Khúc Xương Biết Hát

Lượt đọc: 480 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần 2 - Vị khách của những
quý cô độc thân

Khi chút tàn dư của ánh hoàng hôn trong một chiều hè bắt đầu tan dần vào màn đêm thì cũng là lúc chiếc xe đạp đơn độc chầm chậm lăn bánh dọc theo một con đường quê yên bình. Người đạp xe vận trên người bộ com-lê dạ hội và khoác thêm một chiếc áo bành tô ra bên ngoài. Trong suốt hành trình, thi thoảng lại có cỗ xe ngựa, chiếc xe con hay chiếc taxi đóng kín đi từ hướng thị trấn bên cạnh phóng vụt qua. Nhìn từ trang phục lễ hội của những người trên xe, người đàn ông dễ dàng đưa ra được phỏng đoán về điểm đến của họ. Về phần mình, mục tiêu chính của ông ta là một ngôi nhà lớn, tọa lạc trên một khu đất rộng rãi nằm sát bên đường. Vì trong chuyến viếng thăm này của ông ta có một số sự tình đặc biệt nên tốc độ đạp xe ngày càng chậm hơn trong khi càng tiến đến gần điểm đích.

Căn nhà đó được gọi với cái tên Willowdale. Đêm nay, mọi người sẽ được chứng kiến sự hồi sinh những vinh quang rực rỡ trong quá khứ của Willowdale. Nó đã bị bỏ trống trong rất nhiều tháng qua và tấm bảng thông báo của người gác cổng như lẳng lặng nhấn mạnh thêm tình trạng hoang vắng. Nhưng đêm nay, những bức tường trống đã được treo kín cờ và rèm rủ, sàn nhà được đánh bóng sạch sẽ hoặc trải thảm. Một lần nữa, âm nhạc, những giọng nói vui vẻ và tiếng bước chân đi tới đi lui của nhiều người sẽ lại vang vọng bên trong không gian nơi đây. Tất cả là để phục vụ cho bữa tiệc khiêu vũ đêm nay của những quý cô độc thân ở Raynesford, mà đứng đầu trong số đó là cô Halliwell, chủ nhân của Willowdale.

Đây đúng là một dịp tuyệt vời. Ngôi nhà vừa rộng vừa bề thế, các quý cô độc thân góp mặt đông vui và hầu bao của họ thì khỏi phải bàn. Khách mời cũng tấp nập và không thiếu những người nổi tiếng như bà Jehu B. Chater. Bà ta chính là tâm điểm của buổi tiệc đêm nay, một góa phụ người Mỹ xinh đẹp và nổi tiếng bậc nhất, được ví von như quốc vương (hay đúng hơn là nữ vương) của vùng đất hào nhoáng. Sự giàu có của người đàn bà này nếu không muốn nói là vượt xa giấc mơ của những kẻ hám lợi thì ít nhất cũng không nằm trong phạm vi tính toán thông thường của người Anh. Những viên kim cương của bà vừa đem lại niềm kiêu hãnh cho chủ sở hữu, vừa khiến những quý cô tham gia bữa tiệc phải choáng váng không thôi.

Ấy thế mà bất chấp những hấp dẫn xa hoa của bữa tiệc, người đàn ông đạp xe miễn cưỡng đi thật chậm khi đã gần đến Willowdale. Ngay khi rẽ vào khúc quanh trên con đường, chiếc cổng của Willowdale đã hiện ra trước mặt. Người đàn ông liền xuống xe và lưỡng lự suy nghĩ. Sắp tới ông ta định thực hiện một phi vụ mạo hiểm và dù không phải kẻ nhát gan nhưng việc do dự trước khi tiến vào bữa tiệc là điều khó tránh khỏi.

Sự thật là, ông ta không được mời tới đây.

Thế thì tại sao người đàn ông này lại đến Willowdale? Làm thế nào để ông ta được chấp nhận tham dự bữa tiệc? Để trả lời cho những câu hỏi trên thì lại phải kể đến một nguyên do đầy trớ trêu.

Augustus Bailey kiếm kế sinh nhai dựa vào trí khôn của mình. Nghe đến cụm từ “sống dựa vào trí khôn” vừa thấy quen thuộc, vừa thấy thật ngốc ngếch. Chẳng phải tất cả chúng ta đều sống nhờ vào trí khôn hay sao? Nói vậy liệu có phải ám chỉ rằng chỉ khi sở hữu trí tuệ xuất sắc mới đủ để trở thành một kẻ lừa đảo tầm thường hay không? Nhưng dẫu sao thì Augustus Bailey đã phải nương tựa vào trí khôn của mình để tiếp tục sống. Nhưng cho đến nay, ông ta vẫn chưa thể kiếm được một khoản nào ra trò.

Kế hoạch mạo hiểm lần này vốn dĩ nảy sinh từ một cuộc trò chuyện mà Augustus vô tình nghe được. Đó là tại một bàn ăn trong nhà hàng và tấm thiệp mời đã bị vứt lăn lóc, vừa khéo bị tờ thực đơn che mất. Nhờ đó, Augustus đã viết thư chấp nhận tham gia (bằng cách viết vào một tờ giấy ghi chú của khách sạn Cecil được rút ra trong đống văn phòng phẩm của ông) không phải dành cho mình mà trên danh nghĩa của Geoffrey Harrington - Baillie. Và vấn đề khiến ông đau đầu bấy giờ là liệu việc sử dụng danh tính giả mạo có bị phát hiện hay không? Ông tin tưởng rằng số lượng khách và sự ngây ngô của các quý cô từ bữa tiệc sẽ giúp mình hoàn thành kế hoạch trót lọt. Augustus biết rõ để vào trong không nhất thiết phải trình ra thiệp mời mặc dù họ sẽ tổ chức một buổi lễ công bố khá phiền phức.

Nhưng nhỡ đâu mọi chuyện sẽ không đi xa đến tận lúc đó? Sẽ chẳng còn gì sất nếu như họ phát hiện ra ông chỉ là một vị khách không mời mà đến.

Augustus chậm rãi bước tới phía cánh cổng với nỗi bồn chồn đang tăng dần lên. Giữa sự lo lắng của hiện tại, tâm trí ông bắt đầu thêm vào một vài ký ức nhức nhối của quá khứ. Augustus từng giữ chức vụ trong một trung đoàn phòng tuyến, nhưng thời gian ấy không kéo dài lâu. Trong giai đoạn đó đã có lúc ông được mời đến những buổi họp mặt như thế này với tư cách khách quý, mặc dù “trí khôn” của ông không được lòng các anh em đồng đội. Còn bây giờ, ông chỉ là một tên trộm tầm thường lẻn vào bữa tiệc với một cái tên giả. Viễn cảnh nhục nhã nhất có thể xảy đến là ông sẽ bị những người hầu trong đó phát hiện và hất cẳng ra ngoài.

Ngay khi ông còn đang do dự trước cổng thì âm thanh của tiếng vó ngựa trên đường vang lên, theo sau là còi xe máy ảnh ỏi. Ánh sáng lấp loá vừa phải của đèn xe ngựa xuất hiện chỗ khúc cua. Tiếp theo đó là ánh sáng đến chói mắt của đèn pha. Một người đàn ông ra khỏi chòi gác và mở cổng. Nhân đó, ông liền lấy hết can đảm dùng hai tay đẩy chiếc xe của mình vào bên trong lối đi.

Đi được một nửa đoạn đường khá dốc thì một chiếc ô tô lao vút qua ông. Đó là một chiếc Napier lớn, trên đó chở một đám thanh niên chen chúc phải ngồi tràn cả lên lưng ghế và lên đùi nhau. Augustus nhìn những người này và quyết định rằng đây chính là cơ hội của mình. Ông nhanh chóng tiến về phía trước. Sau khi thấy chiếc xe đạp của mình đã được gửi cẩn thận bên trong nhà để xe trống, ông vội vã đi đến phòng giữ đồ. Những thanh niên trẻ tuổi vừa nãy đã có mặt ở đó trước. Khi Bailey bước vào thì bắt gặp họ đang vui vẻ cởi áo khoác ngoài ra và ném chúng lên bàn. Thấy vậy, Bailey cũng làm theo. Trong lúc háo hức đi đến chỗ lễ tân cùng với đám đông, Bailey đã vô tình sao nhãng khỏi mục tiêu chính, vậy nên ông đã vội bỏ chiếc thẻ đồ vừa nhận được vào túi mà rời đi. Ông đã không để ý rằng, người phục vụ trong lúc lúng túng đã để mũ của ông cùng với áo khoác của một người đàn ông khác và đưa thẻ gửi đồ bị nhầm đó cho cả hai người.

“Thiếu tá Podbury, Đại úy Barker - Jones, Đại úy Sparker, Quý ngài Watson, Quý ngài Goldsmith, Quý ngài Smart, Quý ngài Harrington Baillie!”

Augustus vênh váo bước lên phòng, ông ôm nhóm sĩ quan chào hỏi nhưng trong lòng thì run rẩy. Ông ý thức được rằng các quý cô đón khách đang liếc nhìn hết người này đến người khác với sự tập trung nhiều hơn bình thường.

Nhưng ngay lúc đó giọng nói của người hầu vang lên, rất to và rõ ràng:

“Quý bà Chater, Đại tá Crumpler!”

Và nhân lúc mọi con mắt đều đổ dồn về phía những người mới đến, Augustus liền cúi chào và lẩn vào trong vào đám đông. Rốt cuộc, trò chơi bịp bợm nho nhỏ của ông đã “trót lọt”.

Augustus vội rút tới góc đông đúc nhất của căn phòng, nơi đảm bảo cho ông được che chắn khỏi ánh nhìn của những quý cô tiếp khách. Có lẽ thời điểm này họ đã bỏ qua Augustus trong tiềm thức rồi, bởi nếu thực sự nghi ngờ, ông đã khó lòng thoát khỏi việc bị họ theo dõi nhất cử nhất động. Augustus vẫn còn khá run, không biết mất bao lâu nữa mới có thể ổn định tâm lý mà sốc lại tinh thần. Và trong khi Augustus đang quét ánh nhìn dè chừng qua vai những vị khách đứng cạnh, ông có thể nhìn thấy quý bà Chater đang bắt tay chủ toạ của buổi tiệc nhờ đám đông trước mặt đột nhiên rẽ ra. Augustus sau đó liền cảm thấy thật khó tin.

Chỉ cần nhìn qua là ông đã có thể nhận ra quý bà này. Augustus rất giỏi nhớ mặt người khác và nhất là khuôn mặt của quý bà Chater thì làm sao ông có thể quên được. Hình ảnh đó kéo Augustus về ký ức nhiều năm trước, ông đã gặp gỡ một cô gái Mỹ với tính cách ngay thẳng và đáng yêu trong buổi vũ hội của trung đoàn. Thời ấy, ông hãy còn là một trung uý đứng trong hàng ngũ và chưa bị chơi xấu khiến bản thân phải chấm dứt con đường binh nghiệp. Augustus và cô gái đó đã có tình cảm với nhau, ông vẫn nhớ như in khuôn mặt ngọt ngào của cô hầu bàn người Mỹ đó. Hai người đã khiêu vũ rất nhiều cùng nhau, mãi tới khi mệt nhoài thì ngồi lại để trò chuyện về những thuyết vô thần mà cả hai ngây thơ cho đó là Triết học. Thế rồi sau hôm đó, ông không bao giờ gặp lại cô gái ấy nữa. Ông còn chẳng nhớ, hoặc vốn dĩ không biết, tên của người con gái vừa bước chân vào cuộc đời mình đã vội ra đi. Nhưng bây giờ ở tuổi trung niên, cô ấy đã xuất hiện tại đây, không những xinh đẹp mà còn là một quý bà tuyệt vời. Và Chúa ơi! Nhìn những viên kim cương đó mà xem! Về phần Augustus, ông chỉ là một kẻ lưu manh tầm thường đang ẩn mình trong đám đông để chớp thời cơ giật lấy một mặt dây chuyền nào đó hay “thó” tạm một chiếc trâm cài lỏng lẻo.

Nhỡ đâu người đó nhận ra ông thì sao? Chẳng có gì là không thể bởi chính ông cũng nhớ ra cô ấy mà. Nhưng có lẽ sẽ chẳng bao giờ chuyện như vậy lại xảy ra. Nghĩ thế nào ông Bailey bèn lẻn ra ngoài bãi cỏ đi dạo và châm một điếu thuốc hút. Ở đó còn có một người đàn ông trông lớn tuổi hơn đang trầm ngâm đi đi lại lại. Thỉnh thoảng ông ta lại liếc nhìn vào các ô cửa sổ để mở của những căn phòng được thắp sáng rực rỡ. Khi hai người lướt qua nhau vài lần thì người lạ đột nhiên dừng lại và bắt chuyện với ông.

“Đây là chỗ tuyệt nhất trong một đêm như thế này.” Người đàn ông nhận xét. “Ở trong đang sôi động lên rồi đấy. Có lẽ ông bạn cũng rất thích khiêu vũ chăng?”

“Không còn hứng thú như trước đây nữa rồi.” Bailey trả lời. Cùng lúc đó, ông nhận ra ánh nhìn thèm thuồng của người lạ đang hướng về điếu thuốc của mình. Để đáp lại, Bailey giơ hộp thuốc ra và ngỏ ý mời.

“Vô cùng cảm ơn ông!” Người lạ mặt kêu lên rồi vồ hộp thuốc với vẻ thèm khát. “Vì Chúa! Ông đúng là người tốt bụng. Tôi để hộp thuốc của mình trong túi áo mất rồi. Dù sắp không chịu nổi cơn thèm thuốc nhưng lại chẳng dám hỏi xin ai cả.” Người đàn ông rít vào một hơi xa xỉ rồi thổi ra một làn khói. “Chà, mấy ả phụ nữ có vẻ tổ chức bữa tiệc này tốt phết đấy chứ. Chỉ nhìn vào đây thì ai mà biết được ngôi nhà này bị bỏ hoang, ông bạn nhỉ?”

“Tôi hầu như không nhìn ra điều đó. Ông biết đấy, tôi chỉ mới đến đây thôi.” Bailey trả lời.

“Nếu ông thích, chúng ta hãy thử đi thăm thú một vòng xem.” Người lạ thân thiện mời mọc. “Ý là đợi tới khi chúng ta thưởng thức xong điếu thuốc và làm một ly đã. Mấy thứ đó sẽ khiến tôi và ông khoan khoái thêm chút đỉnh. Thế ông biết nhiều người ở đây không?”

“Chẳng biết ai. Quý cô mời tôi dường như còn không tới.” Bailey trả lời.

“Chà, chuyện đó thì dễ xử lý thôi.” Người lạ đáp. “Tên tôi là Granby nhé. Khi chúng ta uống xong, tôi sẽ bảo con gái tôi, một thành viên trong nhóm những quý cô độc thân, tìm cho ông một người phụ nữ làm bạn nhảy. Đó là trong trường hợp nếu ông quan tâm đến những điệu nhảy dưới ánh sáng xa hoa.”

“Tôi cũng muốn tham gia một, hai điệu gì đó.” Bailey trả lời. “Dù thân già này giờ cũng quá đát để khiêu vũ rồi. Nhưng rút lui lúc này thì e là vẫn còn sớm quá.”

“Dĩ nhiên rồi.” Granby hào hứng đồng thuận. “Tuổi tác người đàn ông nằm trong suy nghĩ của anh ta. Mà thôi, đi uống chút gì đó rồi chúng ta sẽ cùng kiếm xem cô con gái yêu dấu của tôi đang ở đâu.” Nói rồi hai người đàn ông vứt mẩu thuốc lá đi rồi hướng đến chỗ giải khát.

Rượu sâm panh của các quý cô độc thân tuy khá nhạt nhưng nếu uống đủ lượng thì vẫn ngon như thường. Về điểm này, cả Augustus và Granby đều chú ý uống có chừng mực. Và sau khi nhấm nháp chút rượu cùng một ít bánh mì, ông Bailey đã cảm thấy tinh thần mình phấn chấn hơn rõ rệt. Phải thú thực rằng những bữa ăn của ông ấy dạo gần đây khá đạm bạc. Con gái của Granby đích xác là một “thiếu nữ non tơ” chỉ mới qua mười bảy cái xuân xanh. Cô bé tóc vàng hoe bấy giờ đang nhiệt tình một cách trẻ con để sắm tròn vai quý cô nghiêm trang của bữa tiệc. Thế rồi sau đó Bailey đã thấy mình xoay vòng trong một đám đông quay cuồng. Bạn nhảy của ông là một người phụ nữ xinh đẹp khoảng ba mươi tuổi hoặc tầm đó.

Trải nghiệm lạ lẫm này làm dấy lên trong ông cảm giác ngỡ ngàng. Suốt nhiều năm trước, ông đã phải bươn chải với cuộc sống bấp bênh bằng những công việc hèn hạ, lúc nào cũng ở giữa lằn ranh của những ngón lừa đảo đáng khinh và tội ác thực sự. Ban đầu là những vụ gạt người nhỏ lẻ vẫn tạm chấp nhận được trong vòng pháp luật, về sau đã chuyển sang hành vi trộm cắp do sức ép cuộc sống nặng nề. Bailey giao du với những nhân vật xuất thân mờ ám, những kẻ lừa đảo và những thành phần bất hảo. Thế rồi ông cũng biến thành một phần trong số chúng. Cờ bạc, vay mượn, lừa đảo và nếu cần thiết thì sẵn sàng thực hiện hành vi trộm cắp. Vì vậy, mỗi lần ra ngoài, ông luôn phải dáo dác dè chừng “đám người mặc cảnh phục”.

Còn giờ đây, ông đang ở giữa khung cảnh vốn dĩ quen thuộc với mình nhưng gần như đã bị lãng quên. Đó là những căn phòng được trang trí rực rỡ, những giai điệu nhịp nhàng đưa đẩy, những ánh sáng lấp lánh tỏa ra từ vô vàn món đồ trang sức, những âm thanh của bước chân lướt nhẹ trên sàn, tiếng sột soạt cọ xát của những chiếc váy đắt tiền và cảnh tượng lả lướt của những cặp đôi quý ông đứng đắn đang khiêu vũ cùng các quý cô xinh đẹp. Đối với Bailey, những năm tháng đáng xấu hổ trước đó dường như đã bị bỏ lại phía sau. Bấy giờ, sợi dây cuộc đời vốn đã đứt phựt nay như được nối lại giữa khung cảnh này. Sau tất cả, đây mới chính là con người thật của ông ấy. Vết xe bất lương mà ông đi vào những năm tháng qua dường như chỉ là một thoáng lầm lỡ và xa lạ trên chặng đường đời của mình.

Ông rời bỏ bạn nhảy, dù có chút hối tiếc nhưng đã đến lúc rồi, vả lại đối phương cũng có cảm giác tương tự dành cho một cựu binh và không có tài ăn nói như ông. Thế rồi trong lúc trầm ngâm về một miền ký ức xa xăm khác, ông bỗng cảm thấy ai đó đang chạm nhẹ vào cánh tay mình. Thấy vậy, ông quay người lại thật nhanh. Với người khác hành động đó có thể không mang ý nghĩa gì nhưng nó lại khiến ông giật mình thon thót. Thật may, khi quay lại, ông không phải đối diện với gương mặt vô cảm của đám cảnh sát mặc thường phục, đó chỉ là một người phụ nữ mà thôi. Tóm lại, đó là quý bà Chater, người đang nở nụ cười đầy lo lắng và bối rối vì sự táo bạo của mình.

“Tôi đoán là ông đã quên mất tôi rồi.” Quý bà mở lời một cách dè dặt, nhưng Augustus đã vội ngắt lời để phủ nhận.

“Tất nhiên là không rồi.” Ông trả lời. “Dù tôi không nhớ ra được tên của bà nhưng ký ức về buổi khiêu vũ ở Portsmouth ngày ấy vẫn luôn sống động như mới diễn ra hôm Ít nhất là tôi vẫn nhớ khi đó đã xảy ra một sự cố khó mà quên được. Tôi vẫn luôn hy vọng có thể gặp lại bà và cuối cùng mong ước đó đã trở thành hiện thực ở đây, ngay lúc này.”

“Thật tốt khi ông vẫn còn nhớ.” Quý bà đáp lời. “Tôi vẫn thường nghĩ về buổi tối hôm đó và tất cả những điều tuyệt vời mà chúng ta đã cùng nhau trò chuyện. Khi ấy, ông là một chàng trai rất tuyệt. Không biết bây giờ ông thế nào rồi? Từ đó đến giờ cũng đã lâu lắm rồi.”

“Đúng vậy.” Augustus đồng ý. “Đúng là đã lâu lắm rồi. Tôi cũng nhận thấy đó là một quãng thời gian dài. Nhưng khi tôi nhìn thấy bà, cảm giác như chẳng có gì thay đổi cả.”

“Ôi, thật ngại quá!” Quý bà thốt lên. “Ông không còn là chàng trai đơn thuần của ngày xưa nữa. Trước kia ông đâu có tâng bốc ai thế này. Không cần phải nói vậy với tôi đâu.” Quý bà trả lời với tông giọng có phần nhẹ nhàng trách móc, cuối câu còn pha lẫn chút đăm chiêu. Nhưng nói là vậy, trên khuôn mặt người phụ nữ lúc này vẫn ửng đỏ lên vì sung sướng.

“Tôi không hề nói quá chút nào.” Augustus trả lời bằng giọng điệu chân thành. “Tôi nhận ra ngay từ khi bà bước vào phòng và vô cùng ngỡ ngàng bởi dường như thời gian đã bỏ quên nhan sắc của bà. Còn đối với tôi thì chẳng thể làm khác được quy luật của thời gian.”

“Ồ không. Tôi thấy ông mới chỉ điểm vài sợi tóc bạc trên đầu, nhưng suy cho cùng, những thứ đó đâu có nhằm nhò gì đối với một người đàn ông? Chỉ có những huân chương cấp bậc, chẳng hạn như phù hiệu đeo trên cổ hay các sọc trên cổ tay áo mới là minh chứng tốt nhất cho quá trình thăng cấp của ông. Tôi đoán cấp bậc bây giờ của ông phải là đại tá rồi.”

“Không!” Augustus nhanh chóng đáp lại với khuôn mặt thoáng ngại ngùng. “Tôi đã xuất ngũ vài năm trước rồi.”

“Ôi! Thật đáng tiếc cho ông!” Quý bà Chater kêu lên. “Ông nhất định phải kể cho tôi nghe tất cả chuyện này, nhưng bây giờ thì không được rồi. Bạn nhảy của tôi hẳn là đang tìm kiếm tôi. Chúng ta sẽ có một buổi trò chuyện thực sự ngoài buổi khiêu vũ này nhé. Nhưng mà tôi quên mất tên của ông rồi, tôi đã cố nhớ mà không được. Dĩ nhiên điều đó không liên quan gì đến việc tôi vẫn thường nghĩ đến ông. W.S. đáng kính chẳng phải đã từng băn khoăn Nghĩa lý gì một cái tên? Hay sao?”

“Chà, đúng vậy.” Quý ông Harrington - Baillie giả mạo trả lời. Như để đáp lại ngụ ý của quý bà, ông nói thêm. “Tôi là Rowland, Đại uý Rowland. Giờ thì bà có thể nhớ được tên tôi rồi.”

Vậy nhưng quý bà Chater không gọi ra cái tên đó mà hỏi lại: “Số sáu được chứ?” Nói rồi, quý bà mở tờ phiếu khiêu vũ của mình ra. Và khi Augustus chấp thuận cách gọi đó thì quý bà đã ghi thêm cái tên tạm thời của ông vào đó. Bà nói một cách hài lòng. “Chúng ta hãy ra bên ngoài và ngồi xuống trò chuyện thoải mái với nhau. Tôi sẽ lắng nghe tất cả về cuộc đời ông và cả những suy nghĩ về ý chí tự do cùng trách nhiệm cá nhân nếu như ông vẫn còn hoài bão về nó. Tôi vẫn nhớ chàng trai ngày đó từng có những lý tưởng rất cao cả và hy vọng ông vẫn còn giữ lại chúng. Nhưng trải qua những va chạm cuộc sống, lý tưởng của cá nhân hẳn sẽ bị bào mòn đi ít nhiều. Ông có nghĩ vậy không?”

“Phải, tôi e là bà đã nói đúng rồi đấy.” Augustus ủ rũ đồng ý. “Hiện thực cuộc sống khắc nghiệt đã sớm lấy đi những phẩm chất tốt đẹp của loài người mất rồi. Ở tuổi trung niên này tôi chỉ còn lại một tâm hồn vẩn đục và loang lổ, nếu không muốn nói là đã bị cuộc đời róc sạch một cách trần trụi tất cả những gì đẹp đẽ nhất.”

“Ôi, đừng bi quan như thế.” Quý bà Chater an ủi. “Chỉ có những người theo chủ nghĩa tuyệt vọng mới có cái ý nghĩ như vậy thôi. Tôi tin chắc rằng ông không có lý do gì để thất vọng về bản thân mình cả. Nhưng mà bây giờ tôi phải đi ngay rồi. Hãy nghĩ về những điều mà ông sẽ kể tôi nghe đi nhé. Và đừng quên số sáu đấy.” Quý bà rời đi với nụ cười rạng rỡ và một cái gật đầu đầy thân thiện. Đó là cảnh tượng lấp lánh tuyệt mĩ, ăn đứt cả hào quang của kho báu Solomon, bấy giờ chỉ còn là mấy thỏi vàng tầm thường.

Cuộc trò chuyện thân thiết giữa một vị khách vô danh và góa phụ nổi tiếng người Mỹ đã không bị ai chú ý tới. Trong một vài trường hợp, Bailey đã có thể dựa hơi từ ánh hào quang vừa bao trùm lấy bản thân. Nhưng ông không đến đây để tìm kiếm sự nổi tiếng. Vừa nãy, bản năng lảng tránh đã nhấn chìm danh phận quý ông Harrington - Baillie xuống để Đại uý Rowland được dịp bộc lộ mình. Còn giờ, tiếng nói bên trong lại thôi thúc ông rút lại nhân cách kép kia để đánh giá xung quanh với cái nhìn thực dụng tầm thường. Ông tới bữa tiệc này vì một mục đích rất rõ ràng. Đây là lần thứ một trăm Bailey “trắng túi” và chính hy vọng “nhặt nhạnh được mấy món đồ vặt vãnh đáng giá” đã đưa ông tới đây. Nhưng không hiểu bằng cách nào đó, bầu không khí của nơi này lại mang đến cho ông cảm giác không thuận lợi. Hay cũng có thể vì ông thiếu cơ hội hoặc không nắm bắt được chúng để hành tẩu. Dẫu sao, chiếc túi vốn để đựng đồ thó được, trông không ăn nhập gì mấy với chiếc áo đuôi én dạ hội, vẫn đang trống trơn. Dường như một buổi tối vui vẻ và bữa ăn ngon lành là tất cả những gì ông có thể kiếm được.

Nhưng dù sao, ông vẫn là một vị khách không mời. Kể cả khi không thực hiện bất cứ hành vi đáng trách nào thì kẻ mạo danh như ông vẫn có thể bị đuổi cổ ra ngoài mọi lúc. Việc có quen biết với người góa phụ nổi tiếng cũng chẳng thể giúp ngăn được chuyện đó không xảy ra.

Ông đi lang thang ra chỗ khu đất có bãi cỏ phủ kín tứ phía. Nhưng bấy giờ ở đó đã có lác đác những vị khách đang hóng mát sau điệu nhảy cuối cùng. Ánh sáng từ các căn phòng tràn qua khung cửa sổ, soi rõ bóng dáng những người đang đứng đó, trong số họ có cả Granby mà ông vừa mới thân thiết. Augustus nhanh chóng rời khỏi khu vực sáng sủa đó. Ông tình cờ bắt gặp một con đường hẹp, tản bộ dọc theo đó sẽ đến được bãi cỏ hoặc lùm cây phía trước. Thế rồi, ông tới được một cổng vòm phủ đầy dây thường xuân với một, hai ngọn đèn thắp nến thần tiên đang tỏa sáng. Đi qua cổng vòm, ông lại bắt gặp một con đường ngoằn ngoèo, được bao quanh bởi cây cối và bụi rậm. Thi thoảng, ánh sáng yếu ớt của những chiếc đèn đầy màu sắc treo trên cành cây lại xuất hiện lấp ló. Lúc này, ông đã hoàn toàn tách biệt khỏi đám đông. Tình trạng hoang vu của khu vực lẩn khuất này khiến ông ngạc nhiên hết sức. Ngẫm nghĩ một lúc, ông cho rằng nơi đây dành cho những cặp vợ chồng muốn sống ẩn giật. Có cả một dãy phòng trống và hành lang bỏ hoang trong ngôi nhà không có ai thuê này.

Con đường thoai thoải dốc xuống một đoạn, tiếp đến là một dãy dài những bậc thang thô sơ và ở phía cuối là một băng ghế ngồi đặt giữa hai cái cây. Hết bậc thang, con đường vẫn được nối dài đến tận phía trước chiếc ghế, biến chỗ đó thành một nền đất hẹp và cao hơn xung quanh. Bên phải nền đất dốc lên phía bãi cỏ, còn bên trái dốc đứng xuống phía những bức tường bao quanh. Cả hai bên mô đất đều được bao phủ bởi cây cối và bụi rậm.

Bailey liền ngồi xuống ghế để suy nghĩ về câu chuyện cuộc đời mà ông nên trình bày với quý bà Chater. Cái ghế được đẽo từ thân gỗ du, có phần tựa đầu và lưng nên ngồi rất thoải mái. Ông nằm dài trên ghế và tựa vào thân cây, lôi hộp đựng bằng bạc ra rồi rút lấy một điếu. Nhưng mãi mà ông vẫn không châm thuốc, có lẽ bởi những suy nghĩ về quá khứ bất hạnh và viễn cảnh u ám bởi câu chuyện sắp tới. Mới chỉ vừa thoát khỏi bầu không khí sang trọng tinh tế tràn ngập trong vũ hội, rời xa đám đông những người đàn ông ăn mặc bảnh bao và những quý cô duyên dáng, tâm trí ông đã quay trở lại căn hộ nhỏ bẩn thỉu của mình ở Bermondsey. Ở đó ngập ngụa sự nghèo đói và bẩn thỉu. Căn nhà chen chúc giữa những nhà máy cao ngất ngưởng, cáu bẩn khói bụi từ dòng sông và mùi hôi hám từ những ống khói lớn. Hai thế giới quả là tương phản đến ghê tởm. Quả thật con đường của kẻ phạm pháp không trải đầy hoa bao giờ.

Trong lúc đang trầm ngâm suy nghĩ, ông bỗng nghe thấy giọng nói và tiếng bước chân đang tiến tới gần hơn trên con đường phía xa. Ông không muốn để ai khác trông thấy mình đang lang thang trong lùm cây lúc này. Nhưng bấy giờ, tiếng người phụ nữ đã vẳng lại gần hơn, hình như còn đi cùng một người khác nữa. Thấy vậy, ông liền nhét điếu thuốc trở lại hộp và vòng ra phía sau chiếc ghế, định bụng sẽ rút lui theo hướng đó. Nhưng tới đây đã là đường cụt, phía xa hơn chẳng còn gì ngoài một con dốc gồ ghề dẫn thẳng xuống bức tường chắn dày đặc những bụi cây rậm rạp. Khi ông đang còn mải do dự không biết làm thế nào thì tiếng bước chân và âm thanh sột soạt của chiếc váy đã vang lên từ phía những bậc thang. Tình thế này khiến ông buộc phải đưa ra lựa chọn giữa việc đứng im ở vị trí hiện tại hay nhảy ra để giáp mặt với những vị khách mới đến. Cuối cùng, ông chọn phương án đầu tiên bằng cách nép mình sau cái cây để chờ cho đến khi những người kia bỏ đi.

Nhưng thực tế là họ đã dừng lại ở đó. Một trong những người phụ nữ ở đó đã ngồi xuống ghế và một giọng nói quen thuộc vang lên bên tai ông. “Tôi nghĩ là mình sẽ ngồi lại đây nghỉ ngơi một lúc. Cái răng này của tôi đau kinh khủng. Xem nào, hãy đi lấy giúp tôi thứ gì có thể xử lý chuyện này được không. Hãy cầm tấm thẻ này đến phòng giữ đồ và bảo nữ lễ tân đưa cho cậu chiếc túi nhung đỏ của tôi. Ở trong đó có thứ tôi cần, đó là một lọ chloroform và một gói bông gòn.”

“Nhưng tôi không thể để bà ở chỗ này một mình được, bà Chater.” Người đi cùng quý bà giải thích.

“Bây giờ tôi chẳng cần gì hơn ngoài cái lọ chloroform đó. Vậy nên chỉ cần nhanh chóng đem nó tới đây là được, cậu bé ngoan. Tấm thẻ đây.”

Tiếng bước chân của viên sĩ quan trẻ tuổi nhanh chóng rời xa và âm thanh của các cặp đôi đi trên con đường ngày càng rõ hơn. Bailey nguyền rủa cái tình thế lố bịch và không thoải mái mà bản thân đang rơi vào lúc này. Biết thế khi nãy ông đã quay ngược trở lại lên các bậc thang lúc nghe thấy họ bước tới. Sau đó, không gian trở nên tĩnh mịch, có chăng thi thoảng vang lên vài tiếng rên rỉ khe khẽ của bà Chater và tiếng chiếc ghế kẽo kẹt khi cơ thể bà dịch chuyển qua lại một cách khó nhọc. Nhưng chàng trai trẻ tuổi kia đã hoàn thành nhiệm vụ của mình nhanh đến bất ngờ. Chỉ trong vài phút, Bailey đã nghe thấy tiếng anh ta chạy dọc theo con đường bên trên và nhảy xuống các bậc thang phía dưới.

“Thực sự biết ơn lòng tốt của cậu lúc này.” Góa phụ nói với giọng cảm mến. “Cậu hẳn đã phải lao đi như một cơn gió nhỉ. Giờ thì nhờ cậu cắt giúp sợi dây buộc này nữa thôi và sau đó thì cứ để tôi tự mình vật lộn với cái răng nhé.”

“Nhưng tôi không thể để mặc bà ở đây được…”

“Dĩ nhiên là được chứ.” Quý bà Chater ngắt lời. “Chút chuyện này tôi không cần nhờ tới ai đâu. Mà điệu nhảy tiếp theo là valse nhỉ, cậu cũng cần phải đi tìm bạn nhảy cho mình nữa chứ.”

“Chà, nếu như bà thực sự muốn ở một mình thì…” Viên sĩ quan định nói thêm nhưng bà Chater lại lần nữa ngắt lời.

“Đúng vậy, tôi muốn ở một mình để xử lý cái răng này. Giờ thì cậu mau đi đi. Và tôi ngàn lần biết ơn lòng tốt của cậu.”

Mặc dù vẫn còn lầm bầm phản đối nhưng cuối cùng viên sĩ quan trẻ cũng đã rời đi, Bailey có thể nghe thấy tiếng bước chân miễn cưỡng của cậu ta bước lên các bậc thang. Vì không gian bị sự im lặng sâu thẳm bao trùm nên khi tiếng giấy sột soạt và tiếng vặn nút chai vang lên, âm thanh dường như to hơn bình thường. Bailey quay mặt về phía cái cây, ông dựa vào đó với đôi môi khép hờ gần như không dám thở. Hết lần này tới lần khác ông tự nguyền rủa bản thân khi đã đẩy mình vào thế bí mà chẳng vì lý do gì cả. Bây giờ ông chỉ muốn thoát ra khỏi tình huống này mà thôi. Nhưng vấn đề là chẳng có cách giải thoát nào mà không làm lộ bản thân. Chỉ còn nước chờ người phụ nữ rời đi mà thôi.

Đột nhiên, từ vị trí ngay sau gốc cây nơi ông đứng có thể nhìn thấy bàn tay người phụ nữ đang cầm gói bông gòn mở sẵn. Bàn tay ấy đặt chỗ bông xuống ghế, rút ra một ít rồi vo lại thành viên nhỏ. Các ngón tay đeo nhẫn và trên cổ tay lủng lẳng một chiếc vòng rộng. Ánh sáng từ những ngọn đèn huyền ảo treo trên các nhánh cây rọi đến những chiếc nhẫn và vòng tay, phản chiếu lung linh những tia sáng hình lăng trụ. Bàn tay ấy đã thu về rồi nhưng Bailey vẫn còn mơ màng nhìn vào túi bông gòn hình vuông đặt trên ghế. Sau đó, bàn tay ấy lại xuất hiện. Lần này nó cầm lên một chiếc lọ nhỏ, nhẹ nhàng đặt xuống ghế, tiếp đến mở nút chai ra và đặt sang bên cạnh. Một lần nữa, ánh sáng lấp lánh lại tỏa sáng nhiều màu sắc trên những viên đá quý khảm nạm.

Đầu gối của Bailey run lên bần bật. Mồ hôi lạnh bắt đầu rịn ra trên trán ông

Bàn tay lại thu về, nhưng ngay khi nó biến mất, Bailey đã lặng lẽ di chuyển đầu cho tới khi khuôn mặt của ông ló ra từ đằng sau cái cây. Quý bà lúc này đang ngả người ra, đầu tựa vào thân cây nơi chỉ cách mặt ông vài inch. Những viên đá lớn trên chiếc vương miện lấp lánh trong mắt ông. Qua vai người phụ nữ, ông thậm chí còn trông thấy cả mặt dây chuyền lộng lẫy, nhấp nhô lên xuống trên ngực quý bà với ánh sáng phản chiếu thay đổi liên tục. Khi cả hai bàn tay của người phụ nữ giơ lên, đó là cả một khối lấp lánh và hào nhoáng, càng sắc nét và rực rỡ hơn khi nó tỏa sáng trong bóng tối lờ mờ.

Nhịp tim ông đập thình thịch tưởng như có thể nghe thấy rõ ràng bên tai. Mồ hôi bắt đầu chảy đầm đìa trên mặt và ông thậm chí còn phải cắn chặt hai hàm răng để ngăn chúng không đập vào nhau lập cập. Có một nỗi kinh hoàng khủng khiếp xen lẫn sự sợ hãi chết người đang len lỏi trong trái tim ông. Niềm thôi thúc đáng sợ xâm chiếm lương tâm và lý trí của người đàn ông này.

Vẫn là sự tĩnh lặng sâu thẳm. Tiếng thở nhè nhẹ của người phụ nữ, cả tiếng vạt áo cọ xát vào nhau đều có thể nghe rõ mồn một. Ông cố gắng kiềm chế hơi thở của mình cho đến khi suýt thì chết ngạt.

Bỗng dưng, bầu không khí buổi đêm truyền đến tiếng nhạc mơ màng của một điệu valse. Buổi khiêu vũ đã bắt đầu. Âm thanh xa xăm đó như càng khắc họa thêm cảm giác cô tịch của nơi hoang vắng này.

Bailey lắng nghe một cách chăm chú. Ông khát khao được thoát khỏi sức ép vô hình đang siết chặt lấy cổ mình, dường như nó đang kiên quyết muốn lôi ông xuống tận đáy của sự suy đồi. Ông nhìn xuống người phụ nữ trước mặt mình với vẻ mê mẩn man rợ. Ông đang cố xua tan hình ảnh đó khỏi tầm nhìn nhưng tất cả chỉ là nỗ lực vô ích.

Cuối cùng, sau khi đã thầm cân nhắc những điều khủng khiếp trong đầu, một bàn tay run rẩy, ướt dính bắt đầu rón rén tiến đến phía ghế ngồi. Đầu tiên nó thò ra túm lấy đống bông gòn rồi từ từ rụt lại mà không gây ra bất cứ động tĩnh gì. Hành động trộm cắp lại được tiến hành lần nữa. Những ngón tay ngoằn ngoèo thò ra quắp lấy chiếc lọ, nhấc nó khỏi chiếc ghế rồi lại thu về bóng tối phía sau.

Vài giây sau đó, chiếc lọ xuất hiện trở lại nhưng dung dịch trong chai đã vơi mất một nửa. Trong một quãng ngắn, không có động thái nào được tiếp diễn. Điệu valse vẫn bồng bềnh nhẹ nhàng trong màn đêm, hòa nhịp đều đều theo tiếng thở của người phụ nữ. Ngoài những thứ đó, không còn âm thanh nào khác nữa. Sự tịch mịch chết chóc đã nuốt chửng nơi đây.

Bất thình lình, Bailey từ chỗ ẩn nấp rướn người đến phía sau ghế. Trong tay ông đang thủ sẵn một miếng bông gòn.

Người phụ nữ lúc này đang ngả người ra sau, hai tay đặt lên đùi như thể đang ngủ gật. Một động tác nhanh chóng vụt qua. Miếng bông gòn áp lên khuôn mặt của người phụ nữ, đầu của bà ấy bị kéo sát vào ngực của kẻ tấn công không rõ mặt. Trong khi người phụ nữ đưa tay lên để túm lấy kẻ tấn công, tiếng thở hổn hển như bật ra từ đôi môi đã tái nhợt đi của bà. Sau đó là một cuộc vật lộn kinh hoàng, thậm chí còn thê thảm hơn nhiều bởi mớ trang phục lòe loẹt và tốn kém của nạn nhân khi quằn quại. Không gian hầu như không có âm thanh nào ngoại trừ những tiếng thở gấp gáp bị bóp nghẹt, tiếng vải lụa sột soạt theo từng chuyển động, tiếng kẽo kẹt của chiếc ghế ngồi, tiếng lanh canh của cái lọ rơi xuống và lăn ra xa. Trớ trêu thay, giữa đám tạp âm kinh khủng đó vẫn văng vẳng tiếng nhạc từ điệu valse mơ màng ở nơi xa vọng lại.

Cuộc vật lộn chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn ngủi. Hai bàn tay đeo đầy trang sức đột nhiên buông thõng xuống. Cái đầu bất động gục xuống phần trước của vạt áo nhàu nhĩ. Cơ thể nạn nhân bấy giờ đã mềm nhũn, bất động và trượt dần khỏi ghế. Bailey vẫn chưa buông cái đầu cứng đờ đó ra mà trèo qua lưng ghế. Khi cả người đàn bà đã chầm chậm trượt xuống đất, ông mới bỏ miếng bông gòn ra và cúi xuống kiểm tra. Cuối cùng cũng không còn sự chống cự nào nữa. Cơn thịnh nộ bùng lên trong chốc lát khi nãy đã nhanh chóng nguội lạnh, bây giờ chỉ còn lại cảm giác sợ hãi khi vừa xuống tay giết người.

Ông kinh hoàng nhìn chằm chằm vào khuôn mặt sưng phồng nhưng vẫn giữ được vẻ khả ái, đôi mắt nhắm chặt mà chỉ cách đây ít lâu vẫn còn mỉm cười tử tế với ông. Ông đã làm chuyện đó mất rồi! Ông, tên khốn nham hiểm bị cả xã hội này ruồng bỏ, nhưng vẫn được người phụ nữ tử tế này xem như một người bạn. Bà ấy đã trân trọng những ký ức về ông, trong khi với những người khác, ông chỉ còn là hư ảnh dưới đáy nước của mặt hồ lãng quên. Và giờ thì ông đã giết chết bà ấy. Đôi môi tím tái kia lúc này đã không còn chút tín hiệu nào của sự sống nữa rồi.

Ông bỗng cảm thấy hối hận khủng khiếp với hành động không thể vãn hồi của mình. Người đàn ông đứng dậy, hai tay ôm lấy mái tóc ẩm ướt và bật ra tiếng khóc khàn đục giống như lời oán thán của tội nhân bị đày xuống địa ngục.

Những món đồ trang sức lấp lánh giờ đây đã không còn là mối bận tâm của ông nữa. Mọi thứ đều đã bị quên lãng ngoại trừ việc xấu xa không thể tiết lộ mà chính tay ông vừa thực hiện. Ý thức của kẻ sát nhân bây giờ chỉ còn lại sự hối hận muộn màng và nỗi sợ hãi đeo bám.

Mãi đến khi âm thanh của những giọng nói đang đi dọc theo con đường phía xa vọng tới, ông mới tỉnh khỏi dòng suy nghĩ. Nỗi ám ảnh khủng khiếp vừa nãy vẫn còn mơ hồ trong tâm tưởng thì đến giờ đã hiện diện chân thực bằng nỗi sợ thể xác. Ông kéo lê cái xác mềm nhũn đến bên mép đường và thả trượt nó xuống con dốc thẳng đứng giữa những bụi cây. Hình như vừa có tiếng thở rùng mình khe khẽ phát ra từ đôi môi hé mở khi ông lật cái xác lại. Thế rồi, ông dừng lại một lúc để lắng nghe. Tuy nhiên, không hề có bất cứ âm thanh nào khác của sự sống phát ra nữa. Hẳn rằng tiếng thở đó chỉ là điều đơn thuần trong quá trình di chuyển cái xác gây ra.

Một lần nữa, ông lại đứng thất thần, mơ hồ nhìn chằm chằm vào cái bóng dồn đống lại của thi thể đang nằm lẩn khuất phân nửa sau những bụi cây. Xong xuôi, ông mới trèo trở lại con đường khi nãy. Thậm chí, ông vẫn quay đầu lại nhìn một lần nữa cho chắc, nhưng bấy giờ, cái xác người phụ nữ đã khuất dạng khỏi tầm mắt. Ngay khi tiếng trò chuyện kia đến gần hơn, ông đã lập tức quay trở lại và chạy lên những bậc thang thô sơ.

Khi ông chạy tới được rìa bãi cỏ thì tiếng nhạc đã ngừng lại, ngay sau đó, dòng người từ trong nhà đổ xô ra ngoài. Mặc dù run rẩy sợ hãi nhưng Bailey vẫn đủ khôn ngoan để nhận thức rằng quần áo, đầu tóc của ông đang rất xộc xệch, cùng với vẻ ngoài hẳn là rất hoang dại. Vì vậy, để tránh bị dòng người khiêu vũ chú ý, ông đi sát mép cỏ và di chuyển tới phòng giữ đồ bằng con đường ít người qua lại nhất. Nếu có gan, hẳn ông đã rẽ vào phòng giải khát vì lúc này ông trông như sắp chết đến nơi, bước đi mà chân tay run lẩy bẩy. Nhưng nỗi sợ hãi về tội lỗi cứ mãi đeo đuổi ông, mà thậm chí nó còn tăng lên theo từng phút. Ông thấy mình đang căng tai ra để nghe ngóng xem liệu có tin đồn về việc phát hiện ra thứ đó mà bản thân biết chắc chắn là gì hay không. Ông loạng choạng bước vào phòng chứa đồ, ném tấm thẻ xuống bàn rồi tháo chiếc đồng hồ đeo tay ra. Người lễ tân cầm tấm thẻ trên tay rồi tò mò nhìn sang ông, hỏi han với giọng thông cảm: “Thưa ngài, ngài cảm thấy không được khỏe sao?”

“Không!” Bailey trả lời. “Ở trong đó nóng khủng khiếp.”

“Ngài nên uống một ly sâm panh trước khi rời đi thì hơn, thưa ngài.” Lễ tân nói với người đàn ông.

“Không có thời gian.” Bailey trả lời trong khi bàn tay run rẩy vớ lấy áo khoác. “Tôi sẽ lỡ chuyến tàu nếu như không tỉnh táo mất.”

Nghe hàm ý muốn rời đi trong câu nói của vị khách, người lễ tân lấy chiếc áo khoác và mũ xuống, giơ lên để chủ nhân của chúng luồn tay vào trong ống tay áo. Nhưng Bailey không làm như vậy, ông giật lấy chiếc áo, vắt nó ngang qua cánh tay, đội mũ lên rồi vội vã đi tới chỗ để xe. Người lễ tân vốn đã kinh ngạc vì bị khước từ lời đề nghị giúp vị khách mặc áo, tới khi nhìn thấy hình ảnh người đàn ông ở trên xe thì càng trố mắt ngỡ ngàng. Đó là cảnh tượng vị khách kẹp chiếc áo khoác dưới cánh tay, nhấn vào bộ đề chuyển tốc rời sang đĩa xích chín mươi, nhảy lên xe và lao vút xuống con đường dốc. Trông chiếc đuôi áo khoác bay lên thật kỳ cục.

“Ngài vẫn chưa bật đèn, thưa ngài!” Người lễ tân hét lên nhưng dường như tai ông lúc này đã điếc đặc, chỉ ong ong lên tiếng truy đuổi trong tưởng tượng.

May mắn là Bailey lái xe đã quen tay, nếu không thì cả người và xe đã bị ném qua hàng rào đối diện rồi. Nói vậy nghĩa là chiếc xe lao hết con dốc, phóng ra đường với một tốc độ kinh hoàng. Thế nhưng về sau vận tốc chiếc xe vẫn không thay đổi, nguyên do bởi người lái nó như đang bị nỗi kinh hoàng chết người thúc giục, nhấn bàn đạp cuồng loạn như một gã điên. Chiếc xe phóng vù vù trên con đường tối đen và tĩnh lặng, nhưng tai ông vẫn căng ra để lắng nghe xem có tiếng vó ngựa hay động cơ xe máy truy đuổi phía sau hay không.

Ông biết rõ vùng quê này. Sự thực là một ngày trước ông đã đạp xe tới đây để do thám địa hình. Nếu như có âm thanh đáng ngờ nào vang lên, ông hoàn toàn có thể trượt xuống bất cứ làn đường hoặc ngóc ngách nào đó mà vẫn đảm bảo biết được lối đi. Thế nhưng, chiếc xe vẫn tăng tốc. Và phía sau cũng không có âm thanh nào là dấu hiệu cho thấy một cuộc truy đuổi đáng sợ.

Đạp xe được khoảng ba dặm, ông đã đi đến chân một ngọn đồi dốc. Đến chỗ này, ông buộc phải xuống xe để đẩy nó lên. Ông dắt xe lên nhanh tới mức khi lên được tới đỉnh đồi đã thở không ra hơi nữa. Trước khi lên xe để đi tiếp, ông quyết định sẽ mặc áo khoác vào vì vẻ bề ngoài của ông bấy giờ dường như sẽ thu hút mọi sự chú ý. Bây giờ là khoảng mười một rưỡi và chặng đường ông cần phải đi qua là con phố của một thị trấn nhỏ. Ngoài ra ông cũng phải bật đèn xe lên nữa. Nếu như bị đội tuần tra hay cảnh sát địa phương chặn lại để xét hỏi thì sẽ rất nguy hiểm.

Sau khi đã bật đèn xe và mặc vội chiếc áo khoác, ông lại chăm chú lắng nghe động tĩnh một lần nữa. Ông đứng từ trên đỉnh đồi quay đầu lại để quan sát vùng quê trong bóng tối nhưng không hề có ánh đèn di chuyển, không có tiếng vó ngựa cũng như không có tiếng động cơ nào vang lên. Lúc quay người lại để đi tiếp, ông liền lục tìm găng tay trong túi áo khoác ngoài theo bản năng.

Ông móc ra một đôi găng tay trong túi áo nhưng ngay lập tức nhận ra rằng nó không phải của mình. Trong túi còn có một chiếc khăn quàng cổ bằng lụa màu trắng. Nhưng chiếc khăn của ông phải là màu đen mới đúng.

Với cú sốc kinh hoàng đến tột độ này, ông nhanh chóng thọc tay vào túi phụ để kiểm tra chìa khóa cửa ngoài. Nhưng không tìm thấy chìa khóa. Thay vào đó, trong túi là một hộp đựng xì gà màu hổ phách hoàn toàn lạ lẫm. Ông đứng chết trận cùng sự kinh ngạc. Ông đã lấy nhầm áo khoác và bỏ lại cái của mình ở bữa tiệc. Khi nhận ra điều này, nỗi sợ hãi khiến khuôn mặt ông lại rịn ra mồ hôi lạnh. Mất chiếc chìa khóa cửa ngoài hiệu Yale không phải là điều đáng bận tâm, ông vẫn còn một chìa dự phòng ở nhà. Về chuyện vào nhà thì ông là người hiểu rõ cửa nhà mình hơn ai hết. Bên trong chiếc túi dụng cụ dành cho người đi xe đạp của ông có một, hai món đồ mà người bình thường không có, thứ đó có thể giúp ông xử lý cái khóa dễ dàng. Vấn đề đáng lo ở đây là liệu chiếc áo khoác của ông có chứa bất cứ đồ vật gì tiết lộ danh tính hay không. Thế rồi, ông thở phào nhẹ nhõm vì đột nhiên nhớ rằng bản thân đã cẩn thận lộn tất cả các túi ra trước khi đến đó.

Không, chỉ khi nào trở về được chỗ trú ẩn trong căn hộ chật hẹp bẩn thỉu của mình, nơi lọt thỏm giữa những nhà máy chọc trời bên bờ sông, thì ông mới được an toàn. Lúc đó mới có thể yên trí trốn thoát thành công, trừ bản án lương tâm mà ông tự ám ảnh chính mình. Đó là cảnh tượng về dáng hình đeo đầy đá quý, nằm co quắp thành một đống mềm nhũn bên dưới bụi cây. Nhìn quanh một lượt lần cuối, ông vội leo lên xe và đạp qua đỉnh đồi, lao vút vào trong bóng tối.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của r. austin freeman