trừ Krystal quạu mặt lại - Câm cái mõm lại thằng bố láo - nói thế chứ nom vẻ nó khá hài lòng.
- Mày hút thuốc lá vấn hả? - Dane Tully lè nhè, mắt liếc túi áo ngực của Fats. Môi nó có vết thương lớn lên vảy thâm đen.
- Ờ - Fats đáp.
- Ông chú tao cũng hút thế - Dane nói - phá phổi nát bấy.
Nó buồn tay cạy cạy cái vảy trên môi.
- Hai đứa mày tính đi đâu? - Leanne liếc Fats và Krystal.
- Chưa biết - Krystal vẫn nhai kẹo, liếc sang phía Fats.
Nó không đáp lời đứa nào, chỉ hất ngón cái về phía lối ra trung tâm thương mại.
- Tí gặp nhá! - Krystal chào với lại đám bạn.
Fats giơ tay chào qua quýt ra ý tạm biệt rồi bỏ đi, Krystal sải bước theo sau. Nó nghe vài tiếng cười sau lưng nhưng không bận tâm. Nó biết mình đã xử sự khá được.
- Giờ đi đâu đây? - Krystal hỏi.
- Chả biết - Fats hỏi lại - thường đấy đi đâu?
Con bé nhún vai, vừa đi vừa nhai kẹo. Hai đứa ra khỏi trung tâm thương mại và đi xuôi xuống đại lộ. Còn khá xa mới đến sân chơi, lần trước hai đứa từng tới đó kiếm chỗ riêng tư.
- Không phải mẹ đấy cho đi ké thật đó chứ? - Krystal hỏi.
- Làm chó gì. Đây bắt xe buýt mà, chứ còn sao nữa?
Krystal chẳng hề bực câu nói gắt, mải liếc nhìn bóng hai đứa phản chiếu trên các cửa sổ cửa hàng ven đường khi đi ngang. Lập dị, lẻo khoẻo, Fats là thằng nổi tiếng trong trường. Cả Dane cũng phải chịu là nó hài cực.
- Nó chỉ xài mày cho dzui thôi, con ngu - Ba hôm trước, Ashlee Mellor đã vỗ vào lưng con bé mà bảo thế - vì mày cũng là đồ đĩ ngựa như mẹ mày.
Ashlee khi trước cũng thuộc băng của Krystal trước khi hai đứa nó tranh nhau một thằng con trai. Đầu óc Ashlee vốn có tiếng là không bình thường gì lắm, nó dễ nổi cơn điên vừa gào vừa khóc, ở trường Winterdown nó suốt ngày phải học phụ đạo với ngồi nghe tham vấn. Thêm một bằng chứng nữa chứng tỏ nó làm mà không biết suy xét tới hậu quả: dám chọc tức Krystal ngay trên địa bàn em này, Krystal có “đội” còn nó độc trọi một mình. Thế là Nikki, Jemma và Leanne dồn Ashlee vào góc và túm chặt nó cho Krystal đấm tát nó đủ chỗ, chốt hạ khi nó rút nắm tay đầy máu ra khỏi mồm đối thủ.
Krystal chẳng buồn bận tâm tới hậu quả.
- Vừa “gà” vừa “ướt” - Krystal bình một câu về Ashlee và nhà nó thế.
Dù sao những lời của Ashlee vẫn chạm nhói một góc yếu mềm từng bị vấy đen trong tâm hồn Krystal, vì thế hôm sau, nó thấy an ủi khi lần đầu tiên Fats tìm gặp nó trong trường để hẹn gặp nhau vào cuối tuần. Nó khoe ngay với Nikki và Leanne rằng nó và Fats Wall sẽ đi chơi với nhau vào thứ Bảy, hài lòng nhìn vẻ ngạc nhiên của hai đứa kia. Hơn nữa Fats còn tới đúng giờ hẹn (hay chỉ xê xích độ tiếng rưỡi) và đi với nó ngay trước mặt lũ bạn. Y như hai đứa đang hẹn hò thực sự.
- Thế đấy đi đâu thế? - Fats hỏi, hai đứa đã im lặng đi bộ một quãng gần năm chục thước, ngang qua tiệm café internet. Nó biết vẫn cần phải nói qua nói lại vài lời, ngay cả lúc bận nghĩ xem có thể tìm được chỗ nào riêng tư khác trước khi tới sân chơi cách đó nửa tiếng đi bộ nữa. Nó muốn “dùi” con bé khi hai đứa đều đang phê tê tê, không biết cảm giác sẽ thế nào đây.
- Sáng nay đây mới đi thăm bà cố Nana, bà bị đột quỵ - Krystal lên tiếng.
Lần này lúc nó đến thăm bà cố không gắng nói gì nữa, nhưng Krystal tin bà biết nó có mặt ở đó. Đúng như Krystal đoán, mẹ nó không chịu vào thăm, thế là Krystal ngồi một mình cạnh giường bà suốt cả tiếng tới tận lúc phải đi tới khu mua sắm.
Fats cũng tò mò muốn biết mấy chi tiết liên quan tới cuộc sống của Krystal, nhưng chỉ những điểm nào giúp nó thâm nhập vào cuộc sống thực của khu Fields mà thôi. Mấy chuyện quá cụ thể kiểu thăm nom ở bệnh viện nó chẳng quan tâm chút nào.
- Với lại - Krystal đột ngột nói thêm, đầy tự hào - đây vừa mới làm phỏng vấn với báo chí đấy nhé.
- Gì? - Fats sửng sốt - Sao lại thế?
- Thì về chuyện khu Fields - Krystal đáp - Kiểu lớn lên ở đó thì thấy thế nào.
(Cuối cùng cô phóng viên cũng tìm ra nó ở nhà, sau khi được Terri hậm hực cho phép, cô này đưa nó ra quán café nói chuyện. Cô cứ hỏi nó chuyện đi học ở trường Thánh Thomas giúp ích gì cho Krystal, có làm thay đổi cuộc đời nó ở mặt nào đó không. Xem ra cô hơi sốt ruột và không mấy hài lòng trước mấy câu đáp của Krystal.
- Thế điểm số của em ở trường thế nào? - Cô hỏi thế, Krystal tức thì lảng tránh và thủ thế.
- Ông Fairbrother nói ông nghĩ chuyện học ở trường giúp mở rộng tầm nhận thức cho em.
Krystal chẳng biết phải nói gì về tầm nhận thức. Nhắc tới trường Thánh Thomas, nó nhớ mình đã từng chơi rất vui trên sân trường có cây dẻ cao lớn, năm nào cũng rụng lên đầu nó hàng đống hạt dẻ nhẵn bóng (trước khi vào trường Thánh Thomas, con bé chưa khi nào thấy hạt dẻ). Lúc đầu nó cũng thích đồng phục của trường, thích được giống như bạn bè xung quanh. Nó cũng hết sức tự hào thấy tên ông cố Pte Samuel Weedon khắc trên tượng đài chiến tranh đặt ngay giữa quảng trường. Trong trường chỉ có mỗi một thằng khác có họ được khắc trên đó. Cậu này là con nhà nông, biết lái máy cày từ năm lên chín, thậm chí còn mang vào lớp cả một con cừu trong tiết Cho xem và Giới thiệu. Krystal không bao giờ quên cảm giác vuốt ve bộ lông con cừu. Khi kể với bà cố chuyện đó, bà nó bảo ngày trước nhà nó cũng từng phải làm việc trong nông trại.
Krystal yêu khu rừng xanh tươi dọc bờ sông, nó với các bạn thường ra đó trong tiết đi dạo ngoài trời. Tuyệt nhất là môn bóng runđơ và các môn thể thao nói chung. Khi chọn thành viên cho đội thể thao nào đi nữa thì nó cũng luôn là đứa đầu tiên được chọn, nó khoái nghe tiếng đội còn lại rên rẩm khi đội kia có nó. Đôi lúc nó cũng nhớ tới những giáo viên đặc biệt từng dạy nó, nhất là cô giáo Jameson trẻ trung, thời trang, tóc dài vàng rực. Krystal luôn hình dung cô chị Anne-Marie chưa từng gặp cũng hơi giống cô Jameson.
Những chuyện vặt vãnh lại lưu rõ ràng sống động trong óc Krystal. Núi lửa: phát sinh do các mảng trong lòng đất dịch chuyển. Lớp nó từng làm mô hình núi lửa, đổ đầy thuốc muối với dung dịch nước rửa chén vào, nó sẽ phun trào ra mấy khay nhựa bên dưới. Krystal thích trò đó. Con bé cũng biết về người Viking: họ đội mũ có sừng, ngồi thuyền dài, nhưng nó quên mất họ đến nước Anh khi nào và để làm gì.
Những ký ức khác về trường Thánh Thomas bao gồm cả những lời bình luận chẳng hề êm tai từ mấy đứa bạn gái khác trong lớp, một hai đứa trong số đó từng bị nó tát. Khi Sở Xã Hội cho phép nó quay lại sống với mẹ thì đồng phục của nó đâm ra quá chật, quá ngắn và lôi thôi lếch thếch, đến nỗi nhà trường gửi thư về nhà làm mẹ và bà cố nó cãi nhau một trận kinh khủng. Mấy nữ sinh khác trong trường không thích chơi cùng nhóm với nó, chỉ trừ đội bóng runđơ. Giờ nó hãy còn nhớ cảnh Lexie Mollison đưa cho mọi đứa trong lớp cái phong bì nhỏ màu hồng mời đi dự tiệc nhưng bước thẳng ngang mặt Krystal với cái mũi vênh lên trời, theo nó nhớ thế.
Chỉ một vài đứa bạn ngày xưa từng mời nó đi dự tiệc. Nó tự hỏi không biết Fats hay mẹ nó có nhớ nó cũng từng tới nhà đó dự tiệc sinh nhật hay chưa. Cả lớp đều được mời, nhân dịp đó bà cố Nana Cath mua cho nó chiếc váy đầm mới. Thế nên nó biết nhà Fats có khu vườn sau cực rộng, có hẳn cái hồ, xích đu và cây táo. Bọn nó cùng ăn thạch và thi nhảy bao bố. Tessa phải bảo Krystal ngừng chơi vì khi cố giành lấy tấm huy chương bằng nhựa, nó húc văng mấy đứa khác khỏi đường đua. Có đứa còn ngã chảy máu cam.
- Nhưng em thích trường Thánh Thomas mà, phải không? - cô phóng viên hỏi.
- Cũng thích - Krystal đáp, nhưng nó biết mình vẫn chưa truyền đạt được cái ý ông Fairbrother muốn, ước gì ông ấy ở đây giúp nó một tay. - Có, em rất thích.)
- Sao bên đó lại nảy ra cái ý nói chuyện với đấy về khu Fields? - Fats hỏi.
- Đó là ý của ông Fairbrother. - Krystal đáp.
Thêm vài phút im lặng, rồi Fats hỏi: - Đấy hút không?
- Kiểu gì, như cần sa ấy hả? Ờ, đây từng hút với thằng Dane rồi.
- Có mấy điếu đây.
- Lấy chỗ thằng Skye Kirby hả? - Krystal hỏi. Fats không biết cái thoáng giễu cợt trong giọng con bé là có thật hay do nó tưởng tượng, vì thằng Skye là mối cung cấp hàng nhẹ, an toàn cho bọn nhóc tiểu-tư-sản. Nếu quả thế thì Fats thà bị con bé cười thẳng mặt còn hơn.
- Thế đấy lấy cỏ ở đâu? - Nó cũng tò mò hỏi lại.
- Không biết, hút của thằng Dane mà - Krystal đáp.
- Từ chỗ Obbo hả? - Fats gợi ý.
- Cái thằng cha bần tiện chết tiệt đó.
- Gã đó thì làm sao?
Nhưng Krystal không chịu nói rõ hơn. Nó không muốn nhắc về gã này. Cứ nhắc tới gã là Krystal sởn gai ốc. Thỉnh thoảng gã tới cùng chích với Terri hoặc chơi mẹ nó, Krystal có khi bắt gặp gã trên cầu thang, vừa kéo cái khóa quần bẩn thỉu vừa nhe răng cười với con bé qua cặp đít chai. Thường Obbo có mấy việc vặt cần Terri, kiểu giấu hộ mấy cái máy vi tính hay cho người lạ ngủ nhờ một đêm, hay làm mấy việc gì đó Krystal không rõ, chỉ biết bà mẹ phải đi khỏi nhà hàng giờ.
Cách đây chưa lâu, Krystal gặp ác mộng, trong giấc mơ me nó bị kéo căng người ra buộc vào thứ gì tựa cái khung. Cả người bà là cái lỗ khổng lồ mở hoác ra, như con gà khổng lồ bị vặt lông trụi lủi. Gã Obbo đó hiện diện trong mơ, đi ra đi vào cái lỗ đó, lăng xăng vọc vạch mấy thứ bên trong, còn cái đầu bé tí của mẹ nó trông sợ chết cứng. Krystal giật mình dậy, vừa tức giận, vừa buồn nôn lẫn chán ghét.
- Gã là đồ chó - Krystal mở miệng.
- Đó có phải cái gã cao cao, đầu cạo có xăm hình khắp đằng sau gáy không? - Fats hỏi. Nó đã cúp học lần thứ hai trong tuần này để ngồi trên bức tường trong khu Fields mà quan sát hàng giờ. Gã đàn ông đầu trọc đó làm nó để ý, gã cứ lăng xăng làm gì đó suốt chỗ một chiếc xe tải trắng cũ.
- Không, đó là Pikey Pritchard - Krystal đáp - Nếu thấy chả dưới đường Tarpen.
- Tay ấy làm gì?
- Không biết. Hỏi Dane ấy. Nó cặp kè với thằng nhóc em Pikey.
Con bé thích cái vẻ hứng thú thực sự của cậu bạn, trước giờ Fats chưa khi nào nói chuyện chăm chú đến thế với nó.
- Pikey đang chịu án treo.
- Vì sao?
- Nó lấy miểng chai rạch mặt thằng nào đó đâu dưới Cross Keys.
- Vụ gì thế?
- Làm thế quái nào đây biết được? Đây có ở đó đâu - Krystal đáp.
Nó đang vui vẻ, thường khi vui nó hơi lên mặt chút đỉnh. Nếu gạt qua một bên nỗi lo về bà cố Nana Cath (dù sao thì bà vẫn còn sống đấy thôi, nghĩa là vẫn còn hy vọng hồi phục), mấy tuần nay khá là ổn thỏa. Mẹ Terri tuân thủ đúng các quy định của trung tâm Bellchapel và Krystal phụ trách chuyện đưa Robbie đi nhà trẻ. Chỗ hăm của thằng bé đã gần lành lại hết. Cô nhân viên xã hội có vẻ hài lòng, theo cái cách của cô ta. Krystal cũng đi học đều đặn dù không dự buổi tham vấn vào sáng thứ Hai hay thứ Tư với cô Tessa. Nó cũng không hiểu tại sao. Đôi khi người ta cũng chệch khỏi thói quen.
Nó lại liếc sang Fats. Chưa bao giờ nó nghĩ đến chuyện thích cậu này, trước khi cậu ta nhắm trúng nó trong buổi nhảy nhót trong phòng kịch. Ai cũng biết tiếng Fats, mấy chuyện đùa của nó lan khắp trường như hài kịch truyền hình. (Krystal vờ rằng nhà nó cũng có tivi. Nó cũng từng được xem tivi ở nhà bạn bè hay nhà bà cố, đủ để lấp liếm bình luận kiểu: “Ờ, chương trình đó như cứt, hả?”, “Ờ, tao suýt tè ra quần”, đại loại thế, khi có đứa bạn nào nói về chương trình nó đã xem.)
Fats đang ngẫm nghĩ bị miểng chai cứa thì cảm giác thế nào, rìa miểng sắc sẽ cắt ngọt vào thịt mềm trên mặt, dây thần kinh bị nung đốt, không khí thốc qua lớp da bị xé rách, rồi máu âm ấm chảy ra. Nó cảm thấy phần da quanh miệng tự dưng ngưa ngứa cứ như ở đó cũng đã mang thẹo.
- Nó còn mang dao theo người không, thằng Dane đó? - Fats hỏi.
- Sao đấy biết nó có dao? - Krystal hỏi lại.
- Thì nó dọa thằng Kevin Cooper thế.
- À hả - Krystal thừa nhận - Nhưng Cooper thì đáng kể gì?
- Ờ, nó thế - Fats đồng tình.
- Dane lận hàng theo vì kiềng anh em nhà Riorhon thôi - Krystal giải thích.
Fats khoái cái giọng thản nhiên đơn-thuần-sự-việc-nó-thế của Krystal. Con bé chấp nhận sự cần thiết của con dao vì có oán thù lẫn nguy cơ xảy ra bạo lực. Cuộc đời thực trần trụi là thế, đây mới là những thứ thực sự đáng kể... Trước khi Arf đến nhà nó, ông Tủ cứ nhũng nhiễu ép mẹ nó cho ý kiến tờ rơi vận động của lão nên in trên giấy vàng hay giấy trắng...
- Ở đó được không? - Fats lên tiếng đề nghị sau một lúc im lặng.
Bên tay phải là bức tường đá dài, cánh cổng mở hé thấp thoáng cây xanh và mộ đá bên trong.
- Ờ được thôi - Krystal đồng ý. Con bé trước đó đã vào nghĩa trang một lần cùng Nikki và Leanne; mấy đứa ngồi trên mấy ngôi mả chia nhau mấy lon bia, chẳng mấy để ý ngồi thế có gì “phạm thượng”, rồi có mụ nào đó nhảy ra quát tháo, réo chửi chúng nó bằng đủ thứ tên khó nghe. Trước khi bỏ đi, Leanne ném cái lon rỗng về mụ đó.
Nhưng chỗ này lộ liễu quá, Fats nghĩ lúc cùng Krystal đi dọc con đường lát ximăng giữa mấy hàng mộ. Mấy tấm mộ chí dẹp bằng đá xanh không che chắn gì được. Rồi nó nhìn thấy mấy giậu hoàng liên gai chạy dọc bức tường phía xa. Nó đi tắt ngang qua nghĩa trang, tay đút túi, Krystal đi theo, hai đứa lựa bước giữa những ngôi mộ chữ nhật và những tấm bia nứt nẻ không rõ chữ. Nghĩa trang này rất rộng và được chăm sóc tốt. Hai đứa dần dần tới được khu mộ mới hơn, bia làm bằng đá cẩm thạch đen bóng loáng khắc chữ vàng, trên mấy ngôi mộ mới hãy còn hoa tươi.
Gửi tới mẹ Lyndsey Kyle, 15/09/1960 - 26/0/2008
Hãy ngủ yên mẹ nhé.
- Ờ, chỗ đó được đấy - Fats nói, liếc mắt nhìn khoảng trống tối tăm giữa giậu cây gai hoa vàng và bức tường rào nghĩa trang.
Hai đứa len vào khoảng tối ẩm thấp, ngồi phệt xuống đất dựa lưng vào bức tường lạnh ngắt. Sau những bụi cây, hàng hàng bia mộ xen giữa những giậu cây quanh chúng nhưng chẳng có bóng người nào quanh đó. Fats thành thạo vấn thuốc, mong Krystal nhìn mà lác mắt.
Nhưng con bé đang mải nhìn lan man ra ngoài dưới tán lá sẫm đen bóng loáng, nghĩ về bà chị Anne-Marie mà (theo dì Cheryl nói) đã vào thăm bà cố Nana Cath hôm thứ ba. Giá mà nó cúp học để chạy đến đó kịp thời, có khi hai chị em đã gặp được nhau. Rất nhiều lần nó mơ tới cảnh gặp Anne-Marie và nói: “Em là em của chị”. Anne-Marie, trong cơn mơ của nó, lúc nào cũng tỏ ra vô cùng mừng rỡ, sau đó hai chị em gặp nhau suốt, và cuối cùng thì Anne-Marie đề nghị Krystal dọn về ở hẳn với chị. Chắc nhà chị ấy cũng gọn gàng sạch sẽ như nhà bà cố Nana Cath, chỉ có điều là hiện đại hơn. Sau này trong mộng tưởng của Krystal có thêm đứa bé hồng hào xinh xắn nằm trong cái cũi viền đăng-ten.
- Đây này - Fats chuyền cho Krystal điếu cỏ quấn. Con bé rít sâu, giữ khói trong phổi vài giây, gương mặt giãn ra mơ màng dưới tác dụng của cần sa.
- Đấy đâu có anh chị gì, phải không? - Krystal hỏi..
- Không - Fats đáp, thò tay vào túi kiểm tra mấy bao cao su đã chuẩn bị sẵn.
Krystal đưa trả lại điếu “cỏ”, đầu gật gù dễ chịu. Fats cũng rít một hơi dài, nhả khói vòng tròn.
- Đây là con nuôi. - Fats nói sau một lúc im lặng.
Krystal trợn mắt nhìn nó.
- Đấy là con nuôi hả, thiệt hả?
Có chút cảm giác được yêu chiều, chuyện riêng đâm ra dễ nói, mọi thứ đều trở nên dễ dàng.
- Chị gái đây cũng được người ta nhận nuôi đấy - Krystal vui vui vì sự trùng hợp và vì được nói về Anne-Marie.
- Ờ, có khi nhà đây khi trước cũng giống kiểu nhà đấy - Fats nói.
Nhưng Krystal không nghe, nó đang có hứng nói.
- Đây có bà chị với ông anh Liam nữa, nhưng đều bị đưa đi trước khi có đây.
- Sao thế?
Tự nhiên nó đâm ra quan tâm.
- Thì mẹ đây lúc đó đang cặp với Ritchie Adams mà - Krystal rít một hơi thuốc sâu rồi phụt ra dải khói dài mỏng mảnh - Thằng chả tâm thần nặng. Giờ đi tù rồi. Vì thịt một thằng. Suốt ngày đánh mấy mẹ con, rồi nhà John và Sue tới nhận anh chị đi. Bên cơ quan xã hội cũng thọc tay vào, cuối cùng nhà đó giữ nuôi anh chị luôn.
Con bé lại rít thuốc, nghĩ về thời kỳ toàn máu, giận dữ và tăm tối trước khi nó ra đời. Nó đã được nghe nhiều về Ritchie Adams, chủ yếu từ bà dì Cheryl. Lão từng dụi thuốc lá vào tay chị Anne-Marie lúc đó mới một tuổi và đá chị tới gãy xương sườn. Gã còn đập vỡ mặt mẹ Terri, giờ gò má trái của mẹ vẫn còn bị lệch so với má phải. Terri càng ngày càng nghiện be nghiện bét. Trong tình cảnh đó dì Cheryl tất nhiên phải quyết tách hai đứa nhỏ bị bạo hành và bỏ mặc ra khỏi bố mẹ chúng.
- Phải thế thôi - dì Cheryl nói.
John và Sue không có con, là họ hàng xa của nhà nó. Krystal không biết trong cây phả hệ phức tạp của nhà mình hai người đó đứng ở đâu nữa, cũng không biết họ làm cách nào “bắt cóc” hai anh chị nó, theo từ của mẹ nó. Sau đủ trò đôi co ầm ĩ với chính quyền, cuối cùng họ cũng được nhận nuôi hai đứa nhỏ. Terri vẫn dính với Ritchie cho tới khi gã bị bắt và chưa khi nào đi thăm Anne-Marie hay Liam, Krystal cũng không hiểu sao lại thế. Toàn bộ sự vụ ngưng lại đó, âm ỉ với những mối oán hờn, những lời đe dọa chửi rủa không sao quên được, những lệnh cấm, và đám nhân viên xã hội.
- Thế bố đấy là ai? - Fats hỏi.
- Banger - Krystal đáp. Nó cố nhớ lại tên thật của ông này - Barry - nó lẩm bẩm, không chắc là nhớ đúng. - Barry Coates. Nhưng đây theo họ mẹ Weedon.
Ký ức về người thanh niên trẻ chết vì chơi thuốc quá liều trong nhà tắm mẹ Terri lại trồi lên giữa hơi khói đặc ngòn ngọt. Con bé chuyền điếu thuốc cho Fats, tựa ngửa đầu vào bức tường đá nhìn mảnh trời loáng thoáng qua đám lá đen sẫm.
Fats nghĩ về tay sát nhân Ritchie Adams, có khi cha ruột của nó cũng đang ở trong tù như thế, cũng xăm hình như Pikey, hung hãn và cuồn cuộn cơ bắp. Nó thầm so sánh ông thầy Tủ với cái hình ảnh mạnh mẽ xù xì kiểu đàn-ông-đích-thực đó. Fats biết nó bị tách khỏi mẹ từ hồi còn sơ sinh vì nhà có mấy tấm hình Tessa bế nó, đầu đội mũ len trắng, trông mong manh như con chim non. Nó bị sinh non. Tessa có kể nó nghe vài chuyện dù nó không hề hỏi tới bao giờ. Mẹ ruột của nó sinh nó hồi rất trẻ, nó biết thế. Có lẽ hồi đó bà ta cũng giống Krystal bây giờ, làm một con điếm non trong trường...
Nó đã thấy phê tới độ. Nó choàng tay ôm gáy Krystal kéo lại gần mà hôn, liếm láp lưỡi con bé. Tay còn lại lần xuống ngực. Não nó lờ đờ, tay chân nghe nặng trịch, cả cảm giác của nó khi gần gũi cũng bị ảnh hưởng. Nó loay hoay tìm cách luồn tay vào áo lót con bé. Miệng Krystal nóng hổi đậm vị thuốc lá và cần sa, đôi môi khô rang nứt nẻ. Cơn hứng của nó hơi nhụt đi chút đỉnh, mọi cảm giác như bị chặn bởi tấm chăn vô hình. Lần này mở đồ con bé lâu hơn lần trước, tròng bao vào cũng khó vì mấy ngón tay cứ cứng ngắc chậm chạp. Nó lỡ tì khuỷu tay xuống phần thịt non gần nách Krystal làm con bé ré lên vì đau.
Hôm nay con bé khô hơn bữa trước, nó hì hục cố đẩy vào cho được. Thời gian trôi chậm sệt như keo, nó nghe tiếng thở nhanh gấp gáp của chính mình. Cảm giác này làm nó căng thẳng, cứ như có ai khác đang đứng nhìn chòng chọc trong bóng tối và hổn hển thở bên tai nó. Krystal rên rỉ đôi chút. Lúc đầu nó ngật ra sau thế này, mũi nó huếch rộng trông như mõm lợn. Fats tốc áo thun nó lên ngắm bộ ngực trắng mịn màng rồi luồn tay dưới chiếc áo ngực đã tháo khuy nhè nhẹ vuốt ve. Rồi nó xuất, không chuẩn bị trước, với tiếng rên thỏa mãn nghe như tiếng kẻ nào đó đang rình mò.
Nó trượt khỏi người con bé, lột bao cao su ra vứt bừa bên cạnh rồi kéo khóa quần lên, bồn chồn nhìn quanh sợ có ai đó xuất hiện. Krystal một tay xốc quần lên, một tay kéo áo xuống rồi quài tay ra sau cài lại áo ngực.
Trời trở tối và dày mây hơn. Trong tai Fats có tiếng u u văng vẳng, nó nghe đói cồn cào, não nặng trịch trong khi tai thì cực thính. Nó vẫn bị ám ảnh bởi nỗi sợ có ai đó đang nhìn trộm từ đầu tường. Nó muốn biến ngay.
- Tụi mình... - nó lẩm bẩm, rồi không đợi con bé, nó cuộn mình đứng dậy phủi lại quần áo. Cách đó độ trăm thước có cặp vợ chồng già đang cúi mình bên nấm mộ. Nó muốn đi khuất ngay khỏi ánh mắt ma quái nào đó hình như nhìn thấy nó làm tình với Krystal Weedon. Nhưng cứ nghĩ tới cảnh phải đi bộ tới trạm xe buýt và lên xe về lại Pagford là nó lại thấy bã cả người. Ước gì nó có phép biến ngay về phòng ngủ ở tầng áp mái của mình.
Krystal đang loạng choạng bước theo sau. Nó vừa cuộn áo thun xuống vừa nhìn đám cỏ dưới chân.
- Khỉ quá - nó lẩm bẩm.
- Gì thế? - Fats hỏi - đi nhanh đi.
- Ông Fairbrother - con bé sựng lại.
- Cái gì chứ?
Con bé chỉ tay vào mô đất ngay trước mặt, bia mộ chưa kịp làm xong nhưng mô đất vẫn phủ đầy hoa tươi.
- Thấy không? - con bé khom người nhìn mấy tấm thiếp kẹp cùng giấy bóng kính bọc hoa - Đúng là Fairbrother - nó dễ dàng đọc những chữ cái trong tên người từng đi từ trường đến tận nhà nó, xin phép mẹ cho nó đi thi đấu xa trên chiếc xe buýt nhỏ - Gửi Barry - nó đọc chầm chậm - còn cái này nữa - Gửi bố, từ...
Nó chịu đọc không nổi tên của Niamh và Siobhan.
- Thì sao? - Fats cố tình hỏi vặn, thật ra nó đang sởn hết gai ốc. Cái quan tài bằng gỗ liễu đan đó cách chân chúng nó chưa đầy một thước, trong đó là cái xác với gương mặt tươi cười của ông bạn thân nhất của cha nó, người hay tới chơi nhà nó, giờ đang mục rữa ra dưới đất. Hồn ma của Barry Fairbrother... nó mất hết bình tĩnh. Nghe như một sự trừng phạt.
- Đi thôi - Fats lại giục, nhưng Krystal không nhúc nhích - Lại chuyện gì nữa?
- Đây đua thuyền là vì ông ấy, chứ sao? - Krystal cáu.
- Ờ phải rồi.
Nó nhấp nhổm không yên như ngựa chứng, lập cập lùi ra sau.
Krystal nhìn sững nấm đất, quàng tay ôm lấy mình. Nó thấy mình bẩn thỉu, trống rỗng và đau đớn. Ước gì hai đứa nó không phải vừa vật nhau chính ngay chỗ này, gần ông Fairbrother đến thế này. Nó lạnh. Nó không có áo khoác như Fats.
- Nào đi thôi - Fats lại giục.
Nó theo chân thằng này ra khỏi nghĩa trang, nhưng hai đứa không nói với nhau lời nào nữa. Krystal nghĩ về ông Fairbrother, ông ấy hay gọi nó là “Krys”, đó giờ chẳng ai khác gọi nó như thế. Nó thích cái tên ấy. Tiếng cười của ông rất giòn. Nó nghe muốn khóc.
Fats cố nghĩ cách làm sao biến vụ này thành chuyện cười kể cho thằng Andrew, khi chơi con Krystal lúc phê độ và ảo tưởng rằng có ai đó đang nhìn lén hai đứa, rồi khi bò ra thì đụng ngay mộ Barry Fairbrother. Nhưng ngay lúc này, chuyện đó chưa làm nó thấy buồn cười nổi, hãy chưa.