Khúc Xương Biết Hát

Lượt đọc: 478 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Khúc xương biết hát
(dựa trên ghi chép của bác sĩ christopher jervis)

Bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào cũng không thể thiếu một lực lượng lao động chân tay nhất định. Vì hành trình nghiên cứu thì dài mà cuộc đời thì quá ngắn, nên các nhà khoa học không thể đảm đương hết mọi công việc được. Ví như, khi tiến hành một thí nghiệm hóa học, công việc “vệ sinh” thiết bị và phòng thí nghiệm là vô cùng cần thiết và tốn công sức, nhưng không phải nhà hóa học nào cũng có đủ thời gian để thực hiện. Hay như việc chuẩn bị một bộ xương cũng cần nhiều công đoạn: ngâm hóa chất, tẩy trắng, “lắp ráp” và đóng đinh từng đoạn xương riêng lẻ lại với nhau. Những khâu này rất cần các phụ tá có thời gian rảnh rỗi hỗ trợ thực hiện. Khẳng định trên đúng với cả các hoạt động nghiên cứu khoa học khác. Phía sau những nhà khoa học khoác lên mình tấm áo tri thức là sự hỗ trợ đắc lực của những lao động thủ công với bộ đồ chuyên dụng của họ.

Một ví dụ điển hình cho kiểu người thứ hai được nhắc đến bên trên là Polton, trợ lý phòng thí nghiệm của Thorndyke. Anh là một người khéo léo, tháo vát, giỏi giang và siêng năng. Ngoài ra, Polton còn là một thiên tài chế tạo. Và cũng chính nhờ một trong những phát minh của anh, chúng tôi đã được tiếp cận một vụ án đặc biệt mà tôi sắp ghi chép lại dưới đây.

Trong lĩnh vực kinh doanh, Polton là một thợ sửa chữa đồng hồ, nhưng thực tế, anh lại chọn công việc chế tạo kính mắt vì có niềm đam mê bất tận với các thiết bị quang học. Một ngày nọ, Polton cho chúng tôi xem một lăng kính cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả của phao khí nén trên biển. Ngay lập tức, Thorndyke giới thiệu phát minh này đến một người bạn của mình tại Trinity House.

Kết quả là, ba người gồm: Thorndyke, Polton và tôi đã đi từ đất liền Middle Temple hướng đến bến tàu Temple Pier vào một buổi sáng đẹp trời của tháng Bảy. Khi chúng tôi đến thì đã có một chiếc xuồng du lịch chạy dầu đang nằm dọc cây cầu nổi bắc ngang sông. Một người đàn ông với gương mặt đỏ au và bộ râu trắng muốt từ bên trong buồng lái thấy bóng chúng tôi liền đứng dậy chào đón.

“Hôm nay quả là một buổi sáng đẹp trời, thưa bác sĩ.” Người đàn ông cảm thán với chất giọng vừa dày, vừa vang, đậm chất dân đi biển. “Thời tiết thật hoàn hảo cho một chuyến đi đến hạ lưu con sông nhỉ? Chào, Polton! Anh lại tới đây để giật miếng ăn của chúng tôi đấy à! Ha ha!” Tiếng cười hào sảng của người đàn ông vang vọng trên sông, hòa lẫn cùng âm thanh động cơ rầm rầm khi chiếc xuồng rời cầu nổi.

Thuyền trưởng Grumpass là một trong những Anh Cả ở Trinity House. Trước đây, ông từng là thân chủ của Thorndyke, về sau thì hai người trở thành bạn bè, giống như hầu hết những vị khách từng đến với vị bác sĩ này. Không những vậy, vị thuyền trưởng này cũng trở thành bạn tốt với cả anh trợ lý Polton tài năng.

“Thú vị thật đấy!” Vị thuyền trưởng tiếp tục với tiếng cười hớn hở. “Một nhóm chuyên gia hàng hải mà lại phải đi học hỏi chính chuyên môn của họ từ các vị luật sư kiêm bác sĩ đây sao? Mấy người không phải làm gì nhiều hả? Tôi e là nhàn cư vi bất thiện đấy, phải không Polton?”

“Thưa thuyền trưởng, bên phía dân sự thì không có nhiều việc nhưng ở mảng hình sự thì bọn tội phạm vẫn đang lộng hành lắm.” Polton đáp với một nụ cười nhăn nhó kỳ quái.

“Ha, mấy vụ án bí ẩn vẫn nhiều lắm nhỉ. Trời ạ! Tiện nói về những điều bí ẩn, thưa bác sĩ, chúng tôi đang có một vấn đề kỳ quái cần được lý giải. Tôi nghĩ là nó thuộc đúng lĩnh vực của anh. Phải rồi, nhân danh Thánh Moses, tại sao tôi lại không nhờ tới trí tuệ của bác sĩ trong khi anh đang ở đây cơ chứ?”

“Đúng vậy. Ông hãy kể rõ sự tình cho tôi xem,” Thorndyke đáp.

“Vậy thì tôi xin phép bắt đầu câu chuyện luôn. Mọi người tập trung lắng nghe đây này!” Thuyền trưởng châm một điếu xì gà, rồi sau khi rít vào hơi, ông bắt đầu kể lại.

“Nói một cách ngắn gọn thì điều bí ẩn là thế này: Một trong những nhân viên gác hải đăng của chúng tôi đã biến mất. Là bốc hơi hoàn toàn khỏi trái đất này và không để lại chút dấu vết nào. Anh ta có thể đã bỏ trốn hoặc không may bị chết đuối, thậm chí là đã bị giết hại. Nhưng hãy để tôi tuần tự thuật lại câu chuyện từ đầu. Vào cuối tuần trước, một chiếc sà lan đã đem tới Ramsgate bức thư từ ngọn hải đăng cọc vít ở Girdler. Ở đó chỉ có hai nhân viên làm việc, nhưng có vẻ một trong số họ đã bị gãy chân. Người đàn ông tên Barnett đó đã yêu cầu chúng tôi bố trí người đưa anh ta vào bờ. Trùng hợp sao con tàu cung cấp lương thực trong vùng, tàu Warden, lại đang gặp sự cố ở cảng Ramsgate. Vì chuyện đó mà con tàu sẽ không sử dụng được trong vài ngày. Trước tình thế khẩn cấp đó, sĩ quan ở Ramsgate đã nhờ một tàu hơi nước chuyển giúp thư đến ngọn hải đăng, nội dung ghi rằng người bị thương sẽ được đưa đi bằng thuyền vào sáng hôm sau, tức là thứ Bảy. Viên sĩ quan cũng viết thư cho một người đàn ông tên James Brown, nhân viên mới sẽ làm việc cho ngọn hải đăng James Brown đang ở gần Reculver và đợi tới lượt đổi ca nên bức thư nhắn anh ta sẽ ra khơi vào sáng thứ Bảy trên tàu tuần tra của lực lượng cảnh sát biển. Bức thứ ba, viên sĩ quan gửi đến lực lượng cảnh sát biển ở Reculver để yêu cầu họ đưa Brown ra ngọn hải đăng và đem Barnett vào bờ. Chà, cuối cùng mọi thứ lộn xộn hết cả lên. Lực lượng cảnh sát biển không bố trí được thuyền và nhân sự nên đã mượn một chiếc thuyền buồm của ngư dân. Và thế là người đàn ông tên Brown khởi hành một mình, với suy nghĩ ngốc ngếch rằng Barnett sẽ có thể tự chèo thuyền trở lại dù cho bị gãy chân.

“Trong khi đó, Barnett, vốn là dân ở Whitstable, đã ra tín hiệu cần hỗ trợ cho một còn tàu chở than đang đi tới quê anh ta. Và thế rồi, Barnett lên tàu, bỏ lại người canh gác khác tên Thomas Jeffreys một mình ở hải đăng cho đến khi Brown tới.

“Nhưng dù có đợi bao lâu, Brown cũng không bao giờ xuất hiện. Cảnh sát biển đã giúp Brown khởi hành và tiễn anh ta ra khơi. Còn người gác hải đăng Jeffreys cũng nói rằng đã nhìn thấy một người đàn ông trên chiếc thuyền buồm tiến tới ngọn hải đăng. Nhưng sau đó, một đám sương mù ập đến nuốt chửng con thuyền. Sau khi sương tan thì không thấy con thuyền đâu nữa. Cả người và thuyền đều biến mất không chút dấu tích để lại.”

“Anh ta có thể đã bị chìm,” Thorndyke góp ý.

“Cũng có thể như vậy!” Thuyền trưởng cũng đồng tình. “Nhưng không có bất cứ tai nạn nào được báo cáo lại. Cảnh sát biển cho rằng có thể anh ấy đã gặp phải một cơn bão khiến con thuyền bị lật úp. Nguyên do nằm ở việc họ đã nhìn thấy anh ta căng buồm lên nhanh chóng. Nhưng vấn đề là thời tiết ngày hôm đó khá êm đềm.”

“Tình trạng của anh ta khi khởi hành ổn chứ?” Thorndyke hỏi.

“Ổn mà.” Thuyền trưởng trả lời. “Báo cáo của lực lượng cảnh sát biển đang rườm rà một cách thái quá. Tỉ mỉ tới mức ngớ ngẩn khi toàn viết những thứ không liên quan gì cả. Những gì họ nói đây này.”

Thuyền trưởng lấy bức thư ra và đọc to.

Lần cuối cùng nhìn thấy người đàn ông mất tích là khi ông ta ngồi ở đuôi thuyền và hướng mặt về phía tay lái thuyền. Sau đó, ông ấy cố định buồm. Người đàn ông không quên cầm một cái tẩu và bao đựng thuốc hút trong tay, dùng khuỷu tay điều khiển con thuyền. Anh ta đã nhét đầy tẩu thứ thuốc lấy ra từ chiếc bao da mang theo.

“Đấy! Bác sĩ thấy sao? Anh ta cầm một cái tẩu trong tay. Chính chỗ này! Chẳng lẽ anh ta cầm cái tẩu bằng chân sao? Còn đoạn này nữa. Anh ta đã nhét đầy tẩu thứ thuốc lấy ra từ chiếc bao da mang theo. Thế là họ mong chờ anh ta sẽ lấy thuốc lá từ cái giỏ đựng than hay bình bú trẻ con nhỉ? Vớ vẩn thật!” Thuyền trưởng nhét lá thư lại vào túi và phì phèo điếu xì gà một cách khinh bỉ.

“Ông đang quá khắt khe với những viên cảnh sát biển này đấy!” Thorndyke mỉm cười trước biểu cảm thái quá của vị thuyền trưởng. “Nhiệm vụ của nhân chứng là cung cấp toàn bộ sự thật, chứ không phải lựa chọn lời khai dựa trên cảm quan cá nhân.”

“Nhưng mà thưa bác sĩ, việc con người bất hạnh đó lấy thuốc từ đâu để nhét vào tẩu thì có nghĩa lý gì chứ?”

“Chẳng ai có thể khẳng định điều đó lúc này,” Thorndyke trả lời. “Nó hoàn toàn có thể trở thành một vật chứng then chốt của vụ án. Không người nào nói trước được chuyện gì sẽ xảy ra. Giá trị của một manh mối phụ thuộc vào mối liên hệ của nó với phần còn lại của bằng chứng.”

“Tôi cũng mong những chi tiết nhỏ có thể cung cấp manh mối nào đó.” Thuyền trưởng lầm bầm trong miệng. Ông tiếp tục hút thuốc trong khi im lặng suy tư. Mãi tới khi từ trên xuồng có thể thấy rõ Blackwall Point trong tầm mắt, thuyền trưởng mới đột nhiên đứng dậy. “Có một con tàu đánh cá chạy bằng hơi nước đang đi dọc cầu cảng của chúng ta.” Thuyền trưởng thông báo. “Nó đang làm cái quái gì ở đó vậy nhỉ?” Ông chăm chú quan sát con tàu hơi nước đó rồi nói tiếp. “Đằng ấy hình như đang định dỡ thứ gì đó xuống cầu cảng thì phải? Polton! Anh đưa tôi cặp kính đó xem nào. Ối! Gì chứ? Là một xác chết sao? Nhưng tại sao lại đem một thi thể lên cầu cảng chứ? Chắc là vì họ biết anh sẽ đến đấy, bác sĩ ạ.”

Khi chiếc xuồng lướt dọc theo cầu cảng, thuyền trưởng liền bước ra và len qua đám đông đang tụ tập quanh xác chết. “Cái gì thế này? Sao người ta lại đem thứ này tới đây?”

Chủ tàu cá lúc này liền giải thích về lý do đem cái xác này tới cầu cảng.

“Đó là một trong những nhân viên của hội, thưa ông!” Chủ tàu cá giải thích. “Chúng tôi phát hiện ra cái xác nằm trên rìa phía Nam của Shingles Sand, chỗ gần ngọn hải đăng. Khi tàu đi ngang qua, đó là lúc thủy triều đang rút nên chúng tôi đã xuống thuyền và chuyển thi thể lên tàu. Tôi lục trong túi nạn nhân để tìm xem có gì để xác minh danh tính hay không thì tìm được bức thư này.” Nói rồi chủ tàu đưa cho thuyền trưởng một phong thư, bên trên có ghi địa chỉ người nhận là: “Nhờ ông Solly chuyển hộ cho ông J. Brown, ở Shepherd, Reculver, Kent."

“Sao chứ! Đây chính là người đàn ông mất tích mà chúng ta đang nói đến, thưa bác sĩ.” Thuyền trưởng Grumpass kêu lên. “Đúng là chuyện trùng hợp kỳ lạ. Nhưng giờ chúng ta phải làm gì với cái xác đây?”

“Phải thông báo chuyện này cho điều tra viên ngay,” Thorndyke trả lời. “Nhân tiện, ông đã kiểm tra hết các túi của nạn nhân chưa?” Anh quay sang hỏi chủ tàu cá.

“Vẫn chưa, thưa ngài.” Chủ tàu trả lời. “Tôi tìm thấy lá thư ngay túi đầu tiên mình sờ vào, vì thế nên tôi không tìm ở túi khác nữa. Ngài còn điều gì cần tìm kiếm nữa sao, thưa ngài?”

“Không có gì đâu. Vì sẽ phải báo cáo lại chuyện này cho điều tra viên nên phiền ông cung cấp tên và địa chỉ của mình nhé,” Thorndyke trả lời.

Về phần chủ tàu cá, sau khi cung cấp thông tin cá nhân, ông cũng bày tỏ mong muốn điều tra viên sẽ không vì chuyện này mà “làm mất quá nhiều thì giờ” của mình. Sau đó, ông quay trở về tàu và tiếp tục hành trình đi đến Billingsgate.

“Nếu không phiền thì bác sĩ có thể giúp chúng tôi khám nghiệm tử thi của kẻ bất hạnh xấu số này được không. Trong lúc Polton đi giới thiệu phát minh của anh ấy?” Thuyền trưởng Grumpass nói.

“Tôi không thể làm được gì nhiều nếu như chưa có lệnh của điều tra viên. Nhưng nếu ông muốn, tôi và Jervis rất sẵn lòng bắt tay vào kiểm tra sơ bộ trước,” Thorndyke trả lời.

“Tất nhiên là tôi rất vui nếu được bác sĩ giúp đỡ rồi.” Thuyền trưởng nói. “Chúng tôi rất muốn biết nguyên nhân tử vong chính xác của kẻ bất hạnh xấu số này.”

Tiếp đó, thi thể được di chuyển vào trong lều. Trong khi Polton được dẫn đi, không quên mang theo chiếc túi đen quan trọng đựng mô hình phát minh của anh, thì chúng tôi đi vào lều và bắt đầu tiến hành cuộc khám nghiệm.

Nạn nhân là một người đàn ông lớn tuổi có vóc dáng nhỏ bé, mặc trang phục lịch sự theo kiểu thủy thủ. Thời điểm tử vong là khoảng hai, ba ngày trước. Không giống với phần lớn xác chết được vớt dưới biển, tình trạng thi thể này chưa bị cá, cua cắn rỉa. Kiểm tra xương thì không có phần nào bị gãy hay chấn thương nặng. Trên thi thể cũng không phát hiện dấu vết ngoại thương, trừ một vết rách lởm chởm ở vùng da phía sau đầu.

“Qua đánh giá tình trạng của thi thể, có thể thấy nguyên nhân tử vong là do đuối nước. Tuy nhiên, vẫn chưa thể kết luận chắc chắn cho đến khi tiến hành khám nghiệm tử thi.” Thorndyke vừa nói, vừa ghi lại kết quả đánh giá của mình.

“Vậy vết thương trên da đầu không có ý nghĩa gì sao?” Tôi hỏi.

“Xem đó như nguyên nhân tử vong sao? Không. Rõ ràng vết thương đó giáng xuống nạn nhân khi anh ấy còn sống. Tuy nhiên, có vẻ như hướng của lực tác động là xiên góc nên nó chỉ gây thương tích cho da đầu chứ không làm tổn thương hộp sọ. Vết thương này có ý nghĩa, nhưng là theo một hướng khác.”

“Theo hướng nào vậy?” Tôi thắc mắc.

Thorndyke lấy ra từ trong túi đồ nghề một chiếc kẹp.

“Cần xem xét hoàn cảnh của vụ án này. Người đàn ông ra khơi để đi đến ngọn hải đăng nhưng chưa bao giờ cập bến ở đó. Câu hỏi đặt ra là: anh ta đã đi đâu?” Vừa nói Thorndyke vừa khom người xuống quan sát thi thể. Anh dùng mỏ kẹp để lật ngược phần tóc xung quanh vết thương trên đầu. “Hãy nhìn những vật thể màu trắng lẫn trong đám tóc và cả bên trong vết thương này, Jervis. Tôi nghĩ chúng sẽ tiết lộ manh mối gì đó.”

Tôi kiểm chứng lại lời của Thorndyke bằng việc soi kĩ thứ bột màu trắng đó qua lớp kính. “Có vẻ đây là vụn của một thứ gì đó giống như vỏ sò và ống vôi của mấy loài sinh vật biển.”

“Đúng vậy. Những mảnh vỏ bị vỡ vụn rõ ràng là từ mấy con hà. Phần còn lại chủ yếu đến từ những mảnh thân ống của các loài giun biển thông thường. Từ những phán đoán này có thể đưa ra một suy luận quan trọng, đó là: Vết thương của nạn nhân được gây ra bởi một cấu trúc bị bao bọc từ những con hà và giun biển. Hay nói cách khác, cấu trúc này ngập trong nước theo chu kỳ dâng của thủy triều. Giờ thì hãy phán đoán xem cấu trúc đó có thể là gì và làm thế nào mà nạn nhân lại đập đầu vào nó.”

“Đó có thể là đáy của con tàu đã đâm ông ấy chìm xuống!” Tôi thử đưa ra suy luận.

“Giun biển hiếm khi bám nhiều lên các thân tàu.” Thorndyke nói. “Kết hợp những điểm trên cho thấy đây là một vật thể đứng cố định giữa những đợt dâng thủy triều, chẳng hạn như phù tiêu. Nhưng khó mà tưởng tượng được bằng cách nào mà một người đàn ông lại đập đầu vào phù tiêu được. Mặt khác, không còn vật thể cố định nào giữa dòng chảy của thủy triều ngoại trừ những chiếc phao đèn hiệu. Vấn đề là bề mặt phẳng của phao khó có thể gây ra vết thương như thế này khi va chạm. Tiện đây, chúng ta thử kiểm tra trong túi của nạn nhân xem còn gì nữa, cũng có khả năng cái chết của ông ta liên quan đến một vụ cướp mặc dù xác suất xảy ra là rất thấp.”

“Không thể là vụ cướp được.” Tôi tán đồng với Thorndyke. “Tôi phát hiện ra trong túi của người đàn ông này có một chiếc đồng hồ bằng bạc, chất lượng khá tốt.” Vừa nói, tôi vừa lấy chiếc đồng hồ ra. “Thời gian trên đồng hồ dừng lại ở mười hai giờ tám phút.”

“Đó có thể là manh mối quan trọng!” Thorndyke vừa nói vừa ghi chép lại sự thật mới được khám phá. “Nhưng chúng ta vẫn nên kiểm tra từng túi một thì tốt hơn, tiếp đó thì đặt mọi thứ về vị trí cũ sau khi xem xét xong.”

Túi đầu tiên chúng tôi tìm kiếm nằm ở hông bên trái áo khoác của nạn nhân. Đây hẳn là chiếc túi mà chủ tàu cá đã lục soát vì chúng tôi tìm được có hai bức thư bên trong, cả hai đều có huy hiệu của Trinity House trên đó. Chúng tôi không đọc thư mà chỉ trả chúng về đúng vị trí. Sau đó, cuộc tìm kiếm chuyển qua chiếc túi bên phải áo khoác. Bên trong chứa đầy những vật dụng thường thấy: một chiếc tẩu gỗ thạch nam, một bao da chuột chũi và vài que diêm lẻ.

“Cũng là chuyện thường tình khi bỏ một vài que diêm trong túi áo khoác và thêm cả một chiếc tẩu thuốc nữa.” Tôi đưa ra nhận xét.

“Đúng vậy.” Thorndyke đồng tình. “Đặc trưng của những que diêm này là rất dễ bắt lửa. Anh có để ý rằng đây là loại diêm được phủ thêm một lớp lưu huỳnh trước khi bọc phốt pho đỏ lên phần đầu diêm không? Chúng sẽ bốc cháy chỉ với một lần quẹt và rất khó dập tắt. Vì thế mà loại diêm này rất phổ biến trong giới thủy thủ, bởi họ thường phải đốt tẩu trong đủ mọi điều kiện thời tiết.” Vừa nói, Thorndyke vừa cầm chiếc tẩu lên săm soi với vẻ trầm ngâm. Anh chiếc tẩu trong tay rồi lại kiểm tra bên trong bát tẩu. Đột nhiên, anh chuyển hướng nhìn của mình từ chiếc tẩu sang khuôn mặt của người chết, rồi dùng kẹp lật ngược môi lên để nhìn vào bên trong khoang miệng tử thi.

“Chúng ta hãy xem ông ta hút loại thuốc lá nào.” Thorndyke nói.

Tôi mở chiếc bao da đựng thuốc đã ướt sũng và lôi ra một đống thuốc lá cắt nhỏ có màu hơi sẫm đen. “Trông giống như thuốc lá sợi.” Tôi nói.

“Đúng vậy, chính là thuốc lá sợi.” Thorndyke đáp lại. “Và giờ thì chúng ta sẽ xem có gì bên trong tẩu. Nó mới chỉ được hút một nửa.” Nói rồi anh dùng con dao bỏ túi cạo đống “xái thuốc” bám trên bát tẩu ra một tờ giấy để cả hai cùng kiểm tra. Rõ ràng đó không phải thuốc lá sợi bởi đó là những vụn thuốc được cắt ra rất thô và màu gần như đen xì.

Tôi nhận định thứ thuốc này chính là “vụn được cắt ra từ một bánh thuốc cứng” và Thorndyke cũng đồng ý với quan điểm đó. Kiểm tra xong, anh đem thả đống vụn thuốc trở lại bát tẩu.

Chúng tôi tiếp tục tìm kiếm bên trong những chiếc túi khác nhưng không tìm thêm được manh mối quan trọng nào, ngoại trừ một con dao bỏ túi đã được Thorndyke mở ra kiểm tra kĩ lưỡng. Nạn nhân không có quá nhiều tiền trong người, nhưng dù vậy, chỗ tiền đó cũng đủ để loại trừ khả năng bị giết do cướp đoạt tài sản.

“Có con dao găm nào trên dây đeo đó không?” Thorndyke thắc mắc chỉ vào chiếc thắt lưng da hẹp. Tôi lật chiếc áo khoác ra và quan sát.

“Có vỏ dao ở đây nhưng con dao thì không thấy đâu. Chắc nó bị rơi rồi,” tôi đáp.

“Điều này khá kỳ quặc.” Thorndyke nói. “Theo đúng nguyên tắc, dao găm của thủy thủ là loại phải lắc nhiều lần mới lấy ra được. Nó được thiết kế để khi người thủy thủ treo mình trên cột buồm thì anh ta vẫn có thể rút con dao ra khỏi vỏ bằng một tay, trong khi tay kia bận bám vào thân cột. Bởi vậy nó phải đủ chắc chắn để không bị rơi ra vì vỏ bao che phủ đến nửa chuôi dao cũng như toàn bộ lưỡi dao. Điểm cần chú ý đến trong trường hợp của người đàn ông này là nạn nhân mang theo cả một con dao bỏ túi. Có nghĩa là con dao bỏ túi sẽ được sử dụng để phục vụ những mục đích thông thường. Còn con dao găm trong vỏ được mang theo để phòng thủ, nó có thể xem như một vũ khí. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không thể khai thác thêm nhiều manh mối hơn nếu không tiến hành khám nghiệm tử thi. À mà, thuyền trưởng của chúng ta đã trở lại rồi đây!”

Thuyền trưởng Grumpass bước vào trong lều và nhìn xuống thi thể của người thủy thủ xấu số một cách đầy thương tiếc.

“Bác sĩ đã tìm ra được điều gì có thể làm sáng tỏ sự biến mất của người đàn ông này chưa?” Thuyền trưởng hỏi.

“Có một vài điểm kỳ lạ trong vụ án này, nhưng mấu chốt quan trọng nhất lại bắt nguồn từ chính lời khai của những cảnh sát biển mà thuyền trưởng có vẻ xem thường đấy,” Thorndyke trả lời.

“Không thể có chuyện đó được!” Thuyền trưởng kêu lên.

“Chính xác là có đấy.” Thorndyke nói. “Theo lời làm chứng của các cảnh sát biển, lần cuối cùng họ nhìn thấy nạn nhân là khi anh ta đang nhét đầy tẩu của mình bằng thứ thuốc lấy từ trong bao đựng. Khi chúng tôi kiểm tra bao da đựng thuốc của nạn nhân, bên trong đó là thuốc lá dạng sợi. Tuy nhiên, thứ bên trong tẩu lấy từ túi áo ông ta lại là vụn thuốc được cắt thô cứng!”

“Không tìm được bánh thuốc nào bên trong các túi của nạn nhân sao?”

“Một mảnh cũng không. Tất nhiên cũng có khả năng ông ấy có một bánh và đã dùng hết để nhét đầy tẩu rồi. Nhưng tôi không tìm thấy trên lưỡi dao bỏ túi của nạn nhân cho thấy nó đã được dùng để cắt bánh thuốc. Thuyền trưởng hẳn cũng biết là loại bánh thuốc như vậy có thể làm bẩn lưỡi dao như thế nào mà. Ngoài ra, nạn nhân còn một con dao găm được tra trong vỏ nữa, nhưng hiện tại đã biến mất. Tuy vậy, khó có khả năng nạn nhân dùng nó để cạo bánh thuốc trong khi trên người có dao bỏ túi.”

“Đúng là không có khả năng thật.” Thuyền trưởng đồng tình. “Nhưng anh chắc là ông ta không có cái tẩu thuốc thứ hai chứ?”

“Nạn nhân chỉ có một cái tẩu. Và cái tẩu kia không phải của ông ấy,” Thorndyke đáp.

“Không phải của ông ta?” Thuyền trưởng kêu lên. Ông sững người một lúc rồi ném cái nhìn chằm chằm, đầy dò xét lên người cộng sự của tôi. “Làm cách nào anh biết cái tẩu không phải của ông ta?”

“Qua xem xét tình trạng của phần cán tẩu.” Thorndyke nói. “Nó được làm từ cao su lưu hóa, bên trên bề mặt vẫn còn lưu lại những vết răng cắn khá sâu, nếu không muốn nói là gần như bị cắn xuyên qua. Điều này cho thấy một số biểu hiện thể chất đặc thù của chủ sở hữu chiếc tẩu, đặc biệt trong số đó phải kể đến chuyện người này có một bộ răng khá tốt. Tuy nhiên, người đàn ông đã chết này không có một chiếc răng nào.”

Thuyền trưởng đắn đo mất một lúc. “Tôi không hiểu ý nghĩa của chuyện này lắm.”

“Ông không hiểu sao?” Thorndyke nói. “Theo tôi, đó là một manh mối quan trọng. Lần cuối cùng người đàn ông xấu số này được nhìn thấy là khi đang nhét đầy tẩu loại thuốc lá riêng biệt của mình. Sau đó, xác người này được vớt lên nhưng bên trong chiếc tẩu của ông ta lại chứa loại thuốc lá hoàn toàn khác. Vậy loại thuốc đó từ đâu mà có? Manh mối này rõ ràng dẫn đến kết luận rằng nạn nhân đã gặp một người nào đó.”

“Đúng, mọi chuyện có vẻ đã diễn ra như vậy” Thuyền trưởng đồng tình.

Thorndyke tiếp tục. “Tiếp nữa, chi tiết con dao găm có vỏ bọc của nạn nhân đã biến mất cũng là điều chúng ta phải lưu tâm, tuy rằng chưa biết điều này có ý nghĩa gì. Ngoài ra, có một điểm kỳ lạ khác: nạn nhân có một vết thương ở phía sau đầu. Nguyên nhân là do va chạm mạnh vào cấu trúc nào đó bám đầy hà và giun biển. Tuy nhiên, ở khu vực cửa sông tìm thấy thi thể không hề có bến tàu hay giàn giáo nào trên biển. Câu hỏi đặt ra là, rốt cuộc nạn nhân đã va vào thứ gì?”

“Hừm, chẳng có thứ gì như vậy trong khu vực đó cả.” Thuyền trường nói. “Nếu như một xác chết trôi dạt theo thủy triều trong khoảng ba ngày thì dễ mà va chạm…”

“Tôi không nói về xác chết.” Thorndyke cắt ngang. "Vết thương đó được gây ra trong khi người đàn ông này vẫn còn sống!”

“Chuyện đó là thế quái nào!” Thuyền trưởng thốt lên. “Chà, tôi chỉ có thể tưởng tượng rằng ông ta đã va phải đèn báo trong sương mù, rồi con thuyền bị đâm thủng và phần đầu thì bị đập vào đâu đó. Dù vậy, tôi phải thừa nhận là giả thuyết mình đưa ra thật vô lý hết sức.” Thuyền trưởng đứng cúi mặt trầm ngâm, sau đó ngước lên nhìn Thorndyke với một cái cau mày.

“Tôi có ý này.” Thuyền trưởng tiếp tục. “Từ những gì bác sĩ vừa nói, tôi nhận thấy vấn đề này cần phải được xem xét nghiêm túc. Hôm nay tôi sẽ đi theo tàu lương thực để trực tiếp điều tra. Các anh nghĩ sao về việc sẽ đi cùng tôi với tư cách cố vấn? Tôi sẽ khởi hành vào khoảng mười một giờ, vậy thì tới ba giờ chúng ta sẽ có mặt tại ngọn hải đăng. Và nếu các anh muốn quay lại thị trấn trong tối nay thì không thành vấn đề. Liệu như vậy có được không?”

“Chúng tôi không có vấn đề gì.” Tôi háo hức đáp lại vì chẳng dại gì mà từ chối cơ hội được ngắm nhìn vẻ đẹp mê hồn của dòng sông ở Bugsby’s Hole trong một buổi sáng mùa hè đẹp trời.

“Tuyệt lắm.” Thorndyke nói. “Chúng tôi sẽ cùng đến đó. Jervis rõ ràng đang khao khát một chuyến đi biển và cả tôi cũng vậy.”

“Hãy nhớ chuyến đi này là vì công việc.” Thuyền trưởng nghiêm nghị dặn dò.

“Tôi không hề quên điều đó.” Thorndyke nói. “Lời tôi nói không phải kiểu phấn khích không có điểm dừng hay ung dung tận hưởng niềm vui của chuyến đi, hay thậm chí thoải mái cư xử như thể tầng lớp thượng lưu đâu.”

“Tôi không có ý nói như vậy.” Thuyền trưởng càu nhàu. “Nhưng nếu mọi người muốn đến với tư cách khách thì hãy cử phụ tá mang đồ ngủ tới và chúng tôi sẽ đưa các anh trở về vào buổi tối hôm sau.”

“Chúng tôi sẽ không phiền đến Polton.” Người cộng sự của tôi lên tiếng: “Chúng tôi có thể đi tàu từ Blackwall và tự thu xếp đồ cho mình. Ông nói là mười một giờ khởi hành đúng không?”

“Tầm đó. Nhưng mà đừng có không trở lại đấy.” Thuyền trưởng Grumpass nói.

Giao thông đi lại ở London quả nhiên thuận tiện tới không tưởng. Sau chuyến tàu hú hồi còi ầm ĩ cùng với tiếng chuông báo leng keng, chúng tôi di chuyển băng qua thị trấn bằng xe ngựa hai bánh. Nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện đó mà tốc độ cả đi và về rất nhanh. Tới mức chưa đến mười một giờ mà cả hai đã có mặt ở Trinity Wharf cùng với bộ đồ nghề đựng trong chiếc rương Gladstone nhỏ, màu xanh lá và có quai xách của Thorndyke.

Tàu lương thực đã ra khỏi Bow Creek, bấy giờ đang nằm dọc theo cầu cảng với chiếc thùng phao sọc lớn treo lủng lẳng trên cần trục. Thuyền trưởng Grumpass đứng ngay giữa lối lên tàu, khuôn mặt đỏ bừng rạng rỡ vì phấn khích. Cuối cùng, chiếc thùng phao đã được xếp gọn lên boong tàu phía trước an toàn, cần trục được thu về cố định vào các cột buồm, những tấm bạt che lỏng lẻo cũng được gia cố chắc chắn bằng dây buộc vít. Còn tàu hơi nước hú vang bốn tiếng, sau đó quay đầu và rẽ đôi con sóng đang tiến tới bằng phần mũi nhọn hoắt.

Trong gần bốn giờ lênh đênh trên tàu, dòng chảy uốn khúc của “sông London” không ngừng mở rộng ra một bức tranh toàn cảnh tuyệt sắc để chúng tôi ngắm nhìn. Ngay khi làn khói và mùi của bờ biển Woolwich tan biến, một bầu không khí trong lành vẫn còn mang hơi ẩm của sương mù mùa hè đã thế chỗ. Không còn bóng những nhà máy xám xịt lô nhô ra nữa, chỉ thấy những dải đầm lầy đầy nhóc gia súc trải dài đến những triền đất cao giáp ranh với lưu vực sông. Bên bờ rừng, những con tàu huấn luyện nằm la liệt, phô bày phần thân ghi dấu biết bao trầm tích lịch sử. Chúng như đang thì thầm với đám cây sồi, cây gai dầu mọc ven sông về ký ức của những ngày rất xa. Thuở đó, chúng hãy còn là những chiếc tàu chiến với ba boong súng đầy uy nghi, thu hút biết bao nhiêu ánh nhìn vào những tấm buồm lớn cao vút trông chẳng khác nào những ngọn tháp trắng ngà giữa biển. Hào quang đó đã bị chiếm lĩnh khi những con tàu hơi nước màu bùn, với lá cờ hiệu đặc trưng của Hải quân Hoàng gia tung bay trên boong xuất hiện, thứ ngốn hàng đống thuế của người dân Anh. Thêm nữa, những thủy thủ trước kia mới đúng chất là một thủy thủ chân chính, chứ không phải một thợ máy đi biển đơn thuần như ngày nay.

Con tàu lương thực chở chúng tôi đang vững vàng chống chọi với những đợt sóng thủy triều. Nó len lỏi qua hàng dài bất tận các con tàu chở hàng, lách qua hàng loạt chiếc sà lan, vô kể thuyền nhỏ Billy-boy, hằng hà chiếc thuyền buồm dọc và sa số chiếc thuyền hai buồm. Trên hải trình cũng có thể dễ dàng bắt gặp rất nhiều thủy thủ da đen vạm vỡ, những con tàu chở hàng không theo tuyến cố định của Trung Quốc với ống khói màu xanh đặc trưng, hay con thuyền buồm Baltic kiểu cũ ọp ẹp với quạt gió xoay tròn và những con tàu chở khách khổng lồ đang tròng trành với phần boong nặng nề.

Những thị trấn Erith, Purfleet, Greenhithe, Grays hiện ra chào đón con tàu của chúng tôi rồi lại nhanh chóng nói lời tạm biệt. Tiếp đó là khung cảnh những ống khói ở Northfleet, những nóc nhà san sát nhau của Gravesend, những khu neo đậu đông đúc và khu giàn trú tạm đều bị bỏ lại phía sau. Và khi tàu chúng tôi rời khỏi Lower Hope, cảnh biển rộng lớn ập vào tầm mắt trông như một tấm màn satin màu xanh diễm lệ.

Đến khoảng mười hai giờ rưỡi, thủy triều bắt đầu dâng. Con tàu cưỡi trên những ngọn sóng thủy triều lao vút đi. Ngoảnh nhìn lại đất liền đang ngày một xa dần mới thấy tốc độ tàu tăng lên đáng kể. Không khí trên biển trong lành sượt qua chúng tôi khiến ai nấy đều cảm thấy sảng khoái.

Cả bầu trời và sóng biển dần trở nên dịu dàng trong một ngày hè êm ả thế này. Những đám mây bông xốp lơ lửng trên cao, dường như đứng bất động trong sắc xanh êm dịu. Những chiếc sà lan lướt đi trên thủy triều cùng những cánh buồm rủ xuống. Một chiếc chuông phao sọc lớn được đặt trên cây gậy gắn với khung sắt kèm dòng chữ “Shivering Sand” đang nằm mơ màng dưới ánh nắng mặt trời. Như thể bị con tàu đi qua đánh thức, chỉ trong giây lát chúng tôi lướt qua, chiếc chuông phao uể oải kêu lên tiếng ding dong trang trọng rồi lại lần nữa chìm trong cơn mê của mình.

Ngay khi vượt qua chiếc phao, bóng dáng khẳng khiu của ngọn hải đăng cọc vít bắt đầu hiện ra ở phía trước. Dưới hiệu ứng ánh nắng đầu giờ chiều, màu đỏ xỉn của nước sơn ngọn hải đăng dần chuyển sang màu đỏ son sáng chói. Khi chúng tôi đến gần hơn, cái tên “Girdler” được viết rất lớn bằng sơn trắng hiện ra rõ ràng. Không chỉ vậy, còn có thể thấy cả hai người đàn ông trên hành lang xung quanh ngọn đèn đang quan sát chúng tôi qua kính viễn vọng

“Các anh sẽ lưu lại ở ngọn hải đăng lâu chứ?” Chủ tàu hỏi Thuyền trưởng Grumpass. “Bởi vì chúng tôi sẽ cần xuống Pan Sand ở phía Đông Bắc để thay mấy cái phao mới này và lấy những cái cũ đi nữa.”

“Tốt nhất là anh hãy đưa chúng tôi đến ngọn hải đăng và quay lại đón khi các anh đã xong việc. Vì chúng tôi cũng chưa xác định sẽ ở lại bao lâu.”

Khi chủ tàu đưa chúng tôi đến nơi, một chiếc thuyền con đã được hạ xuống bên dưới, trên thuyền là một người đàn ông chờ sẵn để đón ba chúng tôi.

“Quần áo của các anh sẽ vấy bẩn khi leo lên trên ngọn hải đăng mất.” Thuyền trưởng nhận định như thể bộ đồ tươm tất ông đang mang sẽ không gặp bất trắc gì. “Nhưng giặt đi là sạch ấy mà.” Chúng tôi nhìn lên cấu trúc khung cọc vít của hải đăng. Thủy triều rút xuống làm lộ ra khoảng mười lăm feet chân cọc và những bậc thang bị rong biển bao phủ, bám đầy hà và giun biển. Nhưng chúng tôi không phải đám trí thức kiểu cách giống với những gì thuyền trưởng nghĩ nên cả hai đều có thể dễ dàng leo lên thang mà không gặp bất kì khó khăn gì. Về phần Thorndyke, anh ấy vừa leo vừa giữ khư khư rương đồ nghề xanh lá cây của mình, không chịu rời nó ra dù chỉ một giây.

Khi chúng tôi leo lên đến giàn sắt ở đầu thang, thuyền trưởng liền lên tiếng. “Những quý ông này và tôi tới đây để tìm hiểu về người đàn ông mất tích tên James Brown. Ai trong số các anh là Jeffreys?”

“Là tôi đây, thưa ngài.” Một người đàn ông cao lớn, lực lưỡng, quai hàm bạnh với đôi lông mày bọ hung đứng ra lên tiếng. Tay trái anh ta đang được bó tạm bằng miếng băng thô sơ.

“Có chuyện gì với tay của anh vậy?” Thuyền trưởng thắc mắc.

“Tôi lỡ cắt phải khi đang gọt ít khoai tây. Không có gì đáng ngại đâu, thưa ngài.” Anh ta đáp lại.

“Chà, Jeffreys này. Người ta đã vớt được thi thể của Brown và chúng tôi đang thu thập manh mối cho quá trình điều tra nguyên nhân cái chết. Anh được xem như một nhân chứng, vì vậy hãy cung cấp cho chúng tôi tất cả những gì anh biết.”

Sau đó, tất cả cùng bước vào phòng khách và ngồi xuống bàn. Trong khi thuyền trưởng bận mở cuốn sổ bỏ túi to tướng của mình ra thì Thorndyke lại mải mê, tò mò nhìn một lượt căn phòng trông như một cabin kỳ quặc này. Nhìn như thể anh đang lần lượt điểm từng chi tiết của nó bên trong đầu vậy.

Lời khai của Jeffrey không nhiều nhặn gì, vậy nên cũng chẳng cung cấp được thêm manh mối nào so với những gì chúng tôi đã được biết trước đó. Anh ta khai rằng đã nhìn thấy một người đàn ông trên một chiếc thuyền đang tiến đến ngọn hải đăng. Sau đó, màn sương trở nên dày đặc và anh ta đã mất dấu chiếc thuyền. Ngay lập tức anh chạy đi khởi động còi báo hiệu sương mù và tập trung dõi theo mọi chuyển động trong màn sương, nhưng con tàu đã không bao giờ xuất hiện nữa. Đó là tất cả những gì anh ta biết. Theo nhận định của anh ta, nhiều khả năng người đàn ông đã mất dấu ngọn hải đăng và bị cuốn đi theo dòng chảy xiết khi thủy triều rút xuống.

“Lần cuối cùng anh nhìn thấy con thuyền là lúc mấy giờ?” Thorndyke chất vấn.

“Khoảng mười một rưỡi.” Jeffreys trả lời.

“Người đàn ông lúc đó trông như thế nào?” Thuyền trưởng cũng tham gia.

“Tôi không biết thưa ngài. Ông ấy đang chèo thuyền và quay lưng về phía tôi.”

“Ông ta có mang theo thứ gì như túi hành lý hay rương bên mình không?” Lại tới lượt Thorndyke đặt câu hỏi.

“Ông ấy có mang theo một cái rương.” Jeffreys đáp lại.

“Đó là loại rương kiểu gì vậy?” Thorndyke thắc mắc.

“Là loại rương nhỏ, được sơn xanh lá và có đai kèm theo.”

“Còn dây buộc thì sao?”

“Chỉ có một sợi duy nhất được buộc quanh để đè nắp rương xuống thôi.”

“Chiếc rương được đặt ở đâu?”

“Trên tấm bạt ở đuôi thuyền, thưa ngài.”

“Chiếc thuyền cách anh bao xa khi anh nhìn thấy nó?”

“Khoảng nửa dặm.”

“Nửa dặm sao?” Thuyền trưởng kêu lên. “Thế quái nào mà anh nhìn được chiếc rương cách anh tận nửa dặm?”

Mặt người đàn ông được thẩm vấn thoắt đỏ lên. Anh ta ném cho Thorndyke một cái nhìn nghi ngờ và giận dữ. “Tôi nhìn thấy qua kính viễn vọng, thưa ngài.” Anh ta sưng sỉa trả lời.

“Thế à.” Thuyền trưởng Grumpass nói. “Được rồi, được rồi, Jeffreys. Chúng tôi sẽ còn sắp xếp để hỏi anh thêm vài điều. Nhắn với Smith là tôi muốn gặp anh ta nhé.”

Rồi cuộc điều tra kết thúc, Thorndyke và tôi chuyển ghế đến cửa sổ nhìn ra biển ở phía Đông. Nhưng có vẻ như người cộng sự của tôi không làm vậy để ngắm nhìn biển cả hay những con thuyền ngang qua. Thứ anh thực sự chú tâm lại nằm trên bức tường ngay cạnh cửa sổ, ở đó treo một chiếc giá chạm trổ thô sơ, đang bày năm chiếc tẩu. Thorndyke đã chú ý tới nó kể từ khi chúng tôi bước vào phòng. Nhưng bây giờ khi ngồi trò chuyện cùng nhau, tôi mới để ý thấy anh ấy đang nghiên cứu nó một cách có chủ đích.

“Các anh có vẻ là những tay chơi tẩu lão làng nhỉ?” Thorndyke nói với người gác hải đăng tên Smith. Anh ta vừa mới cùng thuyền trưởng bàn bạc về việc bố trí sắp xếp ca trực.

“Chà, đúng là chúng tôi rất thích hút tẩu, thưa ngài.” Smith trả lời. “Như ngài cũng thấy đấy, cuộc sống ở đây quá đỗi cô đơn, cộng thêm thuốc lá ở đây cũng rẻ.”

“Sao thuốc lá ở đây lại rẻ vậy?” Thorndyke hỏi.

“Tại sao ư? Vì chúng tôi được cho. Từ một số thợ làm thuốc thủ công nước ngoài, đặc biệt là người Hà Lan. Họ thường cho chúng tôi một vài bánh thuốc mỗi khi ngang qua đây. Ở ngọn hải đăng này không phải giống như trên đất liền nên chúng tôi cũng chẳng phải đóng thuế má gì.”

“Vì thế mà các anh không phải mua thuốc lá ở các cửa tiệm sao? Nhưng vẫn phải đem tới đó để cắt chúng chứ?”

“Không đâu, thưa ngài. Bất cứ thứ đồ gì khi đã cắt ra thì sẽ không thể bảo quản được lâu. Vì thế, ở đây chúng tôi ăn bánh quy khô khốc và hút thuốc lá cứng.”

“Tôi thấy các anh còn có cả giá bày tẩu thuốc nữa. Trông khá phong cách đấy.”

“Đúng vậy!” Smith đáp. “Tôi chế ra nó trong thời gian rảnh rỗi đấy. Có cái giá vào khiến nơi này trở nên gọn gàng và sạch sẽ hơn, mấy cái tẩu cũng không nằm lung tung, bừa bãi ở khắp nơi.”

“Có vẻ như ai đó đã bỏ quên chiếc tẩu thuốc của mình ở đây thì phải.” Thorndyke vừa nói vừa chỉ vào chiếc tẩu ở cuối kệ đã mọc lên một lớp nấm mốc xanh.

“Phải rồi, đó là của Parsons, đồng nghiệp của tôi. Anh ấy đã để quên nó khi rời khởi đây khoảng một tháng trước. Chiếc tẩu đã bị mốc xanh khi phải đối mặt với điều kiện thời tiết ẩm ướt ngoài này.”

“Nếu không đụng đến thì mất bao lâu một chiếc tẩu sẽ bị lên nấm mốc?” Thorndyke hỏi.

“Cái đó còn phụ thuộc vào tình hình thời tiết nữa.” Smith đáp lại. “Khi trời ấm lên và độ ẩm tăng cao, nấm mốc sẽ xuất hiện trong khoảng một tuần. Ở đây có chiếc tẩu mà Barnett đã để lại, chính là người đàn ông bị gãy chân, ngài biết chứ? Tẩu của anh ta đang bắt đầu xuất hiện vài đốm mốc nhỏ rồi. Trước khi rời khỏi đây khoảng một hay hai ngày là anh ta đã không sử dụng nó nữa.”

“Thế tất cả chỗ tẩu còn lại đều là của anh à?”

“Không, thưa ngài. Chỉ có chiếc này là của tôi thôi. Cái nằm cuối kia là của Jeffreys. Hình như cái ở giữa cũng là của anh ấy đấy, nhưng tôi không chắc nữa.”

“Bác sĩ hình như thích tẩu lắm nhỉ?” Thuyền trưởng vừa nói vừa bước tới. “Có vẻ như anh đang tiến hành nghiên cứu về các loại tẩu hả?”

“Điều quan trọng nhất trong nghiên cứu của loài người chính là con người.” Thorndyke đáp lại khi người gác hải đăng Smith đã rời đi. “Và bên trong yếu tố con người bao gồm cả những đối tượng thu hút sự quan tâm của con người. Đặt trong trường hợp này, tẩu thuốc chính là một yếu tố như vậy. Hãy nhìn lên giá kệ này xem. Mỗi chiếc tẩu đều có một diện mạo riêng, điều này phản ánh đặc thù của chủ sở hữu ở một mức độ nhất định. Lấy ví dụ về chiếc tẩu cuối hàng này của Jeffreys. Phần ống ngậm gần như bị cắn xuyên qua, bên trong bát tẩu bị cạo tới sứt mẻ cả mảng và vành bát trầy xước nhiều do thường xuyên bị va đập. Toàn bộ điều này cho thấy chủ sở hữu chiếc tẩu là kiểu người có sức khỏe và thô bạo. Anh ta nhai ống ngậm khi hút, cạo bên trong bát tẩu một cách bạo lực và đập tàn thuốc bằng lực mạnh quá mức cần thiết. Và kết quả cho thấy Jeffreys hoàn toàn đúng theo những phân tích trên: lực lưỡng, quai hàm vuông và đôi khi rất hung bạo.”

“Đúng vậy. Trông Jeffreys có vẻ là kiểu người khó tính.” Thuyền trưởng tán đồng.

“Tiếp theo, là chiếc tẩu thuốc của Smith đang đặt ngay cạnh. Anh ta sẽ đơm thuốc cho đến khi bát tẩu gần đầy kín mới thôi, bởi thế nên xuất hiện dấu hiệu cháy xém quanh vành bát. Đây là tẩu của người ưa trò chuyện, thường xuyên ra ngoài nên hay phải châm đi châm lại diêm. Tuy nhiên, chiếc tẩu mà tôi thấy hứng thú nhất lại là cái nằm ở giữa.”

“Không phải Smith bảo đó cũng là của Jeffreys sao.” Tôi lên tiếng

“Đúng!” Thorndyke đáp. “Nhưng anh ấy hẳn đã nhầm rồi. Chiếc tẩu này trái ngược hoàn toàn với tẩu của Jeffreys. Đầu tiên, mặc dù đây là một chiếc tẩu cũ nhưng không hề có bất cứ dấu răng nào lưu lại trên ống ngậm. Nó là cái duy nhất trên kệ không có dấu vết nào. Tiếp đến, phần vành tẩu còn khá nguyên vẹn, chứng tỏ nó được xử lý nhẹ nhàng khi đổ thuốc ra. Thêm nữa, vòng bạc trên chiếc tẩu này có màu đen tuyền trong khi trên tẩu của Jeffreys lại khá sáng.”

“Tôi còn chẳng để ý thấy có vòng ở đó nữa.” Thuyền trưởng thốt lên. “Thứ gì đã làm cho nó đen như thế nhỉ?”

Thorndyke nhấc chiếc tẩu ra khỏi giá và săm soi nó kĩ càng. “Là bạc sunfua. Hẳn là đến từ thứ gì đó có chứa lưu huỳnh để cùng trong túi.”

“Ra là vậy.” Thuyền trưởng Grumpass nói xong liền cố nén một cái ngáp. Ông nhìn ra ngoài cửa sổ hướng về phía tàu lương thực phía xa. “Bên trong nó vẫn đang còn nhét đầy thuốc lá kìa. Thế bài học rút ra ở đây là gì vậy, bác sĩ?”

Thorndyke lật ngược chiếc tẩu lại và nhìn kĩ vào ống ngậm. “Bài học được rút ra là nên đảm bảo ống tẩu của mình sạch sẽ trước khi nhét đầy thuốc.” Thorndyke chỉ vào ống tẩu, cái lỗ đã hoàn toàn bị bịt kín bởi một lớp lông tơ mịn.

“Quả là một bài học bổ ích.” Thuyền trưởng đứng dậy với một cái ngáp khác. “Tôi xin phép dành vài phút để kiểm tra xem tàu lương thực như thế nào rồi. Có vẻ nó đang băng qua phía Đông Girdler.” Nói rồi, thuyền trưởng với tay lấy chiếc kính viễn vọng ra khỏi giá đỡ và ra ngoài hành lang.

Ngay khi thuyền trưởng bỏ ra ngoài, Thorndyke mở con dao bỏ túi của mình, cắm lưỡi dao vào bát tẩu và moi chỗ thuốc đó ra tay. “Thuốc lá sợi. Trời ơi!” Tôi kêu lên.

“Ừ, anh không đoán trước được nó sẽ là thuốc lá sợi sao?” Thorndyke nhét chỗ thuốc đó vào lại trong bát tẩu.

“Tôi không biết nữa. Tâm trí tôi đang tập trung vào chi tiết cái vòng bạc trên cán tẩu.” Tôi thú nhận.

“Đó cũng là một điểm khá thú vị. Giờ thì hãy cùng xem vật khiến ống tẩu này bị tắc là gì nhé.” Thorndyke mở rương đồ nghề màu xanh lá của mình và lấy ra một chiếc kim giải phẫu, cẩn thận rút ra cục lông tơ nhỏ từ trong lỗ tẩu thuốc. Sau đó, anh đặt nó lên phiến kính, nhỏ một giọt glycerine vào, rồi đậy bằng một phiến kính khác lên. Trong khi đó, tôi nhanh chóng lắp đặt kính hiển vi.

“Tốt nhất là chúng ta nên trả chiếc tẩu về vị trí cũ.” Vừa nói, Thorndyke vừa đặt phiến kính có mẫu vật lên bệ kính hiển vi. Tôi làm theo lời Thorndyke, đặt chiếc tẩu về vị trí cũ trên giá, sau đó quay lại quan sát cách anh tỉ mỉ xem xét mẫu vật. Được một lúc, Thorndyke liền đứng dậy và vẫy tôi lại phía kính hiển vi.

“Anh xem thử đi, Jervis.”

Tôi áp mắt vào thiết bị, di chuyển kính ngắm xung quanh mẫu vật để xác định thành phần của khối lông tơ. Chắc chắn đa số thành phần sẽ là sợi bông, ngoài ra còn thêm một ít sợi len. Tuy nhiên, một chi tiết khiến tôi chú ý là hai, ba sợi lông. Chúng rất nhỏ, có hình dạng ngoằn ngoèo và trông dẹt như đầu mái chèo.

“Đây là lông của loài động vật nhỏ nào đó.” Tôi kết luận. “Thuộc loài gặm nhấm nhưng không phải dạng như chuột nhắt hay chuột cống. Tôi đoán là lông của loài ăn côn trùng nhỏ chẳng hạn. À phải rồi! Đúng rồi! Chúng là lông chuột chũi.” Tôi đứng phắt dậy. Một phát hiện quan trọng vừa lóe lên. Tôi im lặng quay sang nhìn người cộng sự của mình.

“Đúng vậy. Kết luận của anh không có nhầm lẫn gì cả. Và điều đó đã cho chúng ta một nền tảng quan trọng cho giả thuyết của mình.”

“Vậy anh cho rằng đây thực sự là tẩu thuốc của người đàn ông đã chết kia sao?” Tôi hỏi.

“Dựa trên quy tắc đa bằng chứng thì tôi rất chắc chắn với kết luận trên,” Thorndyke trả lời. “Hãy cùng lần lượt xem xét các sự việc theo trình tự nhé. Chiếc tẩu này không hề có dấu hiệu của nấm mốc, do vậy nó chỉ mới được đặt ở đây một thời gian ngắn. Chủ sở hữu chỉ có thể là một trong bốn người: Barnett, Smith, Jeffreys hoặc Brown. Nó là một chiếc tẩu đã cũ nhưng lại không có dấu răng bên trên ống ngậm. Vì thế có thể kết luận rằng người sử dụng nó không có răng. Nhưng trên tẩu của cả Barnett, Smith và Jeffreys đều có vết răng cho thấy bộ răng của họ hoàn toàn bình thường, duy chỉ có Brown là không có răng. Về loại thuốc trong bát tẩu là thuốc lá sợi, nhưng cả ba người kia đều không hút loại này, trong khi đó Brown lại có thuốc sợi bên trong bao da của mình. Vòng bạc trên tẩu ám đen là do phản ứng hóa học giữa bạc và lưu huỳnh. Mà chúng ta đều biết rằng trong túi Brown có vài que diêm lẻ trộn lưu huỳnh, được để cùng với chiếc tẩu. Ngoài ra, chúng ta cũng phát hiện được lông chuột chũi làm tắc ống tẩu. Và rõ ràng là Brown đã mang theo một chiếc bao da chuột chũi để đựng thuốc hút. Cuối cùng, trong túi của Brown lại có một chiếc tẩu khác không phải của ông ta. Các đặc điểm của nó trông rất giống với tẩu của Jeffreys, bên trong cũng là loại thuốc tương tự với loại mà Jeffreys hút, khác hẳn loại Brown vẫn mang theo bên mình. Chừng đó đã khá đủ để đi đến kết luận rồi, đặc biệt là khi kết hợp manh mối này vào những vật chứng khác mà chúng ta đang sở hữu lại càng thêm phần khẳng định.”

“Những vật chứng khác là gì vậy?” Tôi tò mò.

“Đầu tiên, có một thực tế là nạn nhân đã đập mạnh đầu vào một cấu trúc cố định giữa những đợt triều và được bao phủ bởi nhiều hà và giun biển. Khi tới đây nhìn vào những cọc vít của ngọn hải đăng, tôi đã có đáp án trùng khớp với những miêu tả trên. Và khu vực xung quanh đây cũng không có vật thể nào đáp ứng được các đặc trưng đó. Nếu nói đến những phù tiêu đèn hiệu thì chúng cũng quá lớn để gây ra loại vết thương như vậy. Tiếp đến là việc con dao găm của nạn nhân biến mất, đồng thời Jeffreys lại có một vết thương do dao cắt trên tay. Anh phải đồng tình rằng những chứng cứ gián tiếp này cực kì có tính thuyết phục.”

Đúng lúc đó, thuyền trưởng vội vã bước vào phòng với chiếc kính viễn vọng trên tay. “Tàu lương thực của chúng ta đang tiến đến đây và kéo theo một con thuyền lạ. Tôi cho rằng đó là con thuyền đã mất tích. Và nếu như vậy thật thì chúng ta có thể phát hiện ra thêm manh mối gì đó. Các anh mau thu dọn đồ nghề của mình và sẵn sàng để lên tàu thôi.”

Chúng tôi đóng gói tất cả vào trong rương đồ nghề màu xanh lá và đi ra phía hành lang. Hai người gác hải đăng cũng đang ở đó và dõi theo con tàu lương thực đang tới gần. Smith lộ rõ vẻ tò mò thích thú còn Jeffreys thì ngược lại, trông anh ta bồn chồn lo lắng tới tái mét mặt. Khi con tàu đến được phía đối diện ngọn hải đăng, một chiếc thuyền con được thả xuống, với ba người đàn ông lái nó tấp vào phía hải đăng. Rồi cả ba đang leo lên thang sắt, một trong số họ là người cùng đoàn trên tàu lương thực.

“Đó có phải chiếc thuyền bị mất tích không?” Thuyền trưởng nói lớn.

“Đúng vậy, thưa ngài.” Viên sĩ quan đáp lại. Anh ta vừa trèo được lên giàn liền phủi tay vào ống quần cho sạch. “Chúng tôi phát hiện ra con tàu trên phần cạn phía đông Girdler. Nhưng con thuyền này có vài chỗ đáng ngờ, thưa ngài.”

“Cậu thấy chỗ nào đáng ngờ?”

“Rất khả nghi thưa ngài. Nút bịt lỗ thoát nước đã bị tháo ra và nằm chỏng chơ ở đáy thuyền. Chúng tôi cũng tìm thấy một con dao gấp loại có vỏ bọc, đang cắm thẳng vào sống thuyền, ngay giữa chỗ để dây thừng buộc buồm. Nó bị cắm khá chắc cứ như là rơi từ trên cao xuống.”

“Thật kỳ lạ!” Thuyền trưởng lên tiếng. “Nếu nói tới cái nút bịt thì cũng có khả năng nó vô tình bị bung ra.”

“Không đâu, thưa ngài.” Thủy thủ cùng đoàn chúng tôi trên tàu lương thực lên tiếng. “Rõ ràng là các túi dằn đã bị xê dịch ra chỗ khác để dỡ những tấm ván dưới sàn tàu lên. Ngoài ra, một thủy thủ sẽ không bao giờ để thuyền của mình bị ngập nước như vậy. Tự người đó sẽ biết bịt lại lỗ thoát nước và giảm bớt trọng lượng dằn thuyền.”

“Đúng vậy.” Thuyền trưởng Grumpass cũng đồng tình. “Và chắc chắn là không thể bỏ qua tình trạng đáng ngờ của con dao găm được. Nhưng giữa biển khơi thì nó có thể rơi ra từ chỗ quái nào chứ? Chẳng có con dao nào rơi ra từ trên mây cả, may sao. Bác sĩ, anh thử nói xem trường hợp này là như thế nào?”

“Tôi cho rằng đó chính là con dao găm của Brown và nó có thể bị rơi ra từ chính giàn sắt này.”

Jeffreys nghe vậy liền quay ngoắt lại, khuôn mặt đỏ bừng lên vì giận dữ. “Ngài có ý gì? Không phải tôi đã nói là con thuyền đó chưa bao giờ tới đây sao?” Jeffreys truy vấn.

“Đúng là anh đã nói vậy. Nhưng nếu đó là sự thật thì anh giải thích thế nào về việc chiếc tẩu của anh được phát hiện đang nằm trong túi áo của nạn nhân? Và chiếc tẩu của nạn nhân vì cớ gì mà lại nằm trên giá tẩu của anh?” Thorndyke đáp.

Sắc mặt Jeffreys thoắt chuyển từ đỏ sáng xám. Anh ta ấp úng trả lời. “Tôi không biết anh đang nói về cái gì.”

“Vậy thì để tôi nói anh nghe những suy luận của chính tôi và nhờ anh kiểm chứng về tính chính xác của chúng nhé. Trên thực tế, Brown và con thuyền đã tới được ngọn hải đăng này. Ông ta thậm chí còn đã vào trong phòng khách ở đây cùng với chiếc rương hành lý của mình. Lúc đó, Brown đã nhét thuốc đầy vào chiếc tẩu của ông ta nhưng vì ống ngậm bị tắc nên không thể hút được. Vì thế mà anh đã cho Brown mượn một chiếc tẩu và nhét đầy thuốc lá cứng của mình vào đó. Rồi hai người trèo xuống giàn sắt phía dưới và xảy ra cãi vã. Brown đã rút con dao găm ra để tự vệ và rồi nó rơi khỏi tay ông ta sau đó đáp xuống thuyền. Anh đẩy Brown rơi khỏi dàn sắt, khi rơi xuống, đầu ông ta đã đập vào một trong những cọc vít của ngọn hải đăng. Tiếp đến, anh nhảy xuống thuyền và tháo nút bịt lỗ thoát nước khiến cho nó chìm xuống. Anh cũng không quên thủ tiêu chiếc rương xuống đáy biển. Quá trình gây án xảy ra trong khoảng mười hai giờ mười phút. Những chuyện tôi vừa kể ra đúng chứ?”

Jeffreys bất động nhìn chằm chằm vào Thorndyke. Ánh mắt anh ta phản chiếu đầy nỗi sửng sốt và kinh ngạc. Jeffreys không thốt ra được lời nào để đáp trả.

“Tôi nói đúng chứ?” Thorndyke nhắc lại.

“Nếu sai thì chọc mù mắt tôi đi!” Jeffreys lẩm bẩm. “Anh đã ở đây sao? Anh nói như thể anh đã ở đây lúc đó vậy.” Jeffreys tiếp tục sau khi đã bình tĩnh hơn một chút. “Dù sao thì anh có vẻ như đã nắm được tất cả mọi chuyện. Nhưng có một điều mà anh sai rồi. Giữa chúng tôi không có cãi vã. Người đàn ông tên Brown này không thích tôi và ông ta không định ở lại đây. Khi Brown định lên thuyền để quay về bờ thì tôi không cho phép. Sau đó, Brown dùng dao đâm tôi và theo phản xạ tôi hất nó ra khỏi tay ông ta. Về sau, ông ta loạng choạng lùi lại rồi rơi xuống biển.”

“Và anh có cố cứu ông ta lên hay không?” Thuyền trưởng vặn hỏi.

“Làm sao tôi có thể chứ?” Jeffreys hỏi ngược lại. “Lúc ấy thủy triều đang rút mà tôi thì chỉ có một mình trên trạm. Nếu nhảy xuống cứu thì chắc tôi không thể quay lại được mất.”

“Nhưng còn chiếc thuyền thì sao, Jeffreys? Tại sao anh lại đánh chìm nó?”

“Sự thật là lúc ấy tôi đã quá bối rối. Kế hoạch đơn giản nhất tôi có thể nghĩ ra là nhấn chìm nó xuống nước và vờ như không biết gì về mọi chuyện. Nhưng tôi chưa từng đẩy ông ta xuống nước. Đó là một tai nạn, thưa ngài. Tôi thề là như vậy!”

“Chà, nghe lời giải thích này có vẻ cũng hợp lý.” Thuyền trưởng lên tiếng. “Anh thấy sao, bác sĩ?”

“Hoàn toàn hợp lý,” Thorndyke trả lời. “Còn ẩn tình ra sao thì đó không phải việc của chúng tôi.”

“Nhưng Jeffreys này, tôi sẽ phải áp giải anh đi và bàn giao cho cảnh sát. Anh hiểu điều đó chứ?”

“Vâng, thưa ngài, tôi hiểu mà.” Jeffreys đáp.

“Đó đúng là một trường hợp kỳ quái, vụ án ở Girdler ấy.” Thuyền trưởng Grumpass cảm thán khi ông dành một buổi tối với chúng tôi sau khoảng sáu tháng gì đó. “Jeffreys cũng được hưởng mức án khá nhẹ nhàng - mười tám tháng thì phải?”

“Đúng, đó thực sự là một vụ kỳ quặc. Ý tôi là vẫn còn sự thật nào đó ẩn sau tai nạn ấy. Có lẽ những người đàn ông này trước đó từng quen biết nhau.”

“Tôi cũng nghĩ vậy.” Thuyền trưởng đồng tình. “Nhưng chuyện khiến tôi ngỡ ngàng nhất chính là việc anh đã phát hiện ra tất cả. Kể từ đó, tôi bắt đầu có sự xem trọng đặc biệt đối với những chiếc tẩu gỗ. Cách anh khiến những chiếc tẩu đó kể câu chuyện về vụ giết người khiến tôi hoàn toàn bị mê hoặc.”

“Phải rồi.” Tôi lên tiếng. “Nó y như ma thuật vậy. Khá giống với chiếc ống tù và trong câu chuyện dân gian của Đức tên là Khúc xương biết hát. Ông nhớ chứ? Chuyện về người đàn ông nọ tìm thấy một bộ xương của một người bị sát hại và chế tác nó thành tù và. Nhưng khi ông ta thử chơi một bản nhạc thì chiếc tù và lại mặc nhiên ngân lên một khúc ca của riêng nó: Anh trai đã xuống tay giết tôi, Chôn xác dưới cát sỏi mất rồi.

“Đó là một câu chuyện hay và mang bài học đạo đức sâu sắc. Những vật vô tri trên thế gian này luôn có những khúc ca để hát lên những câu chuyện mà chúng biết. Quan trọng là đôi tai của ta có sẵn sàng chăm chú lắng nghe hay không thôi.” Thorndyke kết lại.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của r. austin freeman