Khúc Xương Biết Hát

Khúc Xương Biết Hát

Lượt đọc: 479 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần I - Án mạng ở Girdler

Có một mê tín phổ biến trong công chúng cho rằng trẻ sơ sinh và động vật bậc thấp sở hữu sức mạnh huyền bí của các thế lực thần thánh, thứ nằm ngoài khả năng suy luận của người trưởng thành. Người ta có khuynh hướng chấp nhận những phán đoán từ niềm tin này hơn là nghe theo những góp ý xuất phát từ kinh nghiệm đơn thuần.

Liệu đức tin đó có được xây dựng từ bất kì nền tảng nào khác ngoài sự mù quáng bất chấp nghịch lý hay không? Điều này không cần thiết phải tìm hiểu. Quan trọng là nó chứa đựng tính giải trí, đặc biệt là với những quý bà có địa vị trong xã hội. Và với phu nhân Thomas Solly, bà trung thành với niềm tin ấy như một tín điều.

“Đúng thế đấy.” Bà thuyết giáo. “Nghe có vẻ là khó tin nhưng mà những đứa trẻ con và mấy con vật không biết nói ấy bằng cách nào đó có thể biết được mọi thứ. Đó là sự thật. Không gì có thể qua mắt được chúng đâu. Tụi nó còn có thể tìm ra vàng giữa đống cặn bã chỉ trong giây lát nữa là. Thậm chí, chúng có thể đọc được trái tim của con người một cách đơn giản như đang xem một cuốn sách. Hay thật đấy! Tôi cho rằng đó là một dạng bản năng!”

Sau khi trình bày những tư tưởng triết học quý báu ấy, bà thọc hai tay vào trong bồn giặt đầy bọt và liếc nhìn vị khách trọ của mình một cách ngưỡng mộ. Ông ta đang ngồi ở ngưỡng cửa, một bên đầu gối đỡ đứa trẻ mập mạp mười tám tháng tuổi còn bên kia là một con mèo mướp béo tốt.

James Brown là một thủy thủ lớn tuổi với vóc dáng nhỏ con, cách nói chuyện hay bóng gió, khéo léo. Ông tuy là kiểu người ranh mãnh nhưng lại sẵn có một tình yêu vô bờ bến với trẻ con và động vật. Sở trường của người thủy thủ già này chính là khiến cho chúng dễ dàng chấp nhận ông. Bằng chứng là khi ông ngồi đung đưa chiếc tẩu rỗng giữa bộ nướu không răng của mình, đứa bé con cười rạng rỡ với khuôn miệng đầy nước dãi, còn con mèo thì cuộn tròn lại thành một quả bóng lông và kêu gừ gừ như tiếng khung cửi, mấy ngón tay nó làm động tác mân mê như thể đang đeo thử một đôi găng tay mới.

“Hẳn là cô đơn kinh khủng lắm khi ở trên ngọn hải đăng.” Bà Solly tiếp tục. “Chỉ có mỗi ba người đàn ông, mà lại còn chẳng có người hàng xóm nào để trò chuyện nữa. Chúa ơi! Chắc họ phải sống trong một mớ hỗn độn kinh khủng vì không có bàn tay phụ nữ chăm sóc và giữ cho mọi thứ ngăn nắp. Nhưng ông Brown, nói cho cùng thì ông sẽ không phải làm việc quá sức trong những ngày dài, từ khi ánh sáng ban ngày ló rạng cho tới hơn chín giờ tối. Tôi không biết ông sẽ làm gì để giết thời gian vào lúc đó đây.”

“Ồ, tôi mong là mình sẽ có nhiều việc để làm.” Ông Brown đáp lại. “Chẳng hạn như lau chùi đèn, làm sạch mấy tấm kính hay sơn lại những món đồ sắt.” Rồi ông nhìn vào chiếc đồng hồ, nói thêm. “Và nói mới nhớ, thời gian vẫn đang trôi không ngừng. Nước sẽ dâng cao lúc mười giờ rưỡi mà bây giờ đã là tám giờ rồi.”

Bà Solly hiểu ý, nhanh chóng lôi đống quần áo đã giặt ra và vắt khô khiến chúng trông như những sợi thừng ngắn. Sau đó, chùi vội tay lên chiếc tạp dề và đón lấy đứa bé đang vùng vằng không muốn rời Brown.

“Phòng của ông sẽ luôn sẵn sàng.” Bà Solly nói. “Đợi tới khi ông lên bờ, tôi cũng như Tom sẽ rất vui khi được đón ông trở về.”

“Tôi xin cảm ơn, thưa bà Solly.” Brown trả lời, rồi dịu dàng đặt con mèo xuống sàn. “Nếu trở về thì tôi mới chính là người sẽ vui mừng hơn bất cứ ai.” Ông bắt tay bà chủ trọ bằng cử chỉ ấm áp, hôn lên đứa bé, nựng cằm con mèo, rồi vác chiếc rương nhỏ của mình lên vai và sải bước ra khỏi nhà.

Con đường phải đi nằm vắt ngang qua đầm lầy. Tựa như trên một con tàu đang ra khơi, ông định hình phương hướng bằng cách lấy mốc là tòa tháp đôi Reculver ngạo nghễ đứng sừng sững trên vành đai đất. Và khi bắt đầu rảo bước trên lớp cỏ, Tom Solly ngước nhìn ông bằng cái nhìn trống rỗng cùng những tiếng bập bẹ từ biệt. Có một lúc, ông dừng lại tại cổng đê để ngoái nhìn phong cảnh tươi đẹp của đất liền Kentish: tòa tháp màu xám của làng St. Nicholas at Wade lấp ló qua những tán cây, chiếc cối xay phía xa của làng Sarre chầm chậm quay trong làn gió hè, và trên hết, hình bóng một ngôi nhà lẻ loi, nơi đã cho ông biết đến những niềm vui giản dị của cuộc sống gia đình yên bình, dù chỉ trong một quãng ngắn ngủi của cuộc đời đầy sóng gió. Dẫu sao thì những chuyện ấy đều đã qua rồi, chỉ còn lại ở hiện tại bóng dáng ngọn hải đăng đang lờ mờ hiện ra trước mắt. Ông bước qua cánh cổng và tiến về phía Reculver cùng với một tiếng thở dài.

Phía ngoài những ngôi nhà quét vôi trắng với ống khói đen, một sĩ quan của lực lượng cảnh sát biển đang điều chỉnh dây treo cột cờ. Khi nhìn thấy Brown tới gần, anh ấy liền vui vẻ chào đón ông. “Ông đây rồi.” Viên sĩ quan nói. “Ông trông ổn với bộ đồ mới của mình đó. Nhưng như ông thấy đấy, chúng tôi đang gặp phải chút khó khăn. Tàu phải cập bến Whitstable sáng nay, vì thế mà không cử được ai đi cùng ông cả, cũng không bố trí được chiếc thuyền dự phòng nào.”

“Thế tôi có phải bơi tới đó không?” Brown hỏi.

Viên cảnh sát biển cười toe toét. “Không phải trong bộ đồ mới đó chứ?” Anh ta tiếp tục. “Nói là vậy chứ thực ra có thuyền của lão Willett đấy. Lão sẽ không dùng đến thuyền mấy hôm vì kế hoạch đến Minster để thăm con gái. Và nhờ thế lão cho chúng tôi mượn con thuyền. Chỉ là sẽ không có ai đi cùng ông thôi. Tôi phải đứng ra chịu trách nhiệm với Willett về con thuyền đấy nhé.”

“Thế thì sao chứ?” Brown vặn lại với sự tự tin của một thủy thủ trong việc điều khiển một chiếc thuyền buồm trên biển. “Chẳng lẽ mấy người nghĩ tôi không thể điều khiển nổi một chiếc thuyền cỡ này sao? Anh nghĩ tôi đã dùng cái gì để lênh đênh trên biển khi còn là một đứa nhóc mười tuổi chứ?”

“Tôi hiểu mà.” Viên cảnh sát biển nói. “Nhưng ai sẽ đưa con thuyền về lại bờ đây?”

“Sao chứ? Chính là người mà tôi sẽ đổi ca trực sắp tới.” Brown trả lời. “Hẳn anh ta cũng không muốn phải bơi vào bờ đâu.”

Viên cảnh sát biển nhìn theo một sà lan đang đi ngang qua bằng chiếc kính viễn vọng. “Chà, chắc là mọi chuyện sẽ ổn thôi.” Anh ta kết luận. “Thật tiếc khi không thể bố trí một tàu khứ hồi cho ông. Tuy nhiên, nếu ông cam kết sẽ đưa con thuyền này trở lại, chúng tôi sẽ để nó ra khơi. Mà đến lúc này rồi thì ông phải khởi hành thôi.”

Anh ta đi ra phía sau nhà và nhanh chóng quay trở lại với hai người đồng nghiệp. Thế rồi, bốn người đàn ông đi dọc theo bờ biển đến chỗ thuyền của lão Willett, lúc này đang nằm cao hơn so với mực nước.

Con thuyền tên Emily thuộc loại mà dân địa phương thường gọi là “thuyền góp vốn”. Nó được đóng thủ công kiên cố bằng gỗ sồi, với những ván thuyền đánh vecni và được trang bị buồm ở cột chính và cột sau. Cần tới sức lực của bốn người đàn ông mới đẩy được con thuyền đi. Và khi nó đã trượt qua những tảng đá vôi mềm với một tiếng ầm trống rỗng, bốn người cảnh sát biển liền xúm vào để thảo luận về chuyện có nên dỡ bỏ đống túi dằn dưới ván tàu ra hay không. Những túi dằn là vật được trang bị để giữ cho con thuyền thăng bằng. Cuối cùng, Brown vẫn hạ thủy cùng với đống túi dằn đó và con thuyền vừa hay chạm tới mép nước. Trong khi Brown bước đến chỗ cột buồm chính, viên sĩ quan bắt đầu hướng dẫn. “Những gì ông phải làm là tận dụng thủy triều. Giữ cho mũi thuyền hướng về phía Đông Bắc, với cường độ gió Tây Bắc thổi chậm thế này, ông có thể đi thẳng tới ngọn hải đăng. Dù sao đi nữa, đừng để con thuyền tiến về phía Đông của ngọn hải đăng, nếu không thì khi thủy triều xuống, ông sẽ gặp rắc rối đấy.”

Brown lắng nghe những lời khuyên này với vẻ thờ ơ trong khi giương buồm và quan sát thủy triều dâng lên tràn qua bờ biển. Rồi từng đợt sóng nâng con thuyền lên trên mặt nước thật nhẹ nhàng. Ông vươn mái chèo ra, đẩy mạnh một cái để lấy đà, với một tiếng rít cuối cùng, con tàu trôi ra biển. Sau đó, ông thả bánh lái xuống các chốt của nó và bình tĩnh ngồi xuống cài lại tấm buồm chính.

“Ông ta đi rồi.” Viên cảnh sát biển gầm gừ. “Căng buồm nhanh đấy. Chà, rồi cả người và thuyền sẽ đến nơi thôi. Ông ấy đã luôn tự mình làm được điều đó. Nhưng đó thường là kiểu mà tai nạn hay xảy ra. Tôi hy vọng là lão Willett sẽ được thấy con thuyền của mình trở về lành lặn.”

Nói xong, anh ta đứng lại một lúc dõi theo bóng con thuyền lướt đi trên mặt nước phẳng lặng đang ngày một nhỏ dần. Liền sau đó, viên cảnh sát biển quay đầu và bước theo những đồng nghiệp của mình trở về phía trạm.

Ở ngoài rìa phía Tây Nam của Girdler Sand hiện ra ngọn hải đăng với những chân trục đứng dạng ra trên các cọc vít dài nằm dưới hai sải so với mặt biển, trông nó y như một con chim lội nước thân đỏ kỳ lạ giữa biển khơi. Bây giờ thủy triều đã dâng lên đến phân nửa. Những bãi cạn cao nhất đã sớm ngập nước từ lâu. Ngọn hải đăng nhô lên giữa mặt biển phẳng lặng trông đơn độc như một nô lệ bất động trên con tàu buôn người xuyên Đại Tây Dương.

Sải: đơn vị đo độ sâu của nước. 1 sải = 1,8288m.

Trên hành lang phía ngoài ngọn đèn chính là hai người đàn ông. Đó là toàn bộ nhân viên hiện đang làm việc tại hải đăng này. Trong số họ, một người thì đang co ro trên ghế với chiếc chân trái gác lên những cái đệm. Người đồng nghiệp còn lại thì bận đặt chiếc kính viễn vọng vào trục ngắm và chăm chú nhìn vào đường xám nhạt của dải đất xa xôi, nơi hai chấm nhỏ xíu đánh dấu hai đỉnh của tháp đôi Reculver.

“Tôi chẳng thấy dấu hiệu nào của con thuyền cả, Harry ạ.” Anh ta lên tiếng.

Người kia đáp lại bằng những tiếng như rên rỉ. “Thủy triều sẽ rút mất.” Người này phàn nàn. “Rồi lại thêm một ngày nữa trôi qua.”

“Họ có thể chuyển anh xuống Birchington và đưa anh lên tàu.” Người đàn ông vừa ngắm kính viễn vọng đáp lại.

“Tôi không cần chuyến tàu nào hết.” Người ngồi liệt gầm gừ. “Mình con thuyền thôi cũng đã đủ tệ rồi. Mà tôi nghĩ là chẳng có thuyền nào tới đâu, Tom nhỉ?” Tom quay mặt về hướng Đông và nheo mắt nhìn. “Có một con tàu hai buồm đang vượt thủy triều từ hướng Bắc tới.” Anh nói. “Trông nó giống một tàu chở than vậy.” Nói rồi Tom hướng kính viễn vọng của mình về phía chiếc thuyền buồm đang đến gần. “Vải trên cánh buồm ở đỉnh mặt trước và buồm nhỏ vẫn còn mới.”

Người kia hậm hực ngồi dậy. “Thế buồm tam giác phía trước nó trông như thế nào?” Anh ta hỏi.

“Không thấy được.” Tom trả lời. “À, giờ tôi thấy rõ rồi: Cánh buồm màu nâu. Gì chứ? Chẳng lẽ đó là con tàu Utopia đó sao, Harry! Đó là con tàu hai buồm duy nhất mà tôi biết có cánh buồm màu nâu đấy!”

“Xem kìa, Tom!” Người kia kêu lên mừng rỡ. “Nếu đó mà là tàu Utopia thật thì tôi có thể lên con thuyền đó để trở về rồi. Tôi biết nó, Thuyền trưởng Mockett sẽ cho tôi một lối về.”

“Anh biết rõ là không nên rời đi cho tới khi có người thay ca đến mà, Barnett.” Tom nói một cách băn khoăn. “Làm thế là trái với quy định công việc ở đây.”

“Dẹp mấy cái quy định đó đi!” Barnett kêu lên. “Cái chân của tôi bây giờ quan trọng hơn bất cứ quy định nào. Tôi không muốn trở thành thằng què đến hết đời đâu. Thêm nữa là ở đây tôi không hề thấy ổn chút nào. Chẳng mấy nữa mà người đồng nghiệp mới tên Brown của chúng ta sẽ tới đây. Nên là Tom ạ, trên cương vị là người anh em tốt của tôi, hãy ra hiệu cho con tàu kia tới chỗ chúng ta đi.”

“Chà, nói vậy thì đành chịu rồi.” Tom đáp lại. “Nếu tôi ở địa vị của anh lúc này thì cũng sẽ ưu tiên trở về nhà và đi gặp bác sĩ khi có cơ hội thôi.” Tom lững thững đi tới tủ đựng cờ và chọn ra hai chiếc cờ hiệu rồi từ từ treo chúng lên dây. Căn lúc ngay con tàu chở than đi tới phạm vi thích hợp, Tom kéo những lá cờ lên đỉnh cột rồi giật mạnh dây treo khiến chúng bung ra, tạo thành tín hiệu “Cần hỗ trợ”.

Lập tức, một cờ hiệu trả lời, màu than lấm lem được kéo lên trên cột tàu. Ngay sau đó, mũi tàu rẽ nước vòng trở lại và từ từ giảm tốc độ, hướng về phía ngọn hải đăng. Một chiếc thuyền con được thả xuống, hai người đàn ông khua chèo mạnh mẽ tiến lại gần.

Một trong số họ la lên. “Này! Phía hải đăng! Có chuyện gì thế?”

“Anh bạn Harry Barnett của chúng tôi bị gãy chân.” Người gác hải đăng hét lên. “Và anh ấy muốn nhờ Thuyền trưởng Mockett đưa đến Whitstable.”

Con thuyền nhỏ quay trở lại tàu chính. Sau một cuộc hội ý ngắn gọn và ồn ào, thuyền nhỏ lại một lần nữa hướng về phía ngọn hải đăng.

“Thuyền trưởng đồng ý rồi.” Người thủy thủ trên thuyền hét lớn. “Nhưng các anh hãy nhanh chóng lên, chúng tôi không muốn lỡ đợt triều dâng này.”

Người đàn ông bị thương thở phào nhẹ nhõm. “Quả là một tin tốt. Nhưng mà, tôi leo xuống mấy bậc thang bằng cách nào đây? Anh nói xem làm thế nào bây giờ, Jeffreys?”

“Tôi thấy dùng ròng rọc để xuống dưới ổn đấy.” Tom Jeffreys trả lời. “Anh ngồi lên dây và tôi sẽ đưa anh một sợi thừng khác để giữ cho đỡ lắc lư.”

“Nghe được đấy, Tom.” Barnett nói. “Nhưng vì Chúa, hãy thả dây thật từ từ và nhẹ nhàng thôi nhé.”

Mọi chuyện được thu xếp nhanh chóng đến độ ngay khi thuyền nhỏ đến nơi thì mọi thứ đã sẵn sàng. Vài phút sau, người đàn ông với cái chân bị thương được thả xuống một cách chậm rãi. Ngồi trên đoạn cuối dây thừng, trông anh ta lơ lửng như một con nhện khổng lồ, không ngừng chửi bới điên loạn theo từng nhịp cót két của ròng rọc. Theo sau đó là chiếc rương và túi đồ nghề của anh ta cũng được thả xuống. Ngay khi chuyển cả người và đồ đạc lên, thuyền nhỏ nhanh chóng trở về tàu chính, lúc này đang từ từ vòng qua phía trước ngọn hải đăng. Người đàn ông ốm yếu một lần nữa lại được vòng dây qua ngực kéo lên chiếc tàu chính chở than. Cuối cùng, con tàu tiếp tục hải trình của mình đi về phía Nam qua các khúc sông Kentish.

Jeffreys đứng trên lan can dõi theo bóng con tàu đang ngày một nhỏ dần. Tiếng nói của những thủy thủ đoàn cũng trở nên xa xăm và yếu ớt khi con tàu khuất hẳn khỏi tầm nhìn. Giờ đây, khi người đồng nghiệp cộc cằn thực sự đã đi rồi, anh mới thấm thía một nỗi cô đơn kỳ lạ bao trùm lên ngọn hải đăng. Những con tàu cuối cùng từ ngoài khơi trở về đã đi qua eo Princes từ lâu, để lại một vùng biển hoang vắng và tĩnh lặng. Những chiếc phao đằng xa hiện ra như các chấm đen li ti trôi nổi trên mặt nước lấp lánh tựa thủy tinh. Bóng những cọc phù tiêu hình xoắn ốc mọc lên từ những bãi cát ngầm càng khắc họa thêm sâu sắc sự cô độc của vùng biển trống trải. Âm thanh của những chiếc chuông phao trên Shivering Sand yếu ớt nương theo gió bay tới, vang lên méo mó và thê lương vô cùng.

Công việc trong ngày ở ngọn hải đăng đã hoàn tất. Các thấu kính đã được đánh bóng và ngọn đèn đã được lau chùi sạch sẽ. Ngay cả động cơ nhỏ điều khiển còi báo hiệu sương mù cũng đã được vệ sinh và tra dầu cẩn thận. Vốn dĩ ở ngọn hải đăng này không thiếu những việc lặt vặt cần được hoàn thành nhưng lúc này Jeffreys chẳng có chút hứng thú nào để làm việc. Một người đồng nghiệp mới sẽ bước vào cuộc đời anh kể từ ngày hôm nay. Một người hoàn toàn xa lạ mà anh sẽ đồng hành cùng suốt cả tháng trời, bất kể là đêm hay ngày. Tính khí, sở thích và thói quen của người mới sẽ mang ý nghĩa quyết định cho những ngày tháng sau đó: dễ chịu hay xích mích bất hòa. Người đàn ông tên Brown này là ai? Trước kia người này từng làm gì? Ông ta trông thế nào nhỉ? Những câu hỏi cứ tự nhiên xuất hiện và lướt qua trong đầu người canh gác hải đăng lúc này. Chính chúng khiến anh sao nhãng khỏi những công việc thường ngày của mình.

Bỗng một đốm sáng ở đường chân trời phía đất liền lọt vào mắt Jeffreys. Anh ta háo hức chộp vội lấy chiếc kính viễn vọng để kiểm tra xem đó là gì. Đó quả thật là một con thuyền, nhưng không phải là chiếc tàu tuần tra của lực lượng cảnh sát biển mà anh vẫn đang trông đợi. Rõ ràng đó chỉ là một con thuyền đánh cá bình thường do một người đàn ông điều khiển. Jeffreys đặt kính viễn vọng xuống với một tiếng thở dài thất vọng. Sau khi nhét đầy tẩu thuốc, anh dựa vào lan can với đôi mắt vô hồn gắn chặt vào dải đất màu xám nhạt.

Anh đã trải qua sự cô độc thê lương này suốt ba năm dài đằng đẵng. Với bản tính năng động, ưa bay nhảy, cuộc sống hiện tại quả là vô cùng ngột ngạt đối với anh. Ba năm với những tháng ngày trống rỗng vô tận, chẳng có lấy một điểm sáng để hồi tưởng. Không có gì khác ngoài sự bất tận của những mùa hè êm đềm hay những đêm bão tố và sương mù lạnh giá khi sang Đông. Không một âm thanh nào khác ngoài tiếng những con tàu hơi nước khuất dạng, hú lên trong khoảng không trống rỗng hay tiếng cảnh báo khàn đục của những chiếc còi tín hiệu vang lên trong đêm mù sương.

Tại sao Jeffreys lại phải tới nơi bị Chúa bỏ rơi này? Tại sao anh phải chôn chân ở đây trong khi thế giới rộng lớn ngoài kia vẫn đang mời gọi? Những câu hỏi vô thức đẩy lùi khung cảnh của biển cả tĩnh lặng và bóng dáng đất liền xa xôi khỏi tầm mắt anh. Chúng đưa anh trở về bức tranh hồi ức mà tâm trí đã vẽ đi vẽ lại không biết bao nhiêu lần: đó là viễn cảnh một ngày rực rỡ. Khung cảnh trong ảo mộng hiện lên hình ảnh bầu trời không một gợn mây đang ấp ôm vùng biển nhiệt đới xanh thẳm. Chính giữa bức tranh là một chiếc thuyền ba cột buồm sơn trắng đang dập dềnh trên mặt biển yên tĩnh.

Những cánh buồm được căng lên một cách cẩu thả, những sợi dây thừng buộc lỏng lẻo khiến cho thanh xà lắc lư và vô lăng thuyền được thả tự do đang quay theo chuyển động của bánh lái.

Tuy vậy, đây không phải một con thuyền không người trôi dạt trên biển. Có hơn chục người đàn ông đang say xỉn và ngủ trên boong tàu. Toàn bộ đều là các thủy thủ, tuyệt nhiên không có bóng dáng của tay chỉ huy nào trong đó.

Tâm trí Jeffreys chuyển tới khung cảnh bên trong một khoang thuyền. Ở đó có giá treo hải đồ, la bàn từ và chiếc đồng hồ bấm giờ, tất cả cho thấy rõ ràng đây là nơi ở của thuyền trưởng. Bên trong khoang có bốn người đàn ông, hai trong số đó đã gục chết trên bàn làm việc. Một trong hai người còn lại là gã đàn ông nhỏ thó với khuôn mặt gian xảo. Lúc này hắn ta đang quỳ xuống cạnh xác chết và dùng chính vạt áo người xấu số để lau sạch con dao. Còn người đàn ông thứ tư chính là Jeffreys.

Khung cảnh lại một lần nữa thay đổi, Jeffreys nhìn thấy hai kẻ sát nhân đang đánh cắp một chiếc thuyền treo để trốn thoát, bỏ lại con thuyền buồm lớn đang bị đẩy dạt tới phía cồn cát sóng dữ, cùng với đám thủy thủ đoàn say xỉn. Bóng dáng to lớn của chiếc thuyền buồm dần bị nuốt trọn giữa sóng biển, hệt như một tảng băng đang tan dần dưới ánh mặt trời. Về phần hai thủy thủ sau khi trốn thoát, họ bị đắm tàu nhưng đã được một con thuyền không mui cứu vớt và đưa vào bờ tại một bến cảng của Mỹ.

Đó là lý do vì sao Jeffreys ở đây. Bởi vì anh ta là một kẻ sát nhân. Tên đồng phạm còn lại, Amos Todd, đã bán đứng anh ta để được giảm nhẹ tội nhưng Jeffeys đã xoay xở để thoát được. Kể từ đó, Jeffreys lánh mình khỏi thế giới rộng lớn. Kể cả ở đây, anh vẫn tiếp tục phải sống chui lủi. Đó không phải sợ hãi sự trừng trị của pháp luật, bởi người ta đâu có biết được tung tích của anh. Thêm nữa, những thủy thủ cùng đồng hành trên con tàu kia đều đã chết cả rồi. Cái mấu chốt khiến anh phải trốn tránh chính là kẻ đồng phạm giết người kia. Nỗi sợ về Todd đã khiến anh phải thay đổi danh tính từ Jeffrey Rorke sang Tom Jeffreys và biến anh trở thành một tù nhân ở Girdler suốt đời. Không có cách nào biết được Todd đã chết hay chưa, có thể hắn ta thực sự đã chết rồi. Nhưng hẳn anh chưa bao giờ nghe về điều đó – tin tức về việc tại ngoại của Todd.

Một lần nữa anh đứng dậy và hướng chiếc kính viễn vọng về phía con thuyền ở đằng xa. Bấy giờ, con thuyền đã tiến tới gần hơn đáng kể và có vẻ như nó hướng đến ngọn hải đăng này. Có lẽ người đàn ông trên thuyền sẽ mang tới tin tức nào đó. Dẫu vậy, đó vẫn không phải tàu tuần tra của cảnh sát biển mà anh đang trông đợi.

Anh trở vào bên trong và đi tới khu vực bếp. Anh tự khiến mình bận bịu bằng việc chuẩn bị một bữa tối đơn giản, nhưng nguyên liệu để nấu nướng hầu như chẳng còn gì. Tuy vậy, vẫn còn chút thịt nguội còn thừa từ hôm qua, vì thế mà thay vì nấu món khoai tây, anh chuyển qua ăn cùng với một ít bánh quy cho qua bữa. Sự cô độc khiến anh cảm thấy khó chịu, nó đẩy tâm trạng anh trở nên bồn chồn và bứt rứt. Đến nỗi mà, tiếng sóng bất tận xô vào những cột trụ kim loại của ngọn hải đăng cũng khiến anh gai người.

Anh bước ra ngoài ban công một lần nữa. Thủy triều lúc này đang rút xuống rất nhanh và con thuyền chỉ còn cách đó hơn một dặm. Qua ống ngắm kính viễn vọng, anh nhận ra người đàn ông trên thuyền đang đội chiếc mũ đồng phục của Trinity House. Vậy ra người đàn ông đó chính là Brown, đồng nghiệp tương lai của anh. Nhưng chuyện này bất thường quá mức. Họ sẽ làm gì với con thuyền đó đây? Lấy ai để đưa con thuyền về bờ đây?

Những đợt gió đang giảm dần cường độ. Trong lúc quan sát con thuyền, anh thấy người đàn ông đã hạ buồm và bắt đầu dùng đến mái chèo. Động tác của người đàn ông có gì đó vội vã khi đưa con thuyền vượt qua làn sóng đang dâng lên, điều này khiến Jeffreys phải để ý tới phía đường chân trời. Thế rồi anh nhận ra một dải sương mù đang bao phủ dần vùng biển phía Đông. Đám sương tiến lại gần tới mức đèn hiệu mạn đông Girdler đã biến mất khỏi tầm nhìn. Anh vội vã lao vào trong khởi động chiếc máy phát nhỏ để nén khí truyền động cho còi tín hiệu sương mù. Anh đứng đợi một lúc để xem thiết bị có hoạt động bình thường hay không. Mãi tới khi ván sàn rung lên từng hồi theo tiếng còi inh ỏi, anh mới bước ra ngoài lan can lần nữa.

Lúc này, sương mù đã trùm kín ngọn hải đăng và con thuyền hoàn toàn khuất dạng khỏi tầm mắt. Anh chăm chú lắng nghe nhưng bức tường hơi nước bao quanh không những ngăn cản tầm nhìn mà còn chặn đứng cả những âm thanh vang đến. Thỉnh thoảng, tiếng còi thổi lên âm thanh cảnh báo nhưng sau tất cả chỉ có tiếng sóng rì rầm vỗ vào những cột trụ phía dưới. Xa xăm và yếu ớt hơn nữa có chăng là tiếng chuông phao thê lương trên Shivering Sand.

Cuối cùng, truyền đến tai anh là một âm thanh nghe như tiếng mái chèo khua mạnh vào sóng nước. Sau đó, ở ngay rìa tầm nhìn trong màn sương mù xám xịt, anh nhìn thấy con thuyền hiện ra mờ ảo, thoắt ẩn thoắt hiện, cùng với bóng người đang quạt mái chèo mạnh mẽ. Còi hiệu lại vang lên một tiếng gầm trầm đục, người đàn ông trên thuyền theo đó nhìn quanh để định vị và đổi hướng đi về phía ngọn hải đăng.

Jeffreys bước xuống cầu thang rồi đi dọc giàn sắt bên dưới, anh dừng lại ở đầu thang sắt và chăm chú vào người lạ mặt đang đến gần. Anh đã quá mệt mỏi vì phải ở một mình rồi. Khao khát được bầu bạn với ai đó ngày một lớn hơn kể từ khi Barnett rời đi. Nhưng người lạ mặt sắp bước vào cuộc đời anh là người như thế nào? Liệu sẽ đóng một vai trò ra sao trong đời anh?

Con thuyền tròng trành lướt nhanh qua dòng nước xiết. Mặc dù nó đang ngày một tiến đến gần hơn nhưng Jeffreys vẫn chưa thể thấy được khuôn mặt người đồng đội mới của mình. Khi mạn thuyền va vào các thanh cọc chắn của hải đăng, người đàn ông liền đặt mái chèo xuống và nắm lấy thanh ngang của thang sắt. Jeffreys liền thả một cuộn dây xuống thuyền. Cho đến lúc này, khuôn mặt của người mới đến vẫn bị che khuất.

Jeffreys liền nhoài người qua thang và lo lắng nhìn người đàn ông mới đến. Ông ta đang nhanh chóng dùng dây neo lại con thuyền, tháo cánh buồm và hạ cột buồm. Khi đã sắp xếp mọi thứ đâu vào đấy, người lạ mặt xách một chiếc rương nhỏ lên, vung nó qua vai và bắt đầu leo lên thang. Vì đồ nghề vướng víu nên ông ta leo lên với một tốc độ chậm chạp và chẳng hề ngước nhìn. Jeffreys nhìn xuống đỉnh đầu người đàn ông mới đến với nỗi tò mò ngày một dâng cao. Cuối cùng ông ta cũng lên được tới đỉnh thang sắt, Jeffreys liền cúi xuống giúp một tay. Khi người đàn ông ngẩng đầu lên lần đầu tiên, Jeffreys bỗng giật lùi lại với gương mặt cắt không còn giọt máu.

“Ôi Chúa ơi!” Jeffreys thở hổn hển. “Đó là Amos Todd!”

Khi người mới đến bước lên được giàn sắt, còi hiệu báo sương mù lại vang lên một hồi cảnh báo, nghe hệt như tiếng gầm của một con quát vật đói khát. Jeffreys không nói lời nào trong khi quay lại leo lên cầu thang, theo sau anh là Todd. Hai người đàn ông đi lên trong lặng lẽ, chỉ có tiếng bước chân lách cách đạp lên những tấm sắt vọng lại. Khi cả hai đi tới phòng khách, Jeffreys ra hiệu cho người kia đặt chiếc rương của mình xuống.

“Anh bạn im lặng đến đáng ngờ đấy.” Todd nói rồi tò mò nhìn quanh phòng. “Chẳng phải cậu nên nói, ‘Hoan nghênh anh đến đây!’ với tôi hay sao? Tôi hy vọng chúng ta sẽ là những đồng nghiệp tốt. Tôi là Jim Brown, người mới. Còn cậu tên gì?”

Jeffreys đột ngột quay sang ông ta rồi dẫn tới phía cửa sổ và nghiêm giọng, “Nhìn cho kĩ đi, Amos Todd, rồi tự vấn xem tên tao là gì?”

Nghe giọng nói đó, Todd giật mình nhìn lên và mặt tái nhợt như xác chết. Ông ta thì thầm. “Không thể nào, cậu không thể nào là Jeff Rorke được!”

Người kia bỗng cười ngặt nghẽo rồi cúi người về phía trước, nhỏ giọng nói, “Mày tìm ra tao sao, hả tên kẻ thù kia!”

“Đừng nói vậy chứ!” Todd kêu lên. “Đừng gọi tôi là kẻ thù của cậu, Jeff. Có Chúa chứng giám, tôi rất vui khi gặp lại cậu. Tôi chẳng bao giờ ngờ được cậu đã nuôi bộ râu và mái tóc hoa râm đó. Tôi biết là bản thân đã phạm phải sai lầm Jeff ạ, nhưng bây giờ có khơi dậy mối hận thù cũ kia thì cũng chẳng ích gì. Hãy để quá khứ mãi là quá khứ được không, Jeff? Hãy là bạn như xưa nhé.” Nói rồi ông ta lấy khăn tay lau mặt và nhìn người đồng nghiệp của mình đầy lo lắng.

“Ngồi xuống đi.” Rorke nói rồi chỉ vào chiếc ghế bành bọc vải thô sơ. “Ngồi đó và nói cho tôi nghe ông đã làm gì với số tiền đó. Tôi đoán là ông đã tiêu sạch chỗ đó rồi phải không? Nếu không thì ông đã chẳng tới đây.”

“Tôi bị cướp Jeff ạ.” Todd trả lời. “Chúng cướp sạch từng xu. Chà, đó là một chuyện không may khi còn làm trên tàu Sea-flower nhỉ. Nhưng dù sao thì mọi chuyện cũng đã qua lâu rồi và chúng ta nên quên đi thì hơn. Thủy thủ đoàn đều đã chết hết rồi, ngoại trừ hai chúng ta. Chỉ cần tôi và cậu giữ im lặng thì cả hai đều sẽ an toàn. Tất cả đã nằm lại dưới đáy biển rồi, chẳng phải đó là nơi tốt nhất dành cho họ sao?”

“Ừ.” Rorke đáp lại gay gắt. “Đó đúng là nơi tốt nhất cho những người bạn thủy thủ của chúng ta vì họ đã biết quá nhiều. Dưới đáy biển hoặc là đung đưa trên thòng lọng thôi.” Anh ta đi đi lại lại trong căn phòng nhỏ với những bước đi vội vã. Cứ mỗi lần Rorke tiến đến gần chiếc ghế nơi Todd đang ngồi lại khiến anh ta co rúm lại với vẻ hoảng hốt đầy cảnh giác.

“Đừng có ngồi đó mà nhìn chằm chằm vào tôi nữa.” Rorke nói. “Sao ông không hút thuốc hay làm gì đó khác đi?”

Todd vội lấy từ trong túi áo ra một chiếc tẩu, nhét đầy thứ thuốc được đựng trong bao da chuột chũi, rồi đưa tẩu lên miệng ngậm trong khi tìm diêm để châm. Diêm được cất trong túi áo, Todd lôi ra một que diêm đầu đỏ rồi quẹt lên tường, cháy lên một ngọn lửa màu xanh nhạt. Ông ta châm tẩu, rít một hơi nhưng đôi mắt vẫn không rời khỏi người đồng nghiệp. Trong khi đó, Rorke cũng đang dừng lại để cạo thuốc từ bánh thuốc cứng ngắc bằng một con dao gấp lớn. Thỉnh thoảng, anh cau mày nhìn chằm chằm vào Todd.

“Cái tẩu này bị tắc rồi. Cậu có thứ gì đó như là một đoạn dây điện không Jeff?” Todd đề xuất sau khi rít vài hơi vào ống ngậm nhưng không hiệu quả.

“Không có đâu.” Rorke đáp lại. “Ở đây làm gì có thứ như thế. Lần tới tôi sẽ kiếm cho ông một cái. Còn giờ thì cứ dùng tạm tẩu của tôi cho tới khi ông xử lý được cái tẩu của mình đi. Tôi vẫn còn cái khác trên giá.” Lòng hiếu khách tự nhiên của một người thủy thủ bỗng nhiên trỗi dậy bên trong Rorke khiến anh tạm gác lại mối thù của của mình. Rorke đẩy chiếc tẩu mà anh vừa nhét đầy thuốc về phía Todd. Ông ta nhận lấy nó với tiếng “Cảm ơn” lầm bầm trong miệng và không quên lo lắng nhìn con dao gấp. Trên bức tường bên cạnh chiếc ghế là một giá kệ được chạm khắc khá thô sơ bày rất nhiều tẩu thuốc. Rorke nhấc ra một chiếc tẩu trong số đó. Và trong khi anh nhoài người qua ghế để lấy, mặt Todd không khỏi tái nhợt đi vài phần.

“Chà, Jeff này. Chúng ta sẽ vẫn là bạn bè như trước đây chứ?” Todd đặt câu hỏi sau một hồi im lặng, trong lúc Rorke bận cắt đầy một tẩu thuốc lá mới.

Ngọn lửa thù hận trong lòng Rorke lại được dịp bùng lên khi nghe những lời đó.

“Ông nghĩ tôi sẽ làm bạn với một người đã cố bán đứng tôi hay sao?” Rorke nghiêm nghị đáp lại. Sau một hồi tạm ngưng, ông tiếp tục. “Tôi sẽ suy nghĩ thêm về chuyện này. Còn giờ thì tôi phải đi kiểm tra động cơ cái đã.”

Khi Rorke đã rời đi rồi, người mới đến liền rơi vào trầm ngâm suy tư với hai chiếc tẩu cầm trên tay. Ông ta vội nhét chiếc tẩu mới vào miệng, còn chiếc tẩu bị tắc thì đặt lên giá trên tường. Todd quẹt một que diêm rồi châm tẩu với tâm trạng đầy hoài nghi. Hút được chừng một, hai phút, ông ta liền đứng dậy khỏi ghế để nghe ngóng và đi lại quan sát quanh phòng. Khi ra đến cửa, Todd dừng lại đôi chút để sát màn sương mù.

Sau khi chăm chú lắng nghe thêm lần nữa, anh mới cẩn thận nhón chân ra hành lang và đi về phía cầu thang. Đột nhiên, giọng nói của Rorke khiến anh giật bắn mình.

“Này, Todd! Ông định đi đâu đấy?”

“Tôi định xuống kiểm tra xem con thuyền thế nào thôi.” Todd đáp lại.

“Ông không phải lo về nó đâu. Tôi sẽ đi kiểm tra cho.” Rorke trả lời.

“Vậy cũng được.” Todd nói trong khi vẫn tiến về phía cầu thang. “Nhưng tôi bảo này, một người nữa đâu rồi? Người mà tôi tới để thay phiên trực ở đây ấy?”

“Không còn ai khác ở đây đâu.” Rorke trả lời. “Cậu ta đã lên đường trở về theo một con tàu chở than rồi.”

Khuôn mặt Todd thoáng chốc trở nên xám xịt. “Thế là không còn ai khác ở đây ngoài hai chúng ta sao?” Todd thở hổn hển. Bằng chút nỗ lực che giấu sự sợ hãi đang ngự trị trong lòng, ông ta hỏi tiếp. “Nhưng ai sẽ đưa con thuyền này về lại bờ?”

“Chúng ta sẽ tính chuyện đó sau. Còn trước hết, sao ông không dỡ đồ đạc trong rương của mình ra đi.”

Nói xong, Rorke cau mày bước ra ngoài hành lang. Todd kinh hoàng liếc nhìn anh ta rồi quay người chạy thục mạng vê phía cầu thang.

“Quay lại đây!” Rorke gầm lên và lao vút về phía hành lang. Thế nhưng Todd đã nhanh chân chạy xuống cầu thang rồi. Khi Rorke chạy được tới phía đầu cầu thang thì kẻ bỏ trốn đã xuống được giàn sắt bên dưới. Ấy thế mà vì quá vội vàng, Todd đã vấp ngã, loạng choạng bám vào tay vịn lan can, đến khi Todd lấy lại được thăng bằng thì Rorke đã đuổi gần tới. Todd lao đến đầu thang sắt, nhưng ngay khi mới cầm được vào thanh ngang, Rorke đã túm được cổ áo ông ta. Trong giây lát, Todd luồn tay vào bên trong áo khoác của mình. Cuộc xung đột diễn ra với tiếng xé gió rất mau, tiếng chửi rủa ầm ĩ của Rorke, tiếng Todd hét lên đáp trả và rồi một con dao rơi xuống theo quỹ đạo xoay tròn trong không trung, đáp xuống mũi thuyền bên dưới.

“Thứ sát nhân!” Rorke nói bằng giọng rít lên the thé đầy đáng sợ, trong khi bàn tay chảy máu của ông ta đang bóp chặt lấy cổ họng kẻ mình vừa tóm được. “Mày dùng dao vẫn khá như ngày nào, nhỉ? Mày lại định bỏ chạy khỏi đây để bán đứng tao, phải không?”

“Không, không phải vậy đâu Jeff!” Todd nghẹn họng trả lời. “Tôi không… cứu với… Chúa ơi. Buông tôi ra, Jeff. Tôi không hề có ý hãm hại cậu. Tôi chỉ…” Bỗng Todd vặn người bất ngờ, dùng một tay ra sức đánh vào mặt kẻ đang khống chế mình. Nhưng Rorke đã chặn được đòn đánh và nắm lấy cổ tay đối phương giật mạnh. Todd loạng choạng lùi lại vài bước dọc theo giàn sắt, vị trí bấy giờ đã tiến đến mép giàn. Ở vào thời điểm ngay giữa ranh giới sống chết, Todd đứng đó với cái miệng há rộng, nhãn cầu của ông ta đảo liên tục như thể đang điên cuồng tìm kiếm điều gì đó trong không trung. Liền sau đó là một tiếng hét chói tai, ông ta ngã ngửa về phía sau và rơi xuống. Đầu Todd đập vào chân trụ hải đăng rồi văng xuống nước.

Mặc dù tiếng đập đầu khi Todd va vào chân trụ vang lên rất to, nhưng kỳ lạ là ông ta không hề ngất đi. Todd trồi lên mặt nước, vừa khua khoắng dữ dội vừa cố gắng thốt ra những tiếng kêu cứu đứt đoạn. Rorke thở gấp, nghiến răng quan sát tình hình của Todd nhưng không hề có ý định sẽ tiến hành bất kì hành động nào. Cái đầu của Todd cứ chới với nhỏ dần, cùng với những gợn sóng đã thu hẹp lại bán kính. Thủy triều xuống nhanh kéo ghì anh ta, những tiếng kêu sủi bọt vọng qua mặt nước ngày một yếu ớt. Khi đầu của người đàn ông đuối nước chỉ còn là một đốm đen mờ dần trong sương mù thì bất giác, nó lần nữa trồi khỏi mặt biển, hét lên một tiếng tuyệt vọng cuối cùng, ném về phía ngọn hải đăng bằng chút sức tàn còn lại. Chỉ có tiếng còi tín hiệu sương mù gầm lên một hồi đáp trả. Cuối cùng, cái đầu chìm hẳn dưới làn nước và không bao giờ trở lại nữa. Một sự tĩnh lặng tới rùng rợn bao trùm lấy mặt biển, đôi lúc, tiếng chuông phao ngân xa yếu ớt như một khúc ai oán.

Rorke đứng bất động trong vài phút, đắm chìm bởi dòng suy nghĩ. Bất chợt, tiếng còi tàu hơi nước từ xa đánh thức anh, thủy triều đang bắt đầu rút và sương mù có thể tan đi nhanh chóng. Con thuyền mà Todd dùng để tới đây vẫn đang neo đậu phía dưới. Anh cảm thấy cần phải xử lý nó ngay lập tức. Chưa có người nào nhìn thấy nó tới ngọn hải đăng này và phải xử lý sao cho không ai biết được nó đã ở đây. Một khi đã loại bỏ được con thuyền thì mọi dấu vết về việc Todd đến đây sẽ được xóa sổ. Nghĩ vậy, anh nhanh chóng trèo xuống thang và bước vào trong thuyền. Con thuyền có cấu trúc đơn giản. Trong khoang chất đầy túi nặng để dằn con thuyền thăng bằng. Như vậy, chỉ cần làm cho nặng thêm chút nữa, con thuyền sẽ tự chìm xuống đáy biển.

Rorke di chuyển một vài túi dằn để lộ ra phần ván sàn của thuyền. Sau đó, anh nhấc một tấm ván ở đáy lên và tháo nút bịt lỗ thoát nước ra. Một tia nước ngay lập tức phun cao, nước bắt đầu dâng lên trong thuyền. Rorke nghiêm túc xem xét tình hình, anh tính toán rằng chỉ trong vài phút nữa con thuyền sẽ hoàn toàn chìm nghỉm. Vì thế, Rorke liền đặt tấm ván sàn khác xuống đáy tàu. Tiếp đến, để ngăn con thuyền trôi đi xa, anh cố định cánh buồm bằng cách xoay vài vòng tấm vải quanh một thanh ngang rồi buộc chặt vào cột buồm. Cuối cùng, Rorke tháo dây neo tàu rồi leo trở lại lên thang sắt.

Con thuyền được giải phóng khỏi chiếc dây neo bắt đầu di chuyển theo thủy triều. Rorke nhanh chóng chạy lên hành lang phía trên để theo dõi toàn bộ quá trình con thuyền biến mất giữa làn nước. Bỗng anh nhớ ra chiếc rương của Todd vẫn đang nằm ở căn phòng bên dưới. Liếc vội vào màn sương đang dần tan, Rorke bắt đầu vội vã chạy đi tìm kiếm chiếc rương và đem nó xuống giàn sắt phía dưới. Khi đã đảm bảo rằng không có bất cứ chiếc thuyền nào trong tầm mắt, Rorke nâng chiếc rương lên qua lan can và thả xuống biển. Tiếng chiếc rương rơi xuống mặt nước vang lên cũng là lúc Rorke lo lắng chờ xem nó có nổi trở lại và trôi theo chủ nhân của nó cùng con thuyền hay không, nhưng chiếc rương cứ vậy mà chìm nghỉm. Bây giờ, Rorke mới quay trở lại hành lang phía trên.

Màn sương mù lúc này đã mỏng đi rõ rệt tới mức có thể thấy con thuyền của Todd đang trôi dần. Rõ ràng là nó chìm chậm hơn so với Rorke dự đoán. Khi con thuyền trôi đi xa hơn, anh phải dùng kính viễn vọng để theo dõi với sự lo lắng ngày một tăng cao. Lỡ như có ai nhìn thấy con thuyền thì sẽ thật không may. Điều rắc rối nào sẽ xảy ra nếu như nó bị bắt gặp đang trôi nổi trên mặt biển mà không bịt lỗ thoát nước chứ?

Rorke bắt đầu thực sự hoảng sợ. Qua kính viễn vọng, anh có thể thấy con thuyền đang trôi đi một cách ì ạch. Dù cho đã ngập trong nước nhưng vẫn lộ ra mạn thuyền cao hơn vài inch so với mặt biển. Trong khi đó, tốc độ sương mù mỏng đi càng lúc càng nhanh.

Đột nhiên, một tiếng còi tàu hơi nước vang lên ở khoảng cách rất gần. Rorke vội vàng tìm kiếm xung quanh vùng biển nhưng không thấy bóng dáng con tàu nào. Rồi anh lại sốt ruột hướng kính viễn vọng về bóng con thuyền đang nhỏ dần. Cuối cùng, Rorke cũng có thể thở phào nhẹ nhõm. Mạn thuyền nghiêng hẳn sang bên, con thuyền tròng trành trở lại thăng bằng trong một khoảnh khắc nhưng rồi đã từ từ lật úp xuống mặt biển. Giây phút sóng trườn qua đỉnh mạn, cả con thuyền đã bị mặt nước nuốt chửng.

Con thuyền nhanh chóng biến mất khỏi tầm mắt. Rorke hạ kính viễn vọng xuống và hít vào một hơi thật sâu. Bây giờ, anh cảm thấy mình đã an toàn. Con thuyền đã chìm xuống đáy mà không ai hay biết. Nhưng chuyện xử lý con thuyền không phải mấu chốt của cảm giác an toàn đó, cái chính là: anh đã được tự do. Linh hồn quỷ dữ ám ảnh anh, mối đe dọa thường trực lên cuộc đời anh, Todd, đã thực sự biến mất. Bây giờ, thế giới rộng lớn ngoài kia, những cuộc vui, những chuyến phiêu lưu như đang đồng loạt vẫy gọi anh.

Sương mù đã hoàn toàn biến mất. Ánh mặt trời chiếu sáng rực rỡ trên con tàu chuyên chở gia súc với ống khói màu đỏ. Đó chính là con tàu vừa nãy gióng hồi còi khiến anh giật mình. Màu xanh ngắt của mùa hè đã được hồi sinh với sắc trời và biển cả lấp lánh. Xa xa, dải đất liền hiện ra lấp ló phía chân trời.

Rorke vừa vui vẻ huýt sáo vừa quay trở vào trong tắt động cơ của chiếc còi hiệu báo sương mù. Anh ta cũng không quên thu lại cuộn dây đã ném cho Todd. Sau khi treo tín hiệu cần hỗ trợ, Rorke lần nữa về phòng, phấn khởi dùng bữa một mình với cảm giác yên bình kỳ lạ.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của r. austin freeman